Phạm Hà Kim Ngân TÁC ĐỘNG CỦA CUNG TIỀN VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH ĐẾN LẠM PHÁT Ở CÁC NƯỚC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Tp.Hồ Chí Minh – 2016... Phạm Hà Kim Ngân TÁC Đ
Trang 1Phạm Hà Kim Ngân
TÁC ĐỘNG CỦA CUNG TIỀN VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH ĐẾN LẠM PHÁT Ở CÁC NƯỚC
CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp.Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2Phạm Hà Kim Ngân
TÁC ĐỘNG CỦA CUNG TIỀN VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH ĐẾN LẠM PHÁT Ở CÁC NƯỚC
CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS.Bùi Kim Yến
Tp.Hồ Chí Minh – 2016
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS.Bùi Kim Yến Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, trong luận ăn còn
sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội
dung luận văn của mình
Trang 4NHTW: Ngân hàng Trung Ương
OECD: Nhóm các nước nền kinh tế phát triển
THNS: Thâm hụt ngân sách
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2.1 Tóm t ắt các nghiên cứu về tác động của thâm hụt ngân sách đến lạm phát 14
Bảng 2.2.2 Tóm tắt các nghiên cứu về tác động của cung tiền đến lạm phát 17
Bảng 3.1.2.1 GDP thực của các nước (%) 30
Bảng 4.1.2 Bảng mô tả các biến mô hình 41
Bảng 4.2.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 46
Bảng 4.2.1.1 : Kiểm định tương quan chéo (cross-section independence) 48
Bảng 4.2.1.2: Kiểm định tính dừng 49
Bảng 4.2.3.1: Kết quả ma trận tự tương quan 50
Bảng 4.2.3.2: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai 51
Bảng 4.2.4: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình 52
Bảng 4.2.5: Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình 52
Bảng 4.2.6: Kết quả kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng Kao (1999) 53
Bảng 4.2.7 a: Kết quả hồi quy mô hình 1 54
Bảng 4.2.7 b: Kết quả hồi quy mô hình 2 56
Bảng 4.2.8: Kết quả hồi quy mô hình mở rộng 60
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.4.2 Chỉ số GDP 9 nước trong khu vực châu Á Thái Bình Dương 4
Hình 3.1.1 Tỷ lệ đóng góp vào GDP toàn cầu của các khu vực kinh tế thế giới năm 2000, 2010, 2011 22
Hình 3.1.2.1 a Phân tích lạm phát theo rổ CPI 32
Hình 3.1.2.1 b Chính sách lãi suất 33
Hình 3.1.2.1 c Lạm phát các quốc gia 33
Hình 3.1.2.1 d Cân bằng tài khóa điều chỉnh chu kỳ 34
Hình 3.1.2.2 a Tình hình lạm phát ở 9 nước trong giai đoạn 1997 đến 201 4 35
Hình 3.1.2.2 b Tình hình thâm hụt ngân sách ở 9 nước trong giai đoạn 1997 đến 2014 36
Hình 3.1.2.2 c Tình hình cung tiền M2 ở 9 nước trong giai đoạn 1997 -2014 36
Trang 7TÓM TẮT
Bằng việc nghiên cứu dữ liệu từ chín quốc gia đại diện cho khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong giai đoạn 1997-2014 bài nghiên cứu đã cố gắng nỗ lực trong việc tìm kiếm mối quan hệ giữa các biến số tài khóa (thâm hụt ngân sách, chi tiêu chính phủ) cũng như các biến số vĩ mô khác đối với lạm phát Một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ hay thâm hụt ngân sách quốc gia làm lạm phát càng trở nên trầm trọng.Bên cạnh đó, sự gia tăng của lãi suất cũng góp phần làm cho lạm phát ngày càng cao Ngược lại, trong mối tương quan giữa các biến số vĩ mô nghiên cứu, kết quả mô hình hàm ý một sự nghịch biến giữa cung tiền và lạm phát Mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát được xác nhận trong ngắn hạn Không có tác động của cung tiền, việc gia tăng độ mở thương mại làm lạm phát suy giảm theo thời gian
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI THÂM
HỤT NGÂN SÁCH VÀ CUNG TIỀN M2 ĐẾN LẠM
PHÁT
1.1 Giới thiệu về đề tài
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý NSNN là đảm bảo
sự cân đối giữa thu và chi Tuy nhiên, do nhiều khả năng dẫn đến nguồn thu bị hạn chế và tăng trưởng chậm, trong khi các nhu cầu chi lại tăng nhanh nên chính phủ có thể chủ trương thực hiện bội chi ngân sách Thời gian gần đây, số liệu ngân sách được công bố ở nhiều nước cho thấy không chỉ các nước trong khu vực châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia…) mà ngay cả các nền kinh tế lớn (Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Italia…) cũng đang phải vật lộn với việc thâm hụt NSNN khổng lồ, do thất thu
từ thuế Trong khi đó, các khoản chi (chi cho trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, chi trợ cấp năng lượng…) ngày càng tăng cao Đặc biệt, vấn đề nổi trội nhất gần đây là khủng hoảng nợ ở Hy lạp Hy Lạp đã không đủ khả năng chi trả các khoản nợ và chính thức vỡ nợ vào ngày 01/07/2015 Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) phát
đi thông báo xác nhận Hy Lạp không trả nợ đúng hạn Điều này cũng có nghĩa Athens chính thức rơi vào tình trạng vỡ nợ Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một nền kinh tế phát triển như Hy Lạp bị IMF kết luận như vậy Với tuyên bố này, Hy Lạp mặc nhiên không được quyền tiếp cận bất cứ khoản vay nào của quỹ cho tới khi thanh toán xong nghĩa vụ nợ cũ Olympic Athen được tổ chức vào giữa 2004 được coi là nguyên nhân trực tiếp đẩy Hy Lạp vào cuộc khủng hoảng nợ kéo dài cho đến tận hôm nay Lạm chi cho Olympic đã làm tăng nợ công và thâm hụt ngân sách của nướcnày.Thế nhưng thủ tướng Hy Lạp Alexis Tsipras vẫn một mực từ chối những yêu cầu của chủ nợ về cắt giảm chi tiêu và tăng thuế mà ông gọi là “thư tống tiền”
Mặc dù kinh tế - tài chính toàn cầu trong nửa đầu năm 2013 đã được cải thiện đáng kể nhưng tình hình thâm hụt NSNN ở một số quốc gia trên thế giới vẫn ở mức cao và trở thành vấn đề đáng lo ngại về “vỡ” cân đối thu - chi trong năm Việc bảo
Trang 9toàn dự toán thu - chi NSNN là “bài toán” khó đối với nhiều quốc gia trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế - chính trị trên thế giới chưa có dấu hiệu cải thiện
Bội chi NSNN ở mức cao đều có nguy cơ gây ra lạm phát Bởi vì, khi ngân sách bị bội chi có thể được bù đắp bằng phát hành tiền hoặc vay nợ, đều gây nên nguy cơ lạm phát tăng Việc phát hành tiền trực tiếp làm tăng cung tiền tệ trên thị trường sẽ gây lạm phát cao, đặc biệt khi việc tài trợ thâm hụt lớn và diễn ra liên tục thì nền kinh tế phải trải qua lạm phát cao và kéo dài như giai đoạn 1986 - 1990 Sự gia tăng cung tiền có thể không làm tăng lạm phát nếu nền kinh tế đang đà tăng trưởng, mức cầu tiền giao dịch tăng lên phù hợp với mức tăng của cung tiền Tuy nhiên, trong trường hợp khu vực tư nhân đã thỏa mãn với lượng tiền họ đang nắm giữ (mức cầu tiền tương đối ổn định) thì sự gia tăng của cung tiền làm cho lãi suất thị trường giảm, nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa dịch vụ, nhu cầu đầu tư sẽ tăng lên kéo theo sự tăng của tổng cầu nền kinh tế, mặt bằng giá cả sẽ tăng lên gây áp lực lạm phát Người ta gọi trường hợp khi chính phủ tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách
tăng cung tiền là hiện tượng chính phủ đang thu "thuế lạm phát" từ những người
đang nắm giữ tiền
1.2 Sự cần thiết của đề tài
Mục tiêu quan trọng của chính sách kinh tế vĩ mô là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sinh thái với lạm phát ở mức độ thấp Giá ổn định là một trong những yếu
tố quyết định tốc độ tăng trưởng nền kinh tế; do đó, các cơ quan tiền tệ của nhiều quốc gia đã duy trì lạm phát ở mức mục tiêu Một lạm phát rất cao ảnh hưởng đến nền kinh tế mạnh, nhưng cũng có một số bằng chứng cho thấy lạm phát vừa phải cũng làm chậm tăng trưởng (Temple, 2000) Tuy nhiên, mức độ lạm phát cao xuất phát từ công cụ của chính sách tiền tệ (cung tiền, lãi suất, vv.) và cũng có những tác động của chính sách tài khóa (thâm hụt ngân sách, chi tiêu chính phủ, vv) Fischer, Sahay, & Végh (2002) chỉ ra rằng thâm hụt ngân sách là một trong những yếu tố chính của lạm phát cao Hầu hết các quốc gia Châu Á có thâm hụt và cung tiền tương đối cao như là chính phủ tăng chi tiêu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo
Trang 10việc làm Bằng phương pháp định lượng, bài nghiên cứu sẽ xác định yếu tố quyết định của lạm phát và đề xuất một số khuyến nghị chính sách liên quan để duy trì mức lạm phát mục tiêu và ổn định
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Bài nghiên cứu này nhằm mục tiêu kiểm định thâm hụt ngân sách và tăng cung tiền M2 có ảnh hưởng đến lạm phát ở các nước châu Á, Thái Bình Dương Trên cơ sở đóng góp bằng chứng thực nghiệm tại một số nước trong khu vực với mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách, cung tiền ảnh hưởng đến lạm phát từ đó đưa
ra một số gợi ý chính sách cho khu vực nói chung và cho Việt Nam nói riêng Bài nghiên cứu tập trung làm rõ bốn câu hỏi sau:
Trong dài hạn,
Một là, thâm hụt ngân sách có tác động hay không đến lạm phát?
Hai là, mở rộng cung tiền M2 có tác động hay không đến lạm phát?
Trong ngắn hạn,
Một là, tốc độ thâm hụt ngân sách có tác động đến tốc độ lạm phát hay không, nếu
có thì tác động dương hay âm?
Hai là, tốc độ thay đổi mở rộng cung tiền M2 có tác động như thế nào đến tốc độ thay đổi lạm phát, nếu có tác động thì tác động này là âm hay dương?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý thuyết cũng như bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về ba nhân tố chính: Thâm hụt NSNN; cung tiền M2 và lạm phát quốc gia
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Bài nghiên cứu tập trung khu vực Châu Á Thái Bình Dương - là khu vực có tầm quan trọng chiến lược, chiếm khoảng 40% diện tích lãnh thổ và hơn 41% dân số thế giới Nơi đây có nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có, đặc biệt là dầu mỏ chiếm tới hơn 65% trữ lượng của toàn cầu và có nhiều tuyến giao thông huyết mạch của thế
Trang 11giới đi qua Theo như ngân hàng Phát triển Châu Á (2013), trong đó tỷ lệ thâm hụt tài chính cao nhất thuộc về Pakistan (-6,64%) , Sri Lanka (-6,4%) và Bangladesh (-4,56%) trong khi đó cung tiền M2 mở rộng xảy ra tại Malaysia (142%), Thái Lan (124,8%) và Việt Nam (108,4%) Vì vậy bài luận sẽ chọn 9 nước có đầy đủ dữ liệu thể hiện rõ tình trạng thâm hụt và mở rộng cung tiền với tốc độ tăng trưởng GDP tương đồng nhau (hình 1.4.2) là Bangladesh, Cambodia, Indonesia, Malaysia, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam trong khoảng thời gian từ
1997 đến 2014
(Nguồn: World Development Indicators)
Hình 1.4.2 Chỉ số GDP 9 nước trong khu vực châu Á Thái Bình Dương
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Bài nghiên cứu thực hiện định lượng trên dữ liệu bảng, sử dụng các phương pháp kiểm định nhằm kiểm soát các khiếm khuyết trên
mô hình hồi quy: gồm đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan và xem xét nội sinh lý thuyết từ đó lựa chọn phương pháp GMM theo nghiên cứu Arellano Bond (1995) nhằm kiểm soát các vấn đề khiếm khuyết tồn tại nhằm đưa ra kết quả
định lượng tin cậy
Trang 12Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata 11 để thực hiện định lượng vì đây là công cụ hồi quy mạnh và có nhiều phương pháp ước lượng bao gồm cả hồi quy mạnh và hồi quy với sai số chuẩn mạnh
Đối với mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách, cung tiền và lạm phát trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy thâm hụt ngân sách, cung tiền có ảnh hưởng tới lạm phát Tuy nhiên, ở khu vực APEC Thái Bình Dương hiện nay, vấn đề này vẫn chưa tồn tại bài nghiên thật sát để trả lời câu hỏi này Ở khía cạnh của bài nghiên cứu, tác giả đóng góp ý nghĩa như sau:
Về mặt lý luận, đề tài sẽ hệ thống hóa các nghiên cứu về tác động của ngân sách, cung tiền đến lạm phát
Về mặt thực tiễn, đề tài tiến hành xây dựng một mô hình định lượng để xác định các tác động này trong ngắn hạn và dài hạn Từ đó cung cấp những cơ sở để đưa ra các chính sách phù hợp tiêu thụ ổn định lạm phát mục tiêu trong khu vực APEC Châu Á Thái Bình Dương nói chung và các khu vực khác nói riêng
Từ việc khai phá mối quan hệ khách quan khoa học thâm hụt ngân sách, cung tiền và lạm phát trong ngắn hạn và dài hạn góp phần giúp cho các nhà làm chính sách nhìn nhận rõ hơn chiều hướng ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách, cung tiền và lạm phát,
từ đó giúp các nhà làm chính sách có những chính sách ngắn hạn và dài hạn thích hợp để điều chỉnh lạm phát mục tiêu
1.7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu bài luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu về đề tài thâm hụt ngân sách và cung tiền M2 tác động đến lạm phát
Chương 2: Cơ sở lý thuyết liên quan đến thâm hụt ngân sách và cung tiền M2 ảnh hưởng đến lạm phát
Trang 13Chương 3: Thực trạng vấn đề lạm phát, thâm hụt ngân sách và cung tiền M2
ở các nước tại khu vực châu Á Thái Bình Dương
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu, dữ liệu và kết quả mô hình
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
Trang 14CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN THÂM HỤT NGÂN SÁCH VÀ CUNG TIỀN M2 ẢNH HƯỞNG ĐẾN LẠM PHÁT
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất hoàn toàn về định nghĩa lạm phát Quan điểm cổ điển cho rằng lạm phát xảy ra khi số tiền lưu hành vượt quá dự trữ vàng làm đảm bảo của ngân hàng phát hành Cụ thể người ta dựa vào tỷ lệ đảm bảo của tiền tệ để xem xét có lạm phát hay không Chẳng hạn nếu pháp luật ấn định rằng tỷ lệ đảm bảo tối thiểu của tiền tệ là 30%, khi tỷ lệ đó xuống dưới mức pháp định tức là ngân hàng đã phát hành tiền quá mức Quan điểm này coi trọng cơ sở đảm bảo của tiền Trong thực tế, có những trường hợp tỷ lệ đảm bảo pháp định vẫn được tôn trọng nhưng giá cả của hàng hóa đều lên cao
Quan điểm khác cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế Có thể tóm tắt trong phương trình Fisher: M.V=P.Y Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm trong khi tổng lượng hàng hóa - dịch vụ được trao đổi (Y) không thay đổi, thì mặc nhiên mức giá trung bình (P) phải tăng lên Và nếu thêm vào đó tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì P lại tăng rất nhanh Để khắc
Trang 15phục tình trạng này cần dùng biện pháp thích hợp để thiết lập lại cân đối giữa tiền
và hàng trong nền kinh tế Cũng bàn về vấn đề lưu thông tiền tệ, Milton Friendman
đã từng phát biểu: Lạm phát ở mọi lúc mọi nơi đều là hiện tượng của lưu thông tiền
tệ Lạm phát xuất hiện và chỉ xuất hiện khi nào số lượng tiền trong lưu thông tăng nhanh hơn so với sản xuất
Quan điểm tĩnh về lạm phát nêu trên tuy giúp ta hiểu rõ về lạm phát, nhưng không cho biết nguyên nhân của lạm phát và khiến cho ta lầm tưởng lạm phát cao là kết quả của việc tăng trưởng mức cung tiền tệ cao Thật ra trong nhiều trường hợp không hẳn là như vậy, nhà nước có thể tăng cung ứng tiền tệ mà không làm cho giá
cả tăng, không gây ra lạm phát, nếu như khối lượng tăng đó phù hợp với khối tiền cần thiết cho lưu thông, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế
Ngoài ra còn có những quan điểm khác cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa (tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động) Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng Theo quan điểm này thì giá cả tăng lên cho dù bất kỳ nguyên nhân nào đều là lạm phát Lạm phát và giá cả tăng đều cùng một ý nghĩa Thật ra giá cả đồng loạt tăng lên chỉ là một trong những biểu hiện cơ bản của lạm phát mà thôi
Tóm lại, có rất nhiều góc nhìn khác nhau về lạm phát Mỗi quan điểm, lý thuyết chỉ giải thích cho một số thời kỳ nhất định và ngày càng nhiều quan điểm mới ra đời cùng sự phát triển của nền kinh tế Nhưng dù cho xét trên khía cạnh nào
đi nữa thì lạm phát đều có những đặc trưng sau:
Sự mất giá của đồng tiền do hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết
Giá cả của hầu hết các loại hàng hóa đồng loạt tăng lên
2.1.2 Thâm hụt ngân sách
"Thâm hụt ngân sách (hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước ) là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước lớn hơn các khoản thu phần chênh lệch
Trang 16chính là thâm hụt ngân sách Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách" Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước (trích sách Kinh tế vĩ mô, chương 10, tác giả Nguyễn Văn Dung) Ví dụ: Thâm hụt NSNN năm 2009 là 155900 tỷ đồng, tỉ lệ thâm hụt so với GDP là 6.9 % ( theo cách tính của Việt Nam ) Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau:
Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm
Thu Chi
A Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí)
B Thu về vốn (bán tài sản nhà nước)
C Bù đắp thâm hụt
– Viện trợ
– Lấy từ nguồn dự trữ
Vay thuần (= vay mới – trả nợ gốc)
D Chi thường xuyên
E Chi đầu tư
F Cho vay thuần (= cho vay mới – thu nợ gốc)
Trong đó: A + B +C = D + E + F
Công thức tính thâm hụt NSNN của một năm sẽ như sau:
Thâm hụt NSNN = Tổng chi – Tổng thu = (D + E + F) – (A + B) = C
Các lý thuyết tài chính hiện đại cho rằng, NSNN không cần thiết phải cân bằng theo tháng, theo năm Vấn đề là phải quản lý các nguồn thu và chi sao cho ngân sách không bi thâm hụt quá lớn và kéo dài Tuy vậy, trong nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, các Chính phủ vẫn theo đuổi một chính sách tài
Trang 17khóa thận trọng , trong đó chi ngân sách phải nằm trong khuôn khổ các nguồn thu ngân sách để tránh tình trạng thâm hụt
2.1.3 Cung tiền M2
Mức cung tiền tệ là khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông nhằm đáp ứng nhu cầu về giao dịch, dự trữ của các cá nhân, tổ chức, gia đình Nó được thể hiện dưới hình thức tiền mặt, tiền gửi vào ngân hàng và các tài sản tài chính khác Cung tiền thực tế trong lưu thông do các chủ thể phi ngân hàng nắm giữ Khối lượng tiền
tệ trong nền kinh tế được đo bằng các mức cung tiền tệ khác nhau và được kết cấu theo nguyên tắc tính thanh khoản giảm dần: Tiền gửi không kỳ hạn > tiền gửi có kỳ hạn>chứng khoán ngắn hạn > cổ phiếu >Bất động sản
Các mức cung tiền tệ bao gồm
M1: lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng và tiền gửi không kì hạn Đây là bộ phận có tính lỏng cao nhất, phục vụ chủ yếu cho nhu cầu giao dịch M1 = C + D
C: tiền ngoài ngân hàng D: tiền gửi không kỳ hạn
M2: bao gồm M1 và tiền gửi có kì hạn
M2 kém linh hoạt hơn M1 nhưng sự kiểm soát M2 là hết sức quan trọng bởi vì tiền gửi có kì hạn và không kỳ hạn thường xuyên chuyển hóa cho nhau Đây là khối tiền được coi như chỉ tiêu kiểm soát chính thức
M3 là cung tiền ở phạm vi cực kì rộng Nó bao gồm M2 + chứng chỉ tiền
gửi: tín phiếu, trái phiếu do chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức phát hành
2.1.4 Mối quan hệ giữa cung tiền M2 và lạm phát
"Đối với cung tiền M2, một số nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã dùng thuyết số lượng tiền để giải thích cho những nguyên nhân gây ra lạm phát từ tiền tệ Trong đó, bất cứ sự gia tăng nào trong cung tiền cũng làm tăng GDP danh nghĩa."(Tạp chí tài chính 02/2014) Mối quan hệ nhân quả cung tiền và lạm phát dựa
Trang 18vào định đề nổi tiếng của Friedman "Lạm phát luôn luôn và bất kỳ ở đâu là một hiện tượng tiền tệ" là " Sự gia tăng liên tục và kéo dài của giá cả nhất thiết được đi liền theo bởi sự gia tăng liên tục của cung tiền"
Như đã đề cập, theo lý thuyết về lượng tiền của Milton Friedman, mối quan
hệ giữa cung tiền và lạm phát được thể hiện qua phương trình định lượng:
MV=PY
Trong đó: M là lượng tiền V là vòng quay của tiền P là giá cả Y là sản lượng (GDP thực tế) Phương trình định lượng có thể viết dưới dạng phần trăm như sau:
(%thay đổi của M + % thay đổi của V = % thay đổi của P + % thay đổi của Y)
Công thức trên cho thấy mối quan hệ qua lại giữa các biến động của yếu tố cung tiền, vòng quay của tiền, giá cả và GDP thực tế Thông thường, vòng quay của tiền hay còn gọi là tốc độ chu chuyển của tiền V không thay đổi nhiều qua từng năm Giả sử V không thay đổi, khi đó tốc độ tăng của giá cả bằng tốc độ tăng của cung tiền trừ đi tốc độ tăng của GDP thực tế Như vậy, lạm phát sẽ xảy ra khi tốc độ tăng cung tiền nhanh hơn tốc độ tăng sản lượng Y Trong trường hợp nền kinh tế đạt mức sản lượng cố định hàng năm, tỷ lệ tăng của giá cả bằng chính tỷ lệ tăng của cung tiền
tệ, tốc độ tăng trưởng cung tiền sẽ quyết định tỷ lệ của lạm phát
Dựa vào lý thuyết định lượng tiền tệ, nhiều nhà kinh tế đồng thuận quan điểm
số lượng tiền tệ là yếu tố quyết định tỷ lệ lạm phát (Mankiw, 1997) Tuy nhiên không đồng tình quan điểm này, Mortaza (2006) cho rằng trong các nước đang phát triển, lạm phát không hoàn toàn thuộc về hiện tượng tiền tệ mà có liên quan mật thiết với thâm hụt ngân sách (Phát triển kinh tế số 259 2012)
Hầu hết các nước đang phát triển đều có mức lạm phát biến đổi thất thường
và rất cao Lạm phát là một trong những yếu tố có tác động tích cực lẫn tiêu cực với tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau với mức độ ảnh hưởng tổng thể khác nhau của nền kinh tế, phụ thuộc vào khả năng thích nghi với mức lạm phát hiện hành và khả năng dự báo lạm phát Do đó, lạm phát vừa phải được xem là
Trang 19giúp tăng trưởng kinh tế thông qua khuyến khích huy động vốn và tăng tính linh hoạt tỷ giá Tỷ lệ lạm phát thấp có thể giúp thị trường hàng hóa, lao động và tăng tính linh hoạt tương đối đối với giá cả Các chuyên gia đã chỉ ra rằng, lạm phát và cung tiền có vai trò rất lớn đối với kinh tế - xã hội Chính phủ nhằm ổn định nền kinh tế bằng cách kiểm soát nguồn cung tiền, chính sách tiền tệ chủ yếu tập trung vào ổn định tiền tệ (kiểm soát lạm phát); tăng trưởng kinh tế; tạo việc làm và cân bằng cán cân thanh toán cùng với chính sách tài khóa cân bằng thu chi giảm thâm hụt ngân sách
2.1.5 Mối quan hệ thâm hụt ngân sách và lạm phát
"Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát là thông qua kênh tiền tệ
và trong một số trường hợp có thể thông qua kênh cầu kéo Ngoài ra, khi nhu cầu vốn tăng lên do tổng cầu tăng lại được tài trợ bằng vay tín dụng ngân hàng có thể sẽ làm cho lãi suất trong nền kinh tế tăng lên và do vậy rất có thể quay trở lại làm tăng giá trong nền kinh tế trong khi chi phí tài chính có ảnh hưởng lớn tới các quyết định
về giá Như vậy, trong trường hợp này, tăng thâm hụt ngân sách có thể dẫn đến tăng giá"
Bội chi ngân sách không chỉ diễn ra phổ biến đối với các nước nghèo, kém phát triển mà xảy ra ngay cả đối với những nước thuộc nhóm các nền kinh tế phát triển nhất (nhóm OECD) Đối với các nước đang phát triển, bội chi ngân sách thường để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu như: Giao thông, điện, nước Nhiều nước phát triển và đang phát triển cũng vẫn bội chi ngân sách Tuy nhiên chính mức tăng chi tiêu của Chính phủ sẽ kéo theo hiệu ứng tăng giá ở một số các lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ do gia tăng cầu dẫn đến tình trạng lạm phát
do cầu kéo, song song với việc giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng cũng sẽ kéo theo các chi phí sản xuất tăng dẫn đến lạm phát do chi phí đẩy Mặt khác khi các nhu cầu về đầu tư cơ sở hạ tầng tăng cao mà ngân sách nhà nước lại thiếu hụt dẫn đến không đủ nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển Để bù đắp phần thiếu hụt, Nhà nước có thể sử dụng chính sách phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông Tuy nhiên việc tăng
Trang 20chi tiêu của Chính phủ trong trường hợp này sẽ gây "tăng trưởng nóng" và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia Nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN thì sẽ gây ra tình trạng lạm phát tiền tệ
2.2 Lược khảo các nghiên cứu trước
Khảo sát sơ bộ các nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy đã có nhiều bài báo, các công trình khoa học đã thực hiện kiểm định, phân tích mối quan
hệ giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát cũng như giữa cung tiền và lạm phát Tuy nhiên phần lớn những nghiên cứu này chỉ mới dừng lại ở phân tích các vấn đề đơn
lẻ, ví dụ như giữa thâm hụt ngân sách với lạm phát hoặc giữa cung tiền với lạm phát, chưa có sự kết hợp giữa thâm hụt ngân sách và cung tiền tác động đến lạm phát
2.2.1 Các nghiên cứu về tác động của thâm hụt ngân sách đến lạm phát
Karras (1994) điều tra về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đối với tăng trưởng tiền tệ, lạm phát, đầu tư và tăng trưởng sản lượng thực sử dụng dữ liệu hàng năm từ một mẫu 32 quốc gia trong giai đoạn 1950-1989 và thấy rằng thâm hụt không có tác động đến lạm phát
Tuy nhiên, Cottarelli et al (1998) tìm thấy một tác động đáng kể giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát trong công nghiệp và kinh tế chuyển đổi bằng cách sử dụng các mô hình dữ liệu bảng trong 47 quốc gia từ 1993 đến 1996
Fischer et al (2002), sử dụng bộ dữ liệu của 94 nước đã và đang phát triển từ năm 1960-1995, thấy rằng mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát chỉ mạnh ở các nước có lạm phát cao trong giai đoạn lạm phát cao và yếu ở các nước có lạm phát thấp trong giai đoạn lạm phát thấp và ở nước có lạm phát cao trong giai đoạn lạm phát thấp
Catão và Terrones (2005) áp dụng các phương pháp ước lượng theo nhóm trung bình với tập dữ liệu kéo dài 107 quốc gia trong giai đoạn 1960-2001 Nghiên cứu này chỉ ra rằng, theo kinh nghiệm, thâm hụt có tác động đến lạm phát và tác động như vậy sẽ mạnh hơn ở các nước có lạm phát cao hoặc với các nước đang phát
Trang 21triển Như đã đề cập, các nước đang phát triển với việc thu thuế kém hiệu quả, chính trị bất ổn và khó tiếp cận vay nợ nước ngoài dẫn đến chi phí in tiền tương đối thấp,
do đó thuế lạm phát cao hơn
Lin và Chu (2013) áp dụng hồi quy tứ phân bảng (DPQR) mô hình tự hồi quy (ARDL) đặc điểm kỹ thuật, và kiểm tra mối quan hệ thâm hụt lạm phát ở 91 quốc gia từ năm 1960 đến năm 2006 Các mô hình DPQR ước lượngtác động của thâm hụt đến lạm phát ở nhiều mức độ và cho phép điều chỉnh linh động với các đặc điểm
kỹ thuật ARDL Kết quả các thực nghiệm lưu ý rằng thâm hụt ngân sách có tác động mạnh mẽ đếnlạm phát trong giai đoạn lạm phát cao, và có tác động yếu trong giai đoạn lạm phát thấp
Jayaraman và Chen (2013) điều tra mối quan hệ của các khoản thâm hụt ngân sách và lạm phát trong bốn nước ở Thái Bình Dương (PIC): Pacific Island Countries: Úc, Nhật, New Zealand, Mỹ Bằng cách tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm những quan hệ giữa thâm hụt ngân sách trong bốn nước PIC thông qua một bảng điều khiển phân tích kinh tế lượng Một khuôn khổ đa biến được thông qua nhằm tránh thiên vị phát sinh từ sự thiếu sót của các biến có liên quan và các phương pháp luận sử dụng để ước lượng một mối quan hệ dài hạn giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát được các thủ tục kiểm tra dựa trên bảng đồng hội nhập sửa lỗi Wester-Lund Những phát hiện của nghiên cứu xác nhận sự tồn tại của một mối quan hệ mạnh và trực tiếp giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát trong cả bốn nước PIC
Bảng 2.2.1 Tóm tắt các nghiên cứu về tác động của thâm hụt ngân sách
đến lạm phát
gian/Phạm vi nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
Trang 22Karras
(1994)
Điều tra về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đối với tăng trưởng tiền tệ, lạm phát, đầu tư và tăng trưởng sản lượng thực
Dữ liệu hàng năm từ một mẫu 32 quốc gia trong giai đoạn 1950-1989
Thâm hụt không có tác động đến lạm phát
1993 đến 1996
Tìm thấy một tác động đáng kể giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát trong công nghiệp và kinh tế chuyển đổi
Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát chỉ mạnh ở các nước có lạm phát caotrong giai đoạn lạm phát cao và yếu ở các nước có lạm phát thấp trong giai đoạn lạm phát thấp và ở nước có lạm phát cao trong giai đoạn lạm phát thấp
Catão và
Terrones
(2005)
Thâm hụt có tác động đến lạm phát hay không
Phương phápước lượng theo nhóm trung bình với tập
dữ liệu kéo dài 107
Thâm hụt có tác động đến lạm phát và tác động như vậy sẽ mạnh hơn ở các nước có lạm
Trang 232.2.2 Các nghiên cứu về tác động của cung tiền đến lạm phát
Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm xác nhận một tác động mạnh mẽ của cung tiền đến lạm phát
McCandless & Weber (1995) kiểm tra dữ liệu cho 110 quốc gia trong khoảng thời gian 30 năm Nghiên cứu cho thấy rằng có mối tương quan cao (gần như thống nhất) giữa tỷ lệ tăng trưởng cung tiền và tỷ lệ lạm phát trong dài hạn
quốc gia trong giai đoạn 1960-2001
phát cao hoặc với các nước đang phát triển
Lin và Chu
(2013)
Ước lượng tác động của thâm hụt đến lạm phát ở nhiều mức độ và cho phép điều chỉnh linh động với các đặc điểm kỹ thuật ARDL
Áp dụng hồi quy tứ phân bảng (DPQR)
mô hình tự hồi quy (ARDL) đặc điểm
kỹ thuật, và kiểm tra mối quan hệ thâm hụt lạm phát ở 91 quốc gia từ năm
1960 đến năm 2006
Thâm hụt ngân sách có tác động mạnh mẽ đến lạm phát trong giai đoạn lạm phát cao, và
có tác động yếu trong giai đoạn lạm phát thấp
và lạm phát
Thông qua một bảng điều khiển phân tích kinh tế lượng ở bốn nước ở Thái Bình Dương (PIC)
Xác nhận sự tồn tại của một mối quan hệ mạnh
và trực tiếp giữa thâm hụtngân sách và lạm phát trong cả bốn nước PIC
Trang 24Về mối quan hệ giữa tiền và giá cả, King (2002) cho rằng mối tương quan mạnh mẽ giữa chúng biến mất trong thời gian ngắn chỉ ra rằng những tác động của tăng trưởng tiền hiện ra những thay đổi trong các biến thực
Theo Walsh (2003), các mối tương quan cao giữa lạm phát và tốc độ tăng trưởng cung tiền hỗ trợ đối với số lượng lý thuyết sự tranh cãirằng sự tăng trưởng cung tiền dẫn đến một sự gia tăng tương đương trong mức giá
Nassar (2005) sử dụng một mô hình hai khu vực để ước tính những quan hệ giữa giá cả, tiền bạc, và tỷ giá hối đoái cho dữ liệu theo quý ở Madagascar trong giai đoạn 1982-2004 Kết quả rằng cung tiền có tác động tích cực đáng kể đến lạm phát
Oomes và Ohnsorge (2005) điều tra các tác động của cầu tiền đến lạm phát trên dữ liệu hàng tháng tại Nga từ tháng 4/1996 đến tháng 1 năm 2004 bằng cách sử dụng các mô hình sửa lỗi Kết quả là một nguồn cung tiền mở rộngdư thừadẫn đếnsự lạm phát trong khi các biện pháp thừa tiền khác không dẫn đến lạm phát và việc tăng cung tiền có ảnh hưởng mạnh nhất và dai dẳng nhất đến lạm phát trong ngắn hạn
Pelipas (2006) điều tra thực nghiệm cầu tiền và lạm phát Belarus trên cơ sở
dữ liệu quý từ 1992-2003, sử dụng đồng tích hợp VAR và cân bằng mô hình sửa lỗi, lưu ý cung tiền có mối tương quan tích cực đáng kể với lạm phát
Hossain (2010) điều tra các hành vi của cầu tiền ở Bangladesh sử dụng dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1973-2008 bằng cách kiểm tra đồng tích hợp Johansen và mô hình sữa lỗi Kết quả thực nghiệm cho thấy sự tồn tại của một mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng cung tiền và lạm phát
Bảng 2.2.2 Tóm tắt các nghiên cứu về tác động của cung tiền đến lạm phát
cứu
Phương pháp/Thời gian/Phạm vi nghiên
cứu
Kết quả nghiên cứu
Trang 25McCandless
& Weber
(1995)
Tỷ lệ tăng trưởng cung tiền
và tỷ lệ lạm phát
Kiểm tra dữ liệu cho
110 quốc gia trong khoảng thời gian 30 năm
Có mối tương quan cao giữa tỷ lệ tăng trưởng cung tiền và tỷ
lệ lạm phát trong dài hạn
King (2002) Mối quan hệ
giữa tiền và giá
cả
Mối tương quan mạnh
mẽ giữa chúng biến mất trong thời gian ngắn chỉ ra rằng những tác động của tăng trưởng tiền hiện ra những thay đổi trong các biến thực
Walsh
(2003)
Các mối tương quan giữa lạm phát và tốc độ tăng trưởng cung tiền
Các mối tương quan cao giữa lạm phát và tốc độ tăng trưởng cung tiền hỗ trợ đối với số lượng lý thuyết
sự tranh cãi rằng sự tăng trưởng cung tiền dẫn đến một sự gia tăng tương đương trong mức giá
Nassar
(2005)
Sử dụng một mô hình hai khu vực
để ước tính những quan hệ
Dữ liệu theo quý ở Madagascar trong giai đoạn 1982-2004
Cung tiền có tác động tích cực đáng kể đến lạm phát
Trang 26giữa giá cả, tiền bạc, và tỷ giá hối đoái
Oomes và
Ohnsorge
(2005)
Điều tra các tác động của cầu tiền đến lạm phát
Dữ liệu hàng tháng tại Nga từ tháng 4/1996 đến tháng 1 năm 2004 bằng cách
sử dụng các mô hình sửa lỗi
Một nguồn cung tiền
mở rộngdư thừadẫn đếnsự lạm phát trong khi các biện pháp thừa tiền khác không dẫn đến lạm phát và việc tăng cung tiền có ảnh hưởng mạnh nhất và dai dẳng nhất đến lạm phát trong ngắn hạn
Pelipas
(2006)
Điều tra thực nghiệm cầu tiền
và lạm phát
Trên cơ sở dữ liệu quý từ 1992-2003, sử dụng đồng tích hợp VAR và cân bằng mô hình sửa lỗi
Cung tiền có mối tương quan tích cực đáng kể với lạm phát
Hossain
(2010)
Điều tra các hành vi của cầu tiền
Dử dụng dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1973-2008 ở
Bangladesh bằng cách kiểm tra đồng liên kết Johansen và
mô hình sữa lỗi
Cho thấy sự tồn tại của một mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng cung tiền và lạm phát
Trang 272.3 Tóm tắt
Khảo sát sơ bộ các nghiên cứu trong nước và nước ngoài kết hợp với lý thuyết kinh tế vĩ mô kiểm định thực chứng đã cho thấy thâm hụt ngân sách và cung tiền có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến lạm phát theo cách thức khác nhau Mức độ và cách thức tác động lại chịu sự chi phối của tỷ lệ thâm hụt và phương thức tài trợ cho thâm hụt cũng như mức độ tăng cung tiền Kết quả thu được từ những nghiên cứu trước khá đa dạng và không đồng nhất với nhau Trong đó có những nghiên cứu đưa ra những bằng chứng đồng thuận với quan điểm thâm hụt ngân sách cao cũng như tốc độ cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng thực tế kéo dài ảnh hưởng tiêu cực đến lạm phát, có nguy cơ gây bất ổn nền kinh tế nhất là đối với các nước đang phát triển song cũng có những bài đưa ra mối quan hệ ngược lại Trên một phương diện khác, các nghiên cứu lại cho rằng giữa thâm hụt ngân sách và cung tiền không có mối quan hệ với lạm phát
Trang 28CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ LẠM PHÁT, THÂM HỤT NGÂN SÁCH, CUNG TIỀN M2 Ở CÁC NƯỚC TẠI KHU VỰC CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG
3.1 Giới thiệu chương
3.1.1 Tình hình chung của giai đoạn nghiên cứu tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương
Những thập kỷ gần đây, khu vực Châu Á Thái Bình Dương luôn đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, có nhiều nước đạt mức tăng trưởng cao nhất thế giới Theo dự đoán, kinh tế khu vực này sẽ phát triển năng động bậc nhất thế giới trong thế kỷ 21 Năm 2013 Châu Á Thái Bình Dương chiếm khoảng 61% GDP thế giới; 48% thương mại quốc tế; trên 48% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của thế giới Do tầm quan trọng đó, các nước lớn đều rất chú trọng đến khu vực và định ra chiến lược đối với khu vực này, nhằm giành lợi thế chiến lược cho mình Theo nhận định của các nhà phân tích quốc tế, nét nổi bật trong chiến lược của các nước lớn đối với khu vực Châu Á Thái Bình Dương là vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt trên các lĩnh vực, trước hết là về kinh tế; thông qua chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ để lợi dụng và kiềm chế lẫn nhau, tăng cường ảnh hưởng, quyền chi phối
đối với khu vực
Những năm 1997-1999, ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Á, nền
kinh tế của khu vực bị ảnh hưởng trầm trọng Các ngân hàng, công ty tài chính ở Thái Lan phá sản đồng loạt, kinh tế quốc gia suy thoái Tăng trưởng kinh tế từ 6,7 % năm 1996 còn -0.4% năm 1997, -8.3% năm 1998 và 1% năm 1999 Dù vậy lạm phát
ở Thái chỉ tăng từ 5.6% -1997 lên 8.1% vào năm 1998 Tương tự, các tập đoàn hàng đầu ở Hàn Quốc như Woosong, Hanbo, Sammi …phá sản Tỷ giá hối đoái quốc gia cuối năm 1997 mở giới hạn dao động lên tới 10% Tăng trưởng -5.8 % vào năm
1998 và thất nghiệp lên tới 8% Lạm phát từ 5% năm 1996 nhảy vọt lên 9,5% vào năm suy thoái tiếp theo, nhưng sau đó giảm xuống chỉ còn 6.7% năm 1998 Malaysia thì lạm phát tăng nhanh từ 2.8% lên tới 7% trong năm 1998 Cuộc khủng
Trang 29hoảng lan rộng tới các quốc gia khác như làm gia tăng lạm phát và thất nghiệp của Indonexia, Philipin, Hong Kong….Dù vậy, với việc phản đối việc tự do hóa thị trường vốn, không phải ngẫu nhiên mà hai nước đang phát triển lớn là Trung Quốc
và Ấn Độ đã không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng Đài Loan, Singapore hay Việt Nam cũng nằm trong nhóm những quốc gia ít bị ảnh hưởng
Hình 3.1.1 Tỷ lệ đóng góp vào GDP toàn cầu của các khu vực kinh tế thế giới
năm 2000, 2010, 2011
Theo báo cáo "Các chỉ báo quan trọng cho khu vực châu Á - Thái Bình
Dương 2012" của ADB, trong năm 2000, tỷ lệ đóng góp của khu vực Bắc Mỹ, khu
vực châu Á - Thái Bình Dương tương đương khoản 28% và đều thấp hơn tỷ lệ đóng góp của châu Âu, tuy nhiên chênh lệch giữa 2 khu vực tăng mạnh sau đó Tới năm
2010, khu vực châu Á - Thái Bình Dương vượt qua châu Âu trở thành vùng đóng góp GDP nhiều nhất thế giới.Trong đó, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản vẫn là những nền kinh tế lớn nhất khu vực, chiếm tổng cộng hơn 70% GDP khu vực Trung Quốc, nền kinh tế thứ 2 thế giới trở thành nước có GDP lớn nhất khu vực từ năm 2002 Tuy nhiên xét về chỉ tiêu GDP trên đầu người, Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản tụt hạng Mặc dù Trung Quốc và Nhật Bản là 2 nền kinh tế lớn nhất khu vực
Trang 30Cho tới những năm 2002- 2006, hàng loạt các hội nghị thượng đỉnh diễn ra ở
nhiều quy mô khác nhau trong khu vực đã mở rộng ra con đường phát triển cho kinh
tế lẫn chính trị Trong báo cáo về triển vọng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
2006, Liên Hiệp quốc đã đánh giá lạc quan về triển vọng kinh tế của khu vực này năm 2005 và 2006 cho dù nhiều nước trong khu vực đang phải đối đầu với thách thức lớn là giá dầu gia tăng và nguy cơ đại dịch cúm gia cầm Các nền kinh tế khu vực này ước đạt nhịp độ tăng trưởng 6,3%/ năm 2005 và lạm phát ở mức 4,8%; số nền kinh tế ở Châu á – Thái Bình dương đạt mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người trên 3% đã tăng gấp đôi trong giai đoạn 2002 -2004, lên 22 trên tổng số 34 nền kinh tế khu vực Chỉ số này tiếp tục được duy trì trong giai đoạn 2005-2006 Tuy vậy, báo cáo cũng chỉ ra những thách thức lớn mà nền kinh tế Châu á – Thái Bình dương phải đối phó như : (i) giá dầu tăng; (ii) cán cân thanh toán tài chính đối thoại ngày càng mất cân bằng; (iii) vốn dự trữ ngoại tệ đọng lại quá lớn trong khu vực với giá trị tổng cộng lên tới 2.400 tỷ USD Điều này tuy giúp các nền kinh tế tránh rơi vào khủng hoảng nợ tài chính hay nợ nước ngoài, giảm chi phí khi phải tham gia thị trường vốn quốc tế, nhưng lại khiến các NHTW phải bơm nhiều nội tệ
ra thị trường, làm tăng lượng tiền lưu thông và dễ dẫn đến lạm phát
Vào năm 2007, các nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế là
9,9%, mà dẫn đầu là khu vực Bắc và Trung Á, với tốc độ tăng trưởng 12,7% Tới
năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới từ Mỹ, tốc độ
tăng trưởng này giảm xuống còn 6,1% và còn 4,7% vào năm 2009 Trong các nước đang phát triển, các nước ở khu vực Bắc và Trung Á có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao nhất, 12,7% năm 2007, cao hơn khu vực Đông và Đông Bắc Á 6,9% và khu vực Nam và Tây Nam Á 7% Tuy tỷ lệ tăng của khu vực Bắc và Trung Á có giảm nhưng vẫn cao hơn các khu vực còn lại với 7% năm 2008, cao hơn Đông và Đông Bắc Á
5% và Nam và Tây Nam Á 4,6% Đến năm 2009, tỷ lệ tăng trưởng của khu vực
giảm xuống còn 4% còn 2 khu vực còn lại đã có mức tăng trưởng âm Trong khi đó
ở các nước phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2007 là 2,6%, và giảm xuống
Trang 31dưới mức 0% 0,8% năm 2008 và đặc biệt, giảm xuống còn 5,5% vào 2009, mức tăng trưởng âm thấp nhất trong 15 năm gần đây
Tuy nhiên, tới năm 2010, thế giới đã chứng kiến sự hồi phục kinh tế nhanh
chóng của khu vực châu Á Thái Bình Dương này Các nước đang phát triển có tốc
độ tăng trưởng đạt tới 8,8%, tăng 4,1% so với mức 4,7% năm 2008 Tuy vẫn thấp hơn mức tăng trưởng 9,9% năm 2007, nhưng đây cũng là dấu hiệu cho thấy sự phục hồi kinh tế nhanh chóng của các nước đang phát triển, đưa các nước đang phát triển trong khu vực này trở thành khu vực dẫn đầu về hồi phục kinh tế trên thế giới (theo đánh giá của Liên Hợp Quốc) Tuy trước khủng hoảng, các nước đang phát triển ở khu vực Đông và Đông Bắc Á không phải là nơi có tốc độ tăng trưởng cao nhất, nhưng đây lại là khu vực có tốc độ hồi phục kinh tế nhanh nhất, với tỷ lê tăng trưởng năm 2010 là 7,7%, tăng 8,6% so với năm 2009 và cao hơn tỷ lệ tăng trước năm 2007 (giai đoạn trước khủng hoảng) 1,9% Khu vực Bắc và Trung Á chỉ tăng 2,7% Có thể coi khu vực này ít chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Khu vực Nam và Tây Nam Á cũng có tốc độ tăng trưởng khá nhanh 6,1%, tăng 7,1% so với năm 2009 Các nước phát triển trong khu vực cũng đạt được mức tăng trưởng đáng kinh ngạc, từ 5,5% năm 2009, nhờ các chính sách phù hợp và hiệu quả của các quốc gia, mức tăng trưởng kinh tế năm 2010 đã tăng 9,3%, đạt ngưỡng 3,8%, cao hơn mức tăng trưởng của các nước này trước khi có khủng hoảng kinh tế 1,2% so với mức tăng 2,6% năm 2007
Triển vọng tăng trưởng của khu vực Châu Á Thái Bình Dương phụ thuộc nhiều vào những rủi ro tiêu cực, đặc biệt là sự trở lại của những cơn bão giá thực phẩm và nhiên liệu, làm lạm phát của khu vực tăng cao Các nước đang phát triển tuy có tỷ lệ tăng trưởng cao nhưng lạm phát của khu vực này cũng có tỷ lệ khá cao, 5% vào năm 2007, tăng lên 7,3% vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế Nơi có tỷ lệ lạm phát lớn nhất là Bắc và Trung Á, khu vực Nam và Tây Á với lạm phát ở mức 2 con số vào năm 2007 và 2008 Tỷ lệ lạm phát của các nước đang phát triển và phát triển của khu vực châu Á Thái Bình Dương có xu hướng tăng nhanh vào năm 2008, giảm mạnh vào năm 2009 và sau đó có xu hướng tăng vào năm 2010 Có một điều
Trang 32đáng chú ý ở đây là các nước phát triển trong khu vực có tỷ lệ lạm phát rất thấp vào năm 2009, 2010 thậm chí là âm hay giảm phát Các nhà kinh tế học chỉ ra rằng tuy lạm phát là có hại cho nền kinh tế, nhưng lạm phát ở mức độ vừa phải lại có tác dụng kích thích kinh tế tăng trưởng Triển vọng phát triển của khu vực còn ảnh hưởng bởi sự phục hồi chậm chạp ở những nước giàu có, sự dồn dập chảy vào các luồng vốn khôn ổn định và hậu quả của thiên tai, mặc dù ảnh hưởng của trận động đất và song thần tại Nhật Bản lên nền kinh tế khu vực sẽ ít nghiêm trọng hơn dự kiến ban đầu
Tăng trưởng trong Khu vực đang phát triển Đông Á - Thái Bình Dương vẫn
duy trì ở mức cao trong năm 2011, mặc dù đã giảm so với đỉnh điểm thời kỳ sau
khủng hoảng Nhu cầu mạnh mẽ trong nước đã phần nào bù đắp cho những nhu cầu bên ngoài đang có xu hướng yếu đi từ thị trường Mỹ và Tây Âu Xét tình hình chung trong tương lai gần, nhu cầu từ bên ngoài có thể vẫn còn hạn chế Triển vọng tốt nhất cho Khu vực để duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo là thông qua việc thực hiện tái cân bằng hướng tới nhu cầu trong nước, đầu tư vào nâng cao năng suất và tiếp tục hội nhập quốc tế Khu vực đang phát triển Đông
Á - Thái Bình Dương đạt tỷ lệ tăng trưởng 8,2% trong năm 2011 (4,3% ngoại trừ Trung Quốc), đánh dấu sự suy giảm mạnh từ mức tăng trưởng gần 10% ghi nhận trong năm 2010 (7,0% ngoại trừ Trung Quốc) Hiện tượng tăng trưởng chậm lại này chủ yếu bắt nguồn từ mức tăng thấp hơn dự kiến của kim ngạch xuất khẩu trong khu vực sản xuất cũng như gián đoạn nguồn cung trong bối cảnh của trận động đất và sóng thần ở Nhật Bản và lũ lụt nghiêm trọng ở Thái Lan, Lào và Campuchia Nhu cầu và đầu tư trong nước đã bù đắp cho những tác động tiêu cực trên, cộng thêm được hỗ trợ từ việc nới lỏng chính sách tiền tệ ở một số quốc gia Tuy nhiên, đối với nhiều nước, tốc độ tăng trưởng này là sự trở lại của xu hướng tăng trưởng trước khủng hoảng sau sự phục hồi năm 2010 tiếp theo cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu Nhìn chung, xét trên quy mô toàn cầu, tăng trưởng của Khu vực Đông Á vẫn còn khá ấn tượng Trong năm 2011, mức tăng trưởng của Khu vực này
Trang 33cao hơn khoảng 1% so với Khu vực Nam Á và cao hơn khoảng 3% so với ở Đông
Âu và Mỹ La Tinh
Mặc dù sự hồi phục từ những hậu quả thiên tai trước đó giúp tăng trưởng
khởi sắc trong quý I năm 2012, tăng trưởng hiện tại đã giảm đáng kể Các tác động
thương mại bất lợi lan truyền từ những yếu kém trong khu vực đồng euro và sau đó
đã tác động tới xuất khẩu của châu Á Tăng trưởng GDP thực tế của toàn châu Á vào nửa đầu năm 2012 là 5,5 phần trăm (tính trung bình so với cùng kỳ năm trước), cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu, nhưng lại ở mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Các yếu tố nội địa cũng góp phần tạo ra suy giảm ở Trung Quốc, và đặc biệt ở Ấn Độ , phản ánh các nỗ lực thận trọng nhằm thiết kế việc hạ cánh mềm (soft landing) ở Trung Quốc và nhiệt tình đầu tư yếu dần
đã làm tăng sự hạn chế về cung ở Ấn Độ Tại Nhật Bản, tiêu dùng chậm lại khiến tăng trưởng giảm trong thời gian gần đây sau khi đã phần nào phục hồi vào đầu năm
2012 nhờ tác động của các chính sách Một số nền kinh tế ASEAN , dẫn đầu là Inđônêxia, Malaysia, Phi–lip-pin và Thái Lan, đã tác động tích cực tới xu hướng của khu vực, với tăng trưởng đạt gần mức tiềm năng, được hỗ trợ một phần bởi đầu tư chính phủ Úc cũng đã chèo lái tương đối tốt vượt qua sóng gió toàn cầu, đặc biệt do các hoạt động đầu tư liên quan tới khai khoáng mở rộng mạnh mẽ Trong bối cảnh hoạt động kinh tế yếu kém hơn và giá hàng hoá toàn cầu giảm, lạm phát tiếp tục giảm trong nửa đầu năm 2012, nhưng vẫn nằm trong vùng an toàn ở nhiều nước
Triển vọng tăng trưởng yếu hơn trên toàn thị trường châu Á mới nổi Tăng
trưởng bị mất động lực trong nửa đầu năm 2013 Nhu cầu yếu từ các nền kinh tế tiên
tiến và tăng trưởng giảm tốc ở Trung Quốc khiến hoạt động công nghiệp trong nhiều nền kinh tế mới nổi châu Á trở nên ảm đạm Dù các thị trường lao động vững mạnh
và các điều kiện tài chính nói chung thuận lợi, nhu cầu trong nước vẫn giảm Đồng thời, hiện đang có sự thay đổi cấu trúc ở phạm vi rộng hơn với tình trạng "nút thắt cổ chai" nguồn cung ngày càng siết chặt ở Ấn Độ và tình trạng giảm lợi nhuận đầu tư ở Trung Quốc Tăng trưởng tiềm năng trong các nền kinh tế lớn mới nổi ở châu Á giảm dần
Trang 34Trong các nền kinh tế có tình hình lạm phát không đáng kể và tăng trưởng chậm lại, các chính sách tiền tệ hiện tại - dù cởi mở hơn đôi chút so với trước đây, trong một số trường hợp thậm chí còn ủng hộ chính sách của ngân hàng trung ương -
có tác dụng bảo đảm đôi chút đối với các rủi ro sụt giảm Ở một số nền kinh tế (Thái Lan và Phillippines) sự thay đổi gần đây của các dòng vốn đầu tư vào trước đó có tác dụng thay thế cho biện pháp thắt chặt tiền tệ, giúp giải quyết tình trạng mất cân bằng tài chính và cho phép trì hoãn việc thắt chặt chính sách tiền tệ Chính sách uy tín và lạm phát thấp giúp các quốc gia trong nhóm này có môi trường để giảm lãi suất cơ bản nếu tăng trưởng chậm lại và các điều kiện tài chính được thắt chặt hơn nữa Ở những nơi áp lực lạm phát vốn đã cao và có sự lệ thuộc vào các dòng vốn đầu tư nước ngoài (Ấn Độ, Indonesia) hoặc nơi tăng trưởng tín dụng quá mở rộng (Lào, Mông Cổ), có thể sẽ phải thắt chặt hơn nữa chính sách tiền tệ trong những tháng tới Điều này sẽ gây áp lực nhiều hơn nếu áp lực cán cân thanh toán tăng cao
Ở Nhật Bản, kỳ vọng lạm phát bắt đầu tăng nhưng còn chưa đạt nổi mục tiêu 2 phần trăm.Việc quảng bá thông tin thận trọng là rất cần thiết để nâng kỳ vọng thêm nữa và giảm lãi suất thực Để tăng cường luân chuyển tiền tệ, Bank of Japan cần tiếp tục chương trình mua tài sản môt cách ổn định để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tái cân đối danh mục đầu tư với các tài sản có rủi ro cao hơn nhưng đem lại hiệu ứng tăng trưởng tốt hơn và qui mô cho vay lớn hơn
Các cân đối ngân sách về mặt cơ cấu hiện nay yếu hơn so với thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu, và nói chung trên toàn khu vực, tốc độ hợp nhất tài khóa vừa phải được bảo đảm trong phạm vi cho phép các yếu tố bình ổn
tự động hoạt động hoặc thậm chí chỉ cung cấp hỗ trợ tài khóa nếu xảy ra tình huống bất lợi Tuy nhiên, đối với một số quốc gia (Ấn Độ, Nhật Bản, và Việt Nam) thâm hụt và mức nợ cao có nghĩa là có ít triển vọng áp dụng chính sách phản chu kỳ và cần ưu tiên vấn đề hợp nhất tài khóa Nhật Bản cần áp dụng các biện pháp cụ thể để khắc phục các rủi ro cho ngân sách; tăng mức thuế tiêu dùng lên 10 phần trăm như
dự kiến từ nay tới tháng Mười 2015 và duy trì thuế suất nhất quán là các biện pháp chính Trong nhiều nền kinh tế có thu nhập thấp và mới nổi, vẫn còn nhiều cơ hội áp
Trang 35dụng các biện pháp cải tổ tài khóa cơ cấu nhằm khuyến khích tăng trưởng toàn diện
và bền vững, chủ yếu bằng cách tránh tăng thu ngân sách chính phủ bằng các khoản thuế kém hiệu quả và giảm chi cho các chương trình trợ cấp không hiệu quả dành cho các hoạt động đầu tư vào hệ thống an sinh xã hội và cơ sở hạ tầng thiết yếu Đặc biệt, Ấn Độ, Indonesia, và Malaysia gần đây đã giảm các chương trình trợ cấp năng lượng ở mức cao xuống, và nên tiếp tục làm như vậy Ở Trung quốc, việc củng cố hoạt động quản lý, sự minh bạch và mô hình quản lý đối với các hoạt động tài chính của chính quyền địa phương sẽ giúp ngăn ngừa rủi ro do việc tăng nợ của chính quyền địa phương và các hoạt động ngoài ngân sách Cuối cùng, do rất dễ bị tác động bởi các cú sốc bên ngoài, các quốc gia vùng đảo Thái bình dương cần tiếp tục tái thiết các hệ thống đệm tài chính và cải tiến thành phần chi tiêu công liên quan tới giáo dục, y tế, và cơ sở hạ tầng để khuyến khích tăng trưởng toàn diện
Hoạt động kinh tế ở các nước có thu nhập cao sẽ dần trở nên mạnh hơn, khiến cho nhu cầu đối với các mặt hàng xuất khẩu từ các nước đang phát triển Khu vực Đông Á-Thái Bình Dương tăng lên, giúp khu vực này duy trì được hiệu quả tăng trưởng Tăng trưởng ở các nước đang phát triển Khu vực Đông Á-Thái Bình Dương
sẽ giảm nhẹ dần từ mức 7,2% vào năm 2013 xuống còn 6,9% vào năm 2014 Không
kể Trung Quốc, tăng trưởng ở các nước đang phát triển trong khu vực được dự kiến
sẽ giảm xuống mức đáy là 4,8% trong năm nay, phản ánh sự suy giảm ở
In-đô-nê-xi-a và Thái LIn-đô-nê-xi-an, trước khi tăng lên mức 5,3% vào năm 2015-16 Các nước đIn-đô-nê-xi-ang phát triển khu vực Đông Á-Thái Bình Dương vẫn tiếp tục có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất so với các khu vực khác trên thế giới
Ở các nước còn lại trong khu vực, tăng trưởng sẽ dần khởi sắc, khi mà xuất khẩu ổn định và tác động của việc điều chỉnh nội địa ở các nền kinh tế lớn trong khu vực ASEAN đã giảm bớt.Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi của các nước khác nhau từ
sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu sẽ dao động một cách đáng kể, phản ánh những điểm nghẽn mang tính cơ cấu tác động tới đầu tư và khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu, cũng như giá cả xuất khẩu của các công ty sản xuất hàng hóa Ma-lai-xi-a, Việt Nam và Cam-pu-chia có điều kiện phù hợp để tăng xuất khẩu, phản ánh mức độ
Trang 36hội nhập ngày càng sâu của các nền kinh tế này vào các chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực Tuy nhiên, ở Indo, hiệu quả xuất khẩu sẽ vẫn tiếp tục không ổn định, bởi vì giá
cả xuất khẩu hàng hóa của nước này vẫn tiếp tục dậm chân tại chỗ và những nút thắt
về cơ sở hạ tầng làm cản trở các nỗ lực nhằm đa dạng hóa
Chính sách tài khóa ở nhiều nước trong giai đoạn vừa qua được đưa ra với mục đích là nhằm xây dựng lại dư địa tài khóa, nhưng những nỗ lực này cần tiếp tục được duy trì.Tăng trưởng về thu ngân sách của In-đô-nê-xi-a đặc biệt yếu ớt, chủ yếu là do giá cả hàng hóa dậm chân tại chỗ Ở In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và Thái Lan, chi phí trợ giá tăng, đặc biệt là chi phí trợ giá năng lượng, đã làm hạn chế chi tiêu ngân sách cho những lĩnh vực ưu tiên Nhìn chung, thâm hụt tài khóa ở khu vực này đã giảm dần theo thời gian Tuy nhiên, có hai trường hợp ngoại lệ quan trọng,
đó là Mông Cổ và ở một mức độ thấp hơn là In-đô-nê-xi-a, phản ánh tình trạng thiếu biện pháp điều chỉnh ở tầm vĩ mô nhằm thích ứng với tình trạng giá cả xuất khẩu hàng hóa suy giảm
Đa số các quốc gia ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đều ở vị trí rất thuận lợi nhờ tỷ giá lãi suất và chính sách tài chính phù hợp để có thể kích thích tăng trưởng tạm thời nếu cần Tuy nhiên, dựa trên các dự báo liên quan đến tăng trưởng
và lạm phát, chúng ta có thể thấy chính sách về các mức lãi suất hiện tại là phù hợp trên toàn khu vực, mặc dù mối lo ngại về sức bền và mức độ ổn định tài chính, cũng như những biến chuyển bất ngờ của tình hình tài chính toàn cầu, có thể sẽ phải đòi hỏi một số quốc gia thắt chặt chính sách lãi xuất hơn nữa Ngoài ra, các nhà thiết lập chính sách cũng cần đối phó với nhiều lực đối trọng, bao gồm giá dầu tăng sau khi giảm tạm thời, luồng vốn bị ảnh hưởng bất chợt và giá tài sản tăng Các chính sách
vĩ mô cẩn trọng và các can thiệp ngoại tệ có thể giúp khống chế những rủi ro về ổn định tài chính và khắc phục tình trạng rối loạn đôi khi xảy ra trên thị trường hối đoái, nhưng cho phép tỷ giá hối đoái thay đổi linh hoạt để giảm sốc Trên mặt trận tài chính, sự giảm thiểu của giá dầu và lương thực có thể tạo cơ hội để tiếp tục cải tổ hoặc giảm dần các nguồn trợ cấp, nhờ đó tăng hiệu quả chi và giúp chi tiêu công tránh được các biến động của giá hàng hóa trong tương lai Tiếp tục củng cố tài khóa
Trang 37là biện pháp thích hợp ở những quốc gia có tỷ lệ nợ công cao Cải tổ cơ cấu vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng năng suất trên toàn khu vực, kể cả các biện pháp cải tổ ngành tài chính và doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc; các hoạt động nhằm khuyến khích tăng năng suất dịch vụ và tham gia lực lượng lao động ở Nhật Bản, và các biện pháp để giải quyết tình trạng bế tắc nguồn cung ở Ấn
Ɖộ, các nước ASEAN, các nền kinh tế mới nổi và các tiểu quốc gia
3.1.2 Phân tích về vấn đề lạm phát, thâm hụt ngân sách, cung tiền M2 ở các nước tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương
3.1.2.1 Xét về thực trạng cả khu vực châu Á Thái Bình Dương
Trang 39Trong sự phát triển của thế giới, châu Á Thái Bình Dương có mức tăng trưởng thấp hơn một chút trong năm 2014, tăng trưởng GDP chậm lại trong năm trước lên 5,6 phần trăm, so với 5,9 phần trăm trong năm 2013 (Bảng 3.1.2.1) Sự tăng trưởng chậm lại ở một số nền kinh tế lớn, bao gồm cả Trung Quốc,Indonesia và Nhật Bản, là một đối trọng Đầu tư nói chung mờ nhạt, đặc biệt là ở Trung Quốc, nơi
mà các ngành bất động sản giảm hơn nữa Tiêu dùng vẫn tương đối mạnh mẽ, ngoại trừ ở Nhật Bản, là động lực tăng trưởng chính ở hầu hết các khu vực
(Nguồn: IMF) Hình 3.1.2.1 a Phân tích lạm phát theo rổ CPI
Theo hình 3.1.2.1 a, mặc dù có sự sụt giảm lạm phát, lạm phát cơ bản có khả năng được tương đối cách ly khỏi sự suy giảm trong giá dầu Hơn nữa, đối với nhiều nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát đáng kể trong rổ chỉ số giá tiêu dùng CPI hiện đang chạy trong khoảng 3 phần trăm (50 phần trăm trở lên trong tỷ lệ rổ hàng hóa tại Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, và Philippines) Trong một số quốc gia (Indonesia, Nhật Bản, Malaysia), phần lớn các mặt hàng có lạm phát cao phản ánh khấu hao qua tỷ giá, tăng thuế gián tiếp, hoặc loại bỏ các khoản trợ cấp của người tiêu dùng Ở Hàn
Trang 40Quốc, Singapore, và Thái Lan, ngược lại, những mặt hàng có lạm phát thấp (1 phần
trăm hoặc ít hơn) là tương đối lớn và có trước sự sụt giảm của giá dầu thế giới, cho
thấy rằng các nguyên nhân khác, bao gồm năng lực dư thừa khá lớn, tăng giá tiền tệ,
hoặc làcả hai, cũng đã góp phần vào việc làm giá tăng chậm hơn
(Nguồn IMF)
Hình 3.1.2.1 b Chính sách lãi suất Hình 3.1.2.1 c Lạm phát các quốc gia
Đối với vấn đề tiền tệ và chính sách tài chính nói chung là hỗ trợ Nhiều ngân hàng trung ương trên các chính sách tiền tệ nới lỏng khu vực bằng cách cắt giảm lãi
suất trong những tháng gần đây (Úc, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan) (Hình
3.1.2.1 b) Lãi suất chính sách nhìn chung phù hợp với hoặc hơi dưới mức ngụ ý bởi
quy tắc Taylor dựa trên hành vi của ngân hàng trung ương vừa qua, mặc dù có sự sụt
giảm gần đây trong lạm phát (Hình 3.1.2.1 c) Về mặt tài chính, cân đối chính phủ
điều chỉnh theo chu kỳ dự để củng cố một cách khiêm tốn so với năm 2014 (Hình
3.1.2.1 d), trừ Philippines, nơi trước đó chi tiêu dự kiến sẽ giảm bớt