1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của facebook phân tích một số tình huống điển hình tại việt nam

78 418 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, tác giả nhấn mạnh về tầm quan trọng của các nhân tố như: truyền thông, các chuyên gia cùng sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự khi tạo ra các hiệu ứng lan truyền và dẫn

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

HUỲNH NGỌC CHƯƠNG

TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA FACEBOOK: PHÂN TÍCH MỘT SỐ TÌNH HUỐNG ĐIỂN HÌNH TẠI

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

HUỲNH NGỌC CHƯƠNG

TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG QUẢN TRỊ NHÀ NƯỚC DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA FACEBOOK: PHÂN TÍCH MỘT SỐ TÌNH HUỐNG ĐIỂN HÌNH TẠI

VIỆT NAM

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 60340402

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS PHẠM DUY NGHĨA ThS HUỲNH TRUNG DŨNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 3

liệu được sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Tác giả luận văn

Huỳnh Ngọc Chương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn hai thầy hướng dẫn Phạm Duy Nghĩa và thầy Huỳnh Trung Dũng Hai thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi ngay từ những ngày đầu thực hiện đề tài, tận tình truyền đạt kiến thức, định hướng, đưa ra những ý kiến quý báu cho việc hoàn thành bản luận văn này

Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong học tập, nghiên cứu tại Trường

Cảm ơn các anh chị trong lớp MPP7, những người đã cùng tôi đi hết một đoạn đường 2 năm, đầy ắp những kỷ niệm đáng nhớ của cuộc đời tại FETP

Huỳnh Ngọc Chương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC i

DANH MỤC HÌNH VẼ iv

DANH MỤC HỘP iv

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2

1.1 Bối cảnh nghiên cứu 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Dữ liệu 3

1.6 Cấu trúc bài viết 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

2.1 Các định nghĩa nền tảng 4

2.1.1 Các bên liên quan 4

2.1.2 Chính sách công 4

2.1.3 Mạng xã hội 5

2.2 Các lý thuyết nền tảng 5

2.2.1 Lý thuyết về các bên liên quan trong chính sách công 5

2.2.2 Các bên liên quan trong quản trị nhà nước 6

2.2.3 Các bên liên quan trong quản trị nhà nước tại Việt Nam 7

2.3 Lược khảo các nghiên cứu đi trước về ảnh hưởng của mạng xã hội lên các bên liên quan trong quản trị nhà nước 8

Trang 6

8

2.3.2 Mạng xã hội và mối quan hệ tương tác giữa người dân với chính quyền 9

2.3.3 Mạng xã hội, các tổ chức xã hội dân sự và doanh nghiệp 11

2.3.4 Mạng xã hội và sự tương tác người dân – cộng đồng và truyền thông 12

2.4 Khe hở trong nghiên cứu 13

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Quy trình nghiên cứu 15

3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 16

3.3 Phương pháp nghiên cứu tình huống 17

3.3.1 Định nghĩa 17

3.3.2 Thiết kế nghiên cứu tình huống 18

3.3.3 Các bước phân tích tình huống trong luận văn 19

CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20

4.1 Lựa chọn nghiên cứu tình huống điển hình 20

4.2 Tình huống cây xanh Hà Nội 20

4.2.1 Câu chuyện 20

4.2.2 Quá trình tương tác của các bên liên quan trong tình huống 22

4.2.3 Sơ kết mối quan hệ tương tác trong tình huống dưới ảnh hưởng Facebook 31

4.3 Tình huống ngôi nhà Việt Nam 32

4.3.1 Câu chuyện 32

4.3.2 Quá trình tương tác 34

4.3.3 Sơ kết mối quan hệ tương tác dưới ảnh hưởng Facebook 37

4.4 Các đặc trưng trong thảo luận chính sách công trên Facebook tại Việt Nam 38

4.5 Tương tác của các bên liên quan trên mạng xã hội Facebook 40

Trang 7

4.5.2 Báo chí và truyền thông 42

4.5.3 NGOs và xã hội dân sự 45

4.5.4 Doanh nghiệp 46

4.5.5 Chính quyền và phản ứng chính sách công 48

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Khuyến nghị chính sách 53

5.3 Hạn chế đề tài và khả năng phát triển tiếp theo 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 60

Phụ lục 1: Tình huống cây xanh Hà Nội 60

Bối cảnh Hà Nội năm 2015 60

Câu chuyện chặt cây xanh 60

Các hình thức thể hiện của các nghệ sĩ nổi tiếng 62

Sự hình thành của nhóm 6700 người vì 6700 cây 63

Phụ lục 2: Các tình huống thảo luận chính sách công đã diễn ra trên mạng xã hội Facebook 65 Phụ lục 3: Facebook trở thành kênh truyền thông cá nhân 67

Bà Nguyễn Thị Oanh 67

Ông Nguyễn Đức Thành 67

Phụ lục 4: Chính quyền chặn Facebook 68

Phụ lục 5: Sự tương tác của các bên liên quan trong quản trị nhà nước tại Việt Nam 69

Trang 8

Danh sách Hình vẽ Trang

Hình 2.1: Mối quan hệ tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước 6

Hình 2.2: Mô hình tương tác dưới ảnh hưởng của Internet 9

Hình 2.3: Mô hình ảnh hưởng của mạng xã hội đối với việc thảo luận chính sách công 10

Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu đề xuất 17

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 15

Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu đề xuất 17

Hình 3.3: Các bước phân tích tình huống 19

Hình 4.1: Thống kê tương tác trên Facebook nhóm “6700 người vì 6700 cây xanh” 27

Hình 4.2: Hình ảnh các cuộc diễu hành 28

Hình 4.3: Tương tác của các bên liên quan trong tình huống “cây xanh Hà Nội” 32

Hình 4.4: Tương tác của các bên liên quan trong tình huống “ngôi nhà Việt Nam” 38

Hình 4.5: Quá trình mở rộng tương tác của báo Tuổi trẻ trên Facebook 44

DANH MỤC HỘP Danh sách Hộp Trang Hộp 4.1 Những trí thức ảnh hưởng đến thảo luận vấn đề cây xanh Hà Nội 25

Hộp 4.2: Truyền thông Việt Nam ngày càng gắn chặt vào Facebook 43

Hộp 4.3: Tình huống lấp sông Đồng Nai 47

Hộp 4.4: Nền quản trị quốc gia của các nước đã ứng xử với Internet và mạng xã hội như thế nào? 50

Trang 9

TÓM TẮT

Internet và Facebook ngày càng mở rộng và phổ cập trong xã hội Việt Nam Sự phát triển và

mở rộng của nó đã giúp người dùng có thể chia sẻ và lan tỏa tin tức đồng thời tham gia bình luận các vấn đề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến họ mà còn đến các vấn đề chung của xã hội

Xu thế này có ành hưởng như thế nào lên chính sách công?

Dựa trên nền tảng lý thuyết về các bên liên quan trong quản trị nhà nước trên thế giới và Việt Nam, tác giả khảo lược các nghiên cứu đi trước và xác định các khe hở trong nghiên cứu, qua

đó, tác giả lựa chọn phương pháp nghiên cứu định tính bằng tiếp cận phân tích hai tình huống điển hình: “cây xanh Hà Nội” và “ngôi nhà Việt Nam”

Từ kết quả nghiên cứu, tác giả xác định rằng mạng xã hội Facebook tại Việt Nam đang và sẽ tiếp tục trở thành một môi trường tương tác mới giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước

và xu hướng thảo luận chính sách công trên mạng xã hội là không thể đảo ngược Trong đó, tác giả nhấn mạnh về tầm quan trọng của các nhân tố như: truyền thông, các chuyên gia cùng sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự khi tạo ra các hiệu ứng lan truyền và dẫn dắt trong mỗi chủ đề chính sách công được thảo luận Dù rằng, cho đến nay, chính quyền không thừa nhận Facebook nhưng đã tham gia vào Facebook và ngày càng phản ứng nhanh chóng trong mỗi vấn

đề chính sách công được thảo luận

Do đó, về mặt quan điểm, chính quyền cần chấp nhận các hoạt động thảo luận chính sách công trên mạng xã hội, hơn thế nữa, chính quyền có thể thúc đẩy hiệu quả hoạt động quản trị nhà nước từ xu hướng này Đồng thời cần tăng cường năng lực truyền thông hai chiều để chủ động đưa ra các thông tin đầy đủ và nhanh chóng tránh sự dồn nén gây ra những đổ vỡ không cần thiết trong xã hội Trên khía cạnh pháp lý, chính quyền nên thực hiện các điều chỉnh cần thiết

để chấp nhận các trang mạng xã hội như Facebook hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam

Tác giả cho rằng, chính quyền vẫn là nhân tố có đầy đủ sức mạnh, khả năng và điều kiện thuận lợi để tận dụng những mặt tích cực của sự phát triển mạng xã hội cũng như từ các cuộc thảo luận chính sách công trên mạng xã hội, trên cơ sở đó, chính quyền có thể gia tăng sự tin cậy của

người dân vào chính quyền cũng như hiệu quả hoạt động của nhà nước

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Theo nghiên cứu cho thấy, Internet ngày càng mở rộng và phổ cập trong xã hội Việt Nam Sự phát triển và kết nối mạnh mẽ giữa các nhóm dân cư trở nên dễ dàng hơn với hơn 61% thanh niên truy cập Internet (UNDP, 2011) Theo báo cáo từ WeAreSocial1 tính tới tháng 3/2015 Việt Nam có đến 45% dân số dùng Internet, tức 41 triệu người Trong đó, có khoảng 30 triệu2 người

có tài khoản mạng xã hội (chủ yếu là Facebook) và sử dụng trung bình khoảng 2 giờ mỗi ngày

Trong vài năm gần đây, ở Việt Nam, các tình huống chính sách phải thay đổi hoặc hủy bỏ dưới

áp lực của các nhóm lợi ích được tập hợp trên các mạng xã hội, đặc biệt là Facebook như: tình huống chặt cây xanh Hà Nội, tình huống lấp sông ở Đồng Nai, tình huống cáp treo Sơn Đoong Đây là các tình huống chưa hề có tiền lệ khi các chính quyền địa phương và trung ương phải thay đổi chính sách hoặc xem xét lại các quyết định dưới áp lực và sự lan rộng phản đối từ mạng

xã hội Điều này cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và Internet làm thay đổi cách thức tương tác và quản trị nhà nước truyền thống lâu nay ở Việt Nam

Do đó, để làm sáng tỏ vấn đề mạng xã hội cũng như ảnh hưởng của nó đến quản trị nhà nước ở Việt Nam, tôi thực hiện nghiên cứu chủ đề: “Tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của Facebook: phân tích một số tình huống điển hình tại Việt Nam”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của bài nghiên cứu này là làm rõ ảnh hưởng mạng xã hội Facebook đến chính sách công tại Việt Nam thông qua việc phân tích mối quan hệ tương tác của các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của mạng xã hội Facebook tại Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, bài nghiên cứu này dự kiến sẽ tập trung trả lời các câu hỏi sau:

Trang 11

RQ1: Các thảo luận chính sách công trên mạng xã hội Facebook tại Việt Nam hiện nay có những đặc trưng gì?

RQ2: Đặc trưng tương tác trên mạng xã hội của các bên liên quan trong các vấn đề chính sách công tại Việt Nam là gì?

RQ3: Phản ứng chính sách công tại Việt Nam dưới ảnh hưởng của các cuộc thảo luận trên Facebook như thế nào?

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với tiếp cận phân tích tình huống

1.5 Dữ liệu

Các dữ liệu trong nghiên cứu này dự kiến được thu thập thông qua các báo chí chính thống, các thông tin từ nghiên cứu đi trước, các trang Facebook cá nhân và cộng đồng, …

1.6 Cấu trúc bài viết

Bài viết gồm 5 chương

Chương 1: Mở đầu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Trang 12

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Trong chương 2, tác giả thực hiện khảo lược các lý thuyết nền tảng cùng các nghiên cứu đi trước nhằm đưa ra một bức tranh về lý thuyết và thực tiễn trong chủ đề nghiên cứu Từ đó, tác giả chỉ ra những khe hở trong nghiên cứu để làm nền tảng cho việc thực hiện nghiên cứu này

2.1 Các định nghĩa nền tảng

2.1.1 Các bên liên quan

Theo Mitroff (1983) các bên liên quan (stakeholders) là tất cả những cá nhân, tổ chức, nhóm có lợi ích liên quan bao hàm cả bên trong và bên ngoài của tổ chức Nói cách khác, tất cả các đối tượng ảnh hưởng hay chịu ảnh hưởng từ các hành vi, trạng thái và chính sách của tổ chức Theo nghiên cứu của Freeman (1984) về quản trị chiến lược của một doanh nghiệp, các bên liên quan là bất kỳ tổ chức và cá nhân ảnh hưởng hay chịu ảnh hưởng từ những mục tiêu của tổ chức

đó Từ đây, các nghiên cứu sử dụng cụm từ “stakeholders” đã được mở rộng phổ biến trong nghiên cứu cho cả trong khu vực tư và công (Shannon, 2014)

Trong nghiên cứu của Bryson (2003) xác định, các bên có liên quan là bất kỳ cá nhân, nhóm, tổ chức mà có liên quan đến mối quan tâm của tổ chức đó hoặc nguồn lực hay đầu ra hay chịu ảnh hưởng bởi các đầu ra của tổ chức

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa của Bryson (2003) về các bên liên quan bao gồm bất kỳ cá nhân, tổ chức có mối quan tâm, lợi ích hay liên quan đến các chính sách của khu vực nhà nước

2.1.2 Chính sách công

Chính sách công là hành động (hoặc không hành động) của chính quyền, cơ quan nhà nước đối với các vấn đề trong xã hội được giới hạn trong phạm vi ảnh hưởng của chính quyền hay quốc gia đó (Nguyễn Xuân Thành, 2015)

Vấn đề chính sách công là các nhu cầu, giá trị và cơ hội cải thiện mà chưa được thực hiện đang xảy ra trong thực tế (Dunn, 1994) Theo đó, các vấn đề này khi xuất hiện hay tồn tại đòi hỏi phải

có sự can thiệp của nhà nước theo các hướng: can thiệp vào thị trường, loại bỏ can thiệp vào thị

Trang 13

trường, không làm gì để tự thị trường điều chỉnh Dù như thế nào đi nữa thì mỗi khi xảy ra một vấn đề chính sách công luôn đòi hỏi quyết định của nhà nước để giúp tối ưu phúc lợi của toàn

xã hội

Hiệu quả chính sách là cụm từ được hiểu dưới góc độ của công dân trong một quốc gia Theo Craig, Niemi, & Silver (1990), hiệu quả chính sách được phân tách thành hai thành phân riêng biệt: hiệu lực nội tại và hiệu lực ngoại lai Trong đó, hiệu lực nội tại là niềm tin của các cá nhân

về hiểu biết các vấn đề chính sách; hiệu lực ngoại lai là niềm tin về hành động của chính quyền đáp ứng được các nhu cầu của công dân

Phản ứng chính sách công là các hành động của khu vực công trước các vấn đề chính sách công như: phát ngôn (xác nhận hay bác bỏ, ), đề ra chính sách, văn bản hay thực thi trên thực tế các hành động của chính quyền và khu vực công

2.1.3 Mạng xã hội

Mạng xã hội là một kiểu website cho phép các cá nhân kết nối và chia sẻ thông tin với nhau Theo đó, dựa trên một cấu trúc mà mỗi cá nhân có thể công khai hay bán công khai các thông tin của bản thân, đồng thời có thể xem hay lướt qua các thông tin của các cá nhân khác thông qua hệ thống kết nối giữa các cá nhân (Boyd & Ellison, 2007) Hơn thế nữa, Tredinnick (2006) định nghĩa rằng mạng xã hội là những trang web có sự tham gia dẫn dắt của người dùng và các nội dung được người dùng tạo ra

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng cụm từ ‘thảo luận trên mạng xã hội” để biểu thị cho các hành vi đọc (xem và like trên Facebook), thảo luận, chia sẻ, trao đổi ý kiến giữa các cá nhân trên mạng xã hội Facebook

2.2 Các lý thuyết nền tảng

2.2.1 Lý thuyết về các bên liên quan trong chính sách công

Lý thuyết về các bên liên quan được Freeman (1984) phát triển từ khái niệm về “ các bên liên quan” trong phân tích về chiến lược quản trị của doanh nghiệp Theo Heath & Norman (2004),

có ít nhất 9 lý thuyết phân nhánh từ lý thuyết về các bên liên quan áp dụng để phân tích, giải thích cho từng lĩnh vực khác nhau trong quản trị doanh nghiệp

Trang 14

Từ nghiên cứu trong quản trị chiến lược doanh nghiệp, lý thuyết các bên liên quan mở rộng sang lĩnh vực chính sách công và quản trị nhà nước Theo đó, việc áp dụng lý thuyết về các bên liên quan để phân tích, giải thích nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau trong các vấn đề chính sách công Theo Vining & Weimer (2010), chính sách công được phân tích theo xu hướng phân tích các bên liên quan bao hàm cả những người ra quyết định, các nhóm lợi ích liên quan, nhóm hưởng lợi, những người phải chi trả và cả các thế hệ tương lai chịu ảnh hưởng

2.2.2 Các bên liên quan trong quản trị nhà nước

Lý thuyết các bên liên quan trong quản trị nhà nước tập trung vào việc xác định và phân tích các mối liên hệ giữa các cá nhân, tổ chức ảnh hưởng đến quản trị nhà nước trong một quốc gia Theo đó, đối với các vấn đề chính sách công có 8 nhân tố chính tương tác với nhau trong quản trị nhà nước (hình 2.1) bao gồm: các cá nhân (công dân), các tổ chức cộng đồng và tương tự, các tổ chức phi lợi nhuận (NGOs), giới kinh doanh, truyền thông, các cấp chính quyền (public agencies), các chính khách được bầu cử, các tổ chức thương mại Các bên liên quan này được chia là 3 nhóm chủ yếu: nhà nước, thị trường và xã hội dân sự (Bovaird & Löffler, 2009)

Hình 2.1: Mối quan hệ tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước

Nguồn: Tác giả tổng hợp, sửa đổi từ Bovaird & Löffler (2009)

Chính quyền

Truyền thông

Đại biểu dân cử

Cộng đồngCông dân

Giới kinh doanhNGOs

Tổ chức thương mại

Vấn đề chính sách công

Trang 15

Có 3 mối quan hệ chính định hướng mối liên hệ, tương tác lẫn nhau không chỉ bao gồm việc hợp tác mà còn là cạnh tranh và xung đột giữa các bên liên quan Các mối quan hệ trong mạng lưới này thông thường được tổ chức theo 3 dạng: thứ bậc, thị trường và cộng đồng Trong đó, các bên liên quan thuộc khu vực nhà nước được tổ chức theo dạng thứ bậc, các doanh nghiệp

và khu vực kinh doanh thường hoạt động ở thị trường và các cộng đồng được tổ chức rất đa dạng

Mỗi một bên liên quan trong mạng lưới quản trị nhà nước đều tương tác với nhau trong các vấn

đề công, không thể có một nhân tố nào đủ quyền lực và khả năng đạt đến mục tiêu trong các vấn

đề đó Theo hàm ý đó, mỗi một vấn đề công đều được giải quyết thông qua quá trình tương tác, phân phối quyền lực, khả năng và sự tương tác của các bên liên quan trong mạng lưới

2.2.3 Các bên liên quan trong quản trị nhà nước tại Việt Nam

Theo Phạm Duy Nghĩa (2015), các bên liên quan trong quản trị nhà nước bao gồm: người dân, chính quyền, các cơ quan dân cử, truyền thông, xã hội dân sự, hiệp hội và các bên liên quan khác Trong đó, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân và được nhân dân ủy quyền cho các cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp Chính vì vậy, người dân có thể thông qua sự tương tác với các cơ quan này đi cùng với các bên liên quan khác để thực hiện các quyền lực của mình

Cụ thể:

Thứ nhất, thông qua bầu cử, người dân lựa chọn các đại biểu vào các cơ quan dân cử, điều này giúp phản ánh các quan điểm, nguyện vọng của mình đối với các chính sách công đưa

ra Đối với các nền dân chủ có sự cạnh tranh giữa các chính trị gia thì đây được coi là một công

cụ quan trọng thể hiện tốt nhất quyền lực của người dân trong việc thiết kế, thực thi các chính sách công

Thứ hai, thông qua các buổi tiếp xúc cử tri, người dân trực tiếp đưa ra các kiến nghị hay phản ánh các vấn đề đến các đại biểu dân cử

Thứ ba, thông qua các cơ quan truyền thông, báo chí tạo nên áp lực buộc các cơ quan phải điều chỉnh, thay đổi hay hủy bỏ chính sách cũng như tạo sức mạnh truyền thông để ủng hộ các chính sách phù hợp

Trang 16

Thứ tư, bằng các hình thức tập hợp lực lượng để biểu tình, kiến nghị tạo ra các dư luận

xã hội nhằm tác động lên các cơ quan hành pháp và áp lực để thay đổi hay điều chỉnh các chính sách không phù hợp

Cuối cùng, người dân có thể thông qua các tòa án dân sự hay tòa án hành chính để bảo

vệ các lợi ích hợp pháp của công dân và duy trì công lý trong xã hội

2.3 Lược khảo các nghiên cứu đi trước về ảnh hưởng của mạng xã hội lên các bên liên quan trong quản trị nhà nước

2.3.1 Nghiên cứu về ảnh hưởng của Internet lên môi trường chính sách và quản trị nhà nước

Kenski & Stroud (2006) sử dụng cơ sở dữ liệu từ cuộc khảo sát bầu cử quốc gia Mỹ3 năm 2000

để tìm hiểu mối quan hệ của việc tiếp cận internet và các xu hướng thông tin trên mạng về cuộc bầu cử đến sự tham gia của người dân, hiểu quả chính sách và kiến thức của người dân đối với các vấn đề chính sách Bằng kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả khẳng định, Internet đã trở thành một kênh thông tin tiếp cận và tạo áp lực lên các chính sách của chính quyền giúp tăng cường hiệu quả chính sách, kiến thức và sự tham gia của người dân vào chính sách công

Hơn thế nữa, mô hình của Fung, Russon Gilman & Shkabatur (2013) về ảnh hưởng và tương tác của các cá nhân đến các chính sách công khẳng định rằng Internet ra đời làm thay đổi cách thức tương tác của người dân trong việc tham gia vào các vấn đề chính sách công từ việc được cập nhật thông tin, tham gia thảo luận, phản hồi, tập hợp các nhóm tổ chức có cùng mối quan tâm và đi đến các hành động trên thực tế Các nhà nghiên cứu đưa ra 6 mô hình, mỗi mô hình là một hình thức ảnh hưởng của Internet đến các vấn đề công thông qua việc thông tin được thu thập tạo lập nên các sự kiện gây chú ý, các hình thức kết nối mạng lưới thông qua các ý kiến, chia sẻ của công dân hoặc các cơ quan truyền thông tạo nên áp lực lớn đối với các bên liên quan khác trong mạng lưới hình thành nên những thay đổi trong chính sách công

3 Chi tiết dữ liệu khảo sát có thể được truy cập tại địa chỉ: communication/naes/

Trang 17

Hình 2.2: Mô hình tương tác dưới ảnh hưởng của Internet

Nguồn: Fung, Russon Gilman, & Shkabatur (2013)

2.3.2 Mạng xã hội và mối quan hệ tương tác giữa người dân với chính quyền

Mou, Atkin, Fu, Lin, & Lau (2013) đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của mạng xã hội và Internet đối với với các cuộc thảo luận chính sách tại Trung Quốc Trong nghiên cứu này, các tác giả tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu chính về mối liên hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội và việc thảo luận các vấn đề chính sách tại Trung Quốc Do phần lớn sinh viên là những người sử dụng Internet, các tác giả thực hiện khảo sát với mẫu là 181 sinh viên tại các trường đại học để thực hiện nhiều mô hình hồi quy khác nhau và mô hình Path tổng hợp Kết quả cho thấy, với thời gian dành trên mạng Internet cao có mối tương quan chặt đến việc sử dụng các diễn đàn trên mạng cũng như các đặc tính cá nhân sẽ thúc đẩy các cuộc thảo luận chính sách gia tăng và các cuộc thảo luận chính sách sách trên mạng xã hội cũng tác động thúc đẩy hiệu quả chính sách nội tác, cụ thể là làm gia tăng sự hiểu biết của người dân đối với chính sách công

Công dân

Các tổ chức truyền thống

Chủ đề công cộng

và ý kiến công dân

Chính khách và các cơ quan công

Luật và chính sách

Hành động công

Trang 18

Hình 2.3: Mô hình ảnh hưởng của mạng xã hội đối với việc thảo luận chính sách công

Nguồn: Mou, Atkin, Fu, Lin, & Lau (2013)

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các mạng xã hội đối với hành vi và thái độ đối với chính sách tại

Mỹ dựa trên dữ liệu khảo sát trong năm 2008 của Zhang, Johnson, Seltzer, & Bichard (2009) đã khẳng định tác động tích cực của mạng xã hội đối với việc thúc đẩy quá trình thảo luận chính sách công của người dân Đồng thời, thông qua việc thảo luận trên mạng xã hội, niềm tin của người dân đối với chính phủ cũng gia tăng đáng kể Điều này hàm ý rằng việc gia tăng các cuộc thảo luận trên mạng có ảnh hưởng tích cực đến lòng tin của người dân đối với chính phủ

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa việc sử dụng Facebook và việc tham gia vào chính sách công của người trẻ ở Mỹ và người lớn ở Trung Quốc, Chan & Guo (2013) đã xác nhận xu hướng tập hợp, thảo luận với những người có cùng”lập trường” trên mạng xã hội Trong đó, các tác giả đã xác nhận việc dùng các mạng xã hội ảnh hưởng tích cực đến việc tham gia của người dân đặc biệt là người trẻ trong các vấn đề chính sách công

Trong nghiên cứu của Lee (2006) về mối quan hệ giữa việc sử dụng Internet dưới các hình thức khác nhau (lấy thông tin, giải trí và kết nối với người khác) và hai hình thức hiệu quả của chính sách (nội tác và ngoại tác) đối với các sinh viên ở Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng Internet cho việc nhận thông tin và tương tác với người khác có thể thúc đẩy gia tăng kiến thức về chính sách công của sinh viên Hơn thế nữa, qua nghiên cứu này các tác giả cũng xác

Trang 19

nhận mối quan hệ giữa việc tiếp cận các trang thông tin về chính sách trên mạng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của sinh viên về hiệu quả hoạt động của chính quyền trong việc đáp ứng nhu cầu của người dân Ngoài ra nghiên cứu này cũng xác nhận các kênh thông tin trên mạng hiện nay đã trở thành kênh tin tức chính mà các sinh viên tiếp cận

2.3.3 Mạng xã hội, các tổ chức xã hội dân sự và doanh nghiệp

Waters, Burnett, Lamm, & Lucas (2009) nhấn mạnh rằng các trang mạng xã hội như Facebook

và Myspace đang đóng một vai trò là công cụ marketing quan trọng đối với các tổ chức phi lợi nhuận cũng như vì lợi nhuận (doanh nghiệp) trong việc thu hút các thành viên sử dụng mạng xã hội Các trang mạng xã hội trở thành nền tảng tiếp cận, tương tác quan trọng trong chiến lược quan hệ công chúng của mỗi tổ chức, doanh nghiệp Việc tương tác với công chúng qua Facebook và mạng xã hội hỗ trợ cho việc đưa ra các sản phẩm mới của tổ chức tiếp cận với công chúng, hơn thế nữa, mạng xã hội giúp gia tăng sự tồn tại thương hiệu của tổ chức đối với công chúng

Từ kết quả phân tích 275 tổ chức phi lợi nhuận (NGOs) trên Facebook, bằng phương pháp tiếp cận phân tích nội dung, Waters, Burnett, Lamm, & Lucas (2009) khẳng định rằng các tổ chức phi lợi nhuận đã tận dụng lợi thế của mạng xã hội để thực hiện các sứ mạng của họ Nghiên cứu chỉ ra rằng, các tổ chức phi lợi nhuận không thể gia tăng hiệu quả hoạt động của họ nếu không phát triển mối quan hệ tương tác trên mạng xã hội với các bên liên quan của tổ chức đó Dù rằng các tổ chức phi lợi nhuận đã có sử dụng chủ yếu các công cụ mạng xã hội để mở rộng tầm ảnh hưởng của tổ chức nhưng phần lớn sự tương tác giữa các tổ chức này là truyền thông một chiều Điều này làm giới hạn sự tương tác và tham gia của tổ chức và các bên liên quan của nó (Waters

Trang 20

Tại Việt Nam, Lê Quang Bình và cộng sự (2016) đã thực hiện một chuyên khảo về không gian

xã hội dân sự Việt Nam thông qua khảo sát 152 cá nhân làm trong các tổ chức phi lợi nhuận tại Việt Nam Kết quả cho thấy, không gian xã hội dân sự ở Việt Nam đang ngày càng mở rộng và nguyên nhân chủ yếu đến từ sự phổ biến của internet và mạng xã hội Tuy vậy, nghiên cứu này chưa đủ tính tin cậy về mặt phân tích định lượng khi việc thu thập mẫu với số lượng ít và bị thiên lệch, đồng thời, một số mô hình chưa đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm định phù hợp

2.3.4 Mạng xã hội và sự tương tác người dân – cộng đồng và truyền thông

Trước khi có Internet, các cơ quan truyền thông như báo giấy, tivi và phát thanh là các kênh truyền tin trong xã hội Đồng thời, các cơ quan này cũng là những người nắm lấy độc quyền trong nguồn tin với các lực lượng “săn” tin chuyên nghiệp Kết quả nghiên cứu của Kenski & Stroud (2006) khẳng định rằng các cơ quan truyền thông, xu hướng chính trị hay các bên liên quan nhân khẩu học có ảnh hưởng đáng kể đến sự tham gia của người dân vào chính sách công

Từ kết quả nghiên cứu của Hong (2012) cho thấy, các tổ chức truyền thông, báo chí đã nhận ra tiềm năng của mạng xã hội như là một công cụ để “săn” tin và là kênh marketing hiệu quả để thu hút người đọc Từ bằng chứng thực nghiệm, ông khẳng định rằng việc hoạt động trên các kênh mạng xã hội giúp thu hút các độc giả đối với cơ quan truyền thông và gia tăng lượng khách hàng

Broersma & Graham (2012) khi nghiên cứu về các cuộc bầu cử ở Anh và Hà Lan đã cho thấy những kết quả quan trọng: báo chí đang nằm trong một xu hướng khủng hoảng về nguồn lực và thời gian để “săn” các tin tức Các phóng viên dựa trên công cụ mạng xã hội để bắt kịp với các

xu hướng thảo luận cũng như tập hợp các thông tin trên mạng để sản xuất các tin tức cho báo chí Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Hermida (2009) khi chỉ ra rằng, báo chí từ giai đoạn truyền thống chủ yếu tập trung vào các nguồn tin chính thống dịch chuyển sang các xu hướng thảo luận, truyền thông trên mạng xã hội

Tuy vậy, việc phân biệt đơn vị truyền thông theo truyền thống và mạng xã hội trở nên khó khăn

do sự gắn kết chặt chẽ giữa 2 bên Giờ đây, các báo có xu hướng chuyển từ báo in sang báo điện

tử, ngay cả tờ báo lớn của Anh Independent cũng đã chuyển hoàn toàn sang hoạt động báo điện

Trang 21

tử4 nơi có nền tảng tích hợp chặt chẽ với các trang mạng xã hội Ngoài ra, các trang mạng xã hội như Facebook giờ đây có riêng các công cụ để tích hợp với các đơn vị báo chí để phát hành các tin tức hay truyền hình trực tiếp

2.4 Khe hở trong nghiên cứu

Thông qua lý thuyết nền tảng các bên liên quan trong quản trị nhà nước, tác giả tóm lược các nghiên cứu đi trước về chủ đề nghiên cứu Cụ thể:

Thứ nhất, về phương pháp phân tích: các nghiên cứu đi trước sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau từ định tính đến định lượng

Các nghiên cứu định lượng sử dụng dữ liệu điều tra, khảo sát để thực hiện kiểm định các mối quan hệ khác nhau Mặc dù đây là hướng tiếp cận rõ ràng và dễ kiểm định nhưng nó chứa đựng nhiều hạn chế khi áp dụng trong chủ đề nghiên cứu này Đầu tiên là xác suất bị thiên lệch hay khả năng dữ liệu không mang tính đại diện cho tổng thể là rất cao, với lượng mẫu đại diện của các nghiên cứu tự khảo sát thấp (như Mou, Atkin, Fu, Lin, & Lau (2013) hay Lee (2006)) Đối với các nghiên cứu thực hiện dựa trên các dữ liệu khảo sát mang tầm quốc gia như Kenski & Stroud (2006) có thể khắc phục được vấn đề thiếu tính đại diện của mẫu nhưng vẫn gặp khó khăn khi nhà nghiên cứu không chủ động trong thiết kế các nghiên cứu và bảng hỏi phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

So với các nghiên cứu định lượng, các nghiên cứu định tính đa dạng và phổ biến hơn Từ các nghiên cứu dựa trên nội dung chia sẻ, nghiên cứu tình huống hay dựa trên tập hợp các nghiên cứu khác tùy theo từng khía cạnh nghiên cứu của các tác giả khác nhau

Thứ hai, về phạm vi nghiên cứu: không gian nghiên cứu của các nghiên cứu đi trước chủ yếu được thực hiện ở Mỹ, một số nghiên cứu khác được thực hiện ở Trung Quốc và các quốc gia khác Vì sự đa dạng trong bối cảnh của các nước nên các nghiên cứu ở các không gian nghiên cứu khác nhau có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, một số không gian có môi trường văn hóa tự do trong tiếp cận Internet và sử dụng nhiều mạng xã hội khác nhau, một số khác thì chính quyền

4 Tờ The Independent của Anh ngừng phát hành báo giấy, link truy cập ngày 1/4/2016, hoa-giai-tri/20160328/to-the-independent-cua-anh-ngung-phat-hanh-bao-giay/1075216.html

Trang 22

http://tuoitre.vn/tin/van-thực hiện kiểm soát hoạt động cũng như nội dung trên mạng xã hội Đồng thời, sự khác biệt về trình độ phát triển, văn hóa cũng tạo ra sự đa dạng có thể mang đến các kết quả khác biệt lớn giữa các không gian nghiên cứu khác nhau

Thứ ba, về chủ đề nghiên cứu: các nghiên cứu đi trước đã thực hiện các nghiên cứu từng khía cạnh tương tác khác nhau giữa các bên dưới ảnh hưởng của mạng xã hội hay từng đối tượng như sinh viên, người dân, …

Tại Việt Nam, số nghiên cứu về các chủ đề liên quan là hạn chế, theo tác giả tìm hiểu, chưa có một nghiên cứu nào về ảnh hưởng của mạng xã hội đến quản trị nhà nước hay chính sách công tại Việt Nam được công bố5 Như vậy, đây là khe hở nghiên cứu cốt lõi thúc đẩy tác giả thực hiện đề tài này

5 Ngoại trừ một cuốn sổ tay báo cáo về phong trào 6700 cây xanh của Viện SIEE, địa chỉ truy cập: http://isee.org.vn/Content/Home/Library/473/bao-cao-phong-trao-6700-bao-ve-cay-xanh-o-ha-noi pdf

Trang 23

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong chương 3, tác giả lần lượt đưa ra quy trình nghiên cứu của đề tài Theo đó, tác giả đưa

ra mô hình nghiên cứu đề xuất và xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp Đồng thời tác giả thiết kế các nghiên cứu tình huống điển hình và các bước phân tích để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đã đặt ra

3.1 Quy trình nghiên cứu

Để trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu, bài nghiên cứu được thực hiện thông qua các bước sau:

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Mục tiêu nghiên

cứu Cơ sở lý thuyết Thu thập dữ liệu và

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Xây dựng mô hình nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu

Lựa chọn tình huống điển hình

Phân tích

Mối quan hệ tương tác giữa các bên trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của Facebook

Kết luận và hàm ý chính sách

Mục tiêu

nghiên

cứu

Các lý thuyết nền tảng

các nghiên cứu đi trước

Trang 24

3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Dựa trên nền tảng lý thuyết các bên liên quan trong quản trị nhà nước và từ khe hở trong các nghiên cứu hiện tại, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu trong đề tài với các bên liên quan chính: chính quyền, người dân – cộng đồng, các tổ chức xã hội dân sự, doanh nghiệp, các đơn vị truyền thông và mạng xã hội Facebook

Mô hình nghiên cứu đề xuất được tác giả điều chỉnh từ lý thuyết về các bên liên quan trong quản trị công của Bovaird & Löffler (2009) dựa trên nền tảng quản trị nhà nước tại Việt Nam của Phạm Duy Nghĩa (2015) và mục tiêu nghiên cứu của đề tài này Theo đó, so với nền tảng lý thuyết của Bovaird & Löffler (2009), tác giả giản lược 2 bên liên quan là: các đại biểu dân cử

và các tổ chức thương mại

Tại Việt Nam, các đại biểu dân cử không phải là các nghị viên chuyên nghiệp mà phần lớn là các nhân viên làm việc trong hệ thống đảng, chính quyền6; số lượng đại biểu làm việc ngoài đảng-chính quyền rất ít và hoạt động mờ nhạt Do đó, tác giả cho rằng các đại biểu dân cử từ

mô hình của Bovaird & Löffler (2009) có thể được gộp vào nhân tố chính quyền khi nghiên cứu trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay

Các tổ chức thương mại cũng như các đại diện tổ chức thương mại là có ảnh hưởng đến các hoạt động trong quản trị nhà nước bằng các quy định hay các điều khoản tham gia ký kết, điều này ảnh hưởng trực tiếp lên chính quyền Tuy vậy, đối với chủ đề nghiên cứu này, tác giả đi sâu vào phân tích sự tương tác của các bên liên quan dưới ảnh hưởng của mạng xã hội đối với chính sách công, do đó, các tổ chức thương mại có thể được giản lược trong mô hình nghiên cứu đề xuất

Tác giả đưa nhân tố mạng xã hội vào mô hình đề xuất với giả định rằng Facebook là một nền tảng kết nối, giao tiếp và tương tác giữa các bên trong quản trị nhà nước trong các vấn đề chính

6 Theo cơ cấu bầu cử Quốc hội dự kiến năm 2016, trong số 500 đại biểu quốc hội chỉ có 35 đại biểu là ngoài đảng

và chỉ 7 người là doanh nhân, thông tin từ báo Tiền phong: hanh-phap-tang-chuyen-trach-970149.tpo

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/giam-dai-bieu-khoi-Kết quả bầu cử chính thức: 496 đại biểu trong đó có 95.8% là đảng viên và chỉ 2 người tự ứng cử được bầu vào Quốc hội khóa mới, địa chỉ truy cập: http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20160609/hom-nay-cong-bo-ket-qua- bau-cu-dai-bieu-quoc-hoi/1115164.html

Trang 25

sách công Điều này hàm ý rằng Facebook trở thành một môi trường chứa đựng các bên liên quan trong quản trị nhà nước, trong đó, các bên liên quan có thể tương tác với nhau về các vấn

đề chính sách công ở Việt Nam

Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu đề xuất

3.3 Phương pháp nghiên cứu tình huống

3.3.1 Định nghĩa

Theo Dul & Hak (2008), phương pháp nghiên cứu tình huống là phương pháp tập trung vào việc

mô tả, hiểu rõ, dự đoán và/hay kiểm soát các vấn đề riêng biệt (như hộ gia đình, con người, tổ chức, nhóm, tổ chức, văn hóa, )

Trong khi đó, theo B R K Yin (1994) một nghiên cứu tình huống là một quá trình thu thập thông tin thực chứng, điều tra một hiện tượng xảy ra trên thực tế nằm trong bối cảnh đời sống thực đặc biệt khi hiện tượng và bối cảnh không có bằng chứng rõ ràng Bên cạnh đó, Zucker (2009) cho rằng những điểm cốt lõi của một nghiên cứu tình huống là những giá trị thông tin và bằng chứng khoa học

Chính quyền

Truyền thông

Các tổ chức xã hội dân sự

Cộng đồngCông dân

Doanh nghiệp

Vấn đề chính sách công

Mạng xã hội Facebook

Trang 26

Theo B R K Yin (1994) thì việc thực hiện các nghiên cứu tình huống phù hợp trong bối cảnh của vấn đề nghiên cứu là không có các bằng chứng thực sự rõ ràng, khi vấn đề hàm chứa nhiều yếu tố phức tạp của bối cảnh đời sống thực

Kết quả lược khảo các nghiên cứu đi trước cho thấy, mặc dù các nghiên cứu định lượng giúp cho việc kiểm định mối quan hệ dễ dàng nhưng rất khó trong việc có được bộ mẫu dữ liệu mang tính đại diện Hơn thế nữa, ở Việt Nam, chưa có một cuộc khảo sát mang tính quốc gia về mạng

xã hội và chính sách công, do đó việc lựa chọn phương pháp định lượng là bất khả thi Vì thế, với bối cảnh và dữ liệu khá phù hợp với các tiêu chí đặt ra cho một nghiên cứu tình huống, tác giả lựa chọn phương pháp phân tích định tính, cụ thể là nghiên cứu một số tình huống điển hình

3.3.2 Thiết kế nghiên cứu tình huống

Trong đề tài này, tác giả xây dựng nghiên cứu dựa trên 5 thành phần chính trong nghiên cứu tình huống được đề xuất bởi B R K Yin (1994):

Thành phần 1: Xác định các câu hỏi nghiên cứu

Thành phần 2: Các giả định của tình huống, bao gồm: các điểm chú ý, phạm vi, giới hạn, các mối liên kết giữa các vấn đề

Thành phần 3: Xác định các đơn vị phân tích của nghiên cứu tình huống phù hợp với câu hỏi nghiên cứu đặt ra;

Thành phần 4: Đưa ra các kết nối hợp lý giữa dữ liệu và các mệnh đề lý thuyết: sự phù hợp của các “mảnh” thông tin đến các mẫu đối lập xuất phát từ đề xuất nghiên cứu

Thành phần 5: Các tiêu chuẩn cho việc suy luận các phát hiện từ nghiên cứu tình huống Ở đây, Yin (1994) nhấn mạnh rằng không có một tiêu chuẩn chung, chính xác, rõ ràng nào cho mọi tình huống Các tiêu chuẩn để suy luận phụ thuộc sự kết nối các thông tin từ tình huống và các vấn đề nghiên cứu đặt ra

Bên cạnh đó, Yin (1994) cũng đưa ra các tiêu chí để lựa chọn một tình huống để phân tích Theo

đó, tình huống nên được chọn phù hợp với các mệnh đề lý thuyết hay các mô hình nghiên cứu

đề xuất của đề tài

Trang 27

3.3.3 Các bước phân tích tình huống trong luận văn

Dựa trên cơ sở lý thuyết từ Yin (1994), tác giả đưa ra các bước thực hiện trong phân tích tình huống như sau:

Bước 1: Lựa chọn tình huống nghiên cứu được xác định theo câu hỏi nghiên cứu của đề tài và chỉ tập trung vào các tình huống xảy ra gắn liền với mạng xã hội và các vấn đề công của Việt Nam (thành phần 1,2 và 3 của Yin (1994))

Bước 2: Mô tả diễn biến tình huống (thành phần 4 của Yin (1994)) từ các thông tin được thu thập sơ cấp và thứ cấp

Bước 3: Phân tích tình huống (thành phần 5 của Yin (1994)) để phân tích tương tác của các bên liên quan trong tình huống dưới ảnh hưởng của Facebook

Bước 4: Sơ kết tình huống

Hình 3.3: Các bước phân tích tình huống

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trang 28

CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Dựa trên mô hình nghiên cứu đề xuất và khung phân tích từ chương 2 và chương 3, tác giả lựa chọn và phân tích các nghiên cứu tình huống điển hình, đồng thời qua thu thập dữ liệu để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đã được đặt ra của đề tài Cụ thể, phần 4.1 nêu lý do lựa chọn hai tình huống; phần 4.2, 4.3 trả lời cho câu hỏi nghiên cứu 1; phần 4.4 và 4.5 trả lời câu hỏi nghiên cứu 2 và 3

4.1 Lựa chọn nghiên cứu tình huống điển hình

Tính thời điểm tác giả nghiên cứu, đã có rất nhiều tình huống thảo luận chính sách công được diễn ra, có nhiều tình huống vẫn đang tiếp tục được thảo luận trên mạng xã hội7 Dựa trên nguyên tắc lựa chọn tình huống điển hình trong phân tích đã được đề cập ở chương 3, tác giả thực hiện lựa chọn 2 tình huống để phân tích trong đề tài bao gồm: tình huống “cây xanh Hà Nội” và tình huống “ngôi nhà Việt Nam”

Tình huống “cây xanh Hà Nội” là tình huống mở đầu cho xu hướng thảo luận các vấn đề chính sách công trên mạng xã hội một cách mạnh mẽ, thu hút các bên liên quan tham gia, kể từ sau tình huống này, rất nhiều các cuộc thảo luận chính sách công khác được mở ra với diễn biến tương tự Hơn thế nữa, tình huống này có khởi đầu và kết thúc rõ ràng với các dữ liệu có thể tiếp cận giúp quá trình phân tích tình huống thuận lợi

Tình huống “Ngôi nhà Việt Nam” được lựa chọn với các lý do tương tự với tình huống “cây xanh Hà Nội”, hơn thế nữa, trong tình huống này có nhiều yếu tố đặc biệt và bổ sung nhiều yếu

tố mới hơn so với tình huống “cây xanh Hà Nội” Do vậy, việc lựa chọn thêm một tình huống

là phù hợp trong nghiên cứu này để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra của đề tài

4.2 Tình huống cây xanh Hà Nội

4.2.1 Câu chuyện

Xuất phát từ đề án cải tạo cây xanh của Sở Xây dựng Hà Nội được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt ngày 11/11/20138 Theo đó, đề án này thực hiện khảo sát và đề xuất chặt hạ khoảng

7 Xem các tình huống được liệt kê ở phụ lục 2

8 Quyết định số 6816/QĐ-UBND, link tham khảo: http://vanban.luatminhkhue.vn/xem-vb/54396/ aspx

Trang 29

6700 cây xanh trên 190 tuyến phố với chi phí thực hiện hơn 73 tỷ đồng với mục tiêu đồng bộ các chủng loại cây xanh, thay thế các cây đã già – hỏng

Thông tin về đề án không còn được quan tâm cho đến giữa 03/2015, khi thành phố Hà Nội thực hiện hàng loạt các sự kiện liên quan đến chiến dịch này:

Ngày 11/39, trong buổi họp báo của cơ quan tuyên giáo Hà Nội đã cho biết sẽ hoàn thành đề án chặt cây xanh trong tháng 3

Ngày 14/3, “lễ ra quân trồng cây xuân ất mùi 2015”, đây được coi như thời điểm ra quân trên toàn thành phố để chặt hạ và trồng cây mới Trong đó, các cây mới được trồng theo thông tin báo chí tường thuật là cây vàng tâm

Ngày 15/3, những cây cổ thụ và các cây xanh tốt bị chặt gây ra tâm lý tiêu cực đối với mọi người Những hình ảnh chặt cây được chia sẻ đầu tiên trên các trang mạng xã hội cá nhân Báo chí, truyền thông bắt đầu đưa tin về vấn đề này Đồng thời, nhiều tổ chức dân sự đã được tập hợp với mục tiêu bảo vệ cây xanh Hà Nội ra đời: “Vì Một Hà Nội Xanh”, “6700 người vì

6700 cây” và tổ chức các buổi đi bộ biểu trưng vòng hồ Gươm vào các buổi cuối tuần trong tháng 3 và đầu tháng 4

Ngày 17/3, chính quyền Hà Nội phản ứng lúc đầu bằng các lập luận bác bỏ dư luận và khẳng định: “không phải hỏi dân” về quyết định này10 Đỉnh điểm của vấn đề được đẩy lên cao nhất khi phó Thủ tướng chính phủ yêu cầu Hà Nội phải thanh tra làm rõ vấn đề

Câu chuyện dần kết thúc sau khi có kết luận thanh tra vào tháng 711, theo đó, đề án bị dừng và các cán bộ chính quyền bị kỷ luật, trong đó cao nhất là thôi việc một nhân viên kỹ thuật của của Phòng giám sát cây xanh thuộc Sở xây dựng, còn lại là luân chuyển, cảnh cáo và giáng chức

Trang 30

4.2.2 Quá trình tương tác của các bên liên quan trong tình huống

 Sự tham gia của người dân và cộng đồng

Trước khi chiến dịch chặt cây hàng loạt xảy ra

Thông tin về các đề án cây xanh Hà Nội không được công bố rộng rãi trên truyền thông trước khi thực hiện đề án Đơn vị trực tiếp thực hiện chiến dịch chặt 6700 cây xanh là công ty TNHH Cây Xanh Hà Nội, đây là một công ty công ích nhà nước Tuy vậy, công ty này không có trang web để công bố các thông tin hay hoạt động của công ty, trái với thường lệ hiện nay mỗi công

ty, đơn vị đều có trang web Trên trang web của Sở xây dựng Hà Nội không có thông tin về bản

đề án được công khai

Trong khi đó, hoàn toàn không có thông báo truyền thông hay báo chí đưa tin về vấn đề này Theo giải trình của Sở Xây dựng sau này cho thấy, đề án12 này đã bắt đầu từ năm 2013, trong khi đó, báo chí và truyền thông chỉ được thông tin từ tháng 1/2015 khi bắt đầu thực hiện kế hoạch

Thông tin mà người dân nhận được không xuất phát từ các cơ quan nhà nước hay các đơn vị thực hiện mà xuất phát từ các đơn vị truyền thông, báo chí (có ít nhất 2 tờ báo Internet13 đưa thông tin sớm nhất về đề án chặt cây xanh vào ngày 26 và 27 tháng 1)

Như vậy, trước khi tiến hành chiến dịch chặt hàng loạt cây thì đề án cải tạo cây xanh Hà Nội là không được công khai hoàn toàn với người dân Các thông tin mà người dân tiếp nhận là hạn chế thông qua ít nhất là 2 bài báo dạng tường thuật vấn đề Các thông tin được tiếp cận qua kênh chính thống này dường như không tạo nên luồng dư luận nào để phản biện hay phản đối kế hoạch chặt cây xanh của thành phố Hà Nội Do đó, trước khi tiến hành chặt cây, người dân hầu như không hề tham gia vào sự kiện này

Khi chiến dịch chặt cây hàng loạt xảy ra

12 Quyết định số 6816/QĐ-UBND thành phố Hà Nội, địa chỉ truy cập vb/54396/quyet-dinh-6816-qd-ubnd-cua-uy-ban-nhan-dan-thanh-pho-ha-noi-ve-viec-phe-duyet-de-an-cai-tao- thay-the-cay-xanh-do-thi-.aspx

http://vanban.luatminhkhue.vn/xem-13 Đó là: Vnexpress và Infonet Đã dẫn ở mục 5

Trang 31

Khi chiến dịch chặt cây xanh được bắt đầu nhằm hoàn thành đề án trong tháng 3, người dân được tiếp nhận thông tin từ các luồng thông tin: các báo chí điện tử, kênh Facebook và blog Kênh báo chí điện tử tường thuật chỉ tường thuật thông tin về buổi họp báo và lễ phát động

“trồng cây xanh” Các thông tin này chỉ mang các yếu tố tích cực hoặc trung tính về việc cải tạo cây xanh để đồng bộ và trồng thêm cây xanh quý “vàng tâm”14

Kênh thông tin Facebook và blog là kênh thông tin mang lại nguồn thông tin đa dạng và nhiều hình thức khác nhau Trong quá trình chặt cây xanh, các thông tin mà người dân tiếp nhận trên Facebook dựa trên sự lan truyền thông tin từ các hình ảnh thực tế Hàng loạt các hình ảnh chặt cây xanh được lan truyền trên các trang Facebook cá nhân, Youtube và các trang Blog Trong

đó, những hình ảnh và video chặt các cây vẫn còn tươi tốt kiến tạo nên các luồng cảm xúc và đầy đủ cảm xúc của các cá nhân chia sẻ

So với Facebook, truyền thông chính thống đưa tin chậm và tính tương tác thấp hơn nhiều đối với các dòng sự kiện, báo chỉ chỉ đưa tin kể từ sau bức thư của ông Tuấn; trong khi đó, các trang Facebook của các nhóm như “6700 người vì 6700 cây xanh” liên tục cập nhật các tin tức chặt cây ở đâu, hiện đang có vấn đề ở khu phố nào, cảm xúc của những người chứng kiến cũng như các bài viết chia sẻ cảm nghĩ, ý kiến từng cá nhân15

Facebook thực sự tạo ra các luồng thông tin đa chiều, theo kịp dòng sự kiệp cùng với những tương tác giữa người dân với nhau được truyền tải thông qua mạng xã hội theo từng giây phút (thời gian thực), điều này thu hút những người dùng mạng xã hội khi họ được cập nhật thông tin, chia sẻ và đồng cảm với nhau Chỉ trong một thời gian ngắn kể từ khi ông Tuấn đăng bức thư ngỏ đã có hơn 6500 người “Like” và gần 800 lượt người chia sẻ trực tiếp từ trang cá nhân của ông Tuấn16 Rõ ràng, những nút “Thích (like)” hay “Chia sẻ (Share)” không chỉ là biểu

14 Các bài báo chỉ đơn giản là các bài tường thuật tin tức, địa chỉ truy cập được dẫn ở footnote số 5

15 Điều này được minh họa ở phần NGOs và các tổ chức xã hội dân sự, các hình ảnh – thông tin bổ sung ở phần

phụ lục 1

16 Số lượt Like và chia sẻ chỉ tính trực tiếp chưa kể các bài viết chia sẻ gián tiếp và các bài viết chia sẻ từ bài của ông Tuấn như bài viết của ông Ngô Bảo Châu (có khoảng 500 lượt chia sẻ và hơn 2000 lượt “like” )

Trang 32

tượng đơn thuần trên mạng Internet mà nó còn thể hiện quan điểm, cảm xúc và tương tác giữa các cá nhân trên mạng xã hội

Qua đó, Facebook tạo nên các vòng xoáy lan truyền cảm xúc dây chuyền hình thành nên áp lực

dư luận phản đối mạnh mẽ đối với chiến dịch chặt cây xanh

 Trí thức, người nổi tiếng

Trong không gian mạng xã hội Facebook, những tiếng nói có sức nặng và được chia sẻ nhiều là những ý kiến hay dòng trạng thái của những người nổi tiếng, các trí thức Những ý kiến của họ được công khai trên các trang Facebook cá nhân, đây là những trang rất dễ dàng tiếp cận và giúp những ý kiến của các chuyên gia, người nổi tiếng được lan truyền mạnh trong cộng đồng

Facebook trở thành một công cụ truyền tin mà mỗi cá nhân đều có thể lan tỏa thông tin mạnh

mẽ đến những người khác trong vòng kết nối Bên cạnh đó, việc lan tỏa ý kiến của các chuyên gia trên Facebook giúp tạo điều kiện để các cá nhân trực tiếp trao đổi các ý kiến, thảo luận và tranh luận, do đó, Facebook của mỗi cá nhân đã trở thành một kênh truyền thông và là một diễn đàn để tương tác với mọi người

Tình huống bức thư của nhà báo Trần Đăng Tuấn khi đăng công khai thư ngỏ của mình (vào ngày 16/3) gần như là điểm nối còn thiếu trong cơn bão dư luận và đưa vấn đề chặt cây xanh từ dòng thảo luận trên mạng xã hội và ngầm ẩn trở thành một xu hướng mạnh mẽ, đẩy truyền thông (báo chí, truyền hình, báo mạng, ) cùng tham gia chính thức vào sự kiện này

Từ đó, việc lan truyền mạnh mẽ bức thư ngỏ của nhà báo Tuấn cùng với các kênh thông tin báo chí đưa tin đã bắt buộc chính quyền thành phố Hà Nội phải có phản ứng chính sách đầu tiên là việc trả lời báo chí và trả lời thư ngỏ của ông Tuấn Thêm vào đó, bằng việc thể hiện rõ ràng chính kiến của mình, ông Tuấn đã thúc đẩy các trí thức khác công khai nói lên quan điểm và đưa ra những hành động khác nhau (thư của đại biểu quốc hội chất vấn, kiến nghị của các nhóm

xã hội dân sự, )

Hơn thế nữa, thông qua Facebook trở thành một kênh truyền thông của cá nhân, các hình thức phản ứng của những người nổi tiếng rất đa dạng, từ việc đang các bài viết phản đối đề án, các

Trang 33

phân tích khoa học đến những câu chuyện bình thường dễ dàng gợi ra cảm xúc của người đọc Trong đó, các nghệ sĩ thực hiện bằng chính các hình thức nghệ thuật và lan truyền trên Facebook tạo nên sự kết nối và thu hút lớn với dư luận17

Tất nhiên những điều này rất ít được các báo chí, truyền thông chính thống đưa tin Tất cả những hình thức này đều được chia sẻ trên các Facebook cá nhân của những người nổi tiếng với hàng chục ngàn lượt người theo dõi hàng ngày tạo ra sự lan tỏa cực kỳ lớn đối với các hiện tượng này Điều này tạo ra sức hút liên tục của vấn đề cây xanh Hà Nội đối với dư luận trong lúc truyền thông chính thống không thể cập nhật theo các dòng sự kiện này

Hộp 4.1 Những trí thức ảnh hưởng đến thảo luận vấn đề cây xanh Hà Nội

Trần Đăng Tuấn

Ông Trần Đăng Tuấn sinh năm 1957 Ông là một nhà báo kỳ cựu

Từ năm 1996, ông giữ chức phó tổng giám đốc Đài truyền hình Việt Nam sau đó từ chức vào năm 2011.Từ năm 2011 ông là tổng giám đốc truyền hình An Viên, đồng thời ông hiện đang điều hành chương trình từ thiện “Cơm có thịt”

Ông là một nhà báo uy tín trong lĩnh vực báo chí, đồng thời là một người nổi tiếng trên mạng

xã hội với gần 61 ngàn người dùng theo dõi.Do đó, mỗi một phát ngôn hay hành động của ông đều có ảnh hưởng lan tỏa vấn đề đối với những người dùng Facebook cũng như các đơn vị báo chí, truyền thông và những người làm báo chí

Trong tình huống cây xanh Hà Nội, ông là người đã chủ động viết thư cho chủ tịch thành phố

Hà Nội để chất vấn các vấn đề trong chiến dịch chặt cây này đồng thời đăng bức thư này lên Facebook cá nhân Đây là bước ngoặc để chuyển vấn đề từ thảo luận trên mạng Facebook đơn thuần sang vấn đề được báo chí chính thống đưa tin, giúp lan tỏa mạnh hơn trong xã hội

Ngô Bảo Châu

17 Xem thêm ở Phụ Lục 1

Trang 34

Ông Châu là giáo sư Toán, được biết đến là người Việt đầu tiên đạt giải Field danh giá trong toán học Chính vì vậy, ông Châu được nhà nước và xã hội Việt Nam tôn trọng như là một trong những tri thức lớn của xã hội Việt Nam đương đại

Facebook của ông được hơn 87 ngàn người dùng theo dõi

Trong tình huống chặt cây xanh Hà Nội, ông Châu đã bày tỏ chính kiến thông qua việc chia sẻ bức thư của ông Tuấn, thêm vào đó liên tục cập nhật thông tin cũng như đưa ra các vấn đề cần giải đáp trong chiến dịch chặt cây xanh của thành phố Hà Nội và các nhóm Facebook phản đối chặt cây xanh như nhóm “6700 người vì 6700 cây” Điều này giúp mở rộng đáng kể lưu lượng thông tin về vấn đề cây xanh Hà Nội, giúp tạo ra sự thảo luận mạnh mẽ và ảnh hưởng đến truyền thông báo chí chính thống

Các thông tin trong hộp này được tác giả tổng hợp trên mạng Internet

 NGOs và các nhóm xã hội dân sự

Facebook trở thành một một nền tảng dễ dàng để thiết lập các diễn đàn đối thoại, chia sẻ cũng như tập hợp những người ủng hộ của các nhóm xã hội dân sự Điểm đặc biệt trong tình huống này, các nhóm xã hội dân sự đóng vai trò quan trọng nhất không được hình thành trước đó như những tổ chức NGOs chính thức mà là một tập hợp tạm thời của các cá nhân có cùng mục tiêu bảo vệ cây xanh và vận động dừng dự án chặt 6700 cây xanh

Theo đó các nhóm xã hội dân sự được hình thành bao gồm: tôi yêu cây xanh, 6700 người vì

6700 cây xanh và các nhóm khác tự tập hợp nhau trên Facebook, …Facebook đóng vai trò quyết định trong việc hình thành các cầu nối tập hợp các trí thức, những người cùng có mục tiêu chung trong việc hình thành các nhóm xã hội dân sự để bảo vệ cây xanh

Trong đó, nổi bật là nhóm “6700 người bảo vệ 6700 cây xanh” và phong trào “tree hugs” Thống

kê cho thấy, quá trình tương tác liên tục và mạnh mẽ của nhóm “6700 người vì 6700 cây xanh”, trong đó, sự biến động của các hình thức tương tác (lượt thích (likes), bình luận (Comments) và chia sẻ (shares)) cho thấy sự quan tâm của công chúng đối với các vấn đề được thảo luận trên Facebook của nhóm Qua đó, Facebook của nhóm “6700 người bảo vệ 6700 cây xanh” thu hút

Trang 35

hơn 61000 người tham gia Tất cả các hoạt động hay phong trào “tree hugs” đều được thông báo hoàn toàn trên Facebook của nhóm, các thông tin này sau đó được lan tỏa lên các trang Facebook của cá nhân tạo ra một phong trào cực kỳ lớn mạnh Kết quả, các hoạt động biểu tình trên các tuyến phố Hà Nội liên tục được diễn ra vào các ngày cuối tuần

Hình 4.1: Thống kê tương tác trên Facebook nhóm “6700 người vì 6700 cây xanh”

Nguồn: Tác giả tổng hợp, tính toán

Đây là lần đầu tiên, các cuộc biểu tình vì môi trường và phản đối chính sách được diễn ra công khai sau khi được kêu gọi, chia sẻ trên Facbook Những hình ảnh biểu tình, hay các hoạt động bảo vệ cây xanh lại tiếp tục được cập nhật trên các fanpage và lan truyền theo Facebook cá nhân cũng như truyền thông đã thúc đẩy sự lan rộng của phong trào Ngoài ra, bằng các thông báo kêu gọi ký tên hoàn toàn chỉ thực hiện trên Facebook, chỉ sau một ngày đã có hơn 7000 chữ ký ủng hộ để kêu gọi chính quyền thành phố Hà Nội dừng đề án chặt cây xanh Các hình ảnh về việc trao bảng kiến nghị và tiếp nhận của chính quyền Hà Nội đều được đăng công khai trên trang Facebook của nhóm

Sự nổi bật của các nhóm xã hội dân sự thu hút truyền thông quốc tế, báo chí nước ngoài chú ý đến vấn đề này vì tính lan rộng của phong trào bảo vệ cây xanh, điều này được thể hiện qua các

0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000 16000

Trang 36

bài viết18 được đưa tin, trong đó nhấn mạnh rằng sự tập hợp của các nhóm trên Facebook gây chú ý lớn vì tầm ảnh hưởng mạnh mẽ và sự thay đổi trong xã hội mở Hơn thế nữa, trong các phong trào và biểu tình vì cây xanh được phát động còn thu hút rất nhiều người nước ngoài tham gia ngay tại Việt Nam

Điều này tạo nên sự hạn chế lớn đối với khả năng thực hiện các biện pháp mạnh của chính quyền thành phố Hà Nội trong việc giảm nhẹ ảnh hưởng của vấn đề chặt cây xanh đối với chính quyền

Truyền thông chỉ bắt đầu đưa các tin chính thống về vấn đề chặt cây xanh sau khi nhà báo Trần Đăng Tuấn có thư ngỏ vào ngày 16/3 lên chính quyền thành phố Hà Nội Từ tình huống này cho

18 Hanoi axes plan to fell trees, báo Dailymail:

http://www.dailymail.co.uk/wires/afp/article-3004521/Hanoi-axes-plan-fell-trees.html Ngoài ra các báo khác như thediplomat.com, thesunnydaily.com, …đều đưa tin về sự kiện này

19 http://gocnhinthoidai.blogspot.com/2015/04/phan-oi-chat-cay-xanh-va-nhung-khau-lac.html

Trang 37

thấy, truyền thông chính thống tại Việt Nam không phải là lực lượng dẫn dắt thông tin đặc biệt khi đối diện với các vấn đề liên quan đến chính quyền, họ không phải là những người đưa ra truyền thông các tin tức đầu tiên vì sự dè dặt và chịu kiểm soát

Sự truyền tải bức thư của ông Trần Đăng Tuấn là cái cớ đầu tiên để các tờ báo đưa thông tin về chặt cây xanh ở Hà Nội Trong đó, truyền thông (báo chí, đài truyền hình) đưa thông tin theo 2

xu hướng khác nhau

Đối với các tờ báo và truyền hình trực thuộc thành phố Hà Nội (báo Hà Nội Mới, báo An ninh thủ đô, truyền hình Hà Nội…) có xu hướng đưa các luồng tin bảo vệ và biện hộ tính đúng đắn của đề án Tuy vậy, những luồng thông tin này không nổi bật và trong lúc dư luận phản đối ngày càng mạnh mẽ và thừa nhận sai sót từ chính quyền, các đơn vị truyền thông này cũng không tiếp tục các chuỗi bài về cây xanh Hà Nội

Trong khi đó, các báo chí thuộc các đơn vị truyền thông khác, đặc biệt là các báo chí điện tử, sau bức thư của ông Tuấn đã bắt đầu các bài viết về chủ đề này Đặc biệt, kể từ khi chính quyền

Hà Nội trả lời thư của ông Tuấn (ngày 18/3)

Với ưu thế về truyền thông cùng đội ngũ phóng viên, các tờ báo đã có những phân tích thông tin sâu sắc: các bài phân tích tập trung vào các khía cạnh hợp lý hay không khi đề án không hỏi

ý dân, việc chặt cây có những khuất tất ở khía cạnh từ bán đấu giá gỗ, đơn vị tài trợ cho đến việc cây thay thế là khác với đề án Sự lan tỏa tương tác giữa các thông tin trên Facebook và báo chí (người dùng Facebook chia sẻ các bài báo phân tích các khuất tất trong đề án chặt 6700 cây xanh) tạo nên các luồng thông tin cực kỳ đa dạng với rất nhiều thông tin hữu ích

 Doanh nghiệp

Trong tình huống này, hai khối doanh nghiệp khác biệt lợi ích với nhau Công ty cây xanh đô thị Hà Nội là doanh nghiệp công ích chịu trách nhiệm quản lý cây xanh trên địa bàn thành phố Trong đề án này, công ty là đơn vị trực tiếp tham gia xây dựng đề án và thực hiện đề án Do đó, phần lớn các kinh phí của đề án là thu nhập của doanh nghiệp Từ những thông tin được các đơn

Trang 38

vị truyền thông đưa tin về chi phí để khảo sát và chặt cây cao một cách vô lý20 đồng thời có sự nghi ngờ về các khoản thu từ những cây gỗ thu được từ đề án, công ty này cũng chịu ảnh hưởng

sự chỉ trích về các vấn đề này trên mạng xã hội, tuy nhiên, vì tính phụ thuộc của trong cấu trúc hoạt động của doanh nghiệp nhà nước nên những chỉ trích này thường được hướng đến chỉ trích

đề án và cơ quan xây dựng đề án là sở xây dựng cùng chính quyền thành phố Trong tình huống này, công ty công viên cây xanh và đô thị Hà Nội không đưa ra hay tham gia ý kiến vào bất cứ vấn đề nào trong toàn bộ dòng sự kiện của chiến dịch chặt cây xanh và các quyết định sau đó

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đóng góp vào kinh phí cho đề án cũng chịu ảnh hưởng đến hình ảnh thương hiệu khi chính quyền thực hiện đổ lỗi cho quá trình chặt cây xanh được tiến hành hàng loạt do sự thúc ép của các doanh nghiệp21 tài trợ Tuy vậy, ngay khi thông tin này đưa ra, các nhà tài trợ ngay lập tức lên tiếng phản bác Hành động phản ứng nhanh chóng này là dễ hiểu

vì họ có động cơ bảo vệ hình ảnh doanh nghiệp, tránh sự phản đối của công chúng dễ dẫn đến các hành động tẩy chay ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và thương hiệu của họ

Nhìn chung, trong tình huống này, các doanh nghiệp không đóng một vai trò quan trọng khi mọi tập trung của dư luận và truyền thông đều chú tâm vào đề án và đơn vị thiết lập đề án chặt cây xanh là chính quyền thành phố Hà Nội

 Chính quyền

Trước khi thực hiện chiến dịch, chính quyền không quan tâm đến việc truyền thông, đồng thời không công khai các vấn đề này ra công luận Các thông tin không được công bố Chỉ khi thực hiện trên thực tế chiến dịch chặt cây hàng loạt thì đề án chặt cây xanh mới được công chúng và truyền thông biết đến

Trang 39

Trong quá trình thực thi khi áp lực bắt đầu xuất hiện trên Facebook và truyền thông, chính quyền thực hiện các biện pháp âm thầm sửa sai như gắn biển hỏi, đưa ra kế hoạch và thực hiện các phản bác (trả lời hầu hết người dân đồng ý hay vấn đề này không phải hỏi dân22) để cho thấy đề

án này là hợp lý

Tuy vậy, cuối cùng dưới áp lực dư luận quá lớn, chính quyền thành phố Hà Nội phải thực hiện các cuộc họp báo, giải trình đồng thời với việc trả lời thư ngỏ của các trí thức sau đó báo cáo vấn đề lên chính phủ Câu chuyện cây xanh dần hạ nhiệt và kết thúc khi có kết luận của chính phủ và kết quả xử lý cán bộ trực tiếp thực hiện đề án này

4.2.3 Sơ kết mối quan hệ tương tác trong tình huống dưới ảnh hưởng Facebook

Tình huống này có nguyên nhân từ một chính sách của chính quyền địa phương Quá trình thảo luận chính sách công được khởi đầu thông qua các thông tin từ các đơn vị truyền thông và từ cộng đồng những người sử dụng Facebook Các cuộc thảo luận trên mạng xã hội không chỉ tạo

áp lực buộc chính quyền phải có các phản ứng chính sách mà nó còn dẫn dắt các hành động trên thực tế

22 UBND Hà Nội: 'Người dân ủng hộ thay thế cây', báo điện tử Vnexpress, truy cập ngày 25/9/2015 tại địa chỉ: http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ubnd-ha-noi-nguoi-dan-ung-ho-thay-the-cay-3159290.html

Ngày đăng: 13/03/2017, 13:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Quang Bình, Nguyễn Thị Thu Nam, Phạm Quỳnh Phương, Phạm Thanh Trà (2016). Đánh dấu không gian xã hội dân sự Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh dấu không gian xã hội dân sự Việt Nam
Tác giả: Lê Quang Bình, Nguyễn Thị Thu Nam, Phạm Quỳnh Phương, Phạm Thanh Trà
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2016
2. Nguyễn Sĩ Dũng, Trần Tuyết Mai, Hoàng Minh Hiếu, Nguyễn Đức Lam (2010). Vai trò đại diện - giữ mối liên hệ huyết mạch với cử tri. Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử. Retrieved from http://www.fetp.edu.vn/cache/MPP7-542-R05V-Vai tro dai dien_Giu moi lien he huyet mach voi cu tri--Nguyen Si Dung, Pham Duy Nghia-2015- 06-19-16010737.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò đại diện - giữ mối liên hệ huyết mạch với cử tri
Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng, Trần Tuyết Mai, Hoàng Minh Hiếu, Nguyễn Đức Lam
Năm: 2010
3. Mai Phan Lợi, Nguyễn Minh Lộc, Nguyễn Văn Bá, Hoàng Nghĩa Nhân (2013). Mức độ phản hồi của cơ quan nhà nước đối với kiến nghị, phê bình của tổ chức, công dân trên báo chí. Retrieved from http://www.fetp.edu.vn/cache/MPP7-542-R11V-Muc do phan hoi cua co quan nha nuoc doi voi khieu nai, phe binh, kien nghi cua ca nhan, to chuc-- MEC & UK-2015-06-19-16264319.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ phản hồi của cơ quan nhà nước đối với kiến nghị, phê bình của tổ chức, công dân trên báo chí
Tác giả: Mai Phan Lợi, Nguyễn Minh Lộc, Nguyễn Văn Bá, Hoàng Nghĩa Nhân
Năm: 2013
6. Nguyễn Xuân Thành (2015). Chính sách công và tư duy phản biện (Bài giảng FETP). Retrieved from http://www.fetp.edu.vn/attachment.aspx?ID=45536 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công và tư duy phản biện
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Năm: 2015
1. Aman, M. M., & Jayroe, T. J. (2013). ICT, Social Media, and the Arab Transition to Democracy: From Venting to Acting. DOMES: Digest of Middle East Studies, 22(2), 317–347. http://doi.org/10.1111/dome.12024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: DOMES: Digest of Middle East Studies, 22
Tác giả: Aman, M. M., & Jayroe, T. J
Năm: 2013
3. Bovaird, T., & Lửffler, E. (2009). Public Management and Governance. http://doi.org/10.4324/9780203074275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Management and Governance
Tác giả: Bovaird, T., & Lửffler, E
Năm: 2009
4. Boyd, D. m., & Ellison, N. B. (2007). Social Network Sites: Definition, History, and Scholarship. Journal of Computer-Mediated Communication, 13(1), 210–230.http://doi.org/10.1111/j.1083-6101.2007.00393.x Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Computer-Mediated Communication, 13
Tác giả: Boyd, D. m., & Ellison, N. B
Năm: 2007
5. Broersma, M., & Graham, T. (2012). Social media as beat: Tweets as a news source during the 2010 British and Dutch elections. Journalism Practice, 6(3), 403–419.http://doi.org/10.1080/17512786.2012.663626 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journalism Practice, 6
Tác giả: Broersma, M., & Graham, T
Năm: 2012
6. Bryson, J. (2003). What to do when stakeholders matter: A guide to stakeholder identification and analysis techniques. A Paper Presented at the London School of ….Retrieved fromhttp://portals.wi.wur.nl/files/docs/landscapes/why_stakeholder_analysis_London_School_of_Econ_Feb_2003.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Paper Presented at the London School of …
Tác giả: Bryson, J
Năm: 2003
7. Burke, M., Develin, M., & Park, M. (2016). Once More with Feeling: Supportive Responses to Social Sharing on Facebook. Cscw ’16.http://doi.org/10.1145/2818048.2835199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cscw ’16
Tác giả: Burke, M., Develin, M., & Park, M
Năm: 2016
8. Chan, M., & Guo, J. (2013). The role of political efficacy on the relationship between facebook use and participatory behaviors: a comparative study of young American and Chinese adults. Cyberpsychology, Behavior and Social Networking, 16(6), 460–3.http://doi.org/10.1089/cyber.2012.0468 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cyberpsychology, Behavior and Social Networking, 16
Tác giả: Chan, M., & Guo, J
Năm: 2013
9. Craig, S. C., Niemi, R. G., & Silver, G. E. (1990). Political efficacy and trust: A report on the NES pilot study items. Political Behavior, 12(3), 289–314.http://doi.org/10.1007/BF00992337 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Political Behavior, 12
Tác giả: Craig, S. C., Niemi, R. G., & Silver, G. E
Năm: 1990
10. Dahlgren, P. (2005). The Internet, Public Spheres, and Political Communication: Dispersion and Deliberation. Political Communication, 22(2), 147–162.http://doi.org/10.1080/10584600590933160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Political Communication, 22
Tác giả: Dahlgren, P
Năm: 2005
12. Dunn, W. N. (1994). Public Policy Analysis: An Introduction. Retrieved from https://books.google.com.vn/books/about/Public_Policy_Analysis.html?id=xC22AAAAIAAJ&pgis=1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Policy Analysis: An Introduction
Tác giả: Dunn, W. N
Năm: 1994
13. Freeman, R. E. (1984). Strategic management: A stakeholder approach. Freeman Edward (Vol. 1). Retrieved from http://www.mendeley.com/research/strategic-management-a-stakeholder-approach-2/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic management: A stakeholder approach. Freeman Edward
Tác giả: Freeman, R. E
Năm: 1984
16. Heath, J., & Norman, W. (2004). Stakeholder theory, corporate governance and public management: What can the history of state-run enterprises teach us in the post-Enronera? Journal of Business Ethics, 53(3), 247–265.http://doi.org/10.1023/B:BUSI.0000039418.75103.ed Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Business Ethics, 53
Tác giả: Heath, J., & Norman, W
Năm: 2004
18. Hong, S. (2012). Online news on Twitter: Newspapers’ social media adoption and their online readership. Information Economics and Policy. Retrieved from http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0167624512000054 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Information Economics and Policy
Tác giả: Hong, S
Năm: 2012
4. Phạm Duy Nghĩa (2012). Vụ án Đoàn Văn Vươn – Một góc nhìn từ sinh hoạt báo chí và truyền thông ở Việt Nam, 1–10. Retrieved from http://www.fetp.edu.vn/cache/MPP7-542-R12.3V-Vu an Doan Van Vuon--Pham Duy Nghia-2015-07-07-15411083.pdf 5. Phạm Duy Nghĩa (2015). Dân chủ, ủy trị và các chức năng của cơ quan dân cử. Bài giảngmôn Quản trị nhà nước, FETP Link
24. Mitroff, I. (1983). Stakeholders of the organizational mind. Retrieved from http://library.wur.nl/WebQuery/clc/1623326 Link
31. Yin, B. R. K. (1994). Case Study Research: Design and Methods, 1–5. Retrieved from https://books.google.fr/books/about/Case_study_research.html?id=BWea_9ZGQMwC Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mối quan hệ tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước - Tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của facebook  phân tích một số tình huống điển hình tại việt nam
Hình 2.1 Mối quan hệ tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước (Trang 14)
Hình 2.2: Mô hình tương tác dưới ảnh hưởng của Internet - Tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của facebook  phân tích một số tình huống điển hình tại việt nam
Hình 2.2 Mô hình tương tác dưới ảnh hưởng của Internet (Trang 17)
Hình 2.3: Mô hình ảnh hưởng của mạng xã hội đối với việc thảo luận chính sách công - Tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của facebook  phân tích một số tình huống điển hình tại việt nam
Hình 2.3 Mô hình ảnh hưởng của mạng xã hội đối với việc thảo luận chính sách công (Trang 18)
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu - Tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của facebook  phân tích một số tình huống điển hình tại việt nam
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu (Trang 23)
Hình 4.1: Thống kê tương tác trên Facebook nhóm “6700 người vì 6700 cây xanh” - Tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của facebook  phân tích một số tình huống điển hình tại việt nam
Hình 4.1 Thống kê tương tác trên Facebook nhóm “6700 người vì 6700 cây xanh” (Trang 35)
Hình 4.2: Hình ảnh các cuộc diễu hành - Tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của facebook  phân tích một số tình huống điển hình tại việt nam
Hình 4.2 Hình ảnh các cuộc diễu hành (Trang 36)
Hình 4.3: Tương tác của các bên liên quan trong tình huống “cây xanh Hà Nội” - Tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của facebook  phân tích một số tình huống điển hình tại việt nam
Hình 4.3 Tương tác của các bên liên quan trong tình huống “cây xanh Hà Nội” (Trang 40)
Hình 4.4: Tương tác của các bên liên quan trong tình huống “ngôi nhà Việt Nam” - Tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của facebook  phân tích một số tình huống điển hình tại việt nam
Hình 4.4 Tương tác của các bên liên quan trong tình huống “ngôi nhà Việt Nam” (Trang 46)
Hình 4.5: Quá trình mở rộng tương tác của báo Tuổi trẻ trên Facebook - Tương tác giữa các bên liên quan trong quản trị nhà nước dưới ảnh hưởng của facebook  phân tích một số tình huống điển hình tại việt nam
Hình 4.5 Quá trình mở rộng tương tác của báo Tuổi trẻ trên Facebook (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w