Một số mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ trên thế giới ..... Kết cấu Bộ tiêu chí và phương pháp đánh giá bệnh viện ở Việt Nam .... Việc thực hiện đánh giá chất lượng theo Bộ tiêu ch
Trang 1HỒ BÍCH TRÂM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU TRONG BỐI CẢNH
GIÁ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH TĂNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 2HỒ BÍCH TRÂM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU TRONG BỐI CẢNH
GIÁ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH TĂNG
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ HUYỀN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hướng dẫn, hỗ trợ từ người hướng dẫn khoa học là Tiến sĩ Nguyễn Thị Huyền Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo
Nếu có bất kỳ sai sót, gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình
TP.Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 8 năm 2016
Tác giả
Hồ Bích Trâm
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 LÝ DO, BỐI CẢNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: 3
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ Y TẾ 5
2.1 ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ VÀ DỊCH VỤ Y TẾ 5
2.1.1 Khái niệm 5
2.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp y tế 5
2.1.2.1 Phân loại theo nhóm 5
2.1.2.2 Phân loại theo hình thức sở hữu 6
2.1.3 Vai trò, tầm quan trọng của đơn vị sự nghiệp y tế công lập trong xã hội 6
2.2 LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ Y TẾ 8
2.2.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ y tế 8
2.2.2 Đặc điểm của hoạt động dịch vụ y tế 8
2.2.3 Chất lượng dịch vụ y tế 10
2.2.4 Một số mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ trên thế giới 12
2.2.4.1 Mô hình SERVQUAL của Parasuraman & ctg (1985,1988) 12
Trang 52.4 CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP Ở
VIỆT NAM 16
CHƯƠNG 3: BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN 19
3.1 TIÊU CHUẨN, TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 19
3.2 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN Ở VIỆT NAM 20
3.2.1 Mục tiêu chung 20
3.2.2 Mục tiêu cụ thể 21
3.2.3 Kết cấu Bộ tiêu chí và phương pháp đánh giá bệnh viện ở Việt Nam 21
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011-2015 23
4.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA TỈNH CÀ MAU 23
4.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện kinh tế- xã hội của tỉnh Cà Mau liên quan đến nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế 23
4.1.1.1 Vị trí địa lý 23
4.1.1.2 Về Dân số 24
4.1.1.3 Về tăng trưởng kinh tế 25
4.1.1.4 Hệ thống cung cấp điện 25
4.1.1.5 Thông tin liên lạc 25
4.1.1.6 Về hệ thống đường giao thông 26
4.1.1.7 Y tế 26
4.1.1.8 Giáo dục, đào tạo 26
4.1.1.9 Khí hậu, thời tiết 27
4.1.1.10 Công nghiệp, đô thị hoá tác động đến sức khoẻ nhân dân 27
Trang 6BÀN TỈNH CÀ MAU 29
4.3.1 Thực trạng về đầu tư cơ sở vật chất 29
4.3.2 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong các bệnh viện công lập 30
4.3.3 Thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ y tế giai đoạn 2011-2015 31
4.3.4 Thực trạng sử dụng nguồn vốn Ngân sách tại các bệnh viện công lập tỉnh Cà Mau 34
4.4 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TỈNH CÀ MAU 2015 35
4.5 SO SÁNH VIỆC ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN CỦA TỈNH CÀ MAU NĂM 2015 VỚI CÁC TỈNH TRONG KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 36
4.6 NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ CỦA CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TỈNH CÀ MAU KHI THỰC HIỆN VIỆC CUNG CẤP DỊCH VỤ Y TẾ THEO LỘ TRÌNH TĂNG GIÁ KHÁM CHỮA BỆNH ĐƯỢC QUY ĐỊNH TẠI NGHỊ ĐỊNH 16/2015/NĐ-CP 40
4.6.1 Về mạng lưới khám chữa bệnh và trang thiết bị y tế 41
4.6.2 Về hệ thống xử lý chất thải y tế còn yếu kém, chưa đạt tiêu chuẩn 41
4.6.3 Việc thực hiện đánh giá chất lượng theo Bộ tiêu chí còn mang tính hình thức, chưa nhận được sự quan tâm của các bệnh viện 42
4.6.4 Hệ thống các bệnh viện công lập phụ thuộc quá nhiều vào Ngân sách, điều này sẽ gặp khó khăn khi thực hiện lộ trình tự chủ về tài chính theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP 42
CHƯƠNG 5: NHỮNG KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP TỈNH CÀ MAU TRONG BỐI CẢNH GIÁ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH TĂNG 44
Trang 75.2 VỀ ĐẦU TƯ HỆ THỐNG XỬ LÝ RÁC THẢI 44 5.3 VỀ THỰC HIỆN XÃ HỘI HOÁ ĐẦU TƯ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ 45 5.4 VỀ THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH 45 5.5 VỀ THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN THEO BỘ TIÊU CHÍ 46 5.6 XÂY DỰNG PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỤ THỂ ĐỂ THỰC HIỆN TINH THẦN THÔNG TƯ LIÊN TỊCH 37/2015/TTLT-BYT-BTC, NGÀY 29/10/2015 46
KẾT LUẬN 48
TÀI LỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8BHYT Bảo hiểm y tế
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới
Trang 9Hình 2.1: Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng theo
mô hình SERVQUAL 14
Hình 2.2: Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng theo mô hình Chất lượng kỹ thuật/Chất lượng chức năng 15
Bảng 4.1: Dân số tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2015 24
Bảng 4.2: Tình hình phát triển giường bệnh trong hệ thống bệnh viện công giai đoạn 2011-2015 29
Bảng 4.3: Công suất sử dụng giường bệnh của các bệnh viện 29
Bảng 4.4: Tổng số cán bộ chuyên môn ngành y tỉnh Cà Mau 2011-2015 30
Bảng 4.5: Tổng số cán bộ chuyên môn ngành dược tỉnh Cà Mau 2011-2015 31
Bảng 4.6: Kết quả hoạt động cung ứng dịch vụ y tế giai đoạn 2011-2015 32
Bảng 4.7: Kinh phí Ngân sách cấp chi hoạt động thường xuyên và Đầu tư sự nghiệp y tế giai đoạn 2011-2015 34
Bảng 4.8: Kết quả chấm điểm của các bệnh viện tỉnh Cà Mau năm 2015 36
Bảng 4.9: Kết quả chấm điểm bệnh viện năm 2015 của một số tỉnh thuộc Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long 38
Biểu đồ 4.1: Nguồn Ngân sách cấp chi hoạt động và chi đầu tư năm 2011-2015 35
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do, bối cảnh thực hiện đề tài:
Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Con người là nhân tố quan trọng nhất quyết định trực tiếp đến sự phát triển của đất nước Vì vậy, để xã hội phát triển phồn thịnh và bền vững đòi hỏi chúng ta phải phát triển nguồn nhân lực mà cụ thể là việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Mọi quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đều chú trọng hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe người dân thông qua nhiều lĩnh vực công tác của đời sống xã hội đặc biệt là công tác khám, chữa bệnh
Trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước, Quốc hội đã quan tâm, ban hành một số văn bản quan trọng về công tác y tế như: Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23/3/2005 của Bộ Chính trị về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới”; Kết luận số 42-KL/TW, ngày 01/4/2009 của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính (trong đó có tiền lương và giá dịch vụ) đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập; Nghị quyết số 18/2008/NQ-QH12, ngày 03/6/2008 của Quốc hội khóa XII về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân; Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT/BYT-BTC, ngày 29/02/2012 ban hành mức giá tối đa của 447 dịch vụ y tế, thay thế giá các dịch vụ đã ban hành từ năm
1995 và một số dịch vụ ban hành năm 2006, tạo điều kiện để các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có kinh phí triển khai thực hiện các dịch vụ, kỹ thuật y tế, duy tu, bảo dưỡng các trang thiết bị y tế, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh, người có thẻ bảo hiểm y tế và đối tượng chính sách được tốt hơn; Chỉ thị số 05/CT-BYT, ngày 10/10/2012 về việc tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh sau khi điều chỉnh giá dịch vụ y tế; Nghị định 85/2012/NĐ-CP, ngày 15/10/2012 của Chính phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập; Quyết định số 4858/QĐ-BYT,
Trang 11ngày 03/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện
Thực hiện các chính sách, chủ trương chỉ đạo trên, tỉnh Cà Mau có nhiều bước đột phá trong việc đầu tư xây dựng bệnh viện tuyến tỉnh, đầu tư trang thiết bị
y khoa hiện đại nhằm phục vụ tốt việc khám, điều trị bệnh cho bệnh nhân Tuy nhiên, xét trên diện rộng, nhất là trong bối cảnh giá dịch vụ khám, chữa bệnh BHYT tăng lên, liệu chất lượng của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập thông qua việc cung ứng dịch vụ y tế có tăng lên tương ứng hay không, thì cũng còn nhiều luồng ý kiến khác nhau
Để góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển sự nghiệp Y tế; đồng thời, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh với chất lượng cao của người dân Cà Mau cần thiết phải đánh giá thực trạng, từ đó, có cơ sở đề xuất giải pháp cải thiện chất lượng của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập trong hoạt
động khám, chữa bệnh, đó là lý do tác giả chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đơn vị sự nghiệp y tế công lập trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong bối cảnh giá dịch vụ khám chữa bệnh tăng” cho luận văn tốt nghiệp, với mong muốn đề tài là cơ sở
tham khảo trong việc quản lý và nâng cao chất lượng các đơn vị sự nghiệp y tế công lập của tỉnh nhà
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu chất lượng của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập tỉnh Cà Mau, từ đó kiến nghị giải pháp nâng cao chất lượng trong thời gian tới khi thực hiện lộ trình tăng giá dịch vụ khám chữa bệnh
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn cần tập trung làm rõ và trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Hoạt động khám, chữa bệnh tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập được thực hiện như thế nào theo thời gian trên địa bàn tỉnh Cà Mau?
(2) Kết quả đánh giá theo Bộ tiêu chí đạt mức độ như thế nào?
Trang 12(3) Thực trạng nhân lực, vật lực có đáp ứng điều kiện cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh đạt yêu cầu theo lộ trình tăng giá viện phí hay không?
(4) Các kiến nghị nâng cao chất lượng cho các đơn vị sự nghiệp y tế công lập của tỉnh Cà Mau?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý luận về chất lượng dịch vụ y tế và tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ y tế
- Chất lượng cung ứng dịch vụ y tế của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập tỉnh Cà Mau thông qua việc thực hiện chính sách về y tế và mức độ hài lòng của bệnh nhân
- Thời gian nghiên cứu dữ liệu thứ cấp: giai đoạn từ năm 2011 đến năm
2015
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp thu thập và tổng hợp, thống kê mô tả, phân tích theo thời gian và theo hệ thống để làm rõ mục tiêu nghiên cứu
- Thu thập và tổng hợp lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu (thu thập dữ liệu thứ cấp)
- Lập bảng thống kê mô tả và phân tích
Trang 131.6 Bố cục của Luận văn
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về đơn vị sự nghiệp y tế và chất lượng dịch vụ y tế Chương 3: Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện
Chương 4: Thực trạng chất lượng đơn vị sự nghiệp y tế công lập trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ
CÔNG LẬP VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ Y TẾ
2.1 Đơn vị sự nghiệp y tế và dịch vụ y tế:
2.1.1 Khái niệm:
Theo Khoản 1, Điều 2 Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 15/10/2015 của Chính phủ quy định: “Đơn vị sự nghiệp y tế công lập” là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tếnhư: Y tếdự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe (sau đây gọi tắt là đơn vị sự nghiệp y tế)
2.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp y tế
2.1.2.1 Phân loại theo nhóm:
Hiện nay, theo Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 15/10/2015 của Chính phủ quy định “Đơn vị sự nghiệp y tế được đăng ký và phân loại ” theo các nhóm sau đây:
a) Nhóm 1: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển;
b) Nhóm 2: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên;
c) Nhóm 3: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên;
d) Nhóm 4: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ”
Trang 15Việc phân loại được ổn định trong 03 năm, theo tiêu chí do liên bộ quy định, sau thời hạn 03 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp Trường hợp đơn vị có biến động về nguồn thu hoặc nhiệm vụ chi làm thay đổi cơ bản mức tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên thì được xem xét điều chỉnh việc phân loại trước thời hạn Mỗi nhóm sẽ có cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính phù hợp để phát huy tích cực của đội ngũ cán bộ y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ, hiệu quả hoạt động
2.1.2.2 Phân loại theo hình thức sở hữu:
Đơn vị y tế có 3 loại:
- Đơn vị y tế công hay còn gọi là đơn vị sự nghiệp y tế Đây là đơn vị y tế do Nhà nước quản lý, mọi sự hoạt động của nó phụ thuộc vào đường lối phát triển của Nhà nước
- Đơn vị y tế tư là đơn vị y tế do tư nhân đứng ra tổ chức thành lập như: Các phòng khám tư, bệnh viện tư,…Hoạt động của nó một phần phải nằm trong khuôn khổ chung của mọi bệnh viện và một phần nằm dưới sự chỉ đạo của tư nhân
- Đơn vị y tế công, tư là loại hình Bệnh viện do có sự kết hợp cả hai loại trên
2.1.3 Vai trò, tầm quan trọng của đơn vị sự nghiệp y tế công lập trong xã hội:
Ngày nay, đời sống kinh tế-xã hội đã phát triển, tiến bộ hơn trước rất nhiều Con người nhận thức được rằng yếu tố quyết định để phát triển xã hội phải chính là con người và mục tiêu của phát triển kinh tế- xã hội phải hướng tới duy trì sự tồn tại, phát triển của con người Muốn vậy, con người phải có được thể lực cũng như trí lực thích hợp nhất, mà thể lực có tốt thì mới làm tiền đề tạo ra và nâng cao trí lực
Thể lực, sức khỏe con người phải đối mặt với những thay đổi của môi trường sống đang ngày càng ô nhiễm Cho nên, các hoạt động y tế chính là công cụ cực kì quan trọng giúp con người chăm sóc sức khỏe và bảo vệ bản thân trước những tác động tiêu cực của môi trường sống Khi có được sức khỏe tốt nhất, con người có điều kiện để tiếp thu và phát triển trí thức cho mình nhằm xây dựng, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình ngày càng tốt hơn
Trang 16Con người luôn luôn có nhu cầu chăm sóc sức khỏe không những của bản thân mà của cả gia đình mình Không một ai lại sống mà luôn luôn khỏe mạnh cả bởi sự thay đổi thường xuyên và liên tục của môi trường sống cùng với sự vận động của thế giới tự nhiên Các hoạt động y tế mà con người xây dựng lên cũng chính nhằm mục đích điều hòa những tác động không tốt của môi trường sống tới con người
Do đó, các hoạt động y tế là không thể thiếu được trong đời sống con người Qua những tác động to lớn của y tế tới đời sống con người như vậy cho nên mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội cần phải chú trọng và lấy mục tiêu chăm sóc sức khỏe cho con người làm gốc, định hướng cho các chương trình kinh tế- xã hội khác vì một mục tiêu chung là phát triển bền vững Điều này cũng được thể hiện xuyên suốt trong đường lối xây dựng và phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta, khẳng định một cách rõ ràng trong Nghị quyết Trung Ương 4 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII: “Con người là nguồn tài nguyên quý báu nhất của xã hội, con người quyết định sự phát triển của đất nước, trong đó sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Do vậy, với bản chất nhân đạo và định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường, ngành y tế phải đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân”
Chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là một trong những công việc hết sức quan trọng, to lớn mang lợi ích chung và lâu dài cho toàn xã hội Với phương châm xây dựng một xã hội XHCN bền vững và phát triển toàn diện, coi trọng yế tố quyết định là con người thì không thể đặt các hoạt động y tế ngoài sự nghiệp chung của toàn xã hội được
Chính vì vậy, sự nghiệp y tế là yêu cầu tất yếu khách quan của chế độ xã hội ở nước ta và phải nhằm thực hiện những mục tiêu đem lại những kết quả về chăm sóc sức khỏe nhân dân cao nhất Phấn đấu để mọi người dân đều được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và cả tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi
Trang 172.2 Lý thuyết về chất lượng dịch vụ y tế:
2.2.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ y tế:
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), thì dịch vụ y tế bao gồm tất cả các dịch vụ về chẩn đoán, điều trị bệnh tật và các hoạt động chăm sóc, phục hồi sức khoẻ Chúng bao gồm các dịch vụ y tế cá nhân và các dịch vụ y tế công cộng
Theo PGS.TS Lê Chi Mai: Dịch vụ y tế bao gồm dịch vụ về khám chữa bệnh, tiêm chủng, phòng chống bệnh tật… Đây được xem như một quyền cơ bản của con người, vì vậy không thể để cho thị trường chi phối mà đó là trách nhiệm của nhà nước
Tóm lại, có nhiều quan niệm về dịch vụ y tế được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng có điểm chung sau đây: Dịch vụ y tế chính là một loại hàng hóa dịch vụ công đặc thù, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân và cộng đồng bao gồm hai nhóm dịch vụ thuộc khu vực công mở rộng: Nhóm dịch vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu (mang tính chất hàng hóa tư nhiều hơn có thể áp dụng cơ chế cạnh tranh trong thị trường này) và nhóm dịch vụ y tế công cộng như phòng chống dịch bệnh (mang tính chất hàng hóa công nhiều hơn)…do Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm
2.2.2 Đặc điểm của hoạt động dịch vụ y tế:
Thị trường dịch vụ y tế và khả năng thỏa mãn điều kiện cạnh tranh hoàn hảo:
- Thứ nhất, thị trường có số lượng lớn người mua và người bán đủ lớn và
trong số những người mua và người bán đó không có ai có thể khống chế giá cả và sản lượng trên thị trường
Đối với thị trường dịch vụ y tế thì khó có thể đáp ứng được điều kiện này do sự tập trung các cơ sở y tế tại các thị trường địa lý khác nhau thì rất khác nhau Do vậy, đây chính là tính không hoàn hảo của thị trường dịch vụ y tế
- Thứ hai, thị trường không có rào cản khi gia nhập thị trường và rút lui khỏi
thị trường: Người sản xuất có quyền tự do gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường trong khi các yếu tố của sản xuất đều di chuyển theo tín hiệu thị trường
Trang 18Đối với thị trường dịch vụ y tế, việc tự do gia nhập thị trường là điều hiếm thấy bởi vì như chúng ta đã biết, những người cung ứng dịch vụ y tế bao gồm bệnh viện, phòng khám, phòng mạch và các bác sĩ gia đình đều phải có giấy phép thành lập và giấy phép hành nghề và có trình độ chuyên môn về lĩnh vực này
- Thứ ba, sản phẩm phải đồng nhất, không có sự khác biệt về chất lượng
Ðối với thị trường dịch vụ y tế thì điều này càng khó đáp ứng bởi vì quá trình khám chữa bệnh lại rất phức tạp và năng động bởi chúng sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Ðối với cùng một loại bệnh ở hai bệnh nhân khác nhau, nhưng bác sĩ lại dùng hai phương pháp điều trị khác nhau bởi nó còn tùy thuộc vào thể trạng của từng bệnh nhân để bác sĩ có thể kê đơn, bốc thuốc cho phù hợp
- Thứ tư, tất cả người mua và người bán đều có hiểu biết đầy đủ về các thông
tin liên quan đến việc trao đổi hàng hóa dịch vụ trên thị trường
Đối với thị trường dịch vụ y tế, bệnh nhân không thể tự đưa ra quyết định tiêu thụ sản phẩm, không có hiểu biết về dịch vụ mà họ tiêu thụ hoặc là biết rất ít về dịch vụ đó mà họ phụ thuộc hoàn toàn quyết định của người bán (bác sĩ)
Tóm lại, nếu xét dựa trên các điều kiện cơ bản của thị trường cạnh tranh hoàn
hảo thị hầu hết các điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo đều không đáp ứng được trong thị trường dịch vụ y tế
Cung và cầu trên thị trường dịch vụ y tế
- Cầu: Là số lượng hàng hoá người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các
mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định
"Cầu" là cái mà cuối cùng người tiêu dùng mua Cái họ mua, trong thị trường dịch vụ y tế thường là do ý kiến của nhà chuyên môn quyết định (bác sỹ) Trong thị trường dịch vụ y tế thì cung quyết định cầu
- Cung: Là lượng hàng hóa dịch vụ sẵn sàng cung ứng trên thị trường ứng
với mỗi mức giá nhất định
Trên thị trường dịch vụ y tế luôn tồn tại một vị thế độc quyền của các bệnh viện có nhiều chuyên gia, bác sỹ giỏi với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là
Trang 19các trang thiết bị y tế hiện đại giúp cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh được chính xác và hiệu quả
- Cung, cầu và trạng thái cân bằng của thị trường:
+ Giá cân bằng: Là mức giá tại đó số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người mua muốn mua đúng bằng số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người bán muốn bán Nói cách khác, sự cân bằng thị trường đạt được khi lượng cầu bằng lượng cung
+ Đối với thị trường dịch vụ y tế, cầu về dịch vụ y tế khám, chữa bệnh của người dân phụ thuộc vào tình trạng bệnh tật của người dân và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân Trên thị trường này thường xuyên mất cân bằng giữa cung và cầu Tình trạng các quốc gia không kiểm soát được tình trạng dịch bệnh để dịch bệnh lây lan, không kiểm soát được ô nhiễm môi trường có thể sẽ gây mắc bệnh hàng loạt đối với dân cư tại các khu vực dân cư bị ô nhiễm môi trường
- Những thất bại của thị trường dịch vụ y tế: Theo Giáo sư Josef Stiglitz -
nguyên cố vấn trưởng kinh tế của Ngân hàng thế giới và nhiều nhiều chuyên gia kinh tế đã cảnh báo về những thất bại thị trường dịch vụ y tế
Việc cung ứng hàng hóa dịch vụ trên thị trường dịch vụ y tế thường gặp các thất bại cơ bản sau: Thông tin bất đối xứng (giữa bệnh nhân và bác sỹ; giữa người mua bảo hiểm y tế, cơ sở cung ứng dịch vụ y tế với cơ quan bảo hiểm y tế); Độc quyền trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ y tế; Ngoại ứng (bao gồm: ngoại ứng tiêu cực và ngoại ứng tích cực); Tình trạng bất công bằng xã hội
2.2.3 Chất lượng dịch vụ y tế:
Chất lượng dịch vụ y tế có những đặc tính riêng và cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất và cách đo lường thống nhất Có một số định nghĩa về chất lượng dịch vụ ý tế có tính khái quát cao và thường được sử dụng là:
- Chất lượng dịch vụ y tế bao hàm hai cấu phần riêng biệt là chất lượng vận hành (functional quality), tức là cách thức người bệnh được nhận dịch vụ (chất lượng thức ăn, tiếp cận dịch vụ) và chất lượng chuyên môn (technical quality), tức là chất lượng của việc cung ứng dịch vụ KCB (năng lực và kết quả điều trị)
Trang 20- Chất lượng dịch vụ KCB bao gồm cả việc ứng dụng khoa học và kỹ thuật y khoa theo cách thức nào đó để tối đa hóa lợi ích về sức khỏe mà không làm gia tăng các rủi ro tương ứng do ứng dụng các kỹ thuật này Do đó, chất lượng dịch vụ KCB chính là mức độ mà dịch vụ y tế được kỳ vọng sẽ đem lại sự cân bằng mong muốn nhất giữa rủi ro và lợi ích
- Chất lượng dịch vụ KCB là mức độ theo đó các dịch vụ y tế mà cá nhân và cộng đồng sử dụng làm tăng khả năng đạt được kết quả sức khỏe mong muốn và phù hợp với kiến thức chuyên môn hiện tại
- Chất lượng dịch vụ KCB là hình thức tổ chức các nguồn lực một cách hiệu quả nhất nhằm đáp ứng nhu cầu CSSK của những người có nhu cầu nhất nhằm mục đích phòng bệnh và CSSK, an toàn, không gây lãng phí mà vẫn đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu cao hơn (Ovretveit)
- Chất lượng dịch vụ y tế là mức độ đạt được các mục đích bên trong của một hệ thống y tế nhằm nâng cao sức khỏe và đáp ứng được kỳ vọng chính đáng của nhân dân
Như chúng ta thấy, các định nghĩa trên đều có sự linh hoạt trong việc xác định chất lượng dịch vụ y tế tùy thuộc vào mục đích và vào điều kiện hiện tại của hệ thống y tế; đều đề cập tới sự kỳ vọng của nhân dân, đến tính hiệu quả - chi phí của dịch vụ và hiệu quả điều trị của các dịch vụ y tế nhằm đạt được mục đích cuối cùng là sức khỏe
Định nghĩa về chất lượng do Ovretveit đưa ra rất hữu ích cho việc xây dựng chiến lược và kế hoạch quốc gia về chất lượng dịch vụ y tế bởi vì nó nhấn mạnh tới cách thức sử dụng nguồn lực hiện tại thay vì chỉ tập trung vào việc gia tăng nguồn lực sẵn có Định nghĩa này bao gồm ba khía cạnh của chất lượng: chất lượng đáp ứng nhu cầu của người bệnh, chất lượng chuyên môn và chất lượng quản lý Chính điều này khiến định nghĩa của Ovretveit được WHO đưa áp dụng trong bản hướng dẫn xây dựng chiến lược an toàn và chất lược trong sự tiếp cận hệ thống y tế và định nghĩa này cũng được coi là phù hợp với cách tiếp cận trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ KCB của ZAHR năm 2012
Trang 21Có một định nghĩa do Viện Y học của Mỹ đúc kết, và được WHO cho là một định nghĩa thiết thực trong đó chỉ rõ sáu lĩnh vực hoặc khía cạnh của chất lượng dịch vụ y tế cần tác động đến để cải thiện chất lượng Việc đánh giá dịch vụ từ các khía cạnh này rất có ích nhằm xác định các biện pháp can thiệp để cải thiện chất lượng dịch vụ một cách cơ bản Các khía cạnh đó là:
An toàn, cung cấp dịch vụ y tế với sự giảm thiểu rủi ro và nguy hại cho người sử dụng dịch vụ
Hiệu quả, cung cấp dịch vụ y tế dựa vào cơ sở bằng chứng và đem lại các kết quả cải thiện sức khỏe cho các cá nhân và cộng đồng, dựa trên nhu cầu;
Người bệnh là trung tâm, cung cấp dịch vụ y tế có tính đến sở thích và nguyện vọng của người sử dụng dịch vụ cá nhân và các nền văn hóa của các cộng đồng;
Kịp thời, dịch vụ y tế được cung cấp kịp thời, hợp lý về mặt địa lý, và trong các cơ sở có kỹ năng và nguồn lực phù hợp với yêu cầu y học;
Hiệu suất, cung cấp dịch vụ y tế với việc sử dụng nguồn lực có hiệu quả tối
đa và tránh lãng phí;
Công bằng, cung cấp dịch vụ y tế không có khác biệt về chất lượng theo các đặc điểm cá nhân người bệnh như giới tính, chủng tộc, dân tộc, vị trí địa lý, hoặc tình trạng kinh tế xã hội
2.2.4 Một số mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ trên thế giới
Có nhiều mô hình được sử dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ trên thế giới; trong phạm vi luận văn này, tác giả xin được giới thiệu hai mô hình được áp dụng rộng rãi đó là:
2.2.4.1 Mô hình SERVQUAL của Parasuraman & ctg (1985,1988):
Parasuraman & ctg (1985,1988) đã đưa ra mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ Mô hình này được trình bày ở Hình 2.1
Khoảng cách thứ nhất xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và nhà quản trị dịch vụ cảm nhận về kỳ vọng của khách hàng Điểm cơ bản của sự khác biệt này là do công ty dịch vụ không hiểu được hết
Trang 22những đặc điểm nào tạo nên chất lượng của dịch vụ mình cũng như cách thức chuyển giao chúng cho khách hàng để thỏa mãn nhu cầu của họ
Khoảng cách thứ hai xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hành thành những đặc tính của chất lượng Trong nhiều trường hợp, công ty có thể nhận thức được kỳ vọng của khách hàng thành nhưng không phải công ty luôn có thể chuyển đổi kỳ vọng này thành những tiêu chí cụ thể về chất lượng và chuyển giao chúng theo đúng kỳ vọng cho khách hành những đặc tính của chất lượng dịch vụ Nguyên nhân chính của vấn đề này là khả năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên dịch vụ cũng như dao động quá nhiều về cầu dịch vụ Có những lúc cầu về dịch vụ quá cao làm cho công ty không đáp ứng kịp
Khoảng cách thứ ba xuất hiện khi nhân viên phục vụ không chuyển giao dịch vụ cho những khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định Trong dịch vụ, các nhân viên có liên hệ trực tiếp với khách hàng, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra chất lượng Tuy nhiên, không phải lúc nào các nhân viên cũng có thể hoàn thành nhiệm vụ theo tiêu chí đã đề ra
Phương tiện quảng cáo và thông tin cũng tác động vào kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ Những hứa hẹn trong các chương trình quảng cáo khuyến mãi có thể làm gia tăng kỳ vọng của khách hàng nhưng cũng sẽ làm giảm chất lượng mà khách hàng cảm nhận được khi chúng không được thực hiện theo những gì đã hứa hẹn Đây là khoảng cách thứ tư
Khoảng cách thứ năm xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng và kỳ vọng bởi khách hàng và chất lượng họ cảm nhận được Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này Một khi khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ thì chất lượng của dịch vụ được xem là hoàn hảo
Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985) cho ta bức tranh tổng thể về chất lượng dịch vụ, Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng, bất
kỳ dịch vụ nào, chất lượng dịch vụ bao gồm năm thành phần cơ bản, đó là:
Trang 231 Tin cậy (reliability): thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên
2 Đáp ứng (resposiveness): thể hiện qua sự mong muốn, sẳn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng
3 Năng lực phục vụ (assurance): thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng
4 Đồng cảm (empathy): thể hiện sự quan tâm, chăm sóc đến từng cá nhân, khách hàng
5 Phương tiện hữu hình (tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ
Hình 2.1: Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách
hàng theo mô hình SERVQUAL
Tin cậy
(Reliability)
Đáp ứng (Responsibility)
Năng lực phục vụ
(Assurance)
Đồng cảm (Empathy)
Phương tiện hữu hình
(Tangibles)
Sự thỏa mãn (Satisfaction)
Trang 242.2.4.2 Mô hình chất lượng kỹ thuật/chất lượng chức năng của Gronroos (1983)
Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronroos vào năm 1983 cho rằng chất lượng dịch vụ được xem xét dựa trên hai tiêu chí là chất lượng kỹ thuật (Technicalquality) và chất lượng chức năng (Functional quality)
Chất lượng kỹ thuật là những gì được phục vụ, ví dụ như hệ thống máy vi tính hóa, các giải pháp kỹ thuật, công nghệ
Chất lượng chức năng là chúng được phục vụ như thế nào, ví dụ của chất lượng chức năng bao gồm thái độ, hành vi của nhân viên đối với khách hàng,
Hình 2.2: Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách
hàng theo mô hình Chất lượng kỹ thuật/Chất lượng chức năng
2.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng:
Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng là chủ đề được các nhà nghiên cứu đưa ra bàn luận liên tục trong các thập kỷ qua Nhiều nghiên cứu về sự thỏa mãn của khách hàng trong các ngành dịch vụ đã được thực hiện (ví dụ: Fornell 1992) và nhìn chung đều kết luận rằng chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn là hai khái niệm được phân biệt (Bitner, 1990; Boulding & ctg, 1993) (trích từ Lassar & ctg, 2000)
Sự thỏa mãn của khách hàng là một khái niệm tổng quát nói lên sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ, còn nói đến chất lượng dịch vụ là quan tâm đến các thành phần cụ thể của dịch vụ (Zeithaml & Bitner, 2000)
Chất lượng kỹ thuật (Technical quality)
Chất lượng chức năng
(Functional quality)
Sự thỏa mãn (Satisfaction)
Trang 25Oliver (1993) cho rằng chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến mức độ thỏa mãn của khách hàng Nghĩa là, chất lượng dịch vụ- được xác định bởi nhiều nhân tố khác nhau – là một phần nhân tố quyết định của sự thỏa mãn (Parasuraman, 1985, 1988)
2.4 Cơ chế tài chính tại các đơn vị sự nghiệp y tế công lập ở Việt Nam
Chủ trương thực hiện tự chủ được xác định trong Nghị định 10/2002/NĐ-CP, ngày 16/01/2002 của Chính phủ Nghị định này quy định chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu Để thực hiện Nghị định này, Bộ Tài chính đã có Thông tư số 25/2002/TT-BTC hướng dẫn chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị có thu và Thông tư số 121/2002/TT-BTC hướng dẫn kế toán đơn vị sự nghiệp có thu
Trong quá trình thực hiện, Nghị định 10/2002/NĐ-CP đã xuất hiện một số bất cập do các đơn vị chưa được giao quyền tự chủ về biên chế, lao động và tổ chức bộ máy Vì vậy, ngày 25/4/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2006/NĐ-CP để mở rộng phạm vi giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập Những nội dung đáng chú ý của Nghị định 43:
+ Nghị định bao phủ tất cả các tổ chức sự nghiệp, không chỉ các tổ chức sự nghiệp có thu
+ Quyền tự chủ không chỉ tự chủ về tài chính mà cả tự chủ về tổ chức, biên chế và nhân sự
+ Về tự chủ tài chính, các cơ sở cung ứng dịch vụ công được chia làm 3 loại: tự hạch toán chi phí thường xuyên; hạch toán một phần chi phí thường xuyên; phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách Nhà nước
+ Có quy định về quyền của Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp mở rộng hơn khi thực hiện tự chủ
+ Khuyến khích chuyển đổi sang hình thức doanh nghiệp
Đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập thì Chính phủ ban hành Nghị định 85/2012/NĐ-CP, ngày 15/10/2012 quy định về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh Theo đó, nguồn vốn chi đầu tư phát triển y tế được thực hiện từ nhiều nguồn: vốn tín dụng đầu tư của Ngân hàng phát triển Việt
Trang 26Nam, vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, vốn phi chính phủ nước ngoài NGO, vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân trong nước, quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị, các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật và vốn ngân sách bố trí để thực hiện
Ngân sách Nhà nước bảo đảm chi hoạt động thường xuyên đối với các đơn vị sự nghiệp y tế khám chữa bệnh theo lộ trình như sau:
+ Năm 2013: Ngân sách Nhà nước bảo đảm kinh phí để chi trả lương, chế độ, phụ cấp đặc thù chưa được tính vào giá dịch vụ y tế, kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ chi do Nhà nước quy định
+ Giai đoạn 2014-2015: Ngân sách Nhà nước đảm bảo chi phí duy tu, sửa chữa thường xuyên tài sản cố định chưa được kết cấu vào giá dịch vụ khám chữa bệnh; đảm bảo chi phí về tiền lương, các loại phụ cấp, các khoản đóng góp theo quy định hiện hành Trong đó quy định cụ thể như sau: đảm bảo 100% quỹ tiền lương
cơ bản cho các bệnh viện tuyến quận, huyện; 70% quỹ tiền lương cơ bản cho các bệnh viện tỉnh ở khu vực miền núi, Tây Nguyên và các bệnh viện quận thuộc Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; 50% quỹ tiền lương cơ bản cho các bệnh viện thuộc Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn lại
+ Giai đoạn 2016-2017: Ngân sách nhà nước bảo đảm 50% quỹ tiền lương
cơ bản cho các bệnh viện tuyến quận, huyện; các bệnh viện còn lại được kết cấu 100% quỹ tiền lương cơ bản và chi phí duy tu, sửa chữa thường xuyên tài sản cố định vào giá dịch vụ khám chữa bệnh
Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 Theo đó, tại Điều 10 quy định lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước như sau: + Đến năm 2016: Tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp (chưa tính chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định);
+ Đến năm 2018: Tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp và chi phí quản lý (chưa tính chi phí khấu hao tài sản cố định);
Trang 27+ Đến năm 2020: Tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định
Trang 28CHƯƠNG 3: BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN
3.1 Tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện ở một số nước trên thế giới
Trên thế giới, việc áp dụng các phương pháp chất lượng; việc đánh giá và công nhận chất lượng bệnh viện được thực hiện rất phổ biến Đặc biệt tại các nước phát triển, công việc này được thực hiện mang tính thường quy Nhiều tổ chức thẩm định chất lượng bệnh viện như JCI (Joint Commission International) của Mỹ, ACHS (The Australian Council on Heath care Standards) của Úc đã xây dựng các bộ tiêu chuẩn và sau đó thẩm định, cấp chứng nhận cho bệnh viện đạt yêu cầu về chất lượng Tại đa số các nước phát triển, cơ quan BHYT (Nhà nước hoặc tư nhân) chỉ ký hợp đồng với những bệnh viện đã đạt chứng nhận chất lượng và chỉ thanh toán viện phí cho người bệnh nếu điều trị tại các bệnh viện đã được chứng nhận chất lượng Một số cơ quan/tổ chức bảo hiểm chỉ thanh toán dưới 80% mức giá viện phí nếu bệnh viện chưa đạt chứng nhận chất lượng
Theo quan điểm của WHO và các tổ chức nghiên cứu về chất lượng y tế,
“chất lượng” được định hướng gồm các khía cạnh chính như năng lực kỹ thuật, an toàn, hiệu quả, hiệu suất, người bệnh là trung tâm, tiếp cận, công bằng, kịp thời
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng theo các trường phái, quan điểm khác nhau
Bộ tiêu chuẩn chất lượng thiết yếu của JCI bao gồm 5 lĩnh vực là:
1 Lãnh đạo và trách nhiệm giải trình
2 Trình độ năng lực chuyên môn và nhân lực y tế
3 Môi trường an toàn cho người bệnh và nhân viên y tế
4 Chăm sóc lâm sàng cho người bệnh
5 Cải tiến chất lượng và an toàn
Trong mỗi lĩnh vực trên có 10 tiêu chí Mỗi tiêu chí được đánh giá theo 4 mức độ từ mức 0 đến 3 để đánh giá sự nỗ lực của bệnh viện trong việc cải tiến chất lượng, trong đó mức 0 là bệnh viện chưa thực hiện hoạt động gì
Trang 29+ Mức 0: Không có mong muốn thực hiện hoạt động của tiêu chí này hoặc hầu như không có hoạt động nào của bệnh viện liên quan làm giảm nguy cơ
+ Mức 1: Có bắt đầu các hoạt động nhưng chưa có hệ thống, đầy đủ và hiệu quả
+ Mức 2: Có triển khai các hoạt động tại bệnh viện và các hoạt động này có hệ thống, đầy đủ và hiệu quả
+ Mức 3: Có dữ liệu chứng minh sự thành công của hoạt động, nguy cơ được giảm thiểu và có sự cải tiến liên tục
Nếu bệnh viện đã đạt được các mức 3 trong bộ tiêu chuẩn chất lượng thiết yếu của JCI thì có thể xem xét phấn đấu áp dụng và đánh giá chất lượng một cách toàn diện dựa trên “ Bộ tiêu chuẩn chất lượng đầy đủ” của JCI
Bộ tiêu chuẩn chất lượng của Ủy ban an toàn người bệnh và chất lượng y tế của Úc chia làm 10 tiêu chuẩn, bao gồm 113 tiêu chí
Đức đã xây dựng Bộ tiêu chuẩn chất lượng KTQ với nhiều tiêu chuẩn, tiêu chí Việc đánh giá mỗi tiêu chuẩn được dựa trên chu trình P-D-C-A (Lập kế hoạch – Thực hiện – Kiểm tra – Hành động) Mỗi bước trong chu trình P-D-C-A được đánh giá dựa trên 4 mức từ 0 đến 3 ( tương tự như JCI) Tuy nhiên riêng bước Thực hiện thì bộ KTQ sử dụng 10 mức để đánh giá từ 0 đến 9 Bệnh viện đạt được ở mức nào dẽ do các đánh giá viên đánh giá và đưa ra quyết định
3.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện ở Việt Nam
Bộ Tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện được ban hành kèm theo Quyết định số 4858/QĐ-BYT ngày 03/12/2013 của Bộ Y tế được xây dựng dựa trên quan điểm “Lấy người bệnh làm trung tâm của hoạt động chăm sóc và điều trị”, với mục đích làm công cụ để các bệnh viện áp dụng tự đánh giá chất lượng theo Điều 8 của Thông tư 19/2013/TT-BYT; cho các đoàn kiểm tra của cơ quan quản lý y tế tiến hành đánh giá chất lượng bệnh viện theo định kỳ hằng năm hoặc đột xuất Xuất phát từ quan điểm nêu trên, Bộ tiêu chí đưa ra những mục tiêu như sau:
3.2.1 Mục tiêu chung: Khuyến khích, định hướng và thúc đẩy các bệnh
viện tiến hành các hoạt động cải tiến và nâng cao chất lượng nhằm cung ứng dịch
Trang 30vụ y tế an toàn, chất lượng, hiệu quả và mang lại sự hài lòng cao nhất có thể cho người bệnh, người dân và nhân viên y tế, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội đất nước
3.2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Cung cấp công cụ đánh giá thực trạng chất lượng bệnh viện Việt Nam
- Hỗ trợ cho các bệnh viện xác định được đang ở mức chất lượng nào để tiến hành các hoạt động can thiệp nâng cao chất lượng bệnh viện
- Định hướng cho bệnh viện xác định vấn đề ưu tiên để cải tiến chất lượng
- Cung cấp tư liệu, căn cứ khoa học cho việc xếp loại chất lượng bệnh viện, khen thưởng và thi đua
- Cung cấp tư liệu, căn cứ khoa học cho đầu tư, phát triển, quy hoạch bệnh viện
3.2.3 Kết cấu Bộ tiêu chí và phương pháp đánh giá bệnh viện ở Việt Nam
Kết cấu Bộ tiêu chí: Bộ tiêu chí bao gồm 83 tiêu chí, được kết cấu như sau: Kết cấu các tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện, được chia thành 05 phần:
Phần A: Hướng đến người bệnh (19 tiêu chí)
Phần B: Phát triển nguồn nhân lực (14 tiêu chí)
Phần C: Hoạt động chuyên môn (38 tiêu chí)
Phần D: Cải tiến chất lượng (8 tiêu chí)
Phần E: Tiêu chí đặc thù chuyên khoa (4 tiêu chí)
Trong mỗi một phần được chia thành các mục, mỗi mục có một số tiêu chí nhất định, mỗi mục có thể được xem xét như là một tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện (Xem phụ lục 1)
* Nguyên tắc chung đánh giá tiêu chí
- Mỗi tiêu chí được đánh giá theo 5 mức từ mức 1 đến mức 5
- Tiêu chí được xếp ở mức 1 nếu có bất kỳ một tiểu mục nào trong mức 1
- Tiêu chí được xếp ở mức 2, 3, 4, 5 nếu:
Trang 31+ Không có tiểu mục nào trong mức 1
+ Đạt được đầy đủ toàn bộ các tiểu mục trong một mức
* Phương thức đánh giá các tiểu mục của tiêu chí
- Quan sát thực trạng, theo dõi hoạt động
- Tra cứu sổ sách, máy tính, văn bản, nhật ký, tài liệu, số liệu…
- Kiểm tra, phỏng vấn nhanh nhân viên y tế/người bệnh/người nhà người bệnh
* Phương thức tính điểm cho một tiêu chí
- Tiêu chí được đánh giá đạt mức nào được tính điểm tương ứng với mức đó (dao động từ 1 đến 5 điểm)
- Điểm đánh giá tiêu chí của các nhóm vấn đề quan trọng, ưu tiên cải tiến hiện nay được nhân với các hệ số 1,5 hoặc hệ số 2 Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh sẽ quyết định cụ thể hệ số áp dụng cho các nhóm tiêu chí
Trang 32CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP TỈNH CÀ MAU
GIAI ĐOẠN 2011-2015 4.1 Giới thiệu tổng quan về tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh Cà Mau
Cà Mau là tỉnh cuối cùng của cực Nam Tổ Quốc, là một trong mười ba tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, Cà Mau cách trung tâm thành phố Cần Thơ 180km, cách thành phố Hồ Chí Minh gần 350km Phía Bắc của tỉnh tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu, phía Nam và phía Đông tiếp giáp với Biển Đông và phía Tây tiếp giáp với vịnh Thái Lan Cà Mau là vùng đất mới bồi tụ, có hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ngập úng phèn nổi tiếng với rất nhiều tài nguyên thiên nhiên Vùng biển Cà Mau được đánh giá là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước với chiều dài bờ biển là 254km, chiếm 1/3 chiều dài bờ biển vùng đồng bằng sông Cửu Long và bằng 7,8% chiều dài bờ biển của cả nước Chính vì điều kiện, lợi thế tự nhiên sẳn có, mà Cà Mau đã thu hút nhiều người dân trong và ngoài nước đến đầu tư, làm ăn sinh sống tại mảnh đất này Hiện tại, Cà Mau cũng là nơi có nhiều người dân ở các tỉnh thành trong cả nước đến đây sinh sống lập nghiệp, tính đến năm 2015, dân số toàn tỉnh Cà Mau đạt gần 1,22 triệu dân; cho thấy nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người dân Cà Mau là rất lớn
4.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện kinh tế- xã hội của tỉnh Cà Mau liên quan đến nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Cà Mau là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và nằm trọn trên bán đảo Cà Mau, phần đất liền có toạ độ từ 8030’ đến 9010’ vĩ độ Bắc,
10408’ đến 10505’ kinh độ Đông
Phía bắc tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu; Phía Đông và phía Nam tiếp giáp với Biển Đông; Phía Tây tiếp giáp với vịnh Thái Lan
Cà Mau có địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông rạch chằng chịt Diện tích phần đất liền của tỉnh là 5.329,5 km2; bằng