Tổng quan các công trình nghiên cứu về chính sách trợ giúp xã hội đối với chất lượng cuộc sống người cao tuổi .... Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu này hướng đến làm sáng tỏ tác động của v
Trang 1TRẦN THANH TUẤN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2TRẦN THANH TUẤN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN QUỐC TẾ
Tp Hồ Chí Minh – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Trần Thanh Tuấn, tác giả luận văn tốt nghiệp cao học này Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã tự mình nghiên cứu tài liệu và trao đổi với giảng viên hướng dẫn
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với cam kết trên
TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 5 năm 2016
Người thực hiện luận văn
TRẦN THANH TUẤN
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
3.1 Mục tiêu tổng quát 3
3.2 Mục tiêu cụ thể 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Khái niệm trợ giúp xã hội 5
1.2 Chính sách trợ giúp xã hội 6
1.2.1 Khái niệm 6
1.2.2 Mục tiêu chính sách 7
1.2.3 Đối tượng chính sách 7
1.2.4 Nội dung chính sách 8
1.3 Người cao tuổi và chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 9
Trang 51.3.1 Khái niệm người cao tuổi 9
1.3.2 Chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 10
1.3.3 Đánh giá chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 14
1.3.4 Chất lượng cuộc sống người cao tuổi 16
1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu về chính sách trợ giúp xã hội đối với chất lượng cuộc sống người cao tuổi 19
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 25
2.1.1 Mô hình nghiên cứu 25
2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.2.2 Thang đo và các biến 27
2.2.3 Đối tượng khảo sát và phương pháp chọn mẫu 30
2.2.4 Phương pháp thu thập dữ liệu 31
2.2.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 32
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Thực trạng về chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở tỉnh Bến Tre 35
3.1.1 Một số nét khái quát về người cao tuổi 35
3.1.2 Kết quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi Bến Tre giai đoạn 2012 – 2014 38
3.2 Phân tích sự tác động của chính sách trợ giúp xã hội đối với chất lượng cuộc sống người cao tuổi 41
3.2.1 Thông tin mẫu khảo sát 41
3.2.2 Kiểm định thang đo qua hệ số tin cậy Cronbach’s alpha 43
3.2.3 Kiểm định thang đó bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 46
3.2.4 Mô hình và giả thuyết được hiệu chỉnh 52
Trang 63.2.5 Phân tích hồi qui sự tác động của chính sách trợ giúp xã hội đến chất
lượng cuộc sống người cao tuổi 54
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 57
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ 58
4.1 Bối cảnh và định hướng 58
4.1.1 Cơ hội và thách thức 58
4.1.2 Định hướng 58
4.2 Giải pháp về nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi 59
4.3 Giải pháp về chính sách trợ giúp xã hội 61
4.3.1 Nhóm giải pháp về tuyên truyền, giáo dục và vận động thay đổi hành vi phù hợp với xu hướng “già hóa dân số” 61
4.3.2 Nhóm giải pháp về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 62
4.3.3 Nhóm giải pháp về nâng cao năng lực và vai trò của các cơ quan, tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp trong phát huy và chăm sóc người cao tuổi 62
4.4 Các khuyến nghị 64
4.4.1 Đối với Chính phủ, các Bộ, Ngành liên quan 64
4.4.2 Đối với chính quyền địa phương 65
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 66
PHẦN KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BHYT : Bảo hiểm y tế
BTC : Bộ tài chính
BGTVT : Bộ giao thông vận tải
BTXH : Bảo trợ xã hội
BYT : Bộ y tế
BLĐTBXH : Bộ Lao động, thương binh và xã hội
BVHTTDL : Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch
CLCS : Chất lượng cuộc sống người cao tuổi
CSBTXH : Chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ CSSK : Chăm sóc sức khỏe
EFA : Phân tích nhân tố khám phá
(Exploratory Factor Analysis) HĐBT : Hội đồng bộ trưởng
ILO : Tổ chức lao động quốc tế
KCB : Trợ giúp khám chữa bệnh
KMO : Hệ số Kaiser – Mayer – olkin
MLR : Mô hình hồi qui bội
(Multiple Linear Regression)
NĐ : Nghị định
PHVT : Chính sách phát huy vai trò người cao tuổi
PL : Pháp lệnh
Trang 8QH : Quốc hội
Sig : Mức ý nghĩa quan sát
(Observed significance level) SPSS : Phần mềm thống kê cho khoa học xã hội
(Statistical Package for the Social Sciences) TCVC : Chính sách trợ cấp vật chất
UBTVQH : Ủy ban Thường vụ Quốc hội
UNICEF : Quỹ nhi đồng của Liên hiệp quốc
UBND : Ủy ban nhân dân
VHTT : Chính sách trợ giúp văn hóa – thể thao VIF : Hệ số nhân tố phóng đại phương sai
(Variance inflation factor)
WB : Ngân hàng Thế giới
WHO : Tổ chức y tế Thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Các khía cạnh đo chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam 17
Bảng 2.1: Thang đo các biến trong mô hình nghiên cứu 28
Bảng 3.1: Số liệu tổng hợp người cao tuổi giai đoạn 2012-2014 37
Bảng 3.2: Người cao tuổi đang thực hiện chính sách trợ giúp xã hội 38
Bảng 3.3: Chính sách trợ giúp y tế đối với người cao tuổi 39
Bảng 3.4: Chính sách trợ giúp mai táng phí 39
Bảng 3.5: Cơ cấu mẫu khảo sát 42
Bảng 3.6: Giá trị Cronbach’s alpha thang đo của các biến đo lường 43
Bảng 3.7: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA các nhân tố tác động 47
Bảng 3.8: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA thang đo chất lượng cuộc sống người cao tuổi 52
Bảng 3.9: Kết quả hồi qui sự tác động của chính sách trợ giúp xã hội đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi 55
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu 25 Hình 2.2: Quy trình nghiên cứu đề xuất 26 Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh 53
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chăm sóc đời sống người cao tuổi, đảm bảo về mặt vật chất và tinh thần luôn
là những định hướng chính sách mà Đảng và Chính phủ Việt Nam thực hiện trong từng giai đoạn phát triển đất nước Ngay những ngày đầu thành lập đất nước, Hồ Chí Minh khẳng định: “Người cao tuổi là của quý vô giá của dân tộc, của Nhà nước” Bác vô cùng quý mến, kính trọng người cao tuổi và nhắc nhở mọi người:
“Với cụ già phải cung kính” Kế thừa và phát huy quan điểm đó, Đảng và Nhà nước
ta luôn quan tâm và coi trọng công tác chăm sóc người cao tuổi
Kể từ Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm
1946 (Điều 14), đã khẳng định “Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ” Sau đó, qua các lần sửa đổi, bổ sung, các bản Hiến pháp vẫn kế thừa và phát triển những quy định đó Hiến pháp 1992 (Điều 64), quy định “Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ”; Điều 67 quy định: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và
xã hội giúp đỡ” Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 59-CT/TW ngày 27/9/1995 về chăm sóc người cao tuổi; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh người cao tuổi số 23/2000/PL-UBTVQH10
Gần 10 năm thực hiện Pháp lệnh Người cao tuổi, ngày 23/11/2009, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Người cao tuổi và hiệu lực thi hành bắt đầu từ 01/7/2010 Luật quy định cụ thể quyền lợi, trách nhiệm của cá nhân,
tổ chức trong việc phụng dưỡng, phát huy vai trò của người cao tuổi Gần đây nhất
là Hiến pháp năm 2013 đã được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua, đây là đạo luật cơ bản thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ta
Qua đó cho thấy mức độ bao phủ và chính sách trợ giúp của nhà nước ngày càng mở rộng đối với người cao tuổi Tuy nhiên, dù đã được điều chỉnh và bổ sung nhưng nhiều chính sách vẫn chưa thể đáp ứng với thực trạng đời sống người cao tuổi cũng như những hệ quả từ biến đổi cơ cấu tuổi dân số theo hướng già hóa Trong bối cảnh chính sách hiện hành và những biến đổi không ngừng của dân số
Trang 12theo hướng già hóa nhanh, Việt Nam cần phải có những chương trình can thiệp kịp thời, hiệu quả cho người cao tuổi thì mới đảm bảo được đời sống vật chất, tinh thần cho họ
Bến Tre là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 2.321,6 km2, được hợp thành bởi ba dãy cù lao lớn là cù lao An hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh Toàn tỉnh được chia thành 08 huyện, 01 thành phố trực thuộc tỉnh với 164 xã/ phường/ thị trấn, 982 ấp/ khu phố Theo số liệu thống kê năm 2010, tỉnh Bến Tre có dân số là 1.256.738 người Thu nhập chủ yếu của người dân chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, cây ăn trái, đặc biệt là cây dừa chiếm ưu thế Những năm qua, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn tiếp tục duy trì và phát triển Sản xuất nông nghiệp đã từng bước chuyển đổi theo hướng hiệu quả và chất lượng cao Sản xuất công nghiệp vẫn duy trì và tăng trưởng khá, một số doanh nghiệp hoạt động ổn định góp phần tăng giá trị sản xuất Xuất khẩu tăng trưởng mạnh, thị trường xuất khẩu được mở rộng, hoạt động các ngành dịch vụ như thương mại, du lịch, vận tải, bưu chính, viễn thông, ngân hàng,… từng bước nâng lên về chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
Công tác giải quyết việc làm, giảm nghèo và an sinh xã hội cơ bản ổn định Bên cạnh những mặt đạt được, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phải đối mặt với tình trạng giá cả đầu vào tăng, lãi suất cao, một số thị trường bị thu hẹp Đời sống người dân, đặc biệt là người nghèo, các đối tượng bảo trợ xã hội, người già, trẻ mồ côi,… gặp nhiều khó khăn Toàn tỉnh có 143.650 người cao tuổi, chiếm 10,55% dân số theo niên giám thống kê năm 2009 Năm 2009, chỉ số già hóa của tỉnh Bến Tre là 48, trong khi chỉ số già hóa trung bình của Việt Nam là 35,7 Bến Tre là một trong 10 tỉnh có chỉ số già hóa cao nhất của cả nước, tỉnh Bến Tre bước vào thời kỳ “dân số vàng” Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững Tuy nhiên, số người bước vào độ tuổi lao động cũng tăng nhanh đang gây thêm sức ép, làm tăng nạn thất nghiệp, thiếu việc làm, già hóa dân số sẽ tạo nên những thách thức to lớn cho xã hội
Trang 13Xuất phát từ thực tế trên, vấn đề đặt ra là chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thay đổi như thế nào thông qua những chính sách trợ cấp của nhà nước? Cần làm gì để nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi của tỉnh Bến Tre? Đó
là lý do tác giả lựa chọn và đề xuất nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sự tác động của chính sách trợ giúp xã hội đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Bến Tre”
2 Câu hỏi nghiên cứu
1) Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi hiện nay như thế nào?
2) Đặc điểm người cao tuổi và thực trạng cuộc sống của người cao tuổi tại tỉnh Bến Tre như thế nào?
3) Chính sách trợ giúp xã hội tác động như thế nào đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi tại tỉnh Bến Tre?
4) Làm thế nào để chính sách trợ giúp xã hội tác động hiệu quả nhất đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại tỉnh Bến Tre?
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này hướng đến làm sáng tỏ tác động của việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với chất lượng cuộc sống của người cao tuổi sống tại địa bàn tỉnh Bến Tre
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tác động của chính sách trợ giúp xã hội đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi
Đối tượng khảo sát là người cao tuổi được xác định theo các tiêu chí quy định của chính sách trợ giúp xã hội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi chính sách: chỉ nghiên cứu đối tượng áp dụng của chính sách là người cao tuổi
Không gian: nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Thời gian: nghiên cứu chính sách áp dụng từ năm 2012 đến năm 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để phân tích thực trạng áp dụng chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Phương pháp hồi quy tương quan được sử dụng để phân tích sự tác động của chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Ngoài ra, phương pháp tổng hợp và suy luận biện chứng được sử dụng để đánh giá làm cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn bao gồm 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận – Trình bày các lý thuyết có liên quan đến đề tài bao gồm cơ sở lý thuyết và cơ sở thực nghiệm
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu – Trình bày các phương pháp sử dụng bao gồm thang đo, mô hình nghiên cứu, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận – Trình bày các số liệu thu thập, phân tích và đánh giá các số liệu
Chương 4: Giải pháp và khuyến nghị - Trình bày các khuyến nghị hướng hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống đối với người cao tuổi trên địa bàn nghiên cứu
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm trợ giúp xã hội
Trợ giúp xã hội được hiểu là trợ giúp một khoản tiền nhất định hoặc trợ giúp
về một vấn đề nào đó cho các đối tượng xã hội Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân
và gia đình
Tuy nhiên, để lý giải một cách toàn diện hơn về khái niệm trợ giúp xã hội cần nghiên cứu các khái niệm gần như bảo trợ xã hội, an sinh xã hội, cứu trợ xã hội, công tác xã hội, cứu tế xã hội
Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Bảo trợ xã hội là một tập hợp các hành động và chính sách nhằm giúp đỡ các cá nhân hay hộ gia đình giảm bớt tác động của rủi ro hay các cú sốc, đặc biệt là để bảo vệ quyền của những đối tượng dễ gặp rủi ro, dễ bị tổn thương và nghèo đói kinh niên nhất
Quỹ nhi đồng của Liên hiệp quốc (UNICEF), Bảo trợ xã hội là một tập hợp các biện pháp nhằm cải thiện và bảo vệ vốn con người, bao gồm sự can thiệp vào thị trường lao động, chương trình bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc Sự can thiệp của bảo vệ xã hội giúp các cá nhân, hộ gia đình, hay cộng đồng quản lý một cách tốt hơn những rủi ro thu nhập khiến những đối tượng này bị tổn thương
An sinh xã hội là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, dịch họa,… (Ngân hàng Thế giới - WB)
Trang 16An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con (Tổ chức lao động quốc tế - ILO)
Cứu trợ xã hội là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực an sinh xã hội Theo nghĩa thông thường, cứu trợ xã hội được hiểu là chế độ đảm bảo xã hội đối với các thành viên trong cộng đồng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong đời sống Việc đảm bảo này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính, tiền bạc, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác trong một thời hạn hoặc trong suốt quá trình sống của đối tượng (Từ điển Bách khoa)
Như vậy, từ các khái niệm trên có thể hiểu đặc điểm chung của các hoạt động trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của các đối tượng trợ giúp bao gồm nhà nước, cơ quan, tổ chức và cộng đồng xã hội đến những đối tượng xã hội, cụ thể là những người không thể đảm bảo hay lo liệu cho cuộc sống bản thân bằng những điều kiện sống cần thiết nhất định trong ngắn hạn và dài hạn Từ đó, tạo điều kiện để đối tượng xã hội được trợ giúp hòa nhập tốt với cộng đồng xã hội, đem lại hoàn cảnh sống có ý nghĩa
1.2 Chính sách trợ giúp xã hội
1.2.1 Khái niệm
Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại, chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định, chúng vạch ra phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở nhà quản lý những quyết định nào có thể và những quyết định nào là không thể Bằng cách đó, các chính sách hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức (Đoàn Thị Thu Hà, 2006)
Chính sách trợ giúp xã hội là những quy định của nhà nước về đối tượng trợ giúp, điều kiện trợ giúp, chế độ trợ giúp, hình thức trợ giúp và quy trình thủ tục thực hiện chính sách trợ giúp, để giúp các đối tượng xã hội có hoàn cảnh khó khăn ổn định cuộc sống và hoà nhập cộng đồng (Nguyễn Ngọc Toản, 2010)
Trang 17Chế độ trợ giúp xã hội là những quy định cụ thể về mức trợ giúp, trợ cấp; còn hình thức trợ cấp, trợ giúp có thể bằng tiền hoặc hiện vật và các dịch vụ cung cấp kèm theo như cấp thẻ bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh; trợ giúp trong việc chỉnh hình phục hồi chức năng miễn phí hoặc cung cấp dụng cụ chỉnh hình phục hồi chức năng, ưu tiên trong việc tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tạo việc làm (Nguyễn Ngọc Toản, 2010)
Cơ chế trợ giúp xã hội là những quy định của nhà nước trong việc xác định đối tượng trợ giúp và trong việc lập dự toán, phân bổ ngân sách, cách thức tổ chức chi trợ cấp xã hội hoặc các khoản trợ giúp khác, để thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng xã hội (Đàm Hữu Đắc, 2010)
1.2.2 Mục tiêu chính sách
Mục tiêu chung của chính sách trợ giúp xã hội là nhằm giải quyết vấn đề công bằng, ổn định và phát triển bền vững về chính trị, kinh tế và xã hội của một quốc gia Trong đó, mục tiêu được cụ thể hóa với từng đối tượng trợ giúp bao gồm người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em mồ côi và các đối tượng khó khăn khác nhằm đảm bảo điều kiện sống ổn định, an toàn, hòa nhập, tham gia đóng góp vào quá trình phát triển xã hội
1.2.3 Đối tượng chính sách
Đối tượng trợ giúp xã hội là một bộ phận hay nhóm dân cư do các nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau tác động, phải chịu những hoàn cảnh khó khăn trong sinh hoạt, lao động và cuộc sống và họ cần đến sự trợ giúp của gia đình, cộng đồng, nhà nước thì mới có thể đảm bảo cuộc sống và hoà nhập cộng đồng
Theo quy định của pháp luật hiện hành đối tượng hưởng chính sách trợ giúp
xã hội gồm các đối tượng sau:
- Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng, bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi, mồ côi cả cha và mẹ, côi cha hoặc mẹ có hoàn cảnh khó khăn,
có cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng,
cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc
Trang 18- Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo; người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội
- Người khuyết tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo Hộ gia đình có từ 02 người khuyết tật trở lên
- Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng
- Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi
- Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hóa, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi
1.2.4 Nội dung chính sách
Theo quy định của pháp luật hiện hành, chính sách trợ giúp xã hội gồm: trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; trợ giúp xã hội đột xuất; hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội (Nghị định 67/2007/NĐ-CP) Căn cứ từng loại hình và nhóm đối tượng
và mức độ khuyết tật, rủi ro có các nội dung trợ giúp như sau:
- Trợ giúp thường xuyên tại cộng đồng gồm các nội dung: Trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ cấp thẻ bảo hiểm y tế, trợ cấp giáo dục đào tạo nghề, hỗ trợ mai táng cho các đối tượng yếu thế nhằm giúp họ có điều kiện chăm lo tốt hơn về sức khỏe, tinh thần để vươn lên trong cuộc sống
- Trợ cấp đột xuất gồm: hỗ trợ lương thực, nhà ở, tạo việc làm, phát triển sản xuất, hỗ trợ điều trị người thương nặng, hỗ trợ mai táng cho các đối tượng không may bị thiên tai, hỏa hoạn hoặc do lý do bất khả kháng gây ra nhằm ổn định cuộc sống
Trang 19- Hỗ trợ nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội gồm: hỗ trợ vật chất, y tế, vật sung sinh hoạt, giáo dục đào tạo, việc làm, mai táng
Trên cơ sở mức khuyết tật, khả năng tự phục vụ, mức độ rủi ro, chính sách trợ giúp xã hội quy định các định mức trợ giúp phù hợp với từng đối tượng và khả năng ngân sách
1.3 Người cao tuổi và chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.3.1 Khái niệm người cao tuổi
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay thuật ngữ người cao tuổi ngày càng được sử dụng nhiều hơn Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, người cao tuổi là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng
Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể
Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định Người cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên”
Theo Tổ chức y tế Thế giới - WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ,… lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau
Theo quan điểm của Công tác xã hội, với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống Do đó, người cao tuổi là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác xã hội
Trang 20Trong nghiên cứu này, người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên theo quy định của Luật người cao tuổi số 39/2009/QH12 ban hành ngày 23 tháng 11 năm 2009
1.3.2 Chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
Xuất phát từ cơ sở lý thuyết về người cao tuổi và chính sách trợ giúp xã hội,
có thể hiểu chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi là những quy định của nhà nước về đối tượng trợ giúp là người cao tuổi, điều kiện trợ giúp, chế độ trợ giúp, hình thức trợ giúp và quy trình thủ tục thực hiện chính sách trợ giúp, để người cao tuổi có cuộc sống ổn định và hoà nhập cộng đồng Cụ thể là các chính sách trợ giúp thường xuyên bao gồm thu nhập hàng tháng, nhà ở, lương thực, bảo hiểm, dịch
vụ y tế, mai táng, chăm sóc đời sống tinh thần qua hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, các đoàn thể,… Tùy thuộc vào khái niệm người cao tuổi và điều kiện người cao tuổi thay đổi mà các chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi thời gian qua đã có nhiều sự đổi mới thích nghi với thực tế
Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 117/CT-CP “Về chăm sóc
người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuổi Việt Nam” Chỉ thị
khẳng định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân Các cấp chính quyền đã đề ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm đó
Pháp lệnh Người cao tuổi của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được ban hành năm 2000 Nghị định số 30/NĐ-CP của Chính phủ ban hành năm 2002 “Quy định
và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh người cao tuổi” Điều 9 nêu rõ:
người cao tuổi được chăm sóc sức khoẻ theo quy định của Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 11 tháng 8 năm 1989; Người cao tuổi được hưởng dịch vụ ưu tiên khi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế theo Nghị định số 23/NĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 24 tháng 01 năm 1991 về Điều lệ khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng; Người cao tuổi từ 100 tuổi trở lên được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế
Trang 21Thông tư số 02/2004/TT- BYT hướng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi trong đó quy định: người cao tuổi được chăm sóc sức khoẻ,
được khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được
ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đảm bảo chế độ chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại địa phương
Theo Thông tư số 24/2003/TT-BLĐTBXH ngày 06/11/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế theo quy định
Luật người cao tuổi được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2010 đã nhấn mạnh “Trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi” Điều 4 Luật người cao tuổi quy định một số chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi, cụ thể như sau:
- Bố trí ngân sách hằng năm phù hợp để thực hiện chính sách chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi
- Bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Lồng ghép chính sách đối với người cao tuổi trong chính sách phát triển kinh
- Khuyến khích, hỗ trợ cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tuyên truyền, giáo dục ý thức kính trọng, biết ơn người cao tuổi, chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi
- Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi
Trang 22- Xử lý nghiêm minh cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Những chính sách này được cụ thể hóa trong các điều khoản của Luật người cao tuổi Bên cạnh đó, để cụ thể hóa các điều của luật người cao tuổi quy định, các
Bộ ngành cũng đã ban hành các văn bản để tập trung thực hiện các chính sách đối với người cao tuổi như:
- Bộ Văn hóa Thể Thao du lịch ban hành Thông tư 06/2012/TT-BVHTTDL ngày 14/5/2012 về quy định chi tiết thi hành nghị định 06 của Chính phủ về hỗ trợ người cao tuổi tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và tổ chức mừng thọ cho người cao tuổi
- Bộ Y tế có Thông tư 35/2011/TT-BYT ngày 15 tháng 10 năm 2011 về hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi, trong đó hướng dẫn người cao tuổi khám sức khỏe tại các cơ sở y tế và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng
- Thông tư số 17/2011/TT-BLĐTBXH ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định về hồ sơ, thủ tục thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng, hỗ trợ chi phí mai táng và tiếp nhận người cao tuổi vào cơ sở bảo trợ xã hội
- Văn bản thực hiện chính sách trợ cấp hàng tháng đối với người cao tuổi
- Bộ Tài chính có Thông tư 21/TT-BTC ngày 18 tháng 02 năm 2011 về quy định quản lý và sử dụng kinh phí, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú; chúc thọ, mừng thọ và biểu dương, khen thưởng đối với người cao tuổi
- Bộ Giao thông vận tải có công văn số 3873/BGTVT ngày 01 tháng 7 năm
2011 về triển khai thực hiện quy định về giảm giá vé, giá dịch vụ cho người cao tuổi khi tham gia giao thông bằng tàu thủy chở khách, tàu hỏa chở khách và máy bay chở khách
Trong những năm qua, đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội, nhà nước ta đã
có những chính sách ưu đãi đối với những người cao tuổi, các chính sách trợ giúp được cụ thể hóa trong hệ thống văn bản Nhà nước thể hiện một số khía cạnh cuộc
Trang 23sống qua các chính sách về vật chất, tinh thần như: chính sách bảo trợ xã hội, giảm giá vé, giá dịch vụ khi sử dụng một số dịch vụ và chính sách chúc thọ mừng thọ
Về chính sách bảo trợ xã hội, đối với người cao tuổi từ đủ 60 đến 80 tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người phụng dưỡng, hoặc có người phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng, thì được hưởng mức trợ cấp 180 nghìn đồng/người/tháng Đối với người cao tuổi từ 80 trở lên thuộc
hộ gia đình nghèo không có người phụng dưỡng, hoặc có phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng, thì được hưởng mức trợ cấp 270 nghìn đồng/người/tháng Đối với người cao tuổi được nhận nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội quy định tại khoản 2 điều 18 Luật người cao tuổi, thì được hưởng mức trợ cấp 360 nghìn đồng/người/tháng
Đối với người cao tuổi đủ điều kiện tiếp nhận vào sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng theo quy định thì được hưởng mức trợ cấp 360 nghìn đồng/người/tháng Ngoài mức trợ cấp trên, khi người cao tuổi qua đời, còn được Nhà Nước hỗ trợ chi phí mai táng 3.000.000 đồng theo quy định của Luật Người cao tuổi
Đối với chính sách giảm giá vé, giá dịch vụ, theo Nghị định 06/2011/NĐ-CP ban hành ngày 14/01/2011 về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người cao tuổi, thì người cao tuổi còn được giảm giá vé dịch vụ, tham quan di tích văn hóa lịch sử, bảo tàng, danh lam thắng cảnh, tập luyện thể dục thể thao tại các cơ sở có bán vé, được giảm ít nhất từ 15% đến 20%
Đối với chính sách chúc thọ, mừng thọ, người thọ 100 tuổi được Chủ tịch nước chúc thọ và tặng quà, người thọ 90 tuổi được Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chúc thọ và tặng quà UBND xã, phường, thị trấn phối hợp với Hội người cao tuổi tại địa phương tổ chức mừng thọ người cao tuổi ở tuổi từ 70 đến 100 tuổi trở lên vào các ngày như: Ngày người cao tuổi Việt Nam 06/6; Ngày quốc tế người cao tuổi 01/10; tết Nguyên đán hoặc ngày sinh nhật người cao tuổi
Cùng với chính sách bảo trợ xã hội, thực hiện Nghị định số 06/NĐ-CP năm
2011 của Chính phủ, Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 21/TT-BTC ngày 18/02/2011 quy định rất cụ thể về quản lý và sử dụng kinh phí chăm sóc sức khỏe
Trang 24ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú, chúc thọ, mừng thọ, biểu dương, khen thưởng đối với người cao tuổi
Những nội dung trên cho thấy nhiều chính sách đối với người cao tuổi được ban hành và được cụ thể hóa qua các văn bản, hướng dẫn qua đó từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi Trên thực tế mặc dù đã có các văn bản quy định cụ thể các chính sách đối với người cao tuổi nhưng vẫn còn tình trạng người cao tuổi chưa được hưởng các chính sách, chương trình phục vụ của nhà nước, vẫn còn xảy ra tình trạng người cao tuổi thiếu thốn về kinh tế, không được người thân chăm sóc nuôi dưỡng…
1.3.3 Đánh giá chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi
1.3.3.1 Ưu điểm
Công tác chăm sóc người cao tuổi ngày càng được các cấp chính quyền và xã hội quan tâm thực hiện rộng rãi, đặc biệt là việc thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng cho người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng được kịp thời và đầy đủ
Phần lớn, người cao tuổi ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình “Tuổi cao – Gương sáng” trong gia đình và xã hội Người cao tuổi tích cực tham gia phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư mà còn đóng góp ngày công và vận động cùng đóng góp để xây dựng giao thông nông thôn và phong trào xây dựng nông thôn mới tại địa phương
Các hoạt động truyền thông trên báo, đài, các cuộc mít tinh,… đã tác động góp phần nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền và người dân về công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Công tác đào tạo được đội ngũ Giảng viên nguồn làm nồng cốt cho công tác đào tạo nâng cao nhận thức về công tác người cao tuổi và mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau được tỉnh quan tâm
Công tác chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi ngày càng được nâng lên, được xã hội quan tâm nên việc triển khai thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về người cao tuổi được người dân đồng thuận và hưởng ứng
Trang 251.3.3.2 Hạn chế
Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi mặc dù được triển khai trong hệ thống chính trị và cộng đồng dân cư để toàn dân thực hiện chăm sóc người cao tuổi nhưng chưa rộng khắp và đi vào chiều sâu
Việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Thông tư số 35/2011/TT-BYT ngày 15/10/2011 của Bộ Y tế mặc dù đã được tỉnh quan tâm triển khai thực hiện nhưng hiện nay tại các bệnh viện đa khoa, bệnh viện y học cổ truyền trên địa bàn tỉnh chưa
bố trí giường bệnh điều trị nội trú và buồng khám bệnh riêng cho người cao tuổi tại khoa khám bệnh; công tác khám chữa bệnh cho người cao tuổi ở Trạm y tế cấp xã gặp nhiều khó khăn do thiếu về nhân lực và cơ sở vật chất còn hạn chế
Chính sách hỗ trợ cho người cao tuổi khi tham gia giao thông công cộng theo Thông tư số 71/2011/TT-BGTVT ngày 30/12/2011 của Bộ Giao thông Vận tải thực hiện khó khăn vì hiện nay, các loại hình kinh doanh vận tải hành khách công cộng trên địa bàn tỉnh thực hiện xã hội hóa, do các doanh nghiệp tư nhân quản lý, Nhà nước không trợ giá nên các đơn vị vận tải chưa thực hiện miễn, giảm giá vé cho người cao tuổi mà chỉ hỗ trợ người cao tuổi bằng hình thức ưu tiên mua vé tại các quầy vé, giúp người cao tuổi được ngồi chỗ ưu tiên, hỗ trợ lên xe, xuống xe, sắp xếp hành lý
Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú; chúc thọ, mừng thọ và biểu dương, khen thưởng đối với người cao tuổi theo Thông tư số 21/2011/TT-BTC ngày 18 tháng 02 năm 2011 của Bộ Tài chính quy định quản lý và
sử dụng kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú; chúc thọ, mừng thọ và biểu dương, khen thưởng thực hiện chưa đồng bộ do ngân sách cấp xã khó khăn
Mô hình câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau là mô hình mới tỉnh được Dự án UNFPA hỗ trợ thành lập 6 Câu lạc bộ, đến nay đã nhân rộng được 17 Câu lạc bộ, nhưng hiện nay tỉnh khó khăn trong vận động nguồn lực để nhân rộng mô hình Câu lạc bộ theo Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi (đến nay chỉ đạt 10,37% so với 15% so với kế hoạch đề ra)
Trang 26Nguồn vốn bố trí đầu tư cơ sở vật chất về y tế còn hạn chế, đội ngũ y bác sĩ gia đình chưa được tập trung đào tạo; chất lượng chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe còn thấp so với nhu cầu cuộc sống đặt biệt đối với người cao tuồi
nghèo, khó khăn
Hiện nay, tất cả 164 xã, phường, thị trấn đều có thành lập Quỹ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, nhưng hiện chỉ có 143/164 đơn vị vận động được nguồn quỹ này nhưng đa số nguồn quỹ vận động được của các đơn vị chưa cao
Việc cập nhật cơ sở dữ liệu về người cao tuổi tỉnh chưa được thường xuyên, một số chỉ tiêu còn khó khăn trong việc thống kê, cập nhật
1.3.4 Chất lượng cuộc sống người cao tuổi
Chất lượng cuộc sống là một khái niệm phức tạp được cấu thành bởi nhiều nhân tố theo các quan điểm tiếp cận khác nhau Theo từ điển Bách khoa, chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ sự sảng khoái, hài lòng hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội Chất lượng cuộc sống là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Lê Thị Hải Hà và cộng sự (2012) đã tổng hợp các bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống trên thế giới, xây dựng và chuẩn hóa bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại Việt Nam Các khía cạnh và yếu tố của chất lượng cuộc sống người cao tuổi được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu tổng quan và nghiên cứu định tính nhằm phát hiện và
bổ sung vào các yếu tố mới, thể hiện đặc trưng riêng biệt của đo lường chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại Việt Nam
Trang 27Bảng 1.1: Các khía cạnh đo chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam
I Khía cạnh tinh thần/ mối quan hệ/ hỗ
trợ trong sinh hoạt
II Khía cạnh sức khỏe thể chất
1 Hỗ trợ phi vật chất của gia đình và
4 Đời sống kinh tế đảm bảo
5 Phụ thuộc kinh tế con cái
6 Được ăn thức ăn ưa thích
7 Chi phí sinh hoạt hằng ngày
8 Chi phí tham gia các hoạt động
9 Chi phí khám chữa bệnh
10 Đầy đủ vật dụng tiện nghi
1 Hài lòng trong quan hệ xã hội
2 Cảm giác tiêu cực (buồn chán)
3 Hài lòng về gia đình/ con cháu
4 Được tôn trọng (trong gia đình và cộng đồng)
5 Yên tâm về hậu sự
V Khía cạnh môi trường sống VI Khía cạnh niềm tin/ tâm linh
1 Môi trường tự nhiên
2 Niềm tin vào thế hệ trẻ
3 Niềm tin vào thể chế chính trị
Nguồn: Lê Thị Hải Hà và cộng sự, 2012
Trang 28Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra tiêu chí chất lượng cuộc sống, mức độ hạnh phúc gồm 100 câu hỏi trắc nghiệm để đo một số tiêu chí với ba nhóm: nhóm 1 đo lường mức độ sảng khoái về thể chất gồm: sức khỏe, tinh thần, ăn uống, ngủ, nghỉ,
đi lại (giao thông, vận tải), thuốc men (y tế, chăm sóc sức khỏe); nhóm 2 đo lường mức độ sảng khoái về tinh thần: yếu tố tâm lý, yếu tố tâm linh (tín ngưỡng, tôn giáo); nhóm 3 đo lường mức độ sảng khoái về xã hội gồm: các mối quan hệ xã hội
kể cả quan hệ tình dục, môi trường sống (bao gồm cả môi trường xã hội: an toàn, an ninh, kinh tế, văn hóa, chính trị… và môi trường thiên nhiên)
Chất lượng cuộc sống được đo lường thông qua cá nhân tự đánh giá dựa trên những kỳ vọng về cuộc sống như kinh tế, giáo dục, nhà ở, hỗ trợ xã hội, sức khỏe, Đối với chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, đã có nhiều bộ công cụ đo lường
ra đời và sử dụng trên phạm vi thế giới, các nhà nghiên cứu đã phát minh ra chỉ số Global AgeWatch đo lường chất lượng cuộc sống của người cao tuổi trên 4 lĩnh vực
cơ bản của cuộc sống bao gồm: sự đảm bảo về thu nhập, tình trạng sức khỏe, khả năng lao động và môi trường sống
Nghiên cứu về thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi ở các huyện nông thôn miền Bắc Việt Nam của tác giả Dương Huy Lương và Phạm Ngọc Châu thông qua bộ công cụ định lượng với 25 câu hỏi được xây dựng dựa trên bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống của Tổ chức Y tế thế giới (WHOQL) có sự điều chỉnh phù hợp với đặc thù của Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy 73% người cao tuổi hài lòng với cuộc sống hiện tại, 13% người cao tuổi rất hài lòng và 14% người cao tuổi đã đánh giá không hài lòng hoặc rất không hài lòng với cuộc sống Người cao tuổi nhìn chung hài lòng với khía cạnh xã hội của cuộc sống, trong khi đó đối với khía cạnh chất lượng bao gồm sức khỏe, tâm lý, tín ngưỡng, tài chính
đề chưa đạt mức hài lòng Đặc biệt là khía cạnh môi trường được người cao tuổi khu vực nông thôn đánh giá khá thấp Nhìn chung, đa số người cao tuổi đánh giá chất lượng cuộc sống của họ ở mức trung bình với các lý do như sức khỏe, kinh tế,… và có xu hướng giảm dần theo độ tuổi, độ tuổi càng cao dẫn đến sức khỏe suy giảm ảnh hưởng đến các khía cạnh khác của chất lượng cuộc sống
Trang 29Một nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi tại xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam năm 2014 của nhóm tác giả trường Đại học Y Hà Nội tập trung vào bốn khía cạnh chất lượng cuộc sống của bộ công cụ đo lường bao gồm thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường Kết quả nghiên cứu cho thấy người cao tuổi đánh giá các khía cạnh chất lượng cuộc sống chỉ đạt mức trung bình, trong đó cao nhất là khía cạnh xã hội và thấp nhất là sức khỏe thể chất Bên cạnh đó thì các đặc điểm giới tính, tình trạng gia đình, nguồn thu nhập, điều kiện kinh tế hộ gia đình và tình trạng sức khỏe của người cao tuổi có sự liên quan đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi Người cao tuổi là nữ giới, không có nguồn thu nhập chủ động ổn định có chất lượng cuộc sống về tâm lý kém hơn nam giới, người cao tuổi có thu nhập chủ động từ công việc hoặc lương hưu, trợ cấp Người cao tuổi sống độc thân có chất lượng cuộc sống về xã hội kém hơn người cao tuổi sống cùng gia đình Người cao tuổi có kinh tế nghèo có chất lượng cuộc sống
về thể chất, tâm lý, xã hội kém hơn người cao tuổi có kinh tế không nghèo Người cao tuổi khả năng vận động hạn chế có chất lượng cuộc sống về thể chất kém hơn người cao tuổi có khả năng vận động bình thường Người cao tuổi mắc bệnh mạn tính có chất lượng cuộc sống về thể chất, tâm lý kém hơn người cao tuổi không mắc bệnh mạn tính
Trên cơ sở tìm hiểu các lý thuyết đo lường chất lượng cuộc sống nói chung
và chất lượng cuộc sống người cao tuổi nói riêng, nghiên cứu chọn sử dụng 6 khía cạnh đo lường chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam được tác giả Lê Thị Hải Hà và cộng sự đề xuất phù hợp với thực trạng người cao tuổi Việt Nam Do đó, thang đo sử dụng để đánh giá chất lượng người cao tuổi bao gồm sáu khía cạnh cuộc sống: khía cạnh sức khỏe thể chất, khía cạnh tinh thần, khía cạnh kinh tế, khía cạnh môi trường sống, khía cạnh tâm linh và khía cạnh niềm tin
1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu về chính sách trợ giúp xã hội đối
với chất lượng cuộc sống người cao tuổi
Nghiên cứu của Tổng cục Dân số - Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã tiến hành triển khai đề tài “Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng” đạt được một số
Trang 30kết quả: tình trạng già hoá dân số đang diễn ra mạnh mẽ, kéo theo nhiều vấn đề kinh
tế - xã hội cần phải giải quyết và Việt Nam không nằm ngoài tình trạng trên, số lượng người già ở Việt Nam tăng mạnh cả về số tuyệt đối lẫn tương đối Nhằm chuẩn bị cho tình trạng trên những vấn đề như nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi hoặc xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe
Theo kết quả khảo sát của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, năm 2012 có trên 58% số người từ 60-69 tuổi cho rằng, sức khỏe của họ là yếu Tỷ lệ này tăng nhanh theo tuổi tác Ở nhóm tuổi từ 70-79, con số này tăng lên 68,4% và từ 80 trở lên, con
số này tăng lên gần 75% Chỉ 6,3% người từ 60-69 tuổi tự đánh giá sức khỏe của họ
là tốt; tỷ lệ này ở nhóm người từ 70 tuổi trở lên còn thấp hơn nhiều, chỉ là 3,7% Điều này cũng cho thấy, việc chăm sóc sức khỏe đối với nhóm người cao tuổi là rất cần thiết và chi phí cho việc chăm sóc sức khỏe của họ cũng tăng cao so với nhóm các nhóm tuổi khác Sức khỏe yếu cũng là lý do chính để người cao tuổi không thể làm việc được, không tự tạo được thu nhập đảm bảo cuộc sống của bản thân
Trong nghiên cứu một số vấn đề chăm sóc sức khỏe người già hiện nay của tác giả Dương Chí Thiện đã đề cập tới các vai trò của gia đình, của các tổ chức xã hội và hệ thống y tế đối với vấn đề chăm sóc người cao tuổi Gia đình có vai trò rất
to lớn trong đảm bảo mọi mặt cho toàn bộ cuộc sống người cao tuổi Các quan hệ gia đình như quan hệ giữa cụ ông cụ bà, quan hệ giữa các cụ và con cháu có ảnh hưởng rất to lớn đến tình cảm, tâm trạng của người cao tuổi Tuy nhiên một vấn đề đang được đặt ra hiện nay là số lượng người cao tuổi phải sống cô đơn ngày càng gia tăng mặc dù con cái của họ đang sống hoặc họ không có con cái khi họ ốm đau già yếu Cùng với việc coi gia đình như một cơ sở quan trọng trong hệ thống an sinh
xã hội đối với người già thì các tổ chức xã hội, các nhóm xã hội đóng một vai trò không nhỏ trong việc chăm sóc người cao tuổi Các tổ chức, nhóm xã hội được thành lập thỏa mãn nhiều nhu cầu được đặt ra trong đời sống của người cao tuổi Với việc thực hiện chế độ bảo hiểm y tế cho người cao tuổi, tuy mới chỉ là bước đầu nhưng đó là bước tiến quan trọng và cơ bản của nước ta trên con đường thực hiện một hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi phù hợp với quá trình phát triển của
xã hội hiện nay Việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi không chỉ thu hẹp
Trang 31trong phạm vi của vấn đề y tế mà hàm chứa trong nó cả vấn đề kinh tế xã hội rộng lớn, đặc biệt là vai trò của gia đình và các tổ chức xã hội trong công cuộc nâng cao chất lượng sống cho người cao tuổi trong xã hội hiện nay
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xây dựng đề án hỗ trợ và chăm sóc đời sống văn hóa tinh thần đối với người cao tuổi, thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Người cao tuổi giai đoạn 2012 – 2020 Đề án tập trung vào mục tiêu tiếp tục xây dựng và tổ chức triển khai các hoạt động nhằm củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động hỗ trợ, chăm sóc đời sống văn hóa và tinh thần cho người cao tuổi tại gia đình và cộng đồng, xây dựng môi trường thuận lợi để người cao tuổi tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, vui chơi, giải trí
Bùi Thế Cường đã nghiên cứu về hệ thống an sinh xã hội đối với người có tuổi đã nêu vai trò quan trọng của hệ thống an sinh xã hội trong quá trình chăm sóc người cao tuổi ở nước ta: hệ thống an sinh xã hội mở rộng và phát triển theo tiến trình lịch sử, nó phụ thuộc vào tiến trình động thái các nhu cầu thiết yếu của con người và vào biến đổi của cơ cấu xã hội Ngày nay người ta thường kể ra một số lĩnh vực chủ chốt của hệ thống an sinh xã hội như: dân số và gia đình, đào tạo nghề nghiệp và công ăn việc làm, trẻ em, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm, trợ giúp xã hội… Nhìn từ góc độ cơ cấu xã hội, an sinh xã hội của các nhóm xã hội theo hướng đảm bảo công bằng xã hội, đặc biệt chú trọng đến các nhóm yếu thế Trong đó, an sinh xã hội cho nhóm người cao tuổi là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng Chăm lo các điều kiện an sinh xã hội cho người cao tuổi, giúp họ đảm nhiệm các vai trò xã hội mới, đó là công việc có ý nghĩa to lớn đối với phát triển xã hội Vì rằng, không chỉ trong xã hội truyền thống nơi mà người cao tuổi thực sự được tôn kính do họ nắm vững kho tri thức kinh nghiệm sản xuất, lưu giữ các giá trị truyền thống xã hội mà ngay cả trong xã hội hiện đại người cao tuổi cũng là một tài nguyên xã hội theo mọi nghĩa
Trong nghiên cứu “Các giải pháp hoàn thiện cơ cấu chính sách phát triển các
cơ sở trợ giúp xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam giai đoạn đến 2010” của Cục Bảo trợ xã hội Đây là một đề tài lớn, khái quát toàn bộ hệ thống hoạt động và các chính sách của các cơ ở trợ giúp xã hội trên cả nước của cục bảo
Trang 32trợ xã hội Nghiên cứu đã phân tích những kinh nghiệm quốc tế trong công tác bảo trợ qua đó dựa trên thực tiễn hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã hội tại Việt Nam hiện nay để đưa ra các kiến nghị các giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp đối tượng trong các cơ sở tập trung hiện nay
Trong nghiên cứu “Các giải pháp hoàn thiện cơ cấu chính sách phát triển các
cơ sở trợ giúp xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam giai đoạn đến 2010” của Cục Bảo trợ xã hội Đây là một đề tài lớn, khái quát toàn bộ hệ thống hoạt động và các chính sách của các cơ ở trợ giúp xã hội trên cả nước của cục bảo trợ xã hội Nghiên cứu đã phân tích những kinh nghiệm quốc tế trong công tác bảo trợ qua đó dựa trên thực tiễn hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã hội tại Việt Nam hiện nay để đưa ra các kiến nghị các giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp đối tượng trong các cơ sở tập trung hiện nay
Phó GS.TS Giang Thanh Long – Viện chính sách Công và Quản lý - Đại học Kinh tế quốc dân và Viện Nghiên cứu y - Xã hội học đã trình bày các mô hình chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng hiện nay, phân tích những điểm mạnh điểm yếu,
cơ hội, thách thức của các mô hình này Qua đó có nêu những bài học kinh nghiệm
là cần nâng cao nhận thức về các vấn đề người cao tuổi và sự hợp tác với giới truyền thông, với các nhà lãnh đạo trung ương và địa phương và với những nhà làm chính sách về người cao tuổi
Kết quả điều tra ban đầu về người cao tuổi tại địa bàn Tỉnh Bến Tre năm
2012 của Viện nghiên cứu Y – Xã hội học ISMS đã cho một số kết quả đáng chú ý
về người cao tuổi và các khía cạnh chất lượng cuộc sống của họ Thứ nhất, về tình hình kinh tế - xã hội của người cao tuổi thì có khoảng 2/3 người cao tuổi vẫn đang làm việc, trong đó 1/2 cho biết lý do vì không đủ chi tiêu cá nhân hoặc đóng góp chi tiêu trong gia đình; thu nhập chủ yếu của người cao tuổi là từ lương hưu, việc làm
và hỗ trợ của con cái; khoảng 10% người cao tuổi sống trong hộ nghèo với điều kiện nước sạch sinh hoạt và ăn uống, nhà vệ sinh, nhà ở,… chưa đảm bảo Thứ hai,
về tình hình sức khỏe và chăm sóc sức khỏe có khoảng 60% người cao tuổi đánh giá sức khỏe là yếu và rất yếu, trong đó có 1/3 người cao tuổi cho biết không đủ sức lực thực hiện các công việc hàng ngày; trong số người cao tuổi bị đau ốm trong 12
Trang 33tháng qua, gần 90% được cán bộ y tế khám và điều trị, người cao tuổi chủ yếu sử dụng dịch vụ y tế công tại trạm y tế, người cao tuổi hài lòng với thái độ phục vụ và thời gian chờ đợi tại trạm y tế xã, nhưng còn chưa hài lòng với dịch vụ y tế tại tuyến huyện và tỉnh, thủ tục rườm rà, thời gian chờ đợi lâu là lý do chủ yếu; trong số người cao tuổi được khám, điều trị trong 12 tháng qua, gần 50% cho biết không có
đủ khả năng chi trả cho việc khám, chữa bệnh cho bản thân Thứ ba, về tiếp cận quyền lợi người cao tuổi theo các chính sách, phần lớn người cao tuổi chỉ biết hai chính sách là mừng thọ, chúc thọ và trợ cấp theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP, các chính sách khác được biết ít hơn nhiều và thậm chí một số chính sách chưa bao giờ được nghe đến, việc tiếp cận với quyền chưa cao một phần cũng là do bản thân người cao tuổi không quan tâm hoặc nhiều hạn chế khiến họ không có thời gian tìm hiểu, công tác triển khai tuyên truyền cũng chưa thực sự hiệu quả Thứ tư, về vai trò
và mối quan hệ của người cao tuổi với gia đình và cộng đồng, khoảng 1/3 người cao tuổi vẫn chăm sóc cháu chắt dưới 10 tuổi, hơn 90% người cao tuổi vẫn làm việc nhà, trong đó gần 50% đóng vai trò là người chủ yếu; gần 60% người cao tuổi cho biết có hỗ trợ như động viên, thăm hỏi người cao tuổi khác trong cộng đồng, khoảng 2/3 người cao tuổi nhận được các hỗ trợ như động viên, thăm hỏi từ các thành viên khác trong cộng đồng; 90% người cao tuổi là thành viên của Hội người cao tuổi, người cao tuổi cũng tích cực tham gia các tổ chức, đoàn thể và Câu lạc bộ
ở địa phương Thứ năm, về việc nhận thức, xây dựng và thực hiện chính sách, chương trình cho người cao tuổi tại địa phương, các địa phương đã thể hiện nhiều
nỗ lực trong việc thực hiện các chương trình, chính sách nhằm phát huy và chăm sóc người cao tuổi Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất ở tất cả các địa phương là các chương trình thực hiện còn ở quy mô nhỏ, nhiều đối tượng vẫn chưa thực sự được thụ hưởng chính sách và nguyên nhân chủ yếu là do ngân sách thiếu thốn, cơ sở vật chất phục vụ người cao tuổi còn hạn chế, chưa được chú trọng; người cao tuổi ở địa phương chưa hiểu rõ các quyền lợi, trách nhiệm một phần do bản thân già yếu hoặc không quan tâm, nhưng phần khác là do cách thức tổ chức thông tin còn hạn chế, khối lượng thông tin quá lớn, đặc biệt với người rất cao tuổi
Trang 34TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã tổng hợp làm sáng tỏ cơ sở lý luận về trợ giúp xã hội, người cao tuổi, chất lượng cuộc sống người cao tuổi Nghiên cứu đã tổng quan các quan điểm tiếp cận từ đi khái niệm đến nội hàm của từng nội dung Về chính sách trợ giúp xã hội, chương này đã khái quát về mục tiêu chính sách, nguyên tắc chính sách, đối tượng chính sách và nội dung các chính sách có liên quan đã được áp dụng Chương 1 cũng đã trình bày khái niệm về người cao tuổi, chính sách trợ giúp
xã hội đối với người cao tuổi Ngoài cơ sở lý thuyết nêu trên, nội dung chương còn tổng hợp cơ sở thực tiễn bao gồm các công trình nghiên cứu về chính sách trợ giúp
xã hội đối với người cao tuổi và bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống của người cao tuổi Kết quả nghiên cứu của chương 1 làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu lý thuyết, xây dựng thang đo và thiết kế phương pháp nghiên cứu ở chương 2
Trang 35CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
2.1.1 Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát và đo lường tác động của chính sách trợ giúp xã hội đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi Xuất phát từ cơ sở lý thuyết về chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi và các nghiên cứu về người cao tuổi, quá trình nghiên cứu định tính thông qua thảo luận nhóm đã đề xuất các nhóm yếu tố tác động đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi theo mô hình như sau:
Nguồn: Tổng hợp và đề xuất của tác giả
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu
Trong mô hình nghiên cứu trên, chất lượng cuộc sống người cao tuổi là biến phụ thuộc Biến độc lập là các chính sách trợ giúp theo từng khía cạnh cuộc sống của người cao tuổi Lý thuyết cho thấy có nhiều nhân tố tác động đến chất lượng cuộc sống của người dân nói chung và người cao tuổi nói riêng Trong nghiên cứu này, các nhân tố tác động chỉ giới hạn trong phạm vi những khía cạnh trợ giúp của chính sách Nhà nước đối với người cao tuổi
Chính sách trợ cấp vật chất
Chính sách phát huy vai trò
người cao tuổi
Chính sách trợ giúp văn hóa –
thể thao Chính sách trợ giúp y tế
Chính sách chăm sóc, nuôi
dưỡng tại cơ sở bảo trợ
Chất lượng cuộc sống người
Trang 362.1.2 Giả thuyết nghiên cứu
Chất lượng cuộc sống người cao tuổi Việt Nam được đo lường trên 6 khía cạnh và có sự phù hợp với nội dung của chính sách Trên cơ sở các lý thuyết được
sử dụng, nghiên cứu đề xuất mối tương quan thuận chiều giữa các khía cạnh trợ giúp của chính sách đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi
H1: Chính sách trợ cấp vật chất có tác động thuận chiều đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi (+)
H2: Chính sách phát huy vai trò người cao tuổi có tác động thuận chiều đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi (+)
H3: Chính sách trợ giúp văn hóa – thể thao có tác động thuận chiều đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi (+)
H4: Chính sách trợ giúp y tế có tác động thuận chiều đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi (+)
H5: Chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ có tác động thuận chiều đến chất lượng cuộc sống người cao tuổi (+)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu được tiến hành như sau:
Hình 2.2: Quy trình nghiên cứu đề xuất
Mục tiêu nghiên cứu
Kiểm định độ tin cậy thang đo
Phân tích nhân tố khám phá
Phân tích kết quả (hồi qui) Viết báo cáo nghiên
cứu
Trang 37Quy trình nghiên cứu được chia thành hai giai đoạn nghiên cứu là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
2.2.1.1 Nghiên cứu sơ bộ
Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ được thực hiện nhằm hoàn thiện thang đo và mô hình nghiên cứu Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ được tiến hành thông qua thảo luận nhóm Quá trình này giúp tác giả định hình các biến nghiên cứu và thang đo của các biến từ việc tổng hợp cơ sở lý thuyết đã trình bày Sau khi xây dựng được mô hình
và thang đo sơ bộ, một nghiên cứu thử nghiệm được tiến hành với 30 người cao tuổi bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp nhằm điều chỉnh các biến quan sát dùng để
đo lường
Quá trình tổng hợp lý thuyết có tổng cộng 50 biến quan sát được đề xuất đưa vào thảo luận nhóm Kết quả thảo luận nhóm đã đưa ra thang đo sơ bộ gồm 44 biến quan sát được chia ra 6 thành phần theo mô hình nghiên cứu
Tiếp tục giai đoạn nghiên cứu sơ bộ, từng thành phần trong thang đo được kiểm định độ tin cậy thông qua khảo sát sơ bộ 30 mẫu và dựa vào hệ số Cronbach’s Alpha Kết quả có 4 biến không đạt độ tin cậy và bị loại khỏi thang đo
2.2.1.2 Nghiên cứu chính thức
Giai đoạn nghiên cứu chính thức được tiến hành nhằm thu thập thông tin cho nghiên cứu bằng cách phỏng vấn trực tiếp đối tượng khảo sát là người cao tuổi hoặc thân nhân chăm sóc người cao tuổi với bảng câu hỏi hoàn chỉnh Đây là giai đoạn nghiên cứu định lượng và dữ liệu này được sử dụng để kiểm định giả thuyết trong
mô hình, từ đó rút ra kết quả nghiên cứu và là cơ sở đề xuất các giải pháp
2.2.2 Thang đo và các biến
Nghiên cứu chọn sử dụng thang đo Likert 5 mức độ từ mức độ 1 là hoàn toàn không đồng ý đến mức độ 5 là hoàn toàn đồng ý Mỗi biến quan sát là một phát biểu
về tác động của chính sách trợ giúp xã hội đến cuộc sống người cao tuổi, đối tượng khảo sát chính thức sẽ lựa chọn đánh giá của mình cho từng phát biểu thông qua sự lựa chọn một trong năm mức độ của thang đo
Trang 38Bảng 2.1: Thang đo các biến trong mô hình nghiên cứu Chính sách trợ cấp vật chất
TCVC1 Có điều kiện mua sắm thêm đồ đạc phục vụ cuộc sống
TCVC2 Có điều kiện ăn uống tốt hơn, dinh dưỡng đảm bảo hơn
TCVC3 Đảm bảo được mức sống tối thiểu/không bị rơi vào đói nghèo
TCVC4 Có điều kiện để giao tiếp xã hội (chùa chiền, hội hè, hiếu hỷ,…) TCVC5 Giữ được vị thế trong gia đình (không bị xem là sống nhờ vào con
cháu) TCVC6 Chia sẻ tài chính trong gia đình
Chính sách phát huy vai trò người cao tuổi
PHVT1 Được tạo điều kiện tham gia vào các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội
ở địa phương PHVT2 Được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị với cơ quan, tổ chức về
những vấn đề quan tâm tại địa phương PHVT3 Những kinh nghiệm sống của ông bà được tôn trọng và học hỏi PHVT4 Được tham gia vào góp ý xây dựng chính sách, pháp luật và giám sát
thực hiện PHVT5 Được ưu đãi về vốn và khuyến khích người cao tuổi tham gia trực
tiếp sản xuất PHVT6 Người cao tuổi có thành tích xuất sắc được biểu dương, khen thưởng PHVT7 Cuộc sống có ý nghĩa, có ích, đóng góp được nhiều cho xã hội, gia
đình, con cháu
Chính sách trợ giúp văn hóa – thể thao
VHTT1 Cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa thể thao đáp ứng nhu cầu VHTT2 Được hưởng nhiều ưu tiên khi tham gia giao thông công cộng (sắp
xếp chỗ ngồi thuận tiện, giảm giá vé,…) VHTT3 Các câu lạc bộ dành cho người cao tuổi được duy trì sinh hoạt và thu
hút đối tượng tham gia
VHTT4 Được tổ chức thăm hỏi, tặng quà, mừng thọ,…
Trang 39VHTT5 Hoạt động văn hóa, thể thao tại địa phương giúp rèn luyện sức khỏe
và tinh thần tốt hơn VHTT6 Các hoạt động văn hóa, thể thao cho người cao tuổi được tổ chức đa
dạng thường xuyên VHTT7 Các hội thi văn hóa, thể thao được tổ chức phù hợp với đối tượng
người cao tuổi VHTT8 Mở rộng giao tiếp xã hội, thêm kiến thức, kinh nghiệm trong cuộc
sống
Chính sách trợ giúp y tế
CSYTE1 Được cấp thẻ BHYT đầy đủ và kịp thời
CSYTE2 Sử dụng thẻ BHYT giúp ông bà có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt
hơn CSYTE3 Thường xuyên được tham gia các hoạt động y tế khác (tổ chức khám
bệnh định kỳ, tư vấn cách phòng chữa bệnh , …) CSYTE4 Đội ngũ y bác sĩ tận tâm trong khám chữa bệnh
CSYTE5 Cơ sở vật chất khám chữa bệnh đáp ứng nhu cầu người cao tuổi CSYTE6 Được hưởng nhiều ưu tiên tại các cơ sở khám chữa bệnh
CSYTE7 Được tham gia các chương trình khám chữa bệnh, phát thuốc miễn
phí tại địa phương từ các tổ chức thiện nguyện CSYTE8 Tinh thần sảng khoái, sức khỏe được chăm sóc tốt hơn
Chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ
CSBTXH1 Đảm bảo được điều kiện sinh hoạt
CSBTXH2 Được chăm sóc tận tâm và chu đáo
CSBTXH3 Có chế độ sinh hoạt khoa học
CSBTXH4 Chế độ hỗ trợ cá nhân, tổ chức nhận chăm sóc giúp người cao tuổi
được tôn trọng
CSBTXH5 Được quan tâm khám chữa bệnh kịp thời
Chất lượng cuộc sống người cao tuổi
CLCS1 Sức khỏe tốt, đáp ứng được sinh hoạt cá nhân
Trang 40CLCS2 Tinh thần luôn thoải mái trong cuộc sống gia đình và với xã hội CLCS3 Đời sống vật chất được đáp ứng đầy đủ
CLCS4 Môi trường sống thuận lợi, đảm bảo điều kiện tiếp cận các dịch vụ
cần thiết
CLCS5 Có niềm tin vững chắc vào cuộc sống
CLCS6 Các mối quan hệ xã hội được đảm bảo
Nguồn: Tổng hợp lý thuyết
2.2.3 Đối tượng khảo sát và phương pháp chọn mẫu
Giai đoạn thảo luận nhóm, đối tượng được chọn là những người có kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách xã hội đối với người cao tuổi Số lượng thành viên được chọn tham gia là 7 cá nhân Quá trình thảo luận nhóm được tiến hành dựa trên dàn bài thảo luận nhóm, mỗi thành viên trong nhóm sẽ nhận một dàn bài thảo luận với nội dung chính là các biến quan sát được tác giả tổng hợp từ cơ sở
lý thuyết của nghiên cứu Mục tiêu của thảo luận nhóm nhằm loại bỏ những biến được đánh giá là không cần thiết đưa vào mô hình và nhóm các biến còn lại thành một số các nhân tố theo đặc điểm chung của các biến, đưa ra tác động kỳ vọng của các các nhân tố này cho mô hình nghiên cứu Kết quả thảo luận sẽ được đưa vào giai đoạn nghiên cứu tiếp theo khi có trên 50% số thành viên trong nhóm thảo thuận thống nhất
Đối tượng tiếp cận chính của nghiên cứu này bao gồm tất cả người cao tuổi hoặc thân nhân chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng, kể cả người cao tuổi đang được chăm sóc tập trung tại cơ sở bảo trợ xã hội Mẫu khảo sát được chọn phân bố đều tại các huyện/ thành phố tỉnh Bến Tre Tại mỗi huyện/ thành phố chọn một xã đại diện, trong đó xã được chọn có số lượng người cao tuổi được hưởng chính sách trợ giúp xã hội nhiều nhất Tại mỗi xã được chọn, phương pháp lấy mẫu được áp dụng là phương pháp ngẫu nhiên phân tầng
Kích thước mẫu được xác định dựa vào yêu cầu của từng phương pháp phân tích dữ liệu Để phân tích nhân tố EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn
là 100 và tỷ lệ quan sát/ biến đo lường là 5:1, tốt nhất là 10:1 (Hair và cộng sự, 2006 dẫn từ Nguyễn Đình Thọ, 2011), nghiên cứu có 40 biến đo lường, do đó cần khảo