1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình trường hợp hộ đồng bào dân tộc khmer trên địa bàn tỉnh cà mau

73 465 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 858,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HUỲNH CÔNG THIỆU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH: TRƯỜNG HỢP HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN

Trang 1

HUỲNH CÔNG THIỆU

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH: TRƯỜNG HỢP HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

KHMER TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - 2016

Trang 2

HUỲNH CÔNG THIỆU

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH: TRƯỜNG HỢP HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

KHMER TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS BÙI THỊ MAI HOÀI

Tp Hồ Chí Minh - 2016

Trang 3

quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Ngày 09 tháng 8 năm 2016

Tác giả

Huỳnh Công Thiệu

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1.SỰCẦNTHIẾTCỦAVẤNĐỀNGHIÊNCỨU 1

1.2.MỤCTIÊUVÀCÂUHỎINGHIÊNCỨU 2

1.3.ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi thu thập dữ liệu 3

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 3

1.4 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 4

Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1.1 Các khái niệm trong tiếp cận nghiên cứu 5

2.1.2 Đặc trưng kinh tế hộ dân tộc Khmer 9

2.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH 13

2.2.1 Các nhân tố liên quan đến đặc điểm chủ hộ 13

2.2.2 Các nhân tố liên quan đến đặc điểm của hộ 14

2.3 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 16

2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước 16

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 18

2.4 KINH NGHIỆM TRONG VIỆC HỖ TRỢ NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA VIỆT NAM 20

2.5 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 22

Trang 5

3.1.1 Khung nghiên cứu 23

3.1.2 Mô hình phân tích 24

3.2 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.2.1 Mô tả và định nghĩa các biến trong mô hình 24

3.2.2 Dữ liệu thứ cấp 27

3.2.3 Dữ liệu sơ cấp 28

3.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 29

3.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 31

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

4.1 TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC KHMER TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 32

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Cà Mau 32

4.1.2 Thu nhập của người dân tộc Khmer tỉnh Cà Mau 34

4.1.3 Thực trạng chính sách, chương trình hỗ trợ đối với đồng bào DTTS tại tỉnh Cà Mau 34

4.1.4 Thách thức trong công tác giảm nghèo đối với người dân tộc Khmer 38 4.2 ĐẶC ĐIỂM MẪU PHỎNG VẤN 39

4.2.1 Theo địa bàn phỏng vấn 39

4.2.2 Theo đối tượng phỏng vấn 39

4.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ Khmer phỏng vấn 40

4.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH KHMER TỈNH CÀ MAU 42

4.3.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy 42

4.3.2 Phân tích hồi quy các nhân tố tác động đến thu nhập hộ Khmer 44

4.3.3 Thảo luận kết quả hồi quy 45

4.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 47

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ 49

Trang 6

5.2.1 Tăng cường nguồn vốn tín dụng chính thức đến hộ dân tộc Khmer 49 5.2.2 Phát triển các ngành kinh tế phi nông nghiệp trong hộ dân tộc Khmer 51 5.2.3 Mở rộng chính sách hỗ trợ của nhà nước đến các hộ dân tộc Khmer 51 5.2.4 Thực hiện tốt chính sách dân số đối với hộ dân tộc Khmer 52 5.2.5 Đào tạo nghề kết hợp với giải quyết việc làm nhằm làm tăng số lượng nguồn thu nhập 52 5.2.6 Nâng cao trình độ dân trí của hộ dân tộc Khmer 53 5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: PHIẾU PHỎNG VẤN HỘ GIA ĐÌNH

Phụ lục 2: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU PHỎNG VẤN 2016

Trang 8

Bảng 3.2: Phân bổ số lượng phiếu khảo sát 28

Bảng 4.1: Phân bổ mẫu phỏng vấn theo địa bàn 39

Bảng 4.2: Cơ cấu mẫu điều tra theo đối tượng phỏng vấn 40

Bảng 4.3: Đặc điểm của hộ Khmer phỏng vấn 41

Bảng 4.4: Sở hữu nhà ở và đất đai 41

Bảng 4.5: Thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy 43

Bảng 4.6: Kết quả hồi quy các yếu tố tác động đến thu nhập hộ Khmer 44

Bảng 4.7: Kiểm định hiện tượng tự tương quan trong mô hình hồi quy 45

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 3-1: Khung nghiên cứu của đề tài 23

Trang 9

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc, là vùng đất trẻ, có điều kiện tự nhiên đa dạng, được thiên nhiên ưu đãi Cà Mau là điểm đến lập nghiệp của các dân tộc khắp

cả nước, nhất là sau ngày đất nước thống nhất Đến nay, Cà Mau đã có 13 dân tộc, trong đó có 12 dân tộc thiểu số với 11.994 hộ; đông nhất là đồng bào dân tộc Khmer với 7.801 hộ, tiếp đến là đồng bào dân tộc Hoa với 1.954 hộ, còn lại 10 dân tộc khác với quy mô 2.239 hộ

Trong những năm qua, với việc xác định tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của công tác quản lý nhà nước về dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội; tỉnh Cà Mau đã tập trung nguồn lực và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm tạo ra những điều kiện phát triển bình đẳng giữa các dân tộc, từng bước nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của người dân Những chương trình, chính sách hỗ trợ thời gian qua, bước đầu đã mang lại được một số kết quả quan trọng; góp phần làm thay đổi diện mạo bộ mặt vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, củng cố được niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước

Tuy nhiên, những kết quả thu được chưa thực sự bền vững; tỷ lệ hộ tái nghèo

và phát sinh nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số hàng năm vẫn còn khá cao, trên 40%; đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc Khmer, hiện vẫn còn một bộ phận khá lớn đang rất khó khăn, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa dân tộc này với các dân tộc khác trong tỉnh vẫn chưa được thu hẹp và hộ đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh luôn chiếm phần lớn trong tổng số hộ nghèo và cận nghèo, nhất là tại các huyện có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của tỉnh Cà Mau

Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy mặc dù đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu trong

và ngoài nước phân tích, đánh giá về các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình, nhất là hộ gia đình khu vực nông thôn Tuy nhiên, những nghiên cứu về nội dung trên đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số thì tương đối hạn chế; đặc biệt là nghiên

Trang 10

cứu về các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ đồng bào dân tộc Khmer thì rất ít

và chưa có nghiên cứu nào xem xét cho trường hợp của tỉnh Cà Mau

Liên quan gần nhất với đề tài tác giả đang nghiên cứu hiện có nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011), thông qua số liệu điều tra trực tiếp từ

150 hộ Khmer ở Trà Vinh, 90 hộ Chăm ở An Giang và áp dụng mô hình phân tích hồi quy tuyến tính đã chỉ ra các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ dân tộc thiểu

số ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là: trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của lao động trong hộ, số nhân khẩu trong hộ, số hoạt động tạo thu nhập của hộ, độ tuổi của lao động trong hộ và các yếu tố tiếp cận với các chính sách hỗ trợ Trong đó, yếu tố số nhân khẩu và độ tuổi của lao động trong hộ tỷ lệ nghịch với thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc, yếu tố số hoạt động tạo ra thu nhập của

hộ có tác động mạnh nhất đến thu nhập bình quân/người của dân tộc thiểu số ở ĐBSCL

Mặc dù vậy, nghiên cứu này không xem xét riêng đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số là người Khmer mà xem xét đồng thời đối với cả người Chăm và người Khmer Nghiên cứu chủ yếu tập trung đánh giá sâu về các nguồn lực sẵn có của đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn còn hạn chế trong việc xem xét tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập

Để có cơ sở khoa học, đưa ra các khuyến nghị hữu ích giúp các cơ quan, ban ngành của tỉnh Cà Mau trong công tác quản lý nhà nước về dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn; nhất là các bằng chứng thực nghiệm làm cơ sở gợi

ý một số chính sách nhằm nâng cao thu nhập hộ đồng bào dân tộc Khmer trên địa

bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian tới, tác giả đã chọn đề tài “Các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình: Trường hợp hộ đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu

1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến thu nhập hộ dân tộc Khmer của tỉnh Cà Mau;

Trang 11

Mục tiêu 2: Gợi ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập hộ dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Các mục tiêu ở trên sẽ trả lời cho 2 câu hỏi nghiên cứu:

Những yếu tố nào tác động đến thu nhập của hộ dân tộc Khmer và mức độ ảnh hưởng mạnh yếu của từng yếu tố đến thu nhập của hộ dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau?

Cần có những giải pháp gì để nâng cao thu nhập cho hộ dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau?

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hộ đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn 11 xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Cà Mau được phê duyệt tại Quyết định số 2405/QĐ-TTg ngày 10/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ

1.3.2 Phạm vi thu thập dữ liệu

Tỉnh Cà Mau có 11 xã đặc biệt khó khăn có số đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống thuộc các huyện: Đầm Dơi, Trần Văn Thời và U Minh Đề tài chọn ngẫu nhiên các ấp của 11 xã này để thu thập dữ liệu sơ cấp

Các dữ liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài được giới hạn trong khoảng thời gian

từ năm 2011 đến năm 2015 Số liệu sơ cấp được thu thập trong thời gian từ tháng 02/2016 đến tháng 03/2016

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc lập mô hình hồi quy đa biến bình phương bé nhất (OLS) để xem xét, đo lường các nhân tố tác động đến thu nhập Mô hình hồi quy bao gồm: biến phụ thuộc là thu nhập của hộ đồng bào dân tộc Khmer và các biến độc lập được xác định trên cơ sở chọn lựa các biến có ý nghĩa (kinh tế và thống kê) được phát hiện từ cơ sở lý thuyết và từ các nghiên cứu liên quan trước đây

Trang 12

1.4 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn bao gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 13

Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tại Hội thảo quốc tế lần thứ 2 về quản lý nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu đã nhất trí cho rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội, có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế” Hay có thể hiểu đơn giản hơn hộ gia đình là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quỹ thu chi (Võ Thành Nhân, 2011)

Ở Việt Nam, hộ là một khái niệm đã tồn tại ngay từ thời phong kiến Nó cũng được coi là một đơn vị tế bào của xã hội, nhưng không phải bao giờ cũng trùng khớp với gia đình Hiện nay, trong các văn bản pháp luật, hộ được xem như là chủ thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa như là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung

Từ các quan niệm trên, ta có thể khái quát: Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy vậy cũng có trường hợp đặc biệt không cùng chung huyết thống như con nuôi, người làm công Hộ nhất thiết phải là một đơn vị kinh tế, có nguồn lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất, kinh doanh chung, có ngân quỹ chung,…

Phân loại hộ gia đình dựa vào tình trạng việc làm của các thành viên trong hộ:

Hộ không làm việc: là hộ không có thành viên trong gia đình làm công ăn lương và không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào

Trang 14

Hộ làm công: là hộ có các thành viên trong gia đình làm công ăn lương và hộ không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào

Hộ thuần nông: là hộ có các thành viên trong gia đình đều làm việc trong khu vực nông nghiệp

Hộ sản xuất kinh doanh: là những hộ gia đình mà việc làm của những thành viên trong hộ đều thuộc khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ

Hộ nông nghiệp – làm công: là những hộ gia đình mà việc làm của các thành viên trong hộ vừa thuộc khu vực nông nghiệp, vừa làm công ăn lương

Hộ nông nghiệp – sản xuất kinh doanh: là những hộ có các thành viên trong gia đình làm việc trong khu vực nông nghiệp, hoặc công nghiệp, hoặc dịch vụ, hoặc

cả 3 khu vực

Hộ sản xuất kinh doanh – làm công: là những hộ gia đình mà việc làm của các thành viên trong hộ vừa thuộc khu vực công nghiệp, dịch vụ; vừa làm công ăn lương

Hộ nông nghiệp – sản xuất kinh doanh – làm công: là hộ mà việc làm của các thành viên trong hộ thuộc khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và kể cả làm công ăn lương

Hộ có những đặc điểm thay đổi theo thời gian Khi xã hội còn ở một trình độ phát triển thấp, với kinh tế tự cấp tự túc là nhân tố cơ bản cấu thành nên hộ Song, khi xã hội phát triển cao hơn, thì các thành viên của hộ có thể không còn làm chung

và ăn chung nữa Họ có thể cùng sống chung, nhưng làm việc ở những nơi khác nhau, và có thể chỉ đóng góp một phần thu nhập vào một số hoạt động chung của

hộ

2.1.1.2 Kinh tế nông hộ

Kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất Đây là loại hình sản xuất có hiệu quả về kinh tế - xã hội, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ kinh tế

xã hội Kinh tế nông hộ phát triển tạo ra sản lượng hàng hóa đa dạng, có chất lượng,

Trang 15

giá trị ngày càng cao, góp phần tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngay từ kinh tế hộ

Đặc trưng bao trùm của kinh tế nông hộ là các thành viên trong hộ làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân gia đình mình Mặt khác, kinh tế nông hộ là nền sản xuất nhỏ mang tính tự cung, tự túc hoặc có sản xuất hàng hóa với năng suất lao động thấp nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng Tính tự chủ trong kinh tế nông hộ được thể hiện ở những đặc điểm sau: (1) Làm chủ quá trình sản xuất và tái sản xuất trong nông nghiệp; (2) Sắp xếp, điều hành, phân công lao động trong quá trình sản xuất; (3) Quyết định phân phối sản phẩm làm ra sau khi đóng thuế cho Nhà nước, được chọn quyền sử dụng phần còn lại Nếu có sản phẩm

dư thừa, hộ nông dân có thể đưa ra thị trường tiêu thụ

2.1.1.3 Dân tộc thiểu số

Dân tộc thiểu số là thuật ngữ có nhiều định nghĩa khác nhau, tùy theo khái niệm của từng bộ môn nghiên cứu hay quan điểm của mỗi quốc gia Đứng trên phương diện nhân chủng học, các nhà nghiên cứu cho rằng dân tộc thiểu số chia làm

2 thành phần: (1) Dân tộc thiểu số có nguồn gốc lịch sử là tập thể tộc người đã có mặt trên vùng lãnh thổ từ lâu đời mà người ta thường gọi là dân tộc bản địa; (2) Dân tộc thiểu số di cư là những người nước ngoài sang định cư tại một quốc gia có chủ quyền

Hội đồng Liên Hiệp quốc (1992) đưa ra khái niệm “Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người từ một quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này”

Theo Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc, là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất về dân tộc tính đến thời điểm hiện tại,

đã đưa ra khái niệm về dân tộc thiểu số và các khái niệm khác có liên quan như sau:

“Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “Dân tộc thiểu số rất ít

Trang 16

người” là dân tộc có số dân dưới 10.000 người

“Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

“Công tác dân tộc” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

2.1.1.4 Thu nhập của hộ nông dân

Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền mặt mà mộ người hay hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)

Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp

Theo Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa: Thu nhập của hộ gia đình là toàn

bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là một năm Thu nhập bao gồm: (1) thu nhập từ tiền công, tiền lương; (2) thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); (3) thu nhập từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) thu khác được tính vào thu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm,… Cần lưu ý giữa các khoản thu tính vào thu nhập và các khoản thu không tính vào thu nhập Các khoản không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh,…

Như vậy, thu nhập của hộ nông dân còn được chia theo 3 loại sau: (1) Thu nhập nông nghiệp, là thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản: (2) Thu nhập phi nông nghiệp, là thu nhập được tạo ra từ các hoạt động ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp,

Trang 17

bao gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí….Ngoài ra, thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán, thu gom; (3) Thu nhập khác, là các nguồn thu từ các hoạt động làm thêm, làm thuê, làm công ăn lương; từ các nguồn trợ cấp xã hội hoặc các nguồn thu bất thường khác

2.1.2 Đặc trưng kinh tế hộ dân tộc Khmer

Do phong tục tập quán, kinh tế hộ dân tộc Khmer ở Cà Mau nói riêng và hộ dân tộc Khmer các tỉnh ĐBSCL nói chung và có những đặc trưng cơ bản sau:

Mỗi hộ trung bình có từ 4 đến 5 thành viên, trong đó có từ 2 đến 3 lao động Người Khmer vốn rất cần cù, chịu đựng tốt gian khó, nhưng trình độ mọi mặt còn thấp Đặc điểm của đồng bào Khmer ở ĐBSCL là trên 90% dân số sống ở nông thôn, cư trú thành những cụm dân cư gọi là phum, sóc tương đối biệt lập với cộng đồng các dân tộc khác, cũng có một bộ phận đồng bào sống xen kẽ với người Kinh, còn một số hộ sinh sống rải rác ở vùng sâu, vùng xa và ở ven các kênh rạch (Tổng cục thống kê, 2010)

Do ảnh hưởng sâu sắc bởi Phật giáo Tiểu thừa, nên trong triết lý sống của người Khmer thường thiên về các giá trị tinh thần hơn vật chất Đa phần người dân Khmer thích một cuộc sống an lành, không đua chen để làm giàu Họ thích thảnh thơi, an nhàn hơn so với các dân tộc khác Công việc làm ăn đều trông chờ ở số phận Họ tin rằng có phận, có phước mới làm giàu được, vì thế họ ít chịu tìm hiểu làm thế nào để nâng cao năng suất, thu hoạch có kết quả nhiều như người Kinh, người Hoa Hầu hết họ thiên về đời sống tinh thần hơn vật chất, họ tin ở kiếp sau,

Trang 18

kiếp này chỉ là sống tạm (Liêu Ngọc Ân, 2013)

Người Khmer sẵn sàng đóng góp tiền của, công sức để xây dựng những ngôi chùa khang trang, lộng lẫy, trong khi họ chấp nhận cuộc sống nghèo túng trong những căn nhà lụp xụp Họ cũng sẵn sàng vay nợ để tổ chức các lễ hội truyền thống,

ma chay, tiệc cưới long trọng, hoặc đóng tiền để con em họ được vào chùa tu v.v Chính triết lý sống như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của người Khmer (Trang Thiếu Hùng, 2014)

2.1.2.2 Kinh tế hộ Khmer mang nặng tính tự cung, tự cấp

Hộ Khmer tồn tại lâu đời với phương thức canh tác truyền thống trên những vùng đất bị chia cắt, ruộng đất manh mún Phần lớn sản xuất của họ phụ thuộc vào thiên nhiên Những năm mưa thuận, gió hoà thì được mùa, những năm thời tiết không thuận lợi thì đời sống bà con gặp nhiều khó khăn

Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước; kinh tế

hộ dân tộc Khmer có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều hộ đã chủ động học tập, mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào trồng trọt, chăn nuôi và phát triển các ngành nghề truyền thống như chăn nuôi, đan lát, gốm… do đó, kinh tế hộ phát triển đáng kể

Tuy nhiên, do điều kiện sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, tập quán canh tác lạc hậu, trình độ hạn chế, cộng với “sức ỳ” của tư tưởng trông chờ, ỷ lại, nên hoạt động sản xuất kinh doanh của một bộ phận người dân tộc Khmer còn mang tính tự phát Họ sản xuất ra trước hết là để thỏa mãn nhu cầu bản thân, còn lại mới đem bán

để mua về các sản phẩm khác Mặc dù sản xuất hàng hóa vùng đồng bào dân tộc Khmer đã có bước phát triển, nhưng vẫn còn một bộ phận bà con chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất khép kín tự cung, tự cấp (Ban Dân tộc tỉnh Cà Mau, 2015)

2.1.2.3 Cơ cấu kinh tế hộ với nông nghiệp là nền tảng

Sản xuất nông nghiệp chiếm một địa vị quan trọng trong đời sống kinh tế và có ảnh hưởng to lớn trong các mặt sinh hoạt văn hoá, xã hội, tôn giáo… của người Khmer Nghề nghiệp chính của hộ dân tộc Khmer là trồng lúa khoảng 54%, trồng

Trang 19

trọt hoa màu chiếm 9%, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ hải sản khoảng 18%, buôn bán 3% và một bộ phận đồng bào đi làm thuê, làm mướn, chiếm khoảng 16% dân

số dân tộc Khmer (Ban Dân tộc tỉnh Cà Mau, 2015)

Trong sản xuất nông nghiệp, người Khmer có truyền thống sản xuất và kỹ thuật canh tác khá phong phú Đó chính là kết quả của người nông dân Khmer trong quá trình chinh phục thiên nhiên vùng ĐBSCL và sự giao lưu văn hoá với các dân tộc anh em cùng định cư trong vùng Tuy nhiên, sản xuất còn mang tính độc canh cây lúa, chưa sử dụng hết tiềm năng đất đai và nguồn lao động dồi dào ở vùng nông thôn

Ngoài sản xuất nông nghiệp, người Khmer còn có một số hoạt động kinh tế khác Tuỳ từng vùng, từng thời điểm nhất định mà các hoạt động như tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ được người nông dân Khmer tranh thủ làm thêm, vừa tận dụng thời gian nhàn rỗi, vừa tăng thu nhập

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp của người Khmer chủ yếu là cung cấp những vật dụng trong sinh hoạt gia đình Nghề thủ công được người Khmer thực hiện trong những lúc rảnh rỗi công việc đồng áng và gắn với những sinh hoạt gia đình Một số sản phẩm thủ công cổ truyền được tiêu thụ trên thị trường như chiếu, đan mây tre Trong lĩnh vực thương nghiệp, số lượng người Khmer sống bằng nghề buôn bán rất ít Trong lĩnh vực này, người Khmer chủ yếu là buôn bán nhỏ với các cửa hiệu tạp hoá, dịch vụ ăn uống, v.v vừa ít vốn lại ít hàng Một số vừa bán hàng vừa sản xuất nông nghiệp hoặc làm dịch vụ nhỏ như sửa xe, làm nhân công các xưởng sửa chữa, nhân công xí nghiệp, nhà máy

Như vậy, đặc trưng nổi bật nhất của kinh tế hộ Khmer là kinh tế nông nghiệp đóng vai trò nền tảng, chi phối Các hoạt động khác tuy có bước phát triển, nhưng còn mang tính chất nhỏ lẻ, chưa phổ biến và hiệu quả chưa cao

2.1.2.4 Quy mô sản xuất nhỏ

Diện tích đất sản xuất vùng đồng bào Khmer bình quân là 0,3 ha/người Trong

đó, số hộ không đất và thiếu đất sản xuất ngày càng gia tăng Ngoài ra, hộ Khmer có tập quán truyền thống là đất nông nghiệp mang tính sở hữu chung của nhiều hộ

Trang 20

trong cùng dòng họ, không có sự phân chia rõ ràng; cùng 1 mảnh đất nhưng nhiều

hộ canh tác, mỗi hộ được giao cho làm 1 vụ hoặc 1 năm, sau đó chuyển sang hộ khác; nhưng mỗi hộ đều tự nhận toàn bộ mảnh đất đó là do mình làm chủ Do tập quán này mà việc canh tác của mỗi hộ không liên tục, đất đai không được quan tâm cải tạo, dễ phát sinh tranh chấp do không xác định được hộ làm chủ thật sự (Ban Dân tộc tỉnh Cà Mau, 2015)

Bên cạnh diện tích đất bình quân thấp, khả năng tích tụ và tập trung vốn của

hộ dân tộc Khmer còn nhiều hạn chế Do vậy, hộ dân tộc Khmer thường xuyên hoạt động trong tình trạng thiếu vốn Mặc dù hệ thống ngân hàng có cố gắng, nhưng mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu vốn của bà con, còn lại họ phải đi vay của tư nhân với lãi suất cao Hệ quả là nhiều hộ lâm vào cảnh nợ nần chồng chất, phải cầm cố tài sản, sang bán đất đai để trả nợ

Do quy mô sản xuất nhỏ nên khả năng đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị hạn chế Việc đầu tư thâm canh, tăng vụ, phát triển ngành nghề cũng gặp khó khăn Vì vậy, năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất thấp, tích luỹ không cao, hạn chế khả năng tái sản xuất mở rộng của hộ

2.1.2.5 Thu nhập và mức sống thấp

Là những cư dân nông nghiệp, nên thu nhập chính của người Khmer chủ yếu

do hoạt động trồng trọt, chăn nuôi mang lại Các hộ có thu nhập từ hoạt động tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ hoặc làm thuê chiếm tỷ trọng thấp

Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thu nhập của đại

bộ phận bà con dân tộc đã được nâng lên đáng kể Tuy nhiên, so với các dân tộc khác, thu nhập của người Khmer cơ bản vẫn còn thấp Tỷ lệ nghèo của người Khmer luôn cao hơn so với các dân tộc khác Hiện tại, số hộ Khmer nghèo ở tỉnh Cà Mau còn chiếm khoảng 35,1%, trong đó nhiều hộ có hoàn cảnh rất khó khăn

Thu nhập thấp, ý thức tiết kiệm chưa cao, do vậy đa phần thu nhập của bà con thường chỉ để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt gia đình, ít chú trọng đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh hay cho con em ăn học Đó cũng chính là lý do giải thích tại sao kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc còn kém phát triển, đời sống vật chất và

Trang 21

tinh thần của người Khmer thường thấp hơn so với các dân tộc anh em khác

2.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH 2.2.1 Các nhân tố liên quan đến đặc điểm chủ hộ

Người chủ hộ trong các gia đình Việt Nam thường là trụ cột, chủ lực trong gia đình về mặt kinh tế Bên cạnh đóng vai trò đại diện cho các thành viên trong hộ gia đình về mặt pháp lý, có lúc quyết định của họ có ảnh hưởng quan trọng đến thu nhập của hộ Các đặc điểm của chủ hộ bao gồm: Trình độ học vấn, tuổi của chủ hộ, nghề nghiệp

2.2.1.1 Trình độ học vấn

Chủ hộ có trình độ học vấn cao thường có nhiều hiểu biết, trình độ chuyên môn tay nghề cao, họ có thể hoàn thành tốt theo yêu cầu của công việc, có nhiều cơ hội thăng tiến lên vị trí cao hơn nên thu nhập của họ cũng sẽ cao hơn Bên cạnh đó, trong lĩnh vực nông nghiệp, nếu chủ hộ có trình độ càng cao hiểu biết càng nhiều thì chủ hộ càng có điều kiện thuận lợi trong tiếp cận và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất, tối thiểu hóa chi phí, từ đó mang lại thu nhập cao hơn cho hộ

Bùi Quang Bình (2010) cho rằng giáo dục và đào tạo cùng với chất lượng của

nó là quá trình đem tới cho mỗi người học vốn kiến thức kỹ năng và kinh nghiệm, giúp họ không ngừng hoàn thiện, gia tăng tích lũy chúng Mức vốn con người phụ thuộc vào thời gian chi phí đầu tư để học hành trong hệ thống giáo dục và từng trải trong cuộc sống Giáo dục đào tạo quyết định lượng vốn con người và đến lượt nó lượng vốn con người sẽ quyết định thu nhập của mỗi người Như vậy, người ta sẽ càng có thêm sự cân nhắc khi đầu tư vào giáo dục đào tạo với kỳ vọng về một mức thu nhập tốt hơn trong tương lai Nghiên cứu thực nghiệm của Trương Châu (2013) cũng cho thấy có mối quan hệ tích cực của trình độ học vấn của chủ hộ đến thu nhập của các hộ ở các xã trên địa bàn biên giới tỉnh Tây Ninh

Vì vậy, trình độ học vấn của chủ hộ và những người trong gia đình có ảnh hưởng đến khả năng tăng thu nhập của gia đình

Trang 22

xã trên địa bàn biên giới tỉnh Tây Ninh

2.2.1.3 Tuổi của chủ hộ

Thu nhập của một người tương đối thấp đối với người lao động trẻ, tăng lên khi họ trưởng thành và tích lũy được vốn con người, rồi có thể giảm nhẹ đối với những người lao động lớn tuổi Bojas (2005) qua các bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy thu nhập của một người phụ thuộc vào tuổi tác của người đó

2.2.2 Các nhân tố liên quan đến đặc điểm của hộ

Ngoài các đặc điểm liên quan đến chủ hộ, các đặc điểm của hộ cũng có ảnh hưởng quan trọng đến thu nhập của hộ Các đặc điểm của hộ bao gồm: quy mô hộ, hoạt động tạo thu nhập, diện tích đất, tiếp cận chính sách, vay vốn

2.2.2.1 Quy mô hộ

Khi hộ gia đình có đông thành viên thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm, điều này hoàn toàn đúng với các hộ gia đình ở nông thôn với thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, với diện tích đất canh tác có giới hạn, khi số lượng thành viên trong hộ tăng lên sẽ làm giảm thu nhập bình quân đầu người của hộ

Nghiên cứu thực nghiệm của Trương Châu (2013) ở Tây Ninh cho thấy khi các yếu tố khác không đổi, nếu quy mô hộ tăng thêm 1 người thì thu nhập bình quân của hộ sẽ giảm 133,94 ngàn đồng

2.2.2.2 Hoạt động tạo thu nhập

Ở nông thôn các hoạt động nông nghiệp là chủ yếu, tuy nhiên các hoạt động

Trang 23

nông nghiệp thường theo mùa vụ và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Việc đa dạng hóa nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất giúp hộ gia đình nông thôn

có thể giảm thiểu rủi ro và cải thiện thu nhập Micevska và Rahut (2007) cho rằng các vùng nông thôn ngày nay đã từng bước tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh tế phi nông nghiệp, các hoạt động này góp phần vào tăng thu nhập của hộ Các Nghiên cứu thực nghiệm của Đinh Phi Hổ và Hoàng Thị Thu Huyền (2010) ở Phú Thọ, Trương Châu (2013) ở Tây Ninh chỉ ra tác động tích cực của số hoạt động tạo thu nhập đến thu nhập của hộ

2.2.2.3 Diện tích đất canh tác

Đất sản xuất là tư liệu chính và mang tính quyết định của hộ gia đình làm nông

ở nông thôn để tạo ra thu nhập cho hộ gia đình Do đó, thiếu đất sản xuất hoặc không có đất sản xuất thường thì thu nhập thấp

Nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Sinh Công (2004), Mwanza (2011) và Trương Châu (2013) đã cho thấy thu nhập của hộ tỷ lệ thuận với diện tích đất sản xuất, tức là diện tích đất sản xuất càng nhiều thì thu nhập của hộ càng cao

2.2.2.4 Tiếp cận chính sách

Việc nhận được hỗ trợ từ nhà nước và chính quyền địa phương sẽ làm tăng thu nhập của hộ dân tộc Vì thế, vấn đề tiếp cận chính sách hỗ trợ của nhà nước và chính quyền địa phương đối với người dân tộc là rất quan trọng Nguyễn Quốc Nghi

và cộng sự (2010) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng yếu tố tiếp cận chính sách có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập của hộ

2.2.2.5 Vay vốn

Vốn là điều kiện thiết yếu ban đầu của các nông hộ kết hợp với trình độ sản xuất kinh doanh, tiếp thu khoa học kỹ thuật và nhanh nhạy nắm bắt thị trường đã giúp nhiều hộ mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, tăng sản lượng, tăng tỷ trọng hàng hóa và hạ giá thành sản phẩm Vốn tín dụng của ngân hàng, sẽ giúp những hộ không có kinh nghiệm, sản xuất không có hiệu quả, có

Trang 24

ruộng đất quá ít hoặc thiếu vốn cho quá trình sản xuất có khả năng giải quyết được khó khăn trong sản xuất và góp phần tăng thu nhập của hộ

Do vậy, để đảm bảo nguồn vốn cho sản xuất, người nông dân phải vay thêm vốn từ các định chế chính thức và không chính thức hay từ các dự án hỗ trợ tín dụng cho người nghèo của chính phủ Tuy nhiên không phải hộ dân nào cũng có khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng dẫn đến thiếu vốn đầu tư, họ không thể mua nguyên liệu phục vụ sản xuất như giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, đầu tư máy móc, thiết bị nên khó có thể áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Một vài nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy mối quan hệ tích cực giữa tiếp cận tín dụng và thu nhập Nghiên cứu thực nghiệm của Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam (2010) ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy thu nhập của các hộ có vay vốn cao hơn so với các hộ không vay vốn

Ngoài các đặc điểm chủ hộ, đặc điểm hộ, các đặc điểm địa lý cũng có ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình Ở nước ta mỗi vùng có một đặc điểm riêng, mức sống và mức chi tiêu ở mỗi vùng khác nhau nên thu nhập của nông hộ tại các địa phương cũng khác nhau

2.3 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Theo Scoones (1998) cho rằng các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình bao gồm: đất, nước, không khí, tài nguyên thiên nhiên,… là cơ sở cho các hoạt động kinh tế của con người Vốn con người mô tả các yếu tố như: giáo dục, lực lượng lao động, giới tính Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia vào sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả lao động của họ Vốn tài chính bao gồm: các khoản tiết kiệm và tín dụng, cho biết khả năng của hộ gia đình trong việc tiết kiệm và tiếp cận vốn cho đầu tư và các hoạt động tạo ra thu nhập Vốn xã hội bao gồm phần lớn xây dựng giữa những con người với nhau: đó là sự tin tưởng, hiểu biết lẫn nhau và chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách kết nối thành viên trong các cộng đồng lại với nhau: Sự hiểu

Trang 25

biết lẫn nhau và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách kết nối thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau (trích bởi Đinh Phi Hổ, 2014)

Karttunen (2009) cho rằng nguồn lực vốn con người của hộ gia đình và các yếu tố nhân khẩu xã hội như giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ cùng với tỷ lệ phụ thuộc ảnh hưởng đến thu nhập của Hộ

Với mục đích đưa ra các chiến lược hiệu quả hơn để tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Mozambique, Walker và cộng sự (2004) đã thực hiện nghiên cứu tìm hiểu về “Nguồn gốc và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình

ở nông thôn” Nghiên cứu được thực hiện dựa trên số liệu của cuộc khảo sát của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Mozambique (2002), gọi tắt là TIA Kết quả của bài nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở Mozambique là: giới tính, tuổi, trình độ học vấn của hộ, tài sản của hộ, cơ sở hạ tầng, tiềm năng sản xuất (đa dạng cây trồng và sinh thái),…

Shrestha và Eiumnoh (2000) nghiên cứu về “Các yếu tố quyết định đến thu nhập nông hộ ở lưu vực sông Sakae Krang của Thái Lan” Với cỡ mẫu là 192 hộ gia đình là nông thôn, kết quả hồi quy đa biến cho thấy những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của những hộ ở vùng đồng bằng và đồi núi chủ yếu bao gồm: Nguồn thu

từ nông nghiệp, phi nông nghiệp, giáo dục, nhận thức của người dân về môi trường, hiện trạng sở hữu đất đai, số thành viên trong độ tuổi lao động

Nghiên cứu của Yang (2004) về “Giáo dục và phân bổ hiệu quả: sự phát triển thu nhập hộ gia đình trong thời gian cải cách nông thôn ở Trung Quốc” trong nghiên cứu đã phân tích sự đóng góp của giáo dục và sự phân bổ nguồn lực của hộ trong việc tăng trưởng thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn Trung Quốc Dữ liệu phân tích thực nghiệm của nghiên cứu này được thu thập từ kết quả khảo sát thu nhập hộ gia đình của tỉnh Tứ Xuyên từ năm 1986 đến năm 1995 Trong đó, các yếu

tố ảnh hưởng bao gồm: trình độ học vấn, kinh nghiệm của chủ hộ và các thành viên trong hộ, vị trí nơi ở của chủ hộ, nguồn vốn của hộ

Nghiên cứu đã chứng minh trình độ học vấn là một yếu tố quan trọng để ngành công nghiệp ở nông thôn phát triển nhanh chóng và cũng tạo nên nguồn thu nhập ổn

Trang 26

định, bền vững hơn cho người nông dân Các hộ gia đình có thành viên có trình độ học vấn cao hơn sẽ phân bổ nguồn lực của hộ cho các hoạt động phi nông nghiệp và mang lại thu nhập cao hơn Nghiên cứu cũng cho rằng kinh nghiệm cũng đóng vai trò quan trọng đối với thu nhập hộ gia đình

Schwarze (2004), với nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến quyết định hoạt động tạo thu nhập của hộ gia đình nông thôn trong vùng lân cận vườn quốc gia Lore-Lindu ở Sulawesi, Indonesia” Số liệu thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát 301 hộ gia đình nông thôn tại 12 ngôi làng xung quanh vườn quốc gia Lore-Lindu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp hồi quy tuyến tính cho thấy diện tích đất thuộc quyền sở hữu, giá trị các loại tài sản khác và số lượng gia súc sở hữu có ảnh hưởng tích cực đến tổng thu nhập của hộ gia đình; tỷ lệ phụ thuộc có ảnh hưởng tiêu cực đến tổng thu nhập của hộ Nghiên cứu của Naschold (2009) về “Các yếu tố kinh tế vi mô của sự bất bình đẳng thu nhập ở nông thôn Pakistan” Nghiên cứu này đã chứng minh được yếu tố tạo ra sự khác biệt thu nhập giữa các hộ gia đình bao gồm: việc sở hữu đất đai, số nhân khẩu, trình độ giáo dục của các thành viên trong hộ Những hộ có số thành viên trong tuổi lao động nhiều và có trình độ cao hơn thì có thu nhập vượt trội hơn

so với các hộ có ít lao động và trình độ thấp

Aikaeli (2010) nghiên cứu về “Các yếu tố quyết định đến thu nhập nông thôn

ở Tanzania” Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến với

cở mẫu hợp lệ là 1.610 hộ gia đình nông thôn cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, diện tích đất sản xuất là yếu tố ảnh hưởng tích cực đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn Ngoài ra, nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các hộ có chủ hộ là nữ thì có thu nhập thấp hơn so với thu nhập của các hộ có chủ

hộ là nam giới

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Theo Nguyễn Xuân Thành (2009), cho rằng thu nhập của mỗi lao động bị ảnh hưởng bởi yếu tố số năm đi học và kinh nghiệm làm việc

Nghiên cứu của Trần Xuân Long (2009) “Một số nhân tố chính ảnh hưởng đến

Trang 27

thu nhập nông hộ huyện Tri Tôn, tỉnh Cà Mau” Dữ liệu nghiên cứu được thu thập điều tra từ 135 hộ nông dân tại 5 xã trên địa bàn huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp ước lượng bình phương

bé nhất (OLS) để xác định nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ Kết quả nghiên cứu đã chứng minh trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích ruộng đất, giá lúa, số nguồn thu nhập từ nông nghiệp có ảnh hưởng đến tổng thu nhập của nông

hộ Các biến như tuổi của chủ hộ, số lao động, số lần tham dự khuyến nông, số nguồn thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp không có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu của Trần Trọng Tín (2010) với đề tài “Các yếu tố tác động đến thu nhập hộ nghèo tỉnh Vĩnh Long” dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập được từ 200 hộ nghèo của tỉnh Vĩnh Long Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) để phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập hộ nghèo Kết quả phân tích số liệu đã chứng minh rằng diện tích đất canh tác, tuổi của chủ hộ, vấn đề vay vốn đều tác động đến thu nhập của hộ nghèo

Huỳnh Thanh Phương (2011) nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình làm nghề phi nông nghiệp tại huyện Đức Hòa, Long An” Qua phân tích nghiên cứu 250 mẫu quan sát và vận dụng phương pháp hồi quy để nghiên cứu Kết quả cho thấy học vấn trung bình của chủ hộ, số người làm việc trong hộ, quy mô hộ gia đình, được vay vốn tính dụng, số năm đi học của chủ hộ có ảnh hưởng đến thu nhập của người dân làm nghề phi nông nghiệp

Nghiên cứu của Huỳnh Văn Thông (2012) đề tài “Một số nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp” Với số mẫu điều tra

là 300 mẫu ở 06 xã Thông qua các biến của phương trình hồi quy đa biến, kết quả nghiên cứu đã chứng minh trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất, giá lúa,… có ảnh đến thu nhập của nông hộ

Nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh, Nguyễn Quốc Nghi và Trần Quế Anh (2011)

về “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn của huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long”, số liệu nghiên cứu từ việc phỏng vấn trực tiếp 182

hộ gia đình Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp hồi quy

Trang 28

để phân tích Kết quả nghiên cứu, cả 5 biến độc lập trong mô hình đều ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn huyện Trà Ôn, trong đó nguồn thu nhập chính của phần lớn hộ gia đình phụ thuộc vào nghề nông, bên cạnh đó nghiên cứu còn xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là nhân khẩu, kinh nghiệm làm việc của chủ hộ, độ tuổi lao động, trình độ học vấn và số lao động tạo ra thu nhập

Nghiên cứu của Mai Thị Thu Hương (2007) về “Thực trạng nghèo ở tỉnh Đồng Nai: Những yếu tố tác động và giải pháp giảm nghèo” Tác giả đã dựa vào kết quả điều tra, tổng hợp những số liệu, thông tin thu thập được để lượng hóa mối quan hệ tương quan những yếu tố tác động đến chi tiêu, tác giả dùng mô hình kinh tế lượng

sử dụng hàm Cobb-Douglas Với biến phụ thuộc là chi tiêu bình quân đầu người hàng năm và 9 biến độc lập Kết quả nghiên cứu kiểm định t cho thấy các biến giới tính của chủ hộ, nghề nghiệp của chủ hộ, Ln(tuổi của chủ hộ), Ln(diện tích đất) không ảnh hưởng đến bình quân chi tiêu của hộ và 5 biến phù hợp nhất vừa có ý nghĩa kinh tế vừa có ý nghĩa thống kê là: khu vực (thành thị, nông thôn), thành phần dân tộc (kinh, thiểu số), Ln(nhân khẩu), Ln(năm đi học), Ln(tỷ lệ phụ thuộc)

Tóm lại, qua lược khảo các nghiên cứu có liên quan, kết hợp với các đặc trưng kinh tế của hộ dân tộc Khmer, tác giả tổng hợp các nhân tố chính tác động đến thu nhập hộ Khmer bao gồm:

Nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm của chủ hộ gồm có: (1) Nghề nghiệp chính của chủ hộ; Kinh nghiệm của chủ hộ; Trình độ học vấn của chủ hộ

Nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm của hộ gồm có: (1) Số nhân khẩu trong hộ; (2) Tỷ lệ phụ thuộc; (3) Diện tích đất sản xuất; (4) Số hoạt động tạo ra thu nhập; (5) Tiếp cận chính sách; (6) Khả năng tiếp cận tín dụng chính thức

2.4 KINH NGHIỆM TRONG VIỆC HỖ TRỢ NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA VIỆT NAM

Những năm qua, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác dân tộc, trong nổ lực cải thiện toàn diện điều kiện sống cho đồng bào dân tộc thiểu số được

Trang 29

Chính phủ, Ủy ban Dân tộc và các Bộ, ngành Trung ương quan tâm và thực hiện kỳ quyết; đã có rất nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ được ban hành và triển khai thực hiện rộng khắp trong cả nước, nhất là tại các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Trong đó, trọng tâm là các chương trình, chính sách tập trung vào việc hỗ trợ nâng cao thu nhập cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số; cụ thể các chương trình, chính sách trong giai đoạn 2011 – 2015 (1) bao gồm:

Về phát triển sản xuất: có 29 văn bản chỉ đạo chung và chính sách hỗ trợ được

áp dụng tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi; thông qua đó, hộ đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ giống, thức ăn chăn nuôi, công cụ lao động, máy móc, thiết bị chế biến sản phẩm nông nghiệp, vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; hỗ trợ tập huấn, tham quan và chuyển giao kỹ thuật… tạo điều kiện thuận lợi, giúp các xã đặc biệt khó khăn của cả nước thực hiện 2.682 mô hình phát triển sản xuất, tổ chức 814 lớp tập huấn về khuyến nông, khuyến lâm và chuyển giao kỹ thuật cho trên 1,3 triệu

hộ dân tộc thiểu số

Về chính sách tín dụng: có 12 văn bản chỉ đạo chung và chính sách được ban hành và triển khai thực hiện Theo số liệu của Ngân hàng Chính sách xã hội, tính đến 31/5/2015 tổng số dư nợ các chương trình tín dụng ưu đãi thực hiện tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi đạt 135.686 tỷ đồng với hơn 8,4 triệu khách hàng còn

dư nợ Các chính sách tín dụng đã góp phần quan trọng hỗ trợ về vốn, tạo điều kiện giúp hộ dân tộc thiểu số phát triển sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế hộ Chính sách giảm nghèo: Chương trình giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền nuói thực hiện theo Nghị quyết số 80/NQ-CP của Chính phủ, Quyết định 1489/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các chương trình, chính sách giảm nghèo khác do các Bộ, ngành theo dõi, quản lý Qua 5 năm thực hiện, các chương trình, chính sách giảm nghèo tiếp tục hoàn thành mục tiêu về giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước đã giảm được 8,23% so với năm 2010 Thông qua thực hiện chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất cho các xã

vụ công tác dân tộc giai đoạn 2016-2020; (trang 4-12)

Trang 30

đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản; đã tạo điều kiện giúp cho 80 xã đặc biệt khó khăn của 23 tỉnh và 372 thôn đặc biệt khó khăn của 30 tỉnh hoàn thành mục tiêu năm 2015; các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đã giúp ổn định cuộc sống cho gần 20 nghìn

hộ dân tộc thiểu số còn du canh du cư; hỗ trợ đất ở cho trên 22,4 nghìn hộ và đất sản xuất cho trên 28,7 nghìn hộ

Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm: Thực hiện thông qua 09 văn bản chỉ đạo chung và chính sách, giai đoạn này các tỉnh thành trong cả nước đã triển khai hỗ trợ dạy nghề, truyền nghề cho 437.316 lao động là người dân tộc thiểu số; tạo điều kiện hỗ trợ cho 1.080 lao động đi làm việc tại nước ngoài

Chính sách giáo dục và đào tạo: Thực hiện thông qua 21 văn bản chỉ đạo chung và chính sách; giáo dục đào tạo, dân trí và nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu

số và miền nuói được nâng lên, số lượng cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường; chất lượng giáo dục của các trường phổ thông dân tộc nội trú và phổ thông dân tộc bán trú có chuyển biến tích cực; tỷ lệ học sinh người dân tộc thiểu số trong độ tuổi đến lớp học tăng, tỷ lệ bỏ học giảm

2.5 TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 trình bày những khái niệm tiếp cận nghiên cứu Trên cơ sở lược khảo một số nghiên cứu có liên quan, đề tài đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình người dân tộc Khmer, từ đó làm cơ sở xây dựng mô hình định lượng nghiên cứu ở chương 3

Trang 31

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1.1 Khung nghiên cứu

Trên cơ sở lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, kết hợp tình hình thực tế của địa phương, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến để nghiên cứu tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập

hộ đồng bào dân tộc Khmer trên các địa bàn đặc biệt khó khăn của tỉnh Cà Mau Đồng thời đề xuất khung nghiên cứu với 01 yếu phụ thuộc là thu nhập hộ gia đình và 09 yếu tố ảnh hưởng (hình 3-1) gồm: (1) Nghề nghiệp chính của chủ hộ; (2) Kinh nghiệm của chủ hộ; (3) Trình độ học vấn của chủ hộ; (4) Số nhân khẩu trong hộ; (5) Tỷ lệ phụ thuộc; (6) Diện tích đất sản xuất; (7) Số hoạt động tạo ra thu nhập; (8) tiếp cận chính sách; (9) Vay vốn từ các định chế chính thức

Hình 3-1: Khung nghiên cứu của đề tài

Nguồn: Lược khảo các nghiên cứu có liên quan

Kinh nghiệm của chủ hộ

Trình độ học vấn của chủ hộ

Tỷ lệ phụ thuộc

đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh

Trang 32

3.2 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Mô tả và định nghĩa các biến trong mô hình

đã trừ chi phí và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm…

Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh …

Biến phụ thuộc (Y): Biểu thị thu nhập bình quân đầu người của hộ đồng bào dân tộc Khmer/năm (1.000 đồng), được tính bằng cách lấy tổng thu nhập của hộ

Trang 33

chia cho số nhân khẩu trong hộ Trong đó, thu nhập của hộ được tính bằng tổng thu của hộ trừ đi các khoảng chi phí (chi phí đầu vào mà hộ gia đình phải mua hay thuê trong quá trình sản xuất)

3.2.1.2 Biến độc lập

Nghề nghiệp chính của chủ hộ (X1): Là biến giả, nhận giá trị là 0 nếu chủ hộ làm nghề nông hoặc không có việc làm; nhận giá trị là 1 nếu chủ hộ làm nghề khác Người lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp thường chịu nhiều thiên tai, rủi ro, và có thu nhập thấp hơn các lĩnh vực còn lại Giả thuyết rằng biến này có mối quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)

Kinh nghiệm của chủ hộ (X2): Là biến thể hiện số năm kinh nghiệm làm việc của chủ hộ (năm) Các hộ đồng bào dân tộc Khmer đa phần đều tham gia sản xuất nông nghiệp hoặc nuôi trồng thủy sản nên vấn đề kinh nghiệm là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất, cũng như chất lượng sản phẩm Người càng có nhiều kinh nghiệm thì thường thu nhập sẽ cao hơn so với người ít kinh nghiệm Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)

Trình độ học vấn của chủ hộ (X3): Là biến thể hiện số năm đi học của chủ hộ (năm) Người có trình độ học vấn thấp thường hạn chế về trình độ hiểu biết và khả năng tiếp thu kiến thức chuyên môn kém hơn so với người có trình độ cao và thường có thu nhập thấp hơn so với người có trình độ cao Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)

Số nhân khẩu trong hộ (X4): Là biến thể hiện số người trong hộ (người); không tính người làm thuê, ở nhờ Các hộ gia đình nông thôn, đặc biệt là hộ đồng bào dân tộc Khmer phần lớn lao động sản xuất lĩnh vực nông nghiệp, do vậy cần nhiều lao động để tham gia sản xuất; tuy nhiên, diện tích đất sản xuất của chủ hộ thường hạn chế, do vậy số lượng nhân khẩu nhiều thường ảnh hưởng đến thu nhập của hộ theo chiều hướng giảm Giả định biến này có mối quan hệ nghịch biến với biến phụ thuộc (Y)

Tỷ lệ phụ thuộc (X5): Biến này đo lường tỷ lệ phần trăm tổng số người không nằm trong độ tuổi lao động (dưới 15 tuổi và trên 55 tuổi đối với nữ hoặc trên 60 tuổi

Trang 34

đối với nam) so với tổng số người của hộ Khi trong hộ có tỷ lệ phụ thuộc cao, điều

đó cũng có nghĩa là hộ gia đình đó có ít người tạo ra thu nhập và có nhiều người không tạo ra thu nhập, dẫn đến thu nhập bình quân của hộ sẽ giảm Giả định biến này có mối quan hệ nghịch biến với biến phụ thuộc (Y)

Diện tích đất sản xuất (X6): Là biến thể hiện diện tích đất sản xuất của chủ hộ (1.000m2) Đối với hộ gia đình ở nông thôn, đất sản xuất là tư liệu chính và có tính chất quyết định đến thu nhập của hộ Do đó thiếu đất hoặc không có đất sản xuất thì

hộ gia đình thường có thu nhập thấp Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)

Số hoạt động tạo ra thu nhập (X7): Là biến thể hiện số hoạt động tạo ra thu nhập của hộ Ở nông thôn các hoạt động nông nghiệp là chủ yếu và thường sản xuất theo mùa vụ nên phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Do vậy, việc tạo ra thêm thu nhập bằng cách đa dạng hoá từ nhiều nguồn giúp gia đình giảm thiểu được rủi ro và tăng thu nhập Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)

Bảng 3.1: Biến độc lập trong mô hình nghiên cứu

Kỳ vọng dấu Nghề nghiệp chính

(-)

Tỷ lệ phụ thuộc

(X5)

Tỷ lệ phần trăm tổng số người không nằm trong độ tuổi lao động trong tổng số người trong

hộ (%)

Schwarze (2004), Karttunen (2009) Nguyễn Trọng Hoài

Trang 35

Nguyễn Quốc Nghi và Bùi

Vay vốn (X9)

Biến giả, nhận giá trị 1 nếu hộ có vay vốn từ định chế chính thức, ngược lại nhận giá trị 0

Đinh Phi Hổ (2008), Nguyễn Bích Đào (2008), Mwanza

(2011)

(+)

Nguồn: Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan

Tiếp cận chính sách (X8): Là biến giả, nhận giá trị là 1 nếu chủ hộ nhận được

ít nhất một trong các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và chính quyền địa phương trong việc cải thiện thu nhập bao gồm: (1) chính sách hỗ trợ đất sản xuất, (2) hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm, (3) hỗ trợ phát triển sản xuất, (4) hỗ trợ giáo dục; ngược lại thì nhận giá trị là 0 Vấn đề tiếp cận chính sách

hỗ trợ của nhà nước và chính quyền địa phương đối với hộ đồng bào dân tộc Khmer

là rất quan trọng, góp phần gia tăng các nguồn lực trong phát triển sản xuất, qua đó làm tăng thu nhập của hộ Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)

Vay vốn (X9): Là biến giả, nhận giá trị là 1 nếu có vay vốn từ các định chế chính thức (ngân hàng, các quỹ của nhà nước), ngược lại nhận giá trị 0 Việc vay vốn có ảnh hưởng đến vấn đề mở rộng đầu tư sản xuất, góp phần tăng thu nhập hộ gia đình Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc (Y)

3.2.2 Dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp bao gồm kết quả các nghiên cứu liên quan đến đề tài; số liệu thống kê về đồng bào dân tộc Khmer của tỉnh Cà Mau trong giai đoạn 2011 – 2015; tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng chính sách đối với đồng bào dân tộc giai đoạn 2016 - 2020

Dữ liệu thứ cấp được thu thập qua qua sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; Các báo cáo về dân tộc thiểu số từ Cục thống kê, Ban Dân tộc và các cơ quan, ban ngành tỉnh Cà Mau

Trang 36

3.2.3 Dữ liệu sơ cấp

3.2.3.1 Phương pháp chọn mẫu

Theo Green (1991, trích dẫn theo Nguyễn Đình Thọ, 2011) giới thiệu một công thức kinh nghiệm thường dùng để xác định kích thước mẫu cho hồi quy tuyến tính đa biến (hồi quy bội) như sau: n = 50 + 8p; trong đó, n là kích thước mẫu tối thiểu cần thiết và p là số lượng biến độc lập trong mô hình Trong nghiên cứu này

có 09 biến độc lập, do đó kích thước mẫu tối thiểu của mô hình nghiên cứu là n =

50 + 8 x 9 = 122 quan sát Để dự phòng tác giả chọn thêm 98 quan sát nữa, cỡ mẫu điều tra là 122 + 98 = 220 quan sát

Đề tài chọn 11 xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Cà Mau để nghiên cứu Tại mỗi

xã, chọn ngẫu nhiên 2 ấp để tiến hành khảo sát; mỗi ấp phỏng vấn 10 hộ Lựa chọn ngẫu nhiên hộ đồng bào dân tộc Khmer từ danh sách do chính quyền cấp xã cung cấp danh sách trên địa bàn các ấp Số lượng phiếu khảo sát phân bổ cho từng xã được trình bày tại bảng 3.2

Bảng 3.2: Phân bổ số lượng phiếu khảo sát

Nguồn: Tính toán của tác giả (2016)

Ngày đăng: 13/03/2017, 13:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Huỳnh Trường Huy và Ông Thế Vinh, 2009, “Phân tích thực trạng lao động nhập cư tại Khu công nghiệp Vĩnh Long”, Tạp chí Quản lý Kinh tế, Số 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng lao động nhập cư tại Khu công nghiệp Vĩnh Long
1. Trần Thị Tuấn Anh, 2014, Hướng dẫn thực hành Stata 12, Trường Đại học Kinh tế TPHCM Khác
2. Liêu Ngọc Ân, 2013, Vài đặc điểm về đời sống tâm linh của người Khmer Nam Bộ, Tạp chí Văn hóa – Lịch sử An Giang / 2013, Số 10(103), tr. 18-20 Khác
3. Ban Dân tộc tỉnh Cà Mau (2015), Báo cáo chương trình hỗ trợ đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau Khác
4. Nguyễn Sinh Công, 2004, Các nhân tố tác động đến thu nhập và nghèo đói tại huyện Cờ Đỏ, Tp Cần Thơ. Luận văn Thạc sĩ, Đại học kinh tế Tp HCM Khác
5. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau, 2010, tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 Khác
6. Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2010. Tài liệu giảng dạy môn học Kinh tế lượng ứng dụng, Trường Đại học Kinh tế TPHCM Khác
8. Đinh Phi Hổ và Hoàng Thị Thu Huyền, 2010, Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của nông hộ vùng Trung du ở tỉnh Phú Thọ. Tạp chí kinh tế phát triển, Số 236 Khác
9. Trang Thiếu Hùng, 2014, Ảnh hưởng của Phật Giáo Nam Tông đối với ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật của người Khơme Nam Bộ, Tạp Chí Khoa học Xã hội Việt Nam / 2014, Số 6(79), tr. 95-102 Khác
10. Nguyễn Thị Hưởng, 2011, Phân tích sự bất bình đẳng trong thu nhập. Trường hợp nghiên cứu tại huyện Củ Chi, Tp HCM. Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TPHCM Khác
12. Viên Ngọc Long, 2012, Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Luận văn Thạc sĩ Kinh tế học, Đại học Mở Tp HCM Khác
13. Nguyễn Thị Yến Mai, 2011, Các nhân tố ảnh hưởng tình trạng nghèo ở các xã biên giới trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Luận văn Thạc sĩ Kinh tế học, Đại học mở TPHCM Khác
14. Lê Thị Kim Ngân, 2013, Nghiên cứu Khu kinh tế cửa khẩu ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở các xã biên giới tỉnh Đồng Tháp. Luận văn Thạc sĩ Kinh tế học, Đại học Mở Tp HCM Khác
15. Nguyễn Quốc Nghi, 2010, Thực trạng và giải pháp định hướng sinh kế cho các dân tộc thiểu số vùng ĐBSCL: Nghiên cứu trường hợp người Khmer ở Trà Vinh và người Chăm ở An Giang. Tạp chí khoa học số 19- Trường Đại Mở TPHCM Khác
16. Nguyễn Quốc Nghi, Bùi Văn Trịnh, 2011, Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở ĐBSCL. Tạp chí khoa học, Trường Đại Học Cần Thơ, Số 18a-2011 Khác
17. Nguyễn Quốc Nghi, Trần Quế Anh và Bùi Văn Trịnh, 2011, Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Tạp chí khoa học - Trường Đại Học Cần Thơ, Số 5 (23) 2011 Khác
18. Lê Thanh Sơn, 2008, Những nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo ở các hộ gia đình vùng biên giới Tây Nam, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Khác
19. Nguyễn Đức Thắng, 2002, Ảnh hưởng của vốn con người đến thu nhập của người lao động, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế TP.HCM Khác
20. Nguyễn Đình Thọ, 2011, Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. NXB Lao động xã hội Khác
21. Tổng cục thống kê, 2010, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w