Thứ hai, nguồn lực ngân sách cấp huyện, xã bị hạn chế vì ba nguyên nhân: i Quy định phân cấp nguồn thu theo quy mô doanh nghiệp, nguồn thu của các doanh nghiệp lớn sẽ được điều tiết về
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
-
NGUYỄN THỊ OANH PHƯƠNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI GIỮA CÁC CẤP CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG: TRƯỜNG HỢP TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
-
NGUYỄN THỊ OANH PHƯƠNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI GIỮA CÁC CẤP CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG: TRƯỜNG HỢP TỈNH PHÚ YÊN
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 8 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Oanh Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn và tri ân sâu sắc nhất đến toàn thể các thầy cô và nhân viên của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã truyền đạt kiến thức, cách thức nhìn nhận vấn đề trên nhiều phương diện và dành sự quan tâm, tôn trọng đến tất cả học viên của chương trình Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sự động viên, giúp đỡ tận tình của Tiến sĩ Huỳnh Thế Du đã hướng dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn
Xin chân thành cảm ơn Giám đốc Sở Tài chính Phú Yên đã tạo mọi điều kiện để tôi có
cơ hội theo học chương trình này và các phòng trực thuộc Sở Tài chính Phú Yên đã cung cấp
số liệu, những thông tin thiết yếu và những lời nhận xét trong quá trình tôi thực hiện luận văn
Cảm ơn các bạn lớp MPP7 đã hỗ trợ, động viên tôi trong suốt thời gian qua Cuối cùng xin cảm ơn những người thân yêu nhất trong gia đình đã luôn bên cạnh ủng hộ, đồng hành
cùng tôi trong suốt hai năm học
Nguyễn Thị Oanh Phương
Học viên lớp MPP7, Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright
Trang 5Phú Yên là tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung bộ, có 09 đơn vị ngân sách cấp huyện Đánh giá chung về thực trạng phân cấp tại 09 đơn vị ngân sách cấp huyện tồn tại bất cập, phân cấp ngân sách thiếu tính kỷ luật tài khóa khi thường xuyên xảy ra tình trạng số bổ sung
từ ngân sách cấp trên thường xuyên vượt dự toán với mức độ lớn Nguồn thu cân đối ngân sách chỉ đáp ứng được trung bình 43% chi thường xuyên Các địa phương phải nhận bổ sung cân đối từ ngân sách cấp tỉnh với mức trung bình 40% Đây là nguyên nhân cơ bản làm giảm tính chủ động trong điều hành quản lý ngân sách của cấp huyện
Tất cả ngân sách cấp huyện tại tỉnh Phú Yên đều phải nhận một khoản bổ sung từ NSTƯ thông qua ngân sách cấp tỉnh nên khung lý thuyết chính được sử dụng là mục tiêu của trợ cấp ngân sách phải đảm bảo được: i) Về mặt xã hội: đảm bảo được công bằng hàng dọc và công bằng hàng ngang; ii) Về mặt kinh tế: đảm bảo nguồn lực phân bố một cách hiệu quả
Xét về phân cấp nguồn thu ngân sách tại tỉnh Phú Yên có hai bất cập: Thứ nhất, cơ chế
phân cấp nguồn thu chưa đảm bảo phân chia ngân sách công bằng, hiệu quả giữa các huyện, địa phương phát sinh nguồn thu lớn có lợi thế về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, vị trí địa
lý, tài nguyên thiên nhiên Thứ hai, nguồn lực ngân sách cấp huyện, xã bị hạn chế vì ba
nguyên nhân: i) Quy định phân cấp nguồn thu theo quy mô doanh nghiệp, nguồn thu của các doanh nghiệp lớn sẽ được điều tiết về nguồn thu của tỉnh, cấp huyện chỉ được hưởng nguồn thu thuế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ; ii) Các loại sắc thuế và mức thuế suất đều được thông qua bởi Quốc hội và được áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc, chính quyền địa phương không có quyền tự chủ đối với nguồn thu lớn này; iii) Cơ chế thưởng vượt dự toán thu chưa khuyến khích địa phương tăng thu vì cơ chế thưởng chỉ áp dụng trong thời kỳ ổn định ngân sách, đến hết thời kỳ ổn định ngân sách, số giao dự toán căn cứ trên số thu năm gần nhất
Xét về phân chia trách nhiệm chi tiêu có ba bất cập Thứ nhất, việc phân cấp chi ngân
sách chưa gắn liền với kết quả đầu ra đối với chất lượng cung cấp dịch vụ công mà chủ yếu
vẫn được phân bổ dựa trên hệ thống tiêu chí, định mức phân bổ NS theo yếu tố đầu vào Thứ
hai, việc ngân sách cấp huyện có quá ít nguồn kinh phí tự chủ để sử dụng, trong khi nhiệm vụ
chi thường xuyên khá lớn dẫn đến việc mượn tạm nguồn, sử dụng sai nguồn Nhiệm vụ chi
của cấp trên dồn cho cấp dưới chi, nhưng lại không cấp kinh phí Thứ ba, đối với chi đầu tư
Trang 6phát triển, chính quyền cấp tỉnh gần như được quyền tự quyết đối với các dự án đầu tư từ NSĐP, còn chính quyền cấp huyện có vẻ như bị bỏ quên vì phân cấp theo quy mô dự án
Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền địa phương
Nâng cao hiệu quả phân cấp nguồn thu: Thứ nhất, quy định về phân cấp nguồn thu
căn cứ vào bản chất của từng sắc thuế, lợi thế phát triển của từng địa phương, cụ thể: Thuế TNDN hạn chế phân cấp nguồn thu theo quy mô doanh nghiệp, đối với các doanh nghiệp lớn, liên quan đến nhiều khu vực địa lý nên là khoản thu phân chia giữa cấp tỉnh và huyện; Thuế GTGT, TTĐB nên phân chia theo sức mua, dân số từng địa phương; Thuế tài nguyên nên phân cấp theo mức độ quan trọng của tài nguyên, đồng thời nâng cao công tác quy hoạch,
tăng cường giám sát trong việc khai thác tài nguyên để mang lại lợi ích tối ưu nhất Thứ hai,
bãi bỏ quy định tỷ lệ phân chia cho ngân sách cấp huyện, xã, thị trấn được quy định mức tối thiểu trong luật NSNN Chính quyền cấp tỉnh có thể tự quyết định tùy điều kiện từng địa
phương mà ban hành thuế của huyện, xã trong khung cho phép của trung ương Thứ ba, giao
dự toán thu nên căn cứ theo tình hình thực tế phát sinh nguồn thu tại địa phương Bãi bỏ cơ chế thưởng vượt dự toán thu chỉ áp dụng trong thời kỳ ổn định ngân sách
Nâng cao hiệu quả phân chia trách nhiệm chi tiêu: Thứ nhất, quản lý nhiệm vụ chi
theo kết quả đầu ra Vì cơ chế hiện tại là dựa vào nguồn lực hiện có và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức hiện hành để xây dựng dự toán, dẫn đến hiệu quả quản lý ngân sách thấp, như phân
bổ sự nghiệp giáo dục nên dựa vào số lượng học sinh đến trường, không nên áp dụng tỷ lệ cứng 80% lương -20% chi công việc; định mức chi y tế không nên căn cứ vào số giường bệnh
mà dựa vào số lượng bệnh nhân thực tế đến khám chữa bệnh để phân bổ chi phí, Thứ hai,
chi tiêu được thực hiện ở cấp nào trực tiếp cung ứng dịch vụ công có hiệu quả nhất, nhiệm vụ chi cấp nào do cấp đó đảm bảo Tránh tình trạng cùng một nhiệm vụ chi được phân ra cho quá nhiều cấp mà không có sự xác định ranh giới, dẫn đến chồng chéo, xô đẩy giữa các cấp chính
quyền Thứ ba, tăng cường thẩm quyền đối với chính quyền cấp huyện trong khâu giám sát thi
công các công trình xây dựng tại huyện nhưng do cấp tỉnh làm chủ đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản./
Trang 7LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG, HÌNH, HỘP viii
DANH MỤC PHỤ LỤC ix
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Bối cảnh 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Ngân sách Nhà nước 5
2.2 Phân biệt hàng hoá công quốc gia và hàng hoá công địa phương 5
2.3 Khung lý thuyết về phân cấp ngân sách 6
2.4 Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách tại Việt Nam 7
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI GIỮA CÁC CẤP CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TẠI TỈNH PHÚ YÊN 10
3.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, hành chính, xã hội 10
3.2 Mô hình tài chính công cấp huyện, xã năm 2014 10
3.2.1 Nguyên tắc phân cấp nguồn thu ngân sách tại Phú Yên 11
3.2.2 Nguyên tắc phân chia trách nhiệm chi tiêu tại Phú Yên 19
Trang 83.2.3 Đánh giá chuyển giao nguồn lực bằng bổ sung cân đối - bổ sung có mục tiêu 26
CHƯƠNG 4: KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 28
4.1 Kinh nghiệm quốc tế về xu hướng phân cấp ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương 28
4.2 Kết luận 29
4.3 Khuyến nghị chính sách 30
4.4 Hạn chế của đề tài 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC 34
Trang 9TỪ VIẾT TẮT Ý NGHĨA
Trang 10DANH MỤC BẢNG, HÌNH, HỘP
Bảng 3.1: Quyết toán nguồn thu ngân sách cấp huyện theo từng sắc thuế năm 2014 13
Bảng 3.2: Tình trạng sử dụng giáo viên hợp đồng tại một số huyện thuộc tỉnh Phú Yên 21
Hình 1.1: So sánh số Quyết toán/Dự toán thu bổ sung ngân sách cấp huyện tại tỉnh Phú Yên năm 2014 2
Hình 3.1: Cơ cấu thu - chi ngân sách cấp huyện tỉnh Phú Yên năm 2014 11
Hình 3.2: Cơ cấu nguồn thu theo từng sắc thuế ngân sách cấp huyện năm 2014 12
Hình 3.3: Cơ cấu số thu được hưởng theo từng cấp ngân sách năm 2014 16
Hình 3.4: Thu, chi ngân sách cấp huyện và bổ sung từ ngân sách cấp trên năm 2014 17
Hình 3.5: Cơ cấu chi ngân sách cấp huyện năm 2014 tỉnh Phú Yên 19
Hình 3.6: Cơ cấu chi theo từng nội dung chi thường xuyên cấp huyện năm 2014 tỉnh Phú Yên 20
Hình 3.7: Quyết toán chi đầu tư phát triển ngân sách cấp huyện phân theo nguồn vốn 2014 25 Hình 3.8: Quyết toán thu - chi, thu bổ sung ngân sách cấp huyện năm 2014 26
Hộp 3 1: Tài nguyên cát 15
Trang 11Phụ lục 1 Quyết toán thu - chi NSĐP tỉnh Phú Yên năm 2010 - 2014 34
Phụ lục 2 Cơ cấu thu - chi ngân sách cấp huyện tỉnh Phú Yên năm 2014 34
Phụ lục 3 Quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phần trăm phân chia các nguồn thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phú yên trong thời kỳ ổn định năm 2011-2015 35
Phụ lục 4 Phân công nhiệm vụ chi thường xuyên cấp tỉnh - huyện 41
Phụ lục 5 Quyết toán theo từng nội dung chi thường xuyên ngân sách huyện năm 2014 43
Phụ lục 6: Phân công mang tính đại diện về quyền hạn đánh thuế 44
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh
Mỗi cấp chính quyền địa phương chỉ có thể thực hiện nhiệm vụ của mình khi có đủ các nguồn lực cần thiết và chủ động đưa ra các quyết định chi tiêu Theo nghiên cứu Vũ
Thành Tự Anh, Ninh Ngọc Bảo Kim (2008) “Phân cấp cho phép chính quyền địa phương
áp dụng chính sách linh hoạt hơn và có quyền tự quyết lớn hơn trong việc theo đuổi các mục tiêu phát triển” Vì vậy phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền địa
phương là vấn đề trọng tâm trong phân cấp quản lý nhà nước và hiện nay rất được quan tâm ở đa số các nước trên thế giới Thêm vào đó, theo quan điểm về phân cấp của Oates
(1972) “dịch vụ công nên do cấp chính quyền đại diện tốt nhất cho vùng hay địa phương
được hưởng lợi cung cấp” và “mỗi dịch vụ công nên được cung ứng bởi cấp chính quyền kiểm soát được khu vực địa lý tối thiểu trong đó “nội hóa” được các lợi ích và chi phí của việc cung cấp dịch vụ công này.”
Phân cấp ngân sách Việt Nam được luật hóa lần đầu trong Luật Ngân sách nhà nước 1996 và chính quyền địa phương được giao quyền tự chủ, quyết định cao đối với một
số nhiệm vụ trong Luật Ngân sách nhà nước 2002 (Luật NSNN, 2002) Phân cấp ngân sách gồm phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương (NSTƯ) và ngân sách địa phương (NSĐP), giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương Ngân sách các cấp chính quyền địa phương bao gồm ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Cách thức phân cấp ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương và phân phối ngân sách từ trung ương đến địa phương sẽ được quyết định thông qua bởi cấp tỉnh
Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương thời gian qua tại Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng kể Việc tăng cường phân cấp nguồn thu, ổn định tỷ lệ phân chia và số bổ sung trong cân đối cho NSĐP thời kỳ ổn định ngân sách từ 3 đến 5 năm giúp địa phương tăng tính chủ động, tích cực nuôi dưỡng nguồn thu, quản lý chi, hạn chế tư tưởng trông chờ hay phụ thuộc vào ngân sách cấp trên Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu Vũ Sỹ Cường (2012) cho rằng việc tập trung nhiều quyền cho cấp tỉnh sẽ làm hạn chế tính tự chủ, độc lập của ngân sách cấp huyện, xã và vô hình chung sẽ tạo ra cơ chế xin – cho giữa chính quyền cấp trên với cấp chính quyền bên dưới
Trang 13Phú Yên có 09 đơn vị ngân sách cấp huyện với sự khác biệt về đặc điểm tự nhiên
xã hội, phân chia làm 3 vùng đặc trưng: vùng biển và ven biển (thành phố Tuy Hòa, huyện Đông Hòa, Tuy An, thị xã Sông Cầu); vùng đồng bằng (huyện Phú Hòa, Tây Hòa); vùng miền núi (huyện Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh) Trong thời kỳ ổn định ngân sách từ năm 2011 đến 2015, phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi được thực hiện theo Nghị quyết số 163/2010/NQ-HĐND ngày 16/10/2010 của HĐND tỉnh Phú Yên Đặc trưng là một trong những tỉnh nhận bổ sung, chịu sự phụ thuộc rất lớn từ NSTƯ, sau gần 6 năm thực hiện Nghị quyết số 163/2010/NQ-HĐND đã tạo động lực để địa phương phấn đấu hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu ngân sách, đảm bảo chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hoạt động của bộ máy chính quyền, các chính sách an sinh xã hội,…Số bình quân thực hiện năm sau cao hơn so với năm trước đối với số thu cân đối NSNN là 8%, số chi cân đối NSNN là 9% (Phụ lục 1)
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phân cấp vẫn còn một số tồn tại, bất cập Tất
cả ngân sách cấp huyện tại tỉnh Phú Yên đều phải nhận một khoản bổ sung trong cân đối từ ngân sách cấp tỉnh, dễ dẫn đến ngân sách cấp huyện sẽ thiếu tính chủ động trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương Phân cấp ngân sách thiếu tính kỷ luật tài khóa khi thường xuyên xảy ra tình trạng số thu bổ sung trong cân đối và bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên thường xuyên vượt dự toán với mức độ lớn (Hình 1.1)
Hình 1.1: So sánh số Quyết toán/Dự toán thu bổ sung ngân sách cấp huyện tại tỉnh
So sánh số Quyết toán/Dự toán bổ sung có mục tiêu
Trang 14Về phân cấp nhiệm vụ chi: Cấp tỉnh được toàn quyền quyết định nhiệm vụ chi, dễ tạo điều kiện cho chính quyền cấp tỉnh tập trung các nguồn lực lớn trong tay mình, đặc biệt các huyện thuộc tỉnh Phú Yên đều nhận bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh Ngoài ra, hệ thống phân bổ ngân sách dựa trên định mức theo các yếu tố đầu vào mà chưa tính đến yêu cầu đặt
ra đối với đầu ra, cũng là một trong những nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí ngân sách
Việc hình thành một nghiên cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả của việc phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương, cụ thể từ ngân sách cấp tỉnh đến cấp huyện dựa trên các nguyên tắc về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách hiện tại
là hoàn toàn cần thiết Đây chính là lý do đề tài “Nâng cao hiệu quả phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền địa phương - Trường hợp tỉnh Phú Yên” được triển khai thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích thực tế tình hình phân cấp quản lý NSNN hiện tại; rút ra những điểm mạnh, điểm bất cập và nguyên nhân Từ đó đề xuất những gợi ý chính sách hợp lý để khắc phục những điểm bất cập này
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu nêu trên, tác giả tiến hành tìm hiểu hai câu hỏi nghiên cứu:
Câu hỏi 1: Những bất cập trong phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách cấp tỉnh và cấp huyện ở tỉnh Phú Yên là gì?
Câu hỏi 2: Những can thiệp chính sách nào là cần thiết để nâng cao hiệu quả trong phân cấp quản lý ngân sách từ cấp tỉnh đến cấp huyện ở tỉnh Phú Yên?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các quy định về cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương Cụ thể trường hợp tại tỉnh Phú Yên:
Cơ chế điều hành ngân sách trong thời kỳ ổn định ngân sách 2011-2015 thực hiện theo Nghị quyết số 163/2010/NQ-HĐND ngày 16/10/2010 của HĐND tỉnh Phú Yên quy định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi; và các văn bản quy định chế độ và chính sách khác kèm theo
Trang 15Phạm vi nghiên cứu số liệu quyết toán thu - chi ngân sách năm 2014 của 09 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu và các huyện Đồng Xuân, Đông Hòa, Sông Hinh, Sơn Hòa, Phú Hòa, Tây Hòa, Tuy An
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành trên cơ sở phân tích định tính thông qua khảo lược các nghiên cứu trước, các kinh nghiệm về mô hình quản lý, phân cấp ngân sách của các quốc gia và các địa phương khác; từ đó, rút ra được xu hướng chung và những điều kiện cần để hình thành một cơ chế phân cấp ngân sách hiệu quả
Tiếp theo, nghiên cứu tiến hành phân tích, đánh giá cơ chế phân cấp quản lý ngân sách hiện tại tại tỉnh Phú Yên và rút ra được những nguyên nhân của những bất cập hiện tại Từ đó, nghiên cứu tiến hành đánh giá những điều kiện cần trên với thực tế của địa phương và đưa ra những gợi ý chính sách
1.6 Kết cấu đề tài
Nghiên cứu được xây dựng trên kết cấu năm chương Chương 1 giới thiệu bối cảnh chính sách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi chính sách, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Chương 2 trình bày về những nghiên cứu, các mô hình quản lý, phân cấp NSNN để hình thành một cơ chế phân cấp ngân sách hiệu quả Chương 3 phân tích, đánh giá cơ chế phân cấp ngân sách hiện tại tại tỉnh Phú Yên và rút ra được những nguyên nhân của những bất cập Chương 4 kết luận và gợi ý chính sách để tăng cường tính hiệu quả trong việc phân cấp quản lý NSNN giữa các cấp chính quyền địa phương tại tỉnh Phú Yên giai đoạn 2016-
2020 và những định hướng phát triển tiếp theo của nghiên cứu này./
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Ngân sách Nhà nước
“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước” (Luật ngân sách nhà nước, 2002)
NSNN gồm NSTƯ và NSĐP Ngân sách các cấp chính quyền địa phương là ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND Cụ thể: ngân sách cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); ngân sách cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh); ngân sách cấp xã (xã, phường, thị trấn)
Phần lớn, các khoản thu NSNN đều mang tính chất bắt buộc, các khoản chi NSNN mang tính chất không hoàn lại Nhìn vào bức tranh thu chi ngân sách, có thể hiểu được sự lựa chọn chiến lược về kinh tế, xã hội mà nhà nước đang hướng đến; các mối quan hệ kinh
tế, quan hệ lợi ích nhất định đang tồn tại
Thu NSNN gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp tổ chức và cá nhân; viện trợ; thu khác theo quy định pháp luật
Chi NSNN gồm các khoản chi phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, hoạt động bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và chi khác theo quy định của pháp luật
Cân đối ngân sách thực hiện theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách (Luật NSNN 2002)
2.2 Phân biệt hàng hoá công quốc gia và hàng hoá công địa phương
Hàng hóa công quốc gia là những hàng hóa có lợi ích hướng về tất cả người dân trong nước, loại hàng hóa này sẽ được cấp ngân sách từ trung ương
Hàng hóa công địa phương là những hàng hóa có lợi ích bị giới hạn trong phạm vi sinh sống của một địa phương cụ thể
Trang 17Nguyên tắc phân cấp hàng hóa công “mỗi dịch vụ công nên được cung cấp bởi phạm vi quyền hạn mà có thể kiểm soát được khu vực địa lý tối thiểu mà sẽ nội bộ hóa các lợi ích và chi phí của một sự cung cấp như vậy” (Oates 1972, tr 55) nghĩa là các cấp chính quyền địa phương chỉ thực hiện cung ứng dịch vụ công trên phạm vi địa lý của địa phương mình
Trách nhiệm của chính quyền Trung ương là những dịch vụ công đem lại lợi ích vượt quá phạm vi hành chính của mỗi địa phương, đồng thời phải bảo đảm năng lực tài chính bình đẳng giữa các cấp chính quyền địa phương, sao cho công dân sống ở bất kỳ nơi nào trong một đất nước cũng sẽ nhận được một mức độ dịch vụ công như nhau
2.3 Khung lý thuyết về phân cấp ngân sách
Phân cấp ngân sách là việc phân định phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền các cấp chính quyền từ trung ương tới địa phương trong quá trình tổ chức và sử dụng NSNN phục
vụ cho việc thực thi các chức năng nhiệm vụ của nhà nước (Vũ Sỹ Cường, 2011) Phân cấp ngân sách gồm phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách (Luật NSNN 2002)
Phân cấp ngân sách sẽ giúp cho địa phương làm rõ quyền và trách nhiệm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo Theo Phạm Lan Hương (2006), việc địa phương quản lý ngân sách có thể dẫn đến huy động và phân bổ nguồn lực tốt hơn, các dịch vụ cung ứng sẽ phù hợp và đáp ứng tốt nhu cầu của người dân địa phương, phù hợp với điều kiện và tình huống cụ thể của từng địa phương
Tuy nhiên, phân cấp ngân sách chỉ là đòn bẩy mạnh mẽ đối với các địa phương có lợi thế về điều kiện phát triển kinh tế xã hội tốt, còn đối với các địa phương phát triển kinh
tế kém hiệu quả, NSĐP nhận bổ sung lớn từ NSTƯ vì không cân đối được thu - chi NSNN (nghĩa là tổng khoản thu NSĐP địa phương được hưởng 100% và thu phân chia không đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu) thì NSĐP sẽ phụ thuộc phần lớn vào số bổ sung của NSTƯ (Vũ Thành Tự Anh, Ninh Ngọc Bảo Kim, 2008) Thực trạng ngân sách cấp huyện tại tỉnh Phú Yên thường xảy ra mất cân bằng hàng ngang do sự khác biệt về nhu cầu, năng lực giữa các địa phương và mất cân bằng hàng dọc giữa các cấp chính quyền vì mất cân bằng thu - chi ngân sách Tất cả ngân sách cấp huyện tại tỉnh Phú Yên đều phải nhận một khoản bổ sung
từ NSTƯ thông qua ngân sách cấp tỉnh nên khung lý thuyết chính được sử dụng là mục
Trang 18tiêu của trợ cấp ngân sách phải đảm bảo được1: i) Về mặt xã hội: đảm bảo được công bằng hàng dọc bằng cách chia sẻ nguồn thu, hay các khoản chuyển giao từ chính quyền cao hơn
để giải quyết mất cân bằng thu chi của các chính quyền địa phương; đảm bảo công bằng hàng ngang thông qua phân phối lại thu nhập giữa các địa phương và khắc phục khác biệt
về năng lực và nhu cầu giữa các địa phương theo nguyên tắc ngang bằng hóa; ii) Về mặt kinh tế: đảm bảo nguồn lực được phân bố một cách hiệu quả Các dạng trợ cấp thường gặp: i) Trợ cấp có mục đích cụ thể và trợ cấp có mục đích chung để giải quyết mất cân bằng hàng dọc; ii) Trợ cấp tự động được phân bổ theo công thức và trợ cấp theo dự án; iii) Trợ cấp cả gói và trợ cấp đối ứng Nguyên tắc đối với chính sách trợ cấp hiệu quả đó là đơn giản, minh bạch, ổn định và có tính dự báo trước, đáp ứng được nhu cầu và mục tiêu của địa phương, khả thi về mặt quản lý
2.4 Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách tại Việt Nam 2
Trách nhiệm phân chia giữa NSTƯ và chính quyền địa phương
Phương trình cân bằng tài khóa địa phương
T = Chuyển giao (bổ sung) từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới
- Nếu A > B + C thì t = 100% và ngân sách cấp trên sẽ cấp bổ sung cho ngân sách cấp dưới một khoản T = A – (B + C)
- Nếu A ≤ B + C thì NS cấp trên không cấp bổ sung (T = 0) và tỷ lệ phân chia ngân sách t = (A – B)/C
Trang 19Trách nhiệm phân chia ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương
HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản
lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn NSĐP được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã
Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5 năm Số bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới
Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hàng năm mà NSĐP được hưởng để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ
ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển NSĐP, thực hiện giảm dần số
bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên
Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành
và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó
Phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương được giao cho HĐND cấp tỉnh quyết định trên cơ sở đảm bảo những nguyên tắc chung theo Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn kèm theo HĐND cấp tỉnh được quyết định dự toán ngân sách, phân bổ NSĐP; được quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương đối với phần NSĐP được hưởng từ các khoản phân chia với NSTƯ; được quyết định ban hành một số chế độ, định mức chi tiêu ngân sách, định mức phân bổ ngân sách… phù hợp với điều kiện ở địa phương
Trang 20Trách nhiệm phân chia ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương tại tỉnh Phú Yên
Trong thời kỳ ổn định ngân sách 05 năm (2011-2015), cơ chế điều hành ngân sách tại tỉnh Phú Yên thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 163/2010/NQ-HĐND ngày 16/10/2010 của HĐND tỉnh Phú Yên về quy định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi
Về phân cấp nguồn thu, vì đặc thù là tỉnh nhận bổ sung nên hầu như các khoản thu phân chia giữa NSTƯ và NSĐP đều để lại địa phương hưởng 100% (trừ thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu, thuế TNDN các đơn vị hạch toán toàn ngành); các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương hầu hết để lại cho ngân sách huyện, xã hưởng 100% Riêng tỷ lệ phân chia giữa các cấp ngân sách có phân biệt vùng địa lý đối với các khoản thu thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế nhà đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp; lệ phí trước bạ nhà đất, cụ thể: vùng đồng bằng ngân sách huyện hưởng 30%, ngân sách xã hưởng 70%; TP Tuy Hòa và Thị xã Sông Cầu ngân sách huyện hưởng 70%, ngân sách phường hưởng 30%; vùng miền núi ngân sách huyện hưởng 0%, ngân sách xã hưởng 100% Về phân cấp nhiệm vụ chi thực hiện theo quy định Luật NSNN 2002 Ngoài ra, nhiệm vụ chi sự nghiệp (SN) giáo dục như Trường Trung học phổ thông, trường dân tộc nội trú, trường Trẻ em khuyết tật sẽ do tỉnh quản lý; nhà trẻ, Trường mẫu giáo, Trường tiểu học, Trường trung học cơ sở và các hoạt động khác về giáo dục phân cấp cho huyện quản
lý Phân cấp trong chi đầu tư phát triển, UBND cấp huyện được phân cấp cho phép chủ trương đầu tư các dự án nhóm C3
(Chi tiết xem phụ lục 3: Quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phần trăm phân chia các nguồn thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương tỉnh Phú Yên trong thời kỳ ổn định năm 2011-2015)./
3 Định nghĩa dự án nhóm A, B, C căn cứ vào Phụ lục 01: Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng.
Trang 21CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI GIỮA
CÁC CẤP CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TẠI TỈNH PHÚ YÊN
3.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, hành chính, xã hội
Phú Yên là tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung bộ, phía bắc giáp tỉnh Bình Định, phía nam giáp Khánh Hòa, phía tây giáp Đăk Lăk và Gia Lai, phía đông là biển Đông, nằm ở điểm giao nhau của các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ nối Bắc Nam, Đông Tây, có cảng biển Vũng Rô, sân bay Đông Tác Diện tích tự nhiên 5.060km2, chiều dài bờ biển 189km, dân
số trung bình năm 2014 là 887.374 người (nam 443.884 người, nữ 443.490 người), mật độ
175 người/km24
Vùng ven biển gồm huyện Đông Hòa, TP Tuy Hòa, các xã còn lại (không phải miền núi) của thị xã Sông Cầu và huyện Tuy An, có diện tích khoảng 34.000 km2 Đây là đầu tàu kinh tế của tỉnh, có số thu NSNN lớn nhất vì tập trung nhiều cơ sở công nghiệp, dịch vụ; kết cấu hạ tầng đầu tư khá đồng bộ gồm hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không và cảng biển TP Tuy Hòa nằm ở hạ lưu sông Ba, hội tụ đủ bốn loại hình giao thông, khả năng kết nối tốt với các vùng Tây Nguyên và tỉnh thành khác cả nước Thị xã Sông Cầu có Khu công nghiệp Đông Bắc Sông Cầu thu hút một số doanh nghiệp đến đầu tư, có tiềm năng lớn về phát triển du lịch và công nghiệp
Vùng miền núi gồm các huyện Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh, một số xã của huyện Phú Hòa, Tây Hòa và thị xã Sông Cầu Đây là vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn ngày và cây lương thực như sắn, mía, cao su,… Tuy nhiên quy mô vùng còn nhỏ, tự phát
Vùng đồng bằng là khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và ven biển gồm huyện Phú Hòa (tách ra từ TP Tuy Hòa năm 2002) và Tây Hòa (tách ra từ TP Tuy Hòa năm 2005), kinh tế vùng vẫn chưa có những bước phát triển mạnh mẽ, chủ yếu là thâm canh cây lương thực, chăn nuôi nhỏ lẻ
3.2 Mô hình tài chính công cấp huyện, xã năm 2014
Thực trạng ngân sách 09 huyện, thành phố thuộc tỉnh Phú Yên đều nhận bổ sung cân đối từ ngân sách cấp tỉnh với mức trung bình 40% Đây là nguyên nhân cơ bản làm
4 Cục Thống kê tỉnh Phú Yên (2015), Niên giám Thống kê tỉnh Phú Yên năm 2014, NXB Thống kê
Trang 22giảm tính chủ động trong điều hành quản lý ngân sách của cấp huyện nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế tại địa phương, đặc biệt là chi đầu tư phát triển Nguồn thu cân đối ngân sách cấp huyện chỉ đáp ứng được trung bình 43% chi thường xuyên, khả năng đáp ứng được chi thường xuyên cao nhất là TP.Tuy Hoà (93%) và thấp nhất huyện Tây Hoà (24%)
và Tuy An (25%) Qua đó, ngân sách cấp huyện bị mất cân đối ngay từ đầu năm và chưa đáp ứng được đến một nửa nhu cầu chi thường xuyên (Phụ lục 2 và Hình 3.1)
Hình 3.1: Cơ cấu thu - chi ngân sách cấp huyện tỉnh Phú Yên năm 2014
Nguồn: Sở Tài chính Phú Yên, Quyết toán thu - chi ngân sách huyện năm 2014
3.2.1 Nguyên tắc phân cấp nguồn thu ngân sách tại Phú Yên
Các khoản thu phân chia giữa cấp tỉnh - huyện - xã: Thuế GTGT thu từ các đơn vị
thuộc từng cấp quản lý thu (không kể thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu NSTƯ hưởng 100%, thuế GTGT thu từ hoạt động xổ số kiến thiết cấp tỉnh hưởng 100%); thuế TNDN thu từ các đơn vị thuộc từng cấp quản lý thu (không kể thuế TNDN của các đơn vị hạch toán toàn ngành NSTƯ hưởng 100%, thuế TNDN thu từ hoạt động xổ số kiến thiết cấp tỉnh hưởng 100%); thuế TTĐB thu từ dịch vụ, hàng hóa sản xuất trong nước thuộc từng cấp quản lý thu, không kể thuế TTĐB thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; thuế TNCN do từng cấp quản lý thu
Các khoản thu huyện - xã được hưởng 100%: Thuế môn bài; thuế tài nguyên không
kể tài nguyên thu từ hoạt động dầu khí; tiền cho thuê mặt đất, mặt nước; tiền sử dụng đất;
Thu cân đối NSNN
Chi cân đối NSNN
Thu bổ sung từ NS cấp trên
Tỷ lệ thu bổ sung cân đối/chi cân đối NS
Tỷ lệ thu cân đối NSNN/chi thường xuyên
Trang 23tiền cho thuê nhà và bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; lệ phí trước bạ và một số khoản thu khác
Theo quy định trong thời kỳ ổn định ngân sách, tỷ lệ phân chia được giữ ổn định 5 năm giúp địa phương đặt ra mục tiêu, ổn định nguồn thu trong cân đối để thực hiện nhiệm
vụ của mình; đồng thời, địa phương huy động số thu vượt dự toán giao thì có quyền sử dụng nguồn tăng thu này để phục vụ nhiệm vụ chi khác tại địa phương Trên thực tế, nguồn tăng thu này chủ yếu sử dụng trong xây dựng cơ bản và sự nghiệp kinh tế
Cơ cấu nguồn thu và quyết toán số thu theo từng sắc thuế
Xét cơ cấu nguồn thu, dữ liệu cho thấy chỉ có thuế GTGT, các khoản thu về nhà đất
là đáng kể còn lại các nguồn thu khác chiếm tỷ lệ nhỏ (Hình 3.2)
Hình 3.2: Cơ cấu nguồn thu theo từng sắc thuế ngân sách cấp huyện năm 2014
Nguồn: Sở Tài chính Phú Yên, Quyết toán thu - chi ngân sách huyện năm 2014 Xét quyết toán nguồn thu theo từng sắc thuế, dữ liệu cho thấy có sự chênh lệch lớn
về số thu từng sắc thuế các huyện Trong đó, TP.Tuy Hòa đạt số thu lớn nhất đối với tất cả các sắc thuế, đặc biệt thuế GTGT, TNDN và các khoản thu về nhà đất; các huyện Phú Hòa, Tây Hòa, Sơn Hòa, Tuy An, Đông Hòa có nguồn thu từ tất cả các loại thuế tương đối thấp, huyện Tây Hòa còn không phát sinh thuế TTĐB (Bảng 3.2)
Đông Hòa
Tuy An
Sông Cầu
Phú Hòa
Tây Hòa
Đồng Xuân
Sơn Hòa
Sông Hinh
Thuế tài nguyên Các khoản thu về nhà đất Thuế TNCN
Thuế TTĐB Thuế TNDN Thuế GTGT
Trang 24Bảng 3.1: Quyết toán nguồn thu ngân sách cấp huyện theo từng sắc thuế năm 2014
Đông Hòa
Tuy
An
Sông Cầu Hòa Phú
Tây Hòa
Đồng Xuân
Sơn Hòa
Sông Hinh
Thuế GTGT 97.261 13.130 11.920 27.574 11.739 11.649 42.723 9.919 73.844 Thuế TNDN 15.489 1.184 827 1.296 1.129 1.236 2.102 629 2.479
Thuế TNCN 12.008 1.439 857 1.325 1.726 1.610 505 698 2.141 Các khoản thu
về nhà đất 63.511 19.452 5.510 24.542 2.589 5.388 1.385 7.356 1.981 Thuế tài nguyên 6.388 866 711 922 262 1.092 208 1.866 1.819
Nguồn: Sở Tài chính Phú Yên, Quyết toán thu - chi ngân sách huyện năm 2014
Xét về cơ cấu nguồn thu và quyết toán số thu theo từng sắc thuế tại 09 ngân sách cấp huyện thì cơ chế phân cấp nguồn thu chưa đảm bảo phân chia ngân sách công bằng, hiệu quả giữa các huyện
Thuế GTGT và TNDN là hai nguồn thu quan trọng đối với ngân sách huyện, quy định tỷ lệ phân chia đối với ngân sách huyện được hưởng là 100% từ các đơn vị do cấp huyện quản lý thu nên giúp địa phương nỗ lực tăng thu Với quy định này, địa phương được phân cấp quản lý nhiều doanh nghiệp phát sinh doanh thu cao sẽ hạch toán nộp thuế nhiều hơn, giúp địa phương có thêm nguồn lực để đảm bảo nhiệm vụ chi Nhưng xét về bản chất hiệu quả phân bổ kinh tế chưa cao vì địa phương có điều kiện phát triển kinh tế -
xã hội sẽ có lợi hơn (như TP Tuy Hòa, Sông Hinh, Đồng Xuân)
Thuế TTĐB có tỷ lệ phân chia đối với ngân sách huyện được hưởng là 100% từ các đơn vị do cấp huyện quản lý thu Thuế TTĐB là một loại thuế gián thu, do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ vì đã được cấu thành trong giá sản phẩm, dịch vụ
và doanh nghiệp sản xuất sẽ nộp thay người tiêu dùng khoản thuế này vào NSNN Bản chất thuế TTĐB nhằm điều tiết hướng dẫn sản xuất, điều tiết tiêu dùng của mỗi quốc gia, điều tiết một phần thu nhập của những người tiêu dùng thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội nên đối tượng chịu thuế khá hẹp và mức thuế suất cao Trường hợp thường gặp là nhà sản xuất và người tiêu dùng phân bổ trên những địa phương khác nhau Như huyện Tây Hòa không phát sinh khoản thu thuế TTĐB nhưng người dân tại huyện này vẫn sử dụng những
Trang 25hàng hóa đánh thuế TTĐB Với quy định phân chia hiện tại sẽ không công bằng đối với người nộp thuế TTĐB vì họ sẽ không được hưởng dịch vụ công từ khoản đóng góp này
Thuế TNCN có tỷ lệ phân chia đối với ngân sách huyện được hưởng là 100% từ các
cá nhân do cấp huyện quản lý thu Quyết toán số thu thuế TNCN giữa các huyện có sự chênh lệch rất lớn, cao nhất là TP Tuy Hòa (12.008 triệu đồng), thấp nhất là huyện Đồng Xuân (505 triệu đông), nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ chênh lệch phát triển kinh tế mỗi địa phương Ngoài ra, bản chất thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân và đổi lại người nộp thuế phải được hưởng các chính sách xã hội tương ứng với số tiền thuế đã nộp Tuy nhiên số thu thuế này phần lớn được quyết toán
và nộp bởi doanh nghiệp chi trả thu nhập chịu thuế, trụ sở các doanh nghiệp này thường được đặt ở những thành phố lớn, nên sẽ xuất hiện sự không công bằng nếu người lao động làm việc tại các chi nhánh, xí nghiệp công ty có vị trí đặt tại các huyện có điều kiện dịch vụ công yếu kém
Các khoản thu về nhà đất (Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; thuế chuyển quyền
sử dụng đất; thu tiền thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển; thu tiền sử dụng đất; thu tiền bán nhà và thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước) là nguồn thu ngân sách huyện được hưởng 100% từ các đơn vị do cấp huyện quản lý thu Nguồn thu này chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu thu tại mỗi huyện, nhưng số thu lại chênh lệch lớn (Hình 3.2 và Bảng 3.2) Nguyên nhân vì giá đất tại mỗi huyện rất khác biệt, với quy định phân cấp hiện tại thì sẽ có một số huyện được hưởng lợi một cách tự nhiên, hệ lụy xấu hơn đó là các huyện có thể đẩy mạnh khai thác quỹ đất vội vã, thiếu quy hoạch để có nguồn vốn đầu tư xây dựng, trong khi ngân sách tỉnh không thể điều tiết được một phần nguồn lợi này cho những huyện khác
Thuế tài nguyên thuộc nguồn thu ngân sách huyện được hưởng 100% từ các đơn vị
do cấp huyện quản lý thu là chưa phù hợp tại mỗi huyện sẽ có sự khác biệt rất lớn về loại,
số lượng, giá cả từng loại tài nguyên, dẫn đến nguồn thu tài nguyên sẽ có khác biệt rất lớn,
có thể xảy ra việc khai thác tận diệt, thiếu quy hoạch, giám sát để có được nguồn thu cho ngân sách cấp mình
Trang 26Hộp 3 1: Tài nguyên cát
Tài nguyên cát
Dự án “Kè chống xói lở ven bờ biển khu vực xóm Rớ, phường Phú Đông, TP Tuy Hòa” thiết kế kè dài 970m phía trên mái kè còn có một tường chắn sóng bằng bê tông cao khoảng 1,3m, kết hợp làm đường giao thông nội vùng; được khởi công từ tháng 4/2015 nhằm sớm khắc phục tình trạng sạt lở ven bờ biển khu vực xóm Rớ với tổng kinh phí 150 tỉ đồng từ nguồn vốn ODA viện trợ không hoàn lại của chính phủ Kuwait, vốn hỗ trợ có mục tiêu NSTƯ và NS tỉnh do Ban quản lý dự
án Thủy lợi và Phòng chống thiên tai làm chủ đầu tư5 Hiện tại, UBND tỉnh Phú Yên đã đề nghị Trung ương đầu tư dự án giai đoạn 2 nhằm hoàn thiện toàn bộ 1,9 km chiều dài tuyến kè và hệ thống hạ tầng kỹ thuật gồm đường giao thông, điện chiếu sáng… với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 300 tỷ đồng
Dự án “Nạo vét cửa sông Đà Diễn” (sông Ba, tỉnh Phú Yên) mục tiêu khơi thông một luồng tàu đảm bảo tàu ra vào cảng an toàn, kể cả trong mùa nước cạn do UBND TP Tuy Hòa làm chủ đầu tư tổng kinh phí thực hiện gần 12 tỷ đồng được triển khai cuối năm 2013 và vẫn còn tiếp tục đến thời điểm hiện tại (tháng 8/2016), hình thức lấy thu bù chi từ việc tận thu nguồn cát để bán Đơn vị được chỉ định thầu thi công nạo vét là DNTN Bảo Châu được phép tận thu lượng cát nạo vét để chi trả cho việc thi công công trình và các khoản thuế tài nguyên Cát tận thu từ việc nạo vét là cát nhiễm mặn, không thể dùng cho xây dựng; Thành phố không có nhu cầu dùng cát nhiễm mặn nên cho phép DNTN Bảo Châu xuất bán6
Kết quả: Chỉ sau một năm thực hiện dự án nạo vét cửa Đà Diễn đã bị bồi lấp như cũ, trong khi hàng chục căn nhà phía hữu ngạn cửa sông là xóm Rớ, phường Phú Đông, TP Tuy Hòa bị xói lở móng, sập đổ
Nguyên nhân: Theo ông Lương Luận, Chủ tịch Nghiệp đoàn Nghề cá phường Phú Đông, từng làm lạch trưởng 2 nhiệm kỳ, sống ở xóm Rớ từ nhỏ nên hiểu rõ về dòng chảy ven bờ: “Khi đổ ra biển, nước sông Ba cuộn lại thành một dòng chảy ven bờ từ Nam ra Bắc phía hữu ngạn cửa sông Do vậy, nếu không có phương pháp chỉnh trị mà lấy cát bên ngoài cửa sông càng sâu thì dòng chảy sẽ càng lấy đất cát trên bờ phía Nam để lấp cửa sông, xóm Rớ sẽ biến mất.”7 Ngoài ra, tại thời điểm hạng mục hút cát ngoài cửa biển được thực hiện không có đánh giá tác động môi trường về việc này
Theo ông Nguyễn Chí Hiến - Phó Chủ tịch tỉnh Phú Yên (nguyên Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Yên), cho rằng để ổn định luồng lạch lâu dài ở cửa Đà Diễn, tàu thuyền ra vào an toàn thì
5 xay-ke-bien-150-ti-dong-bao-ve-khu-dan-cu-xom-ro-568846/
http://www.baotainguyenmoitruong.vn/moi-truong-va-phat-trien/bien-doi-khi-hau/201501/khan-truong-6 http://thuysanvietnam.com.vn/thong-luong-cua-song-da-dien-article-9018.tsvn
7 http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/hut-cat-cua-song-dan-mat-nha-2015011123102403.htm
Trang 27không thể dựa vào việc hút cát mà phải nghiên cứu kỹ địa chất, dòng chảy nhằm xây dựng đề án chỉnh trị cửa sông Đề án chỉnh trị cửa sông Ba đã giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư Tuy nhiên, sau lần chỉnh trị cửa Đà Nông, chủ đầu tư là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đã mắc nhiều sai phạm, nhiều cán bộ phải hầu tòa nên đơn vị này ngại nên chưa nhận
Hai dự án lớn đang được thực hiện song song cùng lúc rất hài hòa lợi ích giữa chủ đầu tư, đơn vị thi công và cộng đồng, nhưng nhìn sâu vào vấn đề có vẻ như cái hài hòa đó đã che lấp đi mâu thuẫn, xuất hiện chênh lệch lợi ích lớn giữa cộng đồng và “ai đó”./.
Nguồn lực ngân sách cấp huyện, xã
Hình 3.3: Cơ cấu số thu được hưởng theo từng cấp ngân sách năm 2014
Nguồn: Sở Tài chính Phú Yên, Quyết toán thu - chi ngân sách huyện năm 2014
Nếu nhìn vào cơ cấu số thu được hưởng theo từng cấp ngân sách (Hình 3.3), có vẻ
như ngân sách cấp huyện, xã được phân cấp rất nhiều ngân sách, trung bình ngân sách cấp huyện được hưởng đến 81% nguồn thu NSNN trên địa bàn, cao nhất Tp Tuy Hoà (95%),
Sông Cầu (94%), Sông Hinh (94%)
Phú Hoà
Đông Hoà
Tây Hoà
Tuy An
Sông Cầu Đồng Xuân
Sơn Hoà
Sông Hinh
NS Xã
NS Huyện
NS Tỉnh
NS Trung ương