Mặc dù đã có nhiều chính sách của Chính phủ cũng như giới doanh nghiệp trong vấn đề này, cho đến nay Việt Nam vẫn thiếu những nghiên cứu để hiểu về tác động của CNTT đến hiệu quả hoạt độ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
**************************
PHAN VĂN HOÀNG SƠN
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ VIỆT PHÚ
Trang 2TÓM TẮT Đầu tư công nghệ thông tin (CNTT) là một chương trình quan trọng nhằm thúc đẩy khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Mặc dù
đã có nhiều chính sách của Chính phủ cũng như giới doanh nghiệp trong vấn đề này, cho đến
nay Việt Nam vẫn thiếu những nghiên cứu để hiểu về tác động của CNTT đến hiệu quả hoạt
động của DNVVN Do vậy, mục tiêu của bài nghiên cứu này là đánh giá tác động của CNTT
đến hiệu quả hoạt động của DNVVN Việt Nam giai đoạn 2008-2013
Đầu tư CNTT trong DNVVN được nhìn nhận ở 4 khía cạnh: hạ tầng, nhân lực, ứng dụng và
chính sách, chia theo 5 cấp độ đầu tư: chưa đầu tư, căn bản, mở rộng, ứng dụng web và hướng
tri thức Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chia làm 2 phần hiệu quả tài chính và hiệu quả
phi tài chính Bài này nghiên cứu tác động của 5 cấp độ đầu tư CNTT lên hiệu quả tài chính của
DNVVN, ở khía cạnh đầu tư hạ tầng
Sử dụng phương pháp hồi quy đa biến và phương pháp đánh giá tác động PSM-DiD, tác giả lần
lượt xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đầu tư và tác động của đầu tư CNTT đến hiệu
quả hoạt động của DNVVN Phương pháp PSM-DiD giúp tìm ra nhóm đối chứng thích hợp,
hạn chế những thiên lệch của mô hình do vấn đề lấy mẫu gây ra
Kết quả từ mô hình cho thấy DNVVN Việt Nam thu lợi được từ những giai đoạn đầu tư CNTT
cơ bản và mở rộng, nhưng không hiệu quả ở những giai đoạn cao hơn Trong giai đoạn này,
CNTT làm tăng hiệu quả của DNVVN từ 5%-7%, tương đương với Anh, Phần Lan ở thập kỉ
trước, thấp hơn Thái Lan cùng thời kì (hơn 10%) Kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm cho thấy
doanh nghiệp Việt Nam còn thụ động trong việc ứng dụng CNTT, trong khi các chương trình
hỗ trợ nâng cao nhận thức của Chính phủ chưa tiếp cận tốt đến doanh nghiệp
Bài nghiên cứu chỉ ra 4 hướng chính sách mà nhà nước cần xem xét: hỗ trợ vốn trong giai đoạn
đầu tư CNTT cơ bản, tập trung vào các tỉnh thành nhỏ, cải thiện chương trình nâng cao nhận
thức về CNTT và cần giới tư vấn cho các chương trình ứng dụng CNTT cấp cao
Trang 3LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn với độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 7 năm 2016
Tác giả
Phan Văn Hoàng Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠNXin cảm ơn Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright và các thầy cô, anh chị bạn bè đã đồng hành trong suốt quá trình tham gia chương trình
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy, Tiến sĩ Lê Việt Phú, đã hướng dẫn và truyền đạt nhiều kinh nghiệm, đồng thời chỉnh sửa giúp tôi hoàn thiện đề tài này Những đóng góp của thầy không chỉ cho riêng luận văn này mà còn rất giá trị với công việc nghiên cứu của tôi
Xin chân thành cảm ơn thầy, Tiến sĩ Vũ Minh Khương đã chia sẽ tài liệu và truyền đạt kinh nghiệm về mô hình định lượng Cảm ơn thầy, Tiến sĩ Huỳnh Thế Du đã góp ý về mô hình lý thuyết Cảm ơn thầy, PGS-Tiến sĩ Cao Hào Thi đã giới thiệu, cảm ơn anh Nguyễn Duy Thanh
đã đọc, chia sẽ tài liệu và góp ý cho luận văn
Xin cảm ơn anh Lê Bá Anh, chị Ninh Thị Hoàng Yến, chị Nguyễn Lê Linh đã chỉnh sửa, góp ý giúp cải thiện luận văn
Xin cảm ơn các anh em trong team R&D - VNG đã giúp đỡ trong công việc suốt quá trình hoàn thiện luận văn Đặc biệt cảm ơn anh Trần Công Thiên Qui đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian này
Cuối cùng, xin dành lời cảm ơn cho gia đình với tình cảm sâu sắc nhất
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC viiv
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC HÌNH ẢNH ix
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1
1.1.1 Thế giới 1
1.1.2 Việt Nam 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 6
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 6
1.4 Đối tượng nghiên cứu và bố cục luận văn 6
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
1.4.2 Bố cục luận văn 6
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT 8
2.1 Định nghĩa DNVVN và CNTT 8
2.1.1 Định nghĩa DNVVN 8
2.1.2 Định nghĩa CNTT 10
2.2 Tại sao doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đầu tư công nghệ thông tin? 11
2.2.1 Các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 12
2.2.2 Các giai đoạn phát triển CNTT trong doanh nghiệp 13
Trang 62.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông ở Việt
Nam 15
2.3.1 Cơ sở hạ tầng thông tin và viễn thông 15
2.3.2 Mức độ ứng dụng công nghệ 17
2.4 Các mô hình chấp nhận và ứng dụng CNTT 18
2.4.1 Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và mô hình hoạch định hành vi (TPB) 19
2.4.2 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) 20
2.4.3 Mô hình ứng dụng CNTT trong DNVVN 20
2.5 Khảo sát các nghiên cứu về đánh giá tác động của CNTT đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 21
CHƯƠNG 3 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT 25
3.1 Các mô hình đánh giá tác động 25
3.1.1 Giới thiệu đánh giá tác động 25
3.1.2 Phương pháp mẫu ngẫu nhiên 26
3.1.3 Phương pháp điểm xu hướng (PSM – Propensity Score Matching Method) 27
3.1.4 Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DiD – Difference in Difference) 27
3.2 Mô hình đề xuất 30
3.2.1 Mô hình hồi quy đa biến 30
3.2.2 Mô hình PSM kết hợp DiD 30
3.3 Chiến lược chọn biến 31
3.3.1 Biến phụ thuộc: 31
3.3.2 Biến tác động chính sách 31
3.3.3 Biến kiểm soát 32
3.4 Nguồn dữ liệu 35
Trang 7CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Thống kê mô tả dữ liệu 37
4.2 Phương pháp hồi quy đa biến 42
4.3 Phương pháp DID kết hợp PSM 45
4.4 Khảo sát một vài doanh nghiệp trong thực tế 50
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Khuyến nghị chính sách 56
5.3 Hạn chế của đề tài 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 65
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
DiD Difference in Difference Phương pháp khác biệt trong
khác biệt
nghệ TRA Theory of Reasonel Action Lý thuyết hành động hợp lý TPB Theory of Planned Behavior Lý thuyết hoạch định hành vi
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2-1:Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 9
Bảng 2-2: Các giai đoạn ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp ứng với 4 góc độ quan sát 15
Bảng 3-1: Biến đầu tư CNTT theo từng giai đoạn 32
Bảng 3-2: Các biến kiểm soát trong mô hình 32
Bảng 3-3: Mô tả cách chọn biến từ bộ dữ liệu……… 34
Bảng 4-1: Thống kê mô tả các biến định lượng 37
Bảng 4-2: Thống kê mô tả các biến tham gia đầu tư công nghệ thông tin 38
Bảng 4-3: Thống kê dữ liệu định tính 40
Bảng 4-4: Thống kê mô tả số lượng doanh nghiệp theo tỉnh thành 41
Bảng 4-5: Mối tương quan giữa các biến định lượng 41
Bảng 4-6: Ttest kiểm định sự khác biệt giữa nhóm có đầu tư thêm máy tính và nhóm không đầu tư thêm máy tính 43
Bảng 4-7: Ước lượng các hệ số hồi quy của mô hình POOL-OLS 44
Bảng 4-8: Kết quả Mô hình Logit về xác suất tham gia đầu tư công nghệ thông tin của 48
Bảng 4-9: Kết quả mô hình PSM-DID 50
Phụ lục 1: Phân cấp đầu tư CNTT trong doanh nghiệp 62
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1-1: Mối tương quan giữa năng lực cạnh tranh và khả năng công nghệ thông tin của các
doanh nghiệp ở Quốc gia 1
Hình 1-2: Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của Việt Nam 3
Hình 1-3: Năng suất lao động bình quân tính theo giờ công theo sức mua tương đương 2011 3 Hình 1-4: Phân loại các chính sách của chính phủ liên quan đến DNVVN và CNTT 4
Hình 1-5: Tỷ lệ ứng dụng của nhóm phần mềm trong doanh nghiệp 5
Hình 1-6: Sử dụng email trong doanh nghiệp 5
Hình 2-1: Đường nhận thức của doanh nghiệp về ứng dụng công nghệ thông tin 12
Hình 2-2: Đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 13
Hình 2-3: Các giai đoạn phát triển CNTT trong DNVVN 14
Hình 2-4: Số lượng máy tính sử dụng trong doanh nghiệp 16
Hình 2-5: Các chỉ số về đầu tư và ứng dụng CNTT ở Việt Nam năm 2015 18
Hình 2-6: Lý thuyết hành động hợp lý 19
Hình 2-7: Mô hình hoạch định hành vi TPB 19
Hình 2-10: Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đầu tư CNTT cho doanh nghiệp 21
Hình 3-1: Mô hình đánh giá tác động DID 28
Hình 3-2: Phân loại các phương pháp đánh giá tác động theo loại dữ liệu 29
Phụ lục 2: Đường truyền Broadban ở Việt nam và so sánh với các nước trong khu vực 65
Phụ lục 3: Số thuê bao internet, số điện thoại di động và số đường dây điện thoại cố định trên 100 dân ở Việt Nam 65
Phụ lục 4: Bộ thang đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 63
Phụ lục 5: Mô hình chấp nhận công nghệ 66
Trang 11Phụ lục 6: Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư ICT của doanh nghiệp vừa và nhỏ 67
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI Chương 1 bao gồm 5 phần, phần 1.1 giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam và Thế giới, phần 1.2 đặt ra mục tiêu nghiên cứu, phần 1.3 nêu 2 câu hỏi nghiên cứu, phần 1.4 trình bày bố cục luận văn và đối tượng nghiên cứu
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
1.1.1 Thế giới
Trong những năm gần đây, thế giới đang chứng kiến sự xuất hiện của những phương thức kinh doanh và kỹ thuật quản lý mới trong các doanh nghiệp nói riêng và thị trường nói chung đi cùng với xu hướng toàn cầu hóa và số hóa Các Quốc gia phát triển đang tiến lên kỷ nguyên kinh tế tri thức mà ở đó, công nghệ thông tin (CNTT) đóng vai trò quan trọng nhất (Modimogale và Kroeze, 2011) Monge (2005) chỉ ra tốc độ tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
tăng cùng với mức độ sẵn sàng CNTT (Hình 1-1) Ở chiều ngược lại, TS Vũ Minh Khương
(2013) cho rằng thiếu đầu tư vào CNTT sẽ làm giảm năng suất tương đối, qua đó giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế ở quy mô quốc gia
Hình 1-1: Mối tương quan giữa năng lực cạnh tranh và khả năng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp ở các quốc gia
Trang 14Trong khi các quốc gia phát triển đang tận dụng lợi thế của CNTT để nâng cao hiệu quả hoạt động, thì việc đánh giá tác động của CNTT đối với doanh nghiệp ở quốc gia đang phát triển còn nhiều mâu thuẫn Nhiều ý kiến cho rằng hiệu quả đầu tư CNTT ở các quốc gia này còn hạn chế,
do gặp phải các vấn đề như thiếu nguồn lực cho đầu tư cơ sở hạ tầng (UNCTAD,2008- nghiên cứu tại Thái Lan ), khả năng nhận thức và năng lực ứng dụng hạn chế, thiếu nhân lực chất lượng cao, cơ chế quản lý cũng như chính sách phát triển không phù hợp (Olise, 2014; Chowdhury và Wolf, 2003 – nghiên cứu tại châu Phi)…
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, để doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị chung và đặc biệt là giành được lợi thế khi gia nhập vào các liên minh kinh tế, nhu cầu về việc ứng dụng CNTT cho hoạt động của doanh nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết Do vậy cần thiết phải có một mô hình phù hợp để tìm hiểu nguyên nhân và tác động của CNTT lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
1.1.2 Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam đã có những tăng trưởng đáng kể từ sau Đổi Mới (1986) Đến năm 2014,
quy mô GDP tăng gấp 30 lần, GDP bình quân đầu người tăng 21 lần (so với 1986) (Hình 1-2)
Trong đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đóng góp một tỷ trọng đáng kể vào sự phát triển chung Theo Đại học kinh tế Quốc Dân (2011) thì DNVVN chiếm hơn 93% tổng số doanh nghiệp cả nước, bao gồm nhiều loại hình từ doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã… và tham gia vào hầu hết các lĩnh vực ngành nghề, tạo ra hơn 01 triệu lao động (chiếm gần 50%), đóng góp hơn 40% GDP Phần lớn DNVVN hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ
Tuy vậy, sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào vốn và lao động
ít kỹ năng, thiếu tập trung vào cải thiện năng suất và công nghệ, làm cho năng suất của lao động của Việt Nam yếu thế hơn so với các nước trong khu vực Viện Năng suất Việt Nam (VNPI-2014) thống kê cho thấy năng suất lao động của Việt Nam thuộc hàng thấp nhất trong khu vực,
thua kém Thái Lan 3 lần, Nhật Bản 12 lần và Singapore hơn 18 lần (Hình 1-3)
Trang 15Hình 1-2: Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của Việt Nam
Hình 1-3: Năng suất lao động bình quân tính theo giờ công và
theo sức mua tương đương 2011
Nguồn: Viện Năng suất Việt Nam (VNPI,2014)
Đứng trước bối cảnh hội nhập, năng suất thấp, công nghệ lạc hậu khiến các doanh nghiệp Việt Nam thua kém trong cuộc chơi chung, đặc biệt là DNVVN Do đó, Chính phủ đã có nhiều chính sách để cải thiện năng suất và hiệu quả hoạt động của DNVVN Kể từ sau 2005, theo xu hướng của thế giới, các chính sách này bắt đầu tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng CNTT Rất nhiều chính sách, chủ trương của Đảng và Chính phủ ban hành trong giai đoạn này liên quan đến CNTT như Nghị quyết số 26 NQ/TW của Bộ chính trị về chủ trương phát triển ngành viễn thông, điện tử, tin học;Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính về ''Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa'' Liên tiếp
Trang 16sau đó, CNTT được đưa vào “Chương trình mục tiêu Quốc gia” gia (Nghị quyết 211/TTg, Quyết định số 1755/QĐ-TTg) Cho đến nay, hầu hết các chính sách này tập trung vào hai nhóm: hỗ trợ các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp CNTT và hỗ trợ cho các doanh nghiệp ngành khác
ứng dụng CNTT (Hình 1-4)
Nguồn: Wikibook
Đến năm 2015, ngành công nghiệp CNTT Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng như chỉ số phát triển CNTT Việt Nam được xếp vào hàng cao nhất khu vực, là một trong những nước có tốc độ phát triển CNTT nhanh nhất châu Á và đứng ở top 10 Quốc gia xuất khẩu phần mềm lớn nhất thế giới (theo thống kê của Trường chính sách công Lý Quang Diệu - 2014)
Tuy vậy, việc ứng dụng CNTT vào hoạt động sản xuất của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế Theo báo cáo của Viện trưởng viện tin học doanh nghiệp (VCCI), do thiếu nguồn lực, trình độ và kinh nghiệm, nên hiện nay, “đa số DNVVN vẫn còn e dè trong việc đầu tư vào CNTT để phục vụ hoạt động sản xuất” (Thiện Trần, 2016) Thống kê từ báo cáo thường niên của Bộ Công Thương
Chính sách CNTT
Chính sách DNVVN
Chính sách hỗ trợ CNTT cho DNVVN
Xây dựng cơ sở hạ tầng,
nghiên cứu và phát triển,
chuyển giao công nghệ, xây
Trang 17chỉ ra các doanh nghiệp rất hạn chế đầu tư vào CNTT cho các hoạt động quản lý của mình, ngay
cả những đầu tư ở mức cơ bản như phần mềm quản lý quy trình (Hình 1-5), sử dụng email(Hình 1-6), …
Hình 1-5: Tỷ lệ ứng dụng của nhóm phần mềm trong doanh nghiệp
Nguồn: Anh Tùng (2016) – tổng hợp từ khảo sát của cục thương mại điện tử và công nghệ - Bộ Công Thương
Hình 1-6: Sử dụng email trong doanh nghiệp
Nguồn: Anh Tùng (2016) – tổng hợp từ khảo sát của cục thương mại điện tử và công nghệ - Bộ Công Thương
Do tính chất đặc thù của DNVVN, việc đầu tư CNTT để cải thiện hiệu quả hoạt động sản xuất
đã mở ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi Tuy nhiên, các cuộc tranh luận này đa phần đều dừng lại ở mức nhận định của cá nhân, suy luận định tính mà chưa có nhiều phân tích định lượng về tác động của đầu tư CNTT lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ở Việt Nam Ngoại trừ những bài nghiên cứu của Kawasaki (2011), Konstadakopulos (2005), chỉ ra mối quan hệ
Trang 18giữa đầu tư CNTT và hiệu quả cùng với năng suất hoạt động của doanh nghiệp, các nghiên cứu này hạn chế ở mức chỉ phân tích mối tương quan, hoặc ước tính đóng góp của CNTT lên tăng trưởng ở cấp quốc gia, hay chỉ của một chương trình ứng dụng công nghệ vi mô Do đó, Việt Nam còn thiếu một phân tích định lượng để đo lường tác động của đầu tư CNTT đến hiệu quả hoạt động của DNVVN
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Từ những phân tích trên, mục tiêu của bài nghiên cứu này là sử dụng mô hình định lượng để đo lường tác động của đầu tư CNTT đến hiệu quả hoạt động của DNVVN
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu vừa nêu, đề tài sẽ trả lời hai câu hỏi nghiên cứu sau
1 CNTT tác động như thế nào lên hiệu quả hoạt động của DNVVN ở Việt Nam?
2 Nhà nước cần đưa ra những chính sách gì để khuyến khích (hoặc hạn chế) những tác động tích cực (hoặc tiêu cực) của đầu tư CNTT đến DNVVN?
1.4 Đối tượng nghiên cứu và bố cục luận văn
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Bài nghiên cứu đánh giá đầu tư CNTT lên hiệu quả hoạt động doanh nghiệp bằng phương pháp định lượng, trong đó có kết hợp so sánh kết quả giữa các mô hình định lượng khác nhau và sử dụng phương pháp điều tra định tính để kiểm tra kết quả của các mô hình
Đối tượng nghiên cứu là các DNVVN ở Việt Nam, trong giai đoạn 2008 đến 2013, sử dụng bộ
dữ liệu khảo sát DNVVN được giới thiệu trong phần 3.4 để chạy mô hình
1.4.2 Bố cục luận văn
Luận văn gồm có 5 chương bao gồm chương 1: Giới thiệu đề tài, tóm tắt bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đặt câu hỏi nghiên cứu và đưa ra đối tượng nghiên cứu Chương 2: Khảo sát các mô hình lý thuyết, trong đó tìm hiểu định nghĩa CNTT, hiệu quả hoạt động trong DNVVN, thực trạng về CNTT ở Việt Nam, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đầu tư CNTT
để tìm ra nhóm đối chưng và cuối cùng là khảo sát các mô hình đánh giá tác động Chương 3: Khung phân tích và mô hình đề xuất giới thiệu các mô hình đánh giá tác động, từ đó đề xuất 2
Trang 19mô hình được sử dụng trong luận văn này là mô hình hồi quy đa biến và mô hình kết hợp DiD Chương 4: Kết quả và thảo luận xem xét các kết quả từ 2 mô hình đề xuất và thảo luận dựa trên kết quả tìm được Chương 5: kết luận và khuyến nghị gồm phần kết luận tóm tắt lại những ý chính của luận văn, phần khuyến nghị dựa trên kết quả tìm được và nêu ra những hạn chế của đề tài
Trang 20PSM-CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT Chương 2 khảo sát các lý thuyết liên quan đến đánh giá tác động của đầu tư CNTT lên hiệu quả hoạt động DNVVN Trong đó phần 2.1 trình bày định nghĩa về CNTT và DNVVN, so sánh tương quan giữa Việt Nam và thế giới Phần 2.2 nói về các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động và mức độ đầu tư CNTT trong DNVVN Phần 2.3 trình bày thực trạng CNTT trong DNVVN ở VN cùng với các chính sách can thiệp của Nhà nước giai đoạn sau 2008 Phần 2.4
sơ lược về các mô hình chấp nhận và ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp Phần 2.5 tổng hợp các phương pháp đánh giá đầu tư CNTT lên hiệu quả hoạt động của DNVVN trên thế giới
ở Nam Phi (RSA, 2004) thì DNVVN có ít hơn 200 công nhân viên, (hoặc 100 trong lĩnh vực nông nghiệp), doanh thu hàng năm ít hơn 64.000.000 Rand1
Hiện nay, Ủy ban châu Âu còn cho rằng khả năng tiếp cận nguồn lực cũng là một thang đo để đánh giá DNVVN Do một vài doanh nghiệp tuy có ít nhân lực và doanh thu nhưng nhờ các mối quan hệ, liên kết nên có khả năng tiếp cận nguồn lực lớn, do vậy các doanh nghiệp này không phải đối mặt với các vấn đề của DNVVN Thước đo hiện đại được đề xuất là phân loại DNVVN dựa vào kích thước (số lượng công nhân viên, doanh thu hàng năm) và khả năng tiếp cận nguồn lực (sở hữu, các đối tác, liên kết )
1 Rand: đơn vị tiền tệ của Nam Phi Viết tắt là R, hoặc ZA, ZAF
Trang 212.1.1.2 Việt Nam
Tương đồng với thế giới, Việt Nam cũng chia DNVVN2 theo số lượng lao động (nhỏ hơn 300
lao động) và tổng nguồn vốn (dưới 100 tỉ VND), ứng với từng khu vực, cụ thể trong Bảng 2-1
Bảng 2-1: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng nguồn
vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
II Công
nghiệp và xây
dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
III Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính Phủ3
Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/06/2009 quy định ''Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm''
2 Ở Việt Nam trong các văn bản luật từ sau 2009 sử dụng từ doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc doanh nghiệp có quy
mô vừa và nhỏ Bài nghiên cứu này sử dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) với ý nghĩa tương đương
Trang 22Quy định và phân loại của DNVVN của Việt Nam khá tương đồng với các tổ chức trên thế giới Tuy nhiên đặc thù ở Việt Nam về khả năng tiếp cận nguồn lực thì lại không được nhắc đến Do
đó tồn tại vấn đề về việc các công ty con của các doanh nghiệp lớn hoặc có mối liên kết mật thiết với nhà nước được lập ra để hưởng các chính sách ưu đãi cho DNVVN Điều này là một
thiếu sót của Việt Nam trong mối tương quan với thế giới
2.1.2 Định nghĩa CNTT
2.1.2.1 Thế giới
Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về CNTT do quan điểm, phương thức và ứng dụng của CNTT thay đổi liên tục và khác nhau trên từng quốc gia, với từng lĩnh vực (kinh tế, kinh doanh, giáo dục, y tế ) Sau đây là một vài định nghĩa tiêu biểu
OECD (2003) định nghĩa ''Sản phẩm CNTT là những sản phẩm được dùng để thực hiện các chức năng xử lý thông tin hoặc giao tiếp bằng các phương thức điện tử, bao gồm truyền tải và hiển thị Hoặc dùng các tiến trình điện tử để xác định, đo lường, lưu trữ các hiện tượng vật lý, hoặc điều khiển kiểm soát các quá trình sản xuất''
Đối với kinh doanh, Zuppo (2012) cho rằng ''CNTT là những công nghệ phục vụ cho nhu cầu
xử lý và giao tiếp thông tin'' Zuppo (2012) chỉ ra nhiều tài liệu khoa học đồng ý với quan điểm CNTT là những công nghệ cho phép truy cập thông tin thông qua môi trường điện toán, và do
đó nó bao gồm Internet, mạng wireless, các thiết bị phần cứng như điện thoại di động, máy tính
cá nhân
2.1.2.2 Việt Nam
Điều 4 Luật CNTT số 67/2006/QH11 do Quốc hội ban hành ngày 29/06/2006: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số.''
Trước đó khái niệm CNTT vẫn diễn giải theo nghị quyết số 49/CP của Chính phủ, kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác
và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi
Trang 23lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"
Có thể thấy trong các văn bản luật của Việt Nam trước năm 2010 chưa định nghĩa và phân loại
rõ ràng về CNTT và các quá trình phát triển cần thiết cho doanh nghiệp Đối với từng ngành nghề khác nhau chưa có định nghĩa riêng biệt
2.2 Tại sao doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đầu tư công nghệ thông tin?
Hầu hết các DNVVN đều có mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện năng lực cạnh tranh trong thị trường Đây cũng là nguyên nhân chính để DNVVN đầu tư CNTT
Rathakrishnan (2010), Dutton (2005) cho rằng để cải thiện hiệu quả hoạt động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải thường xuyên “học tập, đổi mới” và “ra quyết định” hợp lý, chất lượng thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong cả 02 hoạt động này DNVVN có được lượng thông tin “đầy đủ, phù hợp, đúng lúc, chính xác” sẽ giúp cho quá trình học tập và
ra quyết định được hiệu quả nhất Những quyết định đúng sẽ điều chỉnh hoạt động doanh nghiệp, mang lại hiệu quả kinh doanh Trong khi chất lượng thông tin kém có thể dẫn đến những quyết định tồi làm doanh nghiệp phải lãng phí thời gian, tiền bạc và có thể phá sản CNTT lúc này đóng vai trò quan trọng nhất đến chất lượng thông tin của doanh nghiệp
OECD (2004) nhận định ở cấp độ doanh nghiệp, CNTT sẽ giúp cho quá trình giao tiếp, trao đổi trong doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với khách hàng, nhà cung cấp được nhanh hơn, hiệu quả hơn, đưa chi phí giao dịch về mức tối thiểu Những doanh nghiệp tận dụng được lợi thế này sẽ mở rộng thị trường, cải thiện được năng suất lao động và quy trình kinh doanh IRMA (2013) chỉ ra những lợi ích trực tiếp từ việc đầu tư CNTT như tăng doanh
số, giảm chi phí, mở rộng thị trường…
Đa phần các bài nghiên cứu đều đứng trên lập luận về khả năng nhận thức công nghệ của doanh nghiệp Với cùng một đẳng phí K1L1, doanh nghiệp có thể đầu tư nhiều vốn (K3, L3) hoặc lao động (K2, L2) để tạo ra mức sản lượng Q2 Nếu giả sử đầu tư CNTT sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, giảm bớt chi phí sản xuất thì cùng với việc ứng dụng CNTT, sản lượng của doanh
nghiệp sẽ tăng lên từ Q2 đến Q1 Lúc này doanh nghiệp sản xuất ở mức tối ưu (Hình 2-1)
Tuy nhiên, Cruz-Cunha (2010) cho rằng không nhất thiết doanh nghiệp đầu tư CNTT là sẽ mang lại hiệu quả, điều này còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận về hiệu quả, mức độ đầu tư CNTT,
Trang 24đặc tính của doanh nghiệp và thị trường
Do vậy, phần tiếp theo sẽ xem xét về các loại hiệu quả hoạt động trong DNVVN, và các mức
độ đầu tư CNTT trong doanh nghiệp
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
2.2.1 Các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, Cardinal (2015) đề xuất sử dụng các chỉ số
về hiệu quả tài chính (lợi nhuận, tăng trưởng, giá trị thị trường ), tuy nhiên ông cho rằng hiệu quả chiến lược cũng đóng một vai trò quan trọng trong dài hạn Tổng quát, Santos và Brito (2012) chia các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ra 2 phần: hiệu quả tài chính
và hiệu quả phi tài chính (còn gọi là hiệu quả chiến lược) Trong đó hiệu quả tài chính đo lường lợi nhuận, tăng trưởng, giá trị thị trường trong khi hiệu quả phi tài chính quan tâm đến khách
hàng, nhân viên, môi trường và xã hội (Hình 2-2)
Hình 2-1: Đường nhận thức của doanh nghiệp về ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 25Dựa trên cách phân loại này, Tarutė và Gatautis (2014) tổng hợp các thang đo dành cho hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp trong Phụ lục 4 Ông cho rằng CNTT có tác động trực tiếp đến
hiệu quả tài chính của doanh nghiệp thông qua hoạt động mở rộng thị trường, tiếp cận được thông tin, tăng năng suất lao động…, và tác động gián tiếp đến chất lượng doanh nghiệp thông qua cải thiện hiệu quả phi tài chính như chất lượng dịch vụ, môi trường sản xuất Bài nghiên cứu này chỉ quan tâm đến tác động của CNTT lên hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, xem xét
ở yếu tố năng suất lao động
Nguồn: Santos và Brito (2012)
Ngoài ra còn có một họ các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dành cho quản trị kinh doanh Kaplan và Norton (1992) tiếp cận phương pháp đo lường hiệu quả ứng với từng doanh nghiệp bằng thẻ điểm cân bằng, với bốn góc nhìn tài chính, khách hàng, nội bộ
và học tập phát triển, phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong quản lý doanh nghiệp
2.2.2 Các giai đoạn phát triển CNTT trong doanh nghiệp
Doanh nghiệp có mức độ đầu tư CNTT khác nhau tùy vào nhu cầu và nhận thức của mình, ngoài
ra còn phải phù hợp với thị trường và nhận thức của khách hàng Ví dụ Manueli (2003) khi nghiên cứu các doanh nghiệp ở Pakistan chỉ ra mức độ ứng dụng CNTT đa phần là đầu tư máy tính cá nhân và điện thoại di động Trong khi đó, Asoc và Sevrani (2008) nhận thấy các nước
chính
Lợi
nhuận
Giá trị thị trường
Tăng trưởng
Hình 2-2: Đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Trang 26châu Âu, hầu hết các doanh nghiệp đều đã trang bị máy tính cá nhân trong hoạt động kinh doanh, triển khai kết nối mạng và đang phát triển hệ thống kinh doanh trực tuyến
Do vậy, để xem xét hiệu quả mà đầu tư CNTT mang lại, ta cần có một phương pháp phân loại các cấp độ đầu tư CNTT hợp lý M Chesser và W Skok (2000) cho rằng các giai đoạn phát triển CNTT trong DNVVN nên được đo lường trên bốn góc độ: chính sách, hạ tầng, ứng dụng
và nguồn nhân lực Bốn góc độ này tương tác lẫn nhau và tạo thành môi trường bên trong của
doanh nghiệp, nó tương tác với môi trường bên ngoài dưới các áp lực của thị trường (Hình 2-3)
Nguồn: M Chesser & W Skok (2000)
Ở mỗi góc độ, M Chesser và W Skok (2000) chia năng lực ứng dụng CNTT của doanh nghiệp
ra làm 4 giai đoạn khác nhau để quan sát gồm: Giai đoạn chưa ứng dụng, giai đoạn căn bản, giai đoạn phổ biến và giai đoạn áp dụng thương mại điện tử Quoc Trung Pham (2010) cập nhật thêm mô hình trên với giai đoạn thứ 5 hướng tri thức
Bảng 2-2 tóm tắt 5 giai đoạn ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp ứng với 4 góc độ quan sát, ở
đây chỉ liệt kê một vài thuộc tính của từng giai đoạn
Chính sách
Hạ tầng
ứng dụng
Nhân lực Nội tại DN
Hình 2-3: Các giai đoạn phát triển CNTT trong doanh nghiệp
Trang 27Bảng 2-2: Các giai đoạn ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp ứng với 4 góc độ quan sát
Chưa ứng
Ứng dụng web
Hướng tri thức
Hạ tầng Chưa có
máy tính Có máy tính
Có kết nối internet
Xây dựng website
Có sử dụng wireless, mobile…
Nhân lực Không có kỹ
năng
Có kỹ năng kinh doanh
Có kỹ năng công nghệ MIS
Thương mại điện tử
Toàn cầu hóa và thuê ngoài Nguồn: Quoc Trung Pham (2010)
Ngoài ra, còn có các phương pháp phân loại theo nền tảng và công nghệ của Doyle n.d hoặc
Asoc và Sevrani (2008) phân chia theo cấp độ giao tiếp và kỹ thuật ứng dụng (Phụ lục 1)
Như vậy, Bài nghiên cứu này tập trung đo lường tác động của CNTT lên hiệu quả tài chính của DNVVN thông qua chỉ số năng suất lao động bình quân Trong đó CNTT xem xét cả 5 giai đoạn theo cách phân loại của M Chesser và W Skok (2000)
2.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông ở Việt Nam 2.3.1 Cơ sở hạ tầng thông tin và viễn thông
Khoảng thời gian đầu thế khỉ 21, trình độ công nghệ thông tin và viễn thông (CNTTVVT) của Việt Nam có xuất phát điểm thấp, tạp chí Global Information Technology Report đánh giá Việt Nam kém nhất bảng ở hầu hết các chỉ tiêu, xếp 74/75 trong việc sử dụng và truy cập mạng cho các lĩnh vực như chính phủ điện tử (eGovernment), kinh doanh số (eBussiness), chỉ số trang bị công nghệ (Trường chính sách công Lý Quang Diệu - 2014)
3 MIS: management information system: kỹ năng quản trị hệ thống thông tin
Trang 28Giai đoạn sau 2008, cơ sở hạ tầng CNTTVVT đã phát triển mạnh mẽ, các cơ sở pháp lý về CNTT của Việt Nam dần hoàn thiện Thống kê của Trường chính sách công Lý Quang Diệu (2014) cho thấy hầu hết, các chỉ số về hạ tầng CNTTVVT của Việt Nam đều phát triển vượt bậc, đến năm 2012 đã đứng trong nhóm những nước có hạ tầng CNTT phổ thông tốt nhất khu vực Ví dụ số lượng điện thoại di động trong 100 dân tăng từ hơn 25% (2006) lên hơn 140%
(2012), kết nối internet cũng tăng gấp đôi trong giai đoạn này, đạt 44% (2012) (phụ lục 3)
BroadBand và băng thông quốc tế của Việt Nam cũng tăng trưởng rất nhanh trong giai đoạn
2009 – 2012, tốc độ đường truyền quốc tế xếp cao hơn các nước trong khu vực (Phụ lục 2)
Theo Bộ công nghệ thông tin và truyền thông (2011) thì cuộc khủng hoảng kinh tế là nhân tố cản trở sự phát triển CNTT trong doanh nghiệp Trong giai đoạn này, mặc dù đa phần doanh
nghiệp đều có đầu tư máy tính, nhưng nhu cầu sử dụng máy tính đã giảm dần (Hình 2-4)
Nguồn: Bộ công nghệ thông tin và truyền thông (2011)
Gần 100% doanh nghiệp tư nhân có kết nối internet, trong đó đa phần là thông qua ADSL và DSL, trong khi đường truyền riêng chỉ chiếm 19%
Nhìn chung, các chỉ số về đầu tư hạ tầng CNTT ở Việt Nam có xuất phát điểm thấp, nhưng tốc
độ tăng trưởng cao và đến năm 2012 đã trở thành nước có chỉ số hạ tầng CNTT cơ bản thuộc hàng cao trong khu vực, tuy nhiên, khả năng ứng dụng CNTT vẫn còn hạn chế
Hình 2-4: Số lượng máy tính sử dụng trong doanh nghiệp
Trang 29Về phía doanh nghiệp, đa phần doanh nghiệp ứng dụng CNTT cho trao đổi thư điện tử, xử lý số liệu kinh doanh, chỉ có gần 33% doanh nghiệp có ứng dụng bán hàng qua mạng Thị trường thương mại điện tử B2C của Việt Nam năm 2014 chỉ có quy mô gần 3 tỷ USD, tương đối thấp
so với các nước trong khu vực (Vietnam Digital Landscape,2015) Trong khi đó, vấn đề về vi phạm bản quyền, bảo mật… của doanh nghiệp Việt Nam luôn được xếp vào hàng cao nhất thế giới (EUVN, 2014) Mức độ ứng dụng CNTT của các doanh nghiệp Việt Nam bị đánh giá khá thấp, World Economic Forum (2016) xếp Việt Nam thứ 121 trên 140 quốc gia khảo sát Đồng thời trình độ sử dụng máy tính và số lượng lao động có kỹ năng CNTT thấp hơn nhiều so với nhu cầu của thị trường
Tổng hợp 10 chỉ số đánh giá về mức độ đầu tư và ứng dụng CNTT của Việt Nam năm 2015
(Hình 2-5), World Economic Forum (2015) xếp hạng Việt Nam ở thứ 85 trong 143 Quốc gia
khảo sát, ở Đông Nam Á chỉ cao hơn Lào (97), Campuchia (110) và Timor (134)
Tóm lại, Việt Nam sau 2008 có sự đầu tư mạnh về cơ sở hạ tầng CNTT, ngành công nghiệp gia công phần mềm cũng phát triển vượt bậc, nhu cầu sử dụng CNTT ngày càng cao trong dân và doanh nghiệp Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ vẫn còn thấp, trong đó yếu kém nhất ở khu vực kinh doanh Các chỉ số về ứng dụng CNTT cho kinh doanh, bảo mật, an toàn hệ thống… đều xếp hạng thấp Việt Nam cũng phải đối mặt với tình trạng thiếu nguồn nhân lực có trình độ CNTT
Trang 30Hình 2-5: Các chỉ số về đầu tư và ứng dụng CNTT ở Việt Nam năm 2015
Nguồn: World Economic Forum (2015)
2.4 Các mô hình chấp nhận và ứng dụng CNTT
Để hiểu được thực trạng đầu tư CNTT trong các DNVVN của Việt Nam, cần tham khảo một vài mô hình chấp nhận đầu tư CNTT cho doanh nghiệp để chỉ ra các nguyên nhân doanh nghiệp đầu tư (hoặc không đầu tư) CNTT
Nhiều bài nghiên cứu ở trên đã chỉ ra rằng nếu doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của CNTT và đầu tư hợp lý thì sẽ cải thiện năng suất Tuy nhiên, các doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp có nhận thức khác nhau về khả năng đầu tư CNTT phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ngành nghề sản xuất, quy mô, thị trường, khả năng nhận thức… Khảo sát các lý do đầu tư CNTT ở cấp
độ tổ chức, Korpelainen (2011) nhận xét đa phần các bài nghiên cứu về vấn đề này dựa trên các
mô hình như: chấp nhận công nghệ (TAM), lý thuyết về hành vi hợp lý (TRA), mô hình lan tỏa sáng tạo (DOI) , lý thuyết hoạch định hành vi (TPB) Gần đây còn có hướng tiếp cận phân tích nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ sử dụng riêng cho DNVVN được đề xuất bởi
Trang 31Akkeren và Cavaye (1999), bộ các nhân tố này được xây dựng cũng dựa trên các lý thuyết trên Sau đây là khảo sát các mô ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp
2.4.1 Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và mô hình hoạch định hành vi (TPB)
TRA là một lý thuyết nổi tiếng được sử dụng nhiều trong phân tích hành vi (Hình 2-6), được
trình bày bởi Fishbein và Ajzen (1975), ông cho rằng hành vi của cá nhân phụ thuộc và xu hướng thực hiện hành vi đó Xu hướng thực hiện hành vi có thể được dự báo thông qua thái độ đối với hành vi và các chuẩn mực chủ quan, từ đó ông xây dựng bộ thang đo thích hợp với 2 khía cạnh trên
Nguồn: Fishbein, M., và Ajzen (1975)
Mathieson (1991) xây dựng mô hình hoạch định hành vi (TPB) dựa trên lý thuyết TRA (Chuttur,
2009) (Hình 2-7), trong đó ông cho thêm vào yếu tố nhận thức về kiểm soát hành vi, đó là các
yếu tố về khả năng, kỹ năng, nguồn lực, cơ hội của người ra quyết định
Hành vi Thái độ hành vi
Hành vi
Trang 322.4.2 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM)
Đứng trên khung phân tích của TRA, Davis (1989) trình bày mô hình chấp nhận công nghệ để
giải thích hành vi chấp nhận hay chối bỏ việc đầu tư CNTT (Phụ lục 5) TAM cho rằng ý định
sử dụng công nghệ có thể được dự báo bằng việc có thái độ hướng tới việc sử dụng Thái độ này dựa trên nhận thức về sự hữu ích, tức là nhận thức về những lợi ích, hiệu quả mà công nghệ sẽ mang lại, và nhận thức về đặc tính dễ dàng sử dụng công nghệ, tức là mức độ đơn giản của công nghệ mà người dùng mong đợi
Tuy nhiên, Manueli (2003) nhận xét rằng mô hình này không kiểm soát các đặc điểm cá nhân, kiểm soát hành vi của người ra quyết định trong những điều kiện ràng buộc, các đặc điểm của ngành, cung cầu thị trường… và do đó sẽ có những thiếu sót trong đo lường
2.4.3 Mô hình ứng dụng CNTT trong DNVVN
Để khắc phục những nhược điểm của các mô hình trên, nhiều mô hình khác được sử dụng để đánh giá khả năng đầu tư công nghệ như mô hình lan tỏa công nghệ (DOI), mô hình kết hợp TAM và TPB… Việc rút trích các đặc tính phù hợp để đo lường khả năng ra quyết định đầu tư công nghệ của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như dữ liệu, địa phương, ngành nghề… Do đó các bài nghiên cứu thường tự đưa ra những nhân tố phù hợp với dữ liệu và điều kiện nghiên cứu hơn là áp dụng cứng nhắc một mô hình chuẩn
Có rất nhiều bài nghiên cứu chỉ ra các nhân tố tác động đến khả năng ứng dụng CNTT trong DNVVN, trong đó chủ yếu chia ra 2 nhóm nhân tố: đặc tính của doanh nghiệp và đặc tính của chủ doanh nghiệp Một mô hình tiêu biểu được trích dẫn nhiều là của Akkeren & Cavaye (1999)
(Phụ lục 6) Trong đó, Akkeren & Cavaye chỉ ra các nhân tố đặc trưng của chủ doanh nghiệp
như: nhận thức về lợi ích, trình độ máy tính, khả năng sử dụng máy tính, tập quán, khả năng đổi mới Các đặc tính của doanh nghiệp như: áp lực ứng dụng công nghệ từ thị trường, nhà nước, nhu cầu từ khách hàng và bên cung cấp, cấu trúc và mức độ phức tạp của tổ chức, độ lớn của lượng thông tin xử lý, lĩnh vực, ngành nghề, độ lớn của doanh nghiệp, độ lớn của lượng thông
tin cần xử lý
Dựa trên các bài nghiên cứu đi trước, nghiên cứu này chỉ ra các yếu tố then chốt tác động đến
khả năng đầu tư CNTT trong DNVVN ở Việt Nam (Hình 2-10)
Trang 33Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ các bài nghiên cứu của Akkeren và Cavaye (1999) (*) và Manueli (2003)(**)
2.5 Khảo sát các nghiên cứu về đánh giá tác động của CNTT đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Việc tìm hiểu tác động của đầu tư CNTT đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là một đề tài đang được bàn luận sôi nổi trên thế giới Bắt đầu từ khi nhà kinh tế Solow đưa ra nhận định ''Ta có thể nhìn thấy thời đại của máy tính ở khắp nơi, ngoại trừ trong con số thống kê về năng suất'' (nghịch lý về năng suất)4, hàng loạt bài nghiên cứu sau đó đã dùng nhiều phương pháp để đánh giá nhận định này
Ngày nay, giới kinh tế đã dần đi đến một nhận định chung về mối quan hệ dương giữa đầu tư CNTT lên năng suất ở cấp độ quốc gia, trong cả ngành công nghiệp hoặc ở các công ty lớn, tiêu
Trình độ & nhận thức chủ DN về CNTT(*)
Khả năng đầu
tư CNTT cho
DN
Trang 34biểu trong đó là các bài nghiên cứu của Vũ Minh Khương (2013) chỉ ra đầu tư CNTT có tác động tích cực lên tăng trưởng GDP, đầu tư CNTT có quan hệ dương với năng suất lao động, nâng cao hiệu quả quản lý Khan và Santos (2002)
Tuy nhiên, ở cấp độ DNVVN, vẫn còn rất nhiều tranh cãi xung quanh việc đầu tư CNTT để nâng cao hiệu quả hoạt động Enrique (2016) cho rằng do những giới hạn về nguồn lực khiến DNVVN không dễ dàng ứng dụng được công nghệ mới, và do đó việc ứng dụng CNTT chỉ làm tăng chi phí đầu tư Chưa kể trong trường hợp thiếu nhân công có trình độ hoặc quy trình công
ty không đảm bảo phù hợp, việc đầu tư vào CNTT sẽ tạo ra những bất tiện trong hoạt động, tăng chi phí
OEDC (2004) nghiên cứu các DNVVN ở các quốc gia phát triển để tìm hiểu tác động của đầu
tư CNTT đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Bài nghiên cứu cho rằng CNTT sẽ có tác động tích cực đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Trong bản thân doanh nghiệp, CNTT giúp giảm chi phí, tăng tốc độ đáp ứng và mức độ tin tưởng của một giao dịch hoặc nghiệp vụ giữa các phòng ban hay giữa doanh nghiệp với khách hàng Mô hình thương mại điện tử B2C5
giúp tăng hiệu quả giao tiếp, cung cấp thông tin, chất lượng dịch vụ nhanh và đầy đủ đến khách hàng, qua đó mở rộng thị trường nhanh và hiệu quả hơn Tuy nhiên, DNVVN sẽ phải đối mặt với những rủi ro liên quan đến chi phí đầu tư, kỹ năng của lao động, rủi ro quản lý khi ứng dụng CNTT
Tác động của đầu tư CNTT với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp còn rắc rối hơn khi xem xét các quốc gia đang phát triển, UNCTAD (2008) nghiên cứu DNVVN ở Thái Lan và cho thấy CNTT chỉ có tác động tích cực lên năng suất lao động ứng với những cấp độ sơ khởi, trong khi đầu tư thêm website hoặc thương mại điện tử có tác động âm đến năng suất Ngoài ra tác động của CNTT cũng khác nhau theo độ tuổi của chủ doanh nghiệp, vùng và ngành công nghiệp tương ứng
Ở các Quốc gia châu Phi, Kew và Herrington (2009) cho thấy hiệu quả trong đầu tư CNTT phụ thuộc vào độ tuổi, nhóm vùng miền và quy mô của doanh nghiệp Olise và đ.t.g (2014) còn chỉ
ra được rằng, các doanh nghiệp ở Nigeria do đầu tư tràn lan, không có quy trình rõ ràng đã dẫn
5 B2C: Business to customer: Giao dịch giữa công ty – khách hàng
Trang 35đến hiệu quả của CNTT lên doanh thu là không đáng kể hoặc thậm chí là âm Chowdhury và Wolf (2003) sử dụng phương pháp hồi quy OLS để đo lường tác động của đầu tư CNTT lên tỉ
lệ thu hồi vốn, năng suất lao động và mở rộng thị trường của DNVVN ở Kenya và Tanzania Kết luận của tác giả là đầu tư vào CNTT đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, tuy nhiên tác giả không chứng minh được tác động của đầu tư CNTT lên tỉ lệ thu hồi vốn Đặc biệt hơn, tác giả chỉ ra rằng đầu tư CNTT làm giảm năng suất lao động như là hệ quả của chương trình đầu tư không hợp lý, chi phí dành cho đầu tư quá cao và khả năng lao động sử dụng công nghệ mới còn yếu kém Tác giả nhìn nhận rằng cần có thời gian trễ để CNTT có thể tác động lên hiệu quả doanh nghiệp, và do đó mô hình thời gian trễ sẽ thích hợp hơn
Tóm lại, tác động, hay thậm chí là mối quan hệ của CNTT đối với DNVVN còn là một đề tài tranh cãi CNTT có xu hướng mang lại hiệu quả và năng suất cao hơn đối với các Quốc gia phát triển, có quy trình sản xuất và trình độ nhân công cao, điều kiện thị trường cạnh tranh và nguồn lực vốn lớn Trong khi ở các Quốc gia đang phát triển, vấn đề về đầu tư không hợp lý, thiếu quy trình hay thiếu lao động trình độ ở các DNVVN đã khiến hiệu quả của doanh nghiệp cải thiện không đáng kể hay thậm chí là thụt lùi
Xét về các phương pháp đánh giá tác động của đầu tư CNTT đến hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp, đa phần các bài nghiên cứu sử dụng hàm sản xuất Cobb Douglas, trong đó xem đầu tư CNTT như một yếu tố đầu vào nhằm đánh giá tác động lên các yếu tố đầu ra như sản lượng, năng suất lao động hoặc giá trị gia tăng của doanh nghiệp Tiêu biểu như bài nghiên cứu của Bayo-Moriones và đ.t.g (2013) thực hiện các mô hình hồi quy tuyến tính để chứng minh tác động trực tiếp và gián tiếp của đầu tư CNTT vào hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp theo thời gian Atrostic và Nguyen (2007) cũng thực hiện mô hình tương tự với các biến đầu tư công nghệ
là các biến dummy do vấn đề về dữ liệu UNCTAD (2008) tổng hợp rất nhiều bài nghiên cứu đi trước sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến dựa trên hàm sản lượng CobbDouglas, điểm khác biệt ở các bài nghiên cứu này là cách chọn biến khác nhau, và cách nhìn nhận hiệu quả hoạt động doanh nghiệp khác nhau tùy vào từng Quốc gia hoặc từng bộ dữ liệu
Các phương pháp trên đều đứng trên một giả định về mẫu ngẫu nhiên, không phân tích về lý do tại sao doanh nghiệp đầu tư vào CNTT hoặc phân tích thiên lệch về một ý (hoặc là chỉ phụ thuộc vào chủ doanh nghiệp, hoặc là chỉ dựa trên đặc tính ngành, doanh nghiệp ) và do đó, có thể tìm
Trang 36ra mối quan hệ nhưng sẽ gặp sai sót khi đánh giá tác động do vấn đề về chọn mẫu, biến nội sinh
và các yếu tố không quan sát được
Bài nghiên cứu của Biagi (2013) có chỉ ra các nguyên nhân tại sao doanh nghiệp đầu tư CNTT
và đưa các biến này vào mô hình để kiểm soát, tuy nhiên ông cũng nhìn nhận thiếu sót trong quá trình chọn mẫu dẫn đến những sai lệch khi đánh giá tác động
Tóm lại, ta có thể rút ra hai vấn đề chính đang tồn tại dưới đây Thứ nhất, không giống như định hướng của những chính sách về hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư CNTT ở Việt Nam, các nghiên cứu
đi trước cho thấy rằng CNTT không nhất thiết đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển Do đó việc có hàng loạt chính sách hỗ trợ đầu tư CNTT mà thiếu một phương pháp đo lường tác động như hiện nay là một thiếu sót của các nhà làm chính sách Thứ hai, các phương pháp đánh giá tác động của đầu tư CNTT vào hiệu quả hoạt động của DNVVN đa phần đều dựa trên hàm sản xuất, với giả định mẫu ngẫu nhiên mà thiếu quan sát những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đầu tư công nghệ của doanh nghiệp Hơn nữa vì giả định mẫu ngẫu nhiên rất khó đạt được, nên các phương pháp đo lường trên tiềm ẩn sai số do vấn đề biến nội sinh Hạn chế của giả định mẫu ngẫu nhiên thường được đưa vào giới hạn của bài nghiên cứu, sẽ làm kết quả bị chệch lênh do các doanh nghiệp có đầu tư CNTT thường là các doanh nghiệp có xu hướng đầu tư CNTT như đã phân tích ở trên
Do đó, mục tiêu của bài nghiên cứu này là đánh giá tác động của đầu tư CNTT lên hiệu quả hoạt động của DNVVN ở Việt Nam nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách hiểu thêm về hiệu quả của đầu tư CNTT đến doanh nghiệp Thứ hai là sử dụng nhiều phương pháp đánh giá tác động khác nhau để hạn chế những thiếu sót của giả định mẫu ngẫu nhiên
Trang 37CHƯƠNG 3 KHUNG PHÂN TÍCH
VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT Phần này trình bày về các mô hình đánh giá tác động và mô hình đề xuất sử dụng trong bài nghiên cứu Phần 3.1 trình bày về các mô hình đánh giá tác động ứng với từng loại mẫu dữ liệu,
ưu và nhược điểm của từng mô hình Phần 3.2 trình bày mô hình đề xuất, bao gồm 2 mô hình với 2 giả định về mẫu, mỗi mô hình sử dụng lại phần cơ sở lý thuyết đã trình bày ở chương 2 Phần 3.3 trình bày về chiến lược chọn biến cho mô hình Phần 3.4 trình bày về bộ dữ liệu sẽ sử dụng trong mô hình
3.1 Các mô hình đánh giá tác động
3.1.1 Giới thiệu đánh giá tác động
Đánh giá tác động của một chương trình là tìm hiểu xem những thay đổi trong đầu ra có phải là
do chương trình hay không Bằng cách đo lường sai biệt đầu ra giữa những nhóm tham gia và
nhóm phản thực, Shahidur R Khandker, Gayatri B Koolwal (2010) mô hình hóa tác động của
chương trình như sau:
D = E(Yi(1)|Ti=1)- E(Yi(0)|Ti=0) + [E(Yi(0)|T=1) – E(Yi(0) |Ti=1)] (1)
Trong đó D là tác đông j của chương trình, Yi là yếu tố đầu ra, Yi(1) (hoặc Yi(0)) là đầu ra của đối tượng được (hoặc không) tham gia T = 1 (hoặc =0) ứng với việc đối tượng có (hoặc không) tham gia chương trình E() là hàm kì vọng Từ (1) ta có thể rút gọn thành:
Trang 38đánh giá tác động là loại bỏ sai số B
3.1.2 Phương pháp mẫu ngẫu nhiên
Lấy mẫu ngẫu nhiên được xem là tiêu chuẩn vàng trong hoạt động đánh giá tác động của chính sách Chọn mẫu ngẫu nhiên đảm bảo nhóm tham gia và nhóm đối chứng tương đồng về mọi mặt, và do đó, khác biệt trong kết quả là do tác động của chính sách chứ phải do bất kì một yếu
tố nào khác
Gọi Yi (1) là kết quả can thiệp và Yi(0) là kết quả không có can thiệp, Ti =?? trong trường hợp mẫu ngẫu nhiên, kết quả can thiệp của chương trình sẽ là: Ti Yi(1) – (1-Ti) Yi(0), và hiệu quả can thiệp bình quân ATE = E[Yi(1) – Yi(0)]
Do chỉ có thể quan sát được E(Yi(1)|Ti=1) và E(Yi(0)|Ti=0) Nên nếu không lựa chọn mẫu ngẫu nhiên, thì không đảm bảo E(Yi(1)) = E(Yi(1)|Ti=1) và E(Yi(0)) = E(Yi(0)|Ti=0), lúc này sẽ xảy sai số khi đo lường tác động
Shahidur R Khandker, Gayatri B Koolwal (2010) chỉ ra tác động có thể được đo lường bằng
TOT = E[Yi(1) – Yi(0)|Ti=1], lúc này TOT là chênh lệch đầu ra giữa đơn vị có tham gia chương trình và nhóm đối chứng được chọn ngẫu nhiên từ mẫu có can thiệp
Ta thấy TOT = E[Yi(1) – Yi(0)|Ti=1] = E[Yi(1)|Ti=1] - E[Yi(0)|Ti=1]
Nếu giả thiết Ti là ngẫu nhiên với tất cả các đơn vị trong mẫu, thì E[Yi(0)|Ti=1] = E[Yi(0)|Ti=0] (hay sai số B =0) thì TOT = E[Yi(1)|Ti=1] - E[Yi(0)|Ti=0] = D Như vậy bằng cách chọn mẫu ngẫu nhiên, ta đã loại được sai số B
Khi đó thì tác động của chương trình có thể được đo lường bằng phương trình hồi quy đa biến:
Y = +0 TT i + XX i + i (3)
Với T là biến có can thiệp chính sách, Xi biến kiểm soát các yếu tố đầu vào và Y là kết quả dầu
ra, i là sai số của phương trình Phương trình hồi quy này hàm ý rằng sau khi kiểm soát các yếu tố khác biệt Xi, thì tác động của chính sách lúc này là T
Trong trường hợp đo lường tác động của đầu tư CNTT đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, phương pháp này gặp vấn đề về khả năng đảm bảo tính ngẫu nhiên của mẫu, vấn đề về biến nội sinh, tức là các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đầu tư CNTT của doanh nghiệp nhưng không