1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cải thiện sinh kế người dân vùng trồng lúa mùa nổi trước sự thay đổi điều kiện thiên nhiên trường hợp tại xã vĩnh phước, huyện tri tôn, tỉnh an giang

93 502 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Phân tích những tác động của hiện tượng lũ không về đến thu nhập, chi tiêu dẫn đến sự thay đổi đời sống sinh kế người dân vùng trồng LMN, các giải pháp khắc phục, th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

LÊ TẤN ĐẠT

CẢI THIỆN SINH KẾ NGƯỜI DÂN VÙNG TRỒNG LÚA MÙA NỔI

TRƯỚC SỰ THAY ĐỔI ĐIỀU KIỆN THIÊN NHIÊN:

TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ VĨNH PHƯỚC, HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

LÊ TẤN ĐẠT

CẢI THIỆN SINH KẾ NGƯỜI DÂN VÙNG TRỒNG LÚA MÙA NỔI

TRƯỚC SỰ THAY ĐỔI ĐIỀU KIỆN THIÊN NHIÊN:

TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ VĨNH PHƯỚC, HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 60340402

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ VIỆT PHÚ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu

được sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong

phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường

Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Tác giả luận văn

Lê Tấn Đạt

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy, cô Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã

nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và chỉ dạy tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

tại trường

Xin chân thành cám ơn thầy Lê Việt Phú đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài luận

văn này Thầy đã nhiệt tình định hướng và gợi ý để tôi có thể thực hiện đề tài trong

những lúc khó khăn, cám ơn những góp ý, truyền đạt kinh nghiệm quý báu của thầy cũng

như sự hỗ trợ trong tiếp cận thông tin, tài liệu, gặp gỡ và trao đổi với những chuyên gia

trong lĩnh vực nghiên cứu để giúp đề tài ngày càng hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cám ơn ông Trần Văn Đàng – Chủ tịch hội Nông dân xã Vĩnh Phước

đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình khảo sát và tiếp cận thông tin để hoàn thành luận

văn này

Cuối cùng, xin chân thành cám ơn gia đình và bạn bè đã luôn đồng hành và hỗ trợ tôi

trong suốt hai năm qua

Lê Tấn Đạt Học viên MPP7 - Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Trang 5

TÓM TẮT

Trước kịch bản biến đổi khí hậu và tình trạng xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính sông MêKông, chắc chắn hiện tượng hạn hán, lũ lụt, xâm ngập mặn sẽ còn lặp lại ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Việc tiếp tục hướng theo mục tiêu “an ninh lương thực” và làm sao có thể trồng được càng nhiều lúa mà không nghĩ đến những tác động của biến đổi khí hậu sẽ không còn phù hợp và khả thi trong tương lai ở khu vực này

Xã Vĩnh Phước một trong ít địa phương vẫn còn tồn tại hệ thống canh tác Lúa mùa nước nổi (LMN), một hệ thống canh tác thân thiện với môi trường và phù hợp với việc ứng phó hiện tượng biến đổi khí hậu ở ĐBSCL Nhưng do đặc điểm phụ thuộc vào tự nhiên, nên đời sống người dân luôn phải đối mặt với các cú sốc từ thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán

Theo kết quả phân tích, nhóm hộ LMN – hoa màu là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nhất

từ cú sốc không có lũ Ngoài việc mất gần như toàn bộ nguồn thu nhập từ cây LMN và nguồn lợi thủy sản, xu hướng công việc làm thuê liên quan đến nông nghiệp ngày càng ít, thị trường tiêu thụ sản phẩm LMN hạn chế làm cho cuộc sống người dân càng thêm khó khăn Mặc dù có nhiều giải pháp được người dân áp dụng, nhưng cuộc sống vẫn còn đó nhiều khó khăn Họ không có tài sản để tiếp cận nguồn vốn lãi suất thấp Nguồn lao động gia đình thiếu kỹ năng nên việc chuyển đổi sinh kế chủ yếu là làm thuê với nguồn thu nhập rất thấp Mạng lưới hỗ trợ và chuỗi liên kết sản xuất chưa đủ mạnh nên thường bị

ép giá trong các giao dịch thương mại Điều kiện hạ tầng giao thông, điện, nước rất hạn chế làm cho việc học tập, sinh hoạt và sản xuất của người dân gặp nhiều trở ngại

Để cải thiện tình trạng trên, đề tài khuyến nghị hai nhóm chính sách trong ngắn và dài hạn Đầu tiên trong ngắn hạn, chính sách tập trung nâng cao giá trị sản phẩm LMN – hoa màu sạch, cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn tự nhiên và vật chất, từng bước giúp người dân nâng cao thu nhập trong hoạt động bảo tồn LMN Tiếp theo trong dài hạn, chính sách hướng theo việc tăng cường khả năng ứng phó và thích nghi với nhiều kịch

Trang 6

bản biến đổi khí hậu khác nhau, nhằm giảm những tác động bất lợi từ môi trường và đảm bảo đời sống sinh kế, sản xuất của người dân theo hướng bền vững

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ x

DANH MỤC SƠ ĐỒ xi

DANH MỤC PHỤ LỤC xii

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh chính sách 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi chính sách 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin 4

1.6 Kết cấu đề tài 5

Chương 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 6

2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID 6

2.1.1 Bối cảnh dễ bị tổn thương 7

2.1.2 Các tài sản, nguồn vốn sinh kế 7

Trang 8

2.1.3 Chính sách của chính quyền 8

2.1.4 Các chiến lược lựa chọn sinh kế 8

2.1.5 Kết quả sinh kế và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố đến kết quả sinh kế bền vững 9

2.2 Các nghiên cứu liên quan 9

Chương 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 13

3.1 Chiến lược nghiên cứu 13

3.2 Thiết kế bảng câu hỏi 14

3.3 Cách thức chọn mẫu và thu thập số liệu 14

3.4 Phương pháp thu thập số liệu 15

3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 16

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17

4.1 Địa điểm nghiên cứu 17

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 17

4.1.2 Đặc điểm dân số và sinh kế hộ gia đình 18

4.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 18

4.2 Giới thiệu về LMN 19

4.2.1 Nguồn gốc LMN 19

4.2.2 Đặc điểm LMN 19

4.3 Chính sách hiện hành có liên quan đến sinh kế vùng trồng LMN 20

4.3.1 Chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu 20

4.3.2 Chính sách khắc phục hậu quả hạn hán, xâm ngập mặn 21

4.3.3 Chính sách bảo tồn LMN 21

Trang 9

4.4 Các tài sản và nguồn vốn sinh kế 22

4.4.1 Nguồn vốn con người 22

4.4.2 Nguồn vốn tự nhiên 24

4.4.3 Nguồn vốn vật chất 26

4.4.4 Nguồn vốn tài chính 28

4.4.5 Nguồn vốn xã hội 30

4.5 Bối cảnh dễ bị tổn thương 31

4.6 Các chiến lược thích nghi/ứng phó của người dân 34

4.7 Đánh giá khả năng tiếp cận các loại nguồn vốn đến chiến lược lựa chọn sinh kế và kết quả sinh kế của người dân 37

4.8 Đánh giá ảnh hưởng của chính sách đến chiến lược lựa chọn sinh kế và kết quả sinh kế của người dân 39

4.8.1 Các chính sách chung ứng phó với các cú sốc từ sự thay đổi điều kiện thiên nhiên 39

4.8.2 Chính sách của chính quyền địa phương 41

4.9 Ý kiến phỏng vấn chuyên gia, doanh nghiệp và chính quyền địa phương 43

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Khuyến nghị chính sách 46

5.3 Hạn chế của đề tài 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

PHỤ LỤC 53

Trang 10

DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT

Management

Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

Development

Cục Phát triển Quốc tế - Vương Quốc Anh

GIZ Deutsche Gesellschaft fur

International Zusammenarbeit

Tổ chức Hợp tác quốc tế Cộng hòa Liên bang Đức

Agriculture and Rural Development

Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn

Development

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

MPI Ministry of Planning and Investment Bộ Kế hoạch và Đầu tư

UoC University of Copenhagen Trường Đại học Tổng hợp Copenhagen

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Các tiêu chí lấy mẫu 15

Bảng 4.1: Số hộ dân sống tại xã Vĩnh Phước 18

Bảng 4.2: Tỷ lệ thành viên bình quân theo nhóm hộ 23

Bảng 4.3: Tỷ lệ trẻ em nghỉ học sớm bình quân theo nhóm hộ 24

Bảng 4.4: Lịch thời vụ khu vực trồng LMN (tính theo lịch âm) 34

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Biến động diện tích LMN 2

Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ thu nhập bình quân theo nhóm hộ 25

Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ sở hữu đất sản xuất (m2) bình quân theo nhóm hộ 25

Biểu đồ 4.3: Hiện trạng nhà ở theo nhóm 26

Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ sử dụng tài sản sinh hoạt theo nhóm hộ 27

Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ sử dụng tài sản xuất theo nhóm hộ 27

Biểu đồ 4.6: Thu nhập và chi tiêu (1.000 đồng) bình quân đầu người theo nhóm hộ 28

Biểu đồ 4.7: Các hình thức tiếp cận vốn theo nhóm hộ gia đình 29

Biểu đồ 4.8: Nguyên nhân không tiếp cận được nguồn vốn vay lãi suất thấp 29

Biểu đồ 4.9: Tỷ lệ hộ dân tham gia thành viên các Tổ chức, Hội ở địa phương 30

Biểu đồ 4.10: Tỷ lệ hộ gia đình và các cú sốc gặp phải trong 5 năm gần nhất 33

Biểu đồ 4.11: Các biện pháp thích nghi/ứng phó của người dân phân theo nhóm hộ 36

Biểu đồ 4.12: Những khó khăn mà các nhóm hộ gia đình gặp phải khi chuyển đổi/đa dạng hóa nguồn sinh kế 37

Biểu đồ 4.13: Tác động của chính sách đến tài sản sinh kế hộ gia đình 42

Trang 13

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Khung sinh kế người dân vùng trồng LMN 6

Sơ đồ 3.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu 13

Sơ đồ 4.1: Mạng lưới hoạt động các ngành nghề tại xã Vĩnh Phước 31

Trang 14

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Vĩnh Phước 53

Phụ lục 2: Bản đồ vệ tinh xã Vĩnh Phước 53

Phụ lục 3: Mực nước hai tháng đầu năm 2016 so với cùng thời điểm một số năm trước 54 Phụ lục 4: Những con đập thủy điện dòng chính sông Mêkông 54

Phụ lục 5: Xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long 55

Phụ lục 6: Diện tích lúa bị thiệt hại do xâm ngập mặn tại ĐBSCL 55

Phụ lục 7: Quá trình phát triển đê bao vùng ĐBSCL 56

Phụ lục 8: Diện tích đất trồng các loại lúa khác nhau ở ĐBSCL trước 1975 57

Phụ lục 9: Sơ đồ lịch gieo sạ và thu hoạch LMN tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang 57

Phụ lục 10: Lịch thời vụ vùng trồng LMN – hoa màu (tính theo lịch âm) 58

Phụ lục 11: Mức hỗ trợ dự án bảo tồn LMN – màu giai đoạn 2013-2015 59

Phụ lục 12: Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo xã Vĩnh Phước (2015) 61

Phụ lục 13: Biến động thu nhập (1.000 đồng) do không có lũ của nhóm hộ LMN 61

Phụ lục 14: Tỷ lệ biến động nguồn thu nhập/năng suất phân theo nhóm hộ 62

Phụ lục 15: Tỷ lệ biến động chi phí sản xuất phân theo nhóm hộ 62

Phụ lục 16: Tỷ lệ hộ sử dụng nước phân theo nhóm hộ 63

Phụ lục 17: Tỷ lệ sử dụng điện phân theo nhóm hộ 63

Phụ lục 18: Phương án cải thiện sinh kế trong tương lai phân theo nhóm hộ 64

Phụ lục 19: Thông tin về các khoảng vay vốn 64

Phụ lục 20: Phỏng vấn chuyên gia, chính quyền địa phương 66

Phụ lục 21: Phiếu khảo sát hộ gia đình 72

Trang 15

Tuy chưa có số liệu thống kê chính thức, nhưng theo ước tính của Bộ NN&PTNN vụ lúa Đông Xuân 2015 - 2016 diện tích lúa bị nhiễm mặn, hạn hán tại các tỉnh ven biển ĐBSCL lên đến 340.000 ha (chiếm 35% diện tích xuống giống các tỉnh ven biển và khoảng 22% toàn vùng ĐBSCL) và hàng ngàn hecta cây ăn trái tại nhiều địa phương trong vùng bị ảnh hưởng từ hiện tượng này Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn trung ương ước tính, hiện tại nếu có 160.000 ha lúa bị thiệt hại, mỗi gia đình có diện tích sản xuất 0,5 ha, thì xâm ngập mặn đã làm khoảng 300.000 hộ gia đình trong những tháng qua không có nguồn thu nhập Từ những kịch bản biến đổi khí hậu và tình hình phát triển hệ thống đập thủy điện của các quốc gia thượng nguồn sông Mêkông, rõ ràng những gì đang diễn ra tại ĐBSCL chắc chắn sẽ còn lặp lại, việc tiếp tục hướng theo mục tiêu “an ninh lương thực” và làm sao có thể trồng được càng nhiều lúa mà không nghĩ đến những tác động của biến đổi khí hậu và những lợi ích mà người nông dân bị mất vì phải bám theo việc trồng lúa có giá trị thấp sẽ không còn phù hợp và khả thi trong tương lai ở khu vực này

LMN được xem là một hệ thống canh tác thân thiện với môi trường và phù hợp với việc ứng phó hiện tượng biến đổi khí hậu ở ĐBSCL Theo Võ Tòng Xuân (1975), trước năm

1975 LMN từng là một trong những giống lúa phổ biến của vùng ĐBSCL, được trồng

Trang 16

chủ yếu ở vùng ngập lũ Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp mười Kỹ thuật canh tác LMN rất thân thiện với môi trường do không cần sử dụng phân thuốc, hàng năm nước lũ tràn đồng mang lượng phù sa đủ bù đắp chất dinh dưỡng mà cây lúa đã lấy đi Ngoài ra, nước lũ còn rửa độc chất, rửa phèn, mặn ra khỏi vùng đất sản xuất và cung cấp một lượng lớn thủy sản cho người dân vùng ĐBSCL (Nguyễn Bảo Vệ, 2013)

Nhưng do phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên, thời gian sinh trưởng dài (khoảng

6 tháng), năng suất chỉ bằng một nửa (2-3 tấn/ha/năm) lúa thường (Nguyễn Bảo Vệ, 2013), giá cả lại bấp bênh hơn so với các loại lúa và hoa màu khác làm cho việc canh tác LMN không thật sự hấp dẫn người nông dân Từ đó, người trồng LMN dần chuyển sang các loại hình sản xuất khác mang lại thu nhập ổn định và ít phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên hơn Ngoài ra, việc phát triển hệ thống thủy lợi trồng lúa 2 vụ - 3 vụ/năm để đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực (Thủ tướng Chính phủ, 1996,1999), hàng loạt công trình

đê bao ngăn lũ đã được xây dựng (phụ lục 7) Tính đến năm 2012, hệ thống đê và bờ bao toàn vùng ĐBSCL có tổng chiều dài 13.000 km, trong đó có 7.000 km chống lũ tháng 8

để bảo vệ lúa Hè thu (Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, 2012) đã làm cho diện tích trồng LMN ngày càng giảm và có nguy cơ tuyệt chủng Theo số liệu thống kê năm 2012, tại tỉnh An Giang chỉ còn lại khoảng 50 ha trên địa bàn xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn (Biểu đồ 1.1)

Biểu đồ 1.1: Biến động diện tích LMN

Nguồn: Nguyễn Văn Kiền (2013)

Trang 17

Từ việc bị lãng quên và có nguy cơ tuyệt chủng, vào năm 2013 khi Tổ chức Hợp tác quốc tế Cộng hoà Liên bang Đức (GIZ) và UBND xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh

An Giang cùng nhau ký kết Chương trình bảo tồn hệ thống canh tác LMN – hoa màu trên diện tích 55,4 ha với sự tham gia của 19 hộ dân (UBND xã Vĩnh Phước, 2013), thì hình ảnh cây LMN một giống lúa sạch và tốt cho sức khỏe người tiêu dùng được nhiều người biết đến, giá trị cây lúa được nâng lên và cuộc sống người nông dân nơi đây bắt đầu có

sự chuyển đổi tích cực Bảo tồn vùng trồng LMN cũng chính là bảo tồn tính đa dạng sinh học vùng ĐBSCL, tạo không gian chứa lũ, giảm áp lực vỡ đê cũng như ứng phó với hiện tượng biến đổi khí hậu, là khu vực trú ẩn của nhiều loại cá nước ngọt, các loại chim và là nguồn cung cấp lương thực rất lớn cho sinh kế người dân khu vực này (Nguyễn Văn Kiền, 2013) Tuy nhiên, năm 2015 ĐBSCL không có mùa nước nổi (lũ rất nhỏ), người nông dân trồng LMN mất trắng nguồn thu nhập từ cây lúa và nguồn lợi thủy sản dẫn đến đời sống sinh kế gặp rất nhiều khó khăn

Vấn đề đặt ra là cần phải có nghiên cứu, đánh giá tác động của các cú sốc từ thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán, xâm ngập mặn đến sự thay đổi sinh kế của người nông dân như thế nào Những ảnh hưởng đến thu nhập, tiêu dùng và các giải pháp khắc phục, thích ứng mà người dân áp dụng, để có cơ sở đưa ra các khuyến nghị chính sách cho chính quyền địa phương nhằm đảm bảo sinh kế người dân trước các tác động bất thường của điều kiện thiên nhiên

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích những tác động của hiện tượng lũ không về đến thu nhập, chi tiêu dẫn đến sự thay đổi đời sống sinh kế người dân vùng trồng LMN, các giải pháp khắc phục, thích nghi, các khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính, nguồn vốn xã hội để chuyển đổi sinh kế

và vai trò các chính sách hiện tại của chính quyền địa phương đối với sinh kế của người dân trong vùng trồng LMN Qua kết quả phân tích và tổng hợp các ý kiến đa chiều, đề tài khuyến nghị các chính sách nhằm cải thiện đời sống sinh kế của người dân nơi đây trước

sự thay đổi bất thường của điều kiện thiên nhiên

Trang 18

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm ba nhóm LMN – hoa màu, Lúa 2 vụ và Loại hình khác (gồm các ngành nghề như dịch vụ, sửa chữa cơ khí, làm thuê, buôn bán tạp hóa và nước giải khát) tại xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tại xã Vĩnh Phước thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

1.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định tính trên cơ sở phỏng vấn các hộ dân tại địa bàn trồng LMN, các số liệu thứ cấp, sơ cấp và các tài liệu nghiên cứu khác dựa theo khung phân tích sinh kế DFID để tìm hiểu sinh kế của những người dân và đưa ra các khuyến nghị chính sách

Nguồn thông tin thứ cấp được thu thập từ những văn bản pháp lý, thông tin sơ cấp được thu thập bằng việc lập bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp các hộ dân vùng trồng LMN tại

xã Vĩnh Phước thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, các văn bản chính sách liên quan và các nghiên cứu khác

Trang 19

1.6 Kết cấu đề tài

Kết cấu luận văn bao gồm 5 chương, trong đó:

Chương 1: Giới thiệu bối cảnh chính sách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi chính sách, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chương 2: Trình bày khung phân tích và các nghiên cứu đi trước

Chương 3: Tổng quan chiến lược nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu để trả lời câu hỏi nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách

Trang 20

Chương 2

TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.1 Khung sinh kế bền vững của DFID

Khung phân tích của đề tài được áp dụng trên cơ sở chuyển thể từ khung sinh kế bền vững của cơ quan Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) để xem xét mối tương quan giữa bối cảnh dễ bị tổn thương của người nông dân do các cú sốc của điều kiện thiên nhiên, các chính sách hiện tại của chính quyền địa phương tác động đến đời sống sinh kế của người dân vùng trồng LMN như thế nào, bao gồm 5 vấn đề sau:

Sơ đồ 2.1: Khung phân tích sinh kế người dân vùng trồng LMN

Ghi chú:

H: Nguồn vốn con người S: Nguồn vốn xã hội N: Nguồn vốn tự nhiên P: Nguồn vốn vật chất F: Nguồn vốn tài chính

- Nâng cao khả năng thích ứng

- Đa dạng hóa sinh kế

P

F

Trang 21

2.1.1 Bối cảnh dễ bị tổn thương

Bối cảnh dễ bị tổn thương là các tình huống bất lợi đến từ môi trường bên ngoài, nó tác động vào cuộc sống của người dân mà họ không đủ khả năng kiểm soát được như các cú sốc về sức khoẻ, thiên tai, dịch bệnh, hạn hán, ngập mặn, lũ lụt hay các xu hướng thay đổi về môi trường sống, nguồn lực, công nghệ cũng như các thay đổi mang tính mùa vụ như giá nông sản, các cơ hội về nghề nghiệp…

Các cú sốc, đối với người nông dân xã Vĩnh Phước cú sốc lớn nhất là sự thay đổi bất

thường của điều kiện thiên nhiên, trong đó hiện tượng lũ lụt (lũ quá lớn) hay hạn hán (lũ

ít hoặc không có lũ) làm thiệt hại mùa màng của người nông dân, dẫn đến mất nguồn thu nhập, tác động rất lớn đến nguồn sinh kế của họ

Các xu hướng, lũ về chậm và ít hay việc tăng diện tích đê bao làm lúa vụ 3 trong những

năm gần đây làm suy giảm nguồn lợi thủy sản Tình trạng ngập mặn, hạn hán, thiếu nước ngọt cho tưới tiêu nông nghiệp là những khó khăn mà người nông dân phải đối diện

Tính mùa vụ, giá bán hàng hóa nông sản làm ra thấp và không ổn định (giá thấp vào mùa

thu hoạch, giá cao khi hàng hóa khan hiếm) Bên cạnh đó, tính mùa vụ sẽ tạo ra lao động nhàn rỗi vào những tháng không có mùa vụ và thiếu lao động nông nghiệp khi vào mùa

vụ thu hoạch chính

2.1.2 Các tài sản, nguồn vốn sinh kế

Các tài sản, nguồn vốn sinh kế bao gồm 5 nhóm tài sản là nguồn vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội mà các hộ gia đình sử dụng để kiếm sống nhằm đảm bảo đời sống sinh kế hay giảm nghèo

Nguồn vốn con người là các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm mà mỗi người tự tích luỹ

được trong cuộc sống thông quá trình học tập, lao động, rèn luyện để tạo ra các khả năng

và sức khoẻ tốt giúp con người theo đuổi các sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế của mình

Trang 22

Nguồn vốn tự nhiên bao gồm tất cả các yếu tố thuộc về tài sản thiên nhiên phục vụ cho

các hoạt động sản xuất kinh doanh, phục vụ cho nhu cầu sinh kế của người dân Có rất nhiều nguồn vốn tự nhiên như đất đai, nguồn nước, rừng, biển, chất lượng không khí, động thực vật… Đời sống sinh kế của người dân nghèo thường phụ thuộc rất nhiều vào

tự nhiên, họ thường bị động và phản ứng yếu ớt trước các cú sốc của các hiện tượng tự nhiên như biến đổi khí hậu, sự cạn kiệt nguồn tài nguyên hay các dịch bệnh xảy ra

Nguồn vốn vật chất bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, chợ,

các khu vui chơi giải trí, hệ thống viễn thông, xử lý chất thải, năng lượng, thiết bị công

cụ sản xuất, giống cây trồng và các hàng hoá, phương tiện phục vụ nhu cầu sinh kế cho người dân như xe cộ, máy móc thiết bị, cây giống, con giống, các phương tiện phục vụ mua bán kinh doanh nhỏ

Nguồn vốn tài chính bao gồm các tài sản lưu động như tiền, các khoản gửi tiết kiệm, trợ

cấp hay vốn vay và các khoản tương đương tiền có thể chuyển đổi thành tiền mặt để phục

vụ mục tiêu sinh kế của người dân

Nguồn vốn xã hội là các mối quan hệ được hình thành trong quá trình học tập, làm việc,

mua bán kinh doanh, nó dựa trên niềm tin, sự hiểu biết và phụ thuộc lẫn nhau Từ đó, hình thành các tổ hợp tác, mạng lưới, hiệp hội… để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ tài chính cho các thành viên gặp khó khăn mà các hộ gia đình có thể sử dụng để phục

vụ cho mưu cầu sinh kế của mình

2.1.3 Chính sách của chính quyền

Các quy định của pháp luật được cụ thể hoá thành luật, nghị định, thông tư, các chính sách, chương trình, kế hoạch hành động của các cấp chính quyền địa phương

2.1.4 Các chiến lược lựa chọn sinh kế

Là những kế hoạch làm việc trong ngắn và dài hạn gắn với nguồn tài nguyên thiên nhiên

mà các hộ gia đình có thể lựa chọn nhằm đạt được các mục tiêu sinh kế của mình, bao

Trang 23

gồm các hoạt động sản xuất, các chiến lược đầu tư, tái đầu tư mà người dân phải thích nghi khi xảy ra các cú sốc

2.1.5 Kết quả sinh kế và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố đến kết quả sinh kế bền vững

Nhìn từ khung phân tích sinh kế người dân vùng trồng LMN (Hình 2.1) ta thấy, nếu tiếp cận theo hướng từ phải sang trái, để đạt các kết quả sinh kế như tăng cơ hội nghề nghiệp, cuộc sống ổn định hơn và nâng cao khả năng thích ứng cần phải xây dựng các chiến lược sinh kế bao gồm nhiều hoạt động và phương pháp thực hiện khác nhau Các chiến lược này được thực hiện dựa vào khả năng tiếp cận các loại nguồn vốn của người dân địa phương cũng như những chính sách hiện hành của các cấp chính quyền trong việc ứng phó với hiện tượng biến đổi khí hậu như thế nào Trong đó, ảnh hưởng của các nguồn vốn tiếp cận như vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội sẽ tác động đến kết quả sinh kế của các hộ dân trong việc ứng phó với các cú sốc của điều kiện thiên nhiên

2.2 Các nghiên cứu liên quan

Nghiên cứu hiện tượng lũ bất thường (lũ rất nhỏ/không có lũ) tác động như thế nào đến thu nhập, chi tiêu dẫn đến sự thay đổi đời sống sinh kế người dân vùng trồng LMN, các giải pháp mà người dân áp dụng để khắc phục hay thích nghi, các khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính, nguồn vốn xã hội để ứng phó với các cú sốc là một nghiên cứu mới

Do đó, việc xem xét các nghiên cứu đi trước để có cái nhìn tổng quan về sinh kế của người dân nơi đây trước hiện tượng bất thường của điều kiện thiên nhiên là rất cần thiết

Nghiên cứu của nhóm CIEM (MPI), IPSARD (MARD) và DERG (DoC) (2011) về “Các

cú sốc thu nhập và các chiến lược thích ứng với rủi ro của hộ gia đình: Vai trò của bảo hiểm chính thức ở nông thôn Việt Nam” Bài viết cho rằng, các cú sốc mang tính hiệp

biến về mặt không gian (lũ lụt, hạn hán) khó bảo hiểm và phòng ngừa hơn các cú sốc mang tính đặc trưng (bệnh, chết), nó không đo lường trước được nên không có kế hoạch

để ứng phó Để ứng phó với các cú sốc tiêu cực về thu nhập, các hộ dân thực hiện cơ chế

Trang 24

điều chỉnh tiêu dùng bằng cách sử dụng các khoản tiết kiệm dự phòng, bán tài sản dự trữ

có tính thanh khoản hay tăng sự vay mượn để đối phó với các cú sốc Nghiên cứu chỉ ra rằng, các cơ quan hoạch định chính sách có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường pháp lý cạnh tranh và minh bạch nhằm khuyến khích khu vực tư nhân tham gia cung cấp bảo hiểm, người dân hiểu và mua bảo hiểm nông nghiệp Đây là biện pháp tăng phúc lợi trong dài hạn cho người nông dân, giúp họ tăng tiêu dùng và đầu tư cho hoạt động sản xuất nhiều hơn Tuy nhiên, trong ngắn hạn cần có các chương trình đào tạo nghề, hướng nghiệp, hỗ trợ khuyến nông, tiếp cận nguồn vốn để giúp họ vượt qua các cú sốc

Theo tài liệu nghiên cứu của Tổ chức Liên Hợp quốc tại Việt Nam (2012) về “Giảm

nghèo bền vững và quản lý rủi ro do thảm họa thiên nhiên ở khu vực Duyên hải Miền Trung: Bài học rút ra và chính sách gợi ý” Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù có nhiều

sáng kiến quản lý rủi ro thiên tai mang lại kết quả cụ thể, nhưng do cộng đồng không phải là chủ các dự án này hoặc không trực tiếp tham gia giai đoạn lập kế hoạch và thực hiện dự án, nên các dự án này thiếu tính bền vững Để giảm thiểu rủi ro của các thảm họa, cần phải đặt con người vào trung tâm của quá trình ra quyết định và họ phải tham gia chủ động trong sự phát triển của chính mình Nghiên cứu cũng cho rằng, cần có một

hệ thống bảo trợ có khả năng thích ứng, toàn diện và tổng thể như các dịch vụ xã hội cơ bản, bảo hiểm, tiếp cận tín dụng, các chương trình công cộng để giảm tính dễ bị tổn thương và tăng khả năng chống chọi một cách hiệu quả với các cú sốc do bất kể nguyên nhân gì

Nghiên cứu về “Tính tổn thương sinh kế nông hộ bị ảnh hưởng lũ tại tỉnh An Giang và

các giải pháp ứng phó” của Nguyễn Duy Cần và đ.t.g (2012) cho rằng dù lũ là một hiện

tượng thiên nhiên và người dân biết được điều này, nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng ứng phó của người dân còn rất hạn chế Sinh kế nông hộ rất dễ bị tổn thương do phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên và do tự nhiên quyết định, nó ngày càng nghiêm trọng hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tần suất xuất hiện lũ lớn ngày càng nhiều và khó dự đoán Nghiên cứu cho rằng, những giải pháp dựa trên cộng đồng được đánh giá rất cao trong quá trình ứng phó và phục hồi sau lũ Nghiên cứu đề xuất, cần tạo công ăn

Trang 25

việc làm tại chỗ cho người dân, hỗ trợ phương tiện đánh bắt và khai thác nguồn lợi tự nhiên cũng như phát triển các mô hình sản xuất hiệu quả trong mùa lũ

Nghiên cứu của Lê Hà Phương (2014) về “Đánh giá tác động và tính dễ tổn thương do

biến đổi đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” chỉ ra rằng, hiện tượng hạn hán, mưa lớn có tần suất xuất hiện

nhiều hơn các hiện tượng khác Trong đó, hạn hán là nguyên nhân gây tác hại nhiều nhất, sau đó đến lũ lụt và mưa lớn Để ứng phó, người dân áp dụng rất nhiều giải pháp khác nhau trong nuôi trồng thủy sản, canh tác nông nghiệp, chăn nuôi và đánh bắt thủy sản để thích ứng với các điều kiện canh tác hiện tại Họ vận dụng các kiến thức, kinh nghiệm bản địa trong dự báo thời tiết nhằm làm giảm thiệt hại cho các hoạt động sản xuất hàng ngày Tuy nhiên, do khả năng tiếp cận các loại nguồn vốn thấp, nên không đủ cho việc khắc phục các thiệt hại do thủy tai

Kết quả nghiên cứu của Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng (2015) về “Các yếu tố ảnh

hưởng đến kết quả sinh kế nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long” cho rằng, đa dạng hóa

sinh kế nông hộ là một trong những cách ứng phó với sự gia tăng các hiểm họa tự nhiên

và các biến động kinh tế xã hội Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc đa dạng hóa sinh kế sẽ làm cho cuộc sống người dân tốt hơn trước các hiểm họa đến từ tự nhiên Tuy nhiên, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vốn con người, vật chất, xã hội và tài chính Nghiên cứu đề cao vai trò chất lượng nguồn lao động và xem nó là động lực tích cực giúp người dân tham gia vào các hoạt động tạo thu nhập trong lĩnh nông nghiệp, đặc biệt là phi nông nghiệp để cải thiện nguồn thu nhập

Dựa vào những nghiên cứu trên, đề tài tiếp cận theo hướng phân tích tác động của hiện tượng không có lũ đến nguồn thu nhập của người dân vùng trồng LMN ở mức độ nào, những giải pháp mà các hộ dân áp dụng để ứng phó với cú sốc ra sao, khả năng tiếp cận các loại nguồn vốn của người dân và vai trò của chính sách hiện tại như thế nào trong việc đa dạng hóa đời sống sinh kế để ứng phó với các cú sốc đến từ thiên nhiên

Đầu tiên, trong bối cảnh hiện tượng hạn hán, lũ lụt có tần suất xuất hiện ngày càng nhiều

và khó dự đoán (Nguyễn Duy Cần và đ.t.g, 2012; Lê Hà Phương, 2014; nhóm CIEM

Trang 26

(MPI), IPSARD (MARD) và DERG (DoC), 2011), đề tài phân tích tác động của hiện tượng lũ không về làm thay đổi đời sống sinh kế của người dân như thế nào

Thứ hai, có nhiều giải pháp khác nhau được các hộ dân áp dụng để ứng phó với cú sốc tiêu cực về mặt thu nhập như sử dụng các khoản tiết kiệm dự phòng, bán tài sản có tính thanh khoản, tăng sự vay mượn (nhóm CIEM (MPI), IPSARD (MARD) và DERG (DoC), 2011) hay vận dụng kinh nghiệm bản địa để giảm thiệt hại trong hoạt động sản xuất (Lê Hà Phương, 2014) Trong đề tài này, tác giả xem xét ảnh hưởng các loại tài sản đến chiến lược thích nghi/ứng phó của người dân như thế nào, bao gồm các yếu tố như chuyển đổi nghề nghiệp, điều chỉnh tiêu dùng, tăng sự vay mượn, điều chỉnh lịch thời vụ hay tăng cường chăm sóc cây trồng để giảm thiệt hại

Thứ ba, nghiên cứu của Lê Hà Phương (2014), Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng (2015) cho rằng, do khả năng tiếp cận các loại nguồn vốn của người dân thấp nên không đủ cho việc khắc phục các thiệt hại và việc đa dạng hóa sinh kế của người dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vốn con người, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tài chính Do đó, chính sách đóng vai trò quan trọng giúp cải thiện các dịch vụ xã hội cơ bản, đào tạo nghề, khả năng tiếp cận tín dụng và các chương trình hỗ trợ công cộng nhằm giúp người dân giảm tổn thương và tăng khả năng chống chọi trước các cú sốc từ thiên nhiên (Tổ chức Liên Hợp quốc tại Việt Nam, 2012) Ở đây, đề tài xem xét đánh giá khả năng tiếp cận hay ảnh hưởng các loại nguồn vốn của người dân và vai trò của chính sách hiện hành như thế nào đến việc lựa chọn chiến lược sinh kế để ứng phó với cú sốc không có lũ

Phân tích của đề tài được mở rộng hơn trong việc xem xét đến việc xây dựng thương hiệu sản phẩm sinh thái LMN – hoa màu để tăng giá trị kinh tế và giúp người nông dân tăng nguồn thu nhập từ hoạt động bảo tồn vùng trồng LMN cũng như khả năng ứng phó, phục hồi và thích nghi của người dân theo những kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau để giảm những tác động bất lợi từ môi trường

Trang 27

Chương 3

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1 Chiến lược nghiên cứu

Chiến lược nghiên cứu bao gồm các bước sau: (1) Thu thập thông tin thứ cấp và khảo sát

sơ bộ để thiết kế bảng câu hỏi (2) Thiết kế bảng câu hỏi và lựa chọn phương thức khảo sát (3) Lấy mẫu và thu thập số liệu (4) Xử lý và phân tích số liệu

Sơ đồ 3.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tự thiết kế

Mục tiêu nghiên cứu Câu hỏi nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu đi trước

Nghiên cứu sơ bộ Thu thập số liệu

Phỏng vấn

hộ gia đình

Phỏng vấn chính quyền

Phỏng vấn chuyên gia, doanh nghiệp

- Số liệu từ UBND xã Vĩnh Phước, UBND huyện Tri Tôn

- Số liệu từ Sở NN&PTNT

- Số liệu từ Cục thống kế

Phân tích số liệu

Viết báo cáo

Bối cảnh nghiên cứu

Khảo sát sơ bộ Bảng câu hỏi chính thức

Trang 28

3.2 Thiết kế bảng câu hỏi

Bảng câu hỏi được thiết kế gồm bảy phần, liệt kê thông tin về các loại tài sản phục vụ sinh kế, các nguồn thu nhập, chi phí, các tổn thương do cú sốc không có lũ, các biện pháp

mà gia đình áp dụng để ứng phó, những khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình đa dạng hóa điều kiện sinh kế, các cú sốc mà họ gặp phải trong một vài năm gần đây hay dự định

kế hoạch sinh kế trong tương lai của người nông dân vùng trồng LMN (Phụ lục 21) Nội dung phỏng vấn dựa vào khung sinh kế bền vững DFID (1999), bảng câu hỏi khảo sát dựa vào bảng khung câu hỏi của Nguyễn Xuân Vinh (2014) và Tài liệu hướng dẫn Đánh giá rủi ro liên quan biến đổi khí hậu có sự tham gia của Tổ chức Phát triển Hà Lan (2013)

3.3 Cách thức chọn mẫu và thu thập số liệu

Với mục tiêu nghiên cứu là so sánh tác động của hiện tượng lũ không về đến thu nhập, chi tiêu dẫn đến sự thay đổi đời sống sinh kế người dân vùng trồng LMN, các biện pháp

mà những nhóm hộ này áp dụng nhằm làm giảm thiệt hại của hiện tượng này và những khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình thực hiện Qua đó, đề tài đánh giá một cách khách quan và khuyến nghị chính sách phù hợp cho người dân vùng trồng LMN

Dựa vào số liệu được cung cấp từ UBND xã Vĩnh Phước, tác giả lựa chọn ba nhóm hộ gia đình theo các tiêu chí như mức sống hộ gia đình, sinh kế tạo ra thu nhập chính và khu vực mà các hộ đang sinh sống Về mức sống hộ gia đình, lựa chọn theo ba nhóm hộ nghèo, cận nghèo và không nghèo Về sinh kế tạo ra thu nhập chính, do hạn chế về thời gian và kinh phí tác giả chỉ chọn ba nhóm đối tượng (LMN – hoa màu, Lúa 2 vụ, Loại hình khác bao gồm các ngành nghề như dịch vụ, sửa chữa cơ khí, làm thuê, buôn bán tạp hóa và nước giải khát) nằm trong đối tượng khảo sát Về khu vực các hộ đang sinh sống, được lựa chọn tại tất cả 4 ấp trong xã nhằm đảm bảo được tính đại diện của mẫu khảo sát Tổng số mẫu khảo sát gồm 57 hộ dân, chiếm 13% trên tổng thể 450 hộ dân (Bảng 3.1)

Trang 29

Bảng 3.1: Các tiêu chí lấy mẫu

Nguồn: Tổng thể từ UBND xã Vĩnh Phước, tác giả chọn mẫu

Sau khi khảo sát sơ bộ một số hộ dân, tham vấn ý kiến chính quyền địa phương và các chuyên gia để điều chỉnh bảng câu hỏi cho phù hợp với thực trạng khu vực nghiên cứu và chiến lược nghiên cứu Tác giả tiến hành thực hiện phỏng vấn sâu các hộ gia đình, mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 30 đến 60 phút dưới sự hướng dẫn và giới thiệu của Chủ tịch Hội Nông dân xã Vĩnh Phước nhằm tạo sự an tâm, tin tưởng và sự cởi mở hơn của hộ dân trong các cuộc trò chuyện

3.4 Phương pháp thu thập số liệu

Nguồn thông tin thứ cấp: các văn bản liên quan về LMN, các thông tin từ UBND xã Vĩnh Phước, UBND huyện Tri Tôn, Sở NN&PTNT, Cục Thống kê tỉnh An Giang, thông tin từ Internet

Trang 30

Nguồn thông tin sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp các hộ dân vùng trồng LMN tại xã Vĩnh Phước thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, những người liên quan như các chuyên gia nghiên cứu về LMN, một số doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, đại diện

Sở NN&PTNT tỉnh An Giang, phòng NN&PTNT huyện Tri Tôn, đại diện UBND xã Vĩnh Phước

3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Từ các số liệu thu thập, tổng hợp được từ điều tra, tác giả sẽ tiến hành xử lý bằng phần mềm Excel Tiếp theo sử dụng phương pháp phân tích định tính, phương pháp thống kê

mô tả, phương pháp phân tích so sánh từ số liệu đã xử lý để trả lời các câu hỏi nghiên

cứu

Trang 31

Chương 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại xã Vĩnh Phước thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, trước đây là vùng đất rừng tràm, nước phèn thuộc ấp vùng sâu của xã Ba Chúc (cũ) Vĩnh Phước là một xã mới được thành lập từ ngày 01/12/2003, trên cơ sở được chia tách ra từ

xã Ba Chúc (xã Vĩnh Phước và thị trấn Ba Chúc) (Phụ lục 1 và Phụ lục 2)

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Xã Vĩnh Phước nằm phía Tây Nam huyện Tri Tôn cách trung tâm huyện khoảng 16 km và cách Quốc lộ N1 theo hướng Đông Bắc khoảng 4 km

+ Phía Đông giáp thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn

+ Phía Tây giáp xã Vĩnh Phú, huyện Hà Giang, tỉnh Kiên Giang

+ Phía Nam giáp xã Lương Phi, huyện Tri Tôn

+ Phía Bắc giáp các xã Lạc Quới, Vĩnh Gia thuộc huyện Tri Tôn

- Hiện trạng sử dụng đất: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 5.437 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 95% với 5.167 ha

- Đặc điểm địa hình: Xã Vĩnh Phước mang đậm nét của vùng ĐBSCL, với 5 kênh rạch chính bao quanh gồm: Kênh Vĩnh Thành 2, Vĩnh Thành 3, Kênh Mới, Kênh T5 (hay Kênh Võ Văn Kiệt), Kênh T6 và 10 kênh sườn cung cấp nước phục vụ nước sản xuất nông nghiệp cho người dân trong xã

Địa hình thấp và trũng nên hầu hết bị ngập vào mùa nước lũ (khoảng từ tháng 8 đến tháng 11 dương lịch hàng năm) Với địa hình bằng thoải có độ dốc nhỏ hơn 5%, chiếm

Trang 32

95% diện tích đất tự nhiên (khoảng 5.167 ha) nên rất thuận tiện cho sản xuất nông

nghiệp

4.1.2 Đặc điểm dân số và sinh kế hộ gia đình

- Thành phần dân cư chủ yếu là người dân di cư từ những nơi khác đến sinh sống

- Dân số: Xã Vĩnh Phước có 4 ấp, với 450 hộ dân và 1.230 nhân khẩu, tổng số lực lượng lao động toàn xã chỉ có 834 người (chiếm khoảng 68% dân số)

Bảng 4.1: Số hộ dân sống tại xã Vĩnh Phước

Nguồn: UBND xã Vĩnh Phước (2015)

- Vĩnh Phước cũng được xem là xã trọng điểm sản xuất nông nghiệp của huyện Tri Tôn, với 96,5% người dân sống bằng nghề nông và lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Vĩnh Phước cũng là xã nghèo nhất của huyện, với tỷ lệ hộ nghèo lên đến 21,3% và số hộ cận nghèo là 13,4% tổng số hộ toàn xã (phụ lục 12) Nơi đây có điều kiện thuận lợi để trồng các loại lúa cao sản như: Jetmin, các giống lúa OM4218, OM4900, OM2517 và các giống cây hoa màu như: khoai lang Nhật, kiệu, dưa hấu, bí hồ lô, khoai mì… Ngoài ra, còn có điều kiện phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng như nuôi trồng thủy sản

4.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội

- Hệ thống đường giao thông nông thôn: Đến nay, xã Vĩnh Phước chỉ có một tuyến đường láng nhựa trên tuyến trục đường chính của trung tâm xã (26 km), các tuyến đường

từ các ấp Vĩnh Thành, Vĩnh Lợi và Vĩnh Lộc về trung tâm xã chỉ được đổ đá cấp phối với khoảng cách từ 5 – 20 km

- Hệ thống điện nông thôn: Có 434 hộ sử dụng điện lưới (96,4%), riêng điện chiếu sáng công cộng đã được thắp sáng trên tất cả các tuyến đường chính và tại trung tâm xã

- Hệ thống nước sạch: Đến nay, toàn xã có 96% số hộ dân sử dụng nước sạch hợp quy chuẩn vệ sinh

Trang 33

- Hệ thống thông tin liên lạc: Số hộ sử dụng điện thoại di động và cố định là 100%, sử dụng phương tiện nghe nhìn (tivi, radio) là 98%

- Y tế: Xã có một trung tâm y tế với 04 phòng bệnh, 01 phòng khám và 16 giường bệnh, với 01 bác sĩ, 04 dược sĩ và 02 điều dưỡng Trạm y tế xã cũng được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế

- Giáo dục: Hiện nay, xã chỉ có 01 trường tiểu học tại trung tâm UBND xã và một điểm phụ tại ấp Vĩnh Thành nơi có số hộ dân sinh sống nhiều nhất xã, 01 trường mầm non và một trung tâm học tập cộng đồng Ở các cấp học lớn hơn, các em học sinh phải di chuyển sang các xã lân cận để học, với khoảng cách từ 5 – 25 km

4.2 Giới thiệu về Lúa mùa nước nổi

4.2.1 Nguồn gốc Lúa mùa nước nổi

Vào những năm 70 của thế kỷ 20, LMN được trồng chủ yếu ở lưu vực sông Ganges – Brahmputra của Ấn Độ và Banglađec, đồng bằng Irrawaddy của Myanma, các nước hạ lưu sông Mêkông như Campuchia, Việt Nam, đồng bằng Chao Phraya của Thái Lan hay các nước vùng trung du sông Niger khu vực Tây Phi và là nguồn thực phẩm quan trọng của các khu vực này (David Catling, 1992, trích trong Hồ Thanh Bình và đ.t.g, 2014) Trước năm 1975, Việt Nam có khoảng 0,5 triệu ha LMN được trồng chủ yếu ở vùng ngập lũ Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp mười, riêng tại tỉnh An Giang có khoảng 0,25 triệu ha (Võ Tòng Xuân và Matsui, 1998, trích trong Nguyễn Văn Kiền, 2013) Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau như thời gian sinh trường dài, năng suất thấp, giá cả bấp bênh và phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện thiên nhiên hay do nhu cầu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia đã làm cho diện tích canh tác LMN ngày càng giảm dần và có nguy cơ tuyệt chủng

4.2.2 Đặc điểm Lúa mùa nước nổi

Lý do giống lúa này được người nông dân gọi là lúa nổi hay lúa chạy nước vì giống lúa

có đặc tính vươn lóng, thân dài ra khi nước lũ dâng cao Không giống như lúa thường đẻ

Trang 34

nhánh ở gốc, LMN có khả năng đẻ nhánh ở các mắc lóng và các nhánh con vươn dài phát triển theo nước lũ (Lê Thanh Phong và Lê Hữu Phước, 2015, tr 9-10)

Kỹ thuật canh tác LMN khá đơn giản, vào đầu mùa mưa (khoảng tháng 5 âm lịch) nông dân làm đất và sạ lúa giống Khi mưa xuống, cây lúa nẩy mầm và phát triển, giai đoạn này sự tăng trưởng của cây lúa phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa cho đến khi nước lũ lên (khoảng giữa tháng 8 âm lịch) Khi ngập trong nước lũ, đây là thời kỳ tăng trưởng chính của cây LMN, giai đoạn này các mắc lóng và nhánh con tăng trưởng rất nhanh để đối phó với mực nước lũ dâng lên Khi nước lũ rút xuống (khoảng tháng 11 âm lịch) cây lúa nằm phẳng trên đất cũng là lúc vào mùa thu hoạch Do đó, việc canh tác LMN chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nên năm nào lũ lớn cây lúa có khả năng bị chìm trong lũ (do vươn lóng không kịp) hay hạn hán cây lúa sẽ bị chuột cắn phá thì người nông dân sẽ mất mùa

Trồng LMN người nông dân tốn rất ít công chăm sóc, sau khi gieo giống thường không

sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, không bơm tưới nước nên tốn rất ít chi phí Nhưng bù lại, LMN có năng suất thấp hơn (2 – 3 tấn/ha) và có thời gian sinh trưởng dài hơn (khoảng 6 tháng) lúa thường

Sinh kế của người dân vùng trồng LMN, ngoài nguồn thu nhập chính từ hoa màu và LMN, người nông dân còn có thể đi làm thuê, đánh bắt thủy sản (sau khi sạ lúa) để tạo thêm thu nhập cho gia đình vào những tháng nước lũ

4.3 Chính sách hiện hành có liên quan đến sinh kế vùng trồng Lúa mùa nước nổi

4.3.1 Chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu

Theo Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu (Thủ tướng Chính phủ, 2011) việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ĐBSCL phải phù hợp với biến đổi khí hậu, đặc biệt quan tâm đến tình trạng bão, lũ lụt, xâm ngập mặn, hạn hán, mất đất, suy thoái môi trường Trong đó, tập trung xây dựng và hiện đại hóa hệ thống giám sát để chủ động ứng phó và giảm thiệt hại do rủi ro thiên tai, nghiên cứu chuyển đổi cây trồng phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu và đặc điểm địa phương, bảo tồn đa dạng hóa sinh học

Trang 35

và phát triển các hệ sinh thái có sức chống chọi tốt với biến đổi khí hậu, tăng cường năng lực và sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu Năm 2013, UBND tỉnh An Giang ban hành Kế hoạch hành động chi tiết ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó tập trung vào 08 ngành và lĩnh vực là tài nguyên đất, tài nguyên nước, nông nghiệp, tai biến địa chất và phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, giao thông – vận tải, xây dựng và môi trường trong từng giai đoạn để tập trung đánh giá tác động của biến đổi khí hậu Từ đó, xây dựng chương trình hành động có tính khả thi ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh

4.3.2 Chính sách khắc phục hậu quả hạn hán, xâm ngập mặn

Năm 2016, Chính phủ quyết định hỗ trợ khắc phục hậu quả hạn hán, xâm ngập mặn vụ

Hè Thu 2015 và Đông Xuân 2015 - 2016 cho các tỉnh thành có diện tích đất lúa bị thiệt hại, trong đó tỉnh An Giang nhận được 26,3 tỷ đồng Chính phủ yêu cầu các tỉnh chủ động phân bổ nguồn vốn được hỗ trợ và thực hiện có hiệu quả việc khắc phục hậu quả hạn hán và xâm ngập mặn

Hiện tại, tỉnh An Giang đã có quyết định phân bổ số tiền trên để đầu tư cung cấp nước sạch sinh hoạt cho ba huyện miền núi Tri Tôn, Tịnh Biên và Thoại Sơn, hỗ trợ hai huyện Tri Tôn và Thoại Sơn đắp đê tạm ngăn mặn Ngoài ra, UBND tỉnh yêu cầu các huyện đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình thủy lợi đã xuống cấp và hư hỏng, nhất là hệ

thống kênh mương nhằm đảm bảo đầy đủ lượng nước tưới cho cây trồng

4.3.3 Chính sách bảo tồn Lúa mùa nước nổi

Năm 2012, UBND tỉnh An Giang đồng ý chủ trương cho UBND huyện Tri Tôn chịu trách nhiệm xây dựng quy hoạch bảo tồn hệ thống canh tác LMN trình UBND tỉnh xem xét phê duyệt triển khai thực hiện, nhưng đến nay vẫn chưa xây dựng được dự án bảo tồn khả thi

Đến năm 2014, UBND huyện Tri Tôn chỉ mới lập được kế hoạch bảo tồn hệ thống canh tác LMN – màu giai đoạn 2014 – 2016 và định hướng đến năm 2020 Tuy nhiên, kế

Trang 36

hoạch lại không đề cập đến nguồn kinh phí thực hiện, một yếu tố quan trọng quyết định

sự thành công của việc bảo tồn

Hiện tại, theo kế hoạch bảo tồn hệ thống canh tác LMN – hoa màu của xã Vĩnh Phước với sự tham gia của 19 hộ nông dân trên diện tích 55,4 ha nhằm mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên thích ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu Trong đó, hàng năm các hộ dân này sẽ nhận được sự hỗ trợ kinh phí nguyên vật liệu cho LMN và hoa màu (Phụ lục 11), hỗ trợ xây dựng và quảng bá hình ảnh LMN – hoa màu sạch, tổ chức các hội thảo doanh nghiệp tìm đầu ra cho sản phẩm (từ GIZ) Nhận các hỗ trợ về kỹ thuật canh tác, quản lý dịch bệnh trên cây LMN – hoa màu, lai tạo chọn giống LMN thuần chủng, năng suất cao và chất lượng phù hợp với nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng (Trung tâm NC&PTNN) trong hai giai đoạn (giai đoạn 1: 2013 – 2016, giai đoạn 2: 2017 – 2020) Đến nay, thỏa thuận hỗ trợ kinh phí từ GIZ đã kết thúc giai đoạn 1, nhưng các bên vẫn chưa có kế hoạch hợp tác hỗ trợ cho giai đoạn tiếp theo

4.4 Các tài sản và nguồn vốn sinh kế

4.4.1 Nguồn vốn con người

Số lao động chính và số người phụ thuộc của hộ gia đình: Kết quả khảo sát cho thấy,

nhóm LMN – hoa màu có quy mô hộ ở mức trung bình so với các nhóm khác (4,16 so với 4,53 người nhóm Lúa 2 vụ và 3,47 người nhóm Loại hình khác) Số thành viên tham gia lao động chính cũng ở mức trung bình (2,63 so với 3,05 người nhóm Lúa 2 vụ và 2,21 người nhóm Loại hình khác) Tuy nhiên, tỷ lệ số người phụ thuộc nhóm LMN – hoa màu và nhóm Loại hình khác cao hơn nhóm Lúa 2 vụ (1,53/2,63 và 1,53/2,21 so với 1,47/3,05), cứ hai lao động chính thì có một người phụ thuộc so với ba lao động chính có một người phụ thuộc của nhóm Lúa 2 vụ Cho thấy, nếu có cú sốc tác động đến đời sống sinh kế thì áp lực kinh tế sẽ đè nặng lên lực lượng lao động chính của nhóm LMN – hoa màu và Loại hình khác nhiều hơn (Bảng 4.2)

Trang 37

Bảng 4.2: Tỷ lệ thành viên bình quân theo nhóm hộ

Đơn vị tính: Người

viên

Số lao động chính

Số người phụ thuộc

Tỷ lệ người phụ thuộc

Nguồn: Kết quả khảo sát, điều tra

Lao động thiếu kỹ năng tay nghề: Theo kết quả khảo sát, nhóm LMN – hoa màu có

37% số hộ tham gia các khóa tập huấn, đào tạo kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi nhưng không hộ nào có thể thực hiện được do thiếu vốn đầu tư Nhóm Lúa 2 vụ, có 21% số hộ

đã qua đào tạo, nhưng do chính họ tự đầu tư cho con, em của mình Nhóm Loại hình khác, do nhiều hộ gia đình có đời sống sinh kế dựa vào cung cấp các dịch vụ nông nghiệp và sửa chữa cơ khí, nên có tỷ lệ tham gia các lớp đào tạo nghề cao hơn (47%)

Tỷ lệ trẻ em đến trường và số trẻ nghỉ học: Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường không

có mức chênh lệch giữa các nhóm (1,26 so với 1,16 và 1,21 trẻ), nhưng tỷ lệ trẻ nghỉ học sớm của nhóm LMN – hoa màu và nhóm Loại hình khác cao hơn nhiều so với nhóm Lúa

2 vụ (0,26 và 0,32 so với 0,05 trẻ) Trong khi, nguyên nhân điều kiện gia đình khó khăn

là lý do nhóm LMN – hoa màu (80%) và nhóm Loại hình khác (50%) cho trẻ nghỉ học sớm để phụ giúp gia đình, thì lý do trẻ không muốn đi học là nguyên nhân chính của nhóm Lúa 2 vụ (100%) (Bảng 4.3)

Trang 38

Bảng 4.3: Tỷ lệ trẻ em nghỉ học sớm bình quân theo nhóm hộ

Đơn vị tính: Người

Nội dung

Số trẻ trong độ tuổi đến trường

Số trẻ

đi học

Số trẻ nghỉ học

Lý do trẻ nghỉ học

Tỷ lệ trẻ nghỉ học sớm

Điều kiện gia đình khó khăn

Trẻ không muốn đi học

Sức khỏe không đảm bảo

cơ khí (78%), làm thuê nông nghiệp (17%) và đánh bắt thủy sản mùa nước nổi (4%) (Biểu đồ 4.1)

Do nguồn thu nhập chủ yếu phụ thuộc vào nguồn vốn tự nhiên, nên khi cú sốc hạn hán, không có lũ xảy ra thì nguồn thu nhập từ lúa ngắn ngày, hoa màu đều bị ảnh hưởng, còn nguồn thu nhập từ LMN và đánh bắt thủy sản của các hộ dân gần như mất trắng

Trang 39

Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ thu nhập bình quân theo nhóm hộ

Nguồn: Kết quả khảo sát, điều tra

Địa bàn xã vĩnh Phước trước đây là khu vực rừng tràm, nước phèn nên nguồn gốc hình thành đất sản xuất hiện tại là do người dân địa phương hoặc từ nơi khác vào đây khai hoang năm 2000 Đến nay, đất sản xuất của nhóm LMN – hoa màu vẫn chưa có giấy xác định quyền sở hữu (giấy đỏ) Trong khi, Nhóm Lúa 2 vụ ngoài việc có tỷ lệ sở hữu đất cao hơn các nhóm khác (81% so với 52% và 0%), thì đất sản xuất của nhóm này cũng được cấp giấy tờ đất hợp lệ (Biểu đồ 4.2)

Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ sở hữu đất sản xuất (m 2 ) bình quân theo nhóm hộ

Nguồn: Kết quả khảo sát, điều tra

0% 0% 1%

4%

17%

0% 78%

Trang 40

4.4.3 Nguồn vốn vật chất

Nhà ở: Kết quả khảo sát cho thấy, 37% số hộ nhóm LMN – hoa màu vẫn sống trong các

ngôi nhà tạm, 63% sống ở các ngôi nhà bán kiên cố Số hộ ở nhà tạm của nhóm Lúa 2 vụ

là 16%, còn lại 16% ở nhà kiên cố và 68% ở nhà bán kiên cố Nhóm Loại hình khác có nhà ở ổn định hơn, 21% sống trong các ngôi nhà kiên cố và 79% ở nhà bán kiên cố (Biểu

đồ 4.3)

Biểu đồ 4.3: Hiện trạng nhà ở theo nhóm

Nguồn: Kết quả khảo sát, điều tra

Do Vĩnh Phước là xã mới thành lập, các ngôi nhà chủ yếu được xây dựng trên bờ kênh cạnh những thửa ruộng của họ và các tuyến dân cư mới, nên 100% các hộ gia đình đến nay vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (sổ đỏ), cho thấy cuộc sống khó khăn và thiếu thốn về vật chất của khu vực này

Tài sản phục vụ sinh hoạt: Phương tiện sinh hoạt sử dụng phổ biến nhất của người dân

trong vùng là điện thoại di động (100%) và xe máy (100%), các tài sản sinh hoạt thông dụng khác thì hai nhóm Lúa 2 vụ và Loại hình khác đều có tỷ lệ sử dụng cao hơn (Biểu

Ngày đăng: 13/03/2017, 13:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Khung phân tích sinh kế người dân vùng trồng LMN - Cải thiện sinh kế người dân vùng trồng lúa mùa nổi trước sự thay đổi điều kiện thiên nhiên  trường hợp tại xã vĩnh phước, huyện tri tôn, tỉnh an giang
Sơ đồ 2.1 Khung phân tích sinh kế người dân vùng trồng LMN (Trang 20)
Sơ đồ 3.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu - Cải thiện sinh kế người dân vùng trồng lúa mùa nổi trước sự thay đổi điều kiện thiên nhiên  trường hợp tại xã vĩnh phước, huyện tri tôn, tỉnh an giang
Sơ đồ 3.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu (Trang 27)
Bảng 3.1: Các tiêu chí lấy mẫu - Cải thiện sinh kế người dân vùng trồng lúa mùa nổi trước sự thay đổi điều kiện thiên nhiên  trường hợp tại xã vĩnh phước, huyện tri tôn, tỉnh an giang
Bảng 3.1 Các tiêu chí lấy mẫu (Trang 29)
Bảng 4.1: Số hộ dân sống tại xã Vĩnh Phước  Vĩnh Thành  Vĩnh Lộc  An Phước  Vĩnh Lợi  Toàn xã - Cải thiện sinh kế người dân vùng trồng lúa mùa nổi trước sự thay đổi điều kiện thiên nhiên  trường hợp tại xã vĩnh phước, huyện tri tôn, tỉnh an giang
Bảng 4.1 Số hộ dân sống tại xã Vĩnh Phước Vĩnh Thành Vĩnh Lộc An Phước Vĩnh Lợi Toàn xã (Trang 32)
Bảng 4.2: Tỷ lệ thành viên bình quân theo nhóm hộ - Cải thiện sinh kế người dân vùng trồng lúa mùa nổi trước sự thay đổi điều kiện thiên nhiên  trường hợp tại xã vĩnh phước, huyện tri tôn, tỉnh an giang
Bảng 4.2 Tỷ lệ thành viên bình quân theo nhóm hộ (Trang 37)
Bảng 4.3: Tỷ lệ trẻ em nghỉ học sớm bình quân theo nhóm hộ - Cải thiện sinh kế người dân vùng trồng lúa mùa nổi trước sự thay đổi điều kiện thiên nhiên  trường hợp tại xã vĩnh phước, huyện tri tôn, tỉnh an giang
Bảng 4.3 Tỷ lệ trẻ em nghỉ học sớm bình quân theo nhóm hộ (Trang 38)
Sơ đồ 4.1: Mạng lưới hoạt động các ngành nghề tại xã Vĩnh Phước - Cải thiện sinh kế người dân vùng trồng lúa mùa nổi trước sự thay đổi điều kiện thiên nhiên  trường hợp tại xã vĩnh phước, huyện tri tôn, tỉnh an giang
Sơ đồ 4.1 Mạng lưới hoạt động các ngành nghề tại xã Vĩnh Phước (Trang 45)
Bảng 4.4: Lịch thời vụ khu vực trồng LMN (tính theo lịch âm) - Cải thiện sinh kế người dân vùng trồng lúa mùa nổi trước sự thay đổi điều kiện thiên nhiên  trường hợp tại xã vĩnh phước, huyện tri tôn, tỉnh an giang
Bảng 4.4 Lịch thời vụ khu vực trồng LMN (tính theo lịch âm) (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm