Luận văn Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản vừa được sinh viên khoa Luật Hành chính bảo vệ vào tháng 122016 tại Trường Đại học Cần Thơ. Điểm 7 (loại B). Các bạn download về tham khảo nhé.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội là một trong những trụ cột chính của an sinh xã hội, đượcĐảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm bởi bảo hiểm xã hội có vai trò rất quan trọngtrong đời sống xã hội Bảo hiểm xã hội giúp người lao động bù đắp phần thu nhập bịmất hoặc bị giảm sút trong quá trình lao động, đảm bảo các quyền của người đượchưởng khi gặp rủi ro trong cuộc sống đồng thời thể hiện tính nhân văn của Đảng vàNhà nước luôn quan tâm đến chính sách về con người
Trong cuộc sống, con người phải tuân theo quy luật phát triển và sự sinh tồncủa tự nhiên nên khi rơi vào các trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động như
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hay do sự tác động của nền kinh tế thịtrường thì người lao động cần có một khoản vật chất giúp đỡ người lao động giải quyếtnhững khó khăn để trang trải cuộc sống đó Vì vậy, việc tham gia bảo hiểm xã hội củangười lao động là hết sức cần thiết Tuy nhiên, không hẳn người lao động nào cũnghiểu và biết được tính nhân văn của việc tham gia bảo hiểm xã hội Do đó, Nhà nước
đã có sự can thiệp điều chỉnh đối với loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc để đảm bảoquyền lợi của người lao động
Bảo hiểm thai sản là một trong những chế độ của bảo hiểm xã hội bắt buộc nằmsong hành với các chế độ bảo hiểm ốm đau, chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnhnghề nghiệp, chế độ bảo hiểm hưu trí,… Bảo hiểm thai sản ngoài chức năng đảm bảothu nhập cho người lao động khi công việc lao động tạm thời bị gián đoạn, nó còn gópphần quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cho người lao động, đảm bảo quyềnđược chăm sóc của trẻ em
Vì vậy, ngày 20/11/2014 Quốc hội đã ban hành Luật Bảo hiểm xã hội, có hiệulực thi hành kể từ ngày 01/01/2016 Luật được thông qua tại kỳ họp thứ 8, Quốc hộikhóa XIII nhằm đảm bảo các quyền lợi của người lao động theo đúng các tình hìnhthực tế của xã hội
Sự ưu việt của chế độ bảo hiểm thai sản có tầm quan trọng đối với người laođộng mà đặc biệt là lao động nữ, tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức nănglàm mẹ, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội nên người viết
đã chọn đề tài “Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản”.
Trang 22 Mục tiêu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những quy định và hệ thống chế độbảo hiểm thai sản ở Việt Nam về phương diện pháp lý và thực tiễn áp dụng Từ đó,người viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật,hoàn thiện chế độ thai sản theo quy định
3 Phương pháp nghiên cứu
Người viết sử dụng phương pháp phân tích luật viết, so sánh và tập hợp để làm
rõ chế độ thai sản theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về chế
độ thai sản Tìm hiểu về thực trạng giải quyết chế độ thai sản hiện nay từ đó đưa ra cácgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng chế độ thai sản đối với người lao động
5 Bố cục đề tài
Ngoài lời nói đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Luận văn có
bố cục gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về bảo hiểm xã hội và chế độ thai sản
Chương 2: Quy định pháp luật về chế độ thai sản
Chương 3: Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về chế độ thai sản và đề xuấtgiải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết chế độ thai sản
Trang 3CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ THAI SẢN
1.1 Khái quát về bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam từ những năm 1930 thời kỳPháp thuộc Đây là chế độ trợ cấp do chính quyền thuộc địa thực hiện đối với nhân dân
và viên chức Việt Nam đang làm việc trong bộ máy hành chính và lực lượng hànhchính của Pháp ở Đông Dương khi họ bị ốm đau già yếu hoặc chết
Tuy nhiên, đối với công nhân Việt Nam gần như chính quyền Pháp không côngnhận quyền lợi của họ mà điển hình là công nhân ở các nhà máy bị ốm đau, bệnh tậthay chết đều không được hưởng chế độ chữa bệnh, mai táng …
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa và đặc điểm của bảo hiểm xã hội
Khái niệm
Thuật ngữ “Bảo hiểm xã hội” lần đầu tiên được chính thức sử dụng làm tiêu đềcho một văn bản quy phạm pháp luật vào năm 1935 (Luật Bảo hiểm xã hội năm 1935của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) Thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một đạo luật đượcthông qua tại New Zealand vào năm 1938
Và đến năm 1941, trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, thuật ngữ nàyđược dùng trong Hiến chương Đại Tây Dương (the Atlatic Charter of 1941)
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO: International Labour Organization) nhanhchóng chấp thuận thuật ngữ “Bảo hiểm xã hội” và theo ILO thì Bảo hiểm xã hội đượchiểu là: “Sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình, thông qua một loạt cácbiện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính phủ) để đối phó vớinhững tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây rabởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, chết; thêm vào đó, bảo hiểm xã hội cònchăm sóc y tế, sức khỏe và trợ cấp cho các gia đình đông con”
Ở các nước không giống nhau thì thuật ngữ “Bảo hiểm xã hội” được hiểu khácnhau và phạm vi áp dụng của nó cũng không giống nhau Song có thể hiểu một cáchkhái quát nhất theo Từ điển tiếng Việt: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm những quyềnlợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, giàyếu, bị tai nạn lao động,…”1
Ở những góc độ khác nhau, cũng có thể có những khái niệm khác nhau về Bảohiểm xã hội, cụ thể:
1 Hoàng Phê, Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, năm 1996, tr 36
Trang 4Dưới góc độ pháp lý: Bảo hiểm xã hội là một chế độ pháp định bảo vệ ngườilao động, sử dụng tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và được
sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và giađình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn laođộng, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (hưu) hoặc chết
Dưới góc độ tài chính: Bảo hiểm xã hội là kỹ thuật chia sẻ rủi ro và tài chínhgiữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật
Dưới góc độ chính sách xã hội: Bảo hiểm xã hội là một chính sách xã hội nhằmđảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro
xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội,…
Cần phân biệt Bảo hiểm xã hội với một số khái niệm có nội dung gần giống với
nó như: bảo hiểm thương mại, an sinh xã hội, cứu tế xã hội,… Khái niệm an sinh xãhội có phạm vi rộng hơn so với Bảo hiểm xã hội, những chế định cơ bản của hệ thống
an toàn xã hội bao gồm: Bảo hiểm xã hội, cứu tế xã hội, trợ cấp gia đình, trợ cấp docác quỹ công cộng tài trợ, quỹ dự phòng và sự bảo vệ được giới chủ và các tổ chức xãhội cung cấp Còn bảo hiểm thương mại chủ yếu mang tính chất tự nguyện, quan hệbảo hiểm xuất hiện trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm, phạm vi đối tượng tham gia bảohiểm nhà nước rộng hơn so với bảo hiểm xã hội (gồm mọi cá nhân, tổ chức), mứchưởng được đề xuất trên cơ sở mức tham gia bảo hiểm và hậu quả xảy ra
Ý nghĩa
Bảo hiểm xã hội không chỉ có vai trò to lớn đối với đời sống của người laođộng, đảm bảo được thu nhập của người lao động khi họ mất việc làm, ốm đau, thaisản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà thông qua đó trật tự xã hội còn được đảmbảo, tạo điều kiện thúc đẩy xã hội phát triển công bằng và văn minh hơn
Trong điều kiện kinh tế thị trường với nhiều biến động không ngừng, Bảo hiểm
xã hội tồn tại, hoạt động và phát triển dựa trên mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữangười sử dụng lao động với người lao động thông qua bên thứ ba - Tổ chức bảo hiểm
xã hội chuyên trách dưới sự bảo trợ đặc biệt của Nhà nước Trong mối quan hệ đó:
Về phía người sử dụng lao động: Mặc dù phải đóng một phần vào quỹ bảo hiểm
xã hội nhưng họ không phải chi ra những khoản tiền lớn khi những người lao động gặpnhững rủi ro nêu trên
Trang 5Về phía người lao động: Bảo hiểm xã hội đặt chỗ dựa về mặt tâm lý cho họ,giúp họ yên tâm trong công tác từ đó nâng cao hiệu quả công việc, hạn chế được tìnhhình ngừng trệ sản xuất kinh doanh, giảm thiệt hại cho người sử dụng lao động.
Đối với Nhà nước: Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của mỗi quốc gia Vìthực hiện bảo hiểm xã hội góp phần ổn định xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế pháttriển Thực hiện bảo hiểm xã hội sẽ hình thành quỹ tiền tệ tập trung có thể đầu tư mộtphần vào các hoạt động kinh tế để sinh lời, tăng thêm nguồn thu cho quỹ bảo hiểm xãhội Do việc chi trả không phải lúc nào cũng diễn ra thường xuyên, cho nên Nhà nước
có thể đầu tư trở lại để bảo toàn quỹ Mặt khác, bảo hiểm xã hội giúp cho Nhà nướcđiều tiết và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội
Như vậy, tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội mang lại lợi ích cho cả ba bên:người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước và xã hội Do đó, cả ba bên đều cómối quan hệ với bảo hiểm xã hội Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, bảo hiểm
xã hội ngày càng trở thành một nhu cầu thường xuyên, chính đáng của người lao động
Nó cần phải được đáp ứng như hàng loạt nhu cầu thiết yếu khác của con người, nó làmột bộ phận cấu thành trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của quốc gia
Bảo hiểm xã hội không những đóng một vai trò thiết yếu về mặt xã hội mà cònmang một ý nghĩa kinh tế - chính trị to lớn Tính kinh tế được thể hiện: Bảo hiểm xãhội phải tính toán thu - chi và hiệu quả hoạt động (nhưng khác với kinh doanh kiếmlời) Bảo hiểm xã hội có ý nghĩa chính trị bởi thông qua đó tính ưu việt, trình độ vănminh của một thể chế chính trị của một quốc gia, của một Nhà nước được thể hiện
Ngoài những ý nghĩa trên bảo hiểm xã hội còn mang tính nhân đạo, tính nhânvăn cao cả, nó thực hiện theo quy luật “lấy số đông bù cho số ít” tức là lấy sự đónggóp nhỏ của số đông chu cấp cho số ít mà vì lý do nào đó (bị ốm đau, thai sản, tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp ) họ bị giảm đi hoặc mất thu nhập hay rủi ro trong cuộcsống bình thường
Đặc điểm
Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từcác nhu cầu cơ bản, thiết yếu như: ăn, mặc, ở, đi lại,… Đến các nhu cầu cao hơn nhưvui chơi, giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ,… Khi cuộc sống càngphát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn Để thoả mãn nhu cầucủa mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận được những gìtương xứng với sức lao động đã bỏ ra Vì vậy có thể nói khả năng lao động quyết địnhđến nhu cầu sống và phát triển của con người
Trang 6Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi cómột cuộc sống ổn định Trái lại có rất nhiều khó khăn, bất lợi ít nhiều ngẫu nhiên phátsinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.Chẳng hạn bất ngờ bị ốm đau, tai nạn lao động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng laođộng và khả năng tự phục vụ suy giảm,… Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầuthiết yếu của cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiệnthêm một số nhu cầu mới như: ốm đau thì cần khám chữa bệnh, tai nạn thì cần ngườichăm sóc nuôi dưỡng,… Bởi vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của mỗi cá nhân cũngnhư toàn xã hội, con người đã có nhiều cách khác nhau như tương trợ, giúp đỡ lẫnnhau, kêu gọi sự giúp đỡ của Nhà nước Tuy nhiên, các hình thức này đều mang tính bịđộng và không chắc chắn.
Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là người lao động vàngười sử dụng lao động Những người lao động bán sức lao động và nhận được tiềncông từ người sử dụng lao động Ban đầu người lao động chỉ nhận được tiền công và
tự đối phó với những rủi ro cuộc sống cũng như trong lao động của họ Về sau do sựđoàn kết đấu tranh của những người lao động mà những người sử dụng lao động buộcphải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống củangười lao động Mâu thuẫn giữa hai lực lượng trên phát sinh do khoản tiền chi trả chocác rủi ro ngày càng lớn hoặc do sự không chi trả của người sử dụng lao động, điềunày ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội Bởi vậy, Nhà nước đã phải đứng
ra can thiệp để điều hòa mâu thuẫn này, Nhà nước bắt buộc người sử dụng lao động vàngười lao động phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả rủi ro trong cuộc sống củangười lao động Từ đó, một nguồn quỹ đã được thành lập để chi trả cho việc này Theothời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội, lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuấtcàng phát triển thì nguồn quỹ càng lớn mạnh đảm bảo cuộc sống cho người lao động
và gia đình họ Như vậy, bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp mộtphần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mấtkhả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung
do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội Từ những đặc điểm trên, bảohiểm xã hội có một số bản chất sau:
Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất làtrong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường Kinh tế càng pháttriển thì bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện
Mối quan hệ giữa các bên trong bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệlao động diễn ra giữa ba bên: bên tham bảo hiểm xã hội (người lao động và người sử
Trang 7dụng lao động), bên bảo hiểm xã hội (cơ quan nhận nhiệm vụ bảo hiểm xã hội), bênđược bảo hiểm xã hội (người lao động và gia đình họ).
Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong bảohiểm xã hội có thể là rủi ro trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp, hoặc xảy ra ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản,… Đồng thời
có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động
Phần thu nhập bị mất đi, bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từnguồn quỹ bảo hiểm xã hội Nguồn này do các bên tham gia đóng góp là chủ yếu, cònlại do nhà nước bù thiếu
Nhìn chung, bảo hiểm xã hội mang cả bản chất kinh tế và bản chất xã hội Tínhkinh tế và tính xã hội của bảo hiểm xã hội không tách rời mà đan xen lẫn nhau Khi đềcập sự bảo đảm kinh tế cho người lao động và gia đình họ là đã đề cập đến tính xã hộicủa bảo hiểm xã hội, ngược lại, khi nói đến sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải mọirủi ro xã hội thì đã đề cập đến tính kinh tế của bảo hiểm xã hội
1.1.2 Phân loại bảo hiểm xã hội
Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì bảo hiểm xã hội được phân loại theonhóm bảo hiểm xã hội và các chế độ bảo hiểm như sau:
Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức màngười lao động và người sử dụng lao động phải tham gia2
Như người viết đã đề cập ở trên thì Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điềuphối đối với loại hình bảo hiểm bắt buộc mà cả hai chủ thể đều phải tham gia là người
sử dụng lao động và người lao động
Trong đó, người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cánhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công laođộng Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và cógiao kết hợp đồng lao động3
Theo đó, mỗi bên người sử dụng lao động và người lao động tự đóng góp theođúng tỷ lệ mà Luật Bảo hiểm xã hội quy định Mức đóng hiện tại năm 2016 theo quyđịnh là người sử dụng lao động đóng 18% và người lao động đóng 8% trên mức lươnglàm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội
2 Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
3 Điều 6 Bộ luật Lao động năm 2012
Trang 8Khi tham gia bảo hiểm xã hội thì dĩ nhiên đôi bên sẽ không bị thiệt hại khi cóbiến cố xảy ra Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì bảo hiểm xã hộibắt buộc có 05 chế độ bảo hiểm xã hội được hưởng Đó là:
Chế độ ốm đau
Chế độ ốm đau là một chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc khi đó người lao động
bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định
Tuy nhiên, những trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do chính bản thân
tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy thìkhông được hưởng chế độ ốm đau
Ngoài ra, người lao động phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốmđau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì vẫn được tính
Người viết sẽ tập trung đi sâu và phân tích ở Chương 2 của luận văn này
Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động là chế độ của người lao động bị suy giảm khảnăng lao động từ 5% trở lên do người lao động bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờlàm việc, ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêucầu của người sử dụng lao động và trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việctrong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý
Chế độ bảo hiểm bệnh nghề nghiệp là chế độ của người lao động bị suy giảmkhả năng lao động từ 5% trở lên do người lao động bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghềnghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việctrong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại
Hưu trí
Hưu trí là chế độ cơ bản nhất trong 05 chế độ của hệ thống bảo hiểm xã hội,được quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 từ Điều 53 đến Điều 65, bao gồm
Trang 9các quy định về đối tượng áp dụng, điều kiện hưởng lương hưu, mức lương hưu hằngtháng và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, điều chỉnh lương hưu,…
Chế độ hưu trí có thể hiểu là chế độ đảm bảo thu nhập cho người hết tuổi laođộng hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa
Bảo hiểm xã hội tự nguyện
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức
mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhậpcủa mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người thamgia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất4
Bảo hiểm xã hội tự nguyện có hai chế độ bảo hiểm xã hội là chế độ hưu trí vàchế độ tử tuất Hai chế độ này về phương thức thì tương tự như chế độ của bảo hiểm
xã hội bắt buộc
1.2 Khái quát về chế độ thai sản
1.2.1 Khái quát về chế độ thai sản
Trong hệ thống các chế độ trợ cấp của bảo hiểm xã hội, chế độ thai sản đượcxem là chế độ xuất hiện từ rất sớm Ngay kỳ họp đầu tiên và trong suốt quá trình hoạtđộng, Tổ chức lao động thế giới (ILO) đã ban hành nhiều Công ước và Khuyến nghịthể hiện sự quan tâm, bảo vệ sức khỏe cũng như quyền lợi cho lao động nữ Đó làCông ước số 3 về việc sử dụng lao động nữ trước và sau khi đẻ, năm 1919 (có hiệu lực
từ ngày 13/6/1921), Công ước số 103 về bảo vệ thai sản (xét lại) năm 1952 (có hiệulực từ ngày 07/9/1955), Công ước số 102 về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội năm
1952 (có hiệu lực từ ngày 27/4/1952) và Khuyến nghị số 95 (sửa đổi năm 1952)5 Mụcđích của Công ước và Khuyến nghị này là nhằm đảm bảo cho người lao động nữ và trẻ
sơ sinh được chăm sóc cần thiết và được bảo vệ mức sống đủ cho hai mẹ con trongthời kỳ người mẹ sinh con phải nghỉ việc Theo đó, các Công ước này đã ấn định thờigian nghỉ sinh con, khoản trợ cấp, chế độ chăm sóc y tế
4 Khoản 3 Điều 03 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
5 Giáo trình Luật An sinh xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2007, tr.116
Trang 10Hiện nay, chế độ thai sản được quy định trong pháp luật ở hầu hết các nước trênthế giới nhưng tùy vào đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước mà chế độ nàyđược quy định khác nhau về thời gian nghỉ, mức trợ cấp, điều kiện hưởng Ở nước ta,cùng với các chế độ bảo hiểm xã hội khác, chế độ bảo hiểm thai sản đã được quy định
cụ thể trong các văn bản pháp luật lao động từ khi giành được chính quyền đến nay
Đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nên chế độ trợ cấp thai sản ngày càng đầy đủ, hoànthiện và phù hợp hơn với thực tế đời sống, đáp ứng được quyền lợi hợp pháp, cũngnhư thể hiện chính sách đặc biệt ưu đãi đối với người lao động
Theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, có thể hiểu chế độ trợ cấp thaisản là một trong các chế độ bảo hiểm xã hội, bao gồm các quy định của Nhà nướcnhằm bảo đảm thu nhập, sức khỏe cho lao động nữ khi mang thai, sinh con, nuôi connuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai,… Chế độ thai sản cũng như các chínhsách xã hội đối với lao động nữ, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chứcnăng làm mẹ, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội Từ đó,tạo điều kiện cho người lao động nói chung, lao động nữ nói riêng ổn định cuộc sống,sức khỏe nhằm phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sốnglao động và cuộc sống gia đình
1.2.2 Mục đích và ý nghĩa của chế độ thai sản
Mục đích
Hệ thống bảo hiểm xã hội của mỗi quốc gia thường bao gồm nhiều chế độ khácnhau, số lượng các chế độ bảo hiểm xã hội được xây dựng và thực hiện phụ thuộc vàotrình độ phát triển và mục tiêu cụ thể của hệ thống bảo hiểm xã hội qua từng thời kỳcủa mỗi nước
Chế độ thai sản có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống bảo hiểm xã hộicủa mỗi quốc gia vì chế độ này ảnh hưởng đến một bộ phận lớn lao động trong xã hội
và đến tương lai của một đất nước Một đất nước muốn tồn tại và phát triển phải chăm
lo chu đáo đến thế hệ tương lai Cùng với các chế độ bảo hiểm xã hội khác, chế độ thaisản được xem một trong năm chế độ được thực hiện sớm nhất trong lịch sử phát triểncủa bảo hiểm xã hội ở nước ta Chế độ trợ cấp này đã góp phần rất to lớn vào việc ổnđịnh đời sống của hàng triệu người lao động và gia đình họ, khuyến khích người laođộng hăng hái, yên tâm lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trịcủa đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử
Theo quy định của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), một quốc gia được coi là
có hệ thống bảo hiểm xã hội chỉ khi có ít nhất một trong ba chế độ là ốm đau, thai sản,
Trang 11tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được thiết lập Chế độ thai sản là chế độ có vaitrò to lớn trong hệ thống bảo hiểm xã hội của mỗi quốc gia, bởi lẽ đó là chế độ có ảnhhưởng rất lớn đến cuộc đời của những người tham gia bảo hiểm xã hội Trong điềukiện nền kinh tế thị trường, khi nguồn thu nhập chính của người lao động là thu nhập
từ các hoạt động tu nghiệp, thì khi nghỉ thai sản, nguồn thu nhập chủ yếu của họ lại làkhoản trợ cấp bảo hiểm xã hội
Trong hệ thống chính sách xã hội có những loại chính sách xã hội phổ biến, cóảnh hưởng, có tác động đến đại bộ phận các tầng lớp dân cư trong xã hội Đồng thời,
có những chính sách xã hội có tính đặc thù, chỉ có những ảnh hưởng, những tác độngđến một bộ phận, một tầng lớp xã hội nào đó Nói cách khác, mỗi một loại chính sách
xã hội có một loại đối tượng tác động nhất định nhằm đạt một mục tiêu nhất định Làmột bộ phận của chính sách xã hội, chính sách thai sản đối với người lao động giữ mộtvai trò rất to lớn
Thứ nhất, đối tượng của chính sách là những người lao động nữ, chiếm một tỷ
lệ đáng kể trong dân cư và trong lực lượng lao động của xã hội Những người này đã
có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước
Thứ hai, mục tiêu của chính sách đối với người nghỉ thai sản là nhằm góp phần
đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần cho họ trong thời gian nghỉ sinh con màkhông có nguồn thu nhập nào khác
Thực hiện tốt chính sách thai sản sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định xã hội, đảmbảo thực hiện thắng lợi các chính sách xã hội khác của quốc gia Thực hiện tốt chínhsách đối với người nghỉ thai sản sẽ góp phần tạo ra động lực mới để thực hiện cácchính sách kinh tế; khuyến khích người lao động hăng hái sản xuất, nâng cao năng suất
và chất lượng lao động Thực tế cho thấy, ở các nước thực hiện tốt chính sách thai sảnđối với người lao động đã tạo ra một cơ sở xã hội bền vững Ngược lại, ở những nướcchưa thực hiện tốt chính sách này thì xã hội luôn ở vào trạng thái bất ổn định, ngườilao động luôn luôn phải đối mặt trước những khó khăn khi phải nghỉ việc mà không cónhững đảm bảo trong cuộc sống ở phía trước Điều này luôn dẫn đến những nguy cơbất ổn định về chính trị ở các quốc gia này Chính vì thế, các nước luôn chú trọng xâydựng và hoàn thiện chính sách, chế độ thai sản đối với người lao động, nhằm đảm bảo
sự ổn định về chính trị và phát triển xã hội
Ở nước ta, ngay từ khi mới thành lập nước, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọngxây dựng hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội Cùng với sự phát triển chung của đấtnước, chế độ thai sản ngày càng được hoàn thiện hơn và đã góp phần rất tích cực trong
Trang 12việc đảm bảo cuộc sống cho người lao động, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tăngtrưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh.
Ý nghĩa
Trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ thai sản là chế độ được ápdụng chủ yếu là đối với lao động nữ, đối tượng chủ yếu là lao động nữ trong độ tuổisinh đẻ khi khám thai, bị sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con, nuôi connuôi sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai
Chế độ thai sản thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và của cộng đồng xã hội đốivới thế hệ tương lai, thông qua việc bù đắp một phần chi phí tăng lên trong quá trìnhthai nghén, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai, đồngthời chế độ thai sản cũng nhằm mục đích trợ giúp, giữ cân bằng thu nhập, góp phần tạo
sự bình ổn về mặt vật chất, bảo vệ sức khỏe cho lao động nữ nói riêng và người laođộng nói chung Nó có vị trí quan trọng đối với người lao động nữ, nhằm động viên,khuyến khích và hỗ trợ cho người mẹ khi họ mang thai, sinh đẻ và nuôi con sơ sinh.Bên cạnh đó, nó còn thể hiện rõ rệt sự ưu đãi của Nhà nước đối với người lao động khithực hiện chức năng làm mẹ của họ
Người phụ nữ ngày nay đã tự lao động để đảm bảo cho cuộc sống và cống hiếncho xã hội Qua đó, họ ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của bản thân trong
xã hội, họ đã có mặt trong hầu hết các ngành nghề và đã thể hiện một cách xuất sắcnăng lực của mình Khác với nam giới họ còn có nhiệm vụ quan trọng là tái sản xuấtcon người, do đó khi mang thai và sinh con là giai đoạn khó khăn nhất của họ nên họcần được sự quan tâm ngược lại từ phía xã hội Đó chính là khoản tiền trợ cấp phù hợpvới công sức mà họ đã đóng góp trong suốt quá trình lao động
Như vậy, chế độ thai sản là một chế độ mang tính xã hội hoá cao, nó được thựchiện thường xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác Nói cách khác,
nó diễn ra một cách liên tục vì sự sống luôn phát triển Vì vậy, nó tạo ra sự ràng buộc
và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi người trong xã hội quan tâm và gắn bó vớinhau hơn, thể hiện mối quan tâm sâu sắc giữa người với người
Trang 13CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ THAI SẢN
2.1 Đối tượng áp dụng chế độ thai sản
Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì người lao động tham gia bảo hiểm xãhội bắt buộc là đối tượng được hưởng trợ cấp thai sản, cụ thể là: Người làm việc theohợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợpđồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng laođộng với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của phápluật về lao động; Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 thángđến dưới 03 tháng; Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhâncông an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; Sĩ quan, quân nhân chuyênnghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyênmôn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối vớiquân nhân; Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởngtiền lương6
Các đối tượng này có tham gia đóng phí bảo hiểm xã hội thì khi thuộc mộttrong các trường hợp được đề cập tại mục 2.2 thì đều được nghỉ việc hưởng trợ cấp
Như vậy, đối tượng hưởng trợ cấp bảo hiểm thai sản chủ yếu là lao động nữtrong quá trình thai nghén, sinh con, có quan hệ lao động theo quy định của pháp luậtlao động, có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Tuy nhiên, không phải trong mọitrường hợp nghỉ thai sản đều được hưởng chế độ này, mà họ phải đáp ứng đầy đủ cácđiều kiện mà Luật định
2.2 Điều kiện hưởng chế độ thai sản
Pháp luật của hầu hết các nước từ lâu đã quy định cụ thể về điều kiện thời gianđóng bảo hiểm xã hội trước khi hưởng chế độ thai sản Chẳng hạn, Pháp luật bảo hiểm
xã hội của Thái Lan quy định phải có 07 tháng đóng góp trong 15 tháng trước khi sinh.Singapore quy định ít nhất phải có 06 tháng làm việc Nhật Bản quy định phải có 12tháng làm việc trước đó Tại Philippines, trợ cấp thai sản được thực hiện trong 04 lầnsinh, với điều kiện người lao động nữ phải đóng bảo hiểm xã hội 03 tháng trong vòng
12 tháng trước khi sinh con
6 Điều 30 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Trang 14Đối với Việt Nam điều kiện hưởng chế độ thai sản được quy định tại Điều 31Luật Bảo hiểm xã hội 2014, theo quy định này thì người lao động được hưởng chế độthai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau: Lao động nữ mang thai; Lao động nữsinh con; Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; Người lao độngnhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người laođộng thực hiện biện pháp triệt sản; Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợsinh con (Có thể hiểu là điều kiện cần).
Việc quy định điều kiện thời gian tham gia đóng bảo hiểm xã hội cho trườnghợp lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi làquy định tiến bộ, vì quy định này không chỉ chú trọng đến việc trợ giúp cho người laođộng khi nghỉ việc để thực hiện thiên chức mà còn chú trọng đến sự bảo toàn và pháttriển về tài chính của quỹ bảo hiểm xã hội
2.3 Thời gian hưởng chế độ khi khám thai
Nuôi con khoẻ mạnh, thông minh là niềm vui, hạnh phúc, là mong muốn củamỗi người mẹ, mỗi gia đình và là trách nhiệm thiêng liêng đối với giống nòi, đất nước
Để con khoẻ mạnh, mỗi người mẹ cần phải có thời gian chăm sóc sức khoẻ của mình,đặc biệt trong thời kỳ có thai, cho con bú, vì sức khoẻ, bệnh tật của người mẹ trongthời kỳ này đều có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển và sức khoẻ của đứa con trongbụng hay đang được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ Vì vậy, cùng với mức trợ cấp nghỉ thaisản, thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản cũng là nội dung được quy định cụ thể trongcác văn bản pháp luật quốc tế cũng như trong nước từ trước đến nay
Trang 15Ở nước ta, thời gian nghỉ thai sản được quy định khác nhau cho nhiều trườnghợp: nghỉ khám thai, nghỉ vì sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, nghỉ vì sinh non,nghỉ sinh con, nghỉ khi con sơ sinh bị chết, nghỉ khi nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi,nghỉ khi thực hiện các biện pháp tránh thai, nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sauthời gian hưởng chế độ thai sản,…
Các quy định về thời gian nghỉ cho mỗi trường hợp luôn có sự thay đổi và ngàycàng được tính toán dựa trên nhiều cơ sở khoa học để phù hợp hơn trong việc bảo vệsức khoẻ cho người lao động và trẻ sơ sinh, phù hợp hơn với thực tế đời sống xã hội vàkhả năng chi trả của quỹ bảo hiểm xã hội
Ở những tháng đầu tiên của thai kỳ, một số lao động nữ thường có cảm giácmệt mỏi, chán ăn, buồn nôn (thai nghén), việc chăm sóc sức khỏe cho người lao động
nữ trong giai đoạn này là rất quan trọng Do đó, để đảm bảo an toàn cho sức khoẻ củangười mẹ và thai nhi trong suốt quá trình mang thai, người phụ nữ cần đến các cơ sở y
tế để khám thai định kỳ Tại đây, các bác sĩ chuyên khoa sẽ theo dõi sự phát triển củathai nhi cũng như đề phòng và điều trị kịp thời những bệnh lý có thể xảy ra trong quátrình thai nghén Số lần khám thai được căn cứ vào quá trình phát triển của thai nhi.Khám thai đầy đủ, đúng quy định sẽ giúp cho người phụ nữ thực hiện chức năng làm
mẹ an toàn
Để bảo vệ, chăm sóc lao động nữ khi có thai, theo Khuyến nghị của Tổ chức y
tế thế giới, pháp luật về bảo hiểm xã hội nước ta quy định trong thời gian mang thai,lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 1 ngày Trong trường hợplao động có thai làm việc ở xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thaikhông bình thường thì được nghỉ việc hưởng trợ cấp 02 ngày cho mỗi lần khám thai
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi đi khám thai tính theo ngày làmviệc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần Quy định thời gian nghỉtính theo ngày làm việc góp phần hạn chế được sự chuyên quyền của người sử dụnglao động, nhiều khi do yêu cầu công việc mà không đảm bảo đúng thời gian khám thaiđịnh kỳ cho lao động nữ, đồng thời quy định này cũng phù hợp với thời gian làm việccủa đa số cơ sở y tế ở nước ta hiện nay
Trang 162.4 Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý
Sảy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý có thể do nguyênnhân khách quan hay chủ quan gây ra Dù do nguyên nhân nào, thì sảy thai, nạo, hútthai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý cũng làm người phụ nữ bị ảnh hưởng rất lớn
về mặt thể chất và tinh thần
Nhằm giúp người lao động nữ nhanh chóng phục hồi sức khoẻ, sớm ổn địnhtinh thần, pháp luật Việt Nam hiện hành quy định trong trường hợp này người laođộng nữ được nghỉ việc hưởng trợ cấp 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi; 20 ngày nếuthai từ 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi; 40 ngày nếu thai từ 13tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi; 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên Thời gian nghỉviệc hưởng chế độ thai sản khi sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu tính cả ngàynghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần8
Trước đây, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 chỉ quy định đối với các trườnghợp hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu Luật cũ chưa được quyđịnh đối với “phá thai bệnh lý” Phá thai bệnh lý có thể hiểu là trường hợp người mẹ bịbệnh tật, không thể sinh con được Khi đó, cơ sở y tế khuyến cáo phải tiến hành pháthai để đảm bảo an toàn cho người mẹ Vì vậy, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã bổsung đầy đủ đối với trường hợp phá thai bệnh lý tương tự như sẩy thai, nạo, hút thaihoặc thai chết lưu
Ngoài ra, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã không còn “cứng nhắc” khi nhưLuật Bảo hiểm xã hội năm 2006 khi bổ sung “lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền9” và chỉ đưa
ra thời gian nghỉ việc tối đa như trên
2.5 Thời gian hưởng chế độ khi sinh con
Người phụ nữ gần đến ngày sinh do sự di chuyển khó khăn nên rất cần đượcnghỉ ngơi, cần có thời gian để chuẩn bị một số vật dụng cho việc sinh đẻ cũng như đểchuẩn bị tâm lý tốt nhất đón đứa con chào đời Và sau khi sinh do sức khoẻ của ngườiphụ nữ còn yếu, trẻ sơ sinh cần được chăm sóc từ người mẹ, nên nhất thiết phải đượcnghỉ ngơi để phục hồi sức khoẻ và chăm sóc con sơ sinh
Nhằm đảm bảo sức khoẻ cho mẹ và con, đảm bảo chức năng làm mẹ an toàn;Cùng với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) cũng như
8 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Trang 17pháp luật nước ta đã quy định thời gian nghỉ sinh con bao gồm thời gian nghỉ trước vàsau khi sinh.
Thời gian nghỉ việc trước và sau khi sinh con được dựa trên cơ sở tính toán mộtcách khoa học lượng thời gian cần và đủ để người phụ nữ hồi phục sức khoẻ, đồngthời đủ để đứa trẻ phát triển, tách được mẹ; dựa vào điều kiện lao động và môi trườngsống của người lao động cũng như vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đấtnước
Ở nước ta, trước đây độ dài thời gian nghỉ thai sản luôn có sự thay đổi ở mỗithời kỳ Cụ thể là, Sắc lệnh 79/SL năm 1947 quy định thời gian nghỉ thai sản là 8 tuần;Sắc lệnh số 77/SL năm 1950 quy định là 2 tháng; Điều lệ tạm thời về chế độ bảo hiểm
xã hội năm 1961 quy định là 60 ngày; Quyết định số 07/HĐBT được ban hành ngày15/01/1983 quy định 75 ngày; Quyết định số 121/HĐBT được ban hành ngày19/4/1986 quy định 180 ngày; Nghị định số 43/CP được ban hành ngày 22/6/1993 quyđịnh thời gian nghỉ là 180 ngày Nghị định số 12/CP được ban hành ngày 26/01/1995quy định 3 mức nghỉ: 04 tháng, 05 tháng hoặc 06 tháng phụ thuộc vào điều kiện laođộng, các quy định này nhìn chung là phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời đạt đượcmục đích bảo vệ sức khỏe cho người mẹ và trẻ sơ sinh
Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định về thời gian nghỉ khi lao động nữ sinhcon như sau: 04 tháng nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bìnhthường; 05 tháng nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộcdanh mục Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành; làm việc theochế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lênhoặc là nữ quân nhân, nữ công an nhân dân; 06 tháng đối với lao động nữ là người tàntật theo quy định của pháp luật về người tàn tật
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì: Lao động nữ sinh con được nghỉ việchưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng Trường hợp lao động nữsinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01tháng Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng
Ngoài ra, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 còn mở rộng đối tượng là lao độngnam đang đóng bảo hiểm xã hội mà khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thaisản là 05 ngày làm việc; 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh condưới 32 tuần tuổi; Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh batrở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc; Trường hợp vợ sinh đôitrở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc
Trang 18Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định đối với lao động nam đượctính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 còn quy định trường hợp sau khi sinh con, nếucon dưới 02 tháng tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc 04 tháng tính từ ngày sinh con;nếu con từ 02 tháng tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc 02 tháng tính từ ngàycon chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời gian đãquy định; thời gian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định củapháp luật về lao động
Trường hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều thamgia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôidưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹtheo quy định Trường hợp mẹ tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không đủ điều kiệnquy định mà chết thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi
Trường hợp cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia bảo hiểm xã hội màkhông nghỉ việc theo quy định thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đốivới thời gian còn lại của mẹ theo quy định
Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh conhoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhậncủa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độthai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi10
Thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngàynghỉ hằng tuần trừ lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉviệc hưởng chế độ thai sản thì không tính ngày nghỉ Lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hằng tuần
2.6 Chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ
Trong cuộc sống, không phải người phụ nữ nào cũng có thể sinh con Chính vìthế, Pháp luật Việt Nam luôn có tính nhân văn trong việc chấp thuận hình thức mangthai hộ và nhờ mang thai hộ là một chế độ thai sản của Luật Bảo hiểm xã hội
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 cũng quy định cụ thể:
Lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ khi khám thai, sẩy thai, nạo, hútthai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và chế độ khi sinh con cho đến thời điểm giaođứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng không vượt quá thời gian quy định
Trang 19Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế
độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sảncho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần
Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận concho đến khi con đủ 06 tháng tuổi11
Chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ
Về khám thai: Lao động nữ mang thai hộ đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộcvào quỹ ốm đau và thai sản, trong thời gian mang thai được nghỉ việc để đi khám thai
05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc ngườimang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lầnkhám thai
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộđược tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần12
Trường hợp, lao động nữ mang thai hộ đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vàoquỹ ốm đau và thai sản, khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lýthì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữabệnh có thẩm quyền Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định như sau: 10 ngày nếuthai dưới 05 tuần tuổi; 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi; 40 ngàynếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi; 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định theo trường hợp này tính cảngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần13
Lao động nữ mang thai hộ khi sinh con mà có đủ điều kiện quy định tại Khoản
2 hoặc Khoản 3 Điều 31 về điều kiện hưởng chế độ thai sản của Luật Bảo hiểm xã hộinăm 2014 thì được hưởng các chế độ sau: Trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lầnmức lương cơ sở tại tháng lao động nữ mang thai hộ sinh con; Nghỉ việc hưởng chế độthai sản cho đến ngày giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng không vượtquá thời gian quy định tại Khoản 1 Điều 34 về thời gian hưởng chế độ khi sinh con củaLuật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ hoặc thời điểmđứa trẻ chết mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì lao động nữ mang
11 Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
12 Khoản 1 Điều 3 Nghị định 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội bắt buộc
13 Khoản 2 Điều 3 Nghị định 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội bắt buộc