1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự thay đổi giá trị nhãn hiệu sau thương vụ ma nghiên cứu trường hợp điển hình vinacafe biên hòa

99 378 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả của đề tài nghiên cứu so sánh giá trị nhãn hiệu Vinacafé Biên Hoà trước và sau thương vụ M&A để thấy được ảnh hưởng của hoạt động này tới nhãn hiệu để từ đó đề xuất khuyến nghị c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- -

CAO ĐÌNH TRỌNG

SỰ THAY ĐỔI GIÁ TRỊ NHÃN HIỆU SAU THƯƠNG VỤ M&A – NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH VINACAFÉ

BIÊN HÒA

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- -

CAO ĐÌNH TRỌNG

SỰ THAY ĐỔI GIÁ TRỊ NHÃN HIỆU

SAU THƯƠNG VỤ M&A – NGHIÊN CỨU

TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH VINACAFÉ

BIÊN HÒA.

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển (Thẩm định giá)

Mã số: 60310105

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN VĂN SĨ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Sự thay đổi giá trị nhãn hiệu sau thương vụ

M&A - Nghiên cứu trường hợp điển hình Vinacafé Biên Hòa” là công trình do

chính tôi nghiên cứu và được sự hướng dẫn của PGS,TS Nguyễn Văn Sĩ Các

thông tin và số liệu sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc trung thực và được ghi chú rõ ràng

TP Hồ Chí Minh, Ngày 31 tháng 08 năm 2016

Tác giả luận văn

Cao Đình Trọng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

1.5 Ý nghĩa của đề tài 2

1.6 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG M&A VÀ THẨM ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU 4

2.1 Tổng quan về nhãn hiệu 4

2.1.1 Khái niệm nhãn hiệu 4

2.1.2 Phân loại nhãn hiệu 6

2.1.3 Chức năng của nhãn hiệu 7

2.1.4 Đặc điểm của nhãn hiệu 7

2.2 Cơ sở lý luận về thẩm định giá nhãn hiệu 8

2.2.1 Khái niệm thẩm định giá nhãn hiệu 8

2.2.2 Mục đích, ý nghĩa của việc thẩm định giá nhãn hiệu 8

2.2.3 Cơ sở thẩm định giá nhãn hiệu 9

2.2.4 Các nguyên tắc thẩm định giá nhãn hiệu 12

2.2.5 Các cách tiếp cận trong thẩm định giá nhãn hiệu 15

2.3 Tổng quan về hoạt động M&A 24

2.3.1 Khái niệm về hoạt động M&A 24

2.3.2 Mục đích của hoạt động M&A 25

2.3.3 Phân loại hoạt động M&A 25

2.3.4 Quy trình một hoạt động M&A 26

2.3.5 Các động cơ thúc đẩy hoạt động M&A 27

2.4 Các nghiên cứu trước đây về hoạt động M&A 28

2.4.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 28

Trang 5

2.4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 31

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Phương pháp nghiên cứu 33

3.2 Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu 33

3.3 Kiểm định dữ liệu 35

3.4 Mô hình định giá nhãn hiệu dựa vào phương pháp tỷ số tài chính của Damodaran 35

CHƯƠNG 4 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

4.1 Tổng quan về công ty cổ phần Vinacafé Biên Hòa 37

4.1.1 Giới thiệu chung về công ty 37

4.1.2 Tóm tắt lịch sử hình thành và quá trình phát triển 37

4.1.3 Vị thế của công ty trong ngành 39

4.1.4 Chiến lược đầu tư và phát triển của công ty 41

4.2 Giá trị nhãn hiệu Vinacafé Biên Hòa trong thương vụ M&A 42

4.2.1 Thực trạng hoạt động M&A tại Việt Nam trong thời gian qua 42

4.2.2 Sơ lược về thương vụ M&A của công ty Cổ phần Vinacafé Biên Hòa 47

4.3 Thẩm định giá nhãn hiệu Vinacafé Biên Hòa sau thương vụ M&A 49

4.3.1 Những vấn đề về thẩm định giá nhãn hiệu Vinacafé Biên Hòa 49

4.3.2 Một số hạn chế: 54

4.4 Phân tích sự thay đổi giá trị nhãn hiệu Vinacafé Biên Hòa sau thương vụ M&A 56

4.4.1 Về cộng hưởng hoạt động 56

4.4.2 Về cộng hưởng tài chính 58

CHƯƠNG 5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 60

5.1 Định hướng phát triển Vinacafé Biên Hòa 60

5.2 Một số giải pháp 62

5.2.1 Giải pháp liên quan về nhãn hiệu và hoạt động thẩm định giá nhãn hiệu trong thương vụ M&A 62

5.2.2 Giải pháp hỗ trợ 63

KẾT LUẬN 66

DANH MỤC T I IỆU THAM HẢO 68

Trang 6

RIR : Reinves (Tỷ lệ tái đầu tư)

ROC : Return On Capital (Suất sinh lợi trên vốn)

Trang 7

Bảng 3: Xác định lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) (2010 – 2013)

Bảng 4: Bảng xác định suất sinh lợi trên vốn (ROC)

Bảng 4.3: Bảng thông số của mô hình suất sinh lợi vượt trội của Damodaran

Bảng 5: Bảng xác định tỷ lệ tái đầu tư (RIR)

Bảng 6: Bảng tính chi phí lãi vay

Bảng 7: Bảng dữ liệu cơ cấu nợ vay và vốn chủ sở hữu

Bảng 8: Tỷ số D/E ngành giai đoạn 2008 – 2011

Bảng 9: Suất sinh lợi VN-index lịch sử (2001 – 2013)

Bảng 10: Lợi suất trung bình TPCP kỳ hạn 2 năm (giai đoạn 2001 – 2013)

Bảng 11: Bảng thông tin hệ số beta ngành chế biến thực phẩm trên thị trường Mỹ Bảng 12: Chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền (WACC)

Bảng 13: Số liệu lịch sử về suất sinh lợi của chỉ số cổ phiếu, tín phiếu (1 năm) và trái phiếu (10 năm) Kho bạc Hoa Kỳ, 2004 – 2013

Bảng 14: Bảng xếp hạng hạn mức tín nhiệm của tổ chức Moody’s năm 2013

Bảng 15: Bảng lãi suất tiền gửi có kỳ hạn ngân hàng BIDV tại ngày 18/03/2014

Bảng 16: Bảng tổng hợp số liệu đầu vào

Bảng 17: Bảng tính giá trị doanh nghiệp khi có lợi nhuận vượt trội

Bảng 18: Bảng tính giá trị doanh nghiệp khi không có lợi nhuận vượt trội

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Khoản mục tài sản vô hình ghi nhận giá trị nhãn hiệu Vinacafé Biên Hòa khi tham gia M&A

Trang 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ T I

1.1 Lý do chọn đề tài

Sáp nhập và mua lại (Mergers and Acquisitions: viết tắt là M&A) là một trong những hoạt động đặc trưng và ngày càng phổ biến trong bối cảnh khủng hoảng, cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế toàn cầu Không chỉ xuất hiện và hoạt động mạnh mẽ trên thế giới, M&A đang dần khẳng định mình trong nền kinh tế Việt Nam Thị trường giao dịch M&A tại Việt Nam tuy còn non trẻ, tuy nhiên với mức

độ thị trường hiện nay, hình thức pháp lý (khung pháp lý) để các giao dịch này được triển khai về cơ bản đã đầy đủ Hoạt động M&A có tác động hai mặt đến đời sống doanh nghiệp và xã hội, nó có thể tạo ra làn sóng tái cấu trúc doanh nghiệp và nền kinh tế, góp phần cải thiện cơ cấu và độ mở, sự gắn kết và khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu của mỗi doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung Với doanh nghiệp thuộc đối tượng mua bán, sáp nhập, có thể là khởi đầu một chu

kỳ phát triển mới hoặc dấu chấm hết cho một doanh nghiệp Đối với những doanh nghiệp chủ động quá trình này, M&A có thể làm thay đổi cơ cấu sở hữu, quyền kiểm soát, điều hành, năng lực tài chính và quy mô kinh doanh, từ đó góp phần mở

ra những cơ hội kinh doanh mới, tăng cường vị thế cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh Xét trên phương diện tổng thể, các thương vụ M&A luôn có ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trị của doanh nghiệp tham gia theo hướng tích cực hoặc ngược lại Giá trị tài sản của một doanh nghiệp bao gồm tài sản hữu hình và tài sản

vô hình, trong đó nhãn hiệu được coi là một tài sản vô hình có giá trị của doanh nghiệp Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ đều đặc biệt chú ý quan tâm làm sao cho nhãn hiệu của mình có chổ đứng vững chắc trong nền kinh tế Vậy, giá trị nhãn hiệu của một doanh nghiệp có sự thay đổi,

bị ảnh hưởng như thế nào sau khi thương vụ M&A xảy ra ? Để làm rõ vấn đề này,

tôi chọn đề tài: “Sự thay đổi giá trị nhãn hiệu sau thương vụ M&A – Nghiên

cứu trường hợp điển hình Vinacafé Biên Hoà” để thực hiện

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 9

Mục tiêu chính của đề tài nghiên cứu là xác định giá trị nhãn hiệu Vinacafé Biên Hoà sau thương vụ M&A Những ảnh hưởng của thương vụ M&A đến giá trị nhãn hiệu Vinacafé Biên Hoà Do vậy, mục tiêu nghiên cứu trọng tâm đặt ra là:

1 Xác định giá trị nhãn hiệu Vinacafé Biên Hòa sau thương vụ M&A

2 Phân tích sự thay đổi giá trị nhãn hiệu Vinacafé Biên Hòa sau thương vụ M&A

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nhãn hiệu Vinacafé Biên Hòa

 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu số liệu và dữ liệu của Công ty Cổ phần

Vinacafé Biên Hòa

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thông qua phương pháp phân tích tổng hợp các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Thu thập số liệu về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Vinacafé Biên Hoà Thu thập thông tin bằng khảo sát thực tế và tìm kiếm trên các website chứng khoán Sử dụng cách tiếp cận trong thẩm định giá nhãn hiệu để thẩm định giá nhãn hiệu sau thương vụ M&A (Đề tài nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận từ thu nhập, theo phương pháp dựa vào tỷ số tài chính của Damodaran, mô hình định giá dựa trên suất sinh lợi vượt trội, (chiết khấu

dòng tiền nhãn hiệu) để thẩm định giá nhãn hiệu Vinacafé Biên Hoà)

1.5 Ý nghĩa của đề tài

Hoạt động M&A là công cụ được đánh giá cao trong hoạt động tái cấu trúc doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian qua, qua đó tạo bước ngoặt thay đổi chiến lược hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như giá trị của công ty Nghiên cứu sự thay đổi giá trị nhãn hiệu sau thương vụ M&A, tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu nào xem xét cụ thể về ảnh hưởng của thương vụ M&A đến giá trị nhãn hiệu Do đó, đề tài này sẽ góp phần làm rõ bằng chứng thực tiễn đối với việc áp dụng phương pháp thẩm định giá nhãn hiệu để nghiên cứu sự thay đổi giá trị nhãn

Trang 10

hiệu sau thương vụ M&A Kết quả của đề tài nghiên cứu so sánh giá trị nhãn hiệu Vinacafé Biên Hoà trước và sau thương vụ M&A để thấy được ảnh hưởng của hoạt động này tới nhãn hiệu để từ đó đề xuất khuyến nghị cho các doanh nghiệp khác khi tham gia M&A cần cân nhắc tận dụng và sử dụng một cách hợp lý các yếu tố cộng hưởng tích cực đồng thời phát huy thế mạnh và khắc phục điểm yếu của công ty mình để đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất cũng như nâng cao giá trị nhãn hiệu của doanh nghiệp mình

1.6 Kết cấu của đề tài

Bài luận văn được thiết kế bao gồm 5 chương, nội dung của các chương được trình bày như sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động M&A và thẩm định giá nhãn hiệu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 5: Một số giải pháp

Trang 11

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ Ý UẬN VỀ HOẠT ĐỘNG M&A V

THẨM ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU

2.1 Tổng quan về nhãn hiệu

2.1.1 hái niệm nhãn hiệu

Nhãn hiệu là một yếu tố đặc trưng gắn liền giữa thị trường thương mại và lĩnh vực sở hữu công nghiệp Nó đã được sử dụng trong một thời gian dài bởi các nhà sản xuất cũng như các thương nhân để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa hay dịch vụ của họ và phân biệt những hàng hóa, dịch vụ đó với các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hay bán bởi các chủ thể khác Chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa hay dịch vụ luôn được xem là yếu tố quan trọng nhất của nhãn hiệu Vì vậy nó luôn đóng vai trò trung tâm và được đề cập đến rất nhiều trong pháp luật về nhãn hiệu của hầu hết các quốc gia trên thế giới

Nhãn hiệu có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

 Theo Davis Bainbridge, nhãn hiệu thông thường được định nghĩa bởi tòa án

là nhãn mác, dấu hiệu hay biểu tượng, mà chức năng đầu tiên và cơ bản của chúng

là để “xác định nguồn gốc hay quyền sở hữu đối với hàng hóa mang nó được gắn vào”

 Theo pháp luật nhãn hiệu EU, khái niệm nhãn hiệu được sử dụng thống nhất cho cả hàng hóa và dịch vụ Theo đó “nhãn hiệu có thể bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào

có thể được trình bày một cách vật chất và riêng biệt dưới dạng từ ngữ, bao gồm tên riêng, các thiết kế, chữ cái, con số, hình dáng hay bao bì hàng hóa, có khả năng phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của một chủ thể này với hàng hóa hay dịch vụ của các chủ thể khác”

 Theo pháp luật của Việt Nam, nhãn hiệu được định nghĩa một cách khái quát tại khoản 16, Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm

2005 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 06 năm 2009) như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ

Trang 12

chức, cá nhân khác nhau”; Đồng thời tại điều 72 Luật cũng quy định: “Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình 3 chiều hoặc sự kết hợp các yếu

tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”

 Tại Khoản 1 Điều 15 Hiệp định Các khía cạnh thương mại của Quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS), nhãn hiệu được định nghĩa như sau: “Nhãn hiệu là bất kỳ một dấu hiệu, hoặc sự kết hợp của dấu hiệu có khả năng giúp phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa, dịch vụ của những doanh nghiệp khác Các dấu hiệu gồm các từ, kể cả tên riêng, chữ cái, chữ số, yếu tố hình và tổ hợp màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các nước thành viên của Hiệp định có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng”

 Theo Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/9/2006 của Chính phủ về nhãn hàng hóa định nghĩa như sau "Nhãn hàng hoá là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá”

Ở góc độ chung nhất, nhãn hiệu có thể được hiểu là bất kỳ dấu hiệu nào có thể nhận biết được bao gồm từ ngữ, tên gọi, chữ cái, con số, biểu tượng, thiết kế, hình

vẽ hay bất kỳ sự kết hợp nào của chúng và kiểu dáng hay bao bì hàng hóa được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa hay dịch vụ của các chủ thể khác

Như vậy, nhãn hiệu là một tài sản vô hình thuộc loại đối tượng sở hữu trí tuệ, thỏa mãn hai tiêu chí:

Trang 13

 Phải là dấu hiệu dưới dạng chữ viết, con số, hình ảnh, màu sắc, hình khối (nhãn hiệu ba chiều), âm thanh, hình ảnh ba chiều, đoạn phim ngắn, thậm chí là mùi, vị

 Dấu hiệu đó phải có khả năng thực hiện chức năng phân biệt hàng hóa, dịch

vụ

2.1.2 Phân loại nhãn hiệu

Căn cứ vào tiêu chí khác nhau mà có nhiều cách phân loại nhãn hiệu

 Xét từ góc độ đặc tính của dấu hiệu tạo nên nhãn hiệu, có thể chia nhãn

 Xét từ góc độ chức năng của nhãn hiệu, người ta chia nhãn hiệu thành

các loại:

 Nhãn hiệu thông thường

 Nhãn hiệu tập thể: là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó

 Nhãn hiệu chứng nhận: là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu

 Nhãn hiệu liên kết: là nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau

Trang 14

2.1.3 Chức năng của nhãn hiệu

Nhãn hiệu là tài sản vô hình và có giá trị của doanh nghiệp Trên thực tế, giá trị một nhãn hiệu có giá chuyển nhượng cao hơn rất nhiều so với giá trị tài sản hữu hình mà doanh nghiệp đang sở hữu Nhãn hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp, được tổng hợp từ nhiều yếu tố, thành quả mà doanh nghiệp tạo dựng trong suốt quá trình hoạt động Sự nổi tiếng của nhãn hiệu là đảm bảo cho lợi ích tiềm năng của doanh nghiệp

Một số chức năng quan trọng của nhãn hiệu, xét cả ở góc độ lịch sử, kinh tế và các điều kiện xã hội có thể chi phối đến quá trình hình thành và phát triển của nhãn hiệu Các chức năng cơ bản đó bao gồm:

 Xác định nguồn gốc tự nhiên của hàng hóa và dịch vụ mang nhãn hiệu;

 Là sự đảm bảo cho nguồn gốc của hàng hóa và dịch vụ;

 Đảm bảo cho chất lượng của hàng hóa và dịch vụ;

 Được sử dụng như biểu tượng của chủ sở hữu nhãn hiệu;

 Được sử dụng như biểu tượng để quảng bá sản phẩm;

 Đôi khi được sử dụng như là đại diện cho phương châm sống của người tiêu dùng

2.1.4 Đặc điểm của nhãn hiệu

 Tính giá trị cảm nhận và chất lƣợng cảm nhận của nhãn hiệu: Giá trị

cảm nhận của cùng một nhãn hiệu không phải bao giờ là một hằng số mà tùy theo cảm nhận chủ quan riêng của mỗi khách hàng Người tiêu dùng luôn chọn mua những sản phẩm dịch vụ mang lại giá trị cao nhất Họ luôn suy xét giữa lợi ích nhận được và chi phí phải trả cho từng nhãn hiệu Họ không hoàn toàn chọn nhãn hiệu có giá cả thấp nhất, khi những lợi ích mà nó mang lại không nhiều Ngược lại, họ vui lòng chấp nhận giá cao để được những nhãn hiệu có uy tín Chất lượng cảm nhận là những cảm nhận, đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm dịch vụ theo

Trang 15

những tiêu chí riêng của họ, chẳng hạn như: độ tin cậy, chất lượng dịch vụ hỗ trợ, tính thẩm mỹ…

 Tính tương đối của nhãn hiệu: Các tài sản hữu hình có thể thiết lập cơ chế

bảo hộ tuyệt đối nhưng cơ chế bảo hộ cho nhãn hiệu chỉ mang tính tương đối

 Tính vô hình của nhãn hiệu: Đặc tính vô hình của nhãn hiệu làm cho quyền

chiếm hữu trở nên vô nghĩa vì khi thông tin đã được tiết lộ, người sở hữu thông tin

đó không có biện pháp nào để ngăn cản người khác chiếm hữu thông tin đó, không thể thu hồi thông tin đã được người khác biết đến Đối với tài sản hữu hình, pháp luật quy định quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt (quy định tại điều 164 Bộ Luật dân sự năm 2005) Đối với nhãn hiệu, chỉ điều chỉnh quyền sử dụng và quyền định đoạt

2.2 Cơ sở lý luận về thẩm định giá nhãn hiệu

2.2.1 hái niệm thẩm định giá nhãn hiệu

Theo trang Yellow Pencil, định giá nhãn hiệu là một quá trình tổng hợp và tính toán lợi nhuận kinh tế sinh ra từ giá trị nhãn hiệu có được từ việc sở hữu nhãn hiệu Theo Interbrand, định giá nhãn hiệu là một quá trình lớn nhằm xác định giá trị hiện tại và giá trị tương lai của nhãn hiệu

Thẩm định giá nhãn hiệu là một nghệ thuật hay một khoa học về ước tính giá trị của nhãn hiệu phù hợp với thị trường tại một thời điểm nhất định, cho một mục đích nhất định theo những tiêu chuẩn được công nhận như những thông lệ quốc tế, hoặc quốc gia

Như vậy, thẩm định giá nhãn hiệu là một quá trình tổng hợp và đo lường giá trị kinh tế của nhãn hiệu trong hiện tại và tương lai

2.2.2 Mục đích, ý nghĩa của việc thẩm định giá nhãn hiệu

Việc thẩm định giá nhãn hiệu nhằm xác định giá trị của nhãn hiệu mà doanh nghiệp đang tạo dựng, đang sở hữu Từ đó hiểu rõ hơn vị thế của mình trên thị

Trang 16

trường, uy tín đối với khách hàng và các nhà đầu tư; đánh giá đúng hơn nỗ lực của lãnh đạo và nhân viên công ty trong việc tạo dựng nhãn hiệu, qua đó xây dựng chiến lược đầu tư, phát triển nhãn hiệu Việc thẩm định giá nhãn hiệu có thể phục

 Góp vốn đầu tư, liên doanh hay liên minh chiến lược

 Cổ phần hoá, phát hành cổ phiếu ra công chúng

 Hỗ trợ giải quyết tranh chấp: xác định mức độ, giá trị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu; hỗ trợ giải quyết tranh chấp trong trường hợp phá sản, vi phạm hợp đồng, thừa kế

 Hạch toán vào sổ sách kế toán

 Xác định phí bản quyền

 Tài chính tín dụng…

2.2.3 Cơ sở thẩm định giá nhãn hiệu

Cơ sở giá trị tài sản có thể là cơ sở giá trị thị trường hoặc cơ sở giá trị phi thị trường

 Giá trị thị trường làm cơ sở cho thẩm định giá:

Giá trị tài sản được ước tính trên cơ sở giá trị thị trường là giá trị thị trường và được xác định bằng các cách tiếp cận theo quy định của hệ thống Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam

Trang 17

Theo Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 02, ban hành kèm theo Thông tư

số 158/2014/TT-BTC ngày 27 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, nội dung giá trị thị trường làm cơ sở cho thẩm định giá được định nghĩa như sau: “Giá trị thị trường là mức giá ước tính của tài sản tại thời điểm, địa điểm thẩm định giá, giữa một bên là người mua sẵn sàng mua và một bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịch khách quan, độc lập, có đủ thông tin, các bên tham gia hành động một cách có hiểu biết, thận trọng và không bị ép buộc” Trong đó:

 Thời điểm, địa điểm thẩm định giá là thời gian, không gian cụ thể tương ứng với thời gian, không gian mà giá trị của tài sản thẩm định giá được thẩm định viên xác định gắn với những yếu tố về cung, cầu, thị hiếu và sức mua trên thị trường

 Người mua sẵn sàng mua là người có khả năng thanh toán và có nhu cầu mua tài sản với mức giá tốt nhất có thể được trên thị trường

 Người bán sẵn sàng bán là người có tài sản hợp pháp và có nhu cầu muốn bán tài sản với mức giá tốt nhất có thể được trên thị trường

 Giao dịch khách quan, độc lập, có đủ thông tin là giao dịch giữa các bên không có mối quan hệ đặc biệt gây ảnh hưởng đến giá giao dịch của tài sản và các bên tham gia có đủ thời gian cần thiết để khảo sát, tiếp cận đầy đủ thông tin về tài sản và thị trường tài sản sau quá trình tiếp thị thích hợp

Giá trị thị trường thể hiện mức giá hình thành trên thị trường công khai và cạnh tranh Thị trường này có thể là thị trường trong nước hoặc thị trường quốc tế, có thể bao gồm nhiều người mua, người bán hoặc bao gồm một số lượng hạn chế người mua, người bán

 Giá trị phi thị trường làm cơ sở cho thẩm định giá:

Giá trị tài sản được ước tính trên cơ sở giá trị phi thị trường là giá trị phi thị trường và được xác định bằng các cách tiếp cận theo quy định của hệ thống Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam

Trang 18

Theo Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 03, ban hành kèm theo Thông tư

số 158/2014/TT-BTC ngày 27 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, nội dung giá trị phi thị trường làm cơ sở cho thẩm định giá được định nghĩa như sau:

“Giá trị phi thị trường là mức giá ước tính của một tài sản tại thời điểm, địa điểm

thẩm định giá, không phản ánh giá trị thị trường mà căn cứ vào đặc điểm kinh tế -

kỹ thuật, chức năng, công dụng của tài sản, những lợi ích mà tài sản mang lại trong quá trình sử dụng, giá trị đối với một số người mua đặc biệt, giá trị khi giao dịch trong điều kiện hạn chế, giá trị đối với một số mục đích thẩm định giá đặc biệt và các giá trị không phản ánh giá trị thị trường khác”

Giá trị phi thị trường bao gồm: giá trị tài sản bắt buộc phải bán, giá trị đặc biệt, giá trị đầu tư, giá trị để tính thuế hoặc các giá trị khác, cụ thể:

 Giá trị tài sản bắt buộc phải bán là tổng số tiền thu về từ bán tài sản trong điều kiện thời gian giao dịch để bán tài sản quá ngắn so với thời gian bình thường cần có để thực hiện giao dịch mua bán theo giá trị thị trường, người bán chưa sẵn sàng bán hoặc bán không tự nguyện Giá cả trong những cuộc mua bán tài sản như vậy gọi là giá trị tài sản bắt buộc phải bán, không phản ánh giá trị thị trường

 Giá trị đặc biệt là giá trị của tài sản có những đặc tính đặc biệt chỉ thu hút sự quan tâm của những người mua đặc biệt hoặc người sử dụng đặc biệt Giá trị đặc biệt có thể được hình thành do vị trí, tính chất, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, yếu tố pháp lý và các yếu tố đặc biệt khác của tài sản Giá trị đặc biệt bao gồm: Giá trị tài sản đang trong quá trình sử dụng, giá trị tài sản có thị trường hạn chế, giá trị tài sản chuyên dùng và giá trị đặc biệt khác

Giá trị tài sản đang trong quá trình sử dụng là giá trị phi thị trường được xem

xét từ giác độ một người sử dụng riêng biệt tài sản vào một mục đích riêng biệt, do

đó không liên quan đến thị trường Khi tiến hành thẩm định giá loại tài sản này, thẩm định viên tập trung chủ yếu vào khía cạnh tham gia, đóng góp của tài sản vào hoạt động của một dây chuyền sản xuất, một doanh nghiệp, hoặc một tài sản khác

Trang 19

không xét đến khía cạnh giá trị sử dụng tốt nhất, tối ưu của tài sản hoặc số tiền có thể có từ việc bán tài sản đó trên thị trường

Giá trị tài sản có thị trường hạn chế là giá trị của tài sản do tính đơn chiếc, hoặc

do những điều kiện của thị trường, hoặc do những nhân tố khác tác động làm cho tài sản này ít có khách hàng tìm mua, tại một thời điểm nào đó Đặc điểm quan trọng cần phân biệt của tài sản này không phải là không có khả năng bán được trên thị trường công khai mà để bán được đòi hỏi một quá trình tiếp thị lâu dài hơn, tốn nhiều chi phí và thời gian hơn so với những tài sản khác

Giá trị đầu tư là giá trị của một tài sản đối với nhà đầu tư theo những mục

tiêu đầu tư đã xác định

Giá trị đầu tư là khái niệm có tính chủ quan liên quan đến những tài sản cụ thể đối với một nhà đầu tư riêng biệt với những mục tiêu và tiêu chí đầu tư xác định Sự khác biệt giữa giá trị đầu tư và giá trị thị trường của một tài sản là động lực để nhà đầu tư tham gia vào thị trường

 Giá trị để tính thuế là giá trị dựa trên các quy định của luật pháp liên quan đến việc đánh giá giá trị tài sản để tính khoản thuế phải nộp

2.2.4 Các nguyên tắc thẩm định giá nhãn hiệu

Theo Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 04, ban hành kèm theo Thông tư

số 158/2014/TT-BTC ngày 27 tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, thì những nguyên tắc kinh tế chi phối hoạt động thẩm định giá gồm:

 Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất

Sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất của tài sản là đạt được mức hữu dụng tối đa

có thể cho phép về mặt pháp lý, về kỹ thuật, về tài chính trong những hoàn cảnh kinh

tế - xã hội thực tế phù hợp và đem lại giá trị cao nhất cho tài sản

Một tài sản đang sử dụng thực tế không nhất thiết đã thể hiện khả năng sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất của tài sản đó

Trang 20

 Nguyên tắc cung - cầu

Giá trị của một tài sản được xác định bởi mối quan hệ cung và cầu về tài sản đó trên thị trường Đồng thời, giá trị của tài sản đó cũng tác động đến cung và cầu về tài sản Giá trị của tài sản thay đổi tỷ lệ thuận với cầu và tỷ lệ nghịch với cung về tài sản Các yếu tố về đặc điểm vật lý và đặc điểm kinh tế - xã hội khác biệt với những thuộc tính của các tài sản khác cũng được phản ánh trong cung - cầu và giá trị tài sản

 Nguyên tắc thay đổi

Giá trị của tài sản thay đổi theo sự thay đổi của những yếu tố hình thành và tác động đến giá trị của nó

Giá trị của tài sản cũng được hình thành trong quá trình thay đổi liên tục phản ánh hàng loạt các mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị Bản thân các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị luôn luôn thay đổi Do đó, trong thẩm định giá tài sản, thẩm định viên phải nắm được mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố ở trạng thái động, phải phân tích quá trình thay đổi nhằm xác định mức sử dụng tài sản tốt nhất và có hiệu quả nhất

 Nguyên tắc thay thế

Trong trường hợp hai hay nhiều tài sản có thể thay thế lẫn nhau trong quá trình sử dụng, thì giá trị của những tài sản đó được xác định bởi sự tác động lẫn nhau của tài sản này đến tài sản khác

Khi hai tài sản có tính hữu ích như nhau, tài sản nào chào bán ở mức giá thấp nhất thì tài sản đó sẽ bán được trước Giới hạn trên của giá trị tài sản có xu hướng được thiết lập bởi chi phí mua một tài sản thay thế cần thiết tương đương, với điều kiện không có sự chậm trễ quá mức làm ảnh hưởng đến sự thay thế Một người mua thận trọng sẽ không trả giá cao hơn chi phí mua một tài sản thay thế trong cùng một thị trường và một thời điểm

 Nguyên tắc cân bằng

Trang 21

Khi các yếu tố cấu thành của tài sản đạt được sự cân bằng thì tài sản đạt được khả năng sinh lời tối đa hay mức hữu dụng cao nhất Do đó, để ước tính mức sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất của tài sản, cần phải phân tích về sự cân bằng của các yếu tố cấu thành của tài sản cần thẩm định giá

 Nguyên tắc thu nhập tăng hoặc giảm

Tổng thu nhập trên khoản đầu tư tăng lên sẽ tăng liên tục tới một điểm nhất định, sau đó mặc dù đầu tư tiếp tục tăng nhưng mức thu nhập tăng thêm đó sẽ giảm dần

 Nguyên tắc phân phối thu nhập

Tổng thu nhập sinh ra từ sự kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất (đất đai, vốn, lao động, quản lý) và có thể được phân phối cho từng yếu tố này Nếu việc phân phối được thực hiện theo nguyên tắc tương ứng thì phần tổng thu nhập còn lại sau khi

đã phân phối cho vốn, lao động và quản lý sẽ thể hiện giá trị của đất đai

 Nguyên tắc đóng góp

Mức độ mà mỗi bộ phận của tài sản đóng góp vào tổng thu nhập từ toàn bộ tài sản

có tác động đến tổng giá trị của tài sản đó

Giá trị của một tác nhân sản xuất hay một bộ phận cấu thành tài sản phụ thuộc vào

sự vắng mặt của tác nhân đó làm giảm đi bao nhiêu giá trị của toàn bộ tài sản, có nghĩa

là lượng giá trị mà nó đóng góp vào giá trị toàn bộ là bao nhiêu Khi xem xét giá trị của tài sản bộ phận, thẩm định viên cần phải xem xét nó trong mối quan hệ với tài sản tổng thể

Nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản trong việc xem xét tính khả thi của việc đầu

tư bổ sung vào tài sản khi thẩm định viên xác định mức sử dụng tài sản tốt nhất và có hiệu quả nhất

 Nguyên tắc phù hợp

Tài sản cần phải phù hợp với môi trường của nó nhằm đạt được mức sinh lời tối

đa hoặc mức hữu dụng cao nhất Do đó, thẩm định viên phải phân tích xem liệu tài sản

Trang 22

đó có phù hợp với môi trường hay không khi thẩm định viên xác định mức sử dụng tài sản tốt nhất và có hiệu quả nhất

 Nguyên tắc cạnh tranh

Lợi nhuận cao vượt trội sẽ thúc đẩy cạnh tranh, đồng thời, cạnh tranh quá mức có thể làm giảm lợi nhuận và cuối cùng có thể không còn lợi nhuận Đối với tài sản, mối quan hệ cạnh tranh cũng được quan sát giữa các tài sản với nhau và giữa tài sản này với tài sản khác Khi tiến hành thẩm định giá, thẩm định viên cần xem xét, đánh giá tác động của yếu tố cạnh tranh đến thu nhập của tài sản, đặc biệt khi sử dụng cách tiếp cận từ thu nhập để xác định giá trị của tài sản

 Nguyên tắc dự tính lợi ích tương lai

Giá trị của tài sản có thể được xác định bằng việc dự tính khả năng sinh lợi trong tương lai

Giá trị của tài sản cũng chịu ảnh hưởng bởi việc dự kiến thị phần của những người tham gia thị trường và những thay đổi có thể dự tính trước trong yếu tố này cũng ảnh hưởng đến giá trị

Việc ước tính giá trị của tài sản luôn luôn dựa trên các triển vọng tương lai, lợi ích

dự kiến nhận được từ quyền sử dụng tài sản của người mua

2.2.5 Các cách tiếp cận trong thẩm định giá nhãn hiệu

Theo Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 13, ban hành kèm theo Thông tư

số 06/2014/TT-BTC ngày 07 tháng 01 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, thì các cách tiếp cận trong thẩm định giá nhãn hiệu bao gồm: cách tiếp cận từ thị trường, cách tiếp cận từ chi phí và cách tiếp cận từ thu nhập Mỗi cách tiếp cận bao gồm nhiều phương pháp thẩm định giá khác nhau

2.2.5.1 Cách tiếp cận từ thị trường

Trang 23

Tại Việt Nam, nội dung của cách tiếp cận từ thị trường: giá trị của nhãn hiệu cần thẩm định giá được xác định căn cứ vào việc so sánh, phân tích thông tin của các nhãn hiệu tương tự có giá giao dịch trên thị trường

Phương pháp phổ biến được vận dụng theo cách tiếp cận thị trường là phương

pháp so sánh Phương pháp so sánh là phương pháp thẩm định giá dựa trên cơ sở

phân tích mức giá của các tài sản tương tự với tài sản cần thẩm định giá đã giao dịch thành công oặc đang mua bán trên thị trường trong điều kiện thương mại bình thường vào thời điểm cần thẩm định giá để ước tính và xác định giá trị thị trường của tài sản

Theo quy định hiện nay, phải có ít nhất 03 nhãn hiệu tương tự để so sánh Trường hợp chỉ thu thập được thông tin của 02 nhãn hiệu tương tự đã được giao dịch trên thị trường thì kết quả thẩm định giá từ cách tiếp cận trên thị trường chỉ được dùng để kiểm tra, đối chiếu với kết quả thẩm định giá có được từ cách tiếp cận khác

Thông tin tham khảo khi áp dụng cách tiếp cận từ thị trường: Giá giao dịch thành công, giá chào bán, giá chào mua của nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu cần thẩm định giá Địa điểm và điều kiện thị trường tại thời điểm xảy ra giao dịch, động

cơ của người mua và người bán, các điều khoản thanh toán cũng như các yếu tố khác liên quan tới giao dịch

Trường hợp áp dụng cách tiếp cận từ thị trường: Khi có thông tin về nhãn hiệu tương tự được giao dịch hoặc chuyển giao quyền sử dụng hoặc có thị trường giao dịch; Khi cần đối chiếu kết quả với các phương pháp thẩm định khác

Xét về phương diện kỹ thuật thì với cách tiếp cận này, ta không cần phải xây dựng một công thức hoặc mô hình tính toán mà đơn giản chỉ cần tìm kiếm những bằng chứng về giao dịch tương đương, có thể so sánh được trên thị trường

Có thể nói cách tiếp cận từ thị trường luôn đưa lại kết quả có tính thuyết phục cao vì thị trường luôn là thước đo cuối cùng, mang tính tối thượng đối với mọi

Trang 24

trường hiếm khi được sử dụng do sự thiếu vắng các chứng cứ thị trường đối với loại nhãn hiệu tương tự

Thẩm định giá bằng cách tiếp cận thị trường là việc phân tích, so sánh các giao dịch đối với loại nhãn hiệu tương tự để ước lượng giá trị Cách tiếp cận này cũng được xây dựng chủ yếu dựa trên việc tuân thủ nguyên tắc thay thế, đó là một người mua thận trọng không bỏ tiền ra để mua một loại nhãn hiệu nếu có thể mua một nhãn hiệu khác tương đương với giá rẻ hơn và sự đánh giá của thị trường là sự đánh giá cuối cùng

2.2.5.2 Cách tiếp cận từ chi phí

Tại Việt Nam, năm 2008 Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 129/2008/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2008 ban hành tiêu chuẩn số 08 về phương pháp chi phí quy định nội dung và hướng dẫn thực hiện quá trình thẩm định giá tài sản Tuy nhiên, tiêu chuẩn số 08 chủ yếu là hướng dẫn thẩm định giá bất động sản, công trình xây dựng và máy móc thiết bị

Theo Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13 được ban hành kèm theo Thông tư số 06/2014/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, nội dung của cách tiếp cận từ chi phí như sau: Cách tiếp cận từ chi phí ước tính giá trị nhãn hiệu căn cứ vào chi phí tái tạo ra nhãn hiệu giống nguyên mẫu với nhãn hiệu cần thẩm định giá hoặc chi phí thay thế để tạo ra một nhãn hiệu tương tự có cùng chức năng, công dụng theo giá thị trường hiện hành

Giá trị ước tính của nhãn hiệu = Chi phí tái tạo (Chi phí thay thế) – Hao mòn luỹ kế + Lợi nhuận của nhà sản xuất

Trong đó, lợi nhuận của nhà sản xuất được xác định thông qua biện pháp so sánh, điều tra, khảo sát

Cách tiếp cận từ chi phí bao gồm hai phương pháp chính là: Phương pháp chi phí tái tạo và phương pháp chi phí thay thế

Trang 25

Chi phí thay thế hoặc chi phí tái tạo trong phương pháp chi phí bao gồm các chi phí sau: chi phí về nhân công, nguyên vật liệu, chi phí cho các tài sản hữu hình phụ trợ cần thiết để phát huy được giá trị của nhãn hiệu, chi phí duy trì (ví dụ: Chi phí quảng cáo để duy trì vị thế của nhãn hiệu, chi phí quản lý chất lượng của sản phẩm, ), chi phí đăng ký xác lập quyền đối với tài sản trí tuệ, chi phí nghiên cứu phát triển và các chi phí hợp lý khác.

Phương pháp chi phí tái tạo: là phương pháp xác định giá trị của nhãn hiệu

thông qua việc tính toán chi phí tạo ra một nhãn hiệu khác tương đồng với nhãn hiệu cần thẩm định giá theo giá thị trường hiện hành

Giá trị ước tính của nhãn hiệu = Chi phí tái tạo – Hao mòn luỹ kế + Lợi nhuận của nhà sản xuất

Phương pháp chi phí thay thế: là phương pháp xác định giá trị của nhãn hiệu

thông qua việc tính toán chi phí thay thế nhãn hiệu đó bằng một nhãn hiệu khác có chức năng, công dụng tương tự theo giá thị trường hiện hành

Giá trị ước tính của nhãn hiệu = Chi phí thay thế – Hao mòn luỹ kế + Lợi nhuận của nhà sản xuất

2.2.5.3 Cách tiếp cận từ thu nhập

Theo Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13 được ban hành kèm theo Thông tư số 06/2014/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, nội dung cách tiếp cận từ thu nhập như sau: cách tiếp cận thu nhập xác định giá trị của nhãn hiệu thông qua giá trị hiện tại của các khoản thu nhập, các dòng tiền và các chi phí tiết kiệm do nhãn hiệu mang lại

Cách tiếp cận từ thu nhập gồm ba phương pháp chính là: phương pháp tiền sử dụng nhãn hiệu, phương pháp lợi nhuận vượt trội và phương pháp thu nhập tăng thêm

 Phương pháp tiền sử dụng nhãn hiệu:

Trang 26

Giá trị nhãn hiệu được tính toán trên cơ sở giá trị hiện tại của dòng tiền sử dụng nhãn hiệu mà tổ chức, cá nhân nhận được khi cho phép sử dụng nhãn hiệu

Phương pháp này đặt ra giả định rằng tổ chức hoặc cá nhân không sở hữu nhãn hiệu phải trả tiền để sử dụng nó Vì vậy, phương pháp này tính giá trị nhãn hiệu thông qua việc tính các khoản tiền sử dụng nhãn hiệu tiết kiệm được nếu tổ chức hoặc cá nhân đó sở hữu nhãn hiệu

Phương pháp này được thực hiện bằng cách chiết khấu dòng tiền trong tương lai

là khoản tiền sử dụng nhãn hiệu tiết kiệm được đã trừ thuế (nếu có)

 Phương pháp lợi nhuận vượt trội:

Ước tính giá trị của nhãn hiệu trên cơ sở chênh lệch giữa các khoản lợi nhuận

có được của một doanh nghiệp khi sử dụng và khi không sử dụng nhãn hiệu này

Trong phương pháp lợi nhuận vượt trội, giá trị nhãn hiệu được ước tính trên cơ

sở chênh lệch của giá trị hiện tại của hai dòng tiền chiết khấu trong trường hợp nhãn hiệu cần thẩm định giá được sử dụng để tạo ra thu nhập vượt trội cho chủ thể và trong trường hợp chủ thể không sử dụng nhãn hiệu cần thẩm định giá

Phương pháp này có thể áp dụng với cả nhãn hiệu tạo ra các khoản thu nhập tăng thêm và nhãn hiệu giúp tiết kiệm chi phí

 Phương pháp thu nhập tăng thêm:

xác định giá trị của nhãn hiệu thông qua giá trị hiện tại của các dòng tiền được cho là phát sinh từ đóng góp của nhãn hiệu cần thẩm định giá sau khi loại trừ tỷ lệ dòng tiền phát sinh từ đóng góp của các tài sản khác

Phương pháp thu nhập tăng thêm được thực hiện như sau: Ước tính các dòng tiền kỳ vọng được tạo ra do sử dụng nhãn hiệu cần thẩm định giá Dòng tiền được tạo ra do sử dụng nhãn hiệu cần thẩm định giá được ước tính bằng cách giảm trừ khỏi dòng tiền kỳ vọng nói trên khoản đóng góp được tạo ra do sử dụng các tài sản hữu hình, tài sản tài chính và các tài sản vô hình khác với nhãn hiệu cần thẩm định (gọi chung là tài sản đóng góp)

Trang 27

Khoản đóng góp của tài sản đóng góp là khoản thu nhập hợp lý được tạo ra bởi tài sản đóng góp, bao gồm phần lợi nhuận từ tài sản đóng góp và phần bù đắp cho khoản đầu tư ban đầu do sự giảm giá trị của tài sản theo thời gian

Phần còn lại của dòng tiền kỳ vọng sau khi giảm trừ khoản đóng góp được tạo

ra do sử dụng các tài sản đóng góp được chiết khấu về giá trị hiện tại Tổng giá trị hiện tại của dòng tiền đã điều chỉnh này là giá trị nhãn hiệu cần thẩm định giá

Bên cạnh một số các phương pháp thẩm định giá ứng dụng cách tiếp cận từ thu nhập theo tiêu chuẩn thẩm giá Việt Nam, trên thế giới hiện nay đã có nhiều mô hình nghiên cứu giá trị nhãn hiệu Các mô hình này cũng có các phương pháp thẩm định giá ứng dụng cách tiếp cận từ thu nhập sau đây:

 Dựa vào hành vi người tiêu dùng: (Aaker):

Trên thế giới hiện nay, đã có khá nhiều mô hình nghiên cứu giá trị nhãn hiệu dựa vào khách hàng, trong đó mô hình nghiên cứu của Aaker (1991) được sử dụng phổ biến nhất

Theo Aaker, thì giá trị nhãn hiệu dựa vào khách hàng được định nghĩa như là một tập hợp các giá trị gắn liền với tên hoặc biểu tượng của nhãn hiệu, những giá trị này sẽ được cộng vào sản phẩm hay dịch vụ nhằm gia tăng giá trị đối với những người liên quan Phương pháp nghiên cứu gồm:

 Chọn mẫu điều tra

 Thang đo: phương pháp định tính

 Đánh giá thang đo: Trước tiên, các thang đo sẽ được đánh giá sơ bộ thông qua hai phương pháp: hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phương pháp phân tích yếu tố khám phá (EFA) Kế đến, các thang đo tiếp tục được kiểm định bằng phương pháp phân tích yếu tố khẳng định (CFA)

Kiểm định mô hình lý thuyết: Cùng với kiểm định phân tích yếu tố khẳng định CFA, kiểm định mô hình được thực hiện thông qua phần mềm phân tích cấu trúc

tuyến tính AMOS 18

Trang 28

 Dựa vào phương pháp tài chính: (Damodaran)

Mô hình định giá nhãn hiệu bằng cách so sánh với một doanh nghiệp cùng ngành không có nhãn hiệu (mô hình này dựa vào sự khác biệt giữa các dòng thu nhập để tính giá trị nhãn hiệu) Mô hình có các cách tiếp cận sau:

Cách tiếp cận dựa vào lợi nhuận hoạt động biên của công ty không có

nhãn hiệu:

Giả định: sức mạnh của nhãn hiệu là do việc định giá sản phẩm đem lại, công ty

có nhãn hiệu sẽ có thể định giá cao hơn cho các sản phẩm đồng dạng của các công

ty không có nhãn hiệu

Cách tiến hành: thay thế lợi nhuận hoạt động biên của công ty có nhãn hiệu với công ty không có nhãn hiệu, sự khác biệt trong giá trị sẽ là phần đóng góp của nhãn hiệu

Cách tiếp cận dựa vào suất sinh lợi trên vốn (ROC) của công ty không

Cách tiếp cận dựa vào suất sinh lợi vượt trội:

Mô hình suất sinh lợi vượt trội được áp dụng khi chúng ta không thể tìm ra công ty tương tự không có nhãn hiệu để so sánh, chúng ta phải giả định toàn bộ lợi nhuận vượt trội mà công ty kiếm được là do sự đóng góp của yếu tố nhãn hiệu

Cách tiến hành: Tính toán các chỉ số chi phí sử dụng vốn (WACC), suất sinh lợi trên vốn (ROC), tỷ lệ tái đầu tư (RIR) và tốc độ tăng trưởng (g) Tính giá trị công ty với ROC được tính bằng cách chiết khấu các dòng tiền từ tương lai về hiện tại Tính

Trang 29

lại giá trị công ty bằng cách thay ROC bằng WACC Chênh lệch giữa 2 giá trị này chính là giá trị nhãn hiệu của công ty.

 Kết hợp hành vi người tiêu dùng và Tài chính: (InterBrand)

Năm 1988, hãng InterBrand – một tập đoàn nổi tiếng trên toàn cầu trong lĩnh vực định giá, tư vấn xây dựng nhãn hiệu, được thành lập năm 1974 tại Anh – lần đầu tiên giới thiệu một phương pháp định giá nhãn hiệu trên cơ sở kết hợp cả hai yếu tố thị trường và tài chính

Sau khi cho ra đời phương pháp Interbrand, năm 2002, hãng Interbrand đã phối hợp với J.P.Morgan trình bày kết quả nghiên cứu cho thấy trung bình giá trị của nhãn hiệu chiếm ít nhất 1/3 giá trị cổ phiếu và thực sự khác biệt giữa những hàng hóa và dịch vụ khác nhau Bắt đầu từ năm 2003 đến nay, hàng năm, hãng Interbrand đều phối hợp với tạp chí Business Week công bố danh sách top 100 nhãn hiệu dẫn đầu trên thế giới

Nguyên tắc tài chính liên quan đến việc ước lượng khoản thu nhập mong đợi trong tương lai và quy nó về hiện giá (NPV), một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh Các khoản thu nhập tương lai của nhãn hiệu sẽ được nhận diện và chiết khấu về hiện giá với tỷ suất chiết khấu phản ảnh mức độ rủi ro của khoản thu nhập này

Để xác định giá trị của nhãn hiệu cần thực hiện 5 bước sau

Bước 1: Xác định phân khúc thị trường

Nhãn hiệu ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng, nhưng mức độ ảnh hưởng khác biệt tùy thuộc vào thị trường mà nhãn hiệu hoạt động Hãy chia nhỏ thị trường thành nhiều nhóm không trùng lắp và đồng nhất căn cứ vào các tiêu chuẩn khả dụng như sản phẩm hoặc dịch vụ, kênh phân phối, xu hướng tiêu dùng, địa lý, khách hàng hiện tại, khách hàng mới, mức độ khó tính của khách hàng Nhãn hiệu sẽ được đánh giá trên từng phân khúc và tổng giá trị của từng phân khúc sẽ tạo nên giá trị của nhãn hiệu

Trang 30

Bước 2: Phân tích tài chính

Nhận diện và dự đoán doanh thu, lợi nhuận có được nhờ tài sản vô hình cho từng phân khúc đã xác định trong bước 1 Lợi nhuận có được nhờ tài sản vô hình được tính bằng cách lấy doanh thu từ tài sản vô hình trừ đi chi phí hoạt động, thuế, chi phí sử dụng vốn Cách tính này là tương tự như cách tính lợi nhuận trong kinh tế học

Bước 3: Phân tích nhu cầu

Đánh giá vai trò của nhãn hiệu trong việc tạo nên sức cầu hàng hóa và dịch

vụ trong thị thường mà nhãn hiệu hoạt động sau đó xác định tỷ lệ phần trăm khoản thu nhập từ nhãn hiệu tính trên tổng thu nhập từ tài sản vô hình được thể hiện bằng “Chỉ số vai trò nhãn hiệu” Muốn thực hiện được điều này trước tiên phải nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu, sau đó xác định mỗi nhân tố sẽ chịu tác động như thế nào bởi nhãn hiệu Thu nhập từ nhãn hiệu được tính toán bằng cách nhân “Chỉ số vai trò nhãn hiệu” với tổng thu nhập từ tài sản

vô hình

Bước 4: Phân hạng cạnh tranh

Tìm hiểu điểm mạnh và điểm yếu của nhãn hiệu từ đó rút ra “Chỉ số chiết khấu nhãn hiệu” phản ảnh rủi ro của khoản thu nhập mong đợi trong tương lai (chỉ số chiết khấu nhãn hiệu được đo lường thông qua “Chỉ số sức mạnh nhãn hiệu”) Điều này đòi hỏi một khối lượng công việc đồ sộ bao gồm việc xác định cấu trúc và phân hạng thị trường của nhãn hiệu, tính ổn định, vị trí dẫn đầu, vị trí tiên phong, xu hướng tăng trưởng, hỗ trợ, sự bảo hộ của luật pháp

Bước 5: Xác định giá trị của nhãn hiệu

Giá trị của nhãn hiệu là hiện giá của tất cả các khoản thu nhập kỳ vọng của nhãn hiệu trong tương lai, chiết khấu tại mức tỷ suất chiết khấu nhãn hiệu Quá trình tính toán NPV bao gồm cả giai đoạn dự báo và giai đoạn sau đó, phản ảnh khả năng của nhãn hiệu trong việc liên tục tạo ra thu nhập trong tương lai

Trang 31

2.3 Tổng quan về hoạt động M&A

2.3.1 hái niệm về hoạt động M&A

Tại Việt Nam không có khái niệm mua lại và sáp nhập doanh nghiệp mà chỉ có khái niệm hợp nhất doanh nghiệp và sáp nhập doanh nghiệp Điều 194 của Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 01 tháng 07 năm 2015 quy định: “Hai hoặc một số công ty có thể hợp nhất thành một công ty mới, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất” Tại điều 195 của luật cũng quy định: “Một hoặc một

số công ty có thể sáp nhập vào một công ty khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”

Thuật ngữ tài chính Investopedia cũng có đề cập tới hoạt động mua lại và sáp nhập doanh nghiệp, trong đó nêu rõ ý nghĩa quan trọng của hoạt động này Hoạt động mua lại và sáp nhập chính là hoạt động hỗ trợ quá trình tạo ra giá trị cao hơn cho các cổ đông của hai doanh nghiệp sau quá trình sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại Thêm vào đó, khi hai doanh nghiệp hoạt động cùng nhau sẽ có cơ hội tạo ra giá trị cộng hưởng cao, từ đó tạo thêm giá trị lớn hơn nhiều so với trường hợp một doanh nghiệp hoạt động độc lập

Tác giả David L.Scott (2003) [48] cũng đề cập tới thuật ngữ mua lại và sáp nhập “Sáp nhập hay hợp nhất công ty là khái niệm để chỉ hai hoặc một số công

ty cùng thỏa thuận chia sẻ tài sản, thị phần, thương hiệu với nhau để hình thành một công ty hoàn toàn mới, với tên gọi mới (có thể gộp tên của hai công ty cũ), trong khi đó chấm dứt sự tồn tại của các công ty cũ”

Từ các quan điểm khác nhau về hoạt động mua lại và sáp nhập, có thể khái quát

về hoạt động mua lại và sáp nhập như sau:

Sáp nhập (Merger) là hai hoặc một số doanh nghiệp cùng thỏa thuận với nhau nhằm chia sẻ tài sản, thị phần, nhãn hiệu để hình thành một doanh nghiệp mới với tên gọi mới và chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp cũ Do vậy, sáp nhập là hoạt động xảy ra đối với các thương vụ M&A mang tính chất thân thiện

Trang 32

Mua lại (Aquisition) là chỉ một doanh nghiệp thực hiện mua lại hoặc thôn tính một doanh nghiệp khác và không hình thành nên một pháp nhân mới Mua lại xảy ra khi doanh nghiệp mua lại giành được quyền kiểm soát doanh nghiệp mục tiêu Đó có thể là quyền kiểm soát cổ phiếu, quyền kinh doanh hoặc tài sản của doanh nghiệp mục tiêu Mua lại thường xảy ra ở những thương vụ mang tính chất thù địch, thâu tóm lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, tổ chức

Điểm chung của hoạt động sáp nhập hay mua lại là tạo cho doanh nghiệp mới hình thành có giá trị lớn hơn nhiều lần giá trị riêng lẻ của một doanh nghiệp ban đầu Đó chính là kết quả của sự thành công hay thất bại của một thương vụ M&A mang lại Cũng bởi lợi ích chung đó nên thuật ngữ sáp nhập và mua lại được gắn kết với nhau và có thể đại diện cho nhau

Do vậy, việc sử dụng khái niệm sáp nhập và mua lại chỉ mang tính tương đối và điều quan trọng là bản chất của hoạt động M&A, đó là có sự thay đổi cơ bản về mặt

sở hữu và cách thức điều hành và quản trị doanh nghiệp

2.3.2 Mục đích của hoạt động M&A

Mục đích của hoạt động M&A là nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc mở rộng mạng lưới kinh doanh, kênh phân phối, mở rộng thị trường và tăng quy mô sản xuất Không đơn thuần chỉ là sở hữu một phần vốn góp hay cổ phần của doanh nghiệp như các nhà đầu tư nhỏ, lẻ Vì vậy, khi một nhà đầu

tư đạt được mức sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần của doanh nghiệp đủ để tham gia, quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì khi đó mới có thể coi đây là hoạt động M&A Ngược lại, khi nhà đầu tư sở hữu phần vốn góp, cổ phần không đủ để quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thì đây chỉ được coi là hoạt động đầu tư thông thường

2.3.3 Phân loại hoạt động M&A

Dựa vào cấu trúc của từng doanh nghiệp, có khá nhiều hình thức sáp nhập khác nhau Dưới đây là một số loại hình được phân biệt dựa vào mối quan hệ giữa

Trang 33

 Sáp nhập cùng ngành (sáp nhập chiều ngang): Diễn ra đối với hai công ty

cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và thị trường Kết quả từ những vụ sáp nhập theo dạng này sẽ đem lại cho bên sáp nhập cơ hội mở rộng thị trường, kết hợp nhãn hiệu, giảm thiểu chi phí cố định, tăng cường hiệu quả của hệ thống phân phối và hậu cần

 Sáp nhập dọc: Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, ví dụ

giữa một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó Sáp nhập dọc được chia thành hai phân nhóm Phân nhóm 1: sáp nhập tiến (forward) khi một công

ty mua lại công ty khách hàng của mình Phân nhóm 2: sáp nhập lùi (backward) khi một công ty mua lại nhà cung cấp của mình

 Sáp nhập mở rộng thị trường: Diễn ra đối với hai công ty bán cùng loại

sản phẩm nhưng ở những thị trường khác nhau về mặt địa lý

 Sáp nhập mở rộng sản phẩm: Diễn ra đối với hai công ty bán những sản

phẩm khác nhau nhưng có liên quan tới nhau trong cùng một thị trường

 Sáp nhập kiểu tổ hợp/tập đoàn: Trong trường hợp này, hai công ty không

có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động lĩnh vực kinh doanh đa ngành nghề

2.3.4 Quy trình một hoạt động M&A

Quy trình một hoạt động M&A được thực hiện qua 4 bước sau đây:

Bước 1: Tạo dựng lý do, chiến lược và các nguồn lực cần thiết cho giao dịch

M&A

Bước 2: Lựa chọn đối tượng giao dịch và định giá nó, có tính đến giá trị tăng

thêm cho quyền kiểm soát và bất cứ sự cộng hưởng nào nếu có

Bước 3: Xác định mức giá giao dịch, cách thức tối ưu để tìm kiếm nguồn tài

chính, sử dụng tiền mặt hay cổ phiếu và sau đó tiến hành giao dịch

Bước 4: Kiểm soát hiệu quả hoạt động của công ty mới sau khi hoàn tất

thương vụ

Trang 34

Ta thấy rằng, trong quy trình một hoạt động M&A, tại bước 2 việc lựa chọn đối tượng giao dịch và định giá đã có sự tham gia của hoat động thẩm định giá Tại bước này các bên xác định giá trị giao dịch để thực hiện thương vụ M&A bằng hoạt động thẩm định giá Thẩm định giá doanh nghiệp để các bên có thể xác định được giá trị giao dịch, căn cứ vào giá trị doanh nghiệp được định giá và các điều kiện cụ thể khác nhau mà các bên tham gia giao dịch có thể đàm phán và thương lượng các mức giá giao dịch M&A khác nhau Nhiều quan điểm chỉ coi trọng việc định giá doanh nghiệp của bên mua, tuy nhiên khi xem xét rộng hơn ở khái niệm xác định giá trị giao dịch thì bên bán cũng chính là bên có nhu cầu cần phải xác định giá trị doanh nghiệp không kém bên mua Bởi vì, nếu bên bán không định giá doanh nghiệp và không có cơ sở để tính toán giá trị của mình là bao nhiêu thì sẽ rất bất lợi trong đàm phán giao dịch M&A Hoặc ngược lại, có thể gây ra những khó khăn không cần thiết, thậm chí là bỏ lỡ cơ hội giao dịch thương vụ M&A khi đưa ra những mức giá quá cao, không có cơ sở

2.3.5 Các động cơ thúc đẩy hoạt động M&A

Động cơ thúc đẩy các công ty tham gia M&A xuất phát từ chiến lược phát triển cũng như quy mô của của mỗi công ty Cạnh tranh là một động lực thúc đẩy M&A và ngược lại M&A đang khiến những cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn và mỗi doanh nghiệp, để không bị đối thủ cạnh tranh thâu tóm, ban quản trị và điều hành các công ty luôn phải chủ động tìm cơ hội thực hiện M&A để giành lợi thế cạnh tranh trên thị trường Nói chung, có rất nhiều lý do để các doanh nghiệp cân nhắc chiến lược M&A nhưng tựu chung lại, những lý do, động cơ dưới đây được tổng kết lại từ nhiều năm trong lĩnh vực này

 Thâm nhập vào thị trường mới: đây là một yếu tố quan trọng khi muốn mở

rộng địa bàn kinh doanh, thêm một dòng sản phẩm hoặc mở rộng mạng lưới phân phối

 Giảm chi phí gia nhập thị trường

Trang 35

 Chiếm hữu tri thức và tài sản con người: để tiếp cận và có được một đội

ngũ “nhân công có tri thức” cùng với những bản quyền, sáng chế, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ luôn tìm cách theo đuổi M&A như một phương tiện để chiếm lĩnh được nguồn tài nguyên đặc biệt này

 Giảm bớt đối thủ cạnh tranh trên thị trường

 Giảm thiểu chi phí và nâng cao hiệu quả: thông qua M&A các công ty có

thể tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô khi nhân đôi thị phần, giảm chi phí cố định, chi phí nhân công, hậu cần, phân phối Các doanh nghiệp còn có thể bổ sung cho nhau về nguồn lực và các thế mạnh khác của nhau như nhãn hiệu, thông tin, bí quyết, dây chuyền công nghệ, cơ sở khách hàng hay tận dụng những tài sản mà mỗi công ty chưa sử dụng hết giá trị

 Đa dạng hóa và bành trướng thị trường: Ví dụ điển hình như công ty FPT

Từ một công ty thành danh trong lĩnh vực công nghệ thông tin, FPT hiện đã mở rộng sang các lĩnh vực khác như truyền thông, giáo dục đào tạo, phân phối, chứng khoán, bất động sản, ngân hàng…

 Đa dạng hóa sản phẩm và chiến lược nhãn hiệu: Unilever là một ví dụ

điển hình về sử dụng chiến lược M&A để đa dạng hóa và phát triển nhãn hiệu Uniliver sở hữu rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng trong một số lĩnh vực như Flora, Doriana, Rama, Wall, Amora, Knorr, Lipton và Slim Fast (thực phẩm và đồ uống); Axe, Dove, Lifebuoy, Lux, Pond’s, Rexona, Close-up, Sunsilk và Vaseline (sản phẩm vệ sinh và chăm sóc cơ thể); Comfort, Omo, Radiant, Sunlight, Surf (quần áo

và đồ vật dụng)

2.4 Các nghiên cứu trước đây về hoạt động M&A

2.4.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Theo tạp chí Economic Policy and Research, thì trong lịch sử kinh tế thế giới , hơn 100 năm qua, có 6 làn sóng M&A vào những năm 1900, 1920, 1960, 1980,

1990 và năm 2000 (Kim, 2009), hầu hết đều xảy ra ở phương Tây, nơi nền kinh tế

có điều kiện kinh tế kỹ thuật lâu đời và tiến bộ hơn Các nền kinh tế châu Á đã tham

Trang 36

gia xu hướng M&A từ giữa những năm 1980 tiếp sau xu hướng mở cửa tài chính và đầu tư bất quy tắc xảy ra ở hầu hết các khía cạnh của kinh tế thị trường thế giới Một số nền kinh tế tiến bộ ở khu vực châu Á đã đạt được mức độ phát triển cao hơn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hongkong Cuộc khủng hoảng tài chính Châu

Á đã dấy lên hoạt động M&A trong khu vực

Trong một nghiên cứu khác về M&A của Shick (1972) mà trọng tâm là ước lượng tỷ suất sinh lợi sau một vụ sáp nhập, sử dụng mô hình đánh giá thông dụng và

dữ liệu theo lối kinh nghiệm được chọn từ ngành công nghiệp hóa học US Shick thiết lập công thức tính tỷ suất sinh lợi sáp nhập có thể được xây dựng thành công trên cơ sở mô hình đánh giá cổ phiếu thường Bằng cách này, bằng chứng thực nghiệm đưa ra rằng một vụ sáp nhập có thể cho kết quả tỷ suất sinh lợi dương và sự thành công hay thất bại của vụ sáp nhập có thể được xét tới ngay lập tức sau khi kết thúc giao dịch Tuy nhiên, trong cuốn sách được biên tập gần đây về M&A, Chand (2009) nhìn lại vấn đề tạo ra giá trị, thảo luận một trong các viễn cảnh dưới việc M&A có thể tạo ra giá trị cho các công ty mua bán và sáp nhập

Trong giữa làn sóng M&A thứ hai 1960-1980, Ijiri và Simon (1971) cố gắng đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động M&A tới doanh nghiệp Kết quả này bị bác

bỏ sau khi có nhiều sự chấp nhận khả năng rằng các vụ sáp nhập sẽ dẫn tới việc tăng sự tập trung và vì thế làm giảm sự cạnh tranh Từ một quan điểm khác, Werhane (1988) thảo luận các vấn đề lý thuyết phát sinh sau M&A Có hai vấn đề được nêu ra: quyền của người lao động có bị ảnh hưởng và khả năng của các cổ đông trong suốt việc đảm trách M&A Quan điểm này cũng đã được khẳng định lại trong Chand (2009) rằng sự lớn mạnh của các công ty có thể đạt được sự phát triển phối hợp cơ bản (đầu tư, đầu tư lại trong một dự án mới) hoặc M&A (chiến lược mua bán và sáp nhập) dưới các dạng ngang, đứng, kết hợp… Trong suốt và sau một giao dịch M&A, việc đảm nhận có ảnh hưởng nhiều đến các cổ đông, không chỉ trên giá trị cổ phiếu Vì vậy, các cổ đông khác trong công ty có khuynh hướng có

các quyền ưu tiên khác nhau

Trang 37

Thị trường M&A ở Châu Á trở nên quan trọng hơn vì cổ phiếu của họ trong các giao dịch trên thế giới đã tăng từ 8.5% năm 1995 tới 17.7% năm 2008 Tổng giá trị các giao dịch M&A cũng tăng từ 13.3% đến 20% trong suốt thời gian đó (Kummer, 2009) Con số thực chất là đầy đủ để hiểu vai trò của M&A trong lý thuyết kinh tế tài chính của kinh tế khu vực

Hoạt động M&A là cần thiết cho tái cấu trúc các doanh nghiệp, ít nhất là trong

kỷ nguyên của điều kiện kinh tế thay đổi nhanh Vai trò của hoạt động M&A xuyên biên giới trong tái cấu trúc nền kinh tế ASEAN, được trình bày bởi Mody và Gegishi (2000) Trong khu vực Đông Nam Á, Hàn Quốc và Thái Lan có mức độ hấp dẫn các giao dịch M&A lớn từ năm 1997 Các hoạt động M&A gần đây xuất phát từ hai động cơ đặc biệt: giải quyết các vấn đề quá khứ và tham vọng tìm các cơ hội trong tương lai Trong số các quốc gia đang phát triển, các nước châu Mỹ La tinh có chỉ số giao dịch M&A xuyên biên giới lớn nhất, hầu hết đều qua chương trình tư hữu hóa Khu vực Đông Nam Á là khu vực phát triển nhanh, tốc độ tăng trưởng hằng năm trung bình là 106% Trên thế giới, hoạt động M&A được phổ biến rộng rãi bởi việc bán các công ty tư nhân

Các nền kinh tế hậu khủng hoảng, đặc biệt là các nền kinh tế đang nổi trong thời

kỳ này, làm cho tài sản tài chính của họ bị đánh giá thấp, cùng với sự giảm sút tỷ giá hối đoái Do đó, nó không thể không thường dâng lên trong các thị trường đang nổi trong thời kỳ hậu khủng hoảng đang hồi phục Các nền kinh tế khủng hoảng cũng cần cải tiến khuôn khổ chính sách của họ để khuyến khích nguồn vốn nước ngoài bằng việc mở cửa nền kinh tế ít nhất là một quy trình điều khoản trong trung hạn để có thể giúp cho các công ty nội địa giải quyết được các khoản nợ và tái cấu trúc Sau cuộc khủng hoảng kinh tế ở Đông Nam Á năm 1997, năm 1998, hoạt động M&A xuyên quốc gia đã rộng khắp trong hầu hết các quốc gia khủng hoảng và nhiều khu vực đầu tư đã có những bước đi để khuyến khích M&A cho hợp nhất hệ thống tài chính của họ cả khuyến khích điều chỉnh và tư nhân Việc bán các công ty kiệt quệ cho nước ngoài sẽ có lợi ích cho quốc gia Các công ty mua bán nước ngoài

Trang 38

sẽ chấp nhận mang cả nguồn lực quản trị và tài chính để sắp xếp lại các công ty không hiệu quả

Mặc dù có ít bằng chứng cho rằng hoạt động M&A xuyên biên giới làm phân phối ngay lập tức tới việc tái cấu trúc các nền kinh tế yếu kém, vai trò quan trọng nhất của M&A trong dài hạn là tái cấu trúc quy trình như là tái cấu trúc hoạt động

và các nguồn lực vật chất và tài chính trong các nền kinh tế khu vực

2.4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Tác giả Đỗ Hữu Trúc Vũ (2011) nghiên cứu M&A trong ngành chế biến chăn nuôi dưới góc độ tài chính Kết quả nghiên cứu cho thấy được phần yếu kém của các doanh nghiệp trong nước, đây là cơ sở để hoạt động M&A diễn ra trong thời gian tới Tác giả phân tích tài chính đối với công ty cổ phần DABACO là công ty tiêu biểu trong ngành chế biến thức ăn chăn nuôi qua đó minh họa thực trạng về tài chính đối với công ty trong ngành Từ đó tác giả đề xuất những giải pháp đối với ngành chế biến thức ăn chăn nuôi cũng như đối với hoạt động M&A

Tác giả Phạm Viết Đạt, Nguyễn Việt Khôi và Lưu Minh Khoa (2012) nghiên cứu về định giá nhãn hiệu trong hoạt động M&A Tác giả cho rằng cần phải phân biệt rõ nhãn hiệu và thương hiệu bởi nhãn hiệu được thể hiện và công nhận trong sổ

kế toán, đăng ký về mặt pháp lý thuộc sở hữu của một tổ chức hoặc cá nhân được Nhà nước bảo hộ, không ai được phép vi phạm bản quyền trong phạm vi quốc gia hay trên phạm vi thế giới Trong khi đó thương hiệu chưa được công nhận thông qua sổ kế toán, ít liên quan đến khía cạnh pháp lý, nó chính là danh tiếng trên thị trường được người tiêu dùng biết đến, chứng nhận, tin cậy và trung thành với thương hiệu đó Giá trị của nhãn hiệu được tích lũy trong suốt thời gian sử dụng Quá trình sử dụng, tích lũy càng nhiều, càng tạo ra được nhiều giá trị, tích lũy giá trị càng cao, càng tăng thêm giá trị nhãn hiệu của doanh nghiệp đó Phương pháp định giá nhãn hiệu được tác giả đề cập là dựa trên cách tiếp cận thu nhập với phương pháp tính Li-xăng Theo tác giả thì điều quan trọng nhất trong quá trình định giá cần phải làm rõ công việc định giá bắt đầu tại thời điểm nào, các bước định giá theo

Trang 39

phương pháp nào, dựa vào yếu tố nào, bắt nguồn từ đâu Đó chính là cơ sở để khách hàng tin cách định giá của thẩm định viên này hơn cách định giá của thẩm định viên khác

Tác giả Nguyễn Quốc Huân (2013) nghiên cứu tác động của giao dịch M&A đến tỷ suất sinh lợi bất thường của cổ phiếu trong ngắn hạn Kết quả nghiên cứu cho thấy trong khung thời gian [-4;+4] xung quanh thời điểm xảy ra sự kiện, cổ phiếu của cả công ty mục tiêu và công ty bên mua đều đạt được tỷ suất sinh lợi bất thường tích lũy dương có ý nghĩa thống kê Điều này không ủng hộ giả thuyết tồn tại thị trường hiệu quả dạng trung bình tại Việt Nam

Tác giả Nguyễn Vương Nhược Thủy (2014) nghiên cứu phân tích hoạt động sáp nhập và mua lại trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy sáp nhập và mua lại đem đến những lợi ích, đặc biệt là tạo ra giá trị cộng hưởng Sáp nhập và mua lại giữa các ngân hàng phù hợp sẽ giúp cho các bên tận dụng được sự cộng hưởng lẫn nhau từ thế mạnh trong sản phẩm, dịch vụ, nguồn khách hàng, mạng lưới giao dịch, kênh phân phối… Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến hoạt động M&A dưới sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam một cách khái quát

mà không đi sâu vào phân tích các khía cạnh khác như cơ cấu tài chính, công cụ tiến hành, giá trị thương mại, định giá… Kết quả nghiên cứu tại thời điểm hiện tại vẫn chưa có câu trả lời chính xác về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng sau M&A

Trang 40

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp định lượng để thực hiện việc thẩm định giá nhãn hiệu Vinacafé bao gồm: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài Trong đó các phương pháp được sử dụng cụ thể như sau:

 Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng để sơ lược trình bày các lý thuyết khoa học và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến thẩm định giá trị nhãn hiệu và hoạt động M&A, các phương pháp thẩm định giá nhãn hiệu, tình hình quản trị và thẩm định giá trị tài sản vô hình tại Việt Nam

 Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để tổng hợp và mô tả các nguồn

dữ liệu sơ cấp và thứ cấp

 Phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng để phân tích các thông tin trên các báo cáo tài chính như: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiển tệ và báo cáo thường niên của công ty cổ phần Vinacafé Biên Hòa nhằm phục vụ cho việc thẩm định giá nhãn hiệu của công ty

3.2 Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu của đề tài bao gồm: dữ liệu phục vụ cho việc xây dựng quy trình thẩm định giá theo các phương pháp và dữ liệu phục vụ cho quá trình vận dụng các phương pháp thẩm định giá cho giá trị nhãn hiệu của công ty cổ phần Vinacafé Biên Hòa

 Đối với dữ liệu phục vụ cho việc xây dựng quy trình thẩm định giá theo các phương pháp, dữ liệu là những tài liệu đề cập đến các cách tiếp cận trong hoạt động thẩm định giá tài sản vô hình trên thế giới và tại Việt Nam

 Tiêu chuẩn thẩm định giá Quốc tế 2013

 Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam số 02

 Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam số 03

Ngày đăng: 13/03/2017, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w