VŨ THỊ KIM HỒNG PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN TH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ KIM HỒNG
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2016
Trang 2
VŨ THỊ KIM HỒNG
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS BÙI KIM YẾN
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2016
Trang 3nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc của tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác và được thu thập từ nguồn chính thống và đáng tin cậy
Tôi cam đoan luận văn này chưa được công bố trên bất kì một tài liệu khoa học nào
Tp Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 07 năm 2016
Tác giả
Vũ Thị Kim Hồng
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 2
1.6 Bố cục của đề tài 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NHTM 4
2.1 Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 4
2.1.1 Hiệu quả kinh doanh 4
2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM 6
2.1.2.1 Lợi nhuận ròng 6
2.1.2.2 Tỷ suất sinh lợi nhuận 9
2.1.2.3 Một số tiêu chí định tính 11
2.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM 13
2.2.1 Các yếu tố vĩ mô 14
2.2.2 Các yếu tố vi mô 17
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM 20
2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 20
2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam 23
2.4 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng trên thế giới và bài học cho ngân hàng Việt Nam 25
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 27
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTMCP VIỆT NAM 28
3.1 Tổng quan về hệ thống NHTMCP Việt Nam 28
3.2 Thực trạng các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 29
3.2.1 Tình hình kinh tế vĩ mô 29
3.2.2 Thực trạng quy mô các NHTMCP Việt Nam 31
3.2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 33
3.2.3.1 Hoạt động huy động vốn 33
3.2.3.2 Hoạt động cấp tín dụng 34
3.2.3.3 Hoạt động đầu tư 36
3.2.3.4 Dịch vụ trung gian 37
3.2.4 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 38
3.3 Đánh giá sự tác động của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 40
3.3.1 Đánh giá sự tác động của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 40
3.3.2 Thành tựu đạt được 43
3.3.3 Hạn chế 44
3.3.4 Nguyên nhân của hạn chế 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 47
CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTMCP VIỆT NAM 48
4.1 Giới thiệu mô hình nghiên cứu 48
4.1.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu 48
4.1.2 Dữ liệu nghiên cứu 49
4.1.3 Các biến trong mô hình nghiên cứu 50
Trang 64.2.1 Thống kê mô tả các biến 55
4.2.2 Kết quả phân tích hồi quy 56
4.3 Phân tích kết quả của mô hình nghiên cứu 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 66
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTMCP VIỆT NAM 67
5.1 Định hướng phát triển của các NHTMCP Việt Nam 67
5.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 68
5.2.1 Giảm chi phí trong các hoạt động của ngân hàng để tăng hiệu quả kinh doanh .68
5.2.2 Giải pháp về quy mô ngân hàng 69
5.2.3 Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng 71
5.2.4 Mở rộng hoạt động tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng 73
5.3 Kiến nghị đối với Chính phủ và Ngân hàng nhà nước góp phần thực hiện giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 76
5.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 76
5.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 78
KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DEA : Phương pháp phân tích bao dữ liệu
Trang 8Bảng 3.3 Tổng tài sản bình quân của các NHTMCP Việt Nam 31
Bảng 3.4 Tổng vốn chủ sở hữu bình quân của các NHTMCP Việt Nam 32
Bảng 3.5 Tổng vốn huy động bình quân của các NHTMCP Việt Nam 34
Bảng 3.6 Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng của các NHTMCP Việt Nam 34
Bảng 3.7 Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng bình quân của các NHTMCP Việt Nam .36
Bảng 3.8 Doanh số đầu tư bình quân của các NHTMCP Việt Nam 37
Bảng 3.9 Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ bình quân của các NHTMCP Việt Nam 37
Bảng 3.10 Tình hình ROA bình quân của các NHTMCP Việt Nam 2006 – 2014 38
Bảng 3.11 Tình hình ROE bình quân của các NHTMCP Việt Nam 2006 – 2014 38
Bảng 3.12 Tổng thu nhập bình quân của các NHTMCP Việt Nam 39
Biểu đồ 3.1 Tương quan của các yếu tố CIR – LLP/TL ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 2007 – 2014 41
Biểu đồ 3.2 Tương quan của các yếu tố TA – TE/TA – TL/TA – NII/TA ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 2007 – 2014 42
Biểu đồ 3.3 Tương quan của các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 2007 – 2014 42
Hình 4.1: Mô hình đề xuất các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 49
Bảng 4.1 Các biến sử dụng trong mô hình hồi quy 53
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến 55
Bảng 4.3 Ma trận hệ số tương quan 56
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy với ROA là biến phụ thuộc 57
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy với ROE là biến phụ thuộc 59
Bảng 4.6 Tổng hợp kết quả phân tích hồi quy 65
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống ngân hàng được coi là “huyết mạch” của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong việc khai thông các nguồn vốn tiết kiệm nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư của các chủ thể trong nền kinh tế Bởi vậy, hoạt động ngân hàng cần phải luôn thông suốt, hiệu quả và an toàn để duy trì sự vận hành trôi chảy các hoạt động trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần, là những tổ chức chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ
từ những tổ chức tín dụng nước ngoài Việc gỡ bỏ hàng rào bảo hộ đối với ngành tài chính trong quá trình hội nhập vào các tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế giới
đã đem đến những thách thức rất lớn cho hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần ở nước ta, thậm chí sẽ có không ít ngân hàng thương mại cổ phần phải chấp nhận bị thâu tóm, sáp nhập, hoặc rút lui khỏi thị trường nếu không đủ sức cạnh tranh với hệ thống ngân hàng nước ngoài Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một trong những mục tiêu then chốt giúp ngân hàng tồn tại và phát triển trong tình hình hiện nay
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần thời kỳ hội nhập nhằm góp phần hoạch định chính sách cũng như quản trị ngân hàng thương mại cổ phần ngày càng trở nên hiệu quả hơn, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nhiều hơn và ổn định hơn, tác giả chọn đề tài
“Phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” để nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định mối tương quan và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
Dựa trên kết quả của việc xác định mối tương quan và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trên, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
Trang 101.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các NHTMCP Việt Nam và các yếu tố tác động đến hiệu
quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: 36 NHTMCP Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm
2006 đến năm 2014 Bài viết lựa chọn năm 2006 là thời điểm bắt đầu nhiên cứu vì đây là năm bắt đầu của giai đoạn nâng mức vốn pháp định và tăng cường các quy chế điều tiết; các NHTMCP nông thôn được chuyển đổi lên thành NHTMCP đô thị; một số ngân hàng mới được thành lập, xuất hiện loại hình ngân hàng 100 % vốn nước ngoài
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính như thống kê mô tả, so sánh các số liệu kết hợp với phương pháp định lượng – sử dụng mô hình hồi quy ước lượng với dữ liệu bảng (Panel Regression) với hướng tiếp cận những ảnh hưởng cố định (Fixed Effects) và những ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effects) để ước lượng mô hình Kiểm định Hausman sẽ được sử dụng để tìm ra mô hình ước lượng phù hợp nhất cho bộ dữ liệu
Nguồn số liệu được sử dụng trong các phân tích là báo cáo thường niên vào thời điểm cuối năm của 36 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014 Các biến kinh tế
vĩ mô được thu thập từ dữ liệu thống kê của ngân hàng thế giới
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu
Về mặt lý thuyết luận văn đã hệ thống hóa toàn bộ cơ sở lý thuyết liên quan đến hiệu quả kinh doanh và các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngành ngân hàng, các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng và dựa vào các nghiên cứu này để xây dựng mô hình các yếu
tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho việc học tập của sinh viên ngành tài chính – ngân hàng cũng như là nguồn cung cấp thông tin cho việc hoạch định chính sách của các nhà quản trị ngân hàng trong tình hình hiện nay
Trang 111.6 Bố cục của đề tài
Luận văn được chia thành 5 chương, với những nội dung sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan về yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM Chương 3: Thực trạng các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
Chương 4: Kiểm định các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
Chương 5: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NHTM
Trong chương này khung lý thuyết về hiệu quả kinh doanh và các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM sẽ được trình bày Tác giả cũng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan Đồng thời một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng trên thế giới cũng sẽ được giới thiệu ở chương này, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho ngân hàng Việt Nam
2.1 Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại
2.1.1 Hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả là thuật ngữ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội Trong hoạt động của NHTM, theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả
có thể được hiểu ở hai khía cạnh sau:
Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác
Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng
Trong “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt” của Nguyễn Khắc Minh (2004, trang 255) thì “hiệu quả - efficiency” trong kinh tế lượng được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào và các yếu tố khan hiếm với đầu ra là hàng hóa và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”
“Hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý nó phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” (Nguyễn Việt Hùng, 2008, trang 17)
Hiệu quả được hiểu là khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh (Daft, 2010, trang 8)
Trang 13Như vậy, có thể hiểu rằng hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định Theo Peter S Rose (2001) giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale cho rằng về bản chất NHTM cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép Tuy nhiên khả năng sinh lời là mục tiêu các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao có thể giúp các ngân hàng bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư Lợi nhuận là điều cần thiết cho một ngân hàng để duy trì hoạt động liên tục cũng như cần thiết cho các nhà đầu tư ngân hàng có được lợi nhuận hợp lý Khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững được sử dụng trong nghiên cứu này như một định nghĩa để mô tả hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Do đó, tác giả sẽ sử dụng khả năng sinh lời để đo lường hiệu quả kinh doanh của các NHTM Mặc dù đây không phải là biện pháp hoàn hảo để đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, nhưng nó thường được sử dụng với ý nghĩa thay thế trong các
lý thuyết ngân hàng vì khả năng sinh lời có thể dễ dàng tính toán thông qua việc sử dụng các thông tin kế toán và không cần thực hiện các giả định về giá trị thị trường của các khoản nợ của ngân hàng
Hiệu quả kinh doanh có thể xem xét trên góc độ mối quan hệ tuyệt đối và góc độ mối quan hệ tương đối Theo góc độ tương quan tuyệt đối thì hiệu quả kinh doanh được đo bằng kết quả kinh tế đạt được trừ đi chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó Theo góc độ này thì hiệu quả kinh doanh của ngân hàng được tính như sau:
Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
Đặc điểm của chỉ tiêu này giúp phản ánh quy mô, khối lượng của ngân hàng trong điều kiện, thời gian và địa điểm cụ thể Tuy nhiên, chỉ tiêu này có thể không phù hợp khi so sánh hiệu quả kinh doanh giữa những ngân hàng không cùng quy
mô Chẳng hạn, một ngân hàng có quy mô lớn thì hiệu số tuyệt đối giữa tổng thu nhập và tổng chi phí rất lớn, nhưng như vậy vẫn chưa đánh giá được liệu rằng ngân hàng này hoạt động hiệu quả hơn các ngân hàng khác có quy mô nhỏ hơn với hiệu
số tuyệt đối giữa tổng thu nhập và tổng chi phí nhỏ hơn Chỉ tiêu này không phản ánh khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các yếu tố đầu vào
Trang 14Cách đánh giá hiệu quả tương đối lại xem xét tỷ lệ so sánh giữa kết quả kinh tế đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Hiệu quả kinh doanh ngân hàng khi tính theo góc độ này tương đương với chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời như tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sỡ hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Chỉ tiêu này thuận tiện hơn trong việc so sánh theo không gian và thời gian cũng như cho phép so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng có quy
mô khác nhau, các thời kì khác nhau
Tóm lại, quan điểm về hiệu quả là đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu có thể xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên xuất phát từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, do vậy quan điểm về hiệu quả mà luận văn sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTMCP Việt Nam là dựa trên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế tính theo chỉ tiêu khả năng sinh lời
2.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM
Xét về bản chất, NHTM là một tổ chức kinh doanh vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro có thể chấp nhận được Do đó, lợi nhuận và các tiêu chí liên quan đến lợi nhuận là các tiêu chí để các nhà đầu tư đánh giá hiệu quả kinh doanh của các NHTM ngày nay Bên cạnh đó, các tiêu chí như chất lượng tài sản, các yếu
tố đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng, thị phần cũng được xem xét khi phân tích hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
2.1.2.1 Lợi nhuận ròng
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như đánh giá
sự phát triển bền vững của một ngân hàng, nó được xem là mục tiêu cuối cùng mà ngân hàng luôn hướng đến Lợi nhuận đạt được đảm bảo cho ngân hàng có thể giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ về lợi ích kinh tế cho các chủ thể có liên quan Mức lợi nhuận đạt được càng cao, càng giúp cho ngân hàng gia tăng tỷ lệ trích lập các quỹ bổ sung vốn, dự phòng tài chính, phát triển kỉ thuật nghiệp vụ ngân hàng tạo ra sự ổn định và phát triển ngân hàng trong tương lai
Trang 15Lợi nhuận của ngân hàng là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng thu nhập phải thu trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả hợp lý, hợp lệ Lợi nhuận được xác định qua các chỉ tiêu dưới đây:
Lợi nhuận thuần từ lãi = Tổng thu nhập từ lãi – Tổng chi phí từ lãi
Lợi nhuận thuần ngoài lãi = Tổng thu nhập ngoài lãi - Tổng chi phí ngoài lãi Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp
Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận giữa kì này so với kì trước
Lợi nhuận kì này − Lợi nhuận kì trước
𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑘ì 𝑡𝑟ướ𝑐
Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận giữa kì này so với kế hoạch
Lợi nhuận kì này − Lợi nhuận kế hoạch
𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑘ế ℎ𝑜ạ𝑐ℎ
Thu nhập của ngân hàng
Thu nhập của ngân hàng là toàn bộ nguồn thu bằng tiền mà ngân hàng thu được
từ hoạt động kinh doanh trong một thời gian nhất định Nguồn thu chính của ngân hàng là thu từ lãi tài sản sinh lời, chủ yếu là từ các khoản cho vay, chứng khoán, tiền gửi hưởng lãi từ các tổ chức tín dụng ngân hàng khác và các nguồn thu khác như: thu nhập từ các chi nhánh ngân hàng hay thu nhập từ cho thuê các tài sản mà ngân hàng đang sở hữu
Thu từ lãi: Tiền lãi được tạo ra từ các khoản cho vay, khoản thu này chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong tổng nguồn thu của ngân hàng Tiếp theo các khoản thu từ cho vay là những nguồn thu quan trọng khác bao gồm: thu nhập từ đầu tư chứng khoán, lãi từ các hợp đồng cấp tín dụng cho chính phủ, các hợp đồng mua bán lại và lãi thu được từ tiền gửi có kì hạn tại các NHTM khác
Thu ngoài lãi: Các khoản thu khác ngoài những khoản thu từ cho vay và chứng
khoán được gọi là các khoản thu ngoài lãi, bao gồm: thu phí từ hoạt động cung cấp các dịch vụ nhận tiền gửi, các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt và các dịch
vụ khác của ngân hàng
Chi phí hoạt động kinh doanh ngân hàng
Trang 16Những khoản chi phí phát sinh trong quá trình tạo ra thu nhập của ngân hàng bao gồm lãi trả cho người gửi tiền, lãi trả cho những khoản vay, chi phí cho vốn tự
có, tiền lương trả cho nhân viên của ngân hàng, chi phí liên quan đến tài sản vật chất của ngân hàng, phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng, thuế và các khoản chi phí khác
Chi phí trả lãi: Khoản chi phí quan trọng nhất là chi phí trả lãi tiền gửi, khoản
mục này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí ngân hàng Một khoản mục chi phí trả lãi tương đối quan trọng và đang có chiều hướng tăng lên là lãi trả cho những khoản vay ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, chủ yếu là những khoản vay của NHNN và các ngân hàng khác
Chi phí ngoài lãi: Khoản mục chi phí ngoài lãi quan trọng nhất đối với các
NHTM là tiền lương và các khoản chi phí khác thanh toán cho cán bộ nhân viên ngân hàng, là khoản chi phí tăng nhanh trong thời gian khi hệ thống ngân hàng thực hiện chính sách thu hút những nhà quản lý, nhân viên có kinh nghiệm và trình độ cao Ngoài ra các chi phí khấu hao nhà cửa, thiết bị, các phương tiện phục vụ hoạt động kinh doanh ngân hàng cùng chi phí pháp lý cần thiết khác cũng là một bộ phận cấu thành chi phí ngoài lãi
Phân bổ chi phí dự phòng tổn thất rủi ro tín dụng: Một bộ phận chi phí khác
mà ngân hàng khấu trừ khỏi thu nhập là phân bổ dự phòng tổn thất rủi ro tín dụng Đây là khoản chi phí không bằng tiền mặt, mà được tạo ra bởi một nghiệp vụ hạch toán, dự phòng những rủi ro tổn thất tín dụng bằng cách phân bổ vào chi phí
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, lợi nhuận hay hiệu quả tuyệt đối không phải
là tiêu chí thường được áp dụng để đo lường hiệu quả kinh doanh của các NHTM Bên cạnh đó, với mục tiêu đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của NHTM, chúng ta cần phân tích chỉ tiêu lợi nhuận trong một mối quan hệ với các tiêu chí quản lý khác, chẳng hạn như quy mô tổng tài sản, quy mô vốn chủ sở hữu Lợi nhuận hay hiệu quả tuyệt đối chỉ là cơ sở để chúng ta
có những phân tích sâu hơn bằng các chỉ tiêu liên quan đến lợi nhuận Có nhiều loại
hệ số tài chính được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng trong
Trang 17đó tỷ lệ về khả năng sinh lời để đo lường hiệu quả kinh doanh của NHTM là được
sử dụng phổ biến nhất Các tỷ lệ quan trọng nhất đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng hiện nay bao gồm tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA),
tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)
2.1.2.2 Tỷ suất sinh lợi nhuận
Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA – Return on Asset) là chỉ tiêu so sánh lợi nhuận thuần (lãi ròng) với tổng tài sản có
𝑅𝑂𝐴 =Lợi nhuận sau thuế
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐óROA phản ánh tính hiệu quả quản lý Nó chỉ ra rằng khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng, nếu mức ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức Ngược lại, mức ROA cao thường phản ánh kết quả của hoạt động hữu hiệu, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế
Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity) là chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận thuần với vốn chủ sở hữu của ngân hàng
𝑅𝑂𝐸 =Lợi nhuận sau thuế
𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢ROE đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông ngân hàng Nó thể hiện thu nhập
mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng, cho chúng ta thấy một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận (tức là đầu tư chấp nhận rủi ro
để có được thu nhập ở mức hợp lý) Tỷ số ROE được xem là xuất phát điểm cho việc đánh giá tình hình tài chính của một ngân hàng thương mại, nếu ROE tương đối thấp so với những ngân hàng khác sẽ làm giảm đi khả năng thu hút vốn mới cần thiết cho sự mở rộng và duy trì vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
Trang 18(Trần Huy Hoàng, 2011) Ngoài ra, trong đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng còn xem xét mối quan hệ giữa chỉ tiêu ROA và ROE vì trên thực tế hai chỉ tiêu này phản ảnh sự đánh đổi cơ bản giữa rủi ro và thu nhập Chính điều này cho thấy một ngân hàng có thể có ROA thấp nhưng vẫn có thể đạt được ROE khá cao do họ sử dụng đòn bẩy tài chính lớn
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM – Net Interest Margin) là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, tất cả chia cho tổng tài sản có sinh lời
𝑁𝐼𝑀 =Tổng thu lãi cho vay − Tổng chi về huy động vốn
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó sinh 𝑙ờ𝑖 (ℎ𝑜ặ𝑐 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó)
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất (Trần Huy Hoàng, 2011) Ngoài ra các hệ số như thu ngoài lãi biên ròng (NOM), thu nhập hoạt động biên (TNHĐB), hệ số thu nhập trên cổ phiếu (EPS) cũng được dùng để phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng
𝑁𝑂𝑀 = Tổng thu nhập ngoài lãi − Tổng chi phí ngoài lãi
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó𝑇𝑁𝐻Đ𝐵 = Tổng thu hoạt động − Tổng chi phí hoạt động
cổ đông tính trên mỗi cổ phiếu hiện hành đang lưu hành
Nhìn chung, các hệ số tài chính là công cụ phổ biến để đánh giá, phân tích, phản ánh hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Mỗi hệ số cho biết mối quan hệ giữa hai biến số tài chính qua đó cho phép phân tích và so sánh giữa các chi nhánh, giữa các
Trang 19ngân hàng và phân tích xu hướng biến động của các biến số này theo thời gian Tuy nhiên, như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tiết lộ, các chỉ số truyền thống được sử dụng để đo lường hiệu suất có thiếu sót nhất định, vì đã bỏ qua các chỉ số
“vô hình” hoặc phi tài chính như “chiến lược công ty”, “mục tiêu kinh doanh” và
“giá trị của động lực”; phụ thuộc quá nhiều vào “phân tích nội bộ của điều kiện hoạt động, trong khi không bao gồm các yếu tố bên ngoài”, và tập trung quá nhiều vào
“các tài sản truyền thống trong khi bỏ qua tài sản vô hình” Điều này sẽ dẫn đến việc đưa ra những kết luận sai lầm trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
2.1.2.3 Một số tiêu chí định tính
Mục tiêu hoạt động
Trong quá trình phân tích báo cáo tài chính của ngân hàng, chúng ta phải xác định những mục tiêu mà những ngân hàng đang theo đuổi Hoạt động của ngân hàng phải được định hướng theo mục tiêu cụ thể Đôi khi, chúng ta sẽ phạm những sai lầm một khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng mà lại xa rời phân tích mục tiêu hoạt động của ngân hàng Là một doanh nghiệp, hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ, mục tiếu tối hậu của ngân hàng chính là việc tối đa hóa giá trị cổ phiếu Tuy nhiên khi phân tích hiệu quả, không phải chỉ dựa vào các chỉ số tài chính mà đưa ra kết luận ngân hàng hoạt động hiệu quả hay không mà còn tùy vào mục tiêu của chính ngân hàng đó Để có thể đánh giá công bằng tình hình hoạt động của ngân hàng, chúng ta cần phải đánh giá khả năng của ngân hàng trong việc đạt được những mục tiêu mà Hội đồng quản trị đã đề ra Một số ngân hàng mong muốn tăng trưởng nhanh hơn và đạt được mục tiêu tăng trưởng dài hạn Ngược lại, một số ngân hàng thích sự ổn định – tối thiểu hóa rủi ro, đảm bảo sự lành mạnh cho ngân hàng nhưng với mức thu nhập khiêm tốn cho các cổ đông
Thương hiệu
Thương hiệu ngân hàng là tổng hợp các yếu tố nhằm thỏa mãn nhu cầu tài chính của khách hàng, giúp khách hàng có nhận thức, niềm tin và tình cảm với ngân hàng,
Trang 20đồng thời tạo nên sự phân biệt và định hướng cho khách hàng tìm đến với sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh dựa vào niềm tin Phải có niềm tin, người
có tiền mới sẵn lòng đem nó trao cho người khác, khi ngân hàng có thương hiệu, ngân hàng có được tình cảm và niềm tin của khách hàng, việc này sẽ giúp ngân hàng có thêm nhiều khách hàng Đặc biệt khi sản phẩm ngân hàng thuộc nhóm dịch
vụ, với đặc trưng của tính vô hình nên khi có sự tin tưởng – có thể từ tiềm lực tài chính mạnh, phong cách giao tiếp ân cần chu đáo, từ mạng lưới rộng khắp,
từ sản phẩm đa dạng, hay công nghệ hiện đại… khách hàng sẽ yên tâm thực hiện các giao dịch với ngân hàng, nhiều người gửi tiền, vay tiền, hoặc nhờ tư vấn tài chính Thương hiệu ngân hàng còn giúp ngân hàng có lực lượng khách hàng trung thành – truyền thống và giúp giảm bớt chi phí khi huy động nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng Một ngân hàng có uy tín cao, các chi phí dành cho truyền thông, quảng cáo, chi phí “bôi trơn”… sẽ được hạn chế, thay vào đó sẽ để cho các hoạt động đầu tư bài bản vào công nghệ ngân hàng hiện đại, vào phát triển nghiệp
vụ, đào tạo mọi kỹ năng cho nhân viên… từ đó chất lượng phục vụ khách hàng
được nâng cao, từ đó lại làm tăng niềm tin và tình cảm của khách hàng
Thương hiệu ngân hàng mạnh đồng nghĩa với thị trường rộng và ổn định, thu nhập tốt, các chế độ đãi ngộ cao, sự bảo đảm lớn do đó sẽ giúp ngân hàng thu hút được người lao động có tâm, có tài Đồng thời, khi ngân hàng có đội ngũ nhân viên hùng hậu cả về tâm tài trí thì khả năng phục vụ khách hàng càng được hiệu quả từ
đó thương hiệu của ngân hàng càng được củng cố và phát triển
Chất lượng dịch vụ
Khách hàng là điều kiện tiên quyết để ngân hàng tồn tại và phát triển Chìa khoá của sự thành công trong cạnh tranh là duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất Dịch vụ khách hàng hoàn hảo đã và đang là yếu tố tạo nên sự khác biệt và là vũ khí quan trọng trong việc tạo nên lợi thế cạnh tranh mà bất kỳ tổ chức hay doanh nghiệp nào cũng đều muốn sở hữu Do đó, đòi hỏi các ngân hàng phải chạy đua nhau về chất
Trang 21lượng dịch vụ cả về quy mô phát triển, tiềm lực về vốn, bề rộng hệ thống mạng lưới, cũng như chiều sâu công nghệ
Để đánh giá chất lượng của một sản phẩm, chúng ta phải căn cứ vào những đặc tính riêng của chúng Đối với chất lượng dịch vụ tài chính ngân hàng, chúng ta có thể đánh giá thông qua:
Tính tiện ích của dịch vụ mà ngân hàng cung cấp
Thời gian cung ứng sản phẩm cùng loại so với các ngân hàng khác
Mức độ đơn giản hay phức tạp của quá trình cung ứng dịch vụ
Độ chính xác của sản phẩm
Chất lượng dịch vụ tài chính là một trong những tiêu chí để đánh giá tính hiệu quả của một ngân hàng Nếu dịch vụ của một ngân hàng có chất lượng tốt thì ngân hàng đó hoàn toàn có lợi thế hơn so với các ngân hàng khác trong việc cung cấp các dịch vụ cùng loại trong cùng một điều kiện, điều này dẫn đến ngân hàng đó có cơ hội đạt được mức thu nhập cao hơn Thậm chí, nếu giá dịch vụ của ngân hàng có chất lượng tốt có cao hơn so với giá dịch vụ của ngân hàng khác ở một mức độ nhất định thì ngân hàng đó vẫn có khả năng thu hút khách hàng tốt hơn
Thị phần
Peter S.Rose (2001) cho rằng quy mô hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến các chỉ tiêu về hoạt động cũng như khả năng sinh lời của ngân hàng Thông qua thị phần của ngân hàng, nhà đầu tư, khách hàng có thể đánh giá được quy mô hoạt động của ngân hàng, chất lượng dịch vụ, uy tín của ngân hàng để từ đó có quyết định đầu tư hay sử dụng dịch vụ của ngân hàng Mặc dù thị phần là kết quả của hoạt động ngân hàng trong quá khứ nhưng nó lại có tác động đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong tương lai Thị phần biểu hiện vị thế và sức cạnh tranh của ngân hàng Một ngân hàng được đánh giá là hoạt động có hiệu quả khi thị phần của ngân hàng đó đang được mở rộng
2.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM
Hiệu quả là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngân hàng, bởi vậy nâng cao hiệu quả cũng có nghĩa là tăng cường năng lực tài chính góp phần
Trang 22củng cố và nâng cao thương hiệu của các NHTM Tuy nhiên, để cho NHTM hoạt động hiệu quả hơn, đòi hỏi phải xác định được các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM nhằm đẩy mạnh các hoạt động góp phần năng cao thu nhập
và lợi nhuận cho ngân hàng đồng thời hạn chế các hoạt động mang tính chất rủi ro làm sụt giảm lợi nhuận Từ nhiều nghiên cứu về những yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng có thể chia các yếu tố này hai nhóm: nhóm yếu tố vĩ
mô và nhóm yếu tố vi mô, tùy theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hai nhóm yếu tố này có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả hoạt động của chính các NHTM
ro ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Theo các nghiên cứu trước
đã được thực hiện trên các quốc gia khác nhau, các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng bao gồm: tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tốc độ tăng cung tiền, sự phát triển của thị trường chứng khoán, sự tự do hóa thị trường ngoại hối
Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Domestic Product) là một trong những chỉ số kinh tế vĩ mô thông dụng nhất, là một thước đo tổng số hoạt động kinh tế trong một nền kinh tế Biến tốc độ tăng trưởng là yếu tố có ảnh hưởng đến nguồn cung và cầu của các khoản vay và khoản tiền gửi Có thể kì vọng lợi nhuận ngân hàng được tác động bởi tốc độ tăng trưởng GDP vì chất lượng tài sản ngân hàng phụ thuộc vào chu kì kinh tế Khi nền kinh tế suy thoái, rủi ro tín dụng sẽ gia tăng
Trang 23cao hơn so với khi nền kinh tế tăng trưởng vì tình hình khó khăn, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không có đủ nguồn thu để chi trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng làm gia tăng rủi ro tín dụng Khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ kích thích nhu cầu tín dụng nhiều hơn so với thời kỳ kinh tế suy thoái Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ làm tăng chất lượng của các khoản cho vay vì lúc này các doanh nghiệp đi vay, với điều kiện kinh doanh thuận lợi, sẽ có nhiều cơ hội thu được lợi nhuận, trả nợ gốc và lãi vay cho ngân hàng; các khách hàng cá nhân sẽ có việc làm ổn định, nhu cầu chi tiêu
cá nhân sẽ nhiều hơn, khả năng trả nợ gốc và lãi sẽ cao hơn Điều này góp phần vào việc làm giảm rủi ro tín dụng cho ngân hàng (Yong Tan và Christos Floros, 2012) Tuy nhiên, khi kinh tế tăng trưởng mà đẩy tín dụng tăng trưởng nóng theo yêu cầu của nền kinh tế thì rủi ro lúc đó sẽ tăng theo, lúc bấy giờ chưa chắc sẽ làm gia tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Trên thực tế thì hệ số tương quan này cũng có thể mang dấu âm, bởi lẽ những quốc gia có chỉ số GDP cao thường hệ thống ngân hàng sẽ vận hành trong môi trường cạnh tranh cao đồng nghĩa với việc tăng áp lực cạnh tranh trong ngành ngân hàng và kết quả là làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng (Goldber và Rai, 1996)
Lạm phát
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer price index) thường được dùng để tính mức độ lạm phát Lạm phát là một chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng ảnh hưởng đến cả chi phí và thu nhập của các NHTM Một cách tổng quát, tỷ lệ lạm phát cao
sẽ tương quan với một mức lãi suất cho vay cao và do đó sẽ dẫn đến một mức thu nhập cao Tuy nhiên, lạm phát có thể tác động cùng chiều hoặc ngược chiều lên khả năng sinh lời, tùy thuộc vào việc lạm phát có thể dự đoán được hay không dự đoán được (Perry, 1992) Nếu lạm phát được dự đoán đầy đủ các ngân hàng có thể điều chỉnh mức lãi suất để gia tăng thu nhập và giảm bớt chi phí Ngược lại, nếu lạm phát là không dự đoán được, các ngân hàng không thể điều chỉnh lãi suất một cách chính xác, do đó chi phí có thể tăng cao hơn so với thu nhập và hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ kém hiệu quả
Trang 24Tốc độ tăng cung tiền
Theo lý thuyết tiền tệ, những thay đổi trong cung tiền sẽ dẫn đến những thay đổi trong GDP danh nghĩa và mức giá danh nghĩa Cung tiền đề cập đến số lượng tiền
có sẵn và nó phụ thuộc vào chính sách tiền tệ theo sau đó Cung tiền cơ bản được quyết định bởi chính sách của Ngân hàng Trung ương, tuy nhiên nó bị ảnh hưởng bởi hành vi của các hộ gia đình giữ tiền và các ngân hàng mà trong đó tiền được nắm giữ
Trong nghiên cứu của Demirguc – Kunt và Huizinga (1999) đã công bố bằng chứng thực nghiệm tiết lộ rằng tăng dự trữ bắt buộc làm giảm lợi nhuận ngân hàng
Mở rộng nghiên cứu hơn nữa, họ cũng đã chứng minh rằng dự trữ bắt buộc có tác động lên lợi nhuận rõ rệt hơn ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển, bởi vì chi phí cơ hội của việc dự trữ có xu hướng tương đối cao hơn ở các nước nghèo và có nhiều lạm phát (Aburime, 2009)
Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán như hai bình thông nhau trong sự luân chuyển vốn, lãi suất ngân hàng tăng hoặc giảm sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán giảm hoặc tăng, cũng như ảnh hưởng đến dòng luân chuyển vốn: vốn được chuyển từ TTCK sang thị trường tiền tệ hoặc ngược lại Thêm vào đó, TTCK phát triển còn tạo thêm những công cụ mới, tạo điều kiện cho các NHTM có thể mở rộng khả năng tham gia các nghiệp vụ thị trường tiền tệ, mở rộng hoạt động kinh doanh, góp phần gia tăng lợi nhuận Điều này thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển, đồng thời hỗ trợ NHTW thực hiện tốt vai trò điều tiết tiền tệ thông qua các công cụ chính sách tiền tệ, nhất là thông qua nghiệp vụ thị trường mở Việc mua, bán chứng khoán của NHTW với các NHTM sẽ có tác dụng mở rộng hay thu hẹp khối lượng tiền tệ trong lưu thông, qua đó mà khối lượng tiền tệ được điều tiết theo mục tiêu đã định Các bằng chứng thực nghiệm từ Demirguc – Kunt và Huizinga (1999) và Yong Yong Tan và Christos Floros (2012) đã cho thấy các ngân hàng có cơ hội kiếm được lợi nhuận nhiều hơn ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển tốt
Trang 25Sự tự do hóa thị trường ngoại hối
Lợi nhuận ngân hàng có thể bị ảnh hưởng bởi bản chất của chế độ tỷ giá hối đoái của một quốc gia Một chế độ tỷ giá hối đoái cố định, hạn chế phần lớn lợi nhuận của ngân hàng Trong khi đó, một chế độ tỷ giá hối đoái tự do một phần hay hoàn toàn của ngoại tệ trên thị trường, sẽ đem đến cho các ngân hàng phạm vi rộng hơn trong việc buôn bán, trao đổi ngoại tệ và do đó cải thiện lợi nhuận tổng thể (Aburime, 2009)
2.2.2 Các yếu tố vi mô
Các yếu tố vi mô ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng là các yếu tố chủ quan bên trong nội bộ của chính các ngân hàng Các yếu tố này bao gồm tổng tài sản ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, mức độ đa dạng hóa sản phẩm, rủi ro tín dụng, thanh khoản, năng suất lao động
Tổng tài sản ngân hàng
Đây là nhân tố hết sức quan trọng khi so sánh tình hình hoạt động giữa các ngân hàng Hầu hết các tỷ số phản ánh hoạt động ngân hàng như ROA, ROE, NIM đều rất nhạy cảm với tổng tài sản ngân hàng
Các ngân hàng có tổng tài sản lớn sẽ giảm chi phí do tính hiệu quả kinh tế theo quy mô và sẽ đạt hiệu quả cao Mặt khác, tổng tài sản lớn có thể là kết quả của chiến lược tăng trưởng mạnh mẽ của ngân hàng, có nghĩa là các nhà quản trị sẽ khó khăn trong việc quản lý và tính phi kinh tế theo quy mô sẽ xuất hiện, gây tốn kém
chi phí trong quá trình quản lý, điều hành
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu
Yếu tố tài chính quan trọng nhất của của NHTM là vốn Về mặt kinh tế, vốn chủ
sở hữu là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh huởng đến quy mô kinh doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính và huy động công nghệ Vốn thấp hạn chế các ngân hàng mở rộng các dịch vụ và quy mô hoạt động Có thể thấy vốn chủ sở hữu ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng Việc tăng vốn chủ
sở hữu có thể làm tăng lợi nhuận dự kiến bằng cách làm giảm chi phí dự kiến của
Trang 26vấn đề kiệt quệ tài chính bao gồm vấn đề phá sản Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu phải phù hợp với quy mô hoạt động, năng lực quản lý của nhà quản trị ngân hàng và mức độ rủi ro trong kinh doanh
Chi phí hoạt động
Chi phí hoạt động của ngân hàng là các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng bao gồm chi phí nộp thuế, các khoản phí và lệ phí, chi lương, phụ cấp và trợ cấp cho nhân viên
Theo lý thuyết, chi phí giảm sẽ làm tăng lợi nhuận và do đó làm tăng hiệu quả kinh doanh của các NHTM Tuy nhiên tác động này sẽ ngược chiều khi mà với một mức độ cao hơn của chi phí có thể được liên kết với khối lượng cao hơn của các hoạt động ngân hàng và do đó các khoản thu sẽ cao hơn Trường hợp này xảy ra sẽ ủng hộ cho giả thuyết tiền lương hiệu quả, giả thuyết này cho rằng năng suất của
người lao động sẽ tăng tương ứng với mức tăng thu nhập
Mức độ đa dạng hóa sản phẩm
Bên cạnh các hoạt động kinh doanh truyền thống là huy động vốn và cấp tín dụng, các ngân hàng ngày càng thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh phi truyền thống khác như đầu tư tài chính, kinh doanh ngoại hối, cung cấp dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ ủy thác, dịch vụ thanh toán, giữ hộ tài sản, tư vấn, bán bảo hiểm Càng đa dạng hóa sản phẩm, ngân hàng càng tạo ra nhiều nguồn thu nhập, giảm sự phụ thuộc vào thu nhập lãi mà nguồn thu này dễ bị ảnh hưởng khi có sự thay đổi theo hướng bất lợi trong môi trường kinh tế vĩ mô (Alper và Anbar, 2011)
Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu trong hoạt động của các NHTM, tín dụng là nghiệp vụ đem lại thu nhập chủ yếu cho các NHTM cho nên tác động của rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi Rủi ro tín dụng làm giảm thu nhập của ngân hàng: khi có một khoản nợ được coi là quá hạn, thu nhập của ngân hàng bị giảm sút ngay, một phần vì không thu được lãi
Trang 27hoặc nợ gốc như cam kết, trong khi vẫn phải trả lãi cho nguồn huy động, một phần
do các chi phí quản lý, giám sát phát sinh
Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao không những làm giảm thu nhập của ngân hàng mà còn làm giảm nguồn vốn, đồng thời làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng Khi đó ngân hàng sẽ phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao, bởi huy động từ tiền gởi dân cư thường mất rất nhiều thời gian Nếu tình trạng này kéo dài với việc hàng loạt người gởi tiền rút tiền, ngân hàng sẽ buộc phải đóng cửa và tuyên
bố phá sản
Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng Khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, phải đi vay từ nhiều nguồn khác nhau, uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ bị giảm đi nghiêm trọng Hơn nữa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá không tốt
về tình hình hoạt động của ngân hàng, điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý đối tác của ngân hàng, dẫn đến việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các ngân hàng khác
Thanh khoản
Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn, khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn Rủi ro thanh khoản là tình trạng ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn khả dụng Tình trạng này nhẹ thì gây thua lỗ, hoạt động kinh doanh bị đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán dẫn đến ngân hàng phá sản
Rủi ro thanh khoản là vấn đề thường nhật mà các NHTM phải đối phó Vì vậy,
để tránh các vấn đề về thiếu khả năng toán, ngân hàng thường giữ các tài khoản có tính thanh khoản, có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt Tuy nhiên, những tài sản có tính thanh khoản thường có tỷ suất sinh lời thấp Do đó, nếu ngân hàng rơi vào tình trạng thặng dư thanh khoản - không khai thác hết những tài sản có khả năng sinh lời, sẽ làm giảm lợi nhuận ngân hàng Graham và Bordelean (2010) lập
Trang 28luận rằng lợi nhuận ngân hàng được cải thiện do các ngân hàng nắm giữ một số tài khoản có tính thanh khoản, tuy nhiên, có một điểm mà tại đó việc nắm giữ tài sản
có tính thanh khoản nhiều hơn nữa sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng (Yong Tan
và Christos Floros, 2012)
Năng suất lao động
Theo quan niệm truyền thống thì năng suất lao động phản ánh tính hiệu quả của việc sử dụng lao động Nó đo giá trị đầu ra do một lao động tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định, hoặc là số thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đầu ra Như vậy, năng suất lao động phản ánh mối quan hệ giữa đầu ra (là sản phẩm) và đầu vào (là lao động) được đo bằng thời gian làm việc Việc tăng năng suất lao động góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bởi khi tăng năng suất lao động có nghĩa là hao phí để sản xuất ra một đơn
vị sản phẩm giảm, vì thế nó cho phép giảm số người làm việc, tiết kiệm được quỹ lương Mà tiền lương là khoản mục chi phí ngoài lãi quan trọng nhất đối với các NHTM, do đó tăng năng suất lao động góp phần làm giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Bằng chứng thực nghiệm tại Hy Lạp cho thấy có mối tương quan tích cực giữa năng suất lao động và lợi nhuận ngân hàng (Athanasoglou và các công sự, 2005)
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM
2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
Có nhiều nghiên cứu về phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng trên thế giới Trong các nghiên cứu gần đây thì cho thấy các yếu
tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng bao gồm các yếu tố bên trong
và yếu tố bên ngoài Các yếu tố bên trong liên quan đến quản trị ngân hàng hoặc những yếu tố đặc trưng của ngân hàng về khả năng sinh lời Những yếu tố bên ngoài phản ánh tình hình kinh tế, môi trường pháp lý và chính các yếu tố này tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Tùy vào mục tiêu của mỗi nghiên cứu mà các biến sẽ được lựa chọn khác nhau
Trang 29Có hai phương pháp tiếp cận trong việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Phương pháp thứ nhất tập trung vào phương pháp tham số và phi tham số để phân tích hiệu quả biên ví dụ như phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA (Data Development Analysics) và phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA (Stochastic Frontier Analysis) Cách tiếp cận này có thể tìm thấy trong nghiên cứu của Sherman và Gold (1983) đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của 14 chi nhánh một ngân hàng ở Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 chi nhánh ngân hàng hoạt động kinh doanh kém hiệu quả hơn các ngân hàng còn lại Nghiên cứu của Bonin và các cộng sự (2005) về hiệu quả hoạt động ngân hàng tại các nền kinh tế chuyển đổi cùng với nghiên cứu của Bonaccorsi di Patti và Hardy (2005) về tự do hóa tài chính, ngân hàng tư nhân và hiệu quả - bằng chứng thực nghiệm tại Pakistan đều cho thấy các ngân hàng nhà nước hoạt động kém hiệu quả nhất trong khi các ngân hàng nước ngoài lại là ngân hàng hoạt động hiệu quả nhất trong hệ thống ngân hàng
Phương pháp tiếp cận thứ hai xem xét các yếu tố quyết định lợi nhuận ngân hàng, trong đó lợi nhuận ngân hàng thường được đo lường bằng ROA, ROE và trong một số trường hợp có thể được đo lường bằng NIM Các yếu tố quyết định lợi nhuận ngân hàng bao gồm các tỷ số tài chính ngân hàng, những thay đổi về quy định và các biến kinh tế vĩ mô Có nhiều nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận này, cụ thể gồm có:
Nghiên cứu của Goddard (2004) về tỷ suất sinh lời của ngân hàng châu Âu những năm 90 sử dụng ước lượng dữ liệu bảng Biến phụ thuộc được sử dụng trong nghiên cứu là ROE của 665 ngân hàng từ 6 quốc gia (Đan mạch, Pháp, Ý, Đức, Tây Ban Nha và Anh) trong khoảng thời gian 1992 – 1998 Biến độc lộc gồm quy mô ngân hàng, hiệu quả chi phí hoạt động và vốn chủ sở hữu Tác giả đã phát hiện quy
mô ngân hàng không ảnh hưởng đáng kể đến tỷ suất sinh lời và mối tương quan thuận giữa hiệu quả chi phí hoạt động và vốn chủ sở hữu với tỷ suất sinh lời
Trang 30Nghiên cứu thực nghiệm của Javaid và các đồng sự (2011) nghiên cứu về tỷ suất sinh lời của 10 ngân hàng tại Pakista trong khoảng thời gian 2004 – 2008 Phương pháp POLS được sử dụng để kiểm định dự tác động của tài sản, cho vay, vốn chủ sở hữu và tiền gửi đến khả năng sinh lời của ngân hàng thông qua biến ROA Kết quả quả cho thấy việc gia tăng tổng tài sản có thể không nhất thiết sẽ làm lợi nhuận gia tăng bởi vì tính phi kinh tế theo quy mô và việc gia tăng tín dụng tuy có đóng góp vào khả năng sinh lời nhưng tác động này lại không có ý nghĩa Nghiên cứu cũng phát hiện vốn chủ sở hữu và khoản tiền gửi có tác động đến khả năng sinh lời Deger Alper và Adem Anbar (2011) nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Thổ Nhĩ Kì Tác giả nghiên cứu 10 NHTM niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán của Thổ Nhĩ Kì trong khoảng thời gian 2002 –
2010 Tác giả sử dụng mô hình yếu tố cố định (FE) và yếu tố ngẫu nhiên (RE) để ước lượng tham số với biến phụ thuộc là ROA và ROE Biến độc lập được dùng trong mô hình là 7 nhân tố bao gồm quy mô ngân hàng, an toàn vốn, chất lượng tài sản, thanh khoản, huy động vốn, cấu trúc thu nhập – chi phí Biến đại diện về kinh
tế vĩ mô gồm tăng trưởng kinh tế, lãi suất và lạm phát Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng, chỉ số thu nhập ngoài lãi vay có mối quan hệ cùng chiều với ROA Trong khi khoản vay lại có mối quan hệ ngược chiều với ROA Với biến phụ thuộc là ROE quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều, tuy nhiên lãi suất thực lại
có tác động ngược lại
Trong các bài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại các nước có thị trường mới nổi, có Yong Tan và Christos Floros (2012) nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng tại Trung Quốc Với nguồn dữ liệu bảng không cân đối được thu thập từ 101 ngân hàng tại Trung Quốc trong giai đoạn 2003 – 2009, tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy tổng quát (GMM) để đo lường sự tác động của các biến quy mô ngân hàng, thanh khoản, thuế, an toàn vốn, chi phí hiệu quả, mức độ đa dạng hóa sản phẩm, năng suất lao động, sự phát triển của khu vực ngân hàng, sự phát triển của thị trường chứng khoán và lạm phát đến hai biến phụ thuộc là ROA và NIM Kết quả cho thấy tác động của thuế và rủi ro tín
Trang 31dụng có mối tương quan tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng trong mô hình hồi quy với ROA là biến phụ thuộc Biến chi phí hiệu quả, biến phát triển của ngành ngân hàng và biến phát triển của thị trường chứng khoán có tương quan tích cực và có ý nghĩa đối với lợi nhuận ngân hàng trong cả hai mô hình
Nhiều nghiên cứu khác cũng xem xét tác động của các yếu tố đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại nhiều quốc gia các nhau Trong đó, các chỉ tiêu đo lường hiệu quả được sử dụng chủ yếu là ROA, ROE và NIM với các biến độc lập thường được sử dụng như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, khả năng thanh khoản, rủi ro tín dụng
2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam
Các nghiên cứu trong nước về hiệu quả kinh doanh của hệ thống NHTM trong những năm gần đây được nhiều người quan tâm, tiêu biểu có các nghiên cứu sau: Nghiên cứu của nghiên cứu sinh Lê Thị Hương năm 2002 về "Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại Việt Nam" tuy đã có phần nào tiếp cận theo cách thức phân tích định lượng nhưng vẫn chỉ dừng lại chủ yếu ở các chỉ tiêu mang tính chất thống kê
Bài viết của Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh năm 2012 về “Phân tích hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả truyền thống dựa trên phân tích các tỷ số tài chính Kết quả chỉ ra rằng hiệu quả kinh doanh của cả hệ thống và các nhóm NHTMCP trong giai đoạn nghiên cứu đều chịu tác động từ những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 thể hiện ở hầu hết các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động đều giảm mạnh Trong đó, các ngân hàng quy mô nhỏ chịu ảnh hưởng nhiều nhất và khả năng phục hồi cũng chậm nhất so với các ngân hàng quy
mô lớn và vừa Bài viết cũng chủ yếu dừng lại ở phân tích định tính
Còn các nghiên cứu định lượng về đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại nhìn chung còn ít, gần đây có nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008) với đề tài "Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam" tiếp cận phân tích hiệu quả biên (phân tích biên
Trang 32ngẫu nhiên (SFA)), phân tích bao dữ liệu (DEA) và mô hình kinh tế lượng (Tobit) Tác giả phân tích cho 32 ngân hàng thương mại ở Việt Nam bao gồm cả 3 loại hình: ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần và ngân hàng liên doanh Thời gian nghiên cứu 2001 – 2005 với dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường niên của ngân hàng thương mại và báo cáo của ngân hàng nhà nước Biến phụ thuộc được sử dụng trong mô hình Tobit là hiệu quả kĩ thuật của các ngân hàng được ước lượng bằng phương pháp DEA hoặc SFA Các biến độc lập bao gồm quy
mô ngân hàng, tỷ lệ tổng chi phí trên tổng thu nhập, tỷ lệ tiền gửi trên cho vay, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, mức độ phân chia thị trường, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ tư bản hiện vật trên tổng tài sản,
tỷ lệ giữa vốn và lao động, tỷ lệ giữa thu từ lãi trên thu từ hoạt động và hai biến giả loại hình ngân hàng được đưa vào mô hình nhằm kiểm định sự khác biệt về hiệu quả của ngân hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến quy mô ngân hàng, mức
độ phân chia thị trường và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có mối tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của hai biến quy mô ngân hàng và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
là không lớn Đồng thời phát hiện được mối tương quan nghịch giữa hiệu quả kinh doanh ngân hàng với các biến tỷ lệ tiền gửi trên cho vay, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ tư bản hiện vật trên tổng tài sản và tỷ lệ thu từ lãi trên thu từ hoạt động
Nhìn chung, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng trong nước đã được nhiều tác giả quan tâm Mỗi nghiên cứu đều có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của ngân hàng thông qua việc đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại
Trang 332.4 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng trên thế giới và bài học cho ngân hàng Việt Nam
2.4.1 Kinh ngiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng trên thế giới
Để nâng cao hiệu quả kinh doanh các ngân hàng trên thế giới đã thực hiện các biện pháp sau:
Xử lý nợ xấu và lành mạnh hóa tài chính, một số nước đã khá thành công
trong vấn đề giải quyết nợ xấu thông qua việc cơ cấu lại các khoản nợ xấu và bán các khoản nợ có tài sản đảm bảo cho các công ty quản lý tài sản (AMC) Tại Thái Lan, sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, cuối năm 1997 nợ xấu của khu vực ngân hàng đạt mức kỉ lục 46 % trên tổng dư nợ tín dụng Chính phủ Thái Lan đã dựa trên các AMC và phân thành hai thời kì phân tán và tập trung để nhanh chóng kiểm soát vấn đề này Mô hình phân tán với sự tham gia của các AMC sở hữu nhà nước (hỗ trợ bởi Quỹ phát triển các Định chế tài chính – FIDF) và các AMC sở hữu bởi ngân hàng tư nhân được áp dụng lần lượt vào năm 1998 và 1999 Trong khi đó,
mô hình AMC tập trung dựa trên sự thành lập của Công ty quản lý tài sản Thái Lan vào năm 2001 AMC phân tán chỉ xử lý được nợ xấu ở tỷ lệ rất nhỏ, riêng AMC tập trung đã giải quyết số nợ là 784,4 tỷ Bath vào tháng 6 năm 2003 đạt 73,46 % tổng
số nợ cần xử lý Tương tự với kinh nghiệm ở Trung Quốc, Chính phủ cũng đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản cho cả 4 NHTM Nhà nước khi mà tỷ lệ nợ xấu của 4 NHTM này lên đến trên 18 % vào năm 2014
Tiến hành rà soát và phân loại ngân hàng: Một trong những việc làm đầu tiên
của Chính phủ Hàn Quốc sau cuộc khủng hoảng tài chính là tiến hành áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để đánh giá tình hình tài chính, các khoản nợ xấu và tiến hành phân loại các ngân hàng thành 3 nhóm làm cơ sở cho quá trình hợp nhất và sáp nhập, bao gồm: Nhóm các ngân hàng dẫn đầu (nhóm các ngân hàng lớn); Nhóm các ngân hàng cỡ trung bình, chủ yếu tập trung vào hoạt động bán lẻ; Nhóm các ngân hàng nhỏ phục vụ cho các vùng địa phương đặc biệt
Trang 34Mục tiêu chính của việc phân loại này là nhằm tạo ra các ngân hàng lớn sau khi hợp nhất và sáp nhập có đủ năng lực về tài chính để có thể cạnh tranh hiệu quả đối với các ngân hàng nước ngoài cũng như nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng này; thu hẹp phạm vi hoạt động của các ngân hàng có quy mô vừa, tập trung vào phát triển các hoạt động kinh doanh chính; các ngân hàng nhỏ nhưng hoạt động an toàn và hiệu quả, chỉ để phục vụ cho các vùng địa phương đặc biệt
Tiến hành cắt giảm chi phí hoạt động, cụ thể là cắt giảm nhân sự và các chi
nhánh, phòng giao dịch hoạt động kém hiệu quả Kinh nghiệm ở các nước phương Tây trong giai đoạn bước vào kinh doanh nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, các NHTM
đã phản ứng với tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt bằng cách cố cắt giảm chi phí Các ngân hàng ở Mỹ và Anh đi đầu trong cách này, bởi vì tại các nước này các
cổ đông có nhiều quyền lực hơn, luật lao động có ít hạn chế hơn, và tiến trình nới lỏng kiểm soát được tiến hành mạnh hơn Các ngân hàng này đã sáp nhập, thay thế những chi nhánh tốn kém bằng những chi nhánh có chi phí thấp hơn tại các siêu thị
và những nơi tương tự như vậy, sa thải nhân viên lương cao và chuyển công tác xử
lý sang những trung tâm quản lý hành chính “hậu văn phòng” có chi phí thấp Những ngân hàng không kiểm soát được chi phí trở thành mục tiêu bị mua Lý do là cắt giảm chi phí bằng cách mua một ngân hàng đối thủ và xóa bỏ những chi nhánh
và chi phí cố định là việc làm dễ dàng hơn Quá trình này đã dẫn tới mức độ tập trung ngày căng tăng của thị trường ngân hàng tại Mỹ
2.4.2 Bài học cho ngân hàng Việt Nam
Hiệu quả kinh doanh là vấn đề mà mỗi ngân hàng đều quan tâm, nó quyết định
sự thành công hay thất bại của từng ngân hàng Từ những bài học tại các nước trên thế giới, đối chiếu với những vấn đề mà các ngân hàng Việt Nam đang gặp phải, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Biện pháp tiết giảm chi phí hoạt động cùng với việc lành mạnh hóa tình hình tài chính là việc làm không thế tách rời với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Trang 35Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, để nâng cao năng lực cạnh tranh với các
tổ chức tài chính nước ngoài, chiến lược sáp nhập hoặc mua lại giữa các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước để hình thành những ngân hàng mạnh hơn là xu thế chung của thời đại Tuy nhiên, việc này cần có bước đi thích hợp, được xem xét cặn
kẽ qua kiểm toán, sự thống nhất giữa các thành viên trong tổ chức mới
Để giải quyết nợ xấu, cần tổng kết, nghiên cứu, áp dụng các loại hình ngân hàng, công ty tài chính mới, bao gồm tổ chức dạng quỹ hoặc công ty đảm trách việc
xử lý tài sản thế chấp, mua bán nợ để thu hồi vốn cho ngân hàng
Tại các nước phát triển, thu nhập ngoài lãi luôn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi các ngân hàng tại Việt Nam phần lớn chú trọng vào nghiệp vụ cho vay Do vậy, để đạt mục tiêu phát triển bền vững, đòi hỏi các ngân hàng Việt Nam nhanh chóng phát triển mạnh về các dịch vụ ngân hàng hiện đại, tranh thủ sự hỗ trợ công nghệ kĩ thuật vào việc phát triển các dịch vụ mới và nâng cao kĩ năng quản lí điều hành từ các đối tác nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 đã tóm tắt các hoạt động kinh doanh của các NHTM, trình bày một số khái niệm, các tiêu chí đánh giá cũng như các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM Bên cạnh đó, chương này cũng đã lượt khảo các nghiên cứu về yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM của cả trong nước và ngoài nước Đây là nền tảng cơ sở lý thuyết để tác giả phân tích thực trạng và kiểm định các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTMCP VIỆT NAM
Trong chương này, phần đầu tác giả trình bày tổng quan về hệ thống các NHTMCP Việt Nam, sau đó tập trung phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam từ đó đánh giá sự tác động của các yếu tố này đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
3.1 Tổng quan về hệ thống NHTMCP Việt Nam
Ngày 06/05/1951 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra đời đánh dấu sự phát triển của ngân hàng Việt Nam Tuy nhiên lịch sử hình thành của các NHTM Việt Nam lại khá mới mẻ chỉ cách đây 23 năm, cụ thể khi hai pháp lệnh quan trọng được ban hành vào tháng 5/1990: Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và pháp lệnh
về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và các công ty tài chính Đây là bước ngoặt quan trọng nhất về thay đổi mô hình NHTW từ mô hình ngân hàng 1 cấp sang 2 cấp Đồng thời, giải quyết 2 vấn đề then chốt đó là quy định rõ chức năng của NHNN với trọng tâm là xây dựng chính sách tiền tệ, mục tiêu cuối cùng là ổn định giá cả
và giá trị đồng tiền Từ đó, NHNN bắt đầu hình thành các công cụ của chính sách tiền tệ như dự trữ bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản Điều mà trước đó chưa từng có
Sau hơn hai thập kỷ tiến hành cải cách, hệ thống ngân hàng Việt Nam (với sự có
mặt thực sự của các NHTM) đã trải qua bốn giai đoạn phát triển đáng chú ý: (i) Giai đoạn 1990 - 1996: ghi nhận sự tăng lên nhanh chóng về số lượng và loại hình
tổ chức tín dụng (TCTD) nhằm đáp ứng sự tăng vọt của cầu về dịch vụ tài chính
trong giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi (ii) Giai đoạn 1997 - 2005: củng cố,
chấn chỉnh hệ thống ngân hàng hai cấp mới được hình thành trong bối cảnh khủng
hoảng tiền tệ châu Á (iii) Giai đoạn 2006 - 2010: gắn với sự kiện Việt Nam gia
nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và cơn sốt của thị trường chứng khoán cho thấy sự bùng nổ và phát triển cực nhanh của hệ thống ngân hàng, áp lực nâng mức vốn pháp định và tăng cường các quy chế điều tiết; các NHTMCP nông thôn được chuyển đổi lên thành NHTMCP đô thị; một số ngân hàng mới được thành lập,
Trang 37xuất hiện loại hình ngân hàng 100 % vốn nước ngoài (iv) Giai đoạn 2011 đến nay:
hệ thống ngân hàng bộc lộ những yếu kém, dễ tổn thương vì những yếu kém tồn tích từ lâu, đe dọa gây đổ vỡ hệ thống, dẫn tới yêu cầu cấp thiết phải tiến hành tái
cơ cấu hệ thống các TCTD
Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay bao gồm 3 nhóm ngân hàng chính: các NHTM nhà nước, các NHTMCP và các NHTM nước ngoài Ngoài ra, còn có các ngân hàng liên doanh và các văn phòng đại diện của các TCTD nước ngoài Cụ thể, tính đến 31/12/2014, hệ thống NHTMCP Việt Nam bao gồm 36 NHTMCP; trong
đó có 4 ngân hàng Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - VCB, Ngân hàng Công thương Việt Nam - Vietinbank, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BIDV
và Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà đồng bằng Sông Cửu Long (MHB) đã được cổ phần hóa, tuy nhiên Nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối trên 70 %, 1 ngân hàng thương mại Nhà nước, 1 ngân hàng chính sách xã hội, 1 ngân hàng phát triển, 4 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng có 100 % vốn nước ngoài, và 47 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 28 tổ chức tín dụng phi ngân hàng, 01 Ngân hàng Hợp tác xã, 1.145 Quỹ Tín dụng nhân dân và 03 tổ chức tài chính vi mô
Trong thập kỷ 90’ số lượng các NHTMCP Việt Nam tăng mạnh, lên đỉnh điểm với 51 ngân hàng trong năm 1996, sau đó do các quy định liên quan đến vốn điều lệ tối thiểu, dẫn đến việc sáp nhập các ngân hàng nhỏ và yếu kém làm giảm số lượng NHTMCP Trong khoảng thời gian trước năm 2005, phần lớn các thương vụ mua bán và sáp nhập đều diễn ra giữa các ngân hàng trong nước với nhau Khi đó, rất nhiều NHTMCP nông thôn đã được mua lại và sáp nhập
3.2 Thực trạng các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam
3.2.1 Tình hình kinh tế vĩ mô
Tăng trưởng kinh tế
Trước năm 2008, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7 %, Việt Nam luôn được coi là một trong những điểm sáng trong bản đồ kinh tế toàn cầu Việc gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đã đưa tốc độ tăng trưởng GDP của
Trang 38Việt Nam lên tới 7,13 % Năm 2008, nền kinh tế thế giới trải qua cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Suy thoái năm 1929 Không nằm ngoài xu hướng, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, với tăng trưởng GDP chậm lại chỉ còn 5,66 % năm 2008 Đến năm
2009, mặc dù giảm thêm xuống mức 5,40 %, nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh
tế phục hồi tốt nhất trong khu vực Nền kinh tế Việt Nam lại tiếp tục tạo ấn tượng so với các nước châu Á với tỷ lệ tăng trưởng GDP năm 2010 đạt 6,42 % so với cùng kì năm trước Tuy nhiên, nền kinh tế sau đó lại có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại ở mức 6,24 % năm 2011 và 5,25 % năm 2012, đánh dấu tỷ lệ tăng trưởng thấp nhất kể
từ năm 1999 GDP của Việt Nam trong năm 2013 tăng 5,42 % và đạt mức tăng trưởng 5,98 % trong năm 2014, điều này cho thấy, đà phục hồi của nền kinh tế đã
Nguồn: Ngân hàng thế giới (WB)
Chỉ số này bắt đầu có xu hướng đi lên từ năm 2010 khi nó đạt đỉnh ở mức 23,02
% vào tháng 8 năm 2011, một phần do tác động của chính sách nới lỏng tiền tệ vào năm 2009 và nửa đầu năm 2010 Góp phần kiểm soát lạm phát, từ năm 2011 NHNN
Trang 39thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, chỉ số lạm phát sau đó chuyển hướng giảm xuống chỉ còn 9,09 % vào năm 2012, đến năm 2013 chỉ còn 6,59 % Đến năm 2014 mức lạm phát so với năm 2013 chỉ tăng 4,09 % đây là mức lạm phát thấp nhất trong
10 năm trở lại đây Có thể nhận định rằng, kết quả này là một trong những sự kiện nổi bật nhất, một trong những thành công được ghi nhận của kinh tế Việt Nam trong năm 2014
3.2.2 Thực trạng quy mô các NHTMCP Việt Nam
Tổng tài sản
Quy mô tài sản của khu vực NHTMCP Việt Nam đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể Tổng tài sản bình quân khu vực này tăng hơn gấp hai lần từ năm 2007 đến năm 2010, tăng từ 34.320 tỷ đồng lên 74.352 tỷ đồng theo số liệu từ báo cáo thường niên của các NHTMCP Việt Nam Tính đến ngày 31/12/2014 con số này đã đạt 145.121 tỷ đồng Tăng trưởng nóng và bất hợp lý của tín dụng của các ngân hàng là nguyên nhân tăng trưởng nhanh của tổng tài sản các ngân hàng trong những năm qua, và có thể nói điều này là hệ quả trực tiếp từ việc tăng vốn chủ sở hữu rất mạnh
của các ngân hàng trong những năm qua
Bảng 3.3 Tổng tài sản bình quân của các NHTMCP Việt Nam
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Tổng tài sản
bình quân 34.320 36.755 50.562 74.352 96.532 101.551 118.533 145.121 Tốc độ tăng
trưởng (%) 53,93 7,10 37,56 47,05 29,83 5,20 16,72 22,43
Nguồn: Báo cáo thường niên của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014
Năm 2007 ghi dấu tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của các NHTMCP Việt Nam khi đạt mức 53,93 % Đến năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình hoạt động của các NHTMCP, khi mà tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của các ngân hàng đã giảm xuống nghiêm trọng, chỉ đạt 7,10 % Tốc độ tăng trưởng trong năm 2009 và 2010 đã có sự phục hồi mạnh mẽ, lần lượt
Trang 40đạt mức là 37,56 % và 47,05 % Tuy nhiên tốc độ này đã không duy trì ổn định, khi năm 2011 chỉ đạt mức tăng trưởng 29,83 % và sụt giảm đáng kể trong năm 2012 với mức tăng trưởng chỉ đạt 5,2 %
Năm 2013, tốc độ tăng trưởng quy mô tổng tài sải hệ thống NHTMCP đã có sự cải thiện đáng kể, đạt mức 16,72 % Đến năm 2014 cũng có sự chuyển biến tích cực trong tốc độ tăng trưởng, đạt mức 22,43 %
Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu của các NHTMCP gia tăng trong suốt giai đoạn từ 2007 – 2014 Đến năm 2014 mức VCSH bình quân của các NHTMCP Việt Nam đã đạt 11.126 tỷ đồng tăng gấp 3,7 lần so với mức 2.987 tỷ đồng vào năm 2007
Các ngân hàng tăng vốn chủ sở hữu cho mục đích đầu tư tăng năng lực hạ tầng (đầu tư xây dựng trụ sở, đầu tư cho công nghệ, mở rộng mạng lưới hoạt động…) và tăng vốn để tăng năng lực tài chính nhằm nâng cao cạnh tranh và đảm bảo các hệ số
an toàn vốn (hệ số CAR) đáp ứng cho việc ngân hàng tăng trưởng nóng tín dụng và tài sản có rủi ro khác trong tổng tài sản
Bảng 3.4 Tổng vốn chủ sở hữu bình quân của các NHTMCP Việt Nam
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Tổng VCSH
bình quân 2.987 3.427 4.286 5.953 7.633 8.686 10.209 11.126 Tốc độ tăng
trưởng (%) 84,96 14,73 25,07 38,91 28,22 13,80 17,53 8,99
Nguồn: Báo cáo thường niên của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014
Bên cạnh đó với việc các NHTM nông thôn được chuyển đổi thành các NHTM
cổ phần đô thị, và các văn bản qui định của Chính phủ, cơ quan quan lý, NHNN về yêu cầu tăng vốn điều lệ tối thiểu đối với các NHTMCP, các ngân hàng đã phải chạy đua nhằm đáp ứng được yêu cầu về vốn tối thiểu theo luật định là 1.000 tỷ và 3.000 tỷ tương ứng vào năm 2008 (theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP) và năm 2010 (theo Thông tư 13/2010-TT/NHNN liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu) Vì