Nhằm kiểm định giả thuyết cho rằng lãi suất ngân hàng ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang để từ đó đề xuất các giải pháp, chính sách cho ph
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
TRẦN THỊ THANH TUYỀN
MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT
VÀ VIỆC CHẬM NỘP THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG
GIAI ĐOẠN 2010 -2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
KHOA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
TRẦN THỊ THANH TUYỀN
MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT
VÀ VIỆC CHẬM NỘP THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG
GIAI ĐOẠN 2010 -2014
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số : 60340403
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM QUỐC HÙNG
TP Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Kính thưa Quý thầy cô, kính thưa Quý độc giả, tôi tên là Trần Thi ̣ Thanh Tuyền, học viên Cao học Ngành Quản lý công - Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh Tôi xin cam đoan luận văn nghiên cứu sau đây là do bản thân tôi thực hiện
Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và
có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Cơ sở lý luận tham khảo
từ các tài liệu thu thập được từ sách, báo, các nghiên cứu được nêu trong tài liệu tham khảo Dữ liệu phân tích trong luận văn là thông tin sơ cấp thu thập qua các sở ban ngành trong tỉnh Tiền Giang
Tôi cam đoan đề tài không được sao chép từ các công trình nghiên cứu khoa học khác
Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh
tế thành phố Hồ Chí Minh./
TP.Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 04 năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Thị Thanh Tuyền
Trang 4
MỤC LỤC
Chương 1: Giới thiệu 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu chi tiết 3
1.3 Các giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3.1 Giả thuyết nghiên cứu 3
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Phạm vi và đối tượng 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Cấu trúc luận văn 5
1.7 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 5
1.8 Hạn chế nghiên cứu tiếp theo 5
Tóm tắt Chương 1 6
Chương 2: Cơ sở lý thuyết 7
2.1 Tổng quan về hệ thống thuế tại Việt Nam 7
2.1.1 Công tác quản lý thuế 7
2.1.2 Đặc điểm của thuế 7
2.1.3 Các loại thuế 9
2.1.4 Phân cấp quản lý ngân sách 14
2.2 Tổng quan về lãi suất 16
2.3 Lược khảo tài liệu và nghiên cứu trước 18
2.4 Khung phân tích về thuế và lãi suất 21
2.4.1 Tổng quan về thuế 21
2.4.2 Khung phân tích về lãi suất 23
Tóm tắt Chương 2 26
Trang 5Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 27
3.1 Mức độ tuân thủ và nguyên nhân thất thoát nguồn thu 27
3.2 Số liệu và phương pháp nghiên cứu 29
3.2.1 Số liệu 29
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
3.2.3 Mô hình phân tích 29
3.3 Mô hình nghiên cứu 30
3.3.1 Mô hình nghiên cứu 30
3.3.2 Các giả thuyết nghiên cứu 30
3.4 Thiết kế nghiên cứu 31
3.5 Đo lường các biến 32
3.5.1 Lãi suất 32
3.5.2 Tiền thuế nô ̣p 33
3.5.3 Tiền thuế nợ 35
3.5.4 Ngành nghề kinh doanh 36
3.5.5 Loại hình doanh nghiệp 36
3.6 Phương pháp thu thập dữ liệu 38
3.6.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp 38
3.6.2 Kiểm tra làm sa ̣ch dữ liê ̣u 39
3.6.3 Khó khăn trong quá trình khảo sát 40
3.7 Phương pháp phân tích 41
3.7.1 Phân tích tương quan 41
3.7.2 Phương pháp thống kê mô tả 42
3.7.3 Phương pháp so sánh nhóm T-Test 42
3.7.4 Phương pháp Anova 42
3.7.5 Phương pháp hồi qui 42
Tóm tắt Chương 3 43
Chương 4: Phân tích mối quan hệ giữa lãi suất và việc chậm nộp thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 44
Trang 64.1 Xác định giá trị của các biến số 44
4.1.1 Mô tả số liệu thu thập được 44
4.1.2 Mô tả giá trị của các biến số trong mô hình nghiên cứu 45
4.2 Mô hình phân tích yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thuế 52
Tóm tắt Chương 4 56
Chương 5: Kết luận và kiến nghị chính sách 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Gợi ý chính sách và giải pháp 58
5.3 Định hướng nghiên cứu tiếp theo 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục A: Hình vẽ - Đồ thị
Phụ lục B: Bảng biểu - Số liệu
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang Bảng 3.1: Mã Dummy cho các loại hình doanh nghiệp và lãi suất 29 Bảng 4.1: Thống kê biến Lãi suất huy động của ngân hàng thương mại 2010-2014 46 Hình 4.2 : Thống kê biến tiền thuế thực thu hàng tháng tại Cục Thuế tỉnh Tiền Giang 48 Bảng 4.3: Hệ số tương quan của các biến trong mô hình 52 Bảng 4.4: Tóm tắt các giả thuyết của mô hình 55
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang Hình 3.1: Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế 28
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu 30
Hình 4.1: Số lượng doanh nghiệp tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2010 - 2014 44 Hình 4.2: Lãi suất cho vay và lãi suất huy động bình quân hàng tháng của ngân hàng 2010 - 2014 45 Hình 4.3: Lãi suất huy động của ngân hàng thương mại 2010 - 2014 47 Hình 4.4: Biểu đồ tần suất số thuế phải thu hàng tháng của doanh nghiệp tỉnh Tiền Giang 47 Hình 4.5: Xu hướng nguồn thu thuế của doanh nghiệp tỉnh Tiền Giang 2010 – 2014 48 Hình 4.6: Chênh lệch giữa tiền thuế phải thu và tiền thuế thực thu hàng tháng 49 Hình 4.7: Biểu đồ tần suất đối với số thu thuế đúng hạn 49 Hình 4.8: So sánh biến thiên lãi suất và biến thiên tỷ lệ thu thuế đúng hạn 2010-
2014 50 Hình 4.9: So sánh tỷ lệ thu nợ trễ hạn năm 2010 và năm 2014 51
Trang 9
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài:
Chính sách thuế luôn là công cụ quan trọng để gia tăng nguồn thu, đặc biệt là
ở các quốc gia đang phát triển Đó cũng là công cụ quan trọng để đạt được các nền tảng phù hợp cho việc tái phân phối nguồn lực, phân phối thu nhập và ổn định kinh
tế Gia tăng nguồn thu luôn là nỗi khát khao của nhiều quốc gia để thoả mãn các khoản chi tiêu của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu xã hội và chính trị Đến nay, nhiều nước đang phát triển như Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc gia tăng nguồn thu để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu tăng trưởng kinh tế Theo Richard (1990), các nước đang phát triển có xu hướng phụ thuộc nhiều hơn vào thuế gián thu, đặc biệt là việc thu thuế dựa vào các hoạt động giao dịch hơn
là thuế thu nhập (cá nhân và doanh nghiệp) như các quốc gia phát triển Tuy nhiên, đối với một quốc gia mà hệ thống tài chính vẫn còn chưa hoàn thiện như Việt Nam thì thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng mạnh trong nhiều năm gần đây Theo số liệu của Bộ Tài chính, hệ thống thuế của Việt Nam giai đoạn 2000 đến 2010 đang hướng nhiều đến thu nhập doanh nghiệp
và thuế GTGT (Phụ lục A.1) Theo số liệu thống kê của Tổng Cục thống kê Việt Nam, tỷ trọng thu thuế từ doanh nghiệp (bao gồm cả quốc doanh, tư nhân và FDI) tăng từ 33.3% trong tổng thu ngân sách nhà nước năm 2000 (không bao gồm nguồn thu từ dầu thô) lên đến gần 50% tổng thu ngân sách nhà nước năm 2013 Tuy nhiên, đối tượng thu thuế thu nhập doanh nghiệp cũng chuyển hướng tập trung vào các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp tư nhân (Phụ lục A.2)
Thuế thu nhập doanh nghiệp có tầm quan trọng chiến lược đối với nguồn thu của cả nước Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hiện tượng trốn thuế và tránh thuế trong khu vực doanh nghiệp ngày càng nhiều và mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng1 Theo báo cáo của Cục thuế tỉnh Tiền Giang qua thanh tra kiểm tra năm
1 Báo Kinh doanh và Pháp luật online - tron-thue_t114c13n19743
Trang 10http://kinhdoanhnet.vn/tin-tuc/xa-hoi/hang-loat-ong-lon-fdi-lo-mat-chuyen-gia-2010 tại văn phòng cục thuế có 56 trường hợp trốn thuế, tuy nhiên đến năm 2014 số lượng doanh nghiệp trốn thuế tăng 118 trường hợp
Tương tự các tỉnh khác, đảm bảo nguồn thu là mục tiêu hàng đầu của chính quyền tỉnh Tiền Giang và là điều kiện cần để hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Trong tổng thu ngân sách tỉnh Tiền Giang, nguồn thu từ doanh nghiệp cũng đang chiếm tỷ trọng rất lớn và đang có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây Theo Cục Thống kê tỉnh Tiền Giang, tỷ trọng thu thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang năm 2014 chiếm đến 44.6% trong tổng thu ngân sách nhà nước Tuy nhiên, tình trạng nợ thuế đang ngày càng trở nên nghiêm trọng và đang có chiều hướng gia tăng Theo báo cáo của Cục Thuế tỉnh Tiền Giang, nợ đọng thuế tính đến 31/12/2014 của các loại hình doanh nghiệp lên đến 293 tỷ đồng, chiếm gần 5% trên tổng số thu trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Ngoài ra số thu của phạt chậm nộp năm 2010 là 2,7 tỷ đồng, nhưng đến năm 2014 số tiền lập bộ phạt chậm nộp là 10,8 tỷ đồng
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nguồn thu thuế không hiệu quả và thu không đầy đủ Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân chủ yếu mà các nước phát triển thường gặp phải đó là cấu trúc chính sách thuế và công tác hành thu không hiệu quả dẫn đến các hoạt động trốn thuế và tránh thuế (Teera, 2004) Trốn thuế không chỉ là vấn đề ở các nước kém phát triển mà cả những nước đang phát triển, nước phát triển (Richard, 1990) Nhiều nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng nơi nào có thu thuế, nơi đó có tình trạng trốn thuế ở bất kỳ loại thuế nào Tuy nhiên, theo nghiên cứu so sánh của Teera và cộng sự (2004) cho thấy tình trạng trốn thuế ở các quốc gia các quốc gia đang phát triển có xu hướng cao hơn các quốc gia phát triển và các quốc gia thuộc nhóm OECD
Để kiểm soát tình trạng trốn thuế và tránh thuế, Franzoni (1998) cho rằng có hai công cụ chính thường được sử dụng đó là lãi suất phạt chậm nộp (penalty rates)
và kiểm toán thống kê (auditing probabilities) trong đó công cụ thứ nhất là công cụ phổ biến hiện đang sử dụng ở các nước đang phát triển như Việt Nam Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc tuân thủ thuế còn phụ thuộc nhiều vào các chính sách
Trang 11thuế, trong đó có chính sách phạt chậm nộp thuế Dường như có mối liên hệ giữa việc thay đổi lãi suất ngân hàng với việc chậm nộp thuế Trường hợp lãi suất ngân hàng thấp hơn lãi suất chậm nộp thuế thì xu hướng chậm nộp thuế gia tăng và ngược lại
Nhằm kiểm định giả thuyết cho rằng lãi suất ngân hàng ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang để từ đó đề xuất
các giải pháp, chính sách cho phù hợp, tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ giữa lãi
suất và việc chậm nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2010-2014” Với kỳ vọng góp phần đạt mục tiêu hiện đại hoá ngành thuế,
tăng cường năng lực quản trị thuế và nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện của doanh nghiệp nộp thuế theo Dự án Hiện đại hoá ngành thuế (Tax Administration Modernization Project) của Tổng Cục thuế (Phụ lục A.3)
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
1.2.1 Mục tiêu tổng quát:
Kiểm định giả thuyết cho rằng có mối liên hệ giữa lãi suất ngân hàng và mức
độ tuân thủ nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang thông qua lượng nợ thuế tồn đọng qua các thời kỳ Kết quả phân tích là cơ sở để xây dựng chính sách thuế và chính sách phạt chậm nộp thuế để đảm bảo nguồn thu phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và hoàn thiện công tác quản lý thuế ở tỉnh Tiền Giang
1.2.2 Mục tiêu chi tiết:
Đánh giá thực trạng nợ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011-2014
Xác định mối liên hệ giữa lãi suất và mức độ chậm nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Đề xuất giải pháp khả thi nhằm nâng cao tính hiệu quả trong công tác hành thu
và chính sách phạt chậm nộp thuế phù hợp
1.3 Các giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu:
1.3.1 Giả thuyết nghiên cứu:
Trang 12Có nhiều nguyên nhân dẫn đến doanh nghiệp chậm nộp thuế hoặc tuân thủ các chính sách thuế Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, khi lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng thương mại có xu hướng tăng thì hành vi chậm nộp thuế của doanh nghiệp cũng có chiều hướng gia tăng, đặc biệt trong trường hợp lãi suất ngân hàng cao hơn thuế suất phạt chậm nộp thuế thu nhập của doanh nghiệp Như vậy, các giả thuyết trong quá trình nghiên cứu cần làm rõ đó là:
- Mức độ tuân thủ nộp thuế của doanh nghiệp tỷ lệ nghịch với lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
- Có sự khác biệt trong việc tuân thủ nộp thuế của các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề kinh tế khác nhau (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) và giữa các loại hình doanh nghiệp khác nhau (nhà nước, FDI, tư nhân)
Việc làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ nộp thuế của doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện chính sách thuế đảm bảo nguồn thu phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Tiền Giang
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu:
Từ mục tiêu nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu, tác giả tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Biến động của lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi chậm nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang ?
- Đối tượng và loại hình doanh nghiệp nào có khối lượng nợ đọng thuế lớn trong giai đoạn 2010 – 2014 ?
- Giải pháp nào là khả thi để cải thiện chính sách thuế trên địa bàn tỉnh Tiền Giang ?
Trang 131.5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định lượng và thống kê mô tả
để tìm kiếm và phát hiện các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp thông qua số thuế chậm nộp theo thời gian từ 2010 đến 2014 Đồng thời kiểm định gỉa thuyết cho rằng việc thay đổi lãi suất của hệ thống ngân hàng thương mại có tác động đến hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
1.6 Cấu trúc luận văn:
Nội dung luận văn được chia làm 5 phần như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Phân tích mối quan hệ giữa lãi suất và việc chậm nộp thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Chương 5: Kết luận và kiến nghị chính sách
1.7 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu:
Phân tích ảnh hưởng của lãi suất đối với việc tuân thủ nộp thuế nhằm mang lại
sự công bằng cho các doanh nghiệp nộp thuế, từ đó đề ra các giải pháp nhằm mang lại giá trị công cho xã hội mà cụ thể cho ngành thuế tỉnh Tiền Giang
1.8 Ha ̣n chế nghiên cứu tiếp theo:
Tuy khảo sát có những đóng góp tích cực đối với công tác quản lý nợ thuế, tuy nhiên nhận biết vị thế của mình nên cũng có một số hạn chế nhất định:
- Do hạn chế về khả năng nên nghiên cứu chỉ tiến hành trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, và các doanh nghiệp lớn có vốn kinh doanh từ 5 tỷ đồng trở lên do văn phòng Cục thuế tỉnh Tiền Giang quản lý
- Nghiên cứu chỉ xem xét đến doanh nghiệp có khả năng nộp thuế
- Đối với lãi suất tiền vay chỉ nghiên cứu lãi suất ngắn hạn
- Đối với lãi tiền gửi, chỉ nghiên cứu lãi suất đối với đồng Việt Nam và lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn
Trang 15CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về hệ thống thuế tại Việt Nam:
2.1.1 Công tác quản lý thuế:
Luật Quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2007 là khung pháp lý cơ bản để đảm bảo tính minh bạch và liêm chính trong ngành thuế; quy định cụ thể về quản lý dịch vụ nộp thuế, khiếu nại và xử lý các vi phạm pháp luật về thuế Một số điểm cơ bản trong Luật Quản lý thuế gồm:
- Luật quy định rõ các quyền của người nộp thuế từ quá trình tính thuế, kiểm tra, thanh tra và khiếu nại về thuế Luật cũng quy định bắt buộc cơ quan quản lý thuế phải bồi thường cho đối tượng nộp thuế đối với những tổn thất do cơ quan thuế gây ra
- Luật quy định sử dụng một mã số thuế duy nhất và quy định phù hợp về nộp thuế và hoàn thuế Nếu đối tượng chậm nộp thuế thì phạt theo mức 0,05%/ngày trên tổng số tiền chậm nộp; số tiền thuế nộp thừa sẽ được hoàn trả trong thời gian quy định
Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế vẫn còn một số hạn chế cần xem xét như chưa quy định cụ thể và rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan thuế các cấp gồm: Tổng Cục thuế, Cục thuế và Chi cục thuế Một số quy định còn thiếu trong Luật Quản lý thuế gồm: không có cơ chế hợp tác giữa cơ quan thuế và hải quan, không có quy định về kế toán và sổ sách kế toán trong Luật và chưa có quy định về kê khai thuế điện tử cũng như công nhận chữ ký điện tử của doanh nghiệp
2.1.2 Đặc điểm của thuế :
Khái niệm: Thuế là khoản trích nộp bằng tiền, mang tính bắt buộc, tính quyền
lực nhà nước không đối giá và hoàn trả trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân nộp cho nhà nước khi đủ những điều kiện nhất định nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước Căn cứ vào mục đích điều tiết của nhà nước mà chia thành 2 loại thuế là thuế trực thu và thuế gián thu
Trang 16Thuế trực thu: Thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người
nộp thuế, người nộp thuế người chịu thuế là một
Thuế gián thu: Thuế điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ,
người nộp thuế không là người chịu thuế
Đối tượng nộp thuế: là các loại hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh
doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế theo quy định cuả Luật thuế và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành
Đặc tính của thuế: Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai
đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác Những đặc trưng đó là:
Tính bắt buộc: Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt
giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước
Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt việc động viên mang tính chất bắt buộc của nhà nước Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phân thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân
Tính không hoàn trả trực tiếp: Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế
được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước Sự không hoàn hảo trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế
Tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được
quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật
Trang 17Chức năng của thuế: Chức năng của thuế là sự thể hiện công dụng vốn có của
thuế, và nó có tính ổn định tương đối Trong suốt thời gian tồn tại và phát triển thuế luôn luôn thực hiện hai chức năng cơ bản sau:
Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước: Ngay từ lúc phát sinh,
thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện đông viên nguồn tài chính cho nhà nước, là chức năng cơ bản của thuế Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính
mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước Chức năng này đã tạo ra những tiền
đề để nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm của xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội Thuế là một nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất cho ngân sách nhà nước
Chức năng điều tiết kinh tế: Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được thực
hiện thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế, sử dụng linh họat các ưu đãi và miễn giảm thuế
Trên cơ sở đó, nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp lợi ích của xã hội Như vậy, bằng cách điều tiết và kích thích, chức năng điều tiết kinh tế của thuế đã được thực hiện
2.1.3 Các loại thuế
Thuế thu nhập doanh nghiệp và các chế độ thu ngoài thuế (phí, lệ phí):
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là một trong những nguồn thu chính trong hệ thống thu ngân sách của Việt Nam Tổng nguồn thu thuế TNDN ở Việt Nam chiếm khoảng 7% GDP trong những năm gần đây (WB, 2011) Cùng một luật thuế được áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp kể cả trong và ngoài nước
đã cơ bản góp phần tạo môi trường kinh doanh công bằng Tuy nhiên, các quy định
về khấu hao khá phức tạp với 53 loại tài sản cố định có thời gian sử dụng khác nhau
mà nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp phải lựa chọn 1 trong 3 phương pháp khấu hao (phương pháp đường thẳng, số dư giảm dần và phương pháp khấu hao theo lượng
Trang 18sản phẩm) để khấu trừ thuế Điều này dẫn đến làm tăng chí phí và thời gian của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến chi phí quản lý và mức độ tuân thủ của doanh nghiệp nộp thuế Thực tế, nếu chia thành 3 nhóm tài sản theo 3 nhóm phương pháp khấu hao hoặc 1 phương pháp khấu hao đồng nhất cho 4-5 nhóm tài sản thì việc quản lý thuế và tuân thủ thuế sẽ tốt hơn Một số khoản chi trong hoạt động kinh doanh theo luật tại Việt Nam không cho phép khấu trừ như các khoản chi từ phúc lợi và tiền thưởng cho người lao động hoặc các chi phí cho một số hoạt động xúc tiến bán hàng Điều này cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm động cơ tuân thủ thuế của doanh nghiệp
Đối với mức thuế suất, hiện nay tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà có mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp khác nhau Điều này dẫn đến phức tạp hoá công tác quản lý thuế Chẳng hạn doanh nghiệp thông thường chịu mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25% nhưng nhiều khoản mức thuế suất khác dao động từ 32% đến 52% được áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dầu thô, khí đốt và các loại tài nguyên quý hiếm khác Ngoài ra, một số doanh nghiệp được hưởng mức lãi suất ưu đãi từ 10% đến 20%
Ngoài thuế, doanh nghiệp còn chịu nhiều khoản phí và lệ phí có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Theo quy định, việc xác định mức phí và lệ phí phải bảo đảm thời gian thu hồi vốn hợp lý và phù hợp với khả năng thanh toán đối với bên mua Tuy nhiên, theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (2011) cho thấy, không có mối liên hệ nào giữa mức phí và chi phí cung cấp một dịch vụ
cụ thể Một số quy định có chi phí thu và chi phí tuân thủ cao hơn mức thực thu; quá nhiều cách thức để xác định mức phí và lệ phí, chẳng hạn có khoảng 66 loại phí
và lệ phí hải quan và khoảng 200 loại phí, lệ phí cho thử nghiệm thuốc chữa bệnh Việc phức tạp hoá các khoản phí, lệ phí cũng được xem như là một trong những yếu
tố tác động đến việc tuân thủ nộp phí và lệ phí liên quan đến doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những nguồn thu chính của Việt Nam Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp, thuế thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận,
Trang 19lợi tức, thuế thu nhập từ chủ đầu tư Ở Việt Nam, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức
Về cơ sở thuế:
Thuế TNDN chỉ đánh vào các tổ chức sản xuất kinh doanh Cơ sở thuế bao gồm thu nhập từ hoa ̣t động đầu tư vốn thuộc nhiều nguồn khác nhau Có thể có một lỗ hổng về thuế, phần thu nhập từ bán quyền sử du ̣ng đất có thể tránh thuế nếu toàn bộ công ty được bán, và đất đai, lúc đó, được tính là một phần của công ty Cách tốt hơn là đánh thuế giá tri ̣ đất theo cách thông thường
Khấu hao khấu trừ thuế:
Các quy đi ̣nh về khấu hao khá phức ta ̣p với 53 loa ̣i tài sản cố đi ̣nh có thời ha ̣n sử du ̣ng khác nhau mà nhà đầu tư phải xác đi ̣nh và lựa cho ̣n một trong 3 phương pháp khấu hao Nếu nhà đầu tư không bằng lòng với thời ha ̣n mà luật quy đi ̣nh thì
đã có quy đi ̣nh cho phép thỏa thuận với cơ quan thuế Để thực hiện chế độ khấu hao, mỗi tài sản cố đi ̣nh phải được phân loa ̣i, lưu giữ trong hồ sơ riêng và sổ theo dõi tài sản, được đánh số và dán thẻ với số liệu thống kê phù hợp Rõ ràng là tất cả các việc này sẽ làm tăng chi phí quản lý và chi phí tuân thủ Các quy đi ̣nh về khấu hao vẫn có thể được sử dụng như là công cụ ưu đãi thuế đối với một số loa ̣i hình đầu tư cụ thể hoặc đầu tư ở những khu vực đi ̣a lý được chỉ đi ̣nh Chế độ khấu hao nhanh tới gấp 2 lần chế độ thông thường được áp dụng cho các cơ sở kinh doanh hàng hóa,
di ̣ch vu ̣ “có hiệu quả kinh tế cao”
Các khoản không được khấu trừ thuế TNDN:
Một số khoản chi của công ty không được trừ theo luật mặc dù đó là những chi phí kinh doanh hợp pháp được chấp nhận theo thông lệ quốc tế như: các khoản chi phúc lợi và chi tiền thưởng cho người lao động (những khoản tiền thưởng phải chi ̣u thuế TNCN do người lao động trả) Một số khoản chi được quy định trần không phù hợp chi phí cho quảng cáo và các hình thức khuyến ma ̣i khác, kể cả giải trí, và những chi phí đó không được vượt quá 10% tổng chi phí tổng chi phí được trừ Đối
Trang 20với các doanh nghiệp mới thành lập các chi phí này không được vượt quá 15% chi phí được trừ cho 3 năm đầu kể từ khi thành lập
Thuế suất:
Chế độ thuế hiện ta ̣i quy đi ̣nh mức thuế suất thông thường là 25% Mức thuế suất cao hơn từ 32 % đến 50% được áp dụng cho dầu mỏ, khí đốt và các loa ̣i tài nguyên quý, hiếm khác Các mức thuế suất thấp 20% và 10% như là một phần của chế độ ưu đãi thuế TNDN được áp dụng cho hoa ̣t động đầu tư ở các lĩnh vực kinh tế ưu đãi hay khu vực đi ̣a lý được khuyến khích đầu tư Việc áp dụng nhiều mức thuế suất khiến cho công tác quản lý thêm phức ta ̣p;
Mức thuế suất cao hơn áp dụng đối với chi nhánh của các công ty nước ngoài được tán thành do các chi nhánh này chỉ bi ̣ đánh thuế một lần và không có cơ hội nào để áp du ̣ng thuế khấu trừ ta ̣i nguồn thuế TNDN có các hình thức khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực cụ thể, đi ̣a bàn cụ thể, và nếu các hoa ̣t động đầu tư đáp ứng được mốt số tiêu chí xã hội (phụ nữ hoặc người khuyết tật);
Hiện nay, các hình thức ưu đãi thuế còn rất phức ta ̣p và cần được hợp lý hoá hơn nữa Có ba hình thức ưu đãi thuế chính: thuế suất ưu đãi (20, 10%); miễn giảm thuế có thời thời ha ̣n; và chế độ khấu hao nhanh Các tiêu chí chi tiết được quy đi ̣nh cho mỗi loa ̣i, song đôi khi không rõ ràng
Kinh nghiệm thu thuế TNDN ở các quốc gia trên thế giới:
Ở hầu hết các nước phát triển, thu nhập phát sinh từ tất cả các nguồn bao gồm kinh doanh, thương ma ̣i và thu nhập không phát sinh từ hoa ̣t động kinh doanh đều được đưa vào cơ sở thuế Hầu hết các nước đều đánh thuế lợi nhuận thu được từ đầu tư vốn với mức thuế suất thông thường, song một số trường hợp được miễn thuế nếu lợi nhuận từ vốn được tái đầu tư vào kinh doanh Tuỳ thuộc vào các quy đi ̣nh về ha ̣n chế ở một số nước nhằm tránh trốn lậu thuế, mo ̣i chi phí phát sinh toàn bộ hay riêng biệt để ta ̣o ra thu nhập hoặc duy trì tài sản đều được giảm thuế
Tất cả các nước đều có quy đi ̣nh khấu trừ chi phí khấu hao, song cách thức khác nhau Một số phương pháp thông thường như khấu hao theo đường thẳng hay số dư giảm dần được áp dụng Các hình thức ưu đãi thuế nói chung được đưa ra dưới
Trang 21hình thức khấu hao nhanh hơn bình thường Tất cả các nước OECD đều cho phép chuyển lỗ từ 5 năm cho đến thời ha ̣n không xác đi ̣nh, trong khi một số nước khác cho phép chuyển lỗ từ 1 đến 3 năm Các mức thuế suất ở các nước phát triển cũng khác nhau đáng kể (19% ở Canada đến 45% ở Đức) Các mức thuế suất cao nhất đã giảm trong những năm qua dưới sức ép ngày càng tăng do ca ̣nh tranh về thuế Một số nước ASEAN áp dụng nhiều luật thuế và đều có các hình thức ưu đãi thuế khác nhau đối với một số loa ̣i hình đầu tư cụ thể hoặc đầu tư ở một số đi ̣a bàn được khuyến khích đầu tư Các mức thuế suất thông thường cũng rất khác nhau Ví
du ̣, Indonesia áp du ̣ng 3 mức thuế suất là 10, 15, 30%; Malaysia: 28% đối với các công ty thường và 38% đối với các công ty dầu mỏ; Hàn Quốc: 2 mức thuế suất 15
và 25% tuỳ theo thu nhập; Philipin áp du ̣ng mức 32%; Singapore: 26%; và Thái Lan: 30% (WB, 2011)
Thuế thu nhập cá nhân:
Thuế thu nhập cá nhân là lại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của
từng cá nhân, bao gồm các phần thu nhập nhận được hình thành từ nhiều nhóm khác
nhau, như thu nhập từ tiền công tiền lương, từ lúc hình thành đến nay đã có 05 lần sửa đổi, hiện nay thuế TNCN đang áp dụng năm vào ngày 13/6/2001( có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001).Ðối tượng chịu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao bao gồm thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên
Thuế tài nguyên:
Thuế tài nguyên là một khoản thu bắt buộc đối với các tổ chức và cá nhân có hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên không phụ thuộc vào cách thức tổ chức
và hiệu qủa sản xuất kinh doanh của người khai thác
Thuế giá trị gia tăng tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này
Thuế tiêu thụ đặc biệt:
Trang 22Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) là một loại thuế gián thu tính trên giá trị đối với một số mặt hàng nhất định mà doanh nghiệp sản xuất; hoặc thu trên giá nhập khẩu
và thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng mà doanh nghiệp nhập khẩu
Thuế môn bài:
Thuế môn bài là một sắc thuế trực thu và thường đánh vào giấy phép kinh
daonh (môn bài) của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh Thuế môn bài được thu
hàng năm (Nguồn tham khảo: Thông tư 96/2002/TT-BTC ban hành ngày 24/10/2002 và Thông tư 42/2003/TT-BTC ban hành ngày 07/05/2003 của Bộ Tài chính) Mức thu phân theo bậc, dựa vào số vốn đăng ký hoặc daonh thu của năm kinh doanh kế trước hoặc giá trị gia tăng của năm kinh doanh kế trước tùy từng nước và từng địa phương
Thuế bảo vệ môi trường:
Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường
2.1.4 Phân cấp quản lý ngân sách:
Trong nền kinh tề thị trường ngân sách nhà nước trở thành công cụ quan trọng giúp nhà nước điều hành nền kinh tế xã hội Hoạt động của ngân sách nằm trong sự vận động của thị trường Tạo nguồn thu cho ngân sách phải gắn với mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế, các khoản chi của ngân sách phải gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Do đó, việc xác định cơ cấu thu chi của các cấp ngân sách cũng như phương pháp quản lý các cấp ngân sách
là rất cần thiết
Phân định nguồn thu giữa các cấp ngân sách
Có 4 phương pháp thực hiện phân phối nguồn thu giữa các cấp ngân sách:
* Phương pháp thu đủ chi đủ: nội dung của phương pháp này là toàn bộ số thu và
các nhiệm vụ chi của ngân sách đều do ngân sách trung ương đảm nhận Phương pháp này đảm bảo cho trung ương quyền chủ động nhưng hạn chế khả năng sáng tạo của địa phương
Trang 23* Phương pháp khoán gọn: Trung ương giao cho địa phương được thu một số
khoản thu xác định để đảm bảo nhiệm vụ chi cho địa phương Phương pháp này khuyến khích địa phương quan tâm và bồi dưỡng nguồn thu của mình nhưng không chú ý đến nguồn thu của trung ương
* Phương pháp dự phần: Theo phương pháp này ngân sách địa phương được hưởng
một phần từ các khoản thu chung được xác định theo tỷ lệ phần trăm hay còn gọi là
tỷ lệ điều tiết Phương pháp này khuyến khích địa phương quan tâm đến khoản thu nhưng phân định nguồn thu giữa các cấp ngân sách rất phức tạp và hàng năm phải điều chỉnh
* Phương pháp hỗn hợp: Là phương pháp áp dụng hỗn hợp cả ba phương pháp trên,
nguồn thu của ngân sách địa phương bao gồm 3 phần chính: Các khoản thu ổn định, các khoản thu điều tiết và các khoản trợ cấp từ ngân sách trung ương
Theo luật ngân sách Nhà nước 2002 có hiệu lực từ ngày 01/01/2004 và các văn bản hướng dẫn quy định, các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách địa phương và ngân sách Trung ương bao gồm: Thuế GTGT, không kể thuế GTGT hàng nhập khẩu và thuế GTGT thu từ hoạt động xổ số; Thuế TNDN, không kể thuế TNDN của các đơn vị hạch toán toàn ngành và thuế TNDN thu từ hoạt động xổ số ;Thuế đối với người có thu nhâp ̣ cao (nay là TNCN); Thuế TTĐB thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước (không kể thuế TT ĐB thu từ hoạt động xổ số); Phí xăng dầu (từ 1/1/2012 là thuế bảo vệ môi trường) Tỷ lệ phần trăm phân chia các nguồn thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định trong thời gian từ 3 - 5 năm (thời kỳ ổn đin ̣h ngân sách ), được xác đin ̣h trong năm đầu của thời kỳ ổn đin ̣h do Ủy ban Thường vu ̣ Quốc hôi ̣ quyết đin ̣h
Tỷ lệ phần trăm phân chia các nguồn thu có điểm khác biệt giữa Việt Nam và quốc
tế Theo đó, ở Việt Nam tỷ lệ này được áp dụng chung đối với tất cả các khoản thu phân chia và được xác đin ̣h riêng cho từng tỉnh , nghĩa là các khoản thu phân chia được phân chia theo cùng tỷ lệ phần trăm và không có sự phân biệt giữa các sắc thuế
Trang 24Điều này chưa phản ánh được bản chất của các khoản thu ngân sách, do đó đặt
ra 2 vấn đề: Phạm vi phân chia Đối với thuế GTGT (thuế gián thu ), người nôp ̣ thuế trên phạm vi cả nước do thuế GTGT đánh vào hàng tiêu dùng Tuy nhiên, nguồn thu này đang được tính cho đia ̣ phương nơi phát sinh nguồn thu (thường các đia ̣ phương lớn , có nhiều doanh nghiệp đóng trên địa bàn ), do đó các địa phương lớn được hưởng lợi Bên cạnh đó , khi thực hiện hoàn thuế GTGT , có trường hợp doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh đóng thuế GTGT tai ̣ đia ̣ phương A và đia ̣ phương A được hưởng nguồn thu này theo phân cấp , nhưng khoản thuế này có thể được hoàn cho doanh nghiệp mua loaị hàng hóa này tai ̣ đia ̣ phương B khi doanh nghiệp đó đáp ứng đủ điều kiện được hoàn thuế GTGT Thuế TTĐB là khoản thuế gián thu mang tính định hướng tiêu dùng chỉ áp dụng đối với một số hàng hóa, dịch vụ nằm trong danh mục Nhà nước quy định cần điều tiết sản xuất hoặc tiêu dù ng Tuy nhiên hiện nay, thuế TTĐB là nguồn thu phân chia giữa trung ương và đia ̣ phương và được phân chia cho địa phương nơi có tổ chức, cá nhân kinh doanh có tru ̣ sở chính, dẫn đến việc chỉ một số đia ̣ phương có doanh nghiệp đóng trụ sở mới được hưởng nguồn thu từ thuế này và các địa phương khác , mặc dù tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB, nhưng không được phân bổ nguồn thu từ loại thuế này Tỷ lệ phân chia Việt Nam khác với nhiều quốc gia khi áp dụng môt ̣ tỷ lệ phân chia (%)
như nhau giữa các sắc thuế được phân chia
2.2 Tổng quan về lãi suất:
Lãi suất là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp đa dạng và phức tạp.Tính tổng hợp và phức tạp cuả lãi suất xuất phát từ khái niệm: lãi suất không có
gì khác hơn là một giá cả -giá thuê vốn
Đối với nước ta, lãi suất luôn được coi là một trong những vấn đề rất được quan tâm hiện nay Đặc biệt trong thời gian gần đây vấn đề về lãi suất tiền gửi gân hàng được quan tâm rất nhiều Tiền gửi ngân hàng là một trong những nguồn vốn
cơ bản,quan trọng của ngân hàng thương mại Nguồn vốn này chính là nền tảng cho
sự phát triển của ngân hàng, đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng Hiện nay ,hầu hết ngân hàng đều phải đối mặt với sự cạnh
Trang 25tranh thu hút khách hàng về mình trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi Lãi suất tiền gửi có tác động rất nhiều đến hiệu quả của hoạt động huy động tiền gửi Mặt khác lãi suất này có tính quyết định đối với việc mở rộng nguồn vốn vốn,chất lượng của nguồn vốn Chính vì vậy ngân hàng cần có một chính sách về lãi suất tiền gửi phù hợp với một mặt để có thể thu hút và duy trì sự ổn định trong lượng tiền gửi của khách hàng, mặt khác ổn định thu nhập của ngân hàng
Một số vấn đề về lãi suất:
Khái niệm:Khi sử dụng bất kỳ khoản tín dụng nào, người vay cũng phải trả
thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu Tỷ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu
Cách tính lãi suất: Bao gồm lãi suất đơn, lãi suất kép, lãi suất không kỳ hạn,
lãi suất có kỳ hạn, lãi suất trả trước, lãi suất trả cuối kỳ
Lãi suất đơn: Là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suốt kỳ hạn vay Lãi suất thực tế: Là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi
về lạm phát Hay nói cách khác là lãi suất đã trừ đi tỷ lệ lạm phát
Lãi suất cơ bản: Là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định
mức lãi suất kinh doanh của mình Lãi suất cơ bản là lãi suất thấp nhất được các ngân hàng thương mại chủ lực áp dụng đối với các khoản vay dành cho các doanh nghiệp là khách hàng lớn, độ tín nhiệm cao
Lãi suất liên ngân hàng: Các ngân hàng áp dụng cho nhau khi cho vay trên thị
trường liên ngân hàng
Lãi suất chiết khấu:Áp dụng khi ngân hàng thương mại cho khách hàng vay
dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán và thỏa mãn các điều kiện chiết khấu theo qui định Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của giấy tờ có giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng
Lãi suất tiền gửi:Được áp dụng để tính lãi phải trả cho người gửi tiền Lãi
suất tiền gửi có nhiều mức khác nhau phụ thuộc vào thời hạn, qui mô tiền gửi
Trang 26Lãi suất cố định: Là lãi suất được cố định trong suốt thời hạn vay
Lãi suất hoàn vốn: Là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền thu nhập
nhận được trong tương lai từ một khoản đầu tư với giá trị hôm nay
Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào
thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát
Lãi suất tái chiết khấu: Áp dụng khi ngân hàng Trung ương tái cấp vốn cho
các ngân hàng dưới hình thức chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của ngân hàng
Lãi suất tiền vay: Được áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách hàng phải trả
cho ngân hàng Lãi suất tiền vay có sự phân biệt giữa các khoản vay với thời hạn khác nhau, mức rủi ro khác nhau
Lãi suất thả nổi: Lãi suất thả nổi là lãi suất có thể thay đổi theo lãi suất tham
chiếu hoặc theo chỉ số lạm phát, nó không cố định trong suốt thời hạn vay
Lãi suất kép: Là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được
trong thời hạn sử dụng tiền vay Lãi của kỳ trước được nhập vào gốc để tính lãi cho
kỳ sau
2.3 Lược khảo tài liệu và nghiên cứu trước:
Việc tuân thủ thuế của các đối tượng nộp thuế có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện các chính sách thuế, đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của các chính sách thuế Do vậy, hiện nay có khá nhiều các nghiên cứu khác nhau có liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế
Một trong các nghiên cứu gần đây nhất đó là nghiên cứu của Phan Thị Mỹ Dung (2015) về phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Để thu thập số liệu, tác giả đã sử dụng phương pháp hỗn hợp 2 giai đoạn gồm phỏng vấn sâu 20 chuyên gia theo phương pháp Delphi để khám phá các chủ
đề nghiên cứu trong giai đoạn 1 và phân tích định lượng dựa trên khảo sát 474 người thuộc các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp trong
Trang 27giai đoạn 2 Phương pháp phân tích các nhân tố khám phá (EFA – Exploratory Factor Analysis) và sử dụng phương pháp Cronbach’s Alpha để đánh giá thang đo của 7 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp gồm: Ngành nghề kinh doanh, chất lượng dịch vụ thuế, các yếu tố về kinh tế, các yếu tố về kinh
tế, chất lượng quản trị công, chuẩn mực xã hội, cấu trúc hệ thống thuế Kết quả phân tích cho thấy 7 yếu tố này đều có ảnh hưởng đồng biến với việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp gồm: tuân thủ các chính sách thuế, tuân thủ các quy định về quản
lý thuế, tuân thủ các nghĩa vụ thuế, tuân thủ các quy định về thuế Trong các nhân tố tác động đến việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp, nhân tố về kinh tế gồm: lãi suất (ngân hàng, thị trường), lạm phát của nền kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế, chi phí tuân thủ thuế (thời gian và tiền bạc), nguồn hỗ trợ tài chính cũng tác động cùng chiều với việc tuân thủ thuế Điều này phù hợp với giả thuyết nêu trên của đề tài liên quan đến yếu tố lãi suất ảnh hưởng đến việc tuân thủ nộp thuế của doanh nghiệp
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân (2012) là một cách tiếp cận khác đối với việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM Tác giả Minh Hà và Hoàng Quân sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên số liệu khảo sát của 170 doanh nghiệp tư nhân hiện đang hoạt động trên địa bàn TPHCM Khác với cách tiếp cận của tác giả Phan Thị Mỹ Dung (2015), tác giả Minh Hà giới hạn chỉ xét hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp thông qua việc nộp thuế đúng hạn thông qua mô hình hồi quy Binary Logistic với các biến phụ thuộc gồm: doanh thu, lợi nhuận trước thuế, tài sản, nợ, tổng nguồn vốn, ROE, ROA, ROS, thuế, ngành nghề, độ tuổi chủ doanh nghiệp, giới tính chủ doanh nghiệp, tôn giáo, trình độ học vấn, kinh nghiệm quản lý và số lao động hiện đang sử dụng tại doanh nghiệp Tuy nhiên, kết quả hồi quy cho thấy chỉ có 4/16 biến độc lập
có tác động nghịch biến đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM gồm: lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp, tổng thuế, ngành nghề và giới tính của chủ doanh nghiệp (nữ doanh nhân có xu hướng nộp thuế đúng hạn hơn nam doanh nhân)
Trang 28Mặc dù đối tượng nghiên cứu không phải là doanh nghiệp nhưng cách tiếp cận của tác giả Bùi Thị Thuý Bình (2015) được xem như là phương pháp tiếp cận mới trong việc đánh giá hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) ở Việt Nam Tác giả tiếp cận hành vi tuân thủ thuế dựa trên các yếu tố tác động đến động cơ của các cá nhân trong mẫu nghiên cứu ở Việt Nam có so sánh với Hoa Kỳ Thông qua
mô hình Probit với bộ số liệu khảo sát từ 306 cá nhân, trong đó có 66 người đã từng hoặc đang sinh sống ở Hoa Kỳ để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ tuân thủ thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam Tác giả phân tích 4 biến độc lập gồm: biến doanh nghiệp FDI, thu nhập, trình độ học vấn và nghề nghiệp của các đối tượng được phỏng vấn Kết quả hồi quy cho thấy chỉ có các đối tượng làm việc trong các
tổ chức FDI và có thu nhập cao có ảnh hưởng đồng biến đến việc tuân thủ thuế thu nhập với mức ý nghĩa thống kê cao
Theo nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm của Allingham và Sandmo, 1972 đã báo cáo rằng hành vi tuân thủ thuế là phức tạp như cá tính của người đóng thuế Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thực hiện, bắt đầu từ những yếu tố quyết định tâm
lý xã hội (thái độ, định mức, công bằng, tư thế động lực), yếu tố quyết định chính trị (độ phức tạp của hệ thống luật và thuế, chính sách tài chính), để những người kinh
tế (xác suất kiểm toán, tiền phạt , thuế suất, thu nhập) Trọng tâm của đã thể hiện 3 biến dẫn đến hành vi tuân thủ nộp thuế là sự răn đe trừng phạt, vốn chủ sở hữu thuế, công bằng và đạo đức thuế đã
Các nghiên cứu năm 1990 và năm 2000 về mô hình ngăn chặn kinh tế bao gồm: Tính phức tạp của hệ thống thuế, mức độ dịch vụ thông tin, khấu trừ và thông tin báo cáo, trách nhiệm và hình phạt, xác suất, mức độ thực tế của thuế suất và hình phạt cho việc không tuân thủ Falkinger và Walther xem yếu tố mang tính trừng phạt và được coi là yếu tố có sức thuyết phục thông qua việc kết hợp cả hai hình phạt và phần thưởng là hiệu quả hơn trong việc tối đa hóa tuân thủ hơn là một
hệ thống mà chỉ tập trung vào biện pháp trừng phạt
Mô hình tài chính và xã hội Tâm lý học Models được nghiên cứu thái độ, niềm tin của người nộp thuế ảnh hưởng đến việc nộp thuế các biến đã thay đổi từ chuẩn
Trang 29mực xã hội và đặc điểm cá nhân để nhận thức sự công bằng và giáo dục đối tượng nộp thuế và nhận thức
Mô hình tâm lý tài chính của việc tuân thủ thuế được phát triển bởi Strumpel trong năm 1960, khẳng định rằng việc thực thi cứng của cơ quan thuế có thể làm giảm mức độ của người nộp thuế về việc tuân thủ pháp luật về thuế Hai biến chính trong mô hình tuân thủ thuế bao gồm, các biện pháp số tiền xử phạt thuế, chịu ảnh hưởng bởi tỷ lệ thuế, số tiền phạt và biến số kinh tế khác mà hành động như răn đe Thứ hai là quá trình đánh giá và mức độ "quan liêu"khi người nộp thuế tham gia giao dịch với cơ quan thuế và, có sẳn sàng hợp tác,có liên quan đến thái độ đến hành vi tuân thủ thuế
2.4 Khung phân tích về thuế và lãi suất:
2.4.1 Tổng quan về thuế:
Phan Hiển Minh và cộng sự (2001) thì đều thống nhất rằng: thuế là một khoản đóng góp bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy đi ̣nh thông qua hệ thống pháp luật Sự ra đời của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của nhà nước
Khi xã hội còn tồn ta ̣i những mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp thì thuế còn được nhà nước (người đa ̣i diện của giai cấp thống tri ̣) sử dụng để đảm bảo các chức năng của nhà nước (phục vụ cho giai cấp thống tri ̣) Như vậy, bản chất của thuế là sự cưỡng chế nguồn tài chính từ người dân được thực hiện bởi nhà nước Phan Hiển Minh và cộng sự (2001) cũng cho rằng khó mà tìm được sự khác biệt đáng kể về tính cưỡng chế của thuế giữa các khái niệm về thuế của từng nhà kinh tế
Có hai đặc tính cơ bản của thuế đó là: tính cưỡng chế và luôn có khoảng cách giữa mức nộp thuế và lợi ích nhận được từ thuế
Tính cưỡng chế là đặc tính cơ bản nhất của thuế Trong lịch sử, mo ̣i nỗ lực
nhằm hướng tới một hệ thống thuế có tính chất “tự nguyện” đều nhanh chóng bi ̣ đổ vỡ Các nhà đảo chính trong khi thực hiện các cuộc lật đổ chính quyền cũ đều lấy lòng nhân dân bằng cách hứa he ̣n sẽ xây dựng một hệ thống thuế có tính chất tự
Trang 30nguyện Nhưng khi đã nắm được chính quyền thi ̣ ho ̣ la ̣i phải tái khẳng đi ̣nh la ̣i tính cưỡng chế của thuế khoá (thông qua những đi ̣nh chế pháp luật)
Ta ̣i sao thuế la ̣i có tính cưỡng chế ? Câu trả lời rất đơn giản: không ai muốn nộp thuế dù cho ho ̣ có rất nhiều tiền đi chăng nữa Trong khi đó bất cứ nhà nước nào cũng phải cần có ngân sách để tối thiểu là duy trì bộ máy hoa ̣t động của bản thân nhà nước Tính “cưỡng chế”, do đó, trở thành điều kiện cần và đủ của bất kỳ hệ thống nào trên thế giới Phan Hiển Minh và cộng sự (2001) còn cho rằng, không chỉ các nhà kinh tế ho ̣c tư sản mà ngay cả K Marx cũng phải thừa nhận rằng: thuế là
“nghĩa vu ̣ cần thiết để nuôi dưỡng nhà nước pháp quyền, thuế là nguồn sống đối với nhà nước hành pháp Chính phủ ma ̣nh và thuế cao là hai khái niệm đồng nhất.”
Luôn có khoảng cách giữa mức nộp thuế và lợi ích nhận được từ thuế là đặc
tính cơ bản thứ hai của thuế Xét cho cùng thì việc nộp thuế là tập trung một phần nguồn lực vào tay nhà nước để sau đó chúng được chi tiêu vào các hoa ̣t động công ích (nói cách khác là để tài trợ cho hàng hóa công cộng) Một mặt, mo ̣i người đều nhận được hàng hóa công cộng như nhau (không có sự đi ̣nh suất, hoặc sự đi ̣nh suất
là vô ích), nhưng mặt khác, khối lượng thuế phải nộp của những người khác nhau là không giống nhau Mo ̣i người đều sử dụng chung một hệ thống an sinh xã hội và cùng một hệ thống giao thông nhưng người giàu hơn la ̣i phải nộp thuế nhiều hơn Điều này ta ̣o nên sự khác biệt giữa thuế và giá cả hàng hoá tư Trong khi việc nộp thuế được xem như một nghĩa vụ bắt buộc và các lợi ích mà người nộp thuế nhận được từ nhà nước không liên quan gì đến mức thuế đã chi trả, thì việc trả tiền để nhận được một món hàng hoặc di ̣ch vụ (qua giá) hoàn toàn mang tính chất tự nguyện và thường có sự tương xứng về mặt giá tri ̣ Kết quả là thuế thường được xem nặng nề hơn là mức giá chi trả cho một món hàng cho dù người nộp thuế có tán thành các chi tiêu của nhà nước hay không
Các yếu tố quyết định sự tuân thủ thuế: Allingham và Sandmo (1972),
Srinivasan (1972), Yitzhaki (1974), và sau đó Erard và Feinstein (1994), Slemrod et
al (2001), Anderhub et al (2001) tập trung vào ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế (thuế suất, tỷ lệ kiểm toán, thu nhập, hình phạt) về hành vi tuân thủ Feld và Frey
Trang 31(2002) tập trung vào vai trò của niềm tin như một hợp đồng tâm lý giữa người nộp thuế và cơ quan thuế Niềm tin là một lần nữa các điểm trung tâm trong Scholtz và Lubell (1998) Điều đó cho thấy rằng nó làm tăng sự tuân thủ thuế hơn trừng phạt hay nghĩa vụ công dân Braithwaite (2003) đã nhận diện năm tư thế động lực (cam kết, đầu hàng, sức đề kháng, buông tha, chơi trò chơi-) mà hình dạng hành vi tuân thủ thuế Torgler (2005) hoặc Trivedi et al (2004) ủng hộ ý tưởng rằng tinh thần thuế, tức là, động lực nội tại để nộp thuế, đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao mức độ tuân thủ thuế
Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người cao trình độ học vấn hiểu rõ hơn ý nghĩa của các khoản nợ thuế và các mục tiêu của chính sách chính phủ và, như một hệ quả, họ tuân thủ nhiều hơn (Schmolders, 1960; Song và Yarbrough, 1978; Spicer và Lundstedt, 1976)
Sự thiếu hiểu biết pháp luật về thuế sanh ra không tin tưởng và không tuân thủ Bên cạnh đó một số nghiên cứu cho thấy sự phức tạp của pháp luật về thuế tạo
ra sự không chắc chắn trong tâm trí của người nộp thuế, do đó nâng cao mức độ tuân thủ thuế Beck et al (1991) báo cáo rằng sự gia tăng cùng với sự không chắc chắn phù hợp thu nhập Hơn nữa, Snow và Warren (2005) kết luận rằng mức độ tuân thủ tăng khi người nộp thuế không chắc chắn, sự không chắc chắn của pháp luật về thuế do nhiều thay đổi tạo ra chính nó là một thiếu chắc chắn trong các hành
vi nộp hồ sơ và trừng phạt ác cảm
2.4.2 Khung phân tích về lãi suất:
Mối quan hệ lãi suất với cầu tiền: Tiền là một loại tài sản có tính thanh khoản
cao, nên nhu cầu nắm giữ tiền chi tiêu và tích lũy tài sản cao.Nhu cầu nắm giữ tiền trong đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó lãi suất Lãi suất là chi phí cơ hội cho việc giữ tiền, vì vậy khi lãi suất tăng người ta ít có ý muốn nắm giữ tiền, mà người
ta sẽ gửi tiết kiệm, chứng khoán Cầu tiền nghịch biến với lãi suất
Vai trò của lãi suất: Lãi suất là công cụ kích thích lợi ích vật chất để thu hút
các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội tập trung vào quỹ tín dụng Lãi suất là công cụ
để đo lường "sức khỏe" của nền kinh tế Người ta có thể căn cứ vào sự biến động
Trang 32của lãi suất để dự báo các yếu tố khác của nền kinh tế như: tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính, mức thiếu hụt ngân sách Các yếu tố này hợp thành chỉ tiêu trừu tượng "sức khỏe" của nền kinh tế Người ta có thể dựa vào lãi suất trong một thời kỳ để dự báo tình hình kinh tế trong tương lai Trên cơ sở đó các doanh nghiệp lập kế hoạch chi tiêu trong tương lai của họ, đầu tư, nộp thuế, đi vay, hoặc cho vạy
Lãi suất với quá trình đầu tư và nộp thuế của doanh nghiệp: Quá trình đầu tư
của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực hiện khi mà họ dự tính lợi nhuận thu được từ tài sản cố định này nhiều hơn số lãi phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư Do đó khi lãi suất xuống thấp các nhà kinh doanh có điều kiện tiến hành mở rộng đâu tư và ngược lại Trong môi trường tiền tệ hoàn chỉnh, ngay cả khi một doanh nghiệp thừa vốn thì chi tiêu đầu tư có kế hoạch vẫn bị ảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay cho việc đầu tư vào mở rộng sản xuất doanh nghiệp có thể mua chứng khoán hay gửi vào ngân hàng nếu lãi suât của nó cao
Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá ứ đọng và xuống giá,
có dấu hiệu thừa vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ lãi suất vì nguyên tắc cơ bản là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của đầu tư, sự chênh lệch này sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô đầu tư
Mức lãi suất có lẽ là yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng nhất cần xem xét trong phân tích đầu tư Cầu vốn từ các doanh nghiệp dùng để tài trợ cho đầu tư vật chất vào nhà máy, thiết bị, và hàng tồn kho
Lãi suất cao làm giảm giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai, qua đó làm giảm sức thu hút của các cơ hội đầu tư Vì lý do này, lãi suất thực là yếu tố then chốt quyết định chi phí đầu tư kinh doanh
Ngày nay, sự cạnh tranh trên thị trường rất mạnh mẽ, về khách hàng, sản phẩm… để làm được điều đó doanh nghiệp càng có nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh, hay việc sử dụng tuyệt đối cho nguồn tiền mang lại giá trị Để sử dụng dòng vốn của mình có hiệu quả doanh nghiệp tính cách nào tăng được thu nhập cho mình, và việc sử dụng nợ để đem lại lợi ích từ thuế cũng không thể loại trừ
Trang 33Chính vì vậy nếu lãi suất tăng, doanh nghiệp không đi vay nợ hoặc không rút tiền gửi, hoặc đem tiền đi gửi tiết kiệm, mà không hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của mình vì phần lãi suất đem về sẽ cao hơn tỷ lệ phạt chậm nộp để nộp thuế để hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình, hoặc doanh nghiệp sử dụng tiền thuế phải nộp vào tái đầu tư, kinh doanh mà không đi vay
Nếu lãi suất giảm, doanh nghiệp có thể đi vay tiền để kinh doanh, hoặc rút tiền gửi tiết kiệm, không gửi tiết kiệm, ngoài ra có thể đi vay tiền để nộp thuế, vì lãi suất vay có thể thấp hơn tỷ lệ phạt chậm nộp, hoặc sử dụng tiền thuế đã thu hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình
Một số tài liệu nghiên cứu trước: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
lượng vốn vay của tác giả Lê Minh Tiến Nội dung chính là nghiên cứu nhu cầu vốn vay Nghiên cứu Đỗ Thiên Anh Tuấn về lãi suất và tầm vĩ mô Nghiên cứu tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh về lãi suất và đầu tư Nghiên cứu về các tố ảnh hưởng đến lãi suất của Nguyễn Thị Thu Phương
Trang 34TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương này đề cập đến tầm quan trọng của việc tuân thủ thuế của người nộp thuế có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện các chính sách thuế, đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của các chính sách thuế
Phần này, tác giả cũng đã tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ nộp thuế, đề xuất và chọn lọc khung phân tích phù hợp để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu
Trang 35CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mức độ tuân thủ và nguyên nhân thất thoát nguồn thu:
Mức độ tuân thủ thuế được hiểu là tỷ lệ giữa số tiền thuế thực thu với số tiền thuế có thể thu được tiềm năng (WB, 2011) Ngược lại, tỷ lệ không tuân thủ hay mức độ thất thoát nguồn thu thuế được tính bằng 1 trừ đi mức độ tuân thủ thuế Tuy nhiên, vệc xác định nguồn thu thuế tiềm năng vẫn còn nhiều tranh cãi OECD (2001) đặt vấn đề tuân thủ thuế có phải là cách người ta diễn giải luật thuế và cách
áp dụng luật của cơ quan thuế hay theo cách hiểu của người nộp thuế và áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể? Mặc dù trên thực tế có nhiều cách định nghĩa và nhiều tranh cãi về mức độ tuân thủ thuế (hoặc không tuân thủ thuế) nhưng nguyên nhân dẫn đến sự không tuân thủ và lý do dẫn đến thất thu thuế có nhiều điểm chung
về mặt lý thuyết
Nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế:
Hai nguyên nhân quan tro ̣ng nhất của việc không tuân thủ và làm thất thoát nguồn thu là trốn thuế và tránh thuế Các hành vi này của người nộp thuế la ̣i chi ̣u ảnh hưởng của nhiều yếu tố, cả nguyên nhân chủ quan (chính sách thuế, năng lực của cơ quan thuế, tính hiệu quả và liêm chính, và chi phí tuân thủ), lẫn nguyên nhân khách quan (hệ thống khiếu na ̣i, trách nhiệm giải trình trong chi tiêu công, tham nhũng, và quy mô của nền kinh tế phi chính thức) Hình 3.3 là khung lý thuyết để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc không tuân thủ thuế
Về mặt lý thuyết, việc trốn và tránh thuế là khác nhau, nhưng cả hai đều dẫn đến việc thất thoát nguồn thu Những người nộp thuế được coi là trốn thuế khi ho ̣ sử
du ̣ng những cách thức phi pháp để trốn nộp đầy đủ số nghĩa vu ̣ thuế của mình Những kẻ trốn thuế sẽ không khai báo, hoặc khai thiếu thu nhập, doanh thu, hay tài sản của ho ̣, trong khi ho ̣ la ̣i cố gắng khai quá lên những khoản chi tiêu được khấu trừ Còn trong trường hợp tránh thuế, người nộp thuế la ̣m dụng những kẽ hở trong chế độ thuế hiện hành để giảm nghĩa vu ̣ thuế (WB, 2011)
Trang 36Hình 3.1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế
Nguồn: World Bank (2011)
Hiển nhiên việc không tuân thủ hay sự thất thoát nguồn thu có tác ha ̣i nghiêm tro ̣ng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Nó ta ̣o ra thêm nhiều trở nga ̣i tài khoá cho các quốc gia và đem la ̣i ít nguồn lực hơn để các quốc gia đó có thể đa ̣t được các mục tiêu phát triển của ho ̣ thông qua chi tiêu công và đầu tư công Bên
ca ̣nh việc mất nguồn thu, hệ thống thuế có nguy cơ trở nên bi ̣ bóp méo nhiều hơn nữa, với cấu trúc thu nội đi ̣a kém bình đẳng hơn (IMF, 2000) Ngược la ̣i, mức độ tuân thủ cao hơn hay giảm thất thoát sẽ có tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất của thuế Nó cho phép các nước thu được một số thuế nhất đi ̣nh mà không cần phải thường xuyên thay đổi chế độ thuế (thường là nâng thuế suất hay đưa vào áp
du ̣ng những sắc thuế mới, hay những khoản phí, lệ phí mới) Một chế độ thuế tương đối ổn đi ̣nh và toàn diện với mức thuế suất thấp sẽ góp phần làm giảm sự không chắc chắn đối với các doanh nghiệp (rủi ro thấp hơn trong kinh doanh, và do đó giảm rào cản thuế đối với các khoản đầu tư), và làm cho cơ quan quản lý thuế hoa ̣t động hiệu quả và hiệu suất hơn Ngoài ra, mức độ tuân thủ thuế còn có mối tương quan chặt chẽ với trách nhiệm giải trình và quản lý nhà nước
Trang 373.2 Số liệu và phương pháp nghiên cứu:
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định lượng và thống kê mô tả
để tìm kiếm và phát hiện các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp thông qua số thuế chậm nộp theo thời gian từ 2010 đến 2014 Đồng thời kiểm định gỉa thuyết cho rằng việc thay đổi lãi suất của hệ thống ngân hàng thương mại có tác động đến hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
3.2.3 Mô hình phân tích:
Đề tài sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính ANOVA hai chiều với biến độc lập
là định tính Trong đó biến phụ thuộc định lượng (Y) là số nợ quá hạn và biến độc lập định tính là lãi suất và loại hình doanh nghiệp Định nghĩa các biến Dummy cho thuộc tính lãi suất và loại hình doanh nghiệp như sau:
Bảng 3.1 Mã Dummy cho loại hình doanh nghiệp và lãi suất
Ngành Định tính F (biến thừa) Lãi suất Định tính
Trang 383.3 Mô hình nghiên cứu:
3.3.1 Mô hình nghiên cứu:
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu
3.3.2 Các giả thuyết nghiên cứu:
Như đã đề cập ở trên, có sự tác động ngược chiều của lãi suất đến việc tuân thủ thuế của các doanh nghiệp Chúng ta sẽ xem xét sự tác động của từng loại lãi suất đến từng biến thành phần của việc tuân thủ thuế trong nghiên cứu này Giả thuyết được đặt ra như dưới đây:
- H1-1: Lãi suất huy động ảnh hưởng ngược chiều đến tiền thuế nợ đã thu đúng hạn
- H1-2: Lãi suất huy động ảnh hưởng ngược chiều đến tiền thuế nợ đã thu từ 1 đến 30 ngày
Trang 39- H1-3: Lãi suất huy động ảnh hưởng ngược chiều đến tiền thuế nợ đã thu từ
31 đến 90 ngày
- H1-4: Lãi suất huy động ảnh hưởng ngược chiều đến tiền thuế nợ đã thu trên
90 ngày
Trong thực tế, các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau sẽ có mức
độ nợ thuế khác nhau Chúng ta sẽ xem xét sự khác biệt về việc tuân thủ thuế của các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau Các giả thuyết nghiên cứu được đặt ra như dưới đây:
- H2-1: Có sự khác biệt về tiền thuế nợ đã thu đúng hạn của các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau
- H2-2: Có sự khác biệt về tiền thuế nợ đã thu từ 1 đến 90 ngày của các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau
- H2-3: Có sự khác biệt về tiền thuế nợ đã thu trên 90 ngày của các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau
Sự tác động của lãi suất đối với tiền thuế đã thu :
Khi lãi suất vay tăng, tỷ lệ số tiền nộp thuế giảm, quan hệ nghịch biến
Khi lãi suất giảm, tỷ lệ số tiền nộp thuế tăng, quan hệ nghịch biến
Nếu lãi suất gửi tăng, tỷ lệ số tiền nộp thuế giảm, quan hệ nghịch biến
Nếu lãi suất tiền gửi giảm, tỷ lệ số tiền nộp thuế tăng, quan hệ đồng biến
3.4 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu định lượng là nghiên cứu liên quan đến các quy trình có tính hệ thống cao hơn nhằm có được và phân tích các dữ liệu dưới dạng các con số
Nghiên cứu định lượng là việc thu thập, phân tích thông tin trên cơ sở các số liệu thu được từ lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi của một số ngân hàng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, đồng thời thu thập chi tiết các doanh nghiệp nợ thuế, nộp thuế biến động trong tháng Mục đích của việc nghiên cứu định lượng là đưa ra các kết luận về nghiên cứu lãi suất và nợ thuế thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê để xử lý dữ liệu và số liệu Nội dung của phân tích định lượng là thu thập
Trang 40số liệu, xử lý các số liệu này thông qua các phương pháp thống kế thông thường,
mô phỏng hoặc chạy các phần mềm xử lý dữ liệu và đưa ra các kết luận chính xác Ngoài ra, báo cáo còn sử dụng phương pháp tổng hợp và so sánh để có thể đưa
ra những kết luận chính xác hơn về vấn đề nghiên cứu
3.5 Đo lươ ̀ ng các biến:
3.5.1 La ̃i suất:
Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay, vốn gửi trong một khoảng thời gian nhất định như ngày, tuần, tháng hay năm Đây là một loại giá cả đặc biệt được hình thành trên cơ sở giá trị sử dụng chứ không phải trên cơ sở giá trị Lãi suất không được biểu diễn dưới dạng số tuyệt đối mà dưới dạng tỷ lệ phần trăm (%), phần trăm tính trên số tiền của hợp đồng tín dụng mà người nhận trong khoản thời gian tín dụng phải trả cho người cấp tín dụng, bao gồm lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay, thông thường lãi suất được niêm yết %/ năm
Lãi suất vay:
Lãi suất cho vay: lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng (là người
cho vay), bao gồm nhiều loại lãi suất như: lãi suất ngắn hạn ( lãi suất ngày, tuần, tháng, quý, năm), lãi suất trung hạn, lãi suất dài hạn
Lãi suất tiền vay ngắn hạn: thời gian cho vay từ 1 đến 12 tháng được sử dụng
để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
Lãi suất tiền vay trung hạn: Có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm Tín dụng
trung hạn dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất
Lãi suất tiền vay dài hạn: Có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên
đến 20 - 30 năm, cá biệt lên tới 40 năm Tín dụng dài hạn dùng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, phương tiện vận tải có quy mô lớn
Do sự đa dạng của lãi suất, nên trong luận văn chỉ nghiên cứu lãi suất ngắn hạn lãi suất ngày, tuần, tháng, quý, năm, chia thành 3 nhóm tương ứng với hạn nộp