1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an theo cách tiếp cận nghèo đa chiều

114 511 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, có 32 quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu chuyển đổi và áp dụng phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đơn chiều dựa vào thu nhập sang đo lường nghèo đa chiều nhằm mục đích xác đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

_

Long An – Năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu thu thập đảm bảo tính khách quan, các nguồn trích dẫn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan này

Long An, năm 2016

Tác gi ả

Lê Th ị Minh Năm

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1.Bối cảnh nghiên cứu 1

1.2 Tính cấp thiết của đề tài 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3.1 M ục tiêu tổng quát 4

1.3.2.M ục tiêu cụ thể 4

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Phạm vi, ý nghĩa và giới hạn của nghiên cứu 5

1.7 Kết cấu luận văn 7

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN C ỨU TRƯỚC 8

2.1.Tổng quan cơ sở lý thuyết 8

2.1.1 Nghèo 8

Trang 5

2.2 Các lý thuyết kinh tế học có liên quan 20

2.2.1 Lý thuy ết phân phối thu nhập 20

2.2.2 Lý thuy ết tăng trưởng, giáo dục và giảm nghèo 21

2.2.3 Phát tri ển kinh tế bền vững 21

2.2.4 Mô hình nghèo đói của Gillis – Perkins – Roemer - Snodgrass 22

2.3 Các nghiên cứu trước có liên quan 23

2.3.1 Nghiên c ứu trong nước 23

2.3.2 Nghiên c ứu nước ngoài 25

CHƯƠNG 3:PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Khung phân tích 27

3.2 Định nghĩa các chiều và chỉ tiêu 28

3.2.1 Giáo d ục 28

3.2.2 Y t ế 29

3.2.3 M ức sống 29

3.3 Mô hình 31

3.4 Lý luận và giả thuyết khoa học 34

3.4.1 Gi ả thuyết khoa học 34

3.4.2 H ệ thống kiểm định 38

Trang 6

3.5.2 Thi ết kế bảng câu hỏi 39

3.5 3 Phương pháp chọn mẫu 40

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42

4.1.Tổng quan về Tình Long An 42

4.2.Thống kê mô tả mẫu khảo sát 48

4.2.1 Th ực trạng nghèo – tính theo chuẩn nghèo đơn chiều 49

4.2.2 Địa chỉ 49

4.2.3 Gi ới tính 50

4.2.4 Tu ổi của chủ hộ 50

4.2 5.Trình độ học vấn 51

4.2.6 Ngh ề nghiệp 52

4.2.7 S ố thành viên trong hộ 52

4.2.8 S ố người phụ thuộc 53

4.2.9 Di ện tích đất canh tác 53

4.2.10 Ti ền vay từ các định chế chính thức 53

4.2.11.B ệnh tật suy dinh dưỡng 54

4.2.12 Điện 54

4.2 13 Nước 55

Trang 7

4.2.16 Nhiên li ệu 58

4.2.17 Vi ệc học của trẻ từ 6-15 tuổi 59

4.2.18 Thu nh ập và chi tiêu 59

4.3 Xác định hộ nghèo đa chiều 60

4.4 Mô hình hồi quy binary logistic 63

4.4.1 Ki ểm định mô hình nghiên cứu và giả thiết 63

4.4.1.1 Ki ểm định hệ số hồi qui 63

4.4.1.2 Ki ểm định mức độ phù hợp của mô hình 65

4.4.1.3 Ki ểm định mức độ giải thích của mô hình 66

4.4.2 Th ảo luận kết quả hồi quy Binary Logistic 67

4.4.3 Mô hình d ự báo nghèo 70

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 73

5.1 Kết luận 73

5.2 Gợi ý chính sách 74

5.2.1 Ngh ề nghiệp 75

5.2.2 Người phụ thuộc 76

5.2.3 Suy dinh dưỡng 77

5.2.4 Tr ẻ em từ 6-15 tuổi không được đi học và trình độ học vấn các thành viên trong h ộ gia đình 77

Trang 8

5.3 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 79

Trang 9

Kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội

LĐTB&XH Lao động, Thương binh và Xã hội

NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội

NXB Nhà xuất bản

TCTK-NHTG Tổng Cục thống kê- Ngân hàng Thế giới

UBND Ủy Ban Nhân Dân

VHLSS Bộ dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư

ASEAN Association of Southeast Asian

Nations

Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á

ESCAP United Nations Economic and

Social Commission for Asia and the Pacific

Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á-Thái Bình Dương

Organization of the United Nations

Tổ chức Lương thực và Nông Nghiệp Liên Hiệp

Trang 10

GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân

HDR Human Development Report Báo cáo phát triển con

người MPI Multidimensional Poverty Index Chỉ số nghèo đa chiều OPHI Oxford Poverty and Human

Development Initiative

Viện nghiên cứu vấn đề nghèo đói và sáng kiến phát triển con người của đại học Oxford

PPP Purchasing power parity Tính theo sức mua tương

đương

UNDP United Nations Development

Programme

Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc

UNICEF United Nations Children's Fund Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp

Quốc

WCED World Commission on

Environment and Development

Ủy Ban Môi Trường và Phát Triển Thế giới

Trang 11

Bảng 2.1 : Tiêu chuẩn nghèo đói của Word Bank

Bảng 2.2 : Chuẩn nghèo của Chính phủ qua các giai đoạn

Bảng 2.3: Chỉ tiêu và trọng số trong MPI

Bảng 2.4 : Số người nghèo đói phân theo vùng địa lý

Bảng 2.6 : Tổng hợp các nghiên cứu về nghèo đa chiều

Bảng 3.1: Giải thích các biến trong mô hình

Bảng 4.1 : Số hộ nghèo theo chuẩn nghèo đơn chiều

Bảng 4.8: Tình trạng bệnh, suy dinh dưỡng

Bảng 4.9 : Lý do bệnh, suy dinh dưỡng

Trang 12

Bảng 4.23: Quan hệ chéo giữa biến HOC6 và biến TTHO

Bảng 4.24: Quan hệ chéo giữa biến SDD và biến TTHO

Bảng 4.25: Các biến trong mô hình

Bảng 4.26: Phân loại dự báo

Bảng 4.27: Kiểm định Omnibus đối với các hệ số của mô hình

Bảng 4.28 : Tóm tắt mô hình

Bảng 4.29: Mô phỏng xác xuất nghèo thay đổi

Bảng 4.30: Tổng hợp các yếu tố tác động

Bảng 4.31 : Các biến trong mô hình ( loại bỏ biến có ý nghĩa < 90%)

Bảng 4.32: Giá trị thống kê của các biến độc lập

Bảng 4.33 : Dự báo theo kịch bản các yếu tố tác động

Trang 13

Hình 2.1: Vòng luẩn quẩn của nghèo đói

Hình 2.2: Xu hướng nghèo ở Việt Nam

Hình 2.3: Biểu đồ các thành phần của nghèo đa chiều

Hình 3.1: Các chiều và chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều

Hình 4.1: Bản đồ hành chính Tỉnh Long An

Hình 4.2 : Biểu đồ tỷ lệ hộ nghèo các huyện trong tỉnh năm 2015 Hình 4.3 : Biểu đồ tỷ lệ hộ nghèo các huyện trong tỉnh năm 2014 Hình 4.4 : Biểu đồ tỷ lệ hộ nghèo các huyện trong tỉnh năm 2013

Trang 14

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 B ối cảnh nghiên cứu :

Nghèo luôn là vấn đề quan tâm của nhiều quốc gia Nền kinh tế không thể phát triển bền vững nếu tình trạng nghèo còn cao Liên Hiệp quốc đã đưa chính sách cải thiện mức sống cho một tỷ người nghèo trên thế giới tại Hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc năm 2000 có 189 thành viên tham gia đã nhất trí thông qua tuyên bố thiên niên kỷ và cam kết đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) vào năm 2015

Ở Việt Nam, một đất nước đang phát triển thì nghèo đói đang là vấn đề cấp thiết mà Chính phủ và các cấp chính quyền rất quan tâm Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm nghèo đói như là một thứ giặc

đó là “ giặc đói” Theo kết quả điều tra năm 2013 tỷ lệ hộ nghèo là 7,8% (1.797.889 hộ), năm 2014 tỷ lệ 5,8-6% Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu năm

2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo của cả nước còn dưới 5%, riêng các huyện nghèo còn dưới 30% ( Bộ lao động thương binh xã hội, 2013-2014)

Số liệu hộ nghèo nêu trên được xét dựa trên chuẩn nghèo Việt Nam. Chuẩn này được xét dựa vào tiêu chí mức thu nhập bình quân Và được hiểu là cách tiếp

cận nghèo đơn chiều truyền thống Tuy nhiên, cuộc sống con người không chỉ đơn thuần chỉ có chi tiêu, thu nhập Nhu cầu y tế, giáo dục, nhà ở, tiếp cận thông tin cũng là những nhu cầu cần thiết Và có phải tất cả các hộ gia đình đã đạt được tất cả các nhu cầu này? Và nếu họ thiếu hụt, không được thỏa mãn một trong các nhu cầu thì có được xem là nghèo không? Đó là các khía cạnh của cách tiếp cận mới – nghèo đa chiều

Trong những năm gần đây, các tổ chức quốc tế đã áp dụng khái niệm nghèo

đa chiều và xây dựng các chỉ số đo lường nghèo đa chiều Điển hình là Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) dựa trên phương pháp

luận của Alkire và Foster (2008) được Đại học Oxford và UNDP áp dụng như là

Trang 15

một công cụ để xác định hộ nghèo và trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm giảm hộ nghèo. Hiện nay, có 32 quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu chuyển đổi và áp dụng phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đơn chiều dựa vào thu nhập sang đo lường nghèo đa chiều nhằm mục đích xác định đối tượng nghèo, đánh giá và xây dựng các chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội (Bộ LĐTB&XH, 2015)

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về nghèo rất nhiều nhưng chủ yếu dựa trên thu nhập hoặc chi tiêu Từ năm 2010 đến nay, đã có công trình nghiên cứu về nghèo đa chiều Điển hình, năm 2010, nhóm chuyên gia của ngân hàng Thế giới và

Việt Nam đã áp dụng chỉ số nghèo đa chiều để đưa ra bức tranh toàn diện hơn về tình trạng nghèo ở hai thành phố là Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh ( UNDP, 2010) Kết quả nghiên cứu đã đưa ra một số kết luận quan trọng: (1) Ở cả hai thành

phố, 3 chiều đóng góp nhiều nhất vào chỉ số nghèo đa chiều là tiếp cận hệ thống an sinh xã hội, các dịch vụ nhà ở (điện, nước, thoát nước, …) và chất lượng và diện tích nhà ở (2) Chỉ số nghèo đa chiều ở TP.HCM cao hơn Hà Nội, nông thôn cao hơn thành thị và người di cư cao hơn người có hộ khẩu

Từ các công trình nghiên cứu quốc tế và ở Việt Nam cho thấy chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo theo hướng đa chiều sẽ tạo điều kiện để nhận

dạng đối tượng nghèo chính xác, cụ thể hơn Và từ đó, các cơ quan quản lý sẽ nhận

thấy rõ hơn các khu vực có mức độ thiếu hụt cao, làm cơ sở xây dựng các chính sách vĩ mô, để từng bước giảm dần mức độ thiếu hụt giữa các vùng, nhóm dân cư Năm 2015, Bộ lao động thương binh và xã hội cũng dự kiến trình Chính Phủ đề án “ nghèo đa chiều” để xác định hộ nghèo trên 5 khía cạnh : y tế, giáo dục, nhà ở, điều kiện sống và tiếp cận thông tin Và năm 2016 sẽ sử dụng phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều để đo lường, thống kê nghèo ở Việt Nam

Dựa trên chuẩn nghèo đơn chiều nước ta đã có tỷ lệ hộ nghèo cao, vậy nếu xét theo nghèo đa chiều thì sự thay đổi sẽ như thế nào ? Tỉnh Long An với vị trí vừa giáp ranh với đô thị phát triển bậc nhất của nước ta là thành phố Hồ Chí Minh, sự tiếp giáp này đã chuyển tiếp cho Tỉnh một nguồn lực phát triển kinh tế đáng kể thông qua việc phát triển các Khu Công nghiệp hay người lao động có thể tìm kiếm

Trang 16

cơ hội nâng cao thu nhập Đồng thời lại có nhiều huyện tiếp giáp với biên giới, sự tiếp giáp này có thể đưa đến một nguồn thu nhập tuy không hợp pháp cho nhiều hộ gia đình đó là từ buôn lậu Nguồn thu nhập này có thể tạo cho họ một cuộc sống khá giả về tiền tệ nhưng liệu về các mặt khác như giáo dục, y tế, mức sống họ có thật sự khá giả? Năm 2015, Tỉnh Long An có 11.126 hộ nghèo tỷ lệ 2,89% ( Ủy Ban Nhân dân Tỉnh Long An, 2015) Nếu so với tỷ lệ hộ nghèo chung của nước ta thì tỷ lệ hộ nghèo ở Tỉnh Long An ở mức thấp Tuy nhiên, để nhận diện rõ hơn về tỷ lệ hộ nghèo trên sẽ thay đổi như thế nào nếu năm 2016, Tỉnh Long An áp dụng cách tiếp cận nghèo đa chiều để thống kê, tác giả chọn đề tài “ Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn Tỉnh Long An – theo cách tiếp cận nghèo đa chiều” để nghiên cứu

1.2 Tính cấp thiết của đề tài:

Các nước có thu nhập trung bình là những nơi mà nghèo đơn chiều có thể xảy

ra ở phạm vi và mức độ hẹp hơn rất nhiều so với nghèo đa chiều (Oxfam Anh/ActionAid, 2011) Kết hợp nghèo đơn chiều và đa chiều sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách xác định đầy đủ hơn đối tượng cần trợ giúp và phát triển các chính sách phù hợp để giảm nghèo Điều này đặc biệt quan trọng đối với nước ta – một

nước đang phát triển

Một xã hội không thể thịnh vượng và hạnh phúc khi mà phần lớn thành viên

của nó lại nghèo và khổ (Adam Smith, 1784).Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2012, có thể thấy kinh tế Việt Nam ngày càng tăng trưởng, nghèo đói ngày càng giảm Điều này cho thấy các chính sách, biện pháp giảm nghèo của chính phủ

Việt Nam có tác động tích cực Tuy nhiên, nhìn nhận vấn đề một cách rộng hơn thì

có thể thấy tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và nghèo đói của người dân Nghèo đòi của hộ gia đình sẽ làm trì trệ sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Giải quyết tình trạng nghèo đói không những nâng cao đời sống kinh tế, mà

nó còn cải thiện những vấn đề xã hội Để giải quyết vấn đề này, trước hết phải nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo Nội dung nghèo đã có rất nhiều nghiên cứu nhưng trước đây chủ yếu đề cập đến nghèo đơn chiều Nhưng hiện nay cần thay đổi

Trang 17

cách tiếp cận từ nghèo đơn chiều sang đa chiều vì: Việc sử dụng chuẩn nghèo (dựa vào thu nhập/chi tiêu) kéo dài trong một thời gian dài (từ năm 1993 đến nay) không còn phù hợp, bộc lộ nhiều hạn chế như bỏ sót đối tượng, độ bao phủ chưa cao, chưa đánh giá, đo lường mức độ chuyển biến về tiếp cận các nhu cầu xã hội cơ bản của người dân Việc tiếp cận đo lường nghèo đa chiều nhằm mục đích đánh giá một cách toàn diện hơn kết quả giảm nghèo của cả nước cũng như từng địa phương, làm

cơ sở để ban hành các chính sách giảm nghèo phù hợp cho từng nhóm đối tượng, cũng như phân bổ ngân sách hợp lý hiệu quả hơn Như trên đã nói, xu hướng đo lường nghèo đa chiều đã được nhiều quốc gia trên thế giới từng bước áp dụng và ở

Việt Nam Nên việc nghiên cứu về phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều trong giai đoạn này là rất cần thiết

1.3 M ục tiêu nghiên cứu:

1.3.1 M ục tiêu tổng quát:

Phân tích thực trạng nghèo và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo – theo cách tiếp cận nghèo đa chiều Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp để cải thiện nghèo trên địa bàn Tỉnh Long An

1.3.2 M ục tiêu cụ thể:

- Tìm hiểu sự khác biệt giữa đo lường nghèo theo phương pháp đơn chiều

và đo lường nghèo theo phương pháp đa chiều

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo

- Gợi ý chính sách để cải thiện nghèo

1.4 Câu h ỏi nghiên cứu:

- Nghèo đa chiều có gì khác biệt với nghèo đơn chiều?

- Y ếu tố nào tác động đến nghèo- theo cách tiếp cận đa chiều?

- Giải pháp nào giảm nghèo trong điều kiện Tỉnh Long An?

1.5 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp chung: để đạt được các mục tiêu đề ra, tác giả vận dụng kết

Trang 18

hợp phương pháp định tính và định lượng cho quá trình nghiên cứu đề tài

- Đối tượng nghiên cứu : thực trạng nghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến tình

trạng nghèo theo cách tiếp cận đa chiều trên địa bàn Tỉnh Long An

- Số liệu:

Số liệu thứ cấp : dữ liệu báo cáo về hộ nghèo trong 03 năm 2013-2015 của

Sở LĐTB & XH Tỉnh Long An

Số liệu sơ cấp : Đề tài sử dụng số liệu khảo sát 230 hộ gia đình từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2015, ở 03 huyện trên địa bàn Tỉnh Long An : huyện Đức Huệ, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa Tác giả thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đối với các hộ gia đình Tác giả căn cứ vào mục tiêu và tình hình thực tế, phát thảo bộ câu hỏi nghiên cứu, có tham khảo ý kiến của chuyên gia, đưa ra điều tra sơ bộ Thu hồi phiếu điều tra bổ sung hiệu chỉnh phù hợp với yêu cầu nghiên cứu làm cơ sở cho việc hình thành các thang đo thích hợp trước khi tiến

hành điều tra chính thức

- Xử lý phân tích số liệu: Đề tài sử dụng mô hình hồi quy Binary logistic để phân tích dữ liệu thu thập được cụ thể đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến tình trạng nghèo của hộ gia đình theo cách tiếp cận đa chiều Ngoài ra để mô hình

hồi quy Binary logistic đảm bảo khả năng tin cậy tác giả còn thực hiện 3 kiểm định chính sau: kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy, kiểm định mức

độ phù hợp của mô hình và kiểm định mức độ giải thích của mô hình

- Các biến được đưa vào mô hình gồm:

+ Biến độc lập: bao gồm biến giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số người phụ thuộc, diện tích đất canh tác, số tiền vay , trẻ 6-15 tuổi không được đi

học, suy dinh dưỡng

+ Biến phụ thuộc gồm: tình trạng nghèo của hộ gia đình

1.6 Ph ạm vi, ý nghĩa và giới hạn của nghiên cứu:

Trang 19

- Phạm vi: Tỉnh Long An Tuy nhiên, do địa bàn Tỉnh Long An có 14 huyện thị trong đó có những huyện có đặc thù khác biệt như là địa hình vùng trũng ngành kinh tế chính là nông nghiệp, trong năm chịu một mùa lũ ba tháng ảnh hưởng đến canh tác, đời sống của người dân Sự khác biệt nữa đến từ vị trí địa lý, có sự

tiếp giáp với nước bạn Campuchia Xuất phát từ sự khác biệt này nên đề tài sẽ nghiên cứu giới hạn phạm vi các huyện của Tỉnh Long An là : Đức Huệ, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng

- Ý nghĩa và giới hạn nghiên cứu: Tỉnh Long An từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào ứng dụng phương pháp phân tích thống kê và mô hình kinh tế lượng

để đánh giá thực trạng nghèo theo cách tiếp cận đa chiều cũng như định lượng các nhân tố tác động đến xác suất lâm vào cảnh nghèo đói của hộ gia đình theo cách

tiếp cận đa chiều Tác giả hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nhỏ cho cơ quan quản lý tại địa phương có con số định lượng để thấy rõ sự khác biệt

giữa cách tiếp cận nghèo đơn chiều truyền thống và cách tiếp cận mới nghèo đa chiều- mà nước ta sẽ triển khai thống kê, đánh giá vào năm 2016 Từ đó, Cơ quản

quản lý nhà nước tại địa phương sẽ có các chính sách phù hợp để xóa đói giảm nghèo theo cách tiếp cận nghèo đa chiều Người dân hết nghèo đói sẽ là nhân tố tích

cực tác động đến bộ mặt kinh tế- xã hội Tỉnh Long An ngày càng phát triển bền

chỉ nghên cứu ở một phạm vi, một nhóm đối tượng nhỏ nên mức ý nghĩa thống kê

đạt được có thể không mang tính tổng thể mà chỉ là đại diện

Trang 20

1.7 K ết cấu luận văn:

Ch ương 1: Tác giả giới thiệu nguyên nhân chọn vấn đề nghiên cứu, mục

tiêu cần đạt được khi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu và tính cấp thiết cần tiến hành nghiên cứu

Ch ương 2: Tổng quan lý thuyết đo lường nghèo Đưa ra các định nghĩa về

nghèo, bao gồm cả nghèo tiền tệ- nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều Sau đó tác giả cũng khảo lược các nghiên cứu trước có liên quan đến cách tiếp cận nghèo đa chiều Từ đó hệ thống hóa khung lý thuyết phân tích nghèo làm cơ sở

nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu

Ch ương 3:.Phương pháp nghiên cứu Nêu ra 03 chiều của nghèo và các chỉ

số đại diện Xác định phương pháp nghiên cứu,mô hình kinh tế lượng cần nghiên Xác định trọng số giữa các chiều, các chỉ tiêu trong chỉ số đo lương nghèo đa chiều MPI

Chương 4: Thực trạng tình trạng nghèo trên địa bàn Tỉnh Long An và Thiết

kế nghiên cúu Nội dung của chương này nêu ra thực trạng kinh tế, xã hội , tình trạng nghèo trên địa bàn Tỉnh Long An, và cụ thể ở các huyện Đức Huệ, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu Tác giả dùng phương pháp thống kê mô tả và mô hình hồi qui Binary logistic để phân tích trả lời các câu hỏi nghiên cứu và đạt được mục tiêu cần nghiên cứu

Ch ương 5 : Kết luận và gợi ý chính sách Chương này sẽ tóm lược lại

những kết quả quan trọng của đề tài và đặc biệt là sự khác nhau giữa hai

phương pháp tiếp cận nghèo đơn chiều và đa chiều Từ đó, đề xuất một số hàm ý chính sách về chương trình xóa đói giảm nghèo theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều

Trang 21

CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN

gần đây trong việc đánh giá nghèo đa chiều tại Việt Nam và một số nước trên

thế giới nhằm làm nền tảng cho việc phân tích trong các chương tiếp theo

2.1 T ổng quan về cơ sở lý thuyết:

2.1.1 Nghèo

Theo Ngân hàng phát triển Châu Á: “Nghèo là tình trạng thiếu những tài sản

cơ bản và cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng Mọi người cần được tiếp

cận với giáo dục cơ sở và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản Các hộ nghèo có quyền duy trì cuộc sống bằng chính lao động của họ và được trả công một cách hợp

lý, cũng như được sự bảo trợ khi có biến động bên ngoài”

Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ

chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 đã đưa ra định nghĩa: “ Nghèo là tình

trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của địa phương”

Hội nghị thượng định thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen ở Đan Mạch năm 1995, đưa ra định nghĩa nghèo đói “ Người nghèo là tất cả những ai

mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như

đủ để mua những sản phẩm thiết yếu tồn tại”

Nghèo được định nghĩa như là sự thiếu hụt, hay là sự bất lực trong việc tiếp

cận đến một mức sống mà xã hội chấp nhận (World Bank, 2001, trích bởi FAO, 2005) Ngân hàng thế giới cũng coi nghèo là sự thiếu hụt hạnh phúc (World Bank Institute, 2005) Hay nghèo là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống (ăn, mặc, ở, được

Trang 22

chăm sóc sức khỏe, được giáo dục cơ bản và được hưởng các dịch vụ cần thiết khác) mà được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước (World Bank, 2010)

Hiện rất khó để có thể chỉ ra được tất cả những nguyên nhân của nghèo Và cũng khó để phân biệt trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến nghèo, đâu là nguyên nhân còn đâu là kết quả Nghèo ở mỗi nước cũng có những nét riêng biệt được tạo nên từ nhiều nguyên nhân tổng hợp có nguồn gốc từ những khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội và điều kiện lịch sử

Hình 2.1 : Vòng luẩn quẩn của nghèo đói

Nguồn : PGS, TS.Đinh Phi Hổ (2008)

2.1.2 Nghèo đơn chiều :

Theo cách ti ếp cận này dẫn đến việc phân nhóm cá nhân hay hộ gia đình dựa

trên thu nhập hay chi tiêu: Nghèo tuyệt đối là tình trạng mà một cá nhân hay hộ gia đình có thu nhập hay chi tiêu thấp hơn một ngưỡng nghèo được xác định đối với

một xã hội tại một thời điểm Ngưỡng nghèo là tổng hợp giá trị các hàng hóa tiêu dùng bảo đảm một mức sống tối thiểu Trong khi đó, cách tiếp cận nghèo tương đối xác định một mức sống so sánh với vị trí của các cá nhân hay hộ gia đình khác trong xã hội dựa trên phân phối thu nhập hay chi tiêu (FAO, 2005)

Năng suất

Thu nhập

Tích lũy

Sinh sản nhi ều

Trang 23

Chuẩn nghèo của TCTK – NHTG được xây dựng theo phương pháp chuẩn chi phí của những nhu cầu cơ bản, dựa trên một rổ lương thực tham khảo cho các hộ nghèo tính theo lượng calo mà mỗi người dân tiêu tốn một ngày

cộng với một khoản bổ sung cho những nhu cầu phi lương thực thiết yếu dựa trên mô hình tiêu dùng của người nghèo Theo NHTG, chi phí lương thực, thực

phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống của người dân các nước đang phát triển và khu vực ASEAN tương ứng với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2100 - 2300 calo/ngày/người hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370USD/ người/ năm

B ảng 2 1 Tiêu chuẩn nghèo đói của Word Bank Khu v ực Tiêu chu ẩn nghèo

M ức thu nhập hoặc chi tiêu (USD)/người/ngày

Năm 2003 1 USD hoặc 360 USD/năm

(2 USD – PPP)

Ngu ồn: Word Bank (2008)

Tại Việt Nam, theo Bộ LĐTB&XH, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư

chỉ có điều kiện thoả mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và

có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương

diện

Chỉ tiêu đánh giá hộ nghèo tại Việt Nam:

• Chỉ tiêu chính: Thu nhập bình quân một người 1 tháng (hoặc 1 năm) được

đo bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực (gạo) tương ứng một giá trị để đánh giá Khái niệm thu nhập ở đây là thu nhập thuần túy (tổng thu trừ đi tổng chi phí sản xuất) Tuy nhiên, cần nhấn mạnh chỉ tiêu thu

nhập bình quân nhân khẩu hàng tháng là chỉ tiêu cơ bản nhất để xác định mức đói nghèo

Trang 24

• Chỉ tiêu phụ: Là dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc và các điều kiện học tập,

chữa bệnh, đi lại

Xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam : Việt Nam sử dụng hai cách tiếp cận rất khác nhau để đo lường tình trạng nghèo và theo dõi tiến trình giảm nghèo theo thời gian Cách tiếp cận thứ nhất do Bộ LĐTB&XH xây dựng Bộ LĐTB &XH vào đầu

thập kỷ 1990 được Chính phủ chỉ định là cơ quan chịu trách nhiệm chính về các chính sách và chương trình giảm nghèo của Việt Nam Thông qua sử dụng các chuẩn nghèo chính thức, Bộ LĐTB &XH chịu trách nhiệm đánh giá những thay đổi

về nghèo đói và cập nhật hàng năm danh sách chính thức về các hộ nghèo, và sử

dụng kết hợp phương thức “đi từ dưới lên trên” gồm các cuộc khảo sát tại địa phương và các cuộc tham vấn tại làng xã để xác định số người nghèo tại cấp địa phương (cấp xã) Các số liệu xác định về số người nghèo tại cấp địa phương này sau

đó được tổng hợp lại để ước tính tỷ lệ nghèo cho cấp tỉnh và cấp quốc gia Các chuẩn nghèo của Bộ LĐTB &XH ban đầu được quy đổi ra thóc, từ năm 2005 được tính theo cách tiếp cận dựa vào chi phí cho những nhu cầu cơ bản Các chuẩn nghèo chính thức không được điều chỉnh theo mức lạm phát, nhưng được xác định

lại giá trị thực năm năm một lần Bộ LĐTB &XH sử dụng cách thức tiếp cận này

để xác định việc phân bổ ngân sách và đề ra điều kiện áp dụng cho các chương trình

giảm nghèo mục tiêu

Cách tiếp cận thứ hai do Tổng cục Thống kê chủ trì xây dựng và thực hiện

việc đo lường nghèo đói và giám sát tiến trình giảm nghèo trên cơ sở các cuộc khảo sát hộ gia đình làm đại diện cho toàn quốc TCTK sử dụng hai phương pháp khác nhau để đo lường nghèo đói- một phương pháp dựa trên các chuẩn nghèo chính

thức (có điều chỉnh theo lạm phát) áp dụng cho thu nhập bình quân đầu người, và

một phương pháp sử dụng cách tiếp cận do TCTK và Ngân hàng Thế giới xây dựng vào cuối thập kỷ 1990 Chuẩn nghèo ban đầu của TCTK-NHTG được xây dựng có

sử dụng một phương pháp chuẩn về Chi phí cho những nhu cầu Cơ bản trên cơ sở tham chiếu đến rổ hàng lương thực tế của các hộ nghèo tính theo calo (2.100 kcal/

Trang 25

người/ ngày) cộng với một phần phân bổ của nhu cầu hàng phi lương thực thiết yếu

dựa trên xu hướng tiêu dùng của người nghèo

Việc sử dụng liên tục hai hệ thống riêng biệt để đo lường và theo dõi nghèo đói tạo ra những đánh giá rất khác nhau về nghèo đói, đôi khi gây ra phức tạp cho

việc đối thoại giữa cộng đồng tài trợ phát triển và các nhà nghiên cứu trong nước (những người thường sử dụng cách tiếp cận của TCTK-NHTG) với chính phủ (có

xu hướng sử dụng cách tiếp cận chính thức của Bộ LĐTB&XH)

Bắt đầu từ năm 2009, một nhóm các cán bộ và chuyên gia tư vấn của Ngân hàng Thế giới cùng với các chuyên gia trong nước và quốc tế đã phối hợp với Tổng

cục Thống kê nhằm chỉnh sửa và cập nhật hệ thống theo dõi nghèo của Việt Nam Thiết kế của VHLSS năm 2010 (và của những vòng sau đó) đã được cải thiện và

một dàn chọn mẫu mới được xây dựng trên cơ sở Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 Một chuẩn nghèo mới được xây dựng trên cơ sở sử dụng cách tiếp cận

dựa trên chi phí cho những nhu cầu cơ bản (CBN), tương tự cách tiếp cận sử dụng

để tính chuẩn nghèo ban đầu của TCTK-NHTG, nhưng dựa trên thông tin mới về xu hướng tiêu dùng từ VHLSS năm 2010

Chính phủ đã phê duyệt và công bố ngưỡng nghèo quốc gia cho các giai đoạn: 1996-2000; 2001-2005; 2005-2010 và 2011-2015 trên cơ sở đề xuất của Bộ LĐTB&XH Bộ LĐTB&XH chọn cơ sở để xác định ngưỡng nghèo là mức chi tiêu

cần thiết để một người có thể sống được và điều chỉnh ngưỡng nghèo tùy vào lạm phát hàng năm

Trang 26

Bảng 2.2 Chuẩn nghèo của Chính phủ qua các giai đoạn Giai đoạn Thu nhập (đồng/ người/

(Ngu ồn : Tổng hợp từ báo cáo của Tổng cục thống kê qua các năm )

Hình 2.2 : Xu hướng nghèo ở Việt Nam

Trang 27

Việc nhìn lại hai thập kỷ qua cho thấy Việt Nam đã đạt được những thành

tựu ấn tượng trong giảm nghèo Tăng trưởng kinh tế diễn ra trên diện rộng đã đem

lại những cải thiện đáng kể về chất lượng cuộc sống cho hầu hết người dân Theo tính toán của Tổng cục Thống kê trên cơ sở sử dụng chuẩn nghèo tính theo chi tiêu

của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ nghèo đã giảm liên tục trong vòng khoảng hai thập kỷ, từ 58% năm 1993 xuống còn 37,4 % năm 1998, 28,9 %

năm 2002, 16 % năm 2006 và 14,5% năm 2008 , năm 2014 là 7.6%

2 1.3 Nghèo đa chiều :

Khái niệm rộng hơn về nghèo thì nghèo có thể được giải thích bởi các chỉ báo

đa chiều (Anand and Sen, 1977) Nghèo không chỉ được đo lường bằng thu nhập, chi tiêu mà còn bởi khả năng tiếp cận một cách đồng thời đến lương thực, nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các mức sống xã hội khác, ngay cả các chỉ báo phi

vật chất Nói cách khác, nghèo được phản ánh bằng sự thiếu hụt phúc lợi xã hội ở các khía cạnh khác nhau và có thể được một bộ các chỉ báo đại diện

Nghèo theo cách tiếp cận đa chiều được hiểu là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ

mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng

trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín

dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị

bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh (UN, 2008, trích trong Đặng Nguyên Anh, 2015)

Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu

cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh

Đặng Nguyên Anh, 2015)

Trang 28

Khái niệm nghèo khổ tổng hợp: đó là sự thiếu cơ hội và sự lựa chọn bảo đảm các điều kiện để phát triển toàn diện con người: điều kiện vật chất, giáo

dục, tiếp cận y tế, chăm sóc sức khỏe ( Amartya Sen and Sudhir Anand,1997) Khái niệm nghèo khổ đa chiều được phát triển trên khía cạnh “quyền lợi” cơ

bản của con người: quyền tự do, quyền bình đẳng, sự khoan dung (Sakiko

Nội dung chỉ tiêu:

+ % dân số tử vong dưới 40 tuổi

+ % người lớn mù chữ

+ % người không tiếp cận dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe (tỷ lệ suy dinh dưỡng, tỷ lệ không được cung cấp nước sạch, tỷ lệ không được tham gia y tế

cơ bản)

cứu với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều Nghèo đa chiều là tình trạng

con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống

Có thể đo lường nghèo đa chiều bằng các khía cạnh kinh tế- xã hội khác nhau, kể cả khía cạnh văn hóa Thực tế , chúng ta có thể thấy mối quan hệ chặt chẽ

giữa tình trạng nghèo về tiền bạc và tình trạng kinh tế - xã hội của cá nhân hoặc

hộ gia đình Tuy nhiên việc chọn lựa các chỉ báo phù hợp để đo lường nghèo đa chiều vẫn chưa thực sự rõ ràng Các chỉ báo tiềm năng lại có thể biến đổi theo bối

cảnh kinh tế – xã hội và con người cụ thể ở từng địa điểm nghiên cứu, và phải phù

hợp với văn hóa của địa phương đó Nếu chọn lựa được các chỉ báo phù hợp, việc

đo lường nghèo đa chiều sẽ trở nên chính xác hơn Để đạt được yêu cầu này cần

phải chọn lựa cẩn thận, hợp lý và cần phải có sự thấu hiểu về các quan hệ qua lại

giữa các chỉ báo

Hiện nay, các tổ chức quốc tế đã áp dụng khái niệm nghèo đa chiều và xây

dựng các chỉ số đo lường nghèo đa chiều Các chỉ số đa chiều phổ biến nhất là

Chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index - HPI) do Anand và Sen đề

Trang 29

xuất (1997), Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) được Liên Hiệp Quốc sử dụng Báo cáo Phát triển con người (HDR) năm 2010 của Liên hợp quốc sử dụng một chỉ số mới được gọi là Chỉ số nghèo đa chiều (MPI)

Chỉ số này do Viện nghiên cứu vấn đề nghèo đói và sáng kiến phát triển con người

của đại học Oxford (OPHI) và Cơ quan báo cáo phát triển con người của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) xây dựng dựa trên phương pháp đo lường nghèo đa chiều của Alkire và Foster (2008) Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá được

một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình:

từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ Theo OPHI

và UNDP, những chỉ số này cung cấp đầy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc

so với chuẩn nghèo tiền tệ

Ngu ồn: Alkire and Santos (2010)

Hình 2.3: Bi ểu đồ các thành phần của nghèo đa chiều

Đo lường nghèo theo MPI của Alkire và Santos (2010) là phương pháp mới được tạo ra để tính những sự thiếu hụt của người nghèo và sự tương tác giữa những sự thiếu hụt này “Trong đo lường nghèo đa chiều, trọng số của các chỉ

số được tính theo 3 cách sau đây (1) giữa các chiều (ví dụ: trọng số tương đối của sức khỏe và giáo dục), (2) bên trong các chiều (nếu có nhiều hơn một chỉ số

Trang 30

được sử dụng) (3) giữa những người trong phân bổ, ví dụ ưu tiên nhiều hơn cho những người bất lợi nhất ” (Alkire and Santos, 2010) Ngoài ra, phương pháp MPI của Alkire và Santos còn được dùng để thay thế cho Chỉ số nghèo của con người (the Human Poverty Index) và bổ sung cho phương pháp đo lường tiền tệ truyền thống Dựa trên cách tính toán trong báo cáo phát triển con người toàn cầu sử dụng phương pháp của Alkire và Foster, chỉ số MPI giới thiệu trong Báo cáo phát triển con người toàn cầu (HDR) năm 2010 là sản phẩm kết hợp của tỷ lệ nghèo đói đếm đầu đa chiều (là tỷ lệ người là người nghèo đa chiều) và độ sâu nghèo đói của họ (tức là số lượng thiếu hụt trung bình của mỗi người nghèo đa chiều) Không giống như chỉ số nghèo đói con người (HPI) vốn chỉ phản ánh thiếu hụt tổng thể trong y

tế, giáo dục và mức sống mà không xác định từng cá nhân, hộ hay nhóm dân số cụ thể, chỉ số MPI đo lường tỷ lệ người chịu các thiếu hụt chồng chéo và từng người trong đó gặp phải trung bình bao nhiêu thiếu hụt Về khía cạnh này, phương pháp MPI đòi hỏi tất cả số liệu cần phải xuất phát từ một cuộc điều tra, và do đó việc lựa chọn các chiều và chỉ tiêu cho tính toán chỉ số này còn khá hạn chế ở Việt Nam Chỉ

số MPI được coi là phù hợp nhất đối với các nước kém phát triển hơn, vì chỉ số này

có thể đo lường được sự thiếu hụt phổ biến ở các nước này.Tuy nhiên, đây cũng là chỉ số hiệu quả để đo lường sự thiếu hụt và mức độ nghèo đói phi tiền tệ ở các nước thu nhập trung bình như Việt Nam Nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Châu Phi - nơi

có tỷ lệ nghèo đếm đầu đa chiều cao, cũng có xu hướng có số lượng thiếu thốn cao Một số nước như Băngladesh, Campuchia và Cộng hòa dân chủ nhân dân Côngô, thường có tỷ lệ nghèo đếm đầu cao nhưng mức độ nghèo đói thấp Ngược lại, như

đề cập trong báo cáo phát triển con người toàn cầu 2010, Việt Nam, cùng với Myanmar và Philippin, có tỷ lệ nghèo đói đếm đầu thấp (14,3%), nhưng độ sâu nghèo lại cao (52,5%), và Việt Nam được xác định là một trong những nước trong nhóm phát triển con người ở mức trung bình, có tình trạng nghiêm trọng nhất xét về phương diện mức độ thiếu thốn

Sabina Alkire (2010) cho rằng chỉ số nghèo khổ đa chiều giống như một giải pháp hữu hiệu mới và khởi đầu có thể giúp khám phá những quang phổ sinh

Trang 31

động của những thách thức mà những hộ gia đình nghèo nhất đang phải đối mặt Jeni Klugman (UNDP, 2011) cho rằng chỉ số nghèo khổ đa chiều cung cấp thang đo đầy đủ hơn về sự nghèo khổ so với cách thức tính truyền thống - đô la/ngày Đây

là một sự bổ sung hữu ích vào hệ thống các công cụ được sử dụng để đánh giá các chiều cạnh rộng lớn hơn sự hạnh phúc, mạnh khỏe của con người bao gồm các chỉ số phát triển con người của UNDP và các thang đo khác về sự bất bình đẳng theo dân số và giới

Các nhà nghiên cứu của OPHI đã thống kê số liệu từ 104 nước với dân số khoảng 5,2 tỷ người (chiếm 78% tổng dân số toàn cầu), có khoảng 1,7 tỷ người đang sống trong tình trạng nghèo khổ đa chiều (chiếm khoảng 1/3 tổng dân số) Trong khi đó nếu tính theo ngưỡng nghèo về tiền tệ 1,25 dola/ ngày, ở cùng các nước này, thì có 1,3 tỷ người đang sống trong cảnh nghèo đói đơn chiều

Theo báo cáo Quốc gia về phát triển con người, UNDP (2011), lần đầu tiên ở Việt Nam, báo cáo cũng giới thiệu chỉ số nghèo đói đa chiều quốc gia Chỉ số nghèo đói đa chiều trong báo cáo này đo lường sự thiếu hụt về y tế, giáo dục và mức sống giữa các tỉnh và vùng của Việt Nam Lần đầu tiên chỉ số này được tính toán cho cả nước và ở cấp địa phương, đưa ra một nền tảng quan trọng cho việc đánh giá nghèo đói phi tiền tệ trong tương lai Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) được tính theo 3 chiều (Giáo dục, y tế, mức sống) và 10 chỉ tiêu

Bảng 2.3 : Chỉ tiêu và trọng số trong MPI

Trang 32

Chi ều Ch ỉ tiêu Chu ẩn nghèo T ỷ trọng

trong MPI

Suy dinh dưỡng

(1/2)

Có ít nhất 1 thành viên trong hộ bị suy dinh dưỡng

(1/6)

Hộ gia đình sử dụng một trong các nguồn nước sau: nước mưa, nước ao

(1/3)(1/6)

=1/18

Nguồn : UNDP(2011)

Để đo lường nghèo đa chiều, trước hết xác định các chiều thiếu hụt và các chỉ

số phản ánh của mỗi chiều Sau đó xác định ngưỡng nghèo mà dưới ngưỡng đó, một

cá nhân sẽ bị coi là thiếu hụt Ví dụ, một chiều là “tiếp cận dịch vụ giáo dục” thì chỉ

số có thể là “trình độ giáo dục cao nhất” và ngưỡng nghèo có thể là “tốt nghiệp tiểu

học”; những người chưa tốt nghiệp tiểu học sẽ bị coi là thiếu hụt về giáo dục Bên

cạnh đó, cần áp dụng đường nghèo đói đa diện để đo lường nghèo đa chiều Trong phân tích, ngưỡng nghèo để được xác định người nghèo là 3 (k=3: giáo dục, y tế,

Trang 33

mức sống), tức là có ít nhất bất kỳ 3 chỉ tiêu nào bị thiếu hụt, hoặc ngưỡng nghèo là

2 khi có chỉ tiêu y tế và ít nhất một chỉ tiêu giáo dục không được đảm bảo Như vậy,

nếu điểm của thành viên hộ từ 3 trở lên đối với bất kỳ chỉ tiêu nào, hoặc bằng 2 trở lên đối với chỉ tiêu y tế và 1 trong 2 chỉ tiêu giáo dục, thì người đó được coi là người nghèo đa diện Nếu điểm của thành viên hộ từ 2 trở lên và dưới 3, trừ trường

hợp k=2 khi kết hợp chỉ tiêu y tế và giáo dục, người đó được coi là dễ tổn thương hay có nguy cơ trở thành người nghèo đa diện Ngưỡng nghèo đa chiều : nếu tổng điểm thiếu hụt >= 1/3 hộ sẽ bị xem là nghèo đa chiều (UNDP, 2010)

2.2 Các lý thuy ết kinh tế học có liên quan:

2.2.1 Lý thuy ết về phân phối thu nhập: cùng với sản xuất và tiêu dùng,

phân phối là một trong những phạm trù kinh tế chung nhất của xã hội loài người

vấn đề lý luận về phân phối thu nhập chỉ thực sự xuất hiện sau công trình Wealth of Nations (1776) của Adam Smith và được hệ thống thành một lý thuyết phân phối thu nhập với David Ricardo (1817) Từ đó đến nay, lý thuyết phân phối thu nhập đã không ngừng phát triển với sự đóng góp, bổ sung, hoàn thiện của các học giả các nhà kinh tế trên thế giới Nhìn chung, lý thuyết phân phối thu nhập bao gồm: giải thích bản chất của phân phối thu nhập, các yếu tố tác động đến quá trình phân phối thu nhập, phân tích các vấn đề nảy sinh từ kết quả của phân phối thu nhập như bất

bình đẳng kinh tế, nghèo đói, sự can thiệp của nhà nước …

Về bản chất, phân phối thu nhập được đặc trưng bởi ba yếu tố cơ bản: đối

tượng phân phối, chủ thể phân phối và người tiếp nhận thu nhập Ba yếu tố cơ bản trên kết hợp tạo ra quá trình phân phối thu nhập trong đời sống kinh tế - xã hội Nguyên tắc cơ bản cho sự kết hợp này là thực hiện quyền sở hữu của chủ thể tạo ra giá trị hay thu nhập Đây cũng là nguyên tắc xuyên suốt trong lý thuyết phân phối thu nhập của hầu hết các trường phái kinh tế, dù là cổ điển, tân cổ điển hay mácxít… Như trong tác phẩm Wealth of Nations, A.Smith tranh luận rằng giá trị

của bất cứ thứ hàng hóa nào cũng bao gồm tiền lương, lợi nhuận và địa tô Theo A.Smith, trước khi có chủ nghĩa tư bản, người lao động tạo ra sản phẩm bằng những

tư liệu sản xuất và ruộng đất của chính họ nên người lao động được toàn quyền sở

Trang 34

hữu giá trị sản phẩm được tạo ra đó, nhưng trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, khi người lao động không có ruộng đất và phải đi làm thuê để tạo ra của cải thì họ chỉ được hưởng một bộ phận giá trị sản phẩm được tạo ra đó là tiền lương Bên cạnh

đó, lợi nhuận và địa tô là những khoản khấu trừ tiếp theo vào trong giá trị sản phẩm được tạo ra và nó thuộc về nhà tư bản kinh doanh và các địa chủ (địa tô là khoản

khấu trừ đầu tiên còn lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai – khoản còn lại trong giá

trị sản phẩm); ngoài ra, lợi tức là một phần của lợi nhuận và nó thuộc về chủ sở hữu

vốn

2.2.2 Lý thuy ết tăng trưởng, giáo dục và giảm nghèo : mô hình Tân cổ

điển (neoclassical economy) cho thấy tác động của sự tích lũy vốn con người tới tăng trưởng kinh tế thông qua ảnh hưởng vào năng suất lao động đã được phát triển

trên cơ sở lý thuyết vốn con người Ý tưởng chính ở đây là giáo dục là một sự đầu

tư, và sản lượng của giáo dục có thể tính toán được Vấn đề là xác định ai phải đầu

tư, bao nhiêu và đầu tư vào đâu (Girma and Kedir, 2003)

2.2.3 Phát tri ển kinh tế bền vững : thuật ngữ phát triển bền vững (

PTBV- Sustainable Development ) lần đầu được sử dụng trong bản “ Chiến lược

bảo tồn thế giới “ do UICN đề xuất năm 1980 Mục tiêu tổng thể của chiến lược là “ đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” Năm

1987, trong báo cáo “ Tương lai chung của chúng ta”, Ủy Ban Môi Trường và Phát triển Thế giới ( WCED) của Liên Hợp Quốc, “ phát triển bền vững” được định nghĩa là “ Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không làm tổn thương cho việc đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai” Nội hàm về “Phát triển bền

vững” được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và được bổ sung, hoàn

chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức

ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: "Phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát

triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế ), phát triển xã hội

(nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc

Trang 35

làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải

thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý

và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)

2.2.4 Mô hình nghèo đói của Gillis – Perkins – Roemer - Snodgrass:

Mối quan hệ giữa giảm nghèo đói và tăng trưởng kinh tế theo hướng khi

GNP/ đầu người tăng thu nhập trung bình của người nghèo sẽ tăng

Hoặc số người nghèo đói tập trung phần lớn trong các vùng địa lý có GNP/người thấp

Bảng 2.4 : Số người nghèo đói phân theo vùng địa lý

Vùng

Số người nghèo ( triệu người) % của tổng sốngười nghèo trên thế giới

Nguồn : Gillis, M., Perkins, D.H., Roemer, M and Snodgrass, D.R.,1983,

t rích trong Đinh Phi Hổ, 2006

Mô hình trên cho thấy rằng tăng trưởng và phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng nâng cao thu thập cho người nghèo, như vậy, sẽ giảm số người nghèo Do đó, sẽ

Trang 36

ngộ nhận khi các chính sách quá nhấn mạnh đến xóa đói giảm nghèo mà không dựa

trên cơ sở tăng trưởng kinh tế

2.3 Các nghiên c ứu trước có liên quan

2.3.1 Nghiên c ứu trong nước

Các vấn đề về nghèo hộ gia đình đã được nghiên cứu trên nhiều nước để có được các chiến lược giảm nghèo hiệu quả, nâng cao mức sống của người dân và đưa ra những chính sách phát triển phù hợp cho từng chỉ số trong nghiên

cứu liên quan đến nghèo

Theo cách tiếp cận truyền thống, các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam

thường tậptrung vào việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo theo chuẩn nghèo tiền tệ Sử dụng mô hình hồi quy Logit để đánh giá, phân tích , Võ Tất

Thắng (2004); Bùi Quang Minh (2007) ; World bank (2007), Đinh Phi Hổ va Nguyễn Trọng Hoài (2007) Theo các tác giả, có tám yếu tố ảnh hưởng đến tình

trạng nghèo của hộ Tám yếu tố này bao gồm: nghề nghiệp, tình trạng việc làm; trình độ học vấn; giới tính chủ hộ; quy mô hộ; số người sống phụ thuộc; quy mô

diện tích đất của hộ; quy mô vốn vay từ các định chế chính thức; khả năng tiếp

cận cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, với cách tiếp cận này mô hình chỉ đi sâu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo mà tác động chủ yếu của các nhân tố này là đến thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình mà chưa mở rộng ra đánh giá phúc lợi hoặc tình trạng nghèo của hộ gia đình theo nhiều khía cạnh khác như giáo dục, điều

kiện sống …

Cách tiếp cận nghèo đa chiều cũng đã được nghiên cứu bởi nhiều tác giả, qua nhiều năm Các nghiên cứu tuy chưa nhất quán với nhau về chiều đại diện cho cách tiếp cận, tuy nhiên về cơ bản các nghiên cứu này cũng đã phản ánh được nhiều khía cạnh khác nhau ảnh hưởng đến giàu, nghèo của hộ gia đình

Luận văn “ Đánh giá tình hình nghèo đa chiều của các hộ gia đình tại khu vực Đông Nam Bộ” của Trần Minh Sang (2012) Tác giả đã dùng hai phương pháp tiếp

cận , nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều để đánh giá toàn bộ bức tranh nghèo tại khu vực Đông Nam Bộ Đối với phương pháp tiếp cận đa chiều tác giả sử dụng chỉ

Trang 37

số MPI để đánh giá Theo tác giả, sử dụng phương pháp nghèo đa chiều để phân tích, đánh giá nghèo có nhiều ưu điểm hơn phương pháp đo lường dựa theo thu

nhập/chi tiêu Nghèo đa chiều dựa trên nhiều thuộc tính khác nhau của hộ như thu

nhập, sức khỏe, tình trạng việc làm, giáo dục, lao động, nhà ở, tiếp cận điện, tiếp

cận nước, tình trạng vệ sinh…

Theo Asselin and Vu (2009), có 5 chiều để phân tích nghèo ở Việt Nam như sức khỏe, tình trạng việc làm, giáo dục, thu nhập và nhà ở Sức khỏe được đại diện bởi hai chỉ số bệnh mãn tính và trẻ em suy dinh dưỡng Chiều việc làm đại diện bởi chỉ số ít nhất có một thành viên thiếu việc làm, trong đó một người trong độ tuổi lao động được coi là thiếu việc làm nếu không làm việc từ 3 tháng trở lên Khía cạnh giáo dục bao gồm chỉ số thành viên từ 15 tuổi trở lên không biết đọc, viết và làm phép tính đơn giản Một hộ gia đình sẽ thiếu hụt

chỉ tiêu này nếu hộ có ít nhất một thành viên từ 15 tuổi trở lên không biết đọc,

viết và làm phép tính đơn giản Chỉ tiêu còn lại ở chiều giáo dục là trẻ em từ 6 –

15 tuổi không đi học Hộ được xem là thiếu hụt chỉ tiêu này nếu có ít nhất 1 trẻ trong độ tuổi đi học chưa đến trường Chiều thu nhập đưa ra hai chỉ số thiếu hụt

về thu nhập theo chuẩn nghèo tiền tệ và thiếu hụt tài sản thiết yếu Chiều nhà ở bao gồm chỉ số nhà ở tạm , nước sạch

Phân tích nghèo đa chiều ở trẻ em của Tổng cục Thống kê (2011) cho thấy nghèo đa chiều ở trẻ em được đo lường qua 9 chỉ tiêu độc lập đại diện cho 6 chiều như giáo dục, y tế, nhà ở, vệ sinh, lao động trẻ, và bảo trợ xã hội

Kết quả cuộc điều tra nghèo đô thị UPS-2009 tại hai thành phố lớn là Hà

Nội và Tp.HCM, UNDP (2010) áp dụng tính toán chỉ số MPI- chỉ số nghèo đa chiều- dựa trên 8 chiều đói nghèo là: thu nhập, giáo dục, y tế, tiếp cận hệ thống

an sinh xã hội, chất lượng và diện tích nhà ở, dịch vụ nhà ở, tham gia các hoạt động xã hội, an toàn xã hội Kết quả MPI ở thành phố Hồ Chí Minh cao hơn Hà

Nội, nông thôn cao hơn thành thị và người di cư cao hơn người có hộ khẩu 3 chiều đóng góp nhiều nhất vào chỉ số nghèo đa chiều gồm thiếu hụt về tiếp cận

hệ thống an sinh xã hội, thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ nhà ở (điện, nước, thoát

Trang 38

nước, rác thải, …) và thiếu hụt về chất lượng và diện tích nhà ở Ngoài ra, ở Tp.HCM, yếu tố thu nhập hoàn toàn không phải là yếu tố quan trọng phản ánh tình trạng nghèo đa chiều

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “ Quan hệ giữa sinh kế và tình trạng nghèo ở nông thôn Việt Nam” của Trần Tiến Khai, Nguyễn Ngọc Danh (2012) Các tác giả đã sử dụng hai phương pháp phân tích thống kê đa biến Principal Components Analysis và Multiple Correspondence Analysis để nghiên cứu các chỉ báo phù hợp cho tình trạng nghèo ở các khía cạnh kinh tế, xã hội và văn hóa, mối quan hệ qua lại giữa các chỉ báo này, phân loại tình trạng nghèo của hộ theo các

chỉ báo đa chiều, khám phá sự khác biệt giữa cách thức phân loại hộ theo tình trạng nghèo về tiền và nghèo đa chiều

2.3.2 Nghiên c ứu nước ngoài:

Nghiên cứu quốc tế “Multidimensional poverty: An alternative measurement

năng, và hòa nhập xã hội để xem xét nghèo đói ở Mỹ Dữ liệu từ các khảo sát xã hội

đa chiều sử dụng một tập hợp toàn diện các thông tin cung cấp một giá trị hấp dẫn thêm để đo lường nghèo Các đặc điểm nhân khẩu học đề xuất các loại khác nhau

dưỡng, nhà ở, vệ sinh, năng lượng, thông tin, tài sản đồ dùng lâu bền, tài sản sinh

Senegal trong giai đoạn 2000-2001( Ki, Faye và Faye, 2009, trích trong Asselin,

tăng trưởng và học hành

Trang 39

Theo Alkire and Santos (2010) đề xuất 3 khía cạnh và 10 chỉ số đo lường Các khía cạnh nghèo, các chỉ số và ngưỡng thiếu hụt như sau: giáo dục, gồm các chỉ

số đo lường là số năm đi học của thành viên trong gia đình và tình trạng trẻ em đi học tới lớp 8; sức khỏe, gồm các chỉ số đo tỷ lệ tử vong và trẻ em suy dinh dưỡng; mức sống, gồm các chỉ số đo lường là điện, cải thiện vệ sinh môi trường, nguồn nước sạch, sàn nhà, nhiên liệu dùng đun nấu và sở hữu tài sản

Nghiên cứu tại Ấn Độ của Ramya M.Vijaya (2014) đề xuất có 4 tiêu chí đánh giá nghèo đa chiều với 11 chỉ số đo lường Thứ nhất, khía cạnh giáo dục, với 2 chỉ

số đo về tình trạng đi học và nhập học; thứ hai, khía cạnh mức sống, gồm 6 chỉ số

đo là điện, sàn nhà, nhiên liệu đun nấu, nước, điều kiện vệ sinh và tình trạng sở hữu hàng lâu bền; thứ ba, tiêu chí tài sản gồm chỉ số đo là đất và nhà; tiêu chí thứ tư là trao quyền, với 2 chỉ số đánh giá việc cho phép (phụ nữ) đi đến chợ, nhà hộ sinh,

cơ sở y tế hay đi ra ngoài làng và chỉ số quyền được phép tiếp cận dịch vụ y tế cho nhu cầu riêng

Theo tác giả thì các nghiên cứu trước đều có ưu điểm là đã nhìn nhận tình

pháp thống kê mô tả thông qua các chỉ số để phân tích, so sánh Chưa sử dụng phương pháp mô hình định lượng để tìm hiểu mối quan hệ giữa các chiều, các chỉ

số với tình trạng nghèo

bức tranh tổng thể về nghèo đói Phương pháp tiếp cận mới này, ngày càng được

sử dụng nhiều hơn ở các tổ chức quốc tế (NHTG, UNDP, UNICEF) và các nước trên thế giới Tuy có nhiều nghiên cứu khác nhau nhưng các chiều thiếu hụt được đánh giá phổ biến là giáo dục, y tế, việc làm, mức sống, và tài sản

Tác giả sử dụng các chỉ số nghèo đa chiều được đề xuất bởi Alkire and Santos (2010) để nghiên cứu

Trang 40

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Khung phân tích:

Theo Alkire and Santos (2010) đề xuất 3 khía cạnh và 10 chỉ số đo lường

Các khía cạnh nghèo, các chỉ số và ngưỡng thiếu hụt như sau: giáo dục, gồm các chỉ

số đo lường là số năm đi học của thành viên trong gia đình và tình trạng trẻ em đi

học tới lớp 8; sức khỏe, gồm chỉ số đo tỷ lệ tử vong và trẻ em suy dinh dưỡng; mức

sống, gồm chỉ số đo lường là điện, cải thiện vệ sinh môi trường, nguồn nước sạch,

sàn nhà, nhiên liệu đun nấu và sở hữu tài sản; Trong khi đó, “phân tích nghèo đa

chiều, đi từ hộ đến cá nhân”, nghiên cứu tại Ấn Độ của Ramya M.Vijaya (2014) đề

xuất có 4 tiêu chí đánh giá nghèo đa chiều với 11 chỉ số đo lường Thứ nhất, khía

cạnh giáo dục, với 2 chỉ số đo về tình trạng đi học và nhập học; thứ hai, khía cạnh

mức sống, gồm 6 chỉ số đo là điện, sàn nhà, nhiên liệu đun nấu, nước, điều kiện vệ

sinh và tình trạng sở hữu hàng lâu bền; thứ ba, tiêu chí tài sản gồm 1 chỉ số đo là đất

và nhà và tiêu chí thứ tư là trao quyền, với 2 chỉ số việc cho phép (phụ nữ) đi đến

chợ, nhà hộ sinh, cơ sở y tế hay đi ra ngoài làng và quyền tiếp cận dịch vụ y tế cho

nhu cầu riêng Việc vận dụng đo lường, các khía cạnh nghèo đa chiều và chỉ số đo

lường của Alkire và cộng sự (2010) là đơn giản và dễ thực hiện, phù hợp với điều

kiện Việt Nam Dựa vào nghiên cứu trên tác giả đưa ra khung phân tích

Ngày đăng: 13/03/2017, 13:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Đinh Phi Hổ (2006 ), Kinh t ế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn, Nhà xu ất bản Th ống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
6. Đinh Phi Hổ ( 2008), Kinh t ế học bền vững , nhà xu ất bản Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học bền vững
Nhà XB: nhà xuất bản Phương Đông
7. Đinh Phi Hổ (2014), Phương pháp nghiên cứu kinh tế và viết luận văn thạc sĩ , nhà xu ất bản Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu kinh tế và viết luận văn thạc sĩ
Tác giả: Đinh Phi Hổ
Nhà XB: nhà xuất bản Phương Đông
Năm: 2014
8. Đinh Phi Hổ và Chiv Vann Dy (2010), “ Mô hình định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân”, T ạp chí phát triển kinh tế của Trường đại h ọc Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh , (s ố 234 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân”, "Tạp chí phát triển kinh tế của Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đinh Phi Hổ và Chiv Vann Dy
Năm: 2010
16. Nguy ễn Trọng Hoài (2007), Kinh t ế phát triển , Nhà xu ất bản Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Tác giả: Nguy ễn Trọng Hoài
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2007
17. Nguy ễn Trọng Hoài (2008), phương pháp nghiên cứu định lượng cho lĩnh vực kinh t ế trong điều kiện Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp nghiên cứu định lượng cho lĩnh vực kinh tế trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Nguy ễn Trọng Hoài
Năm: 2008
18. Oxfam Anh/Action Aid (2011). Theo dõi Nghèo Đô thị có sự tham gia của ng ười dân tại Việt Nam: Báo cáo tổng hợp lần thứ 4 . Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo dõi Nghèo Đô thị có sự tham gia của người dân tại Việt Nam: Báo cáo tổng hợp lần thứ 4
Tác giả: Oxfam Anh/Action Aid
Năm: 2011
23. Theorodore W. Schultz, “ Kinh tế học về nghèo đói ”, trong Các thuyết trình.1969-1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học về nghèo đói"”, trong
24. UNDP (2010), Đánh giá nghèo đô thị ở Hà Nội và TP. HCM , NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nghèo đô thị ở Hà Nội và TP. HCM
Tác giả: UNDP
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2010
25. UNDP (2011), Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người, Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người
Tác giả: UNDP
Năm: 2011
31. Võ T ất Thắng (2004), Th ực trạng và những yếu tốtác động đến nghèo ở tỉnh Ninh Thu ận, Lu ận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tếThành phố H ồChí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và những yếu tốtác động đến nghèo ở tỉnh Ninh Thuận
Tác giả: Võ T ất Thắng
Năm: 2004
32. World Bank (2010), Báo cáo đánh giá nghèo đô thị ở Hà Nội và TPHCM.Ngân hàng th ế giới tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá nghèo đô thị ở Hà Nội và TPHCM
Tác giả: World Bank
Năm: 2010
33. World Bank (2012). Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012 . Ngân hàng Th ế gi ới tại Việt Nam.Tài li ệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012". Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam
Tác giả: World Bank
Năm: 2012
1. Alkire, S. and Foster, J.,(2008), Counting and Multidimensional Poverty Measurement. OPHI Working paper No.7. Working paper series. Oxford Poverty and Human Development Initiative Sách, tạp chí
Tiêu đề: Counting and Multidimensional Poverty Measurement
Tác giả: Alkire, S. and Foster, J
Năm: 2008
2. Alkire and Santos (2010), Acute Multidimensional Poverty: A New Index for Developing Countries. OPHI Working Paper Series Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acute Multidimensional Poverty: A New Index for Developing Countries
Tác giả: Alkire and Santos
Năm: 2010
3. Anand, S. and Sen, A. (1977), Concept of Human Development and Poverty: a Multidimensional Perspectives. Human Development Papers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Concept of Human Development and Poverty: a Multidimensional Perspectives
Tác giả: Anand, S. and Sen, A
Năm: 1977
4. Asselin, L. M. (2009). Analysis of multidimensional poverty. Theory and case studies. Economic Studies in Inequality, Social Exclusion and Well-Being.Volume No.7. IDRC.Springer Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analysis of multidimensional poverty. Theory and case studies. Economic Studies in Inequality, Social Exclusion and Well-Being
Tác giả: Asselin, L. M
Năm: 2009
7. Amartya Sen and Sudhir Anand (1997), Concepts of Human Development and Poverty: A Multidimensional Perspective. In Human Development Papers 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Concepts of Human Development and Poverty: A Multidimensional Perspective
Tác giả: Amartya Sen and Sudhir Anand
Năm: 1997
4. T ổng cục thống kê, điều tra mức sống hộ gia đình, https://gso.gov.vn/default.aspx?tabid=444&amp;idmid=5, truy c ập ngày 08/01/ 2016 Link
5. Alkire Foster Method. http://www.ophi.org.uk/research/multidimensional- poverty/, truy c ập ngày 08/01/2016 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 : Vòng luẩn quẩn của nghèo đói - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Hình 2.1 Vòng luẩn quẩn của nghèo đói (Trang 22)
Bảng 2.2  Chuẩn nghèo của Chính phủ qua các giai đoạn  Giai đoạn  Thu nhập (đồng/ người/ - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Bảng 2.2 Chuẩn nghèo của Chính phủ qua các giai đoạn Giai đoạn Thu nhập (đồng/ người/ (Trang 26)
Bảng 2.4 : Số người nghèo đói phân theo vùng địa lý - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Bảng 2.4 Số người nghèo đói phân theo vùng địa lý (Trang 35)
Hình 4.2 : Bi ểu đồ tỷ lệ hộ nghèo các huyện trong tỉnh năm 2015 - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Hình 4.2 Bi ểu đồ tỷ lệ hộ nghèo các huyện trong tỉnh năm 2015 (Trang 60)
Hình 4.3 : Bi ểu đồ tỷ lệ hộ nghèo các huyện trong tỉnh năm 2014 - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Hình 4.3 Bi ểu đồ tỷ lệ hộ nghèo các huyện trong tỉnh năm 2014 (Trang 60)
Bảng 4.1 :  Số hộ nghèo theo chuẩn nghèo đơn chiều - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Bảng 4.1 Số hộ nghèo theo chuẩn nghèo đơn chiều (Trang 62)
Bảng 4.9 : Lý do bệnh, suy dinh dưỡng - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Bảng 4.9 Lý do bệnh, suy dinh dưỡng (Trang 67)
Bảng 4.12: Nước sạch - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Bảng 4.12 Nước sạch (Trang 68)
Bảng 4.15 : Lý do không có nhà vệ sinh - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Bảng 4.15 Lý do không có nhà vệ sinh (Trang 69)
Bảng 4.16: Tình trạng nhà - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Bảng 4.16 Tình trạng nhà (Trang 70)
Bảng 4.18: Nhiên liệu - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Bảng 4.18 Nhiên liệu (Trang 71)
Bảng 4.20 : Trẻ từ 6-15 tuổi không đi học - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Bảng 4.20 Trẻ từ 6-15 tuổi không đi học (Trang 72)
Hình thành 02 k ịch bản : - Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của hộ gia đình trên địa bàn tỉnh long an   theo cách tiếp cận nghèo đa chiều
Hình th ành 02 k ịch bản : (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w