Trong thời gian vừa qua hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua khoản thời gian khó khăn trước đó với việc cơ cấu lại hệ thống, tập trung đánh giá đúng thực trạng hoạt động, chất lượng t
Trang 1Tôi tên là: Nguyễn Thị Hoài Thương
Sinh ngày 30 tháng 06 năm 1991
Là học viên cao học khóa 23 của Trường Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Tp Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 05 năm 2016
Tác giả
NGUYỄN THỊ HOÀI THƯƠNG
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Đóng góp mới của đề tài 3
1.6 Kết cấu bài luận văn 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 4
2.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 4
2.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại 4
2.2 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 7
2.2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại 7
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại 7
2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại 11
2.2.3.1 Khung phân tích CAMEL và Bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF (FSIs) 11
2.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh đến hiệu quả hoạt động của NHTM 16
2.3 Các nghiên cứu liên quan 21
2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm 21
2.3.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 21
2.3.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 26
Trang 33.1 Quá trình hình thành ngân hàng thương mại Việt Nam 28
3.2 Thực trạng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam 2007 – 2015 29
3.2.1 Mức độ an toàn vốn của NHTM 29
3.2.2 Tăng trưởng hằng năm của huy động vốn 32
3.2.3 Chất lượng hoạt động tín dụng 33
3.2.4 Khả năng sinh lời 39
3.2.5 Thu nhập của các NHTM Việt Nam 43
3.3 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam 44
3.3.1 Đa dạng hóa loại hình dịch vụ 44
3.3.2 Thương hiệu, uy tín ngân hàng 45
3.4 Đánh giá chung thực trạng hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam 2007 – 2015 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 47
CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 48
4.1 Mô tả dữ liệu mẫu nghiên cứu 48
4.2 Mô tả biến nghiên cứu 48
4.3 Mô hình và phương pháp kiểm định 52
4.3.1 Mô hình nghiên cứu 52
4.3.2 Phương pháp ước lượng 53
4.3.2.1 Mô hình hồi quy Pooled – OLS 54
4.3.2.2 Mô hình tác động cố định (FEM) 54
4.3.2.3 Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) 55
4.3.2.4 Kiểm định Hausman 56
Trang 44.4.2 Phân tích kết quả nghiên cứu 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 64
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ CÁC GỢI Ý CHÍNH SÁCH NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 65
5.1 Kết luận chung 65
5.2 Gợi ý chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 72
KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DATC Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
Trang 6Bảng 2.1 Tổng hợp các chỉ số cốt lõi cho các tổ chức nhận tiền gửi 16 Bảng 3.1 Nợ xấu bất động sản hệ thống ngân hàng năm 2011 37 Bảng 4.1 Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình hồi quy 51 Bảng 4.2 Kết quả kiểm định Hausman của mô hình ROA 56 Bảng 4.3 Kết quả kiểm định Hausman cuả mô hình ROE 58
Bảng 4.4 Kết quả ước lượng từ mô hình những ảnh hưởng cố định
Hình vẽ
Hình 3.1 So sánh quy mô hệ thống ngân hàng Việt Nam so với các
Hình 3.2 Tỷ lệ an toàn vốn của NHTM Việt Nam 2007-2015 31
Hình 3.3 Hệ số an toàn vốn của một số nước Châu Á năm 2015 32
Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của các NHTM Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Hệ thống tài chính, phần lớn là do ngân hàng chi phối, luôn đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Trong thời gian vừa qua
hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua khoản thời gian khó khăn trước đó với việc cơ cấu lại hệ thống, tập trung đánh giá đúng thực trạng hoạt động, chất lượng tài sản của các tổ chức tín dụng, ưu tiên xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém; đảm bảo khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng; triển khai sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín dụng trên nguyên tắc tự nguyện; tăng vốn điều lệ và xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và từng bước tái cơ cấu hoạt động, quản trị, điều hành Năm 2014, kinh tế vĩ mô diễn biến theo hướng tích cực, phù hợp với chủ trương và các giải pháp điều hành của Chính phủ Các cân đối vĩ mô lớn cải thiện, lạm phát ổn định ở mức thấp, tăng trưởng kinh tế đạt cao hơn cùng kỳ năm 2012 và 2013 Với những nỗ lực thường xuyên, liên tục, cả hệ thống ngân hàng cũng đã có những cải thiện đáng kể Quá trình tái cơ cấu ngân hàng đã đạt được những kết quả ban đầu
đáng khích lệ, đến nay Ngân hàng Nhà nước đã tiếp nhận phương án tái cơ cấu của
24/25 ngân hàng thương mại: phê duyệt phương án tái cơ cấu của 12/25 ngân hàng, phê duyệt phương án tái cơ cấu của 12/25 ngân hàng; tiếp nhận và thẩm định 13/13 phương án tái cơ cấu của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Hiệu quả kinh doanh ngân hàng và xử lý nợ xấu đã được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn rất nhiều khó khăn Môi trường vĩ mô đã được cải thiện rất nhiều nhưng chưa ổn định Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tuy có tăng nhẹ, nhưng vẫn thấp so với khu vực Lạm phát được kiềm chế (2012 là 6,81%; năm 2013
là 6,04%; năm 2014 là 4,09%) nhưng chủ yếu là do tổng cầu suy giảm, sức mua của
doanh nghiệp và người dân đều ở mức rất thấp Do đó, để có thể đưa ra các quyết
định phù hợp về chính sách và điều hành hệ thống NHTM tại Việt Nam trong thời gian tới thì việc xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động các
Trang 8ngân hàng thương mại Việt Nam là cần thiết Những yếu tố nào tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam? Với một nền kinh tế đang phát triển và chịu nhiều áp lực cạnh tranh về việc hội nhập quốc tế, các ngân hàng tại Việt Nam cần rút ra bài gì để nâng cao hiệu quả, hạn chế những tác động xấu từ những rủi ro Bài viết nhằm tìm hiểu hiệu quả hoạt động và các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam Chính vì lý do đó tác giả chọn đề tài
“ Nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhắm đến các mục tiêu sau:
- Nghiên cứu tình hình hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian gần đây
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam
- Gợi ý những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động là phạm trù rộng và phức tạp do đó bài nghiên cứu hiệu quả hoạt động ngân hàng theo quan điểm phân tích định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu định
tính cụ thể như sau:
Trang 9 Phương pháp nghiên cứu tổng hợp với số liệu phân tích được tác giả tổng hợp
từ số liệu qua báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Phương pháp phân tích, so sánh: Từ số liệu thu thập được, tác giả phân tích qua số liệu báo cáo của các NH qua các năm trên cơ sơ phân tích thực trạng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTMVN
Nghiên cứu định lượng
Tác giả sử dụng nghiên cứu định lượng gồm thu thập và lọc số liệu với Excel, phân tích hồi quy Eview
Bài luận văn sử dụng dữ liệu bảng (panel data) được hồi quy theo mô hình những ảnh hưởng cố định (Fixed Effects Model – FEM) để nghiên cứu sự ảnh hưởng của từng nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM
1.5 Đóng góp mới của đề tài
- Những kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý luận về hiệu quả hoạt động ngân hàng của NHTM làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu những đề tài tương tự
- Bên cạnh đó luận văn đã nêu lên được vai trò và tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng với những giải pháp và kiến nghị cụ thể phù hợp với tình hình thực tế Các giải pháp trình bày trong luận văn sẽ được áp dụng rộng rãi trong hoạt động của NHTM
1.6 Kết cấu bài luận văn
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Chương 3: Thực trạng hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 4: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 5: Kết luận và các gợi ý chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
2.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Theo luật tổ chức tín dụng 1997, Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác
Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật
Theo Peter S Rose: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản
là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn
từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu
2.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại
- Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cá nhân, tổ chức kinh tế muốn sản xuất, kinh doanh thì cần phải có vốn để đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất, phương
Trang 11tiện để sản xuất kinh doanh…mà nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, cá nhân luôn luôn lớn hơn vốn tự có do đó cần phải tìm đến những nguồn vốn từ bên ngoài Mặt khác lại có một lượng vốn nhàn rỗi do quá trình tiết kiệm, tích luỹ của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức khác NHTM là chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó và sử dụng nguồn vốn huy động được cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Nhờ có hoạt động ngân hàng và đặc biệt là hoạt động tín dụng các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
- NHTM là cầu nối doanh nghiệp và thị trường
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường về mọi phương diện không chỉ: giá cả, khối lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi thoả mãn trên phương diện thời gian, địa điểm Để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán kinh tế mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp Những hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượt quá khả năng của doanh nghiệp Do đó để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp đến ngân hàng để xin vay vốn để thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình.Thông qua hoạt động cấp tín dụng cho doanh nghiệp ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thị trường Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh
- NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trang 12Hệ thống Ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả sẽ thực sự là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thông qua hoạt dộng thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, Ngân hàng thương mại đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông Thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế Ngân hàng thương mại đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô Cùng với các cơ quan khác, Ngân hàng luôn được sử dụng như một công cụ quan trọng để nhà nước điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế
Khi nhà nước muốn phát triển một nghành hay một vùng kinh tế nào đó thì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các Ngân hàng thương mại luôn được sử dụng bằng cách Ngân hàng thương mại yêu cầu các Ngân hàng thương mại thực hiện chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụng vốn như : giảm lãi suất, kéo dài thời hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc qua hệ thống Ngân hàng thương mại Nhà nước cấp vốn ưu đãi cho các lĩnh vực nhất định Khi nền kinh tế tăng trưởng quá mức nhà nước thông qua Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm khả năng tạo tiền từ đó giảm khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế để nền kinh tế phát triển ổn định vững chắc Việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hệ thống Ngân hàng thương mại thường đạt hiệu quả trong thời gian ngắn nên thường được nhà nước sử dụng
- NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế
Trong nền kinh tế thị trường, khi các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách Việc phát triển kinh tế ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên
sự phát triển đó.Vì vậy nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và Ngân hàng thương mại với các hoạt động của mình đã đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này Với các nghiệp vụ như thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác Ngân hàng thương mại tạo điều kiện
Trang 13thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển Thông qua hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các Ngân hàng thương mại nước ngoài, Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với
sự vận động của nền tài chính quốc tế
Ngân hàng thương mại ra đời và ngày càng phát triển dựa trên cơ sở nền sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và nền kinh tế càng phát triển càng cần đến sự hoạt động của Ngân hàng thương mại Với vai trò quan trọng của mình Ngân hàng thương mại trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
2.2 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 2.2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại
Theo ECB (European Central Bank) (9/2010) hiệu quả hoạt động là khả năng tạo
ra lợi nhuận bền vững Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản
lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại
Theo Adel Bino & Shorouq Tomar (2007) khi xét về mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động ngân hàng, hai ông định nghĩa đơn giản: hiệu quả hoạt động là kết quả cuối cùng của hoạt động đó
Trong cuốn “ Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt” PGS.TS Nguyễn Khắc Minh cho hiệu quả hoạt động được hiểu là mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trước Tóm lại, hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại có thể được hiểu: Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay là khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại
Hiệu quả là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngân hàng, bởi vậy nâng cao hiệu quả cũng có nghĩa là tăng cường năng lực tài chính, năng lực điều hành để tạo ra tích lũy và có điều kiện mở rộng các hoạt động kinh doanh góp phần củng cố và nâng cao thương hiệu của các NHTM Tuy nhiên, để NHTM hoạt
Trang 14động có hiệu quả hơn, đòi hỏi phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các NHTM nhằm hạn chế các hoạt động mang tính chất rủi ro, bảo toàn vốn, nâng cao thu nhập và lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của NHTM Các nhân tố này có thể được chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố khách quan
và nhóm nhân tố chủ quan, tùy điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hai nhóm nhân tố này có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả hoạt động của NHTM
(1) Nhóm nhân tố khách quan
Môi trường vĩ mô:
- Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng đến khả năng tạo lợi nhuận, khả năng ổn định và phát triển vững mạnh của các NHTM Bất cứ sự biến động nào của lạm phát, tăng trưởng kinh tế xã hội, chính sách tiền tệ…cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM, thậm chí còn tạo ra những khủng hoảng do tác động lây lan của kinh tế thị trường Ảnh hưởng rõ rệt nhất của tăng trưởng kinh
tế đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM là ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn và hoạt động tín dụng của các NHTM Gắn với quá trình tăng trưởng cao là nhu cầu vốn cũng tăng cao, tăng trưởng kinh tế một cách ổn định và an toàn, hiêu quả chính là nền tảng cho hoạt động ngân hàng có hiệu quả
- Các yếu tố văn hóa xã hội: Các yếu tố như trình độ dân trí, tập quán sử dụng tiền mặt và sự hiểu biết của người dân về hệ thống ngân hàng có tác động không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
- Các yếu tố chính sách pháp luật: Hệ thống chính sách pháp luật minh bạch rõ ràng, đồng bộ sẽ giúp các NH chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình
- Các yếu tố khoa học công nghệ: Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho việc nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí đầu vào, đẩy nhanh quá trình cung cấp các sản phẩm dịch vụ với chi phí thấp nhất, nhanh chóng và kịp thời, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của NH Ngoài ra, với công nghệ ngân hàng hiện đại sẽ góp phần vào hội nhập quốc tế và quốc tế hóa trong hoạt động giao dịch của NHTM từ đó hiệu quả kinh doanh sẽ không ngừng mở rộng và nâng cao
Trang 15 Môi trường vi mô như là các đối thủ cạnh tranh hay khách hàng cũng là các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của NHTM
(2) Nhóm nhân tố chủ quan:
- Năng lực tài chính của một NHTM thường được biểu hiện trước hết là khả năng
mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sức mạnh tài chính của một ngân hàng Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô kinh doanh của ngân hàng như: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính và trình độ trang bị công nghệ Thứ hai, khả năng sinh lời cũng là một nhân tố phản ánh về năng lực tài chính của một ngân hàng vì nó thể hiện tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh Thứ ba là khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro của một ngân hàng cũng là nhân tố phản ánh năng lực tài chính Nếu nợ xấu tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng để bù đắp rủi ro, có nghĩa là khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xảy ra Ngược lại, nếu nợ xấu tăng nhưng dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạng tài chính xấu và năng lực tài chính bù đắp cho các khoản chi phí này bị thu hẹp
- Năng lực quản trị, điều hành là nhân tố tiếp theo ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NH Năng lực quản trị điều hành trước hết là phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính hữu hiện của cơ chế điều hành để có thể ứng phó tốt trước những diễn biến của thị trường Tiếp theo năng lực quản trị, điều hành còn có thể được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao năng suất sử dụng các đầu vào để có thể tạo ra một tập hợp đầu ra cực đại
- Khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ: chính là phản ánh năng lực công nghệ thông tin của một ngân hàng Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ
và ứng dụng sâu rộng của nó vào cuộc sống xã hội như ngày nay, thì ngành ngân hàng khó có thể duy trì khả năng cạnh tranh của mình nếu vẫn cung ứng các dịch vụ truyền thống Năng lực công nghệ của ngân hàng thể hiện khả năng trang bị công nghệ mới gồm thiết bị và con người, tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tính độc đáo về công nghệ của mỗi ngân hàng
Trang 16- Trình độ, chất lượng của người lao động: nhân tố con người là yếu tố quyết định quan trọng đến sự thành bại trong bất kỳ hoạt động nào của các NHTM Xã hội càng phát triển thì càng đòi hỏi các ngân hàng càng phải cung cấp nhiều dịch vụ mới và có chất lượng Chính điều này đòi hỏi chất lượng của nguồn nhân lực cũng phải được nâng cao để đáp ứng kịp thời đối với những thay đổi của thị trường, xã hội Việc sử dụng nhân lực có đạo đức nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn sẽ giúp các
NH tạo lập được những khách hàng trung thành, ngăn ngừa được những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh, đầu tư và đây cũng là nhân tố giúp các ngân hàng giảm thiểu được các chi phí hoạt động Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nguồn nhân lực luôn phải chú trọng việc gắn phát triển nhân lực với công nghệ
- Đa dạng hóa loại hình dịch vụ ngân hàng giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM: Thứ nhất, một NHTM kinh doanh đa dạng các nghiệp vụ, dịch vụ sẽ phân tán, giảm nhiều rủi ro bởi vì theo nghiệp vụ truyền thống thì NHTM thu chủ yếu từ hoạt động tín dụng nhưng tín dụng lại chứa nhiều rủi ro và bất trắc Thứ hai, đa dạng hóa loại hình dịch vụ sẽ làm tăng lợi nhuận NHTM vì khi đa dạng hóa loại hình dịch vụ NHTM sẽ sử dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ của mỗi ngân hàng, do vậy làm giảm chi phí quản lý, chi phí hoạt động, tăng lợi nhuận tối đa cho ngân hàng Thứ ba, thúc đẩy các nghiệp vụ cùng phát triển
vì các DN càng đa dạng hóa kinh doanh và nhu cầu về các dịch vụ NH cũng phải đa dạng theo do đó chỉ khi thực hiện đa dạng hóa loại hình dịch vụ NH mới cung cấp được nhiều loại dịch vụ NH một cách nhanh chóng, linh hoạt Cuối cùng, đa dạng hóa dịch vụ làm tăng khả năng cạnh tranh của NHTM trong nền kinh tế thị trường
- Hoạt động marketing ngân hàng: Đây là vấn đề hết sức quan trọng nhằm giúp cho NH nắm bắt được yêu cầu, nguyện vọng của khách hàng Từ đó, NH đưa ra được các hình thức huy động vốn, chính sách lãi suất, chính sách tín dụng phù hợp
- Thâm niên và uy tín của ngân hàng: Trên cơ sở thực tế sẵn có, mỗi ngân hàng đã, đang và sẽ tạo được hình ảnh riêng của mình trên thị trường Một NH lớn, có uy tín
sẽ có lợi thế hơn trong các hoạt động NH nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng Thực tế đã chứng minh là, với một thương hiệu mạnh, người tiêu dùng sẽ có
Trang 17niềm tin với sản phẩm của NH, sẽ yên tâm và tự hào khi sử dụng sản phẩm, trung thành với sản phẩm và vì vậy tính ổn định về lượng khách hàng hiện tại là rất cao Hơn nữa, thương hiệu mạnh cũng có sức hút rất lớn với thị trường mới, tạo thuận lợi cho NH trong việc mở rộng thị trường và thu hút khách hàng tiềm năng
2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh đến hiệu quả hoạt động của các NHTM
2.2.3.1 Khung phân tích CAMEL và Bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF (FSIs)
Khung phân tích CAMEL
Hiện nay việc phân tích tình hình hoạt động và rủi ro của một ngân hàng thường được thực hiện bằng khung phân tích CAMELS CAMELS đã được áp dụng từ những năm 1970 – là hệ thống xếp hạng, giám sát tình hình ngân hàng của Mỹ (Nguyễn Đức Tú, 2011) Khung phân tích CAMELS bao gồm 6 yếu tố sau: Vốn của bản thân ngân hàng (Capital Adequacy), Chất lượng tài sản có (Asset quality), Năng lực quản lý (Management ability), Khả năng sinh lời (Earnings), Khả năng thanh khoản (Liquidity), Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity to
Market Risk )
Vốn tự có của ngân hàng thương mại – Capital Adequacy (C)
Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh (thông thường từ 8% đến 10%) , tuy nhiên nó lại giữ một vai trò rất quan trọng, quyết định đến quy mô và phạm vi kinh doanh, là cơ sở để hình thành các nguồn
vốn khác của ngân hàng đồng thời tạo nên uy tín ban đầu của ngân hàng
Vốn tự có là căn cứ để xác định giới hạn cho vay đối với một ngân hàng Ở Việt Nam theo điều 7 và điều 8 của Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005, vốn căn cứ để xác định các giới hạn sau:
- Đầu tư cổ phần hoặc liên doanh không qua 50% vốn tự có
- Cho vay các đối tượng ưu đãi không quá 5% vốn tự có
- Cho vay tối đa một khách hàng không quá 15% vốn tự có
- Tổng mức cho vay và bảo lãnh cho một khách hàng của một tổ chức tín dụng không được vượt quá tỷ lệ 25% so với vốn tự có của tổ chức tín dụng đó
Trang 18Với những ý nghĩa quan trọng đó, một ngân hàng có đủ vốn là yếu tố đầu tiên đảm bảo cho ngân hàng đó hoạt động an toàn Một ngân hàng thường xuyên duy trì đầy đủ vốn, số vốn được bổ sung từ kết quả hoạt động ngày một cao hơn thì đó là biểu hiện của một ngân hàng ổn định lành mạnh và hoạt động hiệu quả Những ngân hàng thiếu vốn với giá trị ròng thấp sẽ dễ đổ vỡ khi gặp phải những rủi ro hoặc trước những biến động của môi trường kinh doanh
Chất lượng tài sản có - Asset quality (A)
Tài sản Có là phần sử dụng nguồn vốn đưa vào kinh doanh và duy trì khả năng thanh toán của một Ngân hàng Tài sản Có của một Ngân hàng bao gồm: Tài sản ngân quỹ, tài sản cho vay, tài sản đầu tư và tài sản cố định
Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp nói lên chất lượng quản lý, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và triển vọng bền vững của một ngân hàng Phần lớn rủi ro trong hoạt động ngân hàng đều tập trung ở phía tài sản của nó, nên cùng với việc đảm bảo có đủ vốn thì vấn đề nâng cao chất lượng tài sản có là yếu tố quan trọng đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn
Chỉ số này tính toán hiệu quả tín dụng của một đồng tài sản Có và quy mô hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Khi ngân hàng có tỷ lệ cho vay cao thì khả năng sinh lợi được cải thiện Tuy nhiên nếu tỷ lệ này quá cao gần bằng 100% thì rủi ro hoạt động của ngân hàng tăng theo vì khi ấy ngân hàng hầu như không có tiền dự trữ cho nhu cầu rút vốn của ngân hàng
Năng lực quản lý – Management ability (M)
Lý thuyết CAMEL cho rằng khả năng quản lý của một ngân hàng là yếu tố năng động nhất Nếu khả năng quản lý tốt có thể biến một ngân hàng yếu kém thành một ngân hàng hoạt động tốt hơn và ngược lại
Nói đến khả năng quản lý là nói đến yếu tố con người, tổ chức và chính sách Việc đánh giá vấn đề này được thực hiện theo những nội dung sau:
- Năng lực đề ra sách lược trong kinh doanh, có sức cạnh tranh và đứng vững trong thị trường
- Đưa ra kế hoạch triển khai các công việc hợp lý, rõ ràng và có hiệu quả
Trang 19- Vạch ra được các thủ tục quản lý nghiệp vụ, quy trình thực hiện nghiệp vụ và bảo đảm sự tuân thủ các thủ tục và quy trình này trong giao dich kinh doanh
- Tạo nên một tổ chức cơ cấu hợp lý, khuyến khích tính tích cực của mọi thành viên trong công việc, duy trì được kỹ thuật trong nội bộ, tạo không khí cởi mở, tinh thần và thái độ hợp tác trong công việc
Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động của một ngân hàng thì chất lượng quản lý của ban điều hành ngân hàng thể hiện các tiêu chuẩn sau đây:
- Hiệu quả trong kinh doanh: được biểu hiện ở mức độ và sự tăng trưởng của kết quả kinh doanh Tiêu chuẩn này được đánh giá bằng việc giữ vững kết quả kinh doanh trong tình trạng có những biến động ảnh hưởng đến thị trường
- Sự tuân thủ pháp luật, các quy chế về hoạt động ngân hàng, tính lành mạnh trong kinh doanh
- Độ tín nhiệm của ngân hàng trong môi trường hoạt động Sự tín nhiệm của khách hàng, dân cư đối với ngân hàng trong việc gửi tiền, mở tài khoản, thực hiện giao dịch và công luận đánh giá là biểu hiện của tiêu chuẩn này
Khả năng sinh lời – Earnings (E)
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như để đánh giá sự phát triển bền vững của một ngân hàng Hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng thanh toán và chỉ ra triển vọng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó Những ngân hàng hoạt động không hiệu quả sẽ gây ra những thua lỗ và nắm giữ những tài sản không thanh khoản, cuối cùng sẽ trở nên mất khả năng thanh toán Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng sinh lời của mỗi ngân hàng là cách tốt nhất để giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển một cách bền vững Tuy nhiên, với mục tiêu đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng thì khi đánh giá kết quả kinh doanh hay lợi nhuận của ngân hàng cần có một quan điểm toàn diện Một ngân hàng có mức lợi nhuận cao chưa hẳn là tốt, để có mức lợi nhuận như vậy có thể ngân hàng này đã chấp nhận một cơ cấu tài sản có độ rủi ro cao Khi xét đến chỉ tiêu lợi nhuận, cần phân tích lợi nhuận trong mối quan hệ với các chỉ tiêu
Trang 20quản lý khác, chẳng hạn như mức độ thanh khoản, mức chấp nhận rủi ro, cơ cấu tài sản cũng như triển vọng phát triển lâu dài của ngân hàng Trong phân tích đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng, có thể đo lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau, như: Hệ số lợi nhuận trên tài sản có bình quân (ROA), hệ số lợi nhuận trên vốn tự
có (ROE), lợi nhuận trên tổng doanh thu, lợi nhuận trên mỗi cổ phần Dù đo lường cách nào thì vẫn chủ yếu là xem xét mức lợi nhuận của ngân hàng sau một thời kỳ hoạt động trong các mối tương quan với nguồn vốn, tài sản, khả năng bù đắp chi phí
và những thất thoát xảy ra cũng như khả năng bảo toàn và phát triển vốn Để có lãi, các ngân hàng phải tạo ra nguồn thu nhập ngày càng tăng cho mình, phải tiết kiệm chi phí hoạt động tới mức hợp lý, đồng thời phải hạn chế được những rủi ro, thất thoát thông qua các chính sách, biện pháp quản lý và phải tạo ra cơ cấu nguồn vốn
và tài sản hợp lý
Khả năng thanh khoản – Liquidity (L)
Khả năng thanh toán là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng và sự an toàn trong quá trình hoạt động của một ngân hàng Để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng phải duy trì được một tỷ lệ tài sản có nhất định dưới dạng tài sản có tính lỏng, đặc biệt là các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi ở NHTW và các công cụ dự trữ thanh khoản khác Ngoài ra, các ngân hàng còn phải chú trọng nâng cao chất lượng các tài sản có, xây dựng danh mục tài sản hợp lý, có khả năng chuyển hoá thành tiền nhanh chóng và thu hồi nợ đúng hạn để đáp ứng yêu cầu chi trả cho khách hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết
Thực tế chỉ ra rằng, những ngân hàng thiếu hụt khả năng thanh toán là biểu hiện của tình trạng không lành mạnh, ngân hàng đang gặp khó khăn, rất dễ rơi vào nguy
cơ bị ồ ạt rút tiền của công chúng, nghiêm trọng hơn có thể làm sụp đổ ngân hàng
và tác động xấu đến cả hệ thống Chính vì vậy, khả năng thanh toán trở thành thước
đo quan trọng về tính hiệu quả, uy tín và mức độ an toàn của mỗi ngân hàng cũng như toàn hệ thống ngân hàng
Trang 21Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường - Sensitivity to Market Risk (S)
Các tài sản mà các ngân hàng nắm giữ chủ yếu là các tài sản chính, chúng thường rất nhạy cảm với những biến động thị trường và gây ra những rủi ro nhất định Hầu hết, các tài sản của NH đều có liên quan đến rủi ro thị trường ở các mức độ khác nhau, chủ yếu liên quan đến các tài sản có sự nhạy cảm trước biến động về lãi suất,
tỷ giá hoặc những thay đổi giá cả trên thị trường tài chính Nếu trong cơ cấu tài sản của ngân hàng có một tỷ lệ lớn những tài sản nhạy cảm với các yếu tố này, có thể báo hiệu một khả năng dễ tổn thương của NH đó Hơn nữa, nếu một NH tham gia vào hoạt động kinh doanh ngoại hối, chứng khoán ở nước ngoài thì mỗi biến động trên thị trường tài chính thế giới sẽ tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh của ngân hàng đó Do vậy, khi đánh giá sự an toàn hoạt động của ngân hàng trong điều kiện hiện nay, cần tính đến cả những yếu tố nước ngoài trong cơ cấu tài sản của
ngân hàng
Bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF (FSIs)
Theo Ngân Hàng nhà nước Việt Nam (2011), Bộ chỉ số lành mạnh tài chính do IMF xây dựng và ban hành nhằm giúp lành mạnh hóa hệ thống tài chính, cũng như cảnh báo sớm những nguy cơ, rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống tài chính của các quốc gia thành viên Bộ chỉ số này bao gồm 40 chỉ số tài chính: 25 chỉ số phản ánh tình hình tài chính của khu vực tổ chức nhận tiền gửi (12 chỉ số cốt lõi và 13 chỉ số khuyến khích); 2 chỉ số phản ánh tình hình tài chính của khu vực tổ chức tài chính khác; 5 chỉ số phản ánh tình hình tài chính của khu vực tổ chức phi tài chính; 2 chỉ
số phản ánh tài chính của khu vực hộ gia đình; 2 chỉ số phản ánh tình hình thanh
khoản của thị trường; 4 chỉ số phản ánh tình hình của thị trường bất động sản
Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ quan tâm đến nhóm 12 chỉ số cốt lõi cho các tổ chức nhận tiền gửi, vì đây là những chỉ số cơ bản và quan trọng nhất đối với các tổ chức nhận tiền gửi mà IMF đưa ra Nhóm chỉ số này là cơ sở để lựa chọn các biến đưa vào mô hình nghiên cứu
Trang 22Bảng 2.1: Tổng hợp các chỉ số cốt lõi cho các tổ chức nhận tiền gửi
4 Nợ xấu trên tổng dư nợ
5 Tỷ trọng dư nợ theo lĩnh vực kinh tế so với tổng
dư nợ
6 Lợi nhuận trên tổng tài sản Thu nhập và khả năng
sinh lợi
7 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
8 Thu nhập ròng từ lãi so với tổng thu nhập
9 Chi phí ngoài trả lãi trên tổng thu nhập Thanh Khoản
10 Tài sản thanh khoản trên tổng tài sản
11 Tài sản thanh khoản trên nợ ngắn hạn
Độ nhạy cảm với rủi ro
thị trường 12 Trạng thái ngoại tệ ròng so với vốn
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)
2.2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
(1) Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời: thường được phản ánh thông
qua các chỉ tiêu sau: tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM), thu nhập hoạt động biên (TNHĐB), thu nhập ròng trên tổng tài sản
(ROA) và thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE)
NIM =
Trong đó, tổng tài sản có sinh lời bình quân được xác định theo các khoản mục tiền gửi tại NHNN, tại các tổ chức tín dụng, cho vay các tổ chức tín dụng khác, cho
Trang 23vay khách hàng, chứng khoán đầu tư Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thể kiểm soát tài sản sinh lời và đánh
giá nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất
NNIM = ổ ậ à ổ í à
ổ à ả
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, và chi phí tổn thất tín dụng) Đối với hầu hết các ngân hàng, chênh lệch ngoài lãi thường là âm, chi phí ngoài lãi nhìn chung vượt quá thu từ phí, mặc dù tỷ lệ thu từ phí trong tổng các
nguồn thu của ngân hàng đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây
TNHĐB = ậ ạ độ
Trong đó: Thu nhập hoạt động = Thu nhập trước thuế và lãi vay từ hoạt động
kinh doanh bán hàng và cung cấp dịch vụ
ROA = ợ ậ ế
ổ à ả â
Hệ số này phản ánh hiệu quả kinh doanh trên một đơn vị tài sản có của NH, là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng bởi vì mọi tài sản có đều là những khoản đầu tư sinh lãi ngoại trừ tiền mặt và tài sản cố định Nói cách khác nó đo lường khả năng của ban quản lý sử dụng các nguồn lực nói chung và nguồn lực tài chính của
NH để tạo ra lợi nhuận Chỉ tiêu ROA giúp nhà quản trị thấy được khả năng bao quát của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có ROA cao khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các khoản mục trên tài sản có trước khi những biến động của nền kinh tế
ROE = ợ ậ ế
ổ â
Trang 24Đây là chỉ tiêu được xem xét là xuất phát điểm cho việc đánh giá tình hình tài chính của một NHTM Nếu ROE tương đối thấp so với những ngân hàng khác thì sẽ làm giảm đi khả năng thu hút vốn mới cần thiết cho sự mở rộng và duy trì vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường ROE thấp có thể hạn chế sự tăng trưởng của ngân hàng vì khi đó ngân hàng không có cơ hội tích lũy để tăng vốn chủ sở hữu, trong khi hầu hết các quy định pháp lý để ràng buộc việc gia tăng tài sản của ngân hàng gắn chặt với việc tăng vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn chủ sở hữu, hay lợi nhuận thu được trên một đơn vị vốn chủ sở hữu
do đó cho biết khả năng lành mạnh trong hoạt động của một ngân hàng Tổng vốn chủ sở hữu bao gồm vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại và các quỹ dự trữ của NH
Ngoài những chỉ tiêu trên còn có các chỉ tiêu khác như: thu nhập cận biên trước những giao dịch đặc biệt (NRST), tỷ lệ tài sản sinh lời, tỷ lệ sinh lời hoạt động (NPM), tỷ lệ hiệu quả sư dụng tài sản (AU)… Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh, các nhà quản lý có thể vận dụng trong những trường hợp riêng cho phù hợp
(2) Nhóm chỉ tiêu phản ánh thu nhập, chi phí
Các NHTM thường nâng cao hiệu quả hoạt động của mình bằng cách tối đa hóa lợi nhuận và giảm chi phí hoạt động vì vậy có các chỉ tiêu phản ánh thu nhập, chi phí như sau:
- Tổng doanh thu hoạt động/Tổng tài sản: phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản Nếu
hệ số này lớn phản ánh ngân hàng đã phân bổ tài sản (danh mục đầu tư) một cách hợp lý nhằm nâng cao lợi nhuân ngân hàng
- Tổng chi phí hoạt động/Tổng doanh thu hoạt động: là một thước đo phản ánh mối qua hệ giữa đầu vào và đầu ra hay nói cách khác nó phản ánh khả năng bù đắp chi phí trong hoạt động của ngân hàng
Trang 25hoạch tín dụng của ngân hàng Chỉ tiêu này càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả
- Tỷ lệ tăng trưởng DSCV = ă ă ướ
ă ướ
Chỉ tiêu này tương tự như chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ nhưng bao gồm toàn bộ dư
nợ cho vay trong năm đến thời điểm hiện tại và dư nợ cho vay trong năm đã thu hồi
- Tỷ lệ thu lãi = đ ă
ă
Chỉ tiêu này đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính của NH, đánh giá khả năng đôn đốc, thu hồi lãi và tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu của NH từ việc cho vay Chỉ tiêu này càng cao thì tình hình thực hiện kế hoạch tài chính cũng như tình hình tài chính của NH càng tốt, ngược lại NH đang gặp khó khăn trong việc thu lãi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu của ngân hàng, chỉ tiêu này cũng thể hiện tình hình bất ổn trong cho vay của ngân hàng, có thể nợ xấu trong ngân hàng tăng cao nên ảnh hưởng đến khả năng thu hồi lãi của NH, và có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ trong tương lai
- Tỷ lệ dư nợ/Tổng nguồn vốn: Dựa vào chỉ tiêu này, so sánh qua các năm để đánh giá mức độ tập trung vốn tín dụng của ngân hàng Chỉ tiêu càng cao thì đánh giá khả năng sử dụng vốn càng cao hiệu quả trong việc sử dụng vốn để cho vay của NH, ngược lại thì ngân hàng đang bị trì trệ vốn, sử dụng vốn bị lãng phí
- Tỷ lệ dư nợ/ Vốn huy động: Chỉ tiêu này phản ánh NH cho vay được bao nhiêu
so với nguồn vốn huy động, nó nói lên hiệu quả sử dụng vốn huy động, thể hiện NH
đã chủ động trong việc tích cực tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy động hay chưa Tuy nhiên, chỉ số này quá cao cũng dẫn đến rủi ro tín dụng khi khách hàng rút tiền bất ngờ hay khách hàng không có khả năng thanh toán khi đến hạn…
- Tỷ lệ thu nợ đến hạn = ố ợ đế ạ
ổ ư ợ đế ạ
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của NH Nó thể hiện chất lượng tín dụng của NH, đánh giá khả năng thu hồi của các khoản tín dụng đã cho vay
Trang 26- Tỷ lệ nợ quá hạn = á
ư
Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn (khả năng hoàn trả của người vay) là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng Khi một khoản vay không được hoàn trả đúng hẹn như đã cam kết mà không có lý
do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc tín dụng quan trọng nhất của ngân hàng
và nó bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường (1,5 lần) nếu một ngân hàng thương mại có nhiều khoản nợ quá hạn sẽ gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm thu nhập Ngân hàng thương mại nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp Đây là chỉ tiêu hiện nay thường được sử dụng khi phân tích đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
- Tỷ lệ nợ xấu =
(4) Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản
- Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản: Tỷ số này phản ánh khả năng thanh khoản của ngân hàng Tức là trong tổng tài sản của ngân hàng thì tỷ trọng tài sản thanh khoản
là bao nhiêu Tỷ số này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng rất tốt
- Tài sản thanh khoản/Nợ ngắn hạn: Chỉ tiêu phản ánh việc ngân hàng có thể đáp ứng nghĩa vụ trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn hay không
- Khoản cho vay/Tổng tài sản: Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm khoản cho vay trên tổng tài sản của ngân hàng Do đó tỷ lệ này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng yếu
Tóm lại, có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh đến hiệu quả hoạt động của NHTM nhưng thời gian hạn chế nên tác giả không thể tổng hợp số liệu của tất cả các chỉ tiêu trên do đó phạm vi của bài nghiên cứu ở các chỉ tiêu sau: Mức độ an toàn vốn, Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, Quy mô ngân hàng, Dư nợ trên tổng tài sản, Cho vay khách hàng trên tiền gửi khách hàng, Nợ xấu trên tổng dư nợ, Thu nhập lãi cận biên, Đa dạng hóa thu nhập, Tốc độ tăng trưởng GDP Các chỉ tiêu này sẽ được chọn làm biến nghiên cứu cho mô hình và được đề cập cụ thể ở chương 4
Trang 272.3 Các nghiên cứu liên quan
2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm
2.3.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của R Alton Gilbert, Andrew P Meyer và Mark D.Vaughan, nhóm tác giả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tài chính theo tiêu chuẩn
mô hình Camel Nghiên cứu của nhóm tác giả đã cho thấy khả năng tài chính của các ngân hàng có thể bị tác động bởi C, A, M, E, L Từ đó tiền tiến hành hồi quy theo Probit để xác định nhân tố ảnh hưởng và kết quả cho thấy khả năng tài chính của các tổ chức tín dụng bị chi phối của các yếu tố như quy mô vốn, khả năng sinh lời, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng thanh khoản của các tài sản Nghiên cứu của Husni Ali Khrawish (2011): Theo ông, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng có thể được đáng giá dưới góc độ khả năng sinh lời, và phương pháp phù hợp được chọn để kiểm định các nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng là phương pháp Bình phương bé nhất dạng bảng – Pooled OLS, nhằm xem xét những ảnh hưởng của yếu tố đó lên khả năng sinh lời của ngân hàng
Husni tiến hành kiểm định các yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động ngân hàng của nước Jordan, trên cơ sở phân tích 14 ngân hàng của quốc gia này trong giai đoạn 2000-2010 bằng phương pháp hồi quy Pooled OLS Với mô hình hồi quy này, biến phụ thuộc là ROA và ROE đại diện cho tính hiệu quả của ngân hàng, các biến độc lập được chia thành hai nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài Nhân tố bên trong bao gồm: Logarit tự nhiên của tổng tài sản (size), tổng nợ trên tổng tài sản (TL/TA), vốn trên tổng tài sản (TE/TA), dư nợ vay trên tổng tài sản (L/TA), hệ số NIM Nhân tố bên ngoài là tăng trưởng GDP, lạm phát và tỷ giá hối đoái Kết quả phân tích cho thấy cả ROA và ROE đều tương quan thuận với quy mô, cấu trúc vốn, NIM, và tương quan nghịch với tăng trưởng GDP hằng năm, tỷ lệ lạm phát Bài nghiên cứu đánh giá rằng yếu tố lãi suất thực, lạm phát, chính sách tiền tệ, và chính sách tỷ giá hối đoái có tác động đáng kể lên hiệu quả lợi nhuận của các ngân hàng ở Nigeria Sự phát triển của khu vực ngân hàng, thị trường chứng khoán và
Trang 28cấu trúc vốn không ảnh hưởng nhiều Mối quan hệ giữa chính sách thuế doanh nghiệp với lợi nhuận ngân hàng vẫn chưa xác định rõ
Nghiên cứu của Thair Al Shaher, Ohoud Kasawneh và Razan Salem (2011): Bài nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích nhân tố PCA nhằm xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở các quốc gia Trung Đông, dựa trên việc khảo sát 23 biến như số lượng ngân hàng, năng lực cạnh tranh, cấu trúc vốn, chi phí hoạt động, tốc độ tăng trưởng GDP, tổng dư nợ, quy mô tổng tài sản,…Kết quả là, tác giả đã phân ra được sáu nhóm nhân tố chính: đặc điểm riêng của ngân hàng, môi trường pháp lý, môi trường cạnh tranh, các chỉ số kinh tế, rủi ro quốc gia và nhóm các nhân tố khác Từ đó nhóm tác giả đánh giá tác động của từng nhóm và rút ra kết luận: nhóm nhân tố đặc trưng riêng của ngân hàng có tác động lớn nhất ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng, nhóm thứ sáu có ít tác động nhất Bài nghiên cứu cung cấp hàm ý cho việc lựa chọn trong từng nhóm nhân tố Việc phân chia nhiều nhóm nhân tố như vậy khi kiểm định yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động rất có ý nghĩa trong việc định hướng các giải pháp cho ngân hàng
Aremu Mukaita Ayanda, Imoh Christopher, Mustapha Adeniyi Mudashiru (2013), Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng tại các nước đang phát triển: bằng chứng thực nghiệm từ Nigeira Tác giả nghiên cứu hiệu quả hoạt động của ngân hàng First Bank tại Nigeira trong giai đoạn 1980-2010, thông qua các biến nghiên cứu: Các biến nội sinh: tổng tài sản, số lượng kênh phân phối, tỷ lệ chi phí trên thu nhập, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, lợi nhuận trên đầu tư cho nhân viên, tỷ lệ trích lập dự phòng, tỷ lệ tổng lương trên trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi, lợi nhuận trên tổng tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thu nhập lãi cận biên; các biến ngoại sinh: tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP, tăng trưởng cung tiền M2 Bằng kỹ thuật đồng liên kết (Cointergration) và cơ chế hiệu chỉnh sai số (Error Correction Model – ECM) bài nghiên cứu này cho thấy các biến tác động cùng chiều và ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại tại Nigeira trong các giai đoạn nghiên cứu như sau: các biến có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của
Trang 29ngân hàng thương mại taị Nigeira: tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ trích lập dự phòng Điều đó cho thấy rằng các ngân hàng đối mặt với hiệu suất giảm dần theo quy mô, tỷ lệ nợ xấu đang tăng làm giảm hiệu quả hoạt động Các biến có tác động cùng chiều: tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi, lợi nhuân trên chi phí đầu tư nhân viên, tỷ lệ tổng lương trên tổng tài sản cho thấy các ngân hàng đang sử dụng tốt nguồn vốn huy động và đặc biệt bài nghiên cứu này cho thấy chi phí đầu tư nhân viên và tỷ lệ tổng lương trên tài sản cao sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động ngân hàng, đây là yếu tố mới trong các bài nghiên cứu trước đây chưa đề cập
Vincent Okoth Ongore, Gemechu Berhanu Kusa(2013) Hiệu quả hoạt động tài chính của các ngân hàng thương mại tại Kenya.Tác giả nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Kenya thông qua các biến về cấu trúc bên trong của ngân hàng và các biến vĩ mô bên ngoài tác động.Bằng phương pháp GLS tác giả nghiên cứu trên dữ liệu bảng của 37 ngân hàng thương mại tại Kenya trong giai đoạn 2001-2010 thông qua các biến: Các biến bên trong ngân hàng: lợi nhuận trên tổng tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thu nhập lãi cận biên,tỷ lệ vốn chủ
sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ lợi nhuận thu được từ phí trên tổng lợi nhuận, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng; Các biến vĩ mô: Tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát Kết quả cho thấy các biến có tác động cùng chiều:
tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ lợi nhuận thu được từ phí trên tổng lợi nhuận Các biến có tác động ngược chiều: tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng GDP Biến tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi không có ý nghĩa thống kê Hiệu quả từ hoạt động tài chính của các ngân hàng tại Kenya bị chi phối chủ yếu bởi cấu trúc bên trong được quyết định bởi các chính sách từ hội đồng quản trị của ngân hàng, các biến vĩ mô có tác dụng không đáng kể
Nghiên cứu của Asli Demirguc và Harr Huizinga, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, tác giả sử dụng dữ liệu của 80 quốc gia trong giai đoạn 1988-1995, nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh doanh của ngân hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như: đặc điểm kinh doanh của ngân hàng, điều
Trang 30kiện kinh tế vĩ mô, quy mô tài sản của ngân hàng, đặc biệt quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn sẽ cho thấy sức mạnh của ngân hàng, đồng thời đa dạng hóa được hoạt động của các ngân hàng và có điều kiện để làm tăng lợi nhuận cho các ngân hàng Nghiên cứu của Michelle L Barnesa và Jose A Lopez , nhóm tác giả nghiên cứu
về chi phí vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, hệ thống thanh toán
có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng Pháp giai đoạn 1990-2003, kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí vốn càng lớn sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng tài chính của các ngân hàng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu càng cao cho thấy ngân hàng kinh doanh hiệu quả, đồng thời làm cho khả năng tài chính của ngân hàng đó sẽ tốt hơn, hệ thống thanh toán của một ngân hàng mà tốt sẽ thu hút được nhiều người thực hiện dịch vụ và từ đó làm tăng lợi nhuận ngoài cận biên
Nghiên cứu của Wolf Wagner nghiên cứu về tính thanh khoản của tài sản ngân hàng, nghiên cứu được thực hiện tại các ngân hàng Anh giai đoạn 1999-2004, kết quả nghiên cứu cho thấy tài sản ngân hàng có tính thanh khoản cao thì ngân hàng đó phát triển ổn định mà như thế sẽ thu hút được tiền gửi nhiều hơn làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng làm tăng khả năng tài chính cho các ngân hàng Tác giả cũng đưa ra giải pháp cho các ngân hàng có thể tăng tính thanh khoản bằng cách bán rủi
ro cho các công ty mua nợ
Bài nghiên cứu của Basel Accord 1988 về hiệp ước quốc về vốn ngân hàng Basel
1 đã xây dựng lại hiệu quả của quy định nguồn vốn ngân hàng Một làn sóng mới của những bài nghiên cứu (hầu hết là các ngân hàng hợp chúng quốc Hoa Kỳ) nhắm tới quy định nguồn vốn bắt buộc Kết quả của ứng dụng và thay đổi của Basel 1 là
sự quan tâm quy định an toàn vốn đối với rủi ro ngân hàng Ví dụ, Ediz (1998) đã tìm thấy quy định về nguồn vốn thì làm hiệu quả trong việc tăng tỷ lệ vốn mà không làm thay đổi căn bản danh mục đầu tư và bảng cân đối kế toán (OBS) ở Mỹ và Anh Cũng theo hướng này, Salas và Saurina (2003) đã tìm thấy rằng các ngân hàng với nguồn vốn thấp có khuynh hướng hoạt động với rủi ro tín dụng cao hơn theo giả thuyết rủi ro đạo đức
Trang 31Một nghiên cứu lớn từ Hughes và Mester (1998) những người tranh cãi về việc cân nhắc hiệu quả ngân hàng khi phân tích mối quan hệ giữa nguồn vồn và rủi ro Theo như những tác giả này, cả nguồn vốn và rủi ro đều quyết định đến mức độ hiệu quả ngân hàng Ví dụ, các nhà quản lý giảm sát có thể cho các ngân hàng đạt hiệu quả (với sự quản lý chất lượng cao) một sự linh hoạt hơn trong điều kiện tỷ lệ vốn vay hay toàn bộ danh mục rủi ro so với nguồn vốn Mặt khác, một hiệu quả ngân hàng kém với nguồn vốn thấp có thể bị thu hút việc chấp nhận rủi ro cao để đền bù những khoản thu nhập bị mất vì sự cân nhắc rủi ro đạo đức
Berger và De Young (1997) và Kwan và Eisenbeis (1997) cũng tranh cãi rằng khái niệm hiệu quả ngân hàng cần được xác định rõ ràng trong mô hình thực nghiệm phân tích những yếu tố quyết định đến rủi ro ngân hàng Berger và De Young (1997) sử dụng phương pháp nhân quả Granger để đánh giá liên đới giữa những khoản cho vay có vấn đề, hiệu quả chi phí và nguồn vốn cho một mẫu các ngân hàng của Mỹ từ 1985 đến 1994 và tìm thấy rằng sự suy giảm trong hiệu quả chi phí khi xảy ra có sự tăng lên những khoản vay có vấn đề (thường là với những ngân hàng vốn ít), và cho rằng những khoản vay có vấn đề là kết quả dẫn đến sự giảm trong hiệu quả chi phí Kwan và Eisenbeis (1997) sử dụng “simultaneous equation framework” để kiểm tra giả thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro, nguồn vốn
và chi phí hoạt động ngân hàng Tất cả những tài liệu đó cung cấp bằng chứng cho thấy rằng hiệu quả và nguồn vốn thì quyết định đến rủi ro ngân hàng
William (2004) và Altunbas đã nghiên cứu lại những tài liệu đó ở môi trường ngân hàng Châu Âu William (2004) sử dụng phương pháp nhân quả Granger để đánh giá mối quan hệ liên đới giữa những khoản vay có vấn đề, hiệu quả chi phí và nguồn vốn tài chính trong một mẫu các ngân hàng Châu Âu suốt giai đoạn 1990-
1998 và tìm thấy rằng những ngân hàng quản lý yếu kém có khuynh hướng tạo ra những khoản vay kém chất lượng Altunbas (2007) sử dụng “static simultaneous equation framework” để nghiên cứu mối quan hệ giữa nguồn vốn, những khoản cho vay và hiệu quả chi phí cho một mẫu các ngân hàng ở Châu Âu giai đoạn 1992-
2000 và ngược lại, Williams (2004) cho thấy một mối quan hệ đồng biến giữa
Trang 32không việc hiệu quả và hằng vi chấp nhận rủi ro, với những ngân hàng không hiệu quả ở Châu Âu sẽ giữ nguồn vốn nhiều hơn và chấp nhận rủi ro thấp hơn Nói chung, mâu thuẫn từ các bài nghiên cứu Châu Âu sẽ tìm thấy mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động, nguồn vốn và rủi ro ngân hàng
2.3.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nguyễn Việt Hùng đã nghiên cứu hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2000-2005, trong nghiên cứu tác giả đã xác định được các nhân
tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của ngân hàng bằng các tiêu chí theo mô hình Camel, sau đó hồi quy với Tobit, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như: tài sản của ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tỷ lệ tiền gửi, tỷ suất sinh lời trên tài sản, tỷ lệ
nợ xấu,… có ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn đó
Nghiên cứu của Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động các các ngân hàng thương mại Việt Nam Bài viết sử dụng mô hình hồi quy Tobit dựa trên số liệu 39 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đọa 2005-2012 để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động các NHTM Việt Nam thông qua các chỉ tiêu ROA và ROE Nghiên cứu đề cập đến các yếu tố tổng chi phí hoạt động trên doanh thu, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay so với tổng tài sản, tỷ lệ nợ xấu, loại hình ngân hàng
Nghiên cứu của Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà đã nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Với kỹ thuật phân tích hồi quy bảng và áp dụng ảnh hưởng cố định (Fix Effects), nghiên cứu đã tìm thấy 2 yếu tố (mức độ an toàn vốn và lãi suất thị trường) tác động ngược chiều hiệu quả hoạt động của ngân hàng Trong khi đó, chất lượng tài sản, chất lượng quản trị chi phí, và thanh khoản có tác động cùng chiều lên hiệu quả hoạt động ngân hàng
Nghiên cứu “Lợi nhuận và rủi ro từ đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng thương mại Việt Nam” của Võ Xuân Vinh & Trần Thị Phương Mai xem xét vấn đề đa dạng
Trang 33hóa thu nhập thông qua phân tích lợi nhuận và rủi ro của các NHTM Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp ước lượng hồi quy cho dữ liệu bảng với mẫu bao gồm 37 NHTM 2006-2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng càng đa dạng hóa các hoạt động thì lợi nhuận càng cao Tuy nhiên, phân tích yếu tố rủi ro cho thấy các ngân hàng có mức độ đa dạng hóa thu nhập càng cao thì lợi nhuận điều chỉnh rủi ro giảm Bằng chứng thực nghiệm chỉ ra đa dạng hóa thu nhập không có lợi cho
các NHTM ở Việt Nam
2.3.2 Tóm lược kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Như vậy, qua phần tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước ở trên có thể rút
ra cho luận văn một số gợi ý trong việc lựa chọn các biến liên quan đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam như: quy mô tài sản, khả năng thanh khoản, chất lượng tài sản, đa dạng hóa thu nhập, chất lượng quản lý tạo cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu hiệu quả hoạt động của NHTM
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nền kinh tế ngày càng gay gắt, cạnh tranh giữa các NH với các trung gian tài chính phi ngân hàng và các ngân hàng nước ngoài Tuy nhiên sự gia tăng sức ép cạnh tranh sẽ tác động đến ngân hàng như thế nào còn phụ thuộc vào khả năng thích nghi, năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động của chính các ngân hàng Các NH không có khả năng cạnh tranh sẽ được thay thế bằng các NH có hiệu quả hơn, điều đó cho thấy chỉ có các ngân hàng có năng lực tài chính tốt, hoạt động hiệu quả mới có lợi thế cạnh tranh và tồn tại bền vững
Có rất nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng bao gồm yếu tố bên ngoài: tốc độ tăng trưởng kinh tế, chính sách pháp luật, khoa học công nghệ…và yếu tố bên trong như năng lực tài chính, uy tín thương hiệu NH, mạng lưới kênh phân phối, sự đa dạng sản phẩm…
Có nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động ngân hàng liên quan đến mức độ
an toàn vốn, chất lượng tín dụng, thu nhập, chi phí và khả năng thanh khoản để từ
đó xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động NH là cần thiết
Trang 34CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
3.1 Quá trình hình thành ngân hàng thương mại Việt Nam
Việt Nam ngày 06/05/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, với tổng giám đốc đầu tiên là cố phó chủ tịch Nguyễn Lương Bằng, chính thức khai sinh một ngành kinh tế rất trọng yếu của Nhà nước – ngành Ngân hàng Ngân hàng quốc gia Việt Nam ban đầu có những nhiệm
vụ chủ yếu là: quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ, quản lý kho bạc nhà nước, huy động vốn và cho vay phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, quản lý các hoạt động tín dụng bằng biện pháp hành chính, quản lý ngoại hối
và các khoản giao dịch bằng ngoại tệ và đấu tranh tiền tệ với địch Ngày 21/01/1960 Ngân hàng quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến năm 1975 các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế cũng như hệ thống Tiền tệ - Ngân hàng theo mô hình ở miền Bắc đã áp dụng thống nhất trong cả nước Song do nhiều nguyên nhân mà trong nhiều năm liên tục, cán cân thanh toán quốc tế bội chi rất lớn, kinh tế vĩ mô mất cân đối nghiêm trọng, tình hình tài chính tiền tệ căng thẳng, lạm phát phi mã tới 3 con số, sản xuất đình trệ… Đại hội Đảng lần thứ 6 đã
đề ra đường lối đổi mới cho đất nước, 2 pháp lệnh ngân hàng được công bố ngày 24/05/1990 là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định sự thay đổi mạnh mẽ của ngân hàng: Từ Ngân hàng một cấp thành Ngân hàng hai cấp Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nước về Tiền tệ tín dụng và là Ngân hàng Trung ương,
hệ thống Ngân hàng thương mại với chức năng kinh doanh Hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, qua thực tiễn đã yêu cầu đưa hoạt động Ngân hàng vào khuôn khổ pháp luật cao hơn, hai pháp lệnh Ngân hàng đã được tổng kết, nâng lên thành 2 luật được thông qua và có hiệu lực thi hành từ 01/10/1998 Từ đây, ngành Ngân hàng đã đóng góp rất nhiều cho sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc và phát triển ngày càng lớn với 4 ngân hàng thương mại quốc doanh, 31 chi nhánh của 26
Trang 35Ngân hàng nước ngoài, 4 Ngân hàng liên doanh, 35 Ngân hàng thương mại cổ phần,
959 quỹ tín dụng nhân dân và một số công ty tài chính khác Các nghiệp vụ Ngân hàng đã trở nên sâu rộng, đa dạng, phong phú và tăng lên nhanh chóng, huy động vốn tăng gấp 1000 lần so với 1986 và gấp 21 lần so với năm 1990, cho vay nền kinh
tế gấp 28 lần so với 1990
Cho đến ngày hôm nay, hệ thống ngân hàng đã lớn mạnh cả về số lượng cũng như quy mô và mở rộng các sản phẩm dịch vụ đáp ứng cơ bản các yêu cầu phát triển của nền kinh tế, ngành ngân hàng là nhân tố nòng cốt, tích cực trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vận hành bằng cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Nền văn minh tiền tệ Việt Nam đã từng bước được khẳng định thông qua tính ổn định giá trị, tính đa dạng về phương tiện thanh toán thay tiền mặt và không ngừng hoàn thiện các công nghệ điều hành cũng như công nghệ kinh doanh hiện đại hướng về các nhu cầu tiện ích đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân Sự lớn mạnh và thay đổi nhanh chóng theo chiều hướng ngày càng hiện đại phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế Ngân hàng trở thành trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước trước những thách thức và thời cơ của xu thế hội nhập
và toàn cầu hoá trong giai đoạn phát triển mới
3.2 Thực trạng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 2007-2015
3.2.1 Mức độ an toàn vốn của NHTM
Quy mô tài sản hệ thống NHTM Việt Nam
Trong những năm trở lại đây, sự tăng trưởng nhanh về quy mô vốn đã giúp các ngân hàng cải thiện đáng kể năng lực tài chính Tuy nhiên, quy mô hệ thống ngân
hàng Việt Nam còn rất nhỏ so với khu vực
Trang 36(Nguồn: Ủy ban giám sát tài chính quốc gia)
Hình 3.1: So sánh quy mô hệ thống ngân hàng Việt Nam so với các nước trong
khu vực năm 2015
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
Từ 2006 việc quy định vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng đến 2010 của các NHTM cũng giúp cải thiện tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Việc quy định vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng và thậm chí còn cao hơn nữa sẽ có hai tác dụng Thứ nhất, tránh tình trạng bị chi phối bởi một hay một vài cá nhân, điều đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống ngân hàng Việt Nam vào cuối thập niên 1990 Thứ hai giảm được vấn đề về tâm lý ỷ lại và lựa chọn bất lợi Với một mức vốn đáng kể thì chủ sở hữu ngân hàng sẽ hành động có trách nhiệm hơn để bảo vệ tài sản của họ Hơn thế những giới hạn về sở hữu, cấp tín dụng nhằm hạn chế sự lũng đoạn tổ chức
tín dụng đã được quy định chặt chẽ trong các quy định hiện hành
Và từ ngày 01/10/2010 theo thông tư 13/TT-NHNN ngày 20/05/2010 của NHNN thì tỉ lệ này sẽ được điều chỉnh từ 8% lên 9% (trên thế giới tỉ lệ phổ biến là 12%) Việc tăng tỷ lệ an toàn vốn là cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm
khuyến khích các ngân hàng tái cơ cấu và nâng cao tiềm lực tài chính Với việc
nâng hệ số đủ vốn lên 9% trong Thông tư 13 và quy định về vốn pháp định tối thiểu
Thái Lan Hàn Quốc Malaysia Indonesia Việt Nam Hong Kong Trung Quốc Đài Loan Phillippines Nhật Bản
Trang 37theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ là cơ sở hết sức quan trọng để nâng cao tiềm lực tài chính của các TCTC Đồng thời việc điều chỉnh này phù hợp với thực tế hiện nay, khi nhiều NHTM hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Hệ số an toàn vốn (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro (Capital Adequacy Ratio - CAR) là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực tài chính của ngân hàng Chỉ tiêu này dùng để xác định khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản
nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)
Hình 3.2: Tỷ lệ an toàn vốn của NHTM Việt Nam 2007-2015
Nhìn chung từ 2007-2015, tỷ lệ CAR của các NHTM có tăng lên và đáp ứng quy định của Nhà Nước Tuy nhiên, tỷ lệ này còn thấp so với các nước trong khu vực, hệ số an toàn vốn được cải thiện chưa nhiều trong khi hệ thống ngân hàng vẫn
thường thấp hơn 3% so với toàn hệ thống; 2% với các ngân hàng thương mại cổ phần; thấp hơn rất nhiều so với các ngân hàng nước ngoài Trong khi đó ngân hàng thương mại nhà nước lại chiếm đến hơn 40% thị phần huy động và cho vay toàn thị
Trang 38trường Mặc dù các quốc gia trong khu vực đã áp dụng Basel 2 và Basel 3, tỷ lệ an toàn vốn của Việt Nam (theo Basel 1) vẫn ở mức thấp so với các quốc gia trong khu vực Nếu tính đúng, tính đủ các loại rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường và xác định chính xác vốn tự có thực (loại bỏ vốn ảo do sở hữu chéo) của các ngân hàng thương mại theo yêu cầu của Basel II thì hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại thấp hơn nhiều so với các số liệu công bố Điều này cho thấy sự phát triển thiếu bền vững của các ngân hàng Việt Nam
(Nguồn: Ủy ban giám sát tài chính quốc gia)
Hình 3.3: Hệ số an toàn vốn của một số nước Châu Á năm 2015
3.2.2 Tăng trưởng hằng năm của huy động vốn
16 14.3 12.6
14 15.1
16 15.1 12.83
Trang 39(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)
Hình 3.4: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của các NHTM Việt
Nam 2007-2015
Năm 2010-2011 lượng tiền gửi huy động đã suy giảm nhanh chóng, chính sách trần lãi suất huy động VND ở mức 14% năm 2011 đã gây ra sự suy giảm nguồn vốn huy động tiền gửi từ dân cư và thanh khoản trở thành mối quan ngại sâu sắc với hệ thống ngân hàng Đến năm 2012 và 2013 huy động vốn tăng trưởng mạnh Những chuyển biến tích cực của kinh tế vĩ mô, các biện pháp linh hoạt trong chính sách tiền tệ và bước đầu thúc đẩy cơ cấu lại hệ thống ngân hàng đã tạo ra một môi trường
ổn định hơn, thuận lợi hơn cho hoạt động tiền tệ tín dụng Đã có những bứt phá trong hoạt động huy động vốn Từ 2014-2015 tốc độ tăng trưởng huy động vốn vẫn tăng trưởng khá nhưng chững lại Việc tăng nguồn vốn huy động trong thời gian gần đây đã giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh, nâng cao vị thế cũng như năng lực cạnh trạng của ngân hàng trên thị trường
3.2.3 Chất lượng hoạt động tín dụng
Tốc độ tăng trưởng tín dụng
Giai đoạn 2007 - 2010, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân khoảng 35%/năm,
cá biệt năm 2007 lên tới 53% Xét quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng
kinh tế cho thấy giai đoạn 2007 - 2010, tăng trưởng tín dụng gấp 5 - 6 lần tốc độ
tăng GDP, đó là điều không hợp lý, thể hiện hiệu quả đồng vốn thấp, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tăng vốn Sự tăng mạnh về vốn đầu tư vào Việt Nam từ
Trang 402005 - 2007 dẫn tới tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt mức cao, khoảng 53% vào năm 2007; tín dụng ngân hàng quá nóng đã được coi là một trong những tác nhân đẩy lạm phát tăng cao, gây bất ổn đối với nền kinh tế
Hậu quả là, tỷ lệ lạm phát trong năm 2007 - 2008 tăng vọt, so với năm 2007 tốc
độ tăng giá tiêu dùng năm 2008 là 19,89% Khả năng huy động của NH thấp trong khi tăng trưởng tín dụng cao làm cho khó khăn thanh khoản trở nên nghiêm trọng hơn Tăng trưởng tín dụng quá nóng dẫn đến tình trạng khan hiếm về vốn, thanh khoản thấp và lãi suất liên ngân cao trong 2017-2010 Các thị trường tài sản bị đóng băng đã khiến cho các ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, đến tỷ lệ nợ xấu rất cao, ảnh hưởng đến sự an toàn của toàn hệ thống ngân hàng thâm chí có thể rơi vào tình trạng phá sản
(Nguồn: Số liệu công bố của Tổng cục thống kê)
Hình 3.5: Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam và tốc
độ tăng trưởng GDP 2007-2015 Sang giai đoạn từ năm 2011, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát,
Chính phủ đã có chủ trương sử dụng chính sách tiền tệ, tài khóa thắt chặt (đưa ra hạn mức tăng trưởng tín dụng, tăng các lãi suất điều hành, cắt giảm chi tiêu công,