LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Ảnh hưởng của quản trị công ty đến chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng kh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG THỊ KIM THỦY
ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG
KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG THỊ KIM THỦY
ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG
KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN VĂN TÙNG
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Ảnh hưởng của quản trị công ty đến chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi
Những thông tin và tài liệu sử dụng được chỉ rõ nguồn trích dẫn trong danh mục tài liệu tham khảo Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay và tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực của luận văn
TP.HCM, ngày ….tháng… năm 2016
Tác giả
Trương Thị Kim Thủy
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
DANH MỤC PHỤ LỤC
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Đóng góp của luận văn 4
1.7 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý thuyết 5
2.1.1 Các lý thuyết nền được sử dụng nhằm xác định các nhân tố thuộc cơ chế QTCT có ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC 5
2.1.1.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 5
2.1.1.2 Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric information) 6
2.1.1.3 Lý thuyết thông tin hữu ích (Decision usefulness theory) 7
2.1.1.4 Vận dụng các lý thuyết vào nội dung nghiên cứu 7
Trang 52.2 Cơ sở lý thuyết về quản trị công ty 8
2.2.1 Khái niệm quản trị công ty 8
2.2.2 Phân biệt quản trị công ty và quản lý công ty 9
2.2.3 Nguyên tắc cơ bản của quản trị công ty 10
2.2.4 Khuôn khổ pháp lý về quản trị công ty tại Việt Nam 11
2.3 Chất lượng thông tin kế toán 13
2.3.1 Chất lượng thông tin 13
2.3.2 Thông tin kế toán 14
2.3.3 Chất lượng thông tin kế toán 15
2.3.3.1 Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính quốc tế 16
2.3.3.2 Quan điểm hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ 17
2.3.3.3 Quan điểm hội tụ IASB – FASB 18
2.3.3.4 Quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam 18
2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước 20
2.4.1 Nghiên cứu về CLTTKT trên BCTC 20
2.4.2 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC 26
2.4.3 Nghiên cứu về ảnh hưởng của QTCT đến CLTTKT trên BCTC 30
2.5 Nhận xét về các nghiên cứu trước và xác định vấn đề cần nghiên cứu 37
2.5.1 Nhận xét các công trình nghiên cứu nước ngoài 37
2.5.2 Nhận xét các công trình nghiên cứu trong nước 38
2.5.3 Xác định khe hổng nghiên cứu 38
2.6 Các đặc điểm thuộc cơ chế QTCT ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC 39 2.6.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu về sự tác động của QTCT đến CLTTKT 39 2.6.2 Nhận diện các nhân tố thuộc QTCT ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC 39
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 Phương pháp nghiên cứu 42
3.1.1 Khung nghiên cứu 42
3.1.2 Nghiên cứu sơ bộ bằng phương pháp định tính 43
3.1.3 Nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng 45
Trang 63.2 Thiết kế nghiên cứu 45
3.2.1 Phương pháp đo lường CLTTKT trên BCTC 45
3.2.2 Xây dựng giả thuyết về các nhân tố thuộc QTCT ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC của các DN niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM 47 3.2.2.1 Việc kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch HĐQT và CEO 47
3.2.2.2 Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập 48
3.2.2.3 Quy mô HĐQT 49
3.2.2.4 Tỷ lệ thành viên ban kiểm soát có chuyên môn về kế toán 50
3.2.2.5 Tỷ lệ cổ phần của ban giám đốc 51
3.2.2.6 Tỷ lệ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài 52
3.2.2.7 Tỷ lệ sở hữu cổ phần của Nhà nước 52
3.2.2.8 Các biến kiểm soát 53
3.2.3 Mô hình hồi quy các nhân tố thuộc QTCT đến CLTTKT trên BCTC 54 3.3 Quy trình chọn mẫu nghiên cứu 56
3.4 Thu thập dữ liệu 58
3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 59
3.5.1 Thống kê mô tả 59
3.5.2 Phân tích hồi quy đa biến 59
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 64
4.1 Kết quả hồi quy mô hình đo lường chất lượng thông tin kế toán 64
4.2 Phân tích ảnh hưởng của QTCT đến CLTTKT trên BCTC 65
4.2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 65
4.2.2 Phân tích thống kê mô tả đặc điểm của mẫu nghiên cứu 66
4.2.3 Phân tích hồi quy 68
4.2.3.1 Lựa chọn mô hình thích hợp cho phân tích hồi quy 68
4.2.3.2 Kiểm định vi phạm giả thiết hồi quy 70
4.2.3.3 Kiểm định hệ số hồi quy 72
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Kiến nghị 79
Trang 75.2.1 Một số kiến nghị nhằm cải thiện tình hình QTCT qua đó nâng cao
CLTTKT trên BCTC đối với các DN niêm yết 79
5.2.2 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp niêm yết 81
5.3 Những hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu trong tương lai 81
5.3.1 Hạn chế của luận văn 81
5.3.2 Hướng nghiên cứu trong tương lai 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8TIẾNG NƯỚC NGOÀI
Viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
FASB Financial Accounting Standard
OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
ROA Return On Assets Tỷ suất lợi nhuận ròng trên
tổng tài sản
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các bộ luật và quy định chính ảnh hưởng đến QTCT 12
Bảng 2.2 Các thuộc tính chất lượng thông tin 13
Bảng 3.1 Mô tả cách đo lường các biến nghiên cứu 55
Bảng 4.1 Kết quả hồi quy mô hình (1) theo các phương pháp 64
Bảng 4.2 Thống kê mẫu nghiên cứu theo ngành 65
Bảng 4.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 66
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy mô hình (2) theo các phương pháp 69
Bảng 4.5 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 71
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định hệ số hồi quy theo mô hình FEM 72
SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1: Khung nghiên cứu của luận văn 42
HÌNH VẼ Hình 2.1 Quan hệ kiểm soát quản trị 6
Hình 2.2 Hệ thống QTCT 9
Hình 2.3 Sự khác biệt giữa QTCT và quản lý công ty 10
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu 44
Trang 10DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 01: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính liên quan đến luận văn Phụ lục 02: Danh sách chuyên gia
Phụ lục 03: Phiếu phỏng vấn chuyên gia
Phụ lục 04: Danh sách 101 DN niêm yết trong mẫu nghiên cứu
Phụ lục 05: Dữ liệu các biến trong mô hình nghiên cứu
Phụ lục 06: Kết quả hồi quy mô hình (1) theo Pooled OLS
Phụ lục 07: Kết quả hồi quy mô hình (1) theo mô hình FEM
Phụ lục 08: Kết quả hồi quy mô hình (1) theo mô hình REM
Phụ lục 09: Kết quả kiểm định Likelihood giai đoạn 1
Phụ lục 10: Kết quả kiểm định Hausman giai đoạn 1
Phụ lục 11: Kết quả thống kê mô tả các biến nghiên cứu
Phụ lục 12: Kết quả hồi quy mô hình (2) theo Pooled OLS
Phụ lục 13: Kết quả hồi quy mô hình (2) theo mô hình FEM
Phụ lục 14: Kết quả hồi quy mô hình (2) theo mô hình REM
Phụ lục 15: Kiểm định Likelihood giai đoạn 2
Phụ lục 16: Kiểm định Hausman giai đoạn 2
Phụ lục 17: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu Phụ lục 18: Kiểm định phương sai sai số thay đổi (kiểm định Wald) Phụ lục 19: Kiểm định tự tương quan (kiểm định Wooldridge)
Phụ lục 20: Kết quả hồi quy mô hình FEM theo phương pháp GLS
Trang 11TÓM TẮT
Luận văn tìm hiểu ảnh hưởng của cơ chế quản trị công ty đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM Với dữ liệu được thu thập từ 101 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM giai đoạn 2010 – 2014, tác giả đã sử dụng mô hình chất lượng dồn tích của Kothari và cộng sự (2005) nhằm đo lường chất lượng thông tin kế toán trên BCTC như nghiên cứu của Ran và cộng sự (2015) Luận văn đã tìm thấy mối tương quan thuận giữa tỷ lệ sở hữu cổ phần của ban giám đốc và chất lượng thông tin kế toán trên BCTC; mối tương quan nghịch giữa việc kiêm nhiệm đồng thời hai chức danh chủ tịch HĐQT - tổng giám đốc điều hành, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập và chất lượng thông tin kế toán trên BCTC Ngoài ra, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản
và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cũng có mối tương quan nghịch với chất lượng thông tin kế toán trên BCTC
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin kế toán có vai trò hết sức quan trọng đối với công tác quản lý ở cấp
độ vi mô cũng như ở cấp độ vĩ mô Nó cung cấp thông tin cho các cấp quản lý, HĐQT, các cơ quản quản lý Nhà nước, chủ nợ, khách hàng và là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp Để thể hiện được vai trò quan trọng này đòi hỏi thông tin kế toán mà DN cung cấp cho các đối tượng sử dụng nói chung và nhà đầu tư nói riêng phải có chất lượng Theo Kann
& Strong (1998) thì việc đo lường chất lượng thông tin có tính chất cảm tính và sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được càng nhỏ thì chất lượng thông tin càng cao Thông tin kế toán nói chung và đặc biệt là thông tin kế toán được công bố trên thị trường chứng khoán đang thể hiện nhiều vấn đề bất cập như thiếu minh bạch, mang nặng tính hình thức hơn nội dung, sai lệch số liệu kế toán đặc biệt là chỉ tiêu lợi nhuận trước và sau kiểm toán và chủ yếu phục vụ cho việc thanh tra, quyết toán thuế (Lê Hoàng Phúc, 2011; Phạm Thị Kim Yến, 2014) làm giảm khả năng cạnh tranh và uy tín của các DN Việt Nam
Nguyên nhân nào dẫn đến sự sai lệch và thiếu minh bạch của thông tin kế toán? Liệu rằng cơ chế QTCT có ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC hay không? QTCT tốt tăng cường khả năng tiếp cận của DN với các nguồn vốn bên ngoài, giúp nâng cao giá trị DN (Nguyễn Trường Sơn, 2010) Mối quan hệ giữa QTCT và CLTTKT trên BCTC đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có thể kể đến như: Cao Nguyễn Lệ Thư, 2014; Phan Minh Nguyệt, 2014; Nguyễn Trọng Nguyên, 2015; Lê Thị Hương Giang, 2015; Đoàn Thị Mỹ Thương, 2015; Byard et al, 2006; Klai và Omri, 2011; Qin và Wenyao, 2011; Holtz và Sarlo Neto, 2014; Ran et al, 2015 Tuy nhiên, các nghiên cứu được thực hiện trong nước
đo lường CLTTKT trình bày trên BCTC theo nhiều cách thức khác nhau và còn giới hạn về số lượng mẫu nghiên cứu dẫn đến giữa các kết quả nghiên cứu còn nhiều điểm khác biệt
Trang 13Với mong muốn tìm hiểu ảnh hưởng của QTCT đến CLTTKT trên BCTC cũng như đóng góp vào kho tài liệu nghiên cứu về vấn đề này, tác giả đã chọn đề tài
“Ảnh hưởng của quản trị công ty đến chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của đề tài là xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thuộc QTCT đến CLTTKT trên BCTC của các DN niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tác giả đã đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Các nhân tố nào thuộc QTCT có ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC?
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thuộc QTCT đến CLTTKT trên BCTC như thế nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ảnh hưởng của QTCT đến CLTTKT trên BCTC của các DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM
Trang 141.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu ảnh hưởng của QTCT đến chất lượng thông tin kế toán tài chính được trình bày trên BCTC năm đã được kiểm toán của các DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM Số liệu sử dụng trong phân tích được thu thập từ BCTC năm đã kiểm toán trong giai đoạn 2009 – 2014 và báo cáo thường niên trong giai đoạn 2010 – 2014 Tuy nhiên, CLTTKT trên BCTC chỉ được nghiên cứu dưới góc độ tính trung thực của thông tin trên báo cáo kết quả kinh doanh của
DN Tính trung thực của thông tin trên báo cáo kết quả kinh doanh được đo lường
theo mô hình dồn tích của Kothari và cộng sự (2005)
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, cụ thể:
- Phương pháp định tính: thực hiện các phương pháp cụ thể như nghiên cứu tài liệu, tổng hợp, phân tích, so sánh, lấy ý kiến chuyên gia để tổng quát hóa cơ sở lý thuyết về QTCT và CLTTKT và xác định các nhân tố thuộc QTCT có ảnh hưởng đến CLTTKT Tác giả phân loại, đánh giá và chọn lọc nhiều nghiên cứu chuyên sâu có liên quan trực tiếp đến đề tài đã được thực hiện trong và ngoài nước, các quy định, thông lệ được chấp nhận chung và các thông tin thứ cấp có liên quan đến BCTC và báo cáo thường niên của các DN niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
để tiến hành phân tích, tổng hợp, làm rõ vấn đề nghiên cứu Kết quả của các nghiên cứu trước cũng là căn cứ để tác giả lựa chọn và vận dụng mô hình phù hợp nhằm
đo lường CLTTKT trên BCTC cũng như nhận diện các nhân tố thuộc QTCT đến CLTTKT
- Phương pháp định lượng: thu thập dữ liệu thứ cấp từ BCTC năm đã kiểm toán
và báo cáo thường niên của các DN niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM, xây dựng mô hình hồi quy đa biến với biến phụ thuộc là CLTTKT trên BCTC và các biến độc lập thể hiện các đặc điểm của cơ chế QTCT Tác giả lựa chọn mô hình ước lượng hồi quy phù hợp với dạng dữ liệu thu thập, kiểm định giả thuyết, đo lường mức độ ảnh hưởng của QTCT đến CLTTKT trên BCTC của các DN niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
Trang 15Ngoài ra, trên cơ sở xem xét các yếu tố thuộc QTCT có ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp và suy luận để kiến nghị một
số giải pháp cải thiện tình hình QTCT qua đó góp phần nâng cao CLTTKT trên BCTC của các DN niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
1.6 Đóng góp của luận văn
- Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thuộc QTCT đến CLTTKT trong trường hợp các DN niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM Tác giả đã đo lường CLTTKT dựa theo mô hình chất lượng dồn tích của Kothari và cộng sự (2005) - mô hình có hiệu quả cao trong việc nhận diện gian lận trên BCTC trong nghiên cứu của Jones và cộng sự (2008)
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo đối với các cơ quan hữu quan của Nhà nước, các DN niêm yết, đối tượng sử dụng thông tin kế toán nói chung và các nhà đầu tư nói riêng
1.7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được thực hiện bao gồm tổng cộng 83 trang (chưa kể phần tóm tắt, danh mục, phụ lục và tài liệu tham khảo) Luận văn được kết cấu thành 5 chương như sau:
- Chương 1: Giới thiệu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Các lý thuyết nền được sử dụng nhằm xác định các nhân tố thuộc cơ chế QTCT có ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC
2.1.1.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
QTCT được xây dựng và phát triển dựa trên lý thuyết được cho là nền tảng và phổ biến nhất là lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện thể hiện mối quan hệ giữa người chủ (cổ đông) và người đại diện quản lý phụ trách việc điều hành, giám sát các hoạt động hàng ngày của công ty Theo lý thuyết này chính sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, có thể dẫn đến việc nhà quản lý hành động không nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị của cổ đông, do đó cần một cơ chế kiểm soát nhằm bảo
vệ lợi ích hợp pháp của cổ đông (Jensen và Meckling, 1976) Lý thuyết đại diện
đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người chủ sở hữu vốn của công
ty và một bên khác là người quản lý - người đại diện thực hiện các quyết định của công ty Vấn đề chính là làm thế nào để người đại diện làm việc vì lợi ích cao nhất cho người người chủ khi họ có lợi thế về thông tin hơn người chủ và có những lợi ích khác với lợi ích của những ông chủ này Những người chủ sở hữu luôn mong muốn người đại diện của họ tối đa hóa giá trị DN nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho mình nhưng đây có thể không phải là mục tiêu của người đại diện Sự xung đột về lợi ích này thường được ví như mối quan hệ giữa Ông chủ - Người làm thuê Vấn đề này liên quan tới cách mà các ông chủ khuyến khích người làm thuê hành động vì lợi ích của các ông chủ Nhưng đôi khi vì mục tiêu vụ lợi, người làm thuê
có thể hành động một cách thiếu trung thực, thậm chí thiếu năng lực gây ra các loại chi phí tác nhân làm giảm giá trị của DN (Tricker, 2012)
Ngoài ra, những xung đột về lợi ích có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản
trị của công ty như giữa các cổ đông với nhau (cổ đông đa số và thiểu số, kiểm soát và không kiểm soát, cá nhân và tổ chức), giữa các thành viên của HĐQT (điều hành và không điều hành, bên trong và bên ngoài, độc lập và phụ thuộc) (IFC, 2010) Mối quan hệ kiểm soát quản trị được thể hiện trong hình 1.1 dưới đây
Trang 17Hình 2.1 Quan hệ kiểm soát quản trị
Nguồn: Tricker (2012, trang 396)
2.1.1.2 Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric information)
G.A Akerlof là người đầu tiên giới thiệu về lý thuyết bất cân xứng thông tin vào năm 1970 Ông công bố nghiên cứu của mình trong bài viết “The Market for
‘Lemons’: Quality Uncertainly and the Market Machanism” được coi là nền tảng cho lý thuyết bất cân xứng thông tin Bất cân xứng thông tin xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời dẫn tới trả giá thấp hơn giá trị thực của hàng hóa Hậu quả
là người bán không còn động lực để sản xuất hàng hóa có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm trung bình trên thị trường Bất cân xứng thông tin còn gây ra rủi ro đạo đức và độc quyền về thông tin Bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở hữu thông tin riêng hoặc khi DN hoặc những người quản lý DN có nhiều thông tin hơn so với các nhà đầu tư Vì vậy có thể dẫn tới hiện tượng che đậy các thông tin bất lợi, thổi phồng các thông tin có lợi hoặc cung cấp thông tin một cách không công bằng đối với các nhóm nhà đầu tư khác nhau Do bất cân xứng thông tin làm cho giá cổ phiếu không phản ánh đúng tình hình hoạt động của DN dẫn đến các nhà đầu tư không thể xác định được lợi nhuận kỳ vọng một cách chính xác khi tham gia đầu tư Một số nhà đầu tư có được nhiều thông tin hơn sẽ thu được lợi nhuận cao hơn trong khi một số nhà đầu tư khác sẽ phải bỏ ra chi phí cao hơn so với chi phí thị trường do việc thiếu hụt những thông tin tốt Điều tất yếu là những nhà đầu tư có ít thông tin không thành công trên thị trường và có xu hướng rời bỏ thị trường Bất cân xứng thông tin sẽ dẫn đến hai hệ quả phổ biến nhất là sự lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức Nếu tình
Người chủ (cổ đông)
Ký hợp đồng với Hưởng lợi từ
Người đại diện (thành viên
HĐQT)
Trang 18trạng bất cân xứng thông tin diễn ra liên tục và kéo dài sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường và sự sụp đổ thị trường chứng khoán là hoàn toàn có thể xảy ra
2.1.1.3 Lý thuyết thông tin hữu ích (Decision usefulness theory)
Lý thuyết thông tin hữu ích ra đời vào những năm 1960 định hướng cho việc sử dụng thông tin kế toán hữu ích phục vụ cho việc ra quyết định Trong những năm
1980, lý thuyết này được xem là lý thuyết nền tảng trong quá trình xây dựng các chuẩn mực BCTC quốc tế Lý thuyết hướng đến tính hữu ích của thông tin đối với người sử dụng hơn là đáp ứng các yêu cầu pháp luật Trên cơ sở của lý thuyết thì mục đích của BCTC là cung cấp thông tin kế toán hữu ích và thích hợp cho các đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế Ngoài ra, lý thuyết thông tin hữu ích cũng đề cập đến các khái niệm về cân bằng lợi ích – chi phí, một trong những khía cạnh quan trọng cần xem xét khi thiết lập các tiêu chuẩn (Godfrey và cộng sự, 2003) Theo lý thuyết thông tin hữu ích, thông tin kế toán tài chính được thiết lập dựa trên các giả thiết:
- Tồn tại sự mất cân xứng thông tin giữa người lập BCTC và người sử dụng thông tin
- Nhu cầu của người sử dụng thông tin kế toán là không được xác định trước và cần được xác định thông qua các dẫn chứng cụ thể
- Tính hữu ích của thông tin được đánh giá trong mối tương quan lợi ích - chi phí khi cung cấp thông tin kế toán
2.1.1.4 Vận dụng các lý thuyết vào nội dung nghiên cứu
Lý thuyết đại diện có vai trò xem xét cơ cấu quản trị của công ty nhằm hạn chế xung đột xảy ra giữa chủ sở hữu vốn – nhà quản lý và là lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu về QTCT (Jensen và Meckling, 1976) Một trong những vấn đề mà lý thuyết đại diện đặt ra đó là việc thiết lập một HĐQT như thế nào nhằm đạt được mục tiêu bảo vệ lợi ích của các cổ đông – người chủ thực sự của công ty Khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lý thuyết đại diện, nhà nghiên cứu không cần thâm nhập vào phòng họp HĐQT hay tiếp cận với từng thành viên HĐQT mà hầu hết nghiên cứu sử dụng thông tin về các thông lệ QTCT và hiệu quả hoạt động có
Trang 19sẵn trên các website như báo cáo của HĐQT, BCTC đã được kiểm toán (Tricker, 2012) Mặt khác, theo lý thuyết bất cân xứng thông tin, ban giám đốc với lợi thế trong việc điều hành các hoạt động của DN và khả năng tiếp cận thông tin tương đối dễ dàng có làm cho họ có nhu cầu tư lợi, điều chỉnh số liệu báo cáo theo ý kiến chủ quan của mình? Sự bất cân xứng về thông tin có thể dẫn đến sự thiếu minh bạch của thông tin kế toán công bố trong khi đó các đối tượng sử dụng BCTC luôn mong muốn được cung cấp các thông tin kết toán hữu ích, thích hợp và kịp thời cho việc ra quyết định Tóm lại, việc tìm hiểu lý thuyết đại diện, lý thuyết bất cân xứng thông tin và lý thuyết thông tin hữu ích giúp tác giả có thêm cơ sở cho việc nhận diện các nhân tố thuộc QTCT có ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC
2.2 Cơ sở lý thuyết về quản trị công ty
2.2.1 Khái niệm quản trị công ty
Không có một định nghĩa duy nhất về QTCT có thể áp dụng cho mọi trường hợp và mọi thể chế
Theo IFC (2010) thì QTCT là “những cơ cấu và những quá trình để định hướng
và kiểm soát công ty” Năm 1999, tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)
đã xuất bản một tài liệu mang tên “Các nguyên tắc QTCT” và đưa ra định nghĩa chi tiết hơn về QTCT: QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan QTCT cũng tạo ra một cơ cấu
để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty Vào năm 2004, trong tài liệu “Các nguyên tắc QTCT của OECD năm 2004” đưa ra khái niệm về QTCT tương tự khái niệm trước đó “QTCT liên quan tới một tập hợp các mối quan
hệ giữa ban giám đốc, HĐQT, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác QTCT cũng thiết lập cơ cấu qua đó giúp xây dựng mục tiêu của công ty, xác định phương tiện để đạt được các mục tiêu đó, và giám sát hiệu quả thực hiện mục tiêu.” Theo Quyết định 12/2007/QĐ-BTC về việc ban hành các quy chế QTCT áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán “QTCT là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được
Trang 20định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty.”
Nhìn chung các khái niệm về QTCT dù được diễn đạt cụ thể hay khái quát đều
có một số điểm chung và có thể tóm lược như sau: QTCT là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu và quy trình Những mối quan hệ này có thể liên quan tới các bên có lợi ích khác nhau nhưng tất cả các bên đều liên quan đến việc định hướng và kiểm soát công ty Hệ thống QTCT cơ bản và các mối quan hệ giữa những thể chế quản trị trong công ty được mô tả trong Hình 2.2
Hình 2.2 Hệ thống QTCT
Nguồn: Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), tháng 3 năm 2004
2.2.2 Phân biệt quản trị công ty và quản lý công ty
QTCT và quản lý công ty là hai khái niệm không thể bị nhầm lẫn QTCT tập trung vào các cơ cấu và quy trình của công ty nhằm đảm bảo sự công bằng, tính minh bạch, tính trách nhiệm và tính giải trình QTCT xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa các nhóm lợi ích, các thành viên khác nhau trong công ty bao gồm: các
cổ đông, HĐQT, ban điều hành, ban kiểm soát và những người liên quan khác như người lao động, nhà cung cấp Trong khi đó, quản lý công ty chỉ tập trung vào các công cụ cần thiết để điều hành công ty Như vậy, QTCT được đặt ở một tầm cao hơn nhằm đảm bảo rằng công ty sẽ được quản lý để có thể phục vụ tốt nhất lợi ích của các cổ đông Tuy nhiên, có một mảng chung giữa hai lĩnh vực này là mảng chiến lược, bởi nó được xem xét ở cấp độ quản lý công ty lẫn cấp độ QTCT
Các cổ đông (Đại hội đồng cổ đông)
Báo cáo và trả lời
Bổ nhiệm, miễn nhiệm, chỉ đạo, giám sát
Trang 21Hình 2.3 Sự khác biệt giữa QTCT và quản lý công ty
Nguồn: Robert I Tricker, 1984
Nếu quản lý công ty thiên về vấn đề điều hành, kiểm soát và xử lý các vấn đề hàng ngày tại công ty trong quá trình triển khai thực hiện các chiến lược đã được hoạch định từ trước thì QTCT nằm ở vị thế cao hơn là tập trung vào chiến lược, định hướng phát triển công ty và kiểm soát việc thực hiện chiến lược cũng như đánh giá các kết quả đạt được Trong sơ đồ tổ chức của một công ty, HĐQT đại diện cho quản trị còn ban giám đốc có thể được xem là đại diện cho cấp quản lý
2.2.3 Nguyên tắc cơ bản của quản trị công ty
Trên thế giới, có hơn 200 bộ quy chế QTCT được xây dựng cho hơn 72 quốc
gia và vùng lãnh thổ Phần lớn những quy tắc này tập trung vào vai trò của BKS hoặc HĐQT Trong số những quy tắc này, chỉ có “Các nguyên tắc QTCT của OECD” là có hướng dẫn cho cả nhà hoạch định chính sách lẫn các DN, đề cập một cách khá đầy đủ các lĩnh vực trong phạm vi QTCT: quyền của các cổ đông, các bên có quyền lợi liên quan, việc công bố thông tin và các thông lệ trong hoạt động của HĐQT (IFC, 2010) Các nguyên tắc QTCT của OECD đã được chấp nhận rộng rãi trên thế giới như là một khuôn khổ chuẩn mực và là một tài liệu tham khảo chuẩn trong lĩnh vực QTCT Bộ nguyên tắc này được xuất bản lần đầu vào năm
1999, sau đó được chỉnh sửa vào năm 2004 Khuôn khổ QTCT của OECD được xây dựng dựa trên bốn giá trị cốt lõi: sự công bẳng, tính trách nhiệm, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình Sáu nguyên tắc QTCT của OECD gồm:
Giải trình
và giám sát
Quản lý điều hành Quyết định và Kiểm soát Quản lý hoạt động
QTCT
Quản trị chiến lược
Quản lý công ty
Trang 22- Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ QTCT hiệu quả: khuôn khổ QTCT cần thúc đẩy tính minh bạch và hiệu quả của thị trường, phù hợp với quy định của pháp luật và phân định rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi
- Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản: khuôn khổ QTCT bảo vệ
và tạo điều kiện thực hiện quyền của cổ đông
- Đối xử bình đẳng đối với cổ đông: khuôn khổ QTCT cần đảm bảo sự đối xử bình đẳng với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm
- Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong QTCT: khuôn khổ QTCT phải công nhận quyền của các bên liên quan đã được pháp luật hay quan hệ hợp đồng quy định và phải khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa công ty và các bên có quyền lợi liên quan trong việc tạo dựng tài sản, việc làm và ổn định tài chính cho công ty
- Công bố thông tin và tính minh bạch: khuôn khổ QTCT phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và QTCT
- Trách nhiệm của HĐQT: khuôn khổ QTCT cần đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát có hiệu quả công tác quản lý của HĐQT và trách nhiệm của HĐQT đối với công ty và cổ đông
2.2.4 Khuôn khổ pháp lý về quản trị công ty tại Việt Nam
Để QTCT mang lại hiệu quả cao thì nguyên tắc đầu tiên theo khuyến nghị của
OECD là cần đảm bảo khuôn khổ QTCT được xây dựng phù hợp với quy định của pháp luật, minh bạch, phân định rõ ràng giữa quyền lợi và trách nhiệm của cơ quan giám sát và thực thi trong cơ chế quản trị của công ty Có thể nói rằng, dù vẫn còn nhiều vấn đề cần phải được cải thiện, khuôn khổ pháp lý về QTCT đã có nhiều thay đổi và đã được cải thiện một cách đáng kể trong những năm gần đây ở Việt Nam (Nguyễn Thị Hải Vân, 2014) Khuôn khổ pháp lý về QTCT dần được cải thiện nhằm tạo cơ sở cho việc thực hiện các nguyên tắc QTCT theo thông lệ quốc
tế cũng như đánh giá chất lượng QTCT tại các DN
Trang 23Bảng 2.1 Các bộ luật và quy định chính ảnh hưởng đến QTCT
Luật/ Quy định Phạm vi áp dụng Diễn giải
Luật đầu tư Tất cả các hoạt động
đầu tư
Điều chỉnh việc thành lập, cấp phép, thanh
lý các dự án được triển khai bởi tất cả các loại hình DN và đầu tư trực tiếp nước ngoài
Luật DN 2005
Tất cả các công ty và hoạt động của công
Quy chế QTCT Các công ty niêm yết
Bắt buộc áp dụng đối với các công ty niêm yết, không bắt buộc nhưng nên áp dụng đối với các công ty cổ phần không niêm yết Các yêu cầu
niêm yết tại các
Sở giao dịch
chứng khoán
Các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Hà Nội
Điều chỉnh việc tiếp cận giao dịch của công chúng đầu tư và các tổ chức phát hành
Thông tư
09/2010/
TT-BTC
Các công ty đại chúng và công ty niêm yết
Bắt buộc áp dụng đối với các công ty đại chúng và công ty niêm yết về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Thông tư
52/2012/TT-BTC
Công ty đại chúng, công ty chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán
Quy định chi tiết về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, thay thế thông
tư 09/2010/TT-BTC
Trang 24Thông tư
121/2012/
TT-BTC
Các công ty đại chúng
Quy định về QTCT áp dụng đối với công
ty đại chúng Thông tư này có hiệu lực từ ngày 17/9/2012, thay thế quyết định 12/2007/QĐ-BTC
Luật DN 2014
Tất cả các công ty và hoạt động của công
ty
Quy định về việc thành lập, tổ chức quản
lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của DN gồm công ty TNHH, công ty
cổ phần, công ty hợp danh, DN tư nhân và nhóm công ty
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp dựa trên Cẩm nang QTCT, IFC (2010)
2.3 Chất lượng thông tin kế toán
2.3.1 Chất lượng thông tin
Hiện nay, tồn tại rất nhiều quan điểm và tiêu chuẩn khác nhau về chất lượng thông tin Thông tin có ý nghĩa hay hữu dụng đối với những đối tượng sử dụng cụ thể và với từng mục đích sử dụng cụ thể Việc đo lường chất lượng thông tin có tính cảm tính và sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt được càng nhỏ thì chất lượng thông tin càng cao
Theo Kahn, Strong và Wang (2002) chất lượng thông tin được định nghĩa là thông tin phù hợp cho mục đích sử dụng của người sử dụng thông tin, hoặc là các đặc tính của thông tin giúp đạt được các yêu cầu hay sự mong đợi của người sử dụng thông tin
Bảng 2.2 Các thuộc tính chất lượng thông tin
Khả năng truy cập Thông tin đã sẵn sàng hoặc việc truy cập dễ dàng và
nhanh chóng Khối lượng thông tin
Trang 25Tính đầy đủ Thông tin không bị thiếu và đủ rộng và sâu cho các mục
tiêu đang thực hiện Trình bày ngắn gọn Thông tin được trình bày một cách súc tích
Trình bày nhất quán Thông tin được thể hiện cùng một cách trình bày
Dễ dàng sử dụng Thông tin dễ dàng sử dụng và ứng dụng cho các công
việc khác Chính xác Thông tin đúng và đáng tin cậy
Có thể giải thích được Thông tin ở dạng ngôn ngữ, ký hiệu và đơn vị thích hợp
và những định nghĩa phải rõ ràng
Tính khách quan Thông tin không thiên vị, không thành kiến và công
bằng
Sự thích hợp Thông tin hữu ích và phù hợp với mục tiêu thực hiện
Uy tín Thông tin được đánh giá cao về nguồn gốc hoặc nội
dung của nó
Bảo mật Việc truy cập thông tin bị hạn chế một cách thích hợp
để duy trì bảo mật
Kịp thời Thông tin được cập nhật hàng ngày một cách đầy dủ
cho các mục tiêu đang thực hiện Tính có thể hiểu được Thông tin có thể được hiểu một cách dễ dàng
Giá trị gia tăng Thông tin có ích và cung cấp sự thuận lợi từ việc sử
dụng
Nguồn: Kahn và cộng sự, 2002
Tuy khác nhau về cách thức và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thông tin nhưng nhìn chung có thể nhận thấy rằng: thông tin có chất lượng hay không là tùy thuộc vào cảm nhận của đối tượng sử dụng thông tin Khi đánh giá thông tin có chất lượng hay không cần xem xét trong bối cảnh phù hợp và mục đích sử dụng cụ thể
2.3.2 Thông tin kế toán
Thông tin kế toán rất quan trọng cho tất cả các công ty trong việc cạnh tranh để
có được nguồn lực cả về thị trường vốn hoặc nợ vay Thông tin kế toán chất lượng
Trang 26cao cũng được đánh giá cao bởi những người tham gia thị trường vì nó làm giảm hiện tượng thông tin bất cân xứng, tăng tính minh bạch (Nguyễn Bích Liên, 2012 theo Watts & Zimmerman, 1986) Thông tin kế toán hữu ích khi đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin, giúp họ đưa ra các quyết định phù hợp Các đối tượng sử dụng thông tin kế toán có thể là các chủ thể bên trong và bên
ngoài DN bao gồm:
- Nhà quản lý: Phân tích hoạt động, vị trí của DN và đưa các biện pháp thích
hợp nhằm cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh
- Nhân viên: Đánh giá hiệu quả hoạt động của DN từ đó đề xuất vấn đề lương bổng và bảo đảm việc làm trong tương lai
- Chủ sở hữu: Phân tích khả năng tồn tại của DN, lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như định hướng chiến lược phát triển DN trong tương lai
- Các chủ nợ: Xác định uy tín của DN đi vay nhằm có cơ sở thiết lập các điều
khoản tín dụng Các chủ nợ bao gồm các nhà cung cấp và các tổ chức tài chính như ngân hàng, công ty tài chính
- Cơ quan thuế: Xác định độ tin cậy của các báo cáo thuế của DN
- Chủ đầu tư: Phân tích tính khả thi và hiệu quả của việc đầu tư vào DN
- Khách hàng: Đánh giá tình hình tài chính của DN , làm cơ sở cho việc duy trì mối quan hệ lâu dài với DN
2.3.3 Chất lượng thông tin kế toán
Giá trị của thông tin được xem xét thông qua sự hữu ích của nó trong việc giúp
các nhà quản lý ra những quyết định phù hợp nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Thông tin có giá trị có thể giúp các nhà quản lý, nhân viên thực hiện nhiệm vụ của
họ một cách hiệu quả nhất (Nguyễn Bích Liên, 2012) Hơn nữa, thông tin chất lượng cao, có nghĩa là, thông tin có những đặc điểm, thuộc tính, hoặc phẩm chất hữu ích đối với đối tượng sử dụng chúng CLTTKT đề cập đến (a) tính hữu ích của các số liệu được báo cáo, (b) mức độ công bố thông tin và (c) mức độ phù hợp với các chuẩn mực kế toán được chấp nhận chung Tuy nhiên trong số các khía cạnh nhằm đánh giá CLTTKT kể trên thì tính hữu ích của thông tin kế toán được báo
Trang 27cáo mà đặc biệt là số liệu về lợi nhuận báo cáo đóng vai trò quan trọng nhất (Schipper và Vincent, 2003)
Theo các tổ chức nghề nghiệp kế toán như Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc
tế, Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ và đặc biệt là chuẩn mực kế toán Việt Nam, CLTTKT được đánh giá qua chất lượng BCTC với mục tiêu giải thích tình hình tài chính của DN cho các đối tượng sử dụng khác nhau tương ứng với nhiều mục đích sử dụng khác nhau Ngoài ra do đặc tính có thể so sánh được của thông tin kế toán đòi hỏi phải lựa chọn các phương pháp ghi chép, hạch toán kế toán phù hợp theo các chuẩn mực được chấp nhận chung nhằm giúp nâng cao khả năng so sánh được thông tin tài chính của các DN thuộc các quốc gia khác nhau
Để lựa chọn các đặc tính chất lượng nào của thông tin kế toán được nghiên cứu trong đề tài cũng như đặc tính đó có thật sự quan trọng khi đánh giá CLTTKT trên BCTC hay không, tác giả sẽ liệt kê các quan điểm đánh giá CLTTKT đang tồn tại trên thế giới cũng như theo chuẩn mực kế toán Việt Nam
2.3.3.1 Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính quốc tế
Theo khuôn mẫu lý thuyết về việc lập và trình bày BCTC của IASB (2000), các
đặc điểm chất lượng của thông tin kế toán trình bày trên BCTC bao gồm: có thể
hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh
- Có thể hiểu được: Chất lượng thiết yếu của thông tin kế toán thể hiện trên
BCTC là phải được hiểu một cách dễ dàng bởi người sử dụng Tuy nhiên, người
sử dụng được giả định rằng có kiến thức nhất định về DN, về các nghiệp vụ kinh
tế và kế toán và đọc BCTC một cách nghiêm túc
- Thích hợp: Thông tin thích hợp với nhu cầu ra quyết định của người sử dụng
thì thông tin mới hữu ích Thông tin là thích hợp khi nó giúp người đọc đánh giá quá khứ, hiện tại, tương lai hoặc xác nhận hay điều chỉnh các đánh giá trước đây Tính thích hợp chịu ảnh hưởng của nội dung và tính trọng yếu thông tin
- Đáng tin cậy: Thông tin không có sự sai sót hay thiên lệch một cách trọng yếu
và phải phản ánh trung thực vấn đề cần trình bày Để đáp ứng yêu cầu đáng tin cậy thì thông tin phải trình bày trung thực các sự kiện hay nghiệp vụ kinh tế, cần xem trọng nội dung hơn là hình thức, thông tin phải trung lập không bị thiên lệch
Trang 28- Có thể so sánh được: Thông tin chỉ hữu ích khi thông tin có thể so sánh với
các kỳ báo cáo, với các DN khác về các chỉ tiêu như năng lực tài chính, tình hình hoạt động và dòng tiền Để thông tin có thể so sánh được cần sử dụng nhất quán phương pháp và thủ tục kế toán qua các kỳ Việc thuyết minh là cần thiết trong trường hợp DN thay đổi chính sách kế toán hoặc theo yêu cầu của chuẩn mực
2.3.3.2 Quan điểm hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ
Theo chuẩn mực báo cáo tài chính của tổ chức FASB “Statement of Financial Accounting Concepts No 2 (1980), chất lượng thông tin kế toán được phân thành
2 nhóm đặc điểm như sau:
Thứ nhất, đặc điểm cơ bản:
- Thích hợp: Thông tin kế toán thích hợp là thông tin có khả năng giúp người
sử dụng thay đổi quyết định của mình Thông tin thích hợp có thể giúp cho người
sử dụng có thể xem xét các kết quả trong quá khứ, hiện tại và dự đoán tương lai nhằm xác định kỳ vọng một cách chính xác Ngoài ra, thông tin được xem là thích hợp là phải được cung cấp một cách kịp thời, tức là thông tin cần có sẵn cho các đối tượng sử dụng ra các quyết định cần thiết trước khi thông tin này không còn tính hữu dụng nữa
- Đáng tin cậy: Thông tin kế toán đáng tin cậy là thông tin trình bày trung thực,
không có sai sót hoặc thiên lệch trong phạm vi có thể kiểm chứng Thông tin đáng tin cậy khi được trình bày một cách trung thực, có thể kiểm chứng và trung lập Thứ hai, đặc điểm bổ sung:
- Nhất quán: đòi hỏi sự phù hợp giữa các kỳ báo cáo thông qua việc không thay
đổi chính sách và thủ tục kế toán Khi cần áp dụng phương pháp kế toán mới hoặc tốt hơn để đảm bảo khả năng so sánh được thì thông tin cần có thêm phần thuyết minh giải trình thích hợp
- Khả năng so sánh được: So sánh được là yêu cầu thông tin giúp người sử dụng
có thể nhận thấy sự tương tự và khác biệt giữa hai hiện tượng kinh tế Các hiện tượng giống nhau phải được phản ánh giống nhau; các hiện tượng khác nhau phải được phản ánh khác nhau
Trang 292.3.3.3 Quan điểm hội tụ IASB – FASB
Quan điểm hội tụ chia các đặc tính chất lượng thông tin kế toán thành 2 nhóm: Các đặc tính cơ bản:
- Thích hợp: thông tin kế toán tài chính thích hợp nếu có khả năng giúp người
sử dụng ra các quyết định ra các quyết định khác nhau Thông tin kế toán cung cấp phải có giá trị dự báo và giá trị khẳng định
- Trình bày trung thực: để đảm bảo tính hữu ích, thông tin kế toán cần trình bày
trung thực các sự kiện kinh tế đã xảy ra Sự trình bày trung thực giúp tối đa hóa các đặc tính thích hợp, trung lập của thông tin kế toán và hỗ trợ người sử dụng có thể đánh giá đúng tình hình DN nhằm ra các quyết định kinh tế phù hợp
Các đặc tính bổ sung:
- Có thể so sánh: thông tin kế toán chỉ thực sự hữu dụng khi có thể dùng để so
sánh với các thông tin của các DN khác, so sánh với giữa các kỳ kế toán Khả năng
so sánh được giúp người sử dụng có thể hiểu được những đặc điểm giống và khác nhau giữa các kỳ kế toán
- Có thể kiểm chứng: khả năng kiểm chứng nhằm giúp người sử dụng chắc chắn
rằng các thông tin kế toán phản ánh đúng các hiện tượng kinh tế Kiểm chứng được nghĩa là những người sử dụng độc lập với kiến thức khác nhau có thể đạt được sự đồng thuận nhất định
- Kịp thời: thông tin được cung cấp sẵn cho người ra quyết định trước khi nó
mất đi khả năng ảnh hưởng đến quyết định
- Có thể hiểu được: thông tin được phân loại, thể hiện các đặc trưng và được
trình bày rõ ràng làm cho thông tin trở nên dễ hiểu Một số hiên tượng kinh tế vốn phức tạp và không dễ hiểu tuy nhiên nếu lại đi những thông tin này sẽ là cho BCTC không đầy đủ và có thể bị hiểu sai Do vây, khả năng hiểu được BCTC phụ thuộc vào kiến thức nhất định của người đọc về DN, các hoạt động kinh tế và nỗ lực phân tích thông tin
2.3.3.4 Quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam
Theo chuẩn mực kế toán Việt nam số 01 (2002) thì thông tin và số liệu kế toán
do DN cung cấp phải đảm bảo một số yêu cầu sau đây:
Trang 30- Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo
trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
- Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo
đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo
- Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán
phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót
- Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp
thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ
- Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính phải
rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người
có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh
- Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một
DN và giữa các DN chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người
sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các
DN hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 (2003), BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một DN Mục đích của báo BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh
và các luồng tiền của một DN, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người
sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một DN về: (1) tài sản; (2) nợ phải trả; (3) vốn chủ sở hữu; (4) doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; (5) các luồng tiền Các thông tin này cùng với các thông tin trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền
Trang 31Mặc dù, quan điểm về chất lượng của thông tin kế toán trình bày trên BCTC có chút khác nhau về các đặc tính cơ bản nhưng nhìn chung thông tin kế toán có chất lượng phải đáp ứng một số yêu cầu như: đáng tin cậy, trung thực, khách quan, đầy
đủ, thích hợp, có thể hiểu được, có thể so sánh được và kịp thời Trong bài luận văn, tác giả sẽ đánh giá chất lượng của thông tin kế toán trên BCTC căn cứ vào đặc tính trung thực của thông tin Thông tin kế toán có chất lượng nếu được trình bày một cách trung thực, phản ánh đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN để có thể cung cấp các số liệu kế toán hữu ích đến các đối tượng sử dụng nói chung và các nhà đầu tư nói riêng
2.4 Tổng quan các nghiên cứu trước
Để thấy được tầm quan trọng của CLTTKT trên BCTC cũng như tổng quan nghiên cứu về CLTTKT, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp, phân loại các nghiên cứu
có liên quan vào các nhóm như sau: (1) Nghiên cứu về CLTTKT, (2) Nghiên cứu
về các nhân tố ảnh hưởng đến CLTTKT và (3) Nghiên cứu về ảnh hưởng của QTCT đến CLTTKT
2.4.1 Nghiên cứu về CLTTKT trên BCTC
Các nghiên cứu nước ngoài
[1] Bharath và cộng sự, 2008 Accounting quality and debt contracting The
Accounting Review, 83(1), 1-28
Nhóm tác giả đã nghiên cứu các tác động của chất lượng kế toán trên hợp đồng tài chính bằng cách kiểm tra giá và các đặc điểm phi giá cả của hợp đồng cho vay tại thời điểm khởi vay Chất lượng kế toán của bên đi vay được đo lường bằng cách
sử dụng mô hình thể hiện các khoản dồn tích bất thường Nhóm tác giả đã sử dụng
mô hình đo lường các khoản dồn tích của Francis et al (2002) để đo lường chất lượng kế toán qua chỉ tiêu đại diện là chất lượng lợi nhuận Với cách tiếp cận này, các khoản dồn tích sẽ được phân biệt thành hai thành phần (1) các khoản dồn tích thông thường (normal accrual) và (2) các khoản dồn tích bất thường (abnormal accrual)
Chất lượng kế toán của bên đi vay thấp hơn sẽ phải chịu chi phí lãi vay cao hơn (từ 17 đến 23% so với chi phí lãi suất trung bình) Đồng thời, các đối tượng này
Trang 32cũng phải đối mặt với các điều khoản hợp đồng chặt chẽ hơn, chi phí giao dịch cũng cao hơn đáng kể với các khoản phí trả trước cao hơn từ 16 đến 37% và phí hàng năm cao hơn khoảng 50%
[2] Cascino và cộng sự, 2010 The influence of family ownership on the quality of
accounting information Family Business Review
Mục tiêu nghiên cứu tìm hiểu tác động của cấu trúc sở hữu gia đình đến CLTTKT trên BCTC Mẫu nghiên cứu gồm các công ty phi tài chính niêm yết trên sàn chứng khoán Italy trong giai đoạn 1998 – 2004 có các tiêu chí phù hợp cho phân tích là 114 công ty trong đó gồm 74 công ty gia đình và 40 công ty không phải công ty gia đình Để tìm hiểu cách thức mà các DN gia đình dùng các khoản dồn tích có thể điều chỉnh (discretionary accruals) nhằm làm đẹp BCTC của họ, nhóm tác giả nghiên cứu CLTTKT dưới góc độ chất lượng các khoản dồn tích (accrual quality) theo mô hình nghiên cứu của Dechow & Dichev (2002) được bổ sung bởi McNichols (2002)
Kết quả nghiên cứu phù hợp với giả thuyết được đặt ra là CLTTKT của các DN gia đình có sự khác biệt so với các DN không phải DN gia đình Cụ thể là phần lợi nhuận thể hiện trên BCTC của các DN gia đình là cao hơn và đáng tin cậy hơn Đòn bẩy tài chính, HĐQT độc lập và chất lượng kiểm toán có mối quan hệ cùng chiều với CLTTKT của các DN gia đình
[3] Chaney và cộng sự, 2011 The quality of accounting information in politically
connected firms Journal of Accounting and Economics, 51(1), 58-76
Bài nghiên cứu tìm hiểu CLTTKT thể hiện qua chất lượng lợi nhuận có khác nhau giữa các công ty có quan hệ với giới trị chính trị và các công ty không có quan hệ chính trị hay không trên một mẫu lớn các quốc gia Để đánh giá chất lượng thông tin kê toán tại các DN có quan hệ với giới chính trị của 19 quốc gia, nhóm tác giả đã đo lường các khoản dồn tích có thể điều chỉnh (discretionary accruals) dựa theo nghiên cứu của Ashbaugh et al (2003) trong đó có kể đến yếu tố lạm phát
và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của từng quốc gia
Trang 33Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng lợi nhuận của các DN có quan hệ chính trị kém hơn các DN không có bất kỳ mối liên hệ chính trị nào Điều này có thể được giải thích bởi ba nguyên nhân sau:
- Các DN có mối liên hệ chính trị sẽ thu được cá lợi ích từ mối liên hệ này như được hưởng các khoản thanh toán cao hơn, che giấu hoặc trì hoãn các báo cáo làm hại các nhà đầu tư
- Các chính trị gia bảo vệ cho các DN liên quan của họ vì vậy mà CLTTKT thấp không bị phạt, các DN có liên hệ chính trị có thể ít quan tâm hơn về chất lượng của các thông tin kế toán được công bố
- Trong trường hợp đơn giản nhất, các DN có chất lượng thu nhập thấp có xu hướng tạo nên các mối quan hệ với giới chính trị nhằm tạo thêm lợi thế cho họ
[4] Wang và Wu, 2011 The quality of financial reporting in China: An
examination from an accounting restatement perspective China journal of
accounting research, 4(4), 167-196.
Chất lượng BCTC công bố được đánh giá thông qua việc công bố lại BCTC sau kiểm toán Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 1092 công ty niêm yết trong giai đoạn 1999 – 2005 Mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là biến giả đại diện cho tình trạng công ty có phải công bố lại BCTC hay không và các biến độc lập lần lượt được xem xét là DN Nhà nước, tỷ lệ cổ phần nắm giữ bởi các cổ đông lớn, áp lực bị hủy bỏ niêm yết, ROA, đòn bẩy tài chính và biến kiểm soát là quy mô công
ty
Kết quả nghiên cứu cho thấy CLTTKT trên BCTC thấp tại các DN Nhà nước,
DN có cơ cấu sở hữu vốn không tập trung và tồn tại tỷ lệ sở hữu cổ phần bởi các
tổ chức đầu tư thấp
[5] Callen và cộng sự, 2013 Accounting Quality, Stock Price Delay, and Future
Stock Returns Contemporary Accounting Research, 30(1), 269-295
Mục tiêu của bài nghiên cứu là tìm ra sự liên quan giữa CLTTKT và sự trễ giá
cổ phiếu Chất lượng kế toán yếu kém thì thường có liên hệ tới sự không chắc chắn
về các thông số định giá cổ phiếu và sự không đầy đủ về thông tin Khiếm khuyết thông tin có khả năng cản trở phát hiện giá kịp thời và dẫn đến việc điều chỉnh giá
Trang 34cổ phiếu bị chậm trễ so với thông tin Dựa theo những nghiên cứu trước thì những
cổ phiếu với mức độ rủ ro nhất định và khiếm khuyến về thông tin thường được
kỳ vọng là có lợi nhuận cao Nhóm tác giả đưa ra giả thuyết rằng thông tin kế toán yếu kém làm giảm khả năng dự đoán dòng tiền của DN Thông tin kế toán yếu kém làm cho khả năng dự đoán giá trở nên không chắc chắn Điều này khiến cho các nhà đầu tư phải liên tục đánh giá lại giá trị của cổ phiếu thông qua việc cập nhật thông tin và học hỏi từ các nhà đầu tư khác Điều này được gọi là sự trễ trong việc điều chỉnh giá Chất lượng kế toán được đo lường bằng chất lượng các khoản dồn tích dựa trên mô hình đánh giá các khoản dồn tích của Francis (2005) Bằng cách
sử dụng thước đo sự trễ giá cổ phiếu dựa trên mô hình hồi quy của Hou và Moskowitz (2005)
Kết quả nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ giữa CLTTKT và sự trễ giá cổ phiếu
và CLTTKT được công bố thấp giúp cho DN thu được lợi nhuận cao hơn 7.7% so với các DN có sự trễ giá cổ phiếu không liên quan đến CLTTKT
[6] Hribar và cộng sự, 2014 A new measure of accounting quality Review of
Accounting Studies, 19(1), 506-538
Nghiên cứu phát triển một thước đo chất lượng kế toán mới dựa trên chi phí kiểm toán và kiểm tra xem liệu rằng các thông tin này có gì tiến triển hơn so với những thông tin được cung cấp từ các phương pháp đo lường chất lượng khác hay không Nhóm tác giả cho rằng việc các khoản lệ phí kiểm toán không giải thích được có thể chứa đựng các thông tin về chất lượng kế toán Một biện pháp dựa trên những chi phí kiểm toán không thể giải trình cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn
về chất lượng BCTC so với việc tập trung hoàn toàn vào một khía cạnh của chất lượng kế toán, cũng như các khoản dồn tích được thể hiện như thế nào
Nghiên cứu đã chứng minh rằng lệ phí kiểm toán không thể giải trình không chỉ
có mối tương quan với các biện pháp đo lường chất lượng thu nhập khác đã được
sử dụng trong các nghiên cứu trước mà còn mang lại kết quả nghiên cứu đồng nhất với nhau Khi đối chiếu hai biện pháp đo lường chất lượng kế toán, thì phí kiểm toán không thể giải trình đang từng bước cung cấp thêm thông tin cho việc dự đoán những công bố lại, gian lận, và thư từ góp ý từ SEC (Securities and Exchange
Trang 35Commission) Nhóm tác giả cho rằng chi phí kiểm toán không thể giải trình giúp nắm bắt phương pháp tiếp cận mới về chất lượng thông tin kế toán
Các nghiên cứu trong nước
[7] Lê Hoàng Phúc, 2012 Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng thông tin
tài chính của công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam Tạp chí Kiểm toán,
số 3
Bài viết làm rõ thực trạng trình bày và công bố thông tin định kỳ về BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam Thông qua khảo sát tình hình công bố thông tin BCTC định kỳ của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hà Nội và TP.HCM, tác giả đã kết luận như sau: hệ thống báo cáo chưa theo thông lệ quốc tế; thông tin so sánh trên báo cáo còn giới hạn; trình bày và tính toán một số chỉ tiêu trên báo cáo chưa phù hợp với thông lệ; một số thông tin cần thiết chưa được yêu cầu công bố Ngoài ra, bài viết đặc biệt nhấn mạnh tính trung thực của thông tin công bố khi chênh lệch đáng kể số liệu tài chính trước và sau kiểm toán Việc công bố thông tin thiếu minh bạch và mang nặng tính hình thức chẳng những không phát huy được vai trò của thông tin cung cấp mà còn ảnh hưởng xấu đến khả năng phân tích, dự báo của nhà đầu tư cũng như khả năng cạnh tranh của các DN niêm yết tại Việt Nam
[8] Nguyễn Thị Hải Hà, 2014 Chất lượng công bố thông tin của các công ty niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam - thực trạng và giải pháp Tạp chí Khoa
học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 3
Những vụ bê bối liên quan đến thông tin và công bố thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán của các công ty niêm yết đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của các nhà đầu tư Bài viết chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến những bê bối trên và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống văn bản hướng dẫn, nâng cao trách nhiệm xã hội của các công ty niêm yết Riêng đối với chất lượng thông tin kế toán công bố, bài viết đã đánh giá tính trung thực của thông tin thông qua sự chênh lệch trong số liệu kế toán trước và sau kiểm toán
Số liệu thống kê cho thấy sự chênh lệch về số liệu lợi nhuận có xu hướng tăng trong giai đoạn 2010 – 2013 Hầu hết các công ty niêm yết bị giảm lợi nhuận sau
Trang 36thuế sau kiểm toán, thậm chí có trường hợp lãi thành lỗ Một số nguyên nhân dẫn đến các sai phạm về công bố thông tin mà tác giả kể đến gồm khung pháp lý chưa hoàn thiện, cơ quan quản lý chưa có biện pháp chế tài phù hợp và xuất phát từ bản thân các công ty niêm yết Sau cùng, bài viết đề xuất một số giả pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên thị trường chứng khoán góp phần củng cố niềm tin cho nhà đầu tư
[9] Phạm Thị Kim Yến, 2014 Chất lượng thông tin kế toán của các doanh nghiệp
trong bối cảnh hiện nay Tạp chí Kế toán và Kiểm toán, số 3
Qua bài viết, tác giả cho rằng CLTTKT hiện nay đang mang những đặc tính sau: (1) chỉ để phục vụ cho việc kiểm tra, quyết toán thuế, chưa đáp ứng được yêu cầu
ra quyết định của nhà đầu tư, (2) thông tin kế toán trình bày trên BCTC chưa đáp ứng được yêu cầu thông tin của các nhà đầu tư và tổ chức tín dụng, (3) tình trạng chênh lệch số liệu trên BCTC trước và sau kiểm toán Tuy nhiên, bài viết chỉ trình bày những quan điểm chủ quan của tác giả, chưa cung cấp các bằng chứng về số liệu cụ thể cho các nhận định trên
[10] Đoàn Thị Hồng Nhung và Vũ Thị Kim Lan, 2015 Phương pháp đánh giá chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp Tạp chí Kế toán và
Kiểm toán, số 11
Nhóm tác giả đã trình bày quan điểm khi tiến hành đánh giá CLTTKT trên BCTC theo ba bước như sau: (1) lựa chọn BCTC để phân tích, (2) kiểm tra tính trung thực và hợp lý của các chỉ tiêu trên BCTC, (3) đánh giá chất lượng tài sản và nguồn vốn trên BCTC Do công tác thẩm định và đánh giá chất lượng thông tin trên BCTC trước khi đưa ra quyết định kinh tế là rất quan trọng đối với người sử dụng Sau khi thực hiện thẩm định các khoản mục trên BCTC, người sử dụng cần thực hiện các điều chỉnh cần thiết để các số liệu trên BCTC sử dụng trong phân tích sẽ đảm bảo độ tin cậy Trong giới hạn của một bài viết trao đổi và mang tính chất tổng quát, nhóm tác giả chỉ nêu các hướng dẫn khi cần đánh giá CLTTKT trình bày trên BCTC còn về phương pháp cụ thể để đánh giá các chỉ tiêu trên tùy thuộc vào mục đích của người sử dụng thông tin và các BCTC cụ thể được chọn
Trang 372.4.2 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC
Các nghiên cứu nước ngoài
[1] Bagaeva, 2008 An examination of the effect of international investors on
accounting information quality in Russia Advances in Accounting, 24(2), 157-161
Bài nghiên cứu tìm hiểu tác động của việc sở hữu vốn cổ phần của nhà đầu tư quốc tế đến CLTTKT các công ty niêm yết tại Nga Dữ liệu sơ cấp được thu thập
từ các cuộc phỏng vấn trực tiếp với 100 DN ở Nga Nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định phi tham số Mann-White test, chia mẫu khảo sát thành hai nhóm: các DN có tỷ lệ cổ phần được sở hữu bởi nhà đầu tư nước ngoài và DN không có
sự góp vốn của bất kỳ nhà đầu tư nước ngoài nào để tìm ra sự khác biệt về mặt nhận thức giữa hai nhóm về mục đích chính của thông tin kế toán cũng như định hướng áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS Các chuẩn mực kế toán ở Nga được thực hiện chủ yếu về mặt hình thức, kém chất lượng, chủ yếu phục vụ cho việc thanh tra thuế chưa cung cấp các thông tin cần thiết và hữu ích cho nhà đầu
tư
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sở hữu cổ phần bởi các nhà đầu tư quốc tế đã góp phần nâng cao CLTTKT và hướng các DN đến việc áp dụng các chuẩn mực báo tài chính quốc tế Tuy nhiên, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, chưa phân tích rõ các đặc điểm chất lượng của thông tin kế toán cũng như không
sử dụng mô hình để đo lường CLTTKT giữa hai nhóm DN có và không có sự tham gia góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài mà chỉ xoay quanh vấn đề tìm hiểu cách nhìn nhận của các nhóm đối tượng được khảo sát về mục đích của thông tin
kế toán và các lý do để DN áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS
[2] Al-Hiyari và cộng sự, 2013 Factors that Affect Accounting Information
System Implementation and Accounting Information Quality: A Survey in
University Utara Malaysia American Journal of Economics, 3(1), 27-31
Nghiên cứu tìm hiểu các nhân tố tác động đến việc vận hành hệ thống thông tin
kế toán và chất lượng thông tin kế toán dưới góc nhìn của sinh viên trường Đại học Utara, Malaysia Dữ liệu phân tích được thu thập từ 119 bảng câu hỏi khảo sát nhận về từ sinh viên ở các bậc học khác nhau Giả thuyết nghiên cứu cho rằng
Trang 38nguồn lực con người, cam kết của nhà quản lý và chất lượng dữ liệu ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán và việc vận hành hệ thống thông tin kế toán Kết quả phân tích hồi quy đã tìm ra mối liên hệ giữa cam kết của nhà quản lý, chất lượng dữ liệu và việc vận hành hệ thống thông tin kế toán Ngoài ra, tác giả
đã tìm thấy mối liên hệ giữa nguồn nhân lực, hệ thống thông tin kế toán và chất lượng thông tin kế toán Tuy nhiên, bài nghiên cứu không phân tích rõ các đặc điểm chất lượng thông tin kế toán mà chỉ đề cập đến bốn đặc tính cơ bản của thông tin kế toán là (1) tính chính xác, (2) kịp thời, (3) đầy đủ, (4) nhất quán
Các nghiên cứu trong nước
[3] Nguyễn Bích Liên, 2012 Xác định và kiểm soát các nhân tố tác động đến chất
lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng ERP Luận án Tiến sĩ Đại học
có sự khác nhau về cách thức nhìn nhận các nhân tố ảnh hưởng đến CLTTKT giữa
3 nhóm người khảo sát gồm nhà tư vấn và triển khai ERP; DN sử dụng ERP và các nhà nghiên cứu, giảng dạy ERP
Tất cả có 13 thành phần nhân tố ảnh hưởng đến CLTTKT gồm: tầm nhìn, cam kết và hỗ trợ của ban quản lý cấp cao của DN; năng lực, kinh nghiệm và sự hỗ trợ của nhà tư vấn, triển khai; năng lực đội dự án; thử nghiệm hệ thống; huấn luyện và tham gia của nhân viên DN; chất lượng dữ liệu; quy trình xử lý và chất lượng phần mềm ERP; chất lượng thiết bị, cơ sở hạ tầng; môi trường văn hóa DN; môi trường giám sát, kiểm tra; chính sách nhân sự; chính sách quản lý thay đổi; chính sách
chất lượng và kiểm soát
Trang 39[4] Trần Thị Thanh Tú và cộng sự, 2014 Xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 3
Nhóm tác giả lựa chọn các quan điểm CLTTKT của các tổ chức nghề nghiệp kế toán như FASB, IASB và hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam để so sánh, phân tích và lựa chọn tiêu chuẩn CLTTKT phù hợp nhất gồm 6 tiêu chuẩn: (1) Phù hợp, (2) Trình bày trung thực, (3) Dễ hiểu, (4) So sánh được, (5) Xác nhận và (6) Đúng
kỳ Bài viết xây dựng mô hình hồi quy đa biến để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công bố thông tin Trong đó mức độ công bố thông tin là biến phụ thuộc; các biến độc lập bao gồm: tỷ lệ vốn chủ sở hữu của Nhà nước tại công ty niêm yết, loại hình DN, quy mô DN, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, cơ cấu vốn của DN, mức độ độc lập của HĐQT, năng lực quản trị điều hành,
vị trí địa lý, quy mô HĐQT Hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến chất lượng công bố thông tin của các DN niêm yết
tại Việt Nam
[5] Đào Ngọc Hạnh, 2014 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ
thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP.HCM
Luận văn thạc sĩ Đại học kinh tế TP.HCM
Mục tiêu đề tài nhằm xác định và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các DN vừa và nhỏ trên địa bàn TP.HCM Chất lượng hệ thống thông tin kế toán được đo lường thông qua CLTTKT Các đặc tính chất lượng của thông tin kế toán được chọn lọc từ quan điểm đánh giá CLTTKT của các tổ chức IASB, FASB, quan điểm hội tụ IASB-FASB, tiêu chuẩn Cobit và chuẩn mực kế toán Việt Nam Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng được thực hiện với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20.0 Bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế theo thang đo Likert 5 điểm với sự lựa chọn từ rất thấp đến rất cao được gửi đến 200 DN vừa và nhỏ trên địa bàn TP.HCM Mô hình hồi quy tuyến tính gồm biến phụ thuộc là CLTTKT và 8 biến độc lập là cam kết của nhà quản lý, kiến thức về sử dụng công nghệ hệ thống thông tin kế toán của nhà quản lý, kiến thức kế toán của nhà quản lý, hiệu quả của phần mềm và các trình
Trang 40ứng dụng kế toán, chất lượng dữ liệu, hiệu quả tham gia của nhân viên, huấn luyện
và đào tạo, môi trường văn hóa DN
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 nhân tố tác động đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán gồm tham gia của nhân viên, kiến thức sử dụng công nghệ hệ thống thông tin kế toán của nhà quản lý và cam kết của nhà quản lý
[6] Cao Nguyễn Lệ Thư, 2014 Đánh giá các yếu tố bên trong doanh nghiệp tác
động đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết
ở Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM Luận văn thạc sĩ Đại học kinh tế TP.HCM
Nghiên cứu tìm hiểu về CLTTKT được trình bày trên BCTC của các DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM và các nhân tố bên trong DN ảnh hưởng đến CLTTKT Bằng cách kế thừa bảng thuyết minh gồm 78 khoản mục theo nghiên cứu của Jouini Fathi (2013), luận văn đã đo lường CLTTKT trên BCTC thông qua chỉ số công bố thông tin không trọng số Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 119 BCTC năm 2013 đã kiểm toán của các DN thuộc các nhóm ngành xây dựng, công nghệ chế biến và chế tạo Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng thông qua sự hỗ trợ của phần mềm thống kê SPSS 16.0 Mô hình hồi quy tuyến tính bội gồm biến phụ thuộc là CLTTKT và 11 biến độc lập: quy mô DN, thời gian hoạt động của DN, cấu trúc vốn Nhà nước, sự tách biệt chức danh chủ tịch HĐQT và CEO, tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành, quy mô HĐQT, khả năng sinh lời, sự tồn tại của BKS, đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán hiện hành và tài sản cố định
Kết quả nghiên cứu cho thấy CLTTKT trên BCTC của các DN niêm yết đồng biến với quy mô DN và tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập; nghịch biến với tỷ lệ sở hữu cổ phần của Nhà nước
[7] Phan Minh Nguyệt, 2014 Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam Luận văn thạc sĩ Đại học kinh tế TP.HCM
Nghiên cứu xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến CLTTKT trên BCTC Luận văn đã tổng hợp lại các đặc tính CLTTKT theo các quan điểm và lựa chọn đặc tính chất lượng kế toán của IASB để làm cơ sở nghiên