1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tình hình sử dụng vốn đầu tư cơ bản của ngân sách nhà nước tỉnh cà mau từ 2010 2014

86 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn Tỉnh Cà Mau đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai thực hiện cơ chế chính sách chung, cải tiến quy trình, thủ tục cấp phát và quản lý

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THIỆN CHIẾN

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH CÀ MAU TỪ 2010 - 2014

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THIỆN CHIẾN

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH CÀ MAU TỪ 2010 - 2014

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:

PGS.TS NGUYỄN HỒNG THẮNG

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016

Trang 3

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Ngày 05 tháng 05 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thiện Chiến

Trang 4

ĐBSCL Đồng bằng sông Cữu Long

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

HĐND Hội đồng nhân dân

ICOR Incremental Capital – Output Rate (Tỷ lệ vốn đầu vào – đầu ra) NSNN Ngân sách nhà nước

Trang 5

TRANG BÌA

TRANG BÌA LÓT

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

CÁC TỪ VIẾT TẮC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

1.4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4.3 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 3

Chương 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 4

2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ XDCB 4

2.1.1 Đầu tư 4

2.1.2 Đầu tư công 6

2.1.3 Đặc điểm đầu tư XDCB từ NSNN 13

2.1.4 Vai trò của đầu tư XDCB từ NSNN 16

2.1.5 Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN 17

2.1.6 Hiệu quả vốn đầu tư đầu tư XDCB 21

2.2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 22

Trang 6

3.1 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 26

3.1.1 Khung phân tích 26

3.1.2 Thiết kế nghiên cứu 27

3.2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN 27

3.2.1 Chỉ tiêu tiến độ giải ngân vốn XDCB từ NSNN 27

3.2.2 Nhóm các tiêu chí xác định thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB 28

3.3 CÁC CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VỐN ĐẦU TƯ XDCB 29

3.3.1 Chỉ tiêu 32

3.3.2 Đánh giá tác động 24

3.4 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 32

3.4.1 Dữ liệu thứ cấp 32

3.4.2 Dữ liệu sơ cấp 32

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 34

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34

4.1.2 Kinh tế - xã hội 36

4.1.3 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của Tỉnh Cà Mau 38

4.1.4 Đặc điểm hộ gia đình được phỏng vấn 40

4.2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XDCB TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2010 – 2014 41

4.2.1 Tích lũy đầu tư XDCB từ NSNN 41

4.2.2 Kết quả đầu tư XDCB giai đoạn 2010 - 2014 42

4.2.3 Đánh giá chung 44

4.3 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XDCB 46

4.3.1 Tiến độ giải ngân vốn đầu tư XDCB từ NSNN 46

4.3.2 Thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB 48

Trang 7

4.3.4 Tác động đối với kinh tế - xã hội của Tỉnh Cà Mau 53

4.3.5 Tác động đối với phúc lợi của người dân tỉnh Cà Mau 55

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 59

5.1 KẾT LUẬN 59

5.1.1 Hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN Tỉnh Cà Mau 59

5.1.2 Tác động của vốn đầu tư XDCB đến kinh tế - xã hội Tỉnh Cà Mau 59

5.1.3 Tác động của vốn đầu tư XDCB đến phúc lợi của hộ gia đình 60

5.1.4 Nguyên nhân của những kết quả đạt được 60

5.1.5 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và yếu kém 61

5.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XDCB TẠI TỈNH CÀ MAU 62

5.2.1 Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch 62

5.2.2 Tập trung vốn đầu tư cho các dự án trọng điểm 62

5.2.3 Tiếp tục đẩy mạnh công tác thanh, quyết toán vốn đầu tư 63

5.2.4 Đẩy mạnh công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB 64

5.2.5 Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng công trình 64

5.2.6 Đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính 65

5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ GỢI Ý CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU MỞ RỘNG 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 4.1: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN giai đoạn 2010 – 2014 37

Bảng 4.2: Đặc điểm cơ bản của người trả lời phỏng vấn 41

Bảng 4.3: Tích lũy đầu tư XDCB từ NSNN giai đoạn 2010 – 2014 41

Bảng 4.4: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN giai đoạn 2010 – 2014 42

Bảng 4.5: Thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB tỉnh Cà Mau 2010 – 2014 51

Bảng 4.6: Tần suất sử dụng các công trình xây dựng của người dân 55

Bảng 4.7: Tỷ lệ Chi phí đi lại của gia đình người dân 56

Bảng 4.8: Tỷ lệ Thu nhập của gia đình người dân 56

Trang 9

Hình 3.1: Khung phân tích do tác giả đề xuất 26

Hình 3.2: Thiết kế nghiên cứu 27

Hình 4.1: Vị trí địa lý của tỉnh Cà Mau 34

Hình 4.2: Tổng giá trị sản xuất tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010 – 2014 38

Hình 4.3: Tỷ lệ giải ngân (%) vốn XDCB từ NSNN tỉnh Cà Mau 2010 – 2014 48

Hình 4.4: Ý kiến của người dân về chất lượng và tác động công trình 53

Hình 4.5: Đánh giá của người dân về hiệu quả kinh tế của công trình 57

Hình 4.6: Đánh giá của người dân về hiệu quả xã hội của công trình 58

Trang 10

Chương 1 GIỚI THIỆU

Chương này giới thiệu cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và bố cục đề tài

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong 05 năm (2010- 2014), đã có nhiều chính sách huy động các nguồn lực phát triển và sử dụng nguồn vốn đầu tư cho hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn Tỉnh Cà Mau được tăng cường đầu tư, nhất là về hạ tầng giao thông từ thành thị đến nông thôn nhiều dự án đã triển khai hoàn thành đúng tiến độ, đưa vào khai thác sử dụng và phát huy hiệu quả đầu tư như các tuyến đường ô tô đến trung tâm các xã của từng huyện; giao thông nông thôn, lưới điện, các công trình thủy lợi góp phần thay đổi diện mạo bộ mặt cả thành thị và nông thôn Tỉnh Cà Mau, thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân (UBND Tỉnh Cà Mau, 2014)

Do đó, đầu tư XDCB là lĩnh vực quan trọng, giữ vai trò chủ yếu trong việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hàng năm, ngân sách Tỉnh Cà Mau ghi vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản đạt 20% trên tổng chi ngân sách cấp tỉnh quản lý (UBND Tỉnh Cà Mau, 2014) Tuy nhiên, tình trạng chung của nhiều địa phương trong tỉnh chất lượng hoạt động đầu tư trên địa bàn còn hạn chế Vì vậy, để khắc phục tình trạng trên thì việc nâng cao chất lượng quản lý đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn hiện nay Việc quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn Tỉnh Cà Mau

đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai thực hiện cơ chế chính sách chung, cải tiến quy trình, thủ tục cấp phát và quản lý sử dụng vốn, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu

tư XDCB từ NSNN theo nhiệm vụ được giao Bên cạnh đó cũng còn nhiều bất cập trong ở các khâu từ quy trình, thủ tục cấp phát, sử dụng và thanh toán vốn đầu tư

Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn hạn chế Tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư XDCB từ NSNN vẫn còn nhiều (UBND Tỉnh Cà Mau, 2014) Từ những vấn đề nêu trên, việc quản lý sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại địa phương và cải cách hành chính, đổi mới quản lý chi tiêu công, thực hành tiết

Trang 11

kiệm và chống thất thoát, lãng phí và việc hoàn thiện quản lý chi tiêu công nói chung và quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN đang là vấn đề bức xúc Việc đề ra những giải pháp quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN là rất cấp thiết Đó cũng là lý

do chọn đề tài “Đánh giá tình hình sử dụng vốn đầu tư XDCB của ngân sách

nhà nước tại tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại Tỉnh Cà Mau trên cơ sở xem xét, đánh giá việc đầu tư (tập trung hay dàn trải), tổ chức thực hiện vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Câu hỏi 1: Quản lý và sử dụng vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước tại Tỉnh Cà Mau hiệu quả như thế nào?

Câu hỏi 2: Tác động của vốn đầu tư XDCB từ NSNN đến tình hình sản xuất

và phúc lợi của hộ gia đình ở Tỉnh Cà Mau như thế nào?

Câu hỏi 3: Giải pháp nào giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN Tỉnh Cà Mau?

1.4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý vốn đầu tư XDCB của các cơ quan quản lý NSNN Tỉnh Cà Mau, hộ gia đình được hưởng lợi từ vốn đầu tư XDCB tại Tỉnh Cà Mau là đối tượng nghiên cứu của đề tài

Trang 12

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong các dự án do UBND Tỉnh Cà Mau phê duyệt và làm chủ đầu tư trong thời gian 05 năm, từ 2010 đến năm 2014

1.4.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu khảo sát, thống kê từ Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau, các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính và dữ liệu phỏng vấn những người dân trực tiếp hưởng lợi từ các công trình đầu tư XDCB từ NSNN của Tỉnh Cà Mau

1.5 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần phụ lục và các vấn đề có liên quan thì bố cục của đề tài gồm 5 chương, được chia như sau:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan lý thuyết về đầu tư xây dựng cơ bản

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 13

Chương 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ VỐN ĐẦU TƯ

XÂY DỰNG CƠ BẢN

Chương này trình bày cơ sở lý luận về vốn đầu tư xây dựng cơ bản và lược khảo một số tài liệu nghiên cứu có liên quan làm cơ sở để đề xuất mô hình nghiên cứu

2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ XDCB

2.1.1 Đầu tư

2.1.1.1 Khái niệm về đầu tư

Đầu tư là phần sản lượng được tích lũy nhằm để gia tăng năng lực sản xuất tương lai của nền kinh tế (Sach-Larrain 1993) Sản lượng ở đây có thể do nền kinh

tế tự sản xuất hay là do nhập khẩu từ bên ngoài, có thể là các sản phẩm hữu hình như máy móc, thiết bị hay là các sản phẩm vô hình như bằng phát minh, sáng chế… Đầu tư là sự bỏ vốn trong một thời gian dài vào một lĩnh vực nhất định (như thăm đò, khai thác, chế biến, sản xuất kinh doanh, dịch vụ ) và đưa vốn vào hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều chu kỳ kế tiếp nhằm thu hồi vốn, đem lại lợi nhuận cho nhà đầu tư và lợi ích kinh tế xã hội cho nước nhận đầu tư (Ngân hàng thế giới, 2005) Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư (Luật đầu tư, 2014)

Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư được hiểu là việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai Đầu tư còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính vào quá trình đầu tư Các hoạt động tăng tư bản khác bị loại trừ (ví

dụ trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản) Việc gia tăng tư bản

tư nhân (tăng thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân Việc gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công

Các hoạt động sử dụng nguồn lực để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế (như đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước đô thị ) được gọi

là đầu tư phát triển Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên, khoa học công nghệ

Trang 14

Như vậy, đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực trong một thời gian nhất định ở hiện tại để thu được lợi nhuận kinh tế và lợi ích xã hội trong tương lai

2.1.1.2 Nguồn vốn đầu tư

Nếu xét trên tổng thể nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm hai loại: nguồn trong nước tiết kiệm được và nguồn từ nước ngoài đưa vào Nguồn từ nước ngoài đưa vào có thể dưới dạng: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, các khoản vay nợ và viện trợ, tiền kiều hối và thu nhập do nhân tố từ nước ngoài chuyển về Có thể chia vốn đầu tư làm 2 loại là đầu tư của khu vực doanh nghiệp và cá nhân (khu vực tư)

và đầu tư của khu vực nhà nước (khu vực công)

Nguồn vốn đầu tư của khu vực tư: trên lý thuyết thì nguồn đầu tư của khu vực

tư (Ip) được hình thành từ tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và của cá nhân (Sp)

và luồng vốn của nước ngoài đổ vào khu vực này (Fp):

Ip = Sp + Fp; và Sp = Ydp - Cp Trong đó: Ydp là thu nhập khả dụng; Cp là tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình

Nguồn tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và cá nhân thường là nguồn chủ yếu trong nền kinh tế Nguồn vốn của nước ngoài đổ vào khu vực tư thường ở các dạng như đầu tư trực tiếp (FDI) và các khoản nợ Nguồn vốn đầu tư của khu vực công: nguồn đầu tư của nhà nước (Ig) được xác định theo công thức sau:

Ig = (T - Cg) + Fg (2.1)

Trong đó: T là các khoản thu của khu vực nhà nước;

Cg là các khoản chi tiêu của khu vực nhà nước không kể chi đầu tư Chênh lệch giữa khoản thu và chi này là tiết kiệm của khu vực nhà nước; Fg là các khoản viện trợ và vay nợ từ nước ngoài vào khu vực nhà nước Dựa vào công thức (2.1) ta thấy đầu tư của khu vực nhà nước gồm ba nguồn:

Thứ nhất, khả năng huy động vốn của khu vực nhà nước từ khu vực doanh nghiệp và cá nhân hoặc các tổ chức tài chính trung gian Hình thức huy động này được thực hiện bằng việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu của nhà nước

Thứ hai, tiết kiệm của khu vực nhà nước, bằng các khoản thu về ngân sách nhà nước trừ cho các khoản chi thường xuyên Trong trường hợp các nước kém phát triển thì khoản tiết kiệm này rất khiêm tốn, không đủ đáp ứng nguồn vốn đầu tư lớn cho phát triển, nhất là vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng

Trang 15

Thứ ba, nguồn vốn giúp đỡ từ nước ngoài Nguồn này có vai trò khá quan trọng đối với các nước kém phát triển Các nguồn từ nước ngoài thường dưới dạng viện trợ hoặc vay nợ

2.1.1.3 Đối tượng đầu tư

Trong một nền kinh tế, vốn đầu tư tồn tại dưới nhiều hình thức và vì vậy cũng

có nhiều cách đầu tư Có 3 loại đầu tư chính sau:

Đầu tư vào tài sản cố định: là đầu tư vào nhà, xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải Đầu tư dưới dạng này chính là đầu tư nâng cao năng lực sản xuất Khả năng đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào đầu

tư loại này

Đầu tư vào tài sản lưu động: tài sản lưu động là những nguyên vật liệu thô, bán thành phẩm được sử dụng hết sau mỗi quá trình sản xuất Ngoài ra, tài sản lưu động cũng có thể là thành phẩm được đơn vị đó sản xuất ra mà chưa đem đi tiêu thụ hết Như vậy, lượng đầu tư vào loại tài sản này chính là sự thay đổi về khối lượng của các hàng hoá đó trong một thời gian nhất định

Đầu tư khác: là các khoản đầu tư nhằm gia tăng năng lực phát triển của xã hội, nâng cao trình độ dân trí, cải thiện chất lượng môi trường

Xét trên tổng thể nền kinh tế, có một dạng đầu tư vào tài sản cố định rất quan trọng đó là cơ sở hạ tầng, phần lớn lượng đầu tư vào cơ sở hạ tầng do nhà nước đảm nhận Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều thành phần thì khu vực tư nhân và nước ngoài cũng tham gia đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng các hình thức thích hợp (ví dụ như BOT, BTO, BT, ) Đặc điểm của đầu tư vào các loại hàng hoá công là nhu cầu vốn lớn, lâu thu hồi vốn nên thường do nhà nước đảm trách Tuy nhiên, đầu

tư vào kết cấu hạ tầng có tác động thúc đẩy đầu tư của các thành phần kinh tế khác phát triển

2.1.2 Đầu tư công

2.1.2.1 Khái niệm về đầu tư công

Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (Luật Đầu tư công, 2014)

Trang 16

Vốn đầu tư công gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương

để đầu tư (Luật Đầu tư công, 2014)

Lĩnh vực đầu tư công bao gồm: (1) Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; (2) Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (3) Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích; (4) Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện

dự án theo hình thức đối tác công tư (Luật Đầu tư công, 2104)

2.1.2.2 Đặc điểm của đầu tư công

Hàng hóa công là loại hàng hoá không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng Tính không cạnh tranh về tiêu dùng biểu hiện cùng một lúc có hơn một người tận hưởng những lợi ích từ hàng hoá công, và chi phí đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng thêm này

là bằng không Phần lớn hàng hoá công do Chính phủ cung cấp và ngoài ra còn có thể huy động sự tham gia của khu vực tư để đáp ứng nhu cầu về hàng hoá công của

xã hội

Hàng hoá công có tính tiêu dùng chung, khi tăng thêm một người tiêu dùng thì hàng hoá công sẽ không làm giảm đi lợi ích của những người tiêu dùng hiện có và chi phí đáp ứng đòi hỏi của các đối tượng tiêu dùng tăng thêm là bằng không Khi hàng hoá công được cung cấp thì không thể loại trừ hoặc rất tốn kém để loại trừ một người nào đó tiêu dùng hàng hoá mà không chịu trả tiền cho hoạt động tiêu dùng của mình

Đầu tư công đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn nền kinh tế đang có những bước chuyển đổi nhằm sử dụng các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả Đặc biệt, đầu tư công ưu tiên cho phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, cho

sự nghiệp giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo

Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có một vai trò rất lớn trong đầu tư công để tạo những bước đột phá phát triển đất nước Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều thành phần thì khu vực tư nhân trong nước và khu vực nước ngoài cũng tham gia

Trang 17

đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng các hình thức thích hợp (ví dụ như BOT, BTO, BT, )

Đầu tư công của ngân sách nhà nước là khoản chi tích lũy Chi đầu tư công trực tiếp làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố định, gia tăng giá trị tài sản

cố định cho nền kinh tế quốc dân Vấn đề này thể hiện rõ nét thông qua việc nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như: giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục Sự tăng lên về số lượng và chất lượng của hàng hoá công này là

cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trên các mặt: phát triển cân đối giữa các ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài sẽ tạo động lực, cú hích cho sự tăng trưởng

Quy mô và cơ cấu chi đầu tư công của ngân sách nhà nước không cố định và phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ

và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân

Nội dung chi đầu tư công gồm 4 lĩnh vực: chi xây dựng các công trình kết cấu

hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; chi hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước; chi cho quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển; chi dự trữ nhà nước Trong đó, chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất và được thực hiện theo phương thức không hoàn trả Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của nhà nước hướng vào củng cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình trọng điểm phục vụ phát triển văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng Thực chất loại chi này nhằm đảm bảo tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định cho các ngành, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Sự tham gia của nhà nước vào các lĩnh vực nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, bởi nó nhằm kích thích đầu tư, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh đồng thời tạo ra các trung tâm kinh tế

Trang 18

2.1.2.3 Vai trò của đầu tư công đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Đầu tư nói chung và đầu tư công nói riêng là hoạt động chủ yếu, quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng của nền kinh tế Đầu tư hiệu quả sẽ xây dựng được một nền kinh tể ổn định có tốc độ tăng trưởng nhanh, cơ sở hạ tầng hiện đại,

cơ sở pháp lý minh bạch, tạo tiền đề tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của khu vực tư nhân và đầu tư của nước ngoài Do đó nếu chỉ tính hiệu quà kinh tế đơn thuần thì sẽ không chính xác, mà phải tính hiệu quả cả trong xóa đói giảm nghèo, phát triền giáo dục, an sinh xã hội…

Do đặc điểm đầu tư công tập trung chủ yếu vào các hàng hóa công và không, hoặc ít có khả năng sinh lợi, khu vực kinh tế tư nhân thường không muốn tham gia vào hoạt động này Chính vì vậy, nhà nước cần đứng ra cung cấp hàng hóa công bằng nguồn lực của khu vực nhà nước Tác động của việc sản xuất những hàng hóa công không thể đo trực tiếp bằng các chỉ tiêu thông thường như đối với các hàng hóa do doanh nghiệp tư nhân kinh doanh mà phải thông qua lợi ích đem lại cho toàn

bộ nền kinh tế - xã hội Việc đánh giá kết quả đầu tư công của một địa phương phải thông qua kết quả phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đó

2.1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư công

Quản lý đầu tư công chịu tác động của nhiều nhân tố, theo Lê Chi Mai (2010)

có năm nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư công:

Thứ nhất là năng lực của cơ quan Nhà nước: Năng lực quản lý được xem là yếu tố mang tính quyết định đến kết quả đạt được của dự án Để dự án đạt được kết quả mong muốn, các cơ quan thực hiện đầu tư công và quản lý đầu tư công cần phải bảo đảm nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng (sự hiểu biết, trình độ, năng lực) Phải đảm bảo những người phụ trách chính trong dự án có trình độ, năng lực quản lý đáp ứng yêu cầu của dự án

Thứ hai là kinh phí: đây là nhân tố không thể thiếu, khi muốn thực hiện công việc nhìn chung đều cần phải lên kế hoạch chuẩn bị bảo đảm đáp ứng đầy đủ kinh phí cho hoạt động đó Đối với hoạt động đầu tư công, do đây chủ yếu là những hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản quy mô lớn nên vấn đề kinh phí lại càng phải được quan tâm chặt chẽ Nguồn kinh phí đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách nhà nước

Do nguồn ngân sách này còn phải chi đồng thời cho nhiều khoản chi khác nhau,

Trang 19

nhiều dự án khác nhau nên việc bảo đảm đủ kinh phí cho hoạt động đầu tư diễn ra đúng tiến độ là vô cùng quan trọng

Thứ ba là thủ tục hành chính và các quy định pháp luật: việc thực hiện đầu tư công liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý ngân sách Về nguyên tắc, các thủ tục hành chính cần tạo

ra trình tự ổn định và rành mạnh cho hoạt động quản lý tối ưu, tạo điều kiện cho việc thực hiện dự án được thuận lợi Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch,

có cách hiểu thống nhất, bảo đảm định hướng hoạt động của dự án công đáp ứng đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Thứ tư là bối cảnh thực tế: các yếu tố kinh tế, xã hội , chính trị, tiến bộ khoa học công nghệ đều có ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả đạt được của dự án đầu tư Những biến động này đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự án, hoặc ngưng không thực hiện dự án nữa do không còn phù hợp

Thứ năm là công luận và thái độ của các nhóm có liên quan: sự ủng hộ hay phản đối của công luận có tác động không nhỏ đến việc thực hiện dự án Các dự án công bị người dân phản đối, ngăn chặn ngay từ khâu giải tỏa mặt bằng sẽ gặp rất nhiều khó khăn về sau Bên cạnh đó, mỗi dự án được thực hiện sẽ mang lại lợi ích

và bất lợi cho những nhóm đối tượng khác nhau và do vậy cũng sẽ nhận được sự ủng hộ và phản đối của các nhóm đối tượng tương ứng

2.1.2.5 Đầu tư XDCB

Trong đời sống kinh tế - xã hội, dưới các góc độ khác nhau, khái niệm đầu tư được giải thích khác nhau Xét trên góc độ tiêu dùng đầu tư được hiểu là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để được tiêu dùng lớn hơn trong tương lai Xét trên góc độ rủi ro đầu tư được quan niệm là một hoạt động mạo hiểm, đó là sự đánh đổi mọi nguồn lực có thực hôm nay để hy vọng đạt được một lợi ích lớn hơn trong tương lai Gọi là mạo hiểm vì niềm hy vọng này có thể thành hiện thực hoặc không thành hiện thực (Bùi Xuân Phong, 2006)

Theo nghĩa rộng, đầu tư được hiểu là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu hút về cho người đầu tư kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực bỏ ra, nguồn lực đó có thể là tiền, các tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ (Bùi Xuân Phong, 2006)

Trang 20

Từ những khái niệm khác nhau có thể hiểu một cách chung nhất: Đầu tư là quá trình bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích thu hiệu quả lớn hơn trong tương lai, vốn bỏ vào đầu tư gọi là vốn đầu tư

Đầu tư XDCB là một hình thức đầu tư nói chung Trong đó, mục đích bỏ vốn được xác định và giới hạn trong phạm vi tạo ra những sản phẩm XDCB - Cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế - xã hội như: đường giao thông, cống thoát nước, nạo vét kênh rạch, hồ đập thuỷ lợi,…

Trong đầu tư kinh tế người ta phân biệt hai loại, đó là đầu tư cơ bản và đầu tư vận hành Đầu tư cơ bản là quá trình đổi mới và tái sản xuất mở rộng có kế hoạch các TSCĐ của nền kinh tế quốc dân trong các ngành sản xuất vật chất Nó là quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho một quốc gia

Đầu tư XDCB đóng vai trò quyết định, gắn liền với việc nâng cao cơ sở vật chất của nền kinh tế và năng lực sản xuất của doanh nghiệp Nó đòi hỏi một khoản vốn lớn và cần được tính toán chuẩn xác, quản lý một cách chặt chẽ; nếu không sẽ dẫn đến sự lãng phí tiền của rất lớn của đất nước

Trang 21

thức mà qua đó nhà nước sử dụng các công cụ quản lý tác động vào quá trình phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính để hướng vào đạt những mục tiêu đã định (Sử Đình Thành, 2004)

Chính sách là chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định, nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó

2.1.2.7 Vốn và vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN

Vốn là toàn bộ giá trị của đầu tư để tạo ra các tài sản nhằm mục tiêu thu nhập trong tương lai Các nguồn lực được sử dụng cho hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư, nếu quy đổi ra thành tiền thì vốn đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư

Bất kỳ một quá trình tăng trưởng hoặc phát triển kinh tế nào muốn tiến hành được đều phải có vốn đầu tư, vốn đầu tư là nhân tố quyết định để kết hợp các yếu tố trong sản xuất kinh doanh Nó trở thành yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả các dự án đầu tư cho việc phát triển kinh tế đất nước

Vốn đầu tư XDCB là toàn bộ chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt thiết bị và các chi phí khác ghi trong tổng dự toán

Vốn đầu tư XDCB từ NSNN: Các nguồn lực thuộc quyền sở hữu và chi phối toàn diện của nhà nước được sử dụng cho hoạt động đầu tư XDCB được gọi là vốn đầu tư XDCB từ NSNN

Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức cụ thể, vốn đầu tư XDCB từ NSNN được hình thành từ các nguồn sau: (1) Nguồn thu trong nước: thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của đất nước và (2) Nguồn vốn nước ngoài: vốn vay, vốn ODA, nguồn viện trợ phi Chính phủ

Theo phân cấp quản lý ngân sách chia vốn đầu tư XDCB từ NSNN thành: (1) Vốn đầu tư XDCB của ngân sách trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách Trung ương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ lợi ích quốc gia Nguồn vốn này được giao cho các Bộ Ngành quản lý, sử dụng; (2) Vốn đầu tư XDCB của ngân sách địa phương (cấp tỉnh, huyện, xã) được hình thành từ các khoản thu của

Trang 22

ngân sách địa phương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của địa phương đó Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương quản lý thực hiện

2.1.2.8 Phúc lợi xã hội

Phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu mang tính bao cấp và được phân phối ngoài thu nhập theo lao động

Phúc lợi xã hội bao gồm những chi phí xã hội chủ yếu sau: trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng cho học sinh, những chi phí cho học tập không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi, an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo,… các khu vui chơi, giải trí công cộng không thu tiền (hoặc thu ít), các công trình công cộng phục vụ chung cho mọi người… nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của nhân dân, đặc biệt là đối với những người có công đối với đất nước, những người nghèo, vùng nghèo, những đối tượng yếu thế, gặp rủi ro

Phúc lợi hộ gia đình là phần phúc lợi xã hội mà những thành viên trong hộ gia đình được hưởng

2.1.3 Đặc điểm đầu tư XDCB từ NSNN

2.1.3.1 Đặc điểm đầu tư và đầu tư XDCB

Khác với các hoạt động kinh tế - thương mại thông thường, đầu tư (trong đó

có đầu tư XDCB) là một loại hình hoạt động phức tạp, có nhiều nét đặc thù như: thời gian thi công kéo dài, độ rủi ro lớn, vốn đầu tư lớn lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố (tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội ) Do vậy hoạt động đầu tư phải được thực hiện thông qua các dự án đầu tư Sản phẩm của hoạt động đầu XDCB được gọi

là công trình xây dựng

Một số đặc điểm phổ biến của đầu tư và đầu tư XDCB như sau:

Một là: Đầu tư, trong đó đầu tư XDCB là hoạt động bỏ vốn Do đó quyết định đầu tư là quyết định tài chính như: tổng mức đầu tư, nguồn hình thành vốn đầu tư, khả năng và thời gian hoàn vốn, cơ cấu vốn đầu tư

Vì vậy, nhiều dự án đầu tư có thể khả thi ở các phương diện khác (môi trường,

xã hội ) nhưng không khả thi trên phương diện tài chính thì cũng cần được xem xét

Trang 23

lại Tuy nhiên, khái niệm về hiệu quả được đề cập ở đây phải được nhìn nhận cả trên hai góc độ: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội

Hai là: Đầu tư, nhất là đầu tư XDCB là hoạt động có tính chất lâu dài, có những dự án đầu tư kéo dài hàng chục năm Đây là một đặc điểm khác biệt của đầu

tư XDCB so với các hình thức đầu tư khác Do tính chất lâu dài, nên mọi khía cạnh đều phải tính toán quy hoạch, dự phòng sự thay đổi trong quá trình thực hiện dự án Quá trình đầu tư XDCB gồm ba giai đoạn: chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và khai thác dự án

Giai đoạn chuẩn bị dự án và giai đoạn thực hiện dự án là hai giai đoạn kéo dài thời gian nhưng lại không tạo ra sản phẩm Đây là nguyên nhân chính gây ra mâu thuẩn giữa đầu tư và tiêu dùng Muốn nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB cần chú

ý tập trung các điều kiện đầu tư có trọng điểm nhằm đưa nhanh các dự án đầu tư vào khai thác sử dụng

Khi xét hiệu quả vốn đầu tư XDCB cần quan tâm nghiên cứu cả ba giai đoạn của quá trình đầu tư, hết sức tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện dự án (tức là việc đầu tư vào xây dựng các dự án) mà không chú ý đến thời gian khai thác dự án Việc coi trọng hiệu quả kinh tế - xã hội do đầu tư XDCB mang lại là hết sức cần thiết nên phải có phương án lựa chọn tối ưu; đảm bảo trình

tự XDCB Chính vì chu kỳ sản xuất kéo dài nên việc hoàn vốn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm Phải lựa chọn trình tự bỏ vốn cho thích hợp để giảm đến mức tối

đa thiệt hại do ứ đọng vốn ở sản phẩm dở dang

Ba là: Sản phẩm của các dự án đầu tư XDCB thường có tính đơn chiếc Do vậy, ngay cả khi hai công trình liền kề nhau, nhưng chi phí thi công thực tế của mỗi công trình cũng khác nhau Đây là đặc điểm cần lưu ý trong quá trình quản lý vốn đầu tư

Bốn là: Hoạt động đầu tư luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai Nhà đầu tư mong muốn và chấp nhận đầu tư trong điều kiện lợi ích thu được trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện tại mà họ tạm thời hy sinh Nói cách khác, mục đích tối cao của đầu tư là hiệu quả Hiệu quả vừa là mục tiêu, động lực vừa là phương tiện của hoạt động đầu tư

Trang 24

Năm là: Đầu tư là lĩnh vực có mức độ rủi ro lớn và mạo hiểm Đầu tư chính là việc đánh đổi những tiêu dùng chắc chắn của hiện tại để mong nhận được những tiêu dùng lớn hơn, nhưng chưa thật chắc trong tương lai "Chưa thật chắc chắn” chính là yếu tố rủi ro mạo hiểm Rủi ro trong lĩnh vực đầu tư XDCB chủ yếu do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị

và cả tự nhiên ảnh hưởng sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường định hết khi lập dự án Các yếu tố bão lụt, động đất, chiến tranh có thể tàn phá các công trình được đầu tư Sự thay đổi chính sách như: thay đổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thay đổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại cho các nhà đầu tư

Đặc điểm này chỉ ra rằng, muốn khuyến khích đầu tư cần phải quan tâm đến lợi ích của các nhà đầu tư Lợi ích mà các nhà đầu tư quan tâm nhất là hoàn đủ vốn đầu tư cho họ và lợi nhuận tối đa thu được nhờ hạn chế và tránh được rủi ro Vì vậy, các chính sách khuyến khích đầu tư cần quan tâm đến ưu đãi, miễn giảm thuế, về khấu hao cao, lãi suất vốn vay thấp, cơ chế thanh toán vốn kịp thời

Sáu là: Sản phẩm của đầu tư XDCB có tính cố định Nó gắn liền với đất đai, nơi sản xuất và nơi sử dụng Sau khi xây dựng xong cố định tại một chỗ, các thành quả của hoạt động đầu tư XDCB là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ngay nơi

mà nó được tạo dựng nên Do đó các điều kiện địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện dự án đầu tư, cũng như tác dụng sau này của các kết quả đầu tư Hoàn thành một dự án đầu tư XDCB phải trải qua nhiều giai đoạn, có rất nhiều đơn

vị tham gia thực hiện Trên một công trường, có rất nhiều đơn vị làm các công việc khác nhau; các đơn vị này lại cùng hoạt động trong cùng một không gian, thời gian

Do đó việc tổ chức thi công cần phải phối hợp chặt chẽ với nhau bằng các hợp đồng giao nhận thầu thi công Điều phụ thuộc này, buộc nhà thầu phải nắm chắc dự toán

và kiểm tra thường xuyên trong quá trình thi công

2.1.3.2 Đặc điểm đầu tư XDCB từ NSNN

Ngoài những đặc điểm của đầu tư XDCB nói chung thì đầu tư XDCB

từ NSNN còn có những đặc điểm riêng như sau:

Trang 25

Quy mô vốn đầu tư lớn, có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển kinh

tế - xã hội; tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của các vùng, các địa phương hoặc ngành của nền kinh tế

Về khả năng thu hồi vốn: mặc dù tất cả các công trình XDCB từ NSNN đều là những công trình có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế Xong khả năng thu hồi vốn lại rất thấp, thậm chí không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Do vậy, các dự án này thường không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác Nói cách khác, đầu tư XDCB từ NSNN là hoạt động đầu tư chỉ hướng vào lĩnh vực mà các thành phần kinh tế không được phép đầu tư (an ninh - quốc phòng) hoặc không muốn đầu

tư vì không thu được lợi ích trực tiếp, không có khả năng đầu tư do phải sử dụng một lượng vốn đầu tư rất lớn

Nguồn vốn để thực hiện đầu tư là do NSNN cấp phát trực tiếp Đây là một đặc trưng cơ bản để phân biệt với các hình thức đầu tư khác Tuy nhiên, trên thực tế các nguồn vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường có mối quan hệ mật thiết, đan xen nhau Việc quản lý vốn đầu tư khó khăn, dễ bị thất thoát, lãng phí Đây là một đặc điểm quan trọng trong công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN so với các nguồn khác Từ đó đòi hỏi việc quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN phải được thường xuyên chú trọng, quản lý vốn phải theo đúng quy định của luật pháp

2.1.4 Vai trò của đầu tư XDCB từ NSNN

Đầu tư XDCB từ NSNN đóng vai trò cực kỳ quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam - một quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế và tăng trưởng nhanh vào bậc nhất trên thế giới Cụ thể có các vai trò sau:

Một là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước trực tiếp tác động đến các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Bằng việc cung cấp các dịch vụ công cộng, như: hạ tầng kinh tế - xã hội…

Hai là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN được coi là một công cụ để Nhà nước chủ động điều tiết, điều chỉnh hàng loạt các quan hệ và những cân đối lớn của nền kinh tế: (1) Đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là một công cụ để Nhà nước chủ động điều chỉnh tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế và (2) Đầu tư XDCB từ NSNN là công cụ để Nhà nước chủ động điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành, vùng, lãnh thổ

Trang 26

Ba là, đầu tư đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế và cho toàn nền kinh tế phát triển.Vốn đầu tư từ NSNN được coi là “vốn mồi” để thu hút các nguồn lực trong nước và ngoài nước vào đầu tư phát triển; cơ

sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển sẽ tạo khả năng lớn để thu hút vốn đầu tư trong

và ngoài nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, du lịch Có

đủ vốn đầu tư trong nước mới góp phần giải ngân, hấp thụ được các nguồn vốn ODA, có hạ tầng kinh tế - xã hội tốt mới thu hút được vốn FDI, có vốn đầu tư

“mồi” của Nhà nước mới khuyến khích phát triển các hình thức BOT

Bốn là, đầu tư đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân Các

dự án đầu tư vào các lĩnh vực trên (như đã nêu) rất tốn kém, độ rủi ro cao, khả năng thu hồi vốn thấp nên thường được Nhà nước đầu tư bằng nguồn NSNN Khi hoàn thành và đưa vào sử dụng sẽ cung cấp các dịch vụ công, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả đầu tư của nền kinh tế - xã hội

2.1.5 Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN

Những đặc điểm của đầu tư đầu tư XDCB nêu trên cho thấy tính đa dạng và phức tạp của đầu tư đầu tư XDCB Những đặc điểm này có tác động chi phối đến sự vận động của vốn đầu tư đầu tư XDCB và đòi hỏi cần phải có cách thức tổ chức quản lý và cấp phát vốn phù hợp nhằm bảo đảm hiệu quả vốn đầu tư Chính vì vậy, quản lý đầu tư đầu tư XDCB của NSNN phải có những nguyên tắc, biện pháp và trình tự quản lý và cấp phát vốn riêng dựa trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản

lý chi NSNN nói chung và được vận dụng phù hợp với đặc điểm của đầu tư đầu tư XDCB

2.1.5.1 Đúng đối tượng

Cấp phát vốn đầu tư đầu tư XDCB của NSNN được thực hiện theo phương thức cấp phát không hoàn trả nhằm đảm bảo vốn để đầu tư các dự án cần thiết phải đầu tư thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh Từ đó tạo cơ sở vật chất kỹ thật cần thiết cho sự phát triển toàn diện và cân đối của nền kinh tế quốc dân

Trang 27

Song với sự giới hạn về nguồn vốn của NSNN và để đảm bảo hiệu quả đầu tư, đòi hỏi cấp phát vốn phải bảo đảm đúng đối tượng là các công trình, dự án đầu tư thuộc đối tượng sử dụng vốn NSNN theo quy định của luật NSNN và quy chế quản

lý vốn đầu tư và xây dựng

2.1.5.2 Thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, có đầy đủ các tài liệu thiết kế và dự toán được duyệt

Trình tự đầu tư và xây dựng là trật tự các giai đoạn, các bước công việc trong từng giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng từng công trình Các dự án đầu tư không phân biệt quy mô và mức vốn đầu tư đều phải thực hiện nghiêm chỉnh trình

tự đầu tư và xây dựng gồm ba giai đoạn là chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng Các công việc trong giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng có thể thực hiện tuần tự hoặc gối đầu, xen kẽ tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng dự án đầu tư Chuẩn bị đầu tư thực chất là thực hiện chủ trương đầu tư của cấp có thẩm quyền Thực hiện tốt giai đoạn chuẩn bị đầu tư để có được những thông tin toàn diện, đầy đủ và chính xác liên quan đến việc đầu tư xây dựng từng công trình, từ đó bảo đảm có được quyết định đầu tư đúng đắn Việc bỏ qua giai đoạn chuẩn bị đầu tư hoặc thực hiện không đầy đủ, không tuân thủ đúng trật tự các bước công việc đã quy định dẫn đến việc đưa ra quyết định đầu tư không đúng gây lãng phí và sử dụng đồng vốn đầu tư kém hiệu quả Thực hiện đầu tư thực chất là triển khai thực hiện quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền, bảo đảm chất lượng công trình Đòi hỏi trong giai đoạn thực hiện đầu tư phải tuân thủ đầy đủ, đúng trật tự các bước công việc đầu tư và xây dựng đã quy định

Trong giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng, việc tuân thủ đầy đủ, kịp thời, đúng trật tự các bước công việc nhằm đảm bảo đầy đủ các điều kiện cần thiết để sớm đưa công trình hoàn thành vào khai thác sử dụng, phát huy hiệu quả vốn đầu tư đã bỏ ra

Tài liệu thiết kế, dự toán công trình xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt là căn cứ pháp lý quy định về quy mô, kết cấu, định mức tiêu chuẩn kinh tế

kỹ thuật của vật tư, thiết bị cấu thành từng khối lượng, các giải pháp kỹ thuật công nghệ xây dựng công trình, giá trị từng khối lượng của công trình theo định mức nhà

Trang 28

nước Vì vậy, để bảo đảm chất lượng công trình xây dựng và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng công tác lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế và dự toán các công trình xây dựng

Khi có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền, các đơn vị chủ đầu tư phải tuân thủ đúng trình tự các công việc lập, thẩm định, trình phê duyệt tài liệu thiết kế,

dự toán, kết quả đấu thầu, hợp đồng đến cơ quan cấp phát vốn

2.1.5.3 Đúng mục đích, đúng kế hoạch

Nguồn vốn NSNN đầu tư cho các công trình, dự án được xác định trong kế hoạch NSNN hàng năm dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, kế hoạch đầu tư XDCB của từng bộ, ngành, địa phương, từng đơn vị cơ sở và khả năng nguồn vốn của NSNN Vì vậy, cấp phát vốn đầu tư đầu tư XDCB của NSNN đúng mục đích, đúng kế hoạch nhằm tuân thủ đúng nguyên tắc quản lý NSNN và bảo đảm tính kế hoạch, cân đối của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, của từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương Vốn đầu tư đầu tư XDCB chỉ được sử dụng cho mục đích đầu tư đầu tư XDCB theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không được sử dụng cho các mục đích khác Cấp phát vốn đầu tư đầu tư XDCB phải tuân thủ theo đúng kế hoạch vốn đã được duyệt cho từng công trình, tổng số vốn cấp phát trong năm kế hoạch cho từng dự án đầu tư không được vượt kế hoạch vốn năm của dự án được duyệt; không được điều chuyển vốn từ công trình này sang công trình khác nếu không có quyết định của cấp có thẩm quyền, đặc biệt là việc điều chuyển vốn từ công trình trung ương sang công trình địa phương Các khối lượng đầu tư XDCB hoàn thành phải có trong kế hoạch Khối lượng đầu tư XDCB vượt tiến độ thuộc các công trình có yêu cầu đẩy nhanh tiến độ đầu tư và xây dựng và cấp có thẩm quyền cân đối được nguồn vốn thì mới được cấp phát thanh toán

Đảm bảo tuân thủ tốt nguyên tắc cấp phát vốn đầu tư đầu tư XDCB đúng mục đích và đúng kế hoạch, đòi hỏi phải không ngừng hoàn thiện phương pháp cấp phát vốn thanh toán

Trang 29

2.1.5.4 Theo mức độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch và chỉ trong phạm vi giá dự toán, trúng thầu được duyệt

Sản phẩm đầu tư XDCB có vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng dài, kết cấu kỹ thuật phức tạp; vì vậy việc cấp vốn theo mức độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch nhằm đảm bảo vốn cho quá trình đầu tư đầu tư XDCB được tiến hành liên tục đúng kế hoạch, tiến độ, kiểm tra chặt chẽ được chất lượng từng khối lượng đầu tư XDCB để bảo đảm chất lượng từng công trình hoàn thành, đảm bảo vốn đầu tư được sử dụng đúng mục đích và có vật tư đảm bảo, tránh ứ đọng vốn trong quá trình đầu tư gây thất thoát và lãng phí vốn đầu tư

Sản phẩm đầu tư XDCB có tính đơn chiếc, mỗi công trình có một thiết kế và

dự toán riêng, dự toán công trình phản ánh những chi tiết cần thiết và là giới hạn mức vốn tối đa được phép đầu tư xây dựng, được xác định dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá XDCB và chính sách chế độ của Nhà nước quy định Hơn nữa, quản lý chi NSNN là quản lý theo dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Vì vậy, cấp phát vốn đầu tư đầu tư XDCB phải dựa vào dự toán đã được duyệt và chỉ trong phạm vi dự toán đã được duyệt Khối lượng đầu tư XDCB hoàn thành được cấp vốn thanh toán phải là khối lượng thực tế đã thực hiện, chất lượng đúng thiết kế, thực hiện đúng trình tự đầu tư XDCB, có trong kế hoạch đầu tư XDCB năm và đã được nghiệm thu bàn giao theo đúng chế độ quy định của Nhà nước Mức vốn cấp phát thanh toán cho từng công trình, hạng mục công trình, từng khối lượng đầu tư XDCB hoàn thành nghiệm thu phải được xác định căn cứ vào dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chỉ được cấp phát thanh toán trong phạm vi giá dự toán đã duyệt Trong trường hợp tổ chức đấu thầu, thì mức vốn cấp phát thanh toán là giá trúng thầu hoặc giá được tính theo đơn giá trúng thầu được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng về nguyên tắc giá trúng thầu hoặc giá tính theo đơn giá trúng thầu không được vượt dự toán đã được duyệt Các trường hợp vượt dự toán đòi hỏi chủ đầu tư phải lập dự toán bổ sung, giải trình và chỉ được cấp vốn thanh toán khi có quyết định của cấp có thẩm quyền

2.1.5.5 Giám đốc bằng tiền

Kiểm tra bằng đồng tiền đối với việc sử dụng tiền vốn đúng mục đích, đúng kế hoạch, có hiệu quả là sự thể hiện chức năng của tài chính Thực hiện công tác giám

Trang 30

đốc trong quá trình cấp phát vốn đầu tư có tác dụng đảm bảo sử dụng tiền vốn tiết kiệm, đúng mục đích, đúng kế hoạch và thúc đẩy các đơn vị thực hiện tốt trình tự đầu tư và xây dựng, kế hoạch, tiến độ thi công, đảm bảo chất lượng công trình và hoàn thành công trình đúng thời hạn để đưa vào sử dụng

Giám đốc bằng đồng tiền được thực hiện đối với mọi dự án đầu tư, trong tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng; bao gồm giám đốc trước, trong và sau khi cấp phát vốn Các nguyên tắc quản lý, cấp phát vốn đầu tư đầu tư XDCB của NSNN là một thể thống nhất, nó chi phối toàn bộ công tác quản lý, cấp phát vốn đầu tư đầu tư XDCB

Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện tiền đề để thực hiện lẫn nhau

2.1.5.6 Công khai, minh bạch

Nguồn vốn đầu tư đầu tư XDCB từ NSNN là tài sản của dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Do vậy, người dân có quyền được biết Nhà nước đã chi tiêu thế nào để thuận lợi cho việc theo dõi, giám sát Công khai minh bạch ở đây là công khai việc phân bổ vốn đầu tư hàng năm cho các dự án đầu tư; công khai về tổng mức đầu tư, tổng dự toán được duyệt, kết quả lựa chọn nhà thầu, số liệu quyết toán,

2.1.6 Hiệu quả vốn đầu tư đầu tư XDCB

Đầu tư công có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, đây cũng là bộ phận quyết định hiệu quả đầu tư chung của cả nền kinh tế Tác động của đầu tư công là tích cực đối với tăng trưởng kinh tế, cũng như đối với thúc đẩy đầu tư tư nhân và thu hút đầu tư FDI

Khái niệm hiệu quả trong đầu tư công đôi khi bị đánh đồng với kết quả (phép trừ từ khoản thu chi hay dòng tiền thu chi) do đó không đánh giá được hiệu quả đầu

tư công Nói tới đầu tư là nói tới hiệu quả đầu tư, vì hiệu quả đầu tư là mục đích cuối cùng của đầu tư, hiệu quả đầu tư được thể hiện trong mối quan hệ giữa lợi ích thu được do đầu tư mang lại và chi phí bỏ ra để thực hiện đầu tư Do mục đích đầu

tư khác nhau nên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đầu tư ở mỗi thời kỳ cũng khác nhau khi đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư, cần xem xét dưới hai góc độ:

Trang 31

Góc độ vi mô: hiệu quả hoạt động đầu tư là sự chênh lệch giữa thu nhập mà hoạt động đầu tư đó mang lại và chi phí bỏ ra, đó là lợi nhuận Phạm trù này được xem xét dưới góc độ một doanh nghiệp hay một đơn vị

Góc độ vĩ mô: hiệu quả hoạt động đầu tư được xem xét dưới góc độ của toàn

bộ nền kinh tế Nó không chỉ bao gồm hiệu quả kinh tế mà bao gồm cả hiệu quả xã hội như mục tiêu an ninh, quốc phòng, vấn đề lao động việc làm, cơ cấu kinh

tế, mức độ sử dụng tài nguyên thiên nhiên; những thay đổi về điều kiện sống, môi trường; về hưởng thụ văn hoá, phúc lợi công cộng - chăm sóc y tế Đối với vốn NSNN mục đích đầu tư thường không vì lợi ích trước mắt mà vì lợi ích lâu dài Do

đó, đối tượng sử dụng NSNN là những dự án mang lại lợi ích cho toàn xã hội, có sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội

Hiệu quả đầu tư công được xét trên hai phương diện: hiệu suất đầu tư công và hiệu quả kích thích tăng trưởng đầu tư xã hội nói chung, đặc biệt là đầu tư tư nhân nội địa Hiệu quả kích thích phát triển đầu tư tư nhân trong đó có công nghiệp hỗ trợ nội địa lại có thể được đánh giá trên hai khía cạnh

Thứ nhất là kích thích gián tiếp thông qua việc cải thiện môi trường kinh doanh (điều kiện giao thông, đào tạo lao động ) và giảm chi phí kinh doanh Thứ hai là kích thích trực tiếp thông qua việc cung cấp việc làm, tạo bước đệm cho doanh nghiệp nội địa đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phát triển

2.2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Có thể đề cập đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề đầu tư cơ bản và cơ chế kiểm tra, giám sát vốn đầu tư xây dựng cơ bản nguồn ngân sách nhà nước như sau:

Đầu tiên là công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Vũ Tuấn Anh và Nguyễn Quang Thái vào năm 2011 với tên đề tài “Đầu tư công - Thực trạng và tái cơ cấu” Nhóm tác giả đã phân tích những ưu, khuyết điểm trong chính sách và thực tiễn quản lý đầu tư công trong thời gian qua ở Việt Nam, qua đó đề xuất ý tưởng nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam

Tiếp theo là công trình nghiên cứu “Các chế tài hạn chế phòng ngừa và xử lý lãng phí thất thoát trong đầu tư xây dựng” của tác giả Phạm Sỹ Liêm vào năm 2007

đã đề xuất các chế tài xử lý những đối tượng không thực hiện đúng quy định pháp

Trang 32

luật gây lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng, đề xuất bổ sung hoàn chỉnh cơ chế chính sách liên quan đến đầu tư xây dựng Tiếp theo là “Báo cáo rà soát nâng cao hiệu quả đầu tư của nền kinh tế Việt Nam hiện nay” của Bộ kế hoạch và Đầu tư vào năm 2011, báo cáo chỉ ra hệ thống rào cản đối với hiệu quả đầu tư của kinh tế Việt Nam Qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công Việt Nam

Tiếp theo là công trình nghiên cứu “Lập ngân sách theo kết quả đầu ra và sự vận dụng vào trong quản lý chi tiêu công của Việt Nam” của tác giả Sử Đình Thành vào năm 2004, đề tài đã hệ thống hoá và phát triển lý luận về quản lý chi tiêu công trong nền kinh tế thị trường, phân tích và đánh giá thực trạng lập và quản lư chi tiêu công Việt Nam Đề xuất các giải pháp xây dựng khuôn khổ lập ngân sách theo kết quả đầu ra trong quản lý chi tiêu công ở Việt Nam

Năm 2012, tác giả Sử Đình Thành tiếp tục nghiên cứu vấn đề này với đề tài

“Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống giám sát và đánh giá chi tiêu công ở Việt Nam” Mục đích cơ bản của đề tài là hướng tới hoàn thiện thiết lập hệ thống M&E chi tiêu công dựa trên kết quả Hệ thống M&E chi tiêu công dựa trên kết quả là phương thức quản trị công hiện đại, cung cấp công cụ đo lường kết quả chi tiêu công và gắn chi tiêu công với mục tiêu ưu tiên Nghiên cứu hướng tới mục tiêu tìm kiếm cách thức phát triển hệ thống M&E phù hợp với bối cảnh hội nhập của Việt Nam, nhằm tăng cường cải cách khu vực công hướng tới phát triển bền vững

Công trình nghiên cứu “Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách: Phân tích từ góc độ của Kiểm toán nhà nước” của tác giả Hồ Minh Thế vào năm 2010 Đề tài đã nhận diện một số vấn đề thường gặp gây thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN qua thực tiễn hoạt động Từ đó đề ra giải pháp hoàn thiện công tác phòng chống thất thoát lãng phí trong đầu tư công ở Việt Nam

Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu của các cơ quan nhà nước, bộ ngành ở Việt Nam như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng hội xây dựng Việt Nam, một số tổ chức quốc tế đã công bố các báo cáo, báo cáo thường niên, nghiên cứu, đánh giá, ấn phẩm trong đó có đề cập đến chi tiêu công của Việt Nam Cụ thể như:

WB công bố các báo cáo và các ấn phẩm về kinh tế xã hội Việt Nam (Báo cáo phát

Trang 33

triển Việt Nam, Việt Nam quản lý chi tiêu công để tăng trưởng và giảm nghèo ) Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên do cá nhân các nhà khoa học hoặc do các cơ quan công bố, với mức độ khác nhau đều có chung nhận định về hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam còn thấp, các nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân thất thoát, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực

Cao Hào Thi (2006) đã xây dựng mô hình nghiên cứu đối với 239 dự án cơ sở

hạ tầng tại Việt Nam và khẳng định các nhóm nhân tố ảnh hưởng tới sự thành công

dự án là năng lực nhà quản lý dự án, năng lực các thành viên tham gia và môi trường bên ngoài với mức độ tác động bị ảnh hưởng bởi đặc trưng dự án là giai đoạn hoàn thành và thực hiện trong vòng đời dự án

Nguyễn Quý Nguyên & Cao Hào Thi (2010) qua phân tích 150 dự án xây dựng dân dụng khu vực phía Nam đã kết luận có 4 nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến thành công dự án là sự hỗ trợ từ tổ chức kết hợp năng lực điều hành của nhà quản lý

dự án, năng lực các thành viên tham gia, môi trường bên ngoài, năng lực nhà quản

lý dự án và nhân tố gián tiếp là đặc điểm chủ đầu tư và ngân sách dự án

Lưu Minh Hiệp (2009) qua nghiên cứu 100 dự án trên địa bàn TP.HCM cho thấy các yếu tố chính sách, kinh tế/tài chính, điều kiện tự nhiên, tình trạng trộm cắp/tội phạm đã ảnh hưởng đến rủi ro của dự án (bao gồm tiến độ và chi phí), tác động của các nhóm yếu tố đến biến phụ thuộc mạnh hay yếu trong tương quan với đặc trưng dự án chỉ có ý nghĩa đối với các dự án lớn (trên 10 triệu USD)

Nguyễn Thị Minh Tâm (2009) qua phân tích 216 dự án xây dựng tại TP.HCM phản ánh có 6 nhân tố ảnh hưởng đến biến động chi phí dự án là năng lực bên thực hiện, năng lực bên hoạch định dự án, sự gian lận và thất thoát, kinh tế, chính sách và

tự nhiên

Mai Xuân Việt và Lương Đức Long (2012) khảo sát 200 dự án xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 2005 – 2010 để xác định các yếu tố liên quan đến tài chính gây chậm trễ tiến độ của dự án xây dựng Kết quả phân tích cho thấy mức độ tác động của 4 nhóm nhân tố liên quan đến tài chính gây chậm trễ tiến độ là nhân tố về thanh toán trễ hạn, nhân tố về quản lý dòng ngân lưu dự án kém, nhân tố về tính không ổn định của thị trường tài chính, nhân tố về thiếu nguồn tài chính và tổng mức đầu tư có ảnh hưởng đến chậm trễ tiến độ Kết quả phân tích hồi quy đa biến

Trang 34

đã khẳng định mối quan hệ giữa 4 nhân tố trên với chậm trễ tiến độ với các giả thuyết được ủng hộ ở mức ý nghĩa 5% Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra nhóm yếu tố thanh toán trễ hạn có ảnh hưởng mạnh nhất đến chậm trễ tiến độ, tiếp theo là nhóm yếu tố về quản lý dòng ngân lưu dự án kém, nhóm yếu tố về tính không ổn định của thị trường tài chính, nhóm yếu tố về thiếu nguồn tài chính Châu Ngô Anh Nhân (2011) đã tiến hành nghiên cứu đã khảo sát đối với 165

dự án thuộc tất cả các loại công trình đầu tư xây dựng sử dụng vốn NSNN tại tỉnh Khánh Hòa Kết quả phân tích nhân tố đã rút gọn tập hợp 30 yếu tố thành 8 nhóm nhân tố đại diện trong đó 7/8 nhóm yếu tố trên (trừ nguồn vốn) có quan hệ nghịch biến với biến động tiến độ hoàn thành dự án, xếp theo mức độ ảnh hửởng từ mạnh đến yếu là Nhóm yếu tố môi trường bên ngoài, Chính sách, Hệ thống thông tin quản

lý, Năng lực nhà thầu chính, Năng lực Chủ đầu tư, Phân cấp thẩm quyền cho Chủ đầu tư và Năng lực nhà tư vấn, các giả thuyết được ủng hộ với mức ý nghĩa 1% Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đầu tư XDCB từ NSNN tại Tỉnh Cà Mau

Trang 35

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này giới thiệu thông tin cơ bản về kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu Đồng thời giới thiệu phương pháp nghiên cứu của đề tài, phương pháp thu

thập dữ liệu, cở mẫu và mô hình phân tích định lượng

3.1 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1.1 Khung phân tích

Để đạt mục tiêu đề ra, tác giả đề xuất khung nghiên cứu như hình 3.1:

Hình 3.1: Khung phân tích do tác giả đề xuất

Đối với mục tiêu 1 - Đánh giá tình hình sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN Tỉnh Cà Mau sử dụng dữ liệu thứ cấp tiến hành đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN, kết quả phân tích mục tiêu 1 sẽ cho biết ảnh hưởng của việc quản lý đầu tư XDCB từ NSNN tác động ra sao đối với kinh tế - xã hội của Tỉnh Cà Mau

Đối với mục tiêu 2 - Đánh giá tác động của đầu tư XDCB từ NSNN đến hoạt động sản xuất và phúc lợi của hộ gia đình tại Tỉnh Cà Mau, sử dụng dữ liệu sơ cấp

Phúc lợi xã hội của người dân:

- Tăng trưởng kinh tế

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Xã hội, môi trường

Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tỉnh

Cà Mau

Quản lý và sử dụng vốn

Đầu tư XDCB

Trang 36

thu thập được từ phỏng vấn hộ dân thông qua nghiên cứu định lượng để phân tích tác động của vốn đầu tư XDCB phúc lợi hộ gia đình bao gồm thu nhập, sức khỏe, y

tế, giáo dục, vui chơi, giải trí của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu

3.1.2 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN tỉnh Cà Mau được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp những hộ dân trực tiếp hưởng lợi từ các công trình đầu tư XDCB từ NSNN của Tỉnh Cà Mau

Hình 3.2: Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành qua các bước sau: (1) Xác định vấn đề ng hiên cứu; (2) Tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp; (3) Phân tích số liệu; (4) Tiến hành xây dựng các giải pháp

3.2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN

3.2.1 Chỉ tiêu tiến độ giải ngân vốn XDCB từ NSNN

Tiến độ giải ngân được tính bằng tỷ số vốn đã giải ngân trên tổng số vốn kế hoạch được giao hàng năm, thường được tính theo tỷ lệ % và được xác định bằng công thức sau:

Vấn đề nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp Dữ liệu thứ cấp

Phân tích số liệu

Xây dựng các giải pháp

Trang 37

Chỉ số này có ưu điểm là cách lấy số liệu thống kê tính toán đơn giản, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, bảo đảm tính trung thực cao Cũng có thể dùng để phân tích, so sánh hoạt động kinh tế trong một thời kỳ hoặc nhiều thời kỳ với nhau

3.2.2 Nhóm các tiêu chí xác định thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB 3.2.2.1 Thất thoát, lãng phí do chủ trương đầu tư

Việc xác định đúng chủ trương đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội của việc sử dụng vốn đầu tư XDCB Xác định sai chủ trương đầu tư không những dẫn đến đầu tư không có hiệu quả, hoặc hiệu quả đầu tư kém mà còn dẫn đến hậu quả khó lường, cản trở đến phát triển kinh tế, xã hội của một vùng, một khu vực Sai lầm về chủ trương đầu tư sẽ gây ra lãng phí, thất thoát nghiêm trọng vốn đầu tư Lãng phí, thất thoát vốn trong chủ trương đầu tư thể hiện

ở những nội dung cụ thể sau:

Đầu tư không có quy hoạch, không theo quy hoạch hoặc quy hoạch sai không phù hợp với đặc điểm kinh tế, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân số lao động, dẫn đến không phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Lựa chọn địa điểm đầu tư sai: Gây ra lãng phí, thất thoát vốn đầu tư

Xác định quy mô dự án, lựa chọn thiết bị, công nghệ không chính xác

Công tác thẩm định dự án trước khi ra quyết định đầu tư chưa đầy đủ

3.2.2.2 Thất thoát, lãng phí trong khâu chuẩn bị xây dựng

Thất thoát lãng phí do khâu thiết kế: Hồ sơ thiết kế không theo đúng các quy phạm, quy chuẩn về kỹ thuật của nhà nước, xa rời tình hình thực tế về điều kiện tự nhiên, địa hình, nguồn nhân lực, dẫn đến những sai sót gây hậu quả về thất thoát, lãng phí trong quá trình thi công xây dựng công trình

Trang 38

Thất thoát trong khâu lập và quản lý dự toán: Đây không chỉ là không gây ra lãng phí và thất thoát về vốn đầu tư mà còn là khâu nhạy cảm gây ra sơ hở dẫn đến phát sinh tiêu cực trong hoạt động đầu tư Thất thoát ở khâu này cần xem xét trên các tiêu chí sau: Sử dụng sai định mức kinh tế - kỹ thuật của nhà nước ban hành cho từng loại công trình; Áp dụng sai giá cả theo từng loại vật tư thiết bị đã được thông báo; Tính toán sai các loại chi phí theo định mức; Thất thoát, lãng phí xảy ra trong khâu đền bù, giải phóng mặt mặt bằng

3.2.2.3 Thất thoát, lãng phí trong khâu lựa chọn nhà thầu

Việc chuẩn bị tổ chức đấu thầu, công tác đấu thầu không đảm bảo chất lượng

sẽ dẫn đến thất thoát lãng phí về vốn và tài sản trong hoạt động đầu tư XDCB

3.2.2.4 Thất thoát, lãng phí trong thi công công trình

Việc thi công công trình không đảm bảo chất lượng dẫn đến thất thoát vốn của nhà nước, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn NSNN cho XDCB

Tỷ lệ thất thoát, lãng phí do từng nguyên nhân (chủ trương đầu tư, khâu chuẩn

bị xây dựng, khâu lựa chọn nhà thầu, thi công công trình) được tính bằng tỷ số giữa

số tiền thất thoát, lãng phí trên tổng số vốn đầu tư đã thực hiện, thường được tính theo tỷ lệ % và được xác định bằng công thức sau:

Số tiền thất thoát, lãng phí

Tổng số vốn đầu tư đã thực hiện

3.3 CÁC CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VỐN ĐẦU TƯ XDCB

3.3.1 Chỉ tiêu

Hiệu quả của đầu tư XDCB nguồn NSNN là hiệu quả tổng hợp của hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và đảm bảo môi trường trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển bền vững nhằm hướng tới chất lượng phát triển Việc đánh giá hiệu quả đầu tư phải bao gồm cả đánh giá định tính và định lượng, cả tầm mức vĩ mô và vi mô

Trang 39

3.3.1.1 Chỉ tiêu vĩ mô

* Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế của đầu tư XDCB nguồn NSNN là tổng thể các yếu tố về lợi ích kinh tế đo được bằng việc giá trị hoá các yếu tố kinh tế thu được so với chi phí

bỏ ra để đầu tư Hiệu quả kinh tế đầu tư XDCB nguồn NSNN được phản ánh bởi các chỉ tiêu đo lường về kinh tế như ICOR, GDP, GNI, Trong đó: ICOR là hệ số

tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội

* Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là chênh lệch giữa các lợi ích mà xã hội thu nhận được và chi phí nguồn lực mà xã hội phải bỏ ra để đầu tư Hiệu quả xã hội của đầu tư XDCB nguồn NSNN là tổng thể các yếu tố lợi ích về xã hội do thực hiện công việc đầu tư XDCB nguồn NSNN mang lại Hiệu quả xã hội phải đặt trong mối liên hệ với hiệu quả kinh tế và sự cân đối hài hoà giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, đảm bảo định hướng phát triển kinh tế xã hội, bản chất, mô hình của nền kinh tế

Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của dự án đầu tư đối với việc thực hiện các mục tiêu chung phát triển của nền kinh tế Những sự xem xét này mang tính chất định tính, như: Đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phục vụ việc thực hiện các chủ trương chính sách Nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội, giảm nghèo bền vững Hoặc đo lường bằng các tính toán định lượng như: Mức tăng thu ngân sách, mức gia tăng số người có việc làm, mức tăng thu ngoại tệ, mức tăng thu hút vốn đầu tư toàn xã hội so với vốn đầu

tư từ NSNN

* Hiệu quả về mặt môi trường

Hiệu quả về mặt môi trường của đầu tư XDCB nguồn NSNN là song song với việc tăng cường, phát triển đảm bảo hài hoà giữa phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo môi trường Nghĩa là môi trường sinh thái phải được duy trì trong tầm mức, tiêu chuẩn quy định, không ảnh hưởng lớn đến môi trường

Hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn NSNN được xem xét theo ba góc độ:

Một là, các dự án đầu tư từ nguồn vốn NSNN (hay bất cứ nguồn vốn nào khác) phải đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường

Trang 40

Hai là, Nhà nước phải ưu tiên vốn để đầu tư công trình, dự án về môi trường, bởi đây là lĩnh vực công ích, ít lợi nhuận, các nhà đầu tư khác không muốn đầu tư

Ba là, đầu tư từ nguồn vốn NSNN ngoài việc phải đảm bảo có hiệu quả về mặt môi trường còn có vai trò hỗ trợ, dẫn dắt, thúc đẩy, toàn xã hội hướng tới môi trường xanh hơn, sạch hơn

* Hiệu quả về phát triển bền vững

Hiệu quả về phát triển bền vững là việc đầu tư đem lại sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, xã hội cùng với việc đảm bảo môi trường và phát triển phải bền vững Đầu tư từ nguồn vốn NSNN có ý nghĩa hết sức quan trọng quyết định trong phát triển bền vững Nó được thể hiện ở chỗ trước hết đầu tư từ nguồn vốn NSNN phải gương mẫu trong việc phát triển bền vững Sau đó là việc Nhà nước phải ưu tiên đầu tư từ nguồn vốn NSNN phát triển bền vững

Bởi chỉ có Nhà nước mới quan tâm nhiều hơn đến phát triển bền vững, ổn định

vĩ mô, khắc phục khuyết tật thị trường, còn các nhà đầu tư khác quan tâm nhiều hơn đến lợi ích kinh tế

Có nhiều phương pháp để tính toán hiệu quả tổng hợp Đơn giản thì có phương pháp cho điểm, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia Phức tạp hơn có phương pháp hồi quy, phương pháp số bình quân đa chiều, Sử dụng phương pháp này, phương pháp khác hoặc tổ hợp các phương pháp là tuỳ thuộc người đánh giá lựa chọn trong những trường hợp cụ thể

3.3.1.2 Chỉ tiêu vi mô

Chỉ tiêu vi mô là phúc lợi hộ gia đình, là các lợi ích bao gồm sự cải thiện về điều kiện y tế, giáo dục và sự tăng thêm của thu nhập của hộ sau khi dự án đầu tư XDCB được đưa vào sử dụng

Ngày đăng: 13/03/2017, 12:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. UBND tỉnh Cà Mau, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014. Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và kế hoạch năm tiếp theo Khác
17. Đặng Minh Khởi, 2015. Đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước huyện Ngọc Hiển. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TPHCM.Tài liệu tiếng Anh Khác
18. Luu Minh Hiep, 2009. Factors affecting risks of construction projects in Viet Nam, Maastricht School of Management, Maastricht, The Netherlands Khác
19. Cao Hao Thi, 2006.Critical success factors in project management: An analysis of infrastructure projects in Viet Nam. Asean Institute of Technology, School of Management, Bangkok, Thai Lan Khác
20. Cao Hao Thi & Swierczek, 2010. Critical success factors in project management: implication from Vietnam.Asia Pacific Business Review, 16:4, p. 567 - 589 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w