1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự

42 842 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 256 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự vừa được sinh viên báo cáo, bảo vệ tại khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ. Điểm B (7,0) nhé các bạn. Download về tham khảo và ủng hộ tác giả nhé.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước quan tâm, là nhân tốquan trọng nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh mà cụ thể là Nghị quyết số 49-NQ/TƯ ngày 02/06/2005 của Bộ Chínhtrị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Nghị quyết trên đã chỉ rõ vấn đề cần cụ thể hóa về tố tụng hình sự cần đượcnghiên cứu một cách toàn diện để thể chế vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự,tạo cơ sở pháp lý nâng cao chất lượng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành

án hình sự

Với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân,mọi quyền lực thuộc về nhân dân nên quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luônđược Pháp luật trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam quy định rõ ràng nhằm bảo vệquyền của công dân được công bằng

Để đạt được mục đích đó, trước hết trong công tác xử lý tin báo tố giác tộiphạm và phân loại việc tạm, giữ người vi phạm pháp luật cần phải được chú trọng vàtăng cường nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm tính trung thực,công minh, đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt kẻphạm tội Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua đã xảy ra rất nhiều vụ việc cơ quan tiếnhành tố tụng, người tiến hành tố tụng vi phạm nghiêm trọng thủ tục tạm giữ người, gâylên những hậu quả nghiêm trọng đến quyền của người bị tạm giữ Hệ lụy đó là tìnhtrạng tạm oan người vô tội, vi phạm các quyền con người, xâm phạm quyền tự do thânthể,… không đảm bảo đúng quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Pháp luật

Mặc dù, các cơ quan truyền thông vẫn liên tục thông tin về các vấn đề đảm bảocác quyền và lợi ích chính đáng của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tốtụng hình sự nhưng thực tế vẫn xảy ra những trường hợp vi phạm các quyền và lợi ích

đã nêu của người bị tạm giữ Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu một cách có hệ thống,chuyên biệt và toàn diện hơn nữa về đề tài này

Đó là lý do người viết chọn đề tài: “Quyền của người bị tạm giữ theo quy

định của Bộ luật tố tụng hình sự” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình.

2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 2

a Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những lý luận chung và tình hình thựctiễn về người bị tạm giữ trong Pháp luật về tố tụng hình sự của Việt Nam.

b Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chuyên sâu về các quyền của người bị tạmgiữ trong Pháp luật về tố tụng hình sự Việt Nam Đồng thời đưa ra những giải phápnhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, khắc phục những hạnchế, vướng mắc đối với quy định của Pháp luật về người bị tạm giữ trong tố tụng hìnhsự

3 Mục tiêu nghiên cứu

Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về người bị tạm giữ trong Pháp luật về

tố tụng hình sự Việt Nam, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục nhữnghạn chế, vướng mắc và nâng cao hiệu quả áp dụng Pháp luật đối với người bị tạm giữ.Đặc biệt là đảm bảo cho việc phân loại đối tượng bị tạm giữ Sau đó chuyển khởi tốđúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội trong hoạt động tố tụng hình sự

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn này phải giải quyết các vấn đề sau:

a Nghiên cứu những vấn đề lý luận về người bị tạm giữ;

b Thông tin rõ những quy định của Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người

bị tạm giữ trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam

c Đánh giá thực tiễn, tình trạng người bị tạm giữ trong những năm gần đây ởViệt Nam để có cái nhìn bao quát về quyền của người bị tạm giữ

d Đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện, đảm bảo những quyền của người bịtạm giữ theo đúng các quy định của Pháp luật

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được xây dựng trên phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích,khảo sát thực tế, so sánh để làm rõ hơn về đề tài

5 Bố cục đề tài

Ngoài lời nói đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận vănđược bố cục gồm có 03 chương:

Chương 1: Khái quát chung về quyền của người bị tạm giữ

Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền của người bị tạm giữChương 3: Thực trạng, bất cập và giải pháp nhằm nâng cao quyền của người bị

Trang 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm và đặc điểm về quyền của người bị tạm giữ

1.1.1 Khái niệm về quyền của người bị tạm giữ

1.1.1.1 Tạm giữ

Trong cuộc sống hiện tại, khi một công dân bình thường mà bị cơ quan điều tratạm giữ thì trong mắt những người xung quanh đều nghĩ rằng anh ta, chị ta là ngườiphạm tội Tuy nhiên, dưới gốc độ Pháp luật thì người bị tạm giữ không phải là ngườiphạm tội mà chỉ ở góc độ hoài nghi hoặc nghi vấn cần phải điều tra,…

Và để làm rõ vấn đề này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu khái niệm về người bịtạm giữ và trước nhất là tạm giữ Theo người viết thì tạm giữ người là biện pháp ngănchặn do người có thẩm quyền áp dụng và được quy định cụ thể trong Pháp luật

Theo quy định của Pháp luật thì tạm giữ người có hai loại được phân biệt rõràng là tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự và tạm giữ người theo thủ tục hànhchính Trong đó, tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự được quy định cụ thể theo

Bộ luật Tố tụng Hình sự và tạm giữ người theo thủ tục hành chính thì được quy định

cụ thể theo Luật Xử lý vi phạm hành chính

Tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự là biện pháp ngăn chặn được quyđịnh trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, do người có thẩm quyền áp dụng đối với người bịbắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặcđối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặnngười bị bắt trốn tránh việc điều tra; để xác minh tội phạm và để quyết định việc truycứu trách nhiệm hình sự (khởi tố bị can) đối với họ

Còn tạm giữ người theo thủ tục hành chính1 là một trong những biện pháp ngănchặn hành chính và bảo đảm cho việc xử lý vi phạm hành chính do người có thẩmquyền theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính áp dụng trong trường hợp cầnngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích chongười khác hoặc cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ đểquyết định xử lý vi phạm hành chính

1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính

Trang 4

Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 được Quốc hội thông quangày 20/6/2012 tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII, có hiệu lực thi hành kể từ ngày01/7/2013.

Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 112/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 đểquy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạmtheo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Namtrong thời gian làm thủ tục trục xuất

Với khái niệm trên, so với tạm giữ người theo thủ tục hành chính thì tạm giữngười theo thủ tục tố tụng hình sự có một số điểm khác nhau sau đây:

Thứ nhất, đối tượng có thể bị tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự là những

người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự Còn đối tượng bị áp dụng biệnpháp tạm giữ theo thủ tục hành chính là những người thực hiện hành vi vi phạm phápluật hành chính

Thứ hai, mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung theo quy định của

Bộ luật Tố tụng Hình sự là để kịp thời ngăn chặn tội phạm và để bảo đảm cho việcđiều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Mục đích áp dụng biện pháp tạm giữ (theo thủtục tố tụng hình sự) nói riêng là để xác định căn cứ khởi tố bị can đối với người bị bắthoặc giao người bị truy nã cho cơ quan đã ra lệnh truy nã Còn mục đích tạm giữngười theo thủ tục hành chính là ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật

tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc để thu thập, xác minh những tìnhtiết quan trọng làm căn cứ để quyết định xử lý vi phạm hành chính

Thứ ba, những người sau đây có quyền ra lệnh tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình

sự: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Người chỉ huy đơn vị quânđội độc lập cấp Trung đoàn và tương đương; Người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo

và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay,bến cảng; Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển Ngoài Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấphuyện, người chỉ huy tàu bay, tàu biển, thì còn rất nhiều người có thẩm quyền tạm giữngười theo thủ tục hành chính Như vậy, thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục tốtụng hình sự hạn chế hơn thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Thứ tư, về thủ tục thì cả tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự và tạm giữ

người theo thủ tục hành chính đều phải có quyết định tạm giữ của người có thẩmquyền Nhưng sau khi ra quyết định tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự, thì người cóthẩm quyền phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra

Trang 5

không có căn cứ, thì huỷ bỏ quyết định tạm giữ; khi đó người ra quyết định tạm giữphải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Còn quyết định tạm giữ người theo thủ tụchành chính không phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Người bị tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự bị tạm giữ ở nhà tạm giữ, hoặcbuồng tạm giữ của trại tạm giam Còn người bị tạm giữ theo thủ tục hành chính không

bị giữ ở nhà tạm giữ, hoặc buồng tạm giữ của trại tạm giam

Thứ năm, thời hạn tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự là 03 ngày2 và có thể giahạn hai lần mỗi lần không quá ba ngày3 Còn thời hạn tạm giữ theo thủ tục hành chính

là 12 giờ và có thể kéo dài đến 24 giờ; đối với người vi phạm quy chế biên giới hoặc viphạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ có thểkéo dài hơn nhưng không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm

1.1.1.2 Người bị tạm giữ

Theo Từ điển luật học, địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mốiquan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật Địa vịpháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lýcủa chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạtđộng của mình Thông qua địa vị pháp lý, ta có thể phân biệt được chủ thể pháp luậtnày với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí, tầm quan trọngcủa chủ thể pháp luật trong mối quan hệ pháp lý4

Do vậy, việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật

có vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi chủ thể Đối với chủ thể có địa vị pháp lý, sẽgiúp họ thực hiện tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của mình Còn đối với các chủ thểkhác, việc nắm vững địa vị pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật sẽ giúp họkhông xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ của người khác

Trong tố tụng hình sự, việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể càng có vaitrò quan trọng hơn hết Bởi vì, khi giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua rất nhiềugiai đoạn khác nhau Và tại mỗi giai đoạn, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tốtụng cũng không giống nhau Việc xác định một người bị coi là tạm giữ từ khi nào rấtquan trọng, khi đó xác định vị trí của người đó là người tham gia vào quá trình tố tụnghình sự, xác lập quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ

Tuy nhiên, việc xác định thời điểm một người bị coi là người bị tạm giữ là rấtkhó, bởi vì, đối tượng của người bị tạm giữ trong đó bao gồm cả người chưa bị khởi tố

2 Khoản 1 Điều 118 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

3 Khoản 2 Điều 118 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

4 Dòng 27 Trang 244 Từ điển Luật học

Trang 6

hình sự và cả những người đã bị khởi tố hình sự Tư cách tố tụng của người bị tạm giữbắt đầu từ khi có quyết định tạm giữ và chấm dứt chuyển sang vai trò của một chủ thểkhác khi hết thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hạn gia hạn tạm giữ Có thể xảy ra một sốtrường hợp khi chấm dứt tư cách tố tụng của người bị tạm giữ như sau:

- Bị khởi tố bị can và có quyết định tạm giam thay thế;

- Bị khởi tố và có quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, thay thế biện phápngăn chặn khác;

- Có quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ chuyển xử lý hành chính;

- Có quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, không xử lý hành chính;

- Viện kiểm sát trả tự do theo Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 20145.Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cho đến nay chưa có một khái niệm pháp lýnào về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ Từ những phân tích trên theo người viết cóthể hiểu: Địa vị pháp lý của người bị tạm giữ là tổng thể các quyền và nghĩa vụ củamột người khi có quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụnghình sự

Trong tố tụng hình sự Việt Nam, người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng cóquyền lợi và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015đưa ra khái niệm về người bị tạm giữ như sau: “Người bị tạm giữ là người bị giữ trongtrường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết địnhtruy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ”.Người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi tố về hình sự, đó là những người bị bắttrong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, trường hợp phạm tội tự thú trước khihành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố, và đối với họ đã có quyết định tạm giữ Mặc

dù, họ chưa bị khởi tố về hình sự nhưng trên thực tế họ vẫn phải chịu sự cưỡng chế của

cơ quan đã tạm giữ họ Họ bị hạn chế một số quyền tự do, bị buộc phải khai báo hoặctrả lời các câu hỏi của cán bộ điều tra

Người bị tạm giữ cũng có thể là người đã bị khởi tố về hình sự bao gồm: bị can,

bị cáo, người đã bị kết án nhưng bỏ trốn, người đang chấp hành án bỏ trốn nhưng bịbắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội ra đầu thú và đã có quyết định tạmgiữ đối với họ Do đó, pháp luật coi người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng hình

sự, có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ theo quy định của pháp luật

Trang 7

Hay nói cách khác, người bị tạm giữ là người bị nghi đã thực hiện tội phạm vàđối với họ đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền Để trở thành người bịtạm giữ cần có đủ hai điều kiện:

1 Điều kiện về nội dung:

Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêmtrọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người mà bị người khác có mặt tại nơi xảy

ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm vàthấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn; người mà thấy có dấu vết của tội phạm

ở người hoặc nơi ở nên cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứngcứ; người bị phát hiện đang thực hiện tội phạm; người có lệnh truy nã hoặc người tựthú, đầu thú sau khi thực hiện tội phạm

Đối với trường hợp bắt khẩn cấp, bị bắt do phạm tội quả tang, người tự thú, đầuthú, người bị tạm giữ bị nghi thực hiện tội phạm, nhưng chưa bị cơ quan có thẩmquyền truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, để kịp thời ngăn chặn tội phạm, không

để người đó tiếp tục phạm tội hay phạm tội mới, để người đó không có điều kiện cảntrở việc tiến hành điều tra, xác minh,… của cơ quan điều tra thì Bộ luật Tố tụng Hình

sự quy định cần phải cách ly họ trong thời hạn nhất định

Đối với trường hợp người bị tạm giữ bị bắt theo lệnh truy nã, tuy người bị tạmgiữ đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng việc truy cứu trách nhiệm hình sự đókhông phải do người có thẩm quyền quyết định tạm giữ thực hiện Vì thế cho nên đốivới người đó chỉ được (và cũng chỉ cần) tạm giữ trong một thời hạn ngắn để chuyểngiao cho người có trách nhiệm truy cứu trách nhiệm hình sự xử lý vụ án theo quy địnhcủa pháp luật

2 Điều kiện về hình thức:

Tạm giữ chỉ được tiến hành khi đáp ứng về hình thức tức là người bị tạm giữ đã

có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụngHình sự

Từ những phân tích ở trên, theo quan điểm của cá nhân, người viết có thể đưa

ra khái niệm khoa học về người bị tạm giữ như sau: Người bị tạm giữ là người bị bắttrong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nãhoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của người

có thẩm quyền tố tụng; có quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật

1.1.1.3 Quyền của người bị tạm giữ

Trang 8

Thực chất người bị tạm giữ vẫn là công dân bình thường mà chỉ bị cơ quan điềutra đại diện cho Pháp luật đang nghi ngờ chứ chưa phải là tội phạm (chưa bị Tòa án kết

án là tội phạm) nên người bị tạm giữ vẫn có một số quyền và bị hạn chế một số quyền

Nói về “Quyền” dưới gốc độ ngôn ngữ học thì: Quyền là cái mà luật pháp, xãhội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành, và khi thiếu đượcyêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại6

Dưới gốc độ pháp lý thì: Quyền là những việc mà một người được làm màkhông bị ai ngăn cản, hạn chế

Từ đó những khái niệm trên, người viết có thể đưa ra khái niệm: Quyền củangười bị tạm giữ là những việc mà người bị tạm giữ được làm, được Pháp luật bảo hộ

và không ai được ngăn cản những việc đó trong thời gian bị tạm giữ

1.1.2 Đặc điểm về quyền của người bị tạm giữ

Mọi công dân Việt Nam đều có đầy đủ các quyền công dân mà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã định thông qua Hiến pháp Một công dân bị tạm giữtheo đúng quy định của Pháp luật thì dĩ nhiên sẽ bị Pháp luật hạn chế một số quyền.Tuy nhiên, người bị tạm giữ vẫn được đảm bảo một số quyền có đặc điểm như sau:

1.1.2.1 Tính tôn trọng và bảo vệ

Đây là đặc điểm quan trọng nhất và tiên quyết nhất trong quá trình tạm giữngười theo quy định của Pháp luật Người bị tạm giữ chỉ là người bị hoài nghi, nghingờ có hành vi phạm tội vì vậy, khi tiến hành các hoạt động tạm giữ người thì trongphạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụngphải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạmgiữ

Đó là những quy định, những yêu cầu mà Pháp luật đặt ra và kỳ vọng ngườithực thi Pháp luật nói chung và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nói riêng có thểthực hiện được đặc điểm về tính tôn trọng và bảo vệ đối với người bị tạm giữ

Thực tế thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng luôn có định kiến người bịtạm giữ là tội phạm do người bị tạm giữ có thể là do vô tình hoặc nhầm lẫn liên quanđến một chứng cứ nào đó

Ngoài ra, cơ quan và người có thẩm quyền cần phải thường xuyên kiểm tra tínhhợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng từ đó kịp thời hủy bỏ hoặc

Trang 9

thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cầnthiết nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ.

1.1.2.2 Tính bình đẳng

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (do Hoàng Phê chủ biên) đượcnhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học phát hành năm 1997 thì bình đẳng cónghĩa là: “Ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi”

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Nam nữ bình đẳng Đối xử bìnhđẳng" và "quyền" có nghĩa là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phéphưởng thụ, vận dụng, thi hành và khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt cóthể đòi hỏi để giành lại

Theo người viết nghiên cứu thì nhận thấy quyền của người bị tạm giữ có tínhbình đẳng vì các quyền được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự không phân biệtchủ thể nào, đều bình đẳng như nhau

Chính vì vậy, bình đẳng là nguyên tắc cơ bản mà Bộ luật Tố tụng Hình sự năm

2015 đề cập đến:

Đảm bảo quyền bình đẳng trước Pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính,tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội là đặc điểm về quyền của người bịtạm giữ

Bất cứ người bị tạm giữ nào, dù là thành phần nào, địa vị xã hội như thế nào,…thì cũng có quyền và nghĩa vụ giống nhau Pháp luật không đặc cách đối với một chủthể nào, đối tượng nào với sự ưu ái hay cá biệt7

1.1.2.3 Tính bất khả xâm phạm

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể8 Không ai bị tạm giữ nếukhông có quyết định tạm giữ của cơ quan chức năng, trừ trường hợp phạm tội quảtang

Khi tạm giữ thì cơ quan tiến hành tạm giữ người phải theo quy định của Phápluật và nghiêm cấm cơ quan điều tra tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hìnhthức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người đối vớingười đang bị tạm giữ

7 Điều 9 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

8 Điều 10 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Trang 10

Quyền con người trong thế hệ ngày nay ngày càng được quan tâm đến khi dầnxóa bỏ những hành động điều tra bằng các biện pháp như bức cung, dùng nhục hìnhcủa thời chế độ phong kiến

1.1.2.4 Tính bảo hộ của Pháp luật

Tất cả mọi người đều có quyền được Pháp luật bảo hộ về danh dự, nhân phẩm

và tài sản kể cả người bị tạm giữ Cơ quan đại diện cho sự bảo hộ này của Nhà nước là

cơ quan công an Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến danh dự, nhân phẩm, tàisản của người bị tạm giữ đều bị xử lý theo pháp luật

1.1.2.5 Tính phản biện

Bất cứ hành vi ép cung hay dùng nhục hình đều vi phạm Pháp luật, song song

đó quyền của người bị tạm giữ còn có đặc điểm là phản biện để nói lên sự thật điềumình muốn nói để làm cơ sở kêu oan (nếu có)

Chính vì vậy, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định:

Người bị tạm giữ có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giảithích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bàochữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự

1.2 Mục đích và ý nghĩa của quyền của người bị tạm giữ

1.2.1 Mục đích về quyền của người bị tạm giữ

Mục đích tạm giữ là nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi cản trởviệc điều tra khám phá tội phạm của người bi nghi là thực hiện hành vi phạm tội, tạođiều kiện cho cơ quan có thẩm quyền đủ thời gian để xác định tính chất, mức độ củahành vi, nhân thân của người thực hiện hảnh vi nguy hiểm cho xã hội để từ đó có thểquyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc không khởi tố vụ án hình sự,khởi tố bị can hoặc các quyết định quản lý cần thiết khác như, tạm giữ áp dụng cácbiện pháp ngăn chặn khác hay trả tự do cho người bị tạm

Như vậy, mục đích của tạm giữ nhằm phục vụ công tác điều tra khám phá tộiphạm Vì vậy, người bị tạm giữ bị hạn chế một số quyền Tuy nhiên, Pháp luật Tố tụngHình sự quy định “Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn củamình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyềncon người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp

Trang 11

pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổinhững biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết9”.

Do đó, mục đích về quyền của người bị tạm giữ là bảo vệ người bị tạm giữ cónhững quyền cơ bản của con người tuy rằng có một số quyền bị hạn chế trong quátrình tạm giữ nhưng cơ bản người bị tạm giữ vẫn là con người, vẫn là công dân nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nên phải đảm bảo những quyền cơ bản đó

1.2.2 Ý nghĩa về quyền của người bị tạm giữ

Như đã nêu tại khái niệm về quyền của người bị tạm giữ thì người bị tạm giữ làngười bị nghi đã thực hiện phạm tội và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của người

có thẩm quyền

Như vậy, người bị tạm giữ chưa được xác định là phạm tội hoặc chưa bị kết ánphạm tội thì họ vẫn là những người công dân nên họ vẫn được đảm bảo một số quyềncủa công dân

Thực tế hiện nay thì tình trạng tạm giữ người trái pháp luật và tạm giữ ngườikhông đảm bảo các quyền đối với người bị tạm giữ đang diễn ra khá nhiều Một trongnhững nguyên nhân dẫn đến các hệ lụy trên là cán bộ điều tra không thực hiện đúngtrình tự thủ tục tạm giữ, do trình độ chuyên môn, năng lực còn hạn chế nên đã khôngđảm bảo những quyền đối với người bị tạm giữ

Đối với người bị tạm giữ thì đảm bảo quyền của người bị tạm giữ có ý nghĩa sựcông khai, minh bạch và tạo điều kiện cho người bị tạm giữ có thể nói lên ý kiến củamình, có thể là phản biện hoặc ngụy biện nhưng chủ đích là bảo vệ bản thân của họ

Đối với người tiến hành tố tụng thì quyền của người bị tạm giữ được quy định

cụ thể thì công tác chuyên môn nghiệp vụ sẽ càng chính xác, chuyên nghiệp và đượclòng tin của nhân dân đến các cơ quan công quyền Đó hướng xây dựng các quyền củangười bị tạm giữ theo quy định của Pháp luật về tố tụng hình sự

1.3 Lịch sử về quyền của người bị tạm giữ từ năm 1988 đến nay

1.3.1 Giai đoạn từ 1988 đến trước năm 2003

Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namđược Quốc hội thông qua ngày 18/06/1988, có hiệu lực ngày 01/01/1989 đánh dấubước phát triển mới trong quá trình pháp điển hóa Luật tố tụng hình sự ở nước ta Qua

3 lần sửa đổi (năm 1990, 1992 và 2000), các quy định về người bị tạm giữ đã từngbước được hoàn thiện

9 Điều 8 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Trang 12

Lần đầu tiên, khái niệm về người bị tạm giữ cùng quy định về quyền và nghĩa

vụ của người bị tạm giữ được đề cập trong luật Tại Điều 38 Bộ luật Tố tụng Hình sựnăm 1988 quy định: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặcphạm tội quả tang và đối với họ đã có quyết định tạm giữ, nhưng chưa bị khởi tố.Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ; được giải thích quyền vànghĩa vụ; trình bày lời khai; đưa ra những yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ và nhữngquyết định khác có liên quan Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định vềtạm giữ

Bên cạnh đó, các văn bản dưới luật như: Thông tư liên ngành 02/TTLN ngày06/9/1989 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội vụ; Thông tư số 01/TTLN ngày20/03/1993 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp,

Bộ nội vụ Chế độ tạm giữ, tạm giam cũng ban thành kèm theo Nghị định số149/HĐBT ngày 05/05/1982, được thay thế bằng chế độ tạm giữ, tạm giam ban hànhkèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ, quy định chitiết, cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự

Hơn nữa với sự ra đời của Hiến pháp 1992, đã xác định tầm quan trọng của việcbảo đảm quyền con người, quyền công dân

Điều 71 Hiến pháp năm 1992 quy định: Công dân có quyền bất khả xâm phạm

về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn củaViện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ ngườiphải đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hành vi truy bức, nhục hình xúc phạm danh dự,nhân phẩm của công dân

Điều 72 Hiến pháp năm 1992 cũng nhấn mạnh: Người bị bắt, bị giam giữ, bịtruy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phụchồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệthại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh

Những quy định trên của Hiến pháp nhằm ngăn ngừa sự vi phạm quyền conngười, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dựcủa công dân từ phía các cơ quan, cán bộ nhà nước Các quy định tại Điều 71 và Điều

72 cũng là cơ sở để xây dựng các quy định của Luật Tố tụng hình sự về người bị tạmgiữ

1.3.2 Giai đoạn từ 2003 đến nay

Trang 13

Ngày 26/11/2003, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003(Luật số 19/2003/QH11), được thông qua tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa XI, cóhiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2004.

Theo đó, người bị tạm giữ được Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đề cập đến

ở Điều 48 với ba điều khoản về khái niệm về người bị tạm giữ, các quyền của người bịtạm giữ và nghĩa vụ thực hiện của người khi bị tạm giữ

Trong đó, người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tộiquả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú vàđối với họ đã có quyết định tạm giữ10

So sánh khái niệm về người bị tạm giữ được đề cập trong Bộ luật Tố tụng Hình

sự năm 1988 thì Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 được bổ sung “người bị bắt theoquyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú”

Còn về quyền của người bị tạm giữ thì Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 được

bổ sung các quyền như:

(1) Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;

(2) Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật;

(3) Quyền khiếu nại những hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyềntiến hành tố tụng

Có thể nói Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã cải tiến rất nhiều so với Bộluật Tố tụng Hình sự năm 1988 khi bổ sung quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khácbào chữa

Vì bản chất tạm giữ chỉ là biện pháp ngăn chặn tức thời, người bị tạm giữ cầnphải có tiếng nói để minh oan cho mình vì vậy, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 bổsung Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật để minh chứng cho cái oan của chính bản thân mình(nếu có)

Ngoài ra, người bị tạm giữ còn có quyền khiếu nại đối với những hành vi tốtụng không đúng quy trình tạm giữ người của các cơ quan tố tụng hoặc người có thẩmquyền tiến hành tố tụng Thực chất, chưa hẳn cơ quan điều tra nào cũng làm đúng quytrình tạm giữ người đúng quy định của Pháp luật về tố tụng hình sự nên việc bổ sungquyền khiếu nại đối với những hành vi này là hoàn toàn hợp lý để bảo vệ đúng quyền

và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ

10 Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003

Trang 14

Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật

Tố tụng Hình sự năm 2015 số 101/2015/QH13 Dự kiến Bộ luật Tố tụng Hình sự năm

2015 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016

Tuy nhiên, do Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều điểm sơ sót nên Quốc hội đãban hành Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 về việc lùi hiệu lực thi hànhcủa Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng Hình sự số 101/2015/QH13,Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạmgiam số 94/2015/QH13 và bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộluật Hình sự số 100/2015/QH13 vào chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm2016

Nghị quyết nêu trên đã lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm

2015 do Bộ luật Tố tụng Hình sự đi song hành với Bộ luật Hình sự Tuy nhiên, phầnquyền của người bị tạm giữ không bị ảnh hưởng đến Bộ luật Hình sự năm 2015 màQuốc hội cần chỉnh sửa cho phù hợp nên người viết vẫn phân tích các điều khoản vềquyền của người bị tạm giữ theo Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Quy định chi tiết về quyền của người bị tạm giữ theo Bộ luật Tố tụng Hình sựnăm 2015 được phân tích ở Chương 2 của luận văn này

Trang 15

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 số 101/2015/QH13 được ban hành ngày27/11/2015 tại kỳ họp thứ 10 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 gồm có chín phần và 510 điều khoản

Bộ luật tố tụng hình sự là bộ luật quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyếtnguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành ánhình sự

Như đã trình bày ở trên, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 có rất nhiều điểmmới Đặc biệt là ở phần Quyền của người bị tạm giữ được quy định tại Điều 59 của Bộluật này Cụ thể các quyền mới được bổ sung nhằm tạo điều kiện cho người bị tạm giữ

có thể nói lên sự thật, minh oan (nếu có)

Vì vậy, chúng ta có thể tìm hiểu và phân tích từng quyền của người bị tạm giữ

mà được Bộ luật đề cập đến

2.1 Nhóm quyền được thông tin

Ở Việt Nam, quyền được thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 1992 vàquyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013 đã được Pháp luật ghinhận Vì vậy, mọi công dân Việt Nam đều có quyền được thông tin Pháp luật ViệtNam đã ghi nhận quyền tiếp cận thông tin ở những mức độ khác nhau, trong đó cóquyền tiếp cận thông tin thông qua việc các cơ quan nhà nước công bố, công khaithông tin do mình nắm giữ hoặc bằng cách yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thôngtin (trừ các thông tin thuộc bí mật nhà nước)

Người bị tạm giữ khi bị tạm giữ thì dĩ nhiên muốn được cơ quan nhà nước cungcấp thông tin để biết bản thân người bị tạm giữ có đúng quy định của Pháp luật haykhông và có đúng những gì mà cơ quan điều tra nghi vấn về bản thân hay không Vìvậy, nhóm quyền được thông tin được người viết tổng hợp, nhóm lại bởi nhiều quyềnkhác nhau nhưng cùng nhóm về thông tin

2.1.1 Quyền được biết lý do mình bị tạm giữ

Đây là quyền đầu tiên của người bị tạm giữ được pháp luật quy định Quyềnnày thể hiện tính chất quan trọng của việc một người bị nghi ngờ phạm tội cần phảibiết mình bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ về hành vi gì, điều luật tội phạm nào của

Trang 16

Bộ luật Hình sự Bởi vì, mục đích của việc tiến hành các trình tự tố tụng là nhằm xácđịnh một người có phạm tội hay không và nếu phạm tội thì phải chịu hình phạt như thếnào Do vậy, người bị nghi ngờ phạm tội cần phải biết rằng mình bị tạm giữ về hành vi

gì để họ có thể tự bào chữa, để gỡ tội cho mình Nếu không biết mình bị tạm giữ vềhành vi gì thì họ khó có thể đưa ra các chứng cứ gỡ tội cho mình

Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang,người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ

đã có quyết định tạm giữ Vì việc tạm giữ là hậu quả tố tụng của việc bắt quả tang, bắtkhẩn cấp, truy nã, đầu thú hoặc tự thú; cho nên, người bị tạm giữ có quyền được biếttại sao họ bị bắt quả tang, bị bắt khẩn cấp, quyết định truy nã hoặc việc tự thú, đầu thúcủa họ

Đối với người bị tạm giữ trong những trường hợp bắt nêu trên có quyền đượcđọc biên bản bắt người và có quyền ghi ý kiến không đồng ý của mình vào biên bản và

ký xác nhận Sau khi nhận người bị bắt khẩn cấp, bắt quả tang, theo quyết định truy nãhoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì cơ quan có thẩm quyền phải ra ngay quyết địnhtạm giữ

Quyết định tạm giữ phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạmgiữ, ngày hết hạn tạm giữ và phải giao cho người bị tạm giữ một bản Trên cơ sở phápluật quy định việc người bị tạm giữ được giao một bản quyết định tạm giữ là hiện thựchóa quyền được biết lý do mình bị tạm giữ của người bị tạm giữ

Đây là một quyền rất quan trọng và cũng là quyền ảnh hưởng rất lớn đến việcthực hiện các quyền khác của người bị tạm giữ; đồng thời cũng thể hiện sự công bằng,bình đẳng và tiến bộ của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật xã hội chủ nghĩanói riêng Bởi lẽ các cơ quan tiến hành tố tụng là những người nhân danh Nhà nước, sửdụng quyền lực của Nhà nước để tiến hành các hoạt động tố tụng đối với người bị tạmgiữ, cho nên việc người bị tạm giữ được biết lý do mình bị tạm giữ căn cứ theo điều,khoản nào của Bộ luật Tố tụng Hình sự một cách công khai, minh bạch thì mới có thểtiến hành tự bào chữa cho mình hoặc nhờ người bào chữa

Quyền được biết lý do mình bị tạm giữ của người bị tạm giữ trên thực tế cóđược đảm bảo hay không phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của cơ quan tiến hành tốtụng và người tiến hành tố tụng thông qua việc giao quyết định tạm giữ cho người bịtạm giữ và giải thích quyền và nghĩa vụ cho họ

Pháp luật quy định việc người bị tạm giữ được giao một bản quyết định tạm giữ

Trang 17

trên thực tế việc được giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ thường chỉ đượctiến hành một cách rất hình thức là giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ đểngười bị tạm giữ ký vào quyết định tạm giữ, phục vụ cho việc hợp thức hóa đầy đủ thủtục là đã giao quyết định cho người bị tạm giữ và làm căn cứ pháp lý lưu trong hồ sơcủa cơ quan điều tra.

Pháp luật Tố tụng hình sự đã có những qui định khá cụ thể, đầy đủ về quyềnđược biết lý do mình bị tạm giữ của người bị tạm giữ nhưng trên thực tiễn áp dụng cácqui định về quyền này của người bị tạm giữ vẫn chưa thực sự được đảm bảo Một số lý

do phát sinh từ các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vì đã không giảithích và cho người bị tạm giữ biết lý do họ bị tạm giữ Và lý do khác lại phát sinh từphía người bị tạm giữ do trình độ và hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế … Do đódẫn đến tình trạng người bị tạm giữ không có được sự chuẩn bị chu đáo về các chứng

cứ, giấy tờ, tài liệu, lời khai… có lợi nhất để bảo vệ cho quyền lợi của mình hay tìm sựtrợ giúp về pháp luật để bào chữa cho mình Đây cũng là nguyên nhân khiến cho chủthể tiến hành tố tụng khó có thể xác định được hành vi vi phạm pháp luật của người bịtạm giữ là vi phạm hình sự hay vi phạm hành chính, nhiều trường hợp dẫn đến bắtngười vô tội và cũng có thể khiến cơ quan tiến hành tố tụng bỏ lọt tội phạm

2.1.2 Quyền nhận quyết định tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và các quyết định tố tụng khác

2.1.2.1 Quyết định tạm giữ

Như đã đề cập tại mục 2.1.1 về quyền được biết lý do mình bị tạm giữ thì trìnhthủ, thủ tục tạm giữ phải có Quyết định tạm giữ Cụ thể, theo quy định của Bộ luật Tốtụng Hình sự năm 2015 thì người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ là:

(1) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;

(2) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồnbiên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biênphòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộđội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng,Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng;

Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lựclượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lựclượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;

Trang 18

(3) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay,bến cảng11.

Về nội dung của Quyết định tạm giữ thì phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bịtạm giữ, lý do tạm giữ, giờ, ngày bắt đầu và giờ, ngày hết thời hạn tạm giữ và các nộidung quy định12 Quyết định tạm giữ phải giao cho người bị tạm giữ

Bởi nếu người bị tạm giữ không được giao Quyết định tạm giữ thì người bị tạmgiữ sẽ không thể nào biết nguyên nhân tại sao mình bị tạm giữ (?) Từ đó, thông quaviệc được biết lý do mình bị tạm giữ thì quyền nhận quyết định tạm giữ là dĩ nhiên vìquyết định tạm giữ là cơ sở để người tạm giữ thực hiện quyền khiếu nại nếu như quyếtđịnh tạm giữ không đúng các quy định của Pháp luật

Về thời gian tạm giữ được căn cứ trên Quyết định tạm giữ nhưng thời hạn tạmgiữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bịgiữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạmgiữ người phạm tội tự thú, đầu thú13

Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạmgiữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho Việnkiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền Nếu xét thấy việc tạm giữ không

có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạmgiữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Trong thời gian tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điềutra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự dongay cho người bị tạm giữ

Khi hết thời gian tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ

và đảm bảo theo các yêu cầu của Pháp luật tại mục 2.1.2.2

2.1.2.2 Quyết định gia hạn tạm giữ và quyết định phê chuẩn quyết định gia hạntạm giữ và các quyết định tố tụng khác

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì thời hạn tạm giữkhông quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ,

11 Khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Trang 19

người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữngười phạm tội tự thú, đầu thú14.

Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưngkhông quá 03 ngày Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạntạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày

Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặcViện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ

đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết địnhkhông phê chuẩn

Như vậy, trường hợp tạm giữ bình thường tối đa là 03 ngày Trường hợp cầnthiết thì thời gian tạm giữ tối đa là 06 ngày và trường hợp đặc biệt thì thời gian tạm giữtối đa là 09 ngày

Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra, cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay chongười bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngaycho người bị tạm giữ15

Cũng tương tự như quyết định tạm giữ thì những quyết định như quyết định phêchuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và các quyết định tố tụng khác thì người bị tạm giữđược nhận Đây là quyền mà người bị tạm giữ cần được đảm bảo và thực thi chứkhông phải là yêu cầu hay đề nghị thì mới được thực hiện

Như đã trình bày các tình huống sau khi kết thúc quá trình tạm giữ thì người bịtạm giữ sẽ có thể chính thức bị khởi tố bị can và có quyết định tạm giam thay thế hoặcngười bị tạm giữ chính thức bị khởi tố và có quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ,thay thế biện pháp ngăn chặn khác hoặc người bị tạm giữ có quyết định trả tự do chongười bị tạm giữ chuyển sang xử lý hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạmhành chính nếu như cơ quan điều tra đã xác định được vụ việc chưa tới mức độ truycứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị tạm giữ có quyết định trả tự do cho người bịtạm giữ, không xử lý hành chính nếu như cơ quan điều tra đã xác định chưa đủ cácbằng chứng để cấu thành tội phạm và không xử lý ở mức độ vi phạm hành chính

“Các quyết định tố tụng khác” mà Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đề cậpđến trong quyền của người bị tạm giữ theo Khoản 2 Điều 59 là những quyết định mà

14 Khoản 1 Điều 118 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

15 Khoản 3 Điều 118 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Trang 20

cơ quan điều tra thay thế quyết định tạm giữ, ví dụ như quyết định tạm giam, quyếtđịnh trả tự do,…

2.1.3 Quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ

Đặt mình vào vị thế của người bị tạm giữ, khi bị cơ quan có thẩm quyền tạmgiữ, bị hạn chế các quyền nhân thân, quyền tự do thì chúng ta sẽ rất mong muốn biếtđược mình có những quyền và nghĩa vụ gì để giúp cho mình có thể tự bảo vệ hoặc nhờngười khác bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Nhưng không phải ai khi ở trong tìnhtrạng bị tạm giữ cũng có đủ sự chín chắn và hiểu biết để yêu cầu được biết mình cóquyền và nghĩa vụ gì

Vì vậy, quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của người bịtạm giữ đã được Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định Việc thực hiện đượcquyền này của người bị tạm giữ đồng nghĩa với việc cơ quan tiến hành tố tụng, ngườitiến hành tố tụng phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình Đó là nghĩa vụ thông báo, giảithích cho người bị tạm giữ hiểu rõ họ có những quyền và nghĩa vụ gì khi tham gia vàoquá trình tố tụng, để khiến họ yên tâm, tin tưởng vào pháp luật và có thể sử dụng phápluật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Việc đảm bảo quyền này của người bị tạm giữ cũng có ý nghĩa rất lớn trongviệc đảm bảo quyền con người của người bị tạm giữ cũng như góp phần nhanh chóngkịp thời giải quyết vụ án, xác minh sự thật vụ án

Tuy nhiên, trên thực tế, quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụcủa người bị tạm giữ không phải lúc nào cũng được đảm bảo Như đã nói ở trên, đểthực hiện tốt quyền này của người bị tạm giữ thì cơ quan tiến hành tố tụng và ngườitiến hành tố tụng đều phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình là thông báo, giải thích chongười bị tạm giữ biết rõ mình có quyền và nghĩa vụ gì Nhưng thực tế cho thấy, vìnhiều lý do khác nhau mà quyền này của người bị tạm giữ gần như khó được bảo đảm.Trong nhiều trường hợp là do sự yếu kém trong chuyên môn, nghiệp vụ của người tiếnhành tố tụng đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình Cũng có trường hợp là do

sự thiếu hiểu biết về pháp luật, sự “yếu thế” trong quá trình tham gia tiến hành tố tụngcủa người bị tạm giữ nên mặc dù không được giải thích về quyền và nghĩa vụ củamình nhưng người bị tạm giữ cũng không “dám” yêu cầu được biết mình có quyền vànghĩa vụ gì khi bị tạm giữ

Trang 21

Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì người bị tạm giữ “được giải thích

về quyền và nghĩa vụ16” Còn Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì người bị tạm giữ

“được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ17”

Như vậy, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 được bổ sung hai từ “thông báo”.Với việc bổ sung hai từ “thông báo” này đã làm ý nghĩa trở nên khác nhau Chúng ta

có thể thấy nếu dùng từ “được giải thích” thì có nghĩa là khi nào người bị tạm giữ đềnghị hoặc yêu cầu thì người thi hành quyết định tạm giữ mới giải thích những quyền

và nghĩa vụ khi bị tạm giữ Còn khi bổ sung thêm hai từ “thông báo” thì chúng ta thấytrách nhiệm “thông báo” này thuộc về người thi hành quyết định tạm giữ Đó là nghĩa

vụ mà người thi hành quyết định tạm giữ phải thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụcủa người bị tạm giữ quy định tại Điều 59 của Bộ luật Tố tụng Hình sự18

2.2 Nhóm quyền được giải thích, trình bày

2.2.1 Quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì người bị tạm giữ cóquyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến về những vấn đề liên quan đến việc họ bị bắtgiữ, bị truy nã, tự thú, đầu thú

Trong lời khai trước cơ quan điều tra, người bị tạm giữ trình bày về những tìnhtiết liên quan đến việc họ bị tình nghi thực hiện tội phạm Cơ quan ra quyết định tạmgiữ có trách nhiệm lập biên bản ghi lời khai của người bị tạm giữ Lời khai đó chỉđược coi là một loại nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sự, khi nó được thể hiện hợppháp bằng biên bản ghi lời khai của người bị tạm giữ được điều tra viên đọc lại chongười bị tạm giữ nghe hoặc người bị tạm giữ tự đọc lại lời khai và có chữ ký của điềutra viên, chữ ký hoặc điểm chỉ của người bị tạm giữ (nếu người bị tạm giữ không biếtchữ) vào biên bản

Đối với người bị tạm giữ là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về tâmthần hoặc thể chất thì việc lấy lời khai những người này phải có mặt đại diện của giađình, trừ trường hợp đại diện gia đình cố tình vắng mặt mà không có lý do chính đáng

Việc trình bày lời khai, trình bày ý kiến của người bị tạm giữ là quyền chứkhông phải nghĩa vụ Theo đó, người bị tạm giữ sử dụng quyền này của mình để khaibáo những tình tiết có lợi cho mình nhằm chứng minh mình vô tội hoặc là phạm tội ởmức độ nhẹ hơn tội đã bị khởi tố hay đưa ra những tình tiết, lý do để giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự cho mình Cũng có trường hợp người bị tạm giữ từ chối không khai báo

16 Điểm b Khoản 2 Điều 48 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003

17 Điểm b Khoản 2 Điều 59 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

18 Khoản 3 Điều 117 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Ngày đăng: 13/03/2017, 11:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w