1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quản lý đời sống văn hóa cho nhóm di dân nông thôn – đô thị (nghiên cứu trường hợp làng đồng vàng, xã hoàng long, huyện phú xuyên, thành phố hà nội)

222 600 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 222
Dung lượng 4,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, cùng với sự gia tăng về nhu cầu xã hội, người dân ngày một quan tâm hơn về chất lượng cuộc sống thì vấn đề về đời sống văn hóa và quản lý đời sống văn hóa ngày càng nhận được n

Trang 1

g

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-

Nguyễn Anh Tuấn

QUẢN LÝ ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CHO NHÓM DI DÂN

NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LÀNG ĐỒNG VÀNG,

XÃ HOÀNG LONG, HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM



Trần Thị Thúy Vân

THƯƠNG HIỆU CỦA DOANH NGHIỆP

VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 62.31.06.40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-

Nguyễn Anh Tuấn

QUẢN LÝ ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CHO NHÓM DI DÂN

NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LÀNG ĐỒNG VÀNG,

XÃ HOÀNG LONG, HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 62 31 06 42

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Văn Tiến

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Công trình nghiên cứu này là của tác giả luận án, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học

Các kết quả và số liệu về vấn đề nghiên cứu trong luận án là trung thực

Tư liệu trích dẫn trong luận án đều có nguồn gốc rõ ràng

Trang 4

Chương 1: Tổng quan về lý luận và tình hình nghiên cứu 12

Chương 3: Hoàn thiện định hướng quản lý đời sống văn hoá nhóm di

dân nông thôn – đô thị

97

3.1 Cơ sở thực tiễn của việc hoàn thiện quản lý đời sống văn hóa 97 3.2 Hoàn thiện định hướng quản lý đời sống văn hóa 103 3.3 Hoàn thiện mô hình quản lý đời sống văn hóa 113

Danh mục các công trình khoa học đã công bố liên quan đến luận án 150

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đời sống văn hóa bao gồm toàn bộ những hoạt động liên quan đến ăn, mặc,

ở, đi lại… của con người Hiện nay, cùng với sự gia tăng về nhu cầu xã hội, người dân ngày một quan tâm hơn về chất lượng cuộc sống thì vấn đề về đời sống văn hóa

và quản lý đời sống văn hóa ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý nhằm phát triển đời sống văn hóa xã hội theo xu hướng hiện đại, bên cạnh việc cần gìn giữ, bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp Tại Việt Nam, vấn đề này càng quan trọng hơn khi đặt trong bối cảnh

đẩy mạnh quá trình di dân nông thôn - đô thị hiện nay

Thực hiện chính sách mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hơn

20 năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về kinh tế, văn hóa, xã hội Với việc đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, các trung tâm kinh tế, đô thị được đầu tư phát triển, mở rộng, trở thành “đầu tàu” thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng của vùng Những thế mạnh, nguồn lực của mỗi vùng, mỗi tỉnh được đầu tư khai thác Những động lực đó đã tạo ra sức hút đối với các luồng di dân nội địa của Việt Nam Hiện nay, Việt Nam tồn tại 4 mô hình di dân: từ nông thôn đến nông thôn; từ nông thôn đến đô thị; từ đô thị về nông thôn và từ đô thị đến đô thị Trong số này, mô hình di dân nông thôn – đô thị là phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số những người thực hiện di cư

Thủ đô Hà Nội đã và đang là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội bậc nhất của cả nước Điều này tạo lực hút cho các luồng di dân đến Hà Nội, đặc biệt là di dân tự do theo hướng nông thôn – đô thị diễn ra mạnh mẽ Hiện tượng này đang ảnh hưởng ngày một sâu sắc đến sự vận động, phát triển của thủ đô cũng như những địa phương có người di cư Tìm hiểu về luồng di dân tự do nông thôn –

đô thị tại Hà Nội sẽ cho ta một cái nhìn cụ thể hơn về sự tác động qua lại giữa khu vực nông thôn với thành thị thông qua bộ phận di dân, cũng như những biến đổi về đời sống văn hóa ở cả hai khu vực

Trang 7

Di dân là hiện tượng vận động khách quan của xã hội loài người Toàn cầu hóa sâu rộng, kinh tế càng phát triển, đô thị hóa càng đẩy mạnh, sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, về mức sống, chính sách an sinh xã hội… của từng vùng trong một tỉnh, giữa các tỉnh trong cả nước càng được thể hiện

rõ rệt Điều này càng đẩy mạnh hơn quá trình di dân nội địa của Việt Nam, từ những vùng kém phát triển đến những vùng có điều kiện tốt hơn, hoặc người dân nông thôn ngày một di cư nhiều hơn đến các đô thị, đặc biệt là các đô thị phát triển của cả nước

Từ sau năm 1986, với những cải cách về chính sách của nhà nước trong việc

di chuyển, làm kinh tế của người dân, luồng di dân theo mô hình nông thôn – đô thị ngày càng gia tăng Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 của Tổng cục Thống kê, di cư giữa các tỉnh năm 1989 là 1.349.291 người, đến năm

1999 tăng lên 2.001.408 người và đạt 3.397.904 người trong năm 2009 Tỷ lệ gia tăng dân số di cư giữa các tỉnh hàng năm từ 1989 – 1999 là 4%; từ 1999 – 2009 là 5,4% Trong đó, di cư nông thôn – thành thị năm 1999 là 855.943 người chiếm 7,2% trong tổng cấu trúc dân số và dân số di cư thành thị; năm 2009 là 2.062.171 người chiếm 8,9%,; trung bình hàng năm, từ 1999 – 2009, chiếm 9,2% trong tổng cấu trúc dân số và dân số di cư thành thị [173, tr.21 – 22]

Trong suốt quá trình lịch sử đến nay, Hà Nội luôn tồn tại một tỷ lệ lớn người dân nhập cư, đa số trong đó là di dân tự do nông thôn – đô thị Bộ phận dân nhập cư này đã tác động sâu sắc đến lịch sử hình thành, vận động, phát triển của thủ đô Hiện nay, dân nhập cư là một trong những động lực đẩy nhanh quá trình đô thị hóa của Hà Nội cũng như khu vực Đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên, nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu chưa đánh giá đúng vai trò của bộ phận dân di cư nói chung, di cư

tự do nông thôn – đô thị nói riêng và thường nhìn nhận bộ phận này dưới những tác động tiêu cực về áp lực việc làm, nhà ở, tệ nạn xã hội, an ninh trật tự… đối với thủ

đô

Nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế, các tổ chức phi chính phủ… đã thực hiện những dự án dài hơi nghiên cứu về bộ phận dân di cư tự do nông thôn –

Trang 8

đô thị nói chung, tại Hà Nội nói riêng, nhằm có cái nhìn rõ hơn về đóng góp của bộ phận này với sự phát triển chung của cả nước và thành phố Hà Nội Các nghiên cứu đều chỉ ra bên cạnh những mặt tiêu cực không thể tránh khỏi, di dân tự do nông thôn – đô thị đang có những đóng góp to lớn cả về mặt kinh tế, việc làm, nhân khẩu đối với cả nơi nhập cư và nơi xuất cư Thực tiễn đó cũng dẫn đến những biến đổi về văn hóa của các cộng đồng có người xuất cư, nhập cư Điều này đang đặt ra những vấn đề về đời sống văn hóa và quản lý nhằm đảm bảo đời sống văn hóa cho nhóm

di dân ở cả nơi xuất cư (nông thôn) và nhập cư (đô thị); Quá trình hòa nhập cuộc sống, hòa nhập văn hóa của nhóm di cư với chính quyền, người dân sở tại, từ thực tiễn quản lý cho đến các văn bản pháp lý đã cho thấy, các chính sách của nhà nước chưa thể hiện được sự quản lý về mặt văn hóa đối với nhóm di dân trong quá trình gia tăng dòng di cư nông thôn - đô thị

Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án là Quản lý

đời sống văn hóa cho nhóm di dân nông thôn – đô thị (Nghiên cứu trường hợp làng Đồng Vàng, xã Hoàng Long, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội) Đề tài

sẽ cung cấp một góc nhìn khác, trong tính tác động qua lại của văn hóa nông thôn –

đô thị trên cơ sở bộ phận di dân tự do của một làng quê ngoại thành Hà Nội và thực trạng đời sống văn hóa của nhóm di dân nông thôn – đô thị; đề tài phân tích và định hướng cho quá trình quản lý đời sống văn hóa cho nhóm di dân trong bối cảnh hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quản lý đời sống văn hóa cho nhóm di dân nông thôn – đô thị, góp phần hoàn thiện lý luận về quản lý đời sống văn hoá nói chung, quản lý đời sống văn hóa tại các khu vực nông thôn và

đô thị nói riêng dưới tác động của quá trình gia tăng chuyển cư nông thôn - đô thị

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xác định cơ sở lý luận về quản lý di dân nói chung, quản lý đời sống văn hóa của nhóm di dân nông thôn – đô thị nói riêng

Trang 9

Nghiên cứu thực trạng đời sống văn hóa nhóm di dân nông thôn – đô thị, trên

cơ sở chuyển cư, chuyển nghề của họ, từ đó phân tích thực trạng quản lý đời sống văn hóa của nhóm di dân nông thôn – đô thị

Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm quản lý tốt hơn đời sống văn hóa cho nhóm di dân nông thôn – đô thị trong bối cảnh hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề về quản lý đời sống văn hóa của nhóm di dân nông thôn – đô thị thông qua trường hợp nghiên cứu tại làng Đồng Vàng, xã Hoàng Long, huyện Phú Xuyên và phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: gồm 2 không gian nghiên cứu chính là làng Đồng

Vàng, xã Hoàng Long, huyện Phú Xuyên, và phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, đơn vị hành chính chiếm phần lớn số lượng các hộ gia đình người làng Đồng Vàng khi di cư ra Hà Nội sinh sống Nghiên cứu sẽ chỉ ra mối liên kết giữa các thành viên người làng Đồng Vàng khi di chuyển ra Hà Nội kiếm sống cũng như liên hệ giữa họ với quê gốc

Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình di cư của người làng Đồng

Vàng từ năm 1990 đến nay Đây là thời điểm đánh dấu sự mở rộng của luồng di cư nông thôn – đô thị trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó có thành phố Hà Nội Từ sau năm 1990, số lượng các thành viên người làng Đồng Vàng di cư ra các đô thị, đặc biệt là Hà Nội, kiếm việc làm mưu sinh ngày một gia tăng

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hướng tiếp cận liên ngành, trong đó khoa học quản lý và văn hóa học sẽ là cốt lõi Trên cơ sở đó, chúng tôi sử dụng các phương pháp cụ thể sau:

- Phương pháp điền dã dân tộc học: tác giả sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học tìm hiểu về làng Đồng Vàng cũng như đặc điểm, cách thức thực hành các

Trang 10

nhóm di cư có công việc mưu sinh khác nhau của bộ phận người làng Đồng Vàng tại khu vực nội thành Hà Nội Phương pháp này được tiến hành trong nhiều năm, suốt thời gian làm luận án, giúp cho tác giả có một cái nhìn chung, toàn diện về đặc điểm làng Đồng Vàng, đời sống, công việc các hộ gia đình người Đồng Vàng tại quê gốc cũng như tại khu vực di cư tới tại nội thành Hà Nội

Trong quá trình điền dã, để có được những các kỹ thuật nghiên cứu như phỏng vấn sâu thông qua một số cá thể và hộ gia đình người Đồng Vàng dựa trên đặc điểm 3 loại hình nhóm công việc: xe ôm, bán hàng rong và hàng xáo (bán gạo) Phỏng vấn sâu giúp cho chúng ta có một cái nhìn rõ hơn về nhu cầu, cảm nhận, đời sống tâm lý của người được hỏi về công việc, mối liên hệ về các thành viên cùng

họ, cùng làng tại khu vực nội thành Hà Nội Trên cơ sở đó, chỉ ra được những đặc điểm đời sống văn hóa (gồm đặc điểm về giá trị văn hóa truyền thống và tiếp nhận những văn hóa đô thị) của người Đồng Vàng khi thực hiện di cư Kỹ thuật thống kê cũng được áp dụng khi phân khúc các nội dung nghiên cứu theo thời gian, cho chúng ta một cái nhìn toàn diện về tiến trình di cư của người làng Đồng Vàng, từ

đó, làm nổi bật lên vai trò của mạng lưới xã hội người làng Đồng Vàng cũng như những biến đổi giá trị văn hóa truyền thống của từng thế hệ người Đồng Vàng khi đi

ra đô thị mưu sinh, cung cấp những thông tin tin cậy về đặc điểm di cư của người làng Đồng Vàng Phương pháp thống kê phần nào làm sáng tỏ được mối liên hệ của những ngươi di cư làng Đồng Vàng với quê gốc thông qua tần suất trở về quê của

họ (tùy vào từng mục đích khác nhau)

- Ngoài ra, tác giả còn kết hợp sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp dự báo nhằm có hướng tiếp cận tổng thể, sâu rộng về vấn đề nghiên cứu Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng trong quá trình tổng luận các vấn đề nghiên cứu, phân tích thực trạng quản lý đời sống văn hóa cũng như trong việc đề xuất các định hướng quản lý trong thời gian tới Phương pháp so sánh được sử dụng trong việc nghiên cứu đời sống văn hóa và quản

lý đời sống văn hóa tại hai điểm xuất cư (làng Đồng Vàng) và nhập cư (phường Cầu Dền), cho thấy những biến đổi văn hóa của nhóm di cư và việc cần phải có những

Trang 11

mô hình quản lý thích hợp Phương pháp dự báo được áp dụng để phân tích các vấn

đề về quản lý, trong đó dự báo các xu hướng trong di cư, trong việc thay đổi các thực hành văn hóa, các khuôn mẫu và giá trị mà nhóm di dân sẽ thay đổi, các xu hướng quản lý dựa vào nhu cầu thực tiễn của từng khu vực địa lý có những đặc điểm kinh tế - xã hội và lịch sử khác nhau

5 Đóng góp của Luận án

Với câu hỏi nghiên cứu được xác định là làm thế nào để có thể quản lý đời sống văn hóa của nhóm di dân nông thôn – đô thị trong quá trình chuyển cư, chuyển nghề phù hợp với điều kiện phát triển của đô thị, cũng như phát huy được những lợi thế, hạn chế những tác động không mong muốn, tạo nên những mô hình quản lý phù hợp trong quá trình đẩy mạnh đô thị hóa, hiện đại hóa tại thành phố Hà Nội, luận án có những đóng góp cụ thể sau:

Về hướng tiếp cận: Quản lý văn hóa nhóm di dân nông thôn – đô thị dựa vào nghiên cứu quá trình di dân là một đề tài mới mẻ trong nghiên cứu về quản lý văn hóa hiện nay Trên nền tảng của sự phát triển kinh tế - xã hội, quá trình di dân là một trong những yếu tố làm thay đổi các tiếp cận về quản lý, trong đó có quản lý văn hóa Nghiên cứu quản lý văn hóa từ tiếp cận di dân nông thôn – đô thị qua nghiên cứu một nhóm di dân tại thành phố Hà Nội là một hướng tiếp cận mới, góc nhìn này sẽ giúp chúng ta có sự hiểu biết sâu sắc hơn về biến đổi về đời sống văn hóa của nhóm di dân nông thôn – đô thị nói chung, cũng như tại Hà Nội nói riêng, dựa trên đó, các vấn đề về quản lý đời sống văn hóa nông thôn và đô thị được gợi

mở Trên thực tế, các nhà khoa học thường nhấn mạnh vai trò, tác động của di dân trên góc độ kinh tế (tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, kiều hối…), xã hội (thay đổi cấu trúc dân số, giới, an ninh trật tự, sức khỏe sinh sản…) hay chính trị (chính sách quản lý di dân) Từ góc độ văn hóa, những nghiên cứu về quản lý văn hóa dựa trên nền tảng di dân chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức Cách tiếp cận từ quản lý đời sống văn hóa nông thôn và đời sống văn hóa đô thị thông qua một bộ phận dân nhập cư vào Hà Nội là một hướng tiếp cận khác, làm phong phú hơn những góc nhìn khi nghiên cứu về quản lý đời sống văn hóa

Trang 12

Về lý thuyết nghiên cứu: Lý thuyết mạng lưới xã hội áp dụng trong nghiên cứu về nhóm di dân người làng Đồng Vàng sẽ chỉ ra được vai trò cũng như tác động của các mối quan hệ đa chiều: họ hàng, làng xóm, bạn bè, đồng hương… đối với quyết định di chuyển, lựa chọn việc làm, tâm lý xã hội, hòa nhập đời sống văn hóa

đô thị… của nhóm đối tượng nghiên cứu Mạng lưới xã hội có thể là một kênh thuận lợi thúc đẩy quá trình di cư của người làng Đồng Vàng ra khu vực trung tâm

Hà Nội, tuy nhiên, sự cố kết cộng đồng làng Đồng Vàng trên một/vài khu vực nhất định liền kề nhau có thể tạo ra những rào cản cho họ hòa nhập vời đời sống văn hóa

đô thị

Các nhà nghiên cứu trước đây thường chỉ ra quá trình chuyển cư gắn liền với một cộng đồng di cư nhất định Với trường hợp nghiên cứu nhóm di dân làng Đồng Vàng, tác giả sẽ chỉ ra cộng đồng này đã trải qua từng bước các mô hình di dân: từ

di dân con lắc, mùa vụ, tạm thời đến lâu dài và có xu hướng định cư tại khu vực trung tâm Hà Nội Tuy vậy, họ vẫn giữ mối quan hệ mật thiết với quê gốc Từ nghiên cứu thực trạng đời sống văn hóa tại đô thị của nhóm di dân nông thôn – đô thị; phân tích những vấn đề quản lý đời sống văn hóa, từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm quản lý hiệu quả hơn cho đời sống văn hóa của nhóm di dân này nói riêng, cho các nhóm cư dân đô thị và nông thôn có người xuất cư và nhập

cư nói chung

Về địa bàn nghiên cứu: Các nghiên cứu trước đây về di dân thường lựa chọn địa bàn nghiên cứu với quy mô lớn: một tỉnh, thành phố, khu vực hay toàn Việt Nam Luận án lựa chọn địa bàn nghiên cứu tại một làng quê ngoại thành Hà Nội (làng Đồng Vàng) và điểm nhập cư là khu vực nội thành thành phố Hà Nội (phường Cầu Dền) để phân tích sâu sắc hơn về đối tượng nghiên cứu trong các đặc điểm về đời sống kinh tế, văn hóa tinh thần và các mối quan hệ xã hội của họ

6 Bố cục nội dung của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án được trình bày trong ba chương:

Chương 1: Tổng quan về cơ sở lý luận và tình hình nghiên cứu (32 trang)

Trang 13

Chương 2: Thực trạng quản lý đời sống văn hóa nhóm di dân nông thôn – đô thị (57 trang)

Chương 3: Định hướng quản lý đời sống văn hóa nhóm di dân nông thôn –

đô thị (23 trang)

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LÝ LUẬN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Quản lý đời sống văn hóa của nhóm di dân nông thôn – đô thị được đặt trên hai nền tảng lý luận cơ bản: đó là lý luận về di dân, quản lý di dân và lý luận về đời sống văn hóa và quản lý đời sống văn hóa Các quan điểm lý luận này hiện đang là các nền tảng cho các nghiên cứu về quản lý đời sống văn hóa của các nhóm di dân nông thôn – đô thị cũng như trong thực tiễn quản lý

1.1 Di dân và quản lý di dân

1.1.1 Lý luận về di dân

1.1.1.1.Khái niệm di dân

Di dân là sự vận động khách quan trong lịch sử hình thành và phát triển của

xã hội loài người, diễn ra trên mọi vùng lãnh thổ Di dân làm thay đổi bức tranh phân bố dân cư trên trái đất, nó dẫn tới sự phân bố lại lao động trên lãnh thổ và làm ảnh hưởng hàng loạt các vấn đề kinh tế xã hội, cũng như môi trường của các vùng [19] Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm di dân Theo E.F Baranov và B.D.Breev: “di dân hiểu theo nghĩa rộng là bất kì sự di chuyển nào của con người giữa các vùng lãnh thổ có gắn với sự thay đổi vị trí, dạng hoạt động lao động và ngành có sử dụng lao động” Khái niệm trên còn coi trọng sự chuyển dịch trong không gian mà chưa chú ý đúng mức đến sự thay đổi nơi cư trú, cũng như mục đích

và thời gian di chuyển không được đề cập đến [163]

Nhiều tác giả đã có sự thống nhất khái niệm di dân theo nghĩa hẹp, như V.I.Perevedensev (1966) coi di dân là “tổng hợp sự di chuyển của con người gắn liền với sự thay đổi chỗ ở” V.N.Ônhikienkô và V.A.Popovkin (1973): “di dân được hiểu là sự thay đổi nơi thường trú của con người với tổng hợp các nhân tố và nguyên nhân chính” Theo V.I.Xtaroverov (1975): “Di dân là sự thay đổi vị trí của con người về mặt địa lí, do có sự di chuyển thường xuyên hoặc tạm thời của họ từ một cộng đồng kinh tế này sang một cộng đồng kinh tế khác, trở về hoặc có sự thay đổi vị trí không gian của toàn bộ cộng đồng nói chung”…

Trang 15

Tại Việt Nam, các nhà khoa học với các chuyên ngành khác nhau cũng đưa

ra những định nghĩa về vấn đề này: “Di dân được xác định là sự di chuyển của con người từ lãnh thổ này sang lãnh thổ khác kèm theo sự thay đổi nơi cư trú (nơi ở thường xuyên) theo những chuẩn mực thời gian và không gian nhất định” [64, tr.3];

Di dân là một hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người với những thay đổi của tự nhiên, xã hội và sự phát triển không đồng đều

về kinh tế - xã hội giữa các vùng, các quốc gia trên thế giới Di dân làm thay đổi bức tranh phân bố dân cư trên trái đất, nó ảnh hưởng tới sự phân bố loại lao động theo lãnh thổ và ảnh hưởng đến hàng loạt các vấn đề kinh tế - xã hội, cũng như môi trường [34, tr.8]

Mục 7, Điều 1, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, số UBTVQH11, ngày 09/01/2003 ghi rõ, di cư là “sự di chuyển dân số từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ địa phương này sang địa phương khác” [73]

06/2003/PL-Tóm lại, di dân có các đặc điểm sau: thứ nhất, con người di chuyển khỏi nơi

cư trú thường xuyên đến một nơi nào đó với một khoảng cách nhất định, nơi đến phải xác định Khoảng cách giữa hai đơn vị hành chính gọi là độ dài di chuyển Thứ hai, người di chuyển có mục đích, họ rời nơi ở cũ đến nơi ở mới, thực hiện mục đích của mình Thứ ba, thời gian ở lại nơi mới phải kéo dài trong khoảng thời gian xác định tối thiểu phải từ 6 tháng trở lên mới xác định sự di chuyển đó là di dân Ngoài ra có thể nhận biết di dân qua một đặc điểm nữa đó là sự di chuyển nơi ở và thay đổi nơi làm việc, nghề nghiệp và các hoạt động sinh sống hàng ngày “Di dân”

có thể hiểu đồng nghĩa với “di cư”, “chuyển cư” đều là những thuật ngữ chỉ sự di chuyển nơi cư trú thường xuyên của con người Nhưng di dân không phải hoàn toàn đồng nghĩa với thuật ngữ di chuyển, không phải sự di chuyển nào cũng kèm theo sự thay đổi chỗ ở của con người [163]

1.1.1.2.Các loại hình di dân

Theo dòng di cư giữa nông thôn và thành thị, chúng ta có thể xác định được bốn dòng di cư là:

Trang 16

+ Di dân nông thôn - nông thôn: Những người dân chuyển địa điểm sống nhưng vẫn ở trong vùng nông thôn Hình thức này diễn ra chủ yếu ở xu hướng những năm 50, 60 của thế kỷ trước và xu hướng những người dân các tỉnh phía Bắc vào Tây Nguyên làm ăn sinh sống

+ Di dân nông thôn - đô thị: Đây là hình thức di dân chủ yếu diễn ra hiện nay Những người dân từ nông thôn chuyển lên các thành phố lớn, các trung tâm để tìm kiếm việc làm, gây dựng cuộc sống

+ Di dân đô thị - đô thị: Hình thức này không diễn ra phổ biến lắm, thường thấy ở những người có xu hướng chuyển chỗ ở, việc làm hoặc học tập tại các thành phố

+ Di dân đô thị - nông thôn: Hình thức di dân ít gặp nhất trong thời bình, với những lao động đến tuổi nghỉ hưu về quê an dưỡng, những ông chủ giàu có mua nhà mua đất ở thôn quê nhằm lấy chỗ nghỉ ngơi; hay việc các học sinh sinh viên sau khi học tại các trường đại học, cao đẳng ở các thành phố, thị xã về quê khi chưa có việc làm

Xét theo tiêu chí tổ chức, di dân có hai bộ phận:

+ Di dân có tổ chức: là hình thái dịch chuyển dân cư theo sự quản lý điều chỉnh, tổ chức, thay đổi cấu trúc dân số, nhằm phục vụ những mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa của Nhà nước

+ Di dân tự do: là sự di chuyển một cá nhân, gia đình hoặc một nhóm người

do con người tự quyết định hành vi đi hay ở lại mà không bị sự tác động nào từ phía nhà nước hoặc bên ngoài [101, tr.17]

Xét theo tiêu chí thời gian, di dân có thể được phân chia thành các bộ phận sau:

+ Di dân “con lắc”: là hình thái di cư luân chuyển giữa nông thôn và đô thị khá ổn định về không gian và thời gian Đây là loại hình di dân có thời hạn liên quan đến việc làm hoặc lý do khác đòi hỏi người lao động phải ngủ qua đêm ở đô thị, được lặp đi lặp lại và không nhất thiết phải thay đổi nơi ở chính thức [3]

Trang 17

+ Di dân tạm thời: là hình thái di chuyển chỗ ở, làm việc trong thời gian ngắn, sau đó chuyển tiếp đến chỗ ở khác hoặc quay lại chỗ ở ban đầu Người di dân không/chưa xác định gắn bó lâu dài (công việc, định cư) tại nơi chuyển đến Thời gian xác định cho loại hình di cư này là từ 6 – 12 tháng

+ Di dân theo mùa vụ: người dân, chủ yếu tại khu vực nông thôn, tranh thủ thời gian nông nhàn đến các khu công nghiệp, đô thị kiếm việc làm thêm và trở về khi mùa màng tới Bên cạnh đó, loại hình di dân này còn gặp trong các khu vực, địa phương có các điểm du lịch nổi tiếng, hay lễ hội lớn

+ Di dân lâu dài: là dòng di chuyển của dân cư từ địa phương này đến sống hẳn ở địa phương khác Sự thay đổi nơi cư trú này mang tính chất ổn định, lâu dài

Họ chỉ trở về nơi xuất cư để thăm viếng, không quay trở lại quê gốc sống nữa [95, tr.26]

Trong các hình thái di dân trên thì di dân từ nông thôn ra đô thị hiện đang phổ biến nhất, đặc biệt là ở các quốc gia đang trong quá trình phát triển Cho đến nay, người ta chưa tìm ra được một biện pháp nào để hạn chế luồng di dân này Chẳng hạn như chính quyền thành phố Hà Nội một thời đã thực hiện chính sách chỉ cho những người dân có hộ khẩu tại Hà Nội mới được sinh sống và làm ăn tại Hà Nội Nhưng trong thời kỳ đổi mới, chính sách đó bị dỡ bỏ và thay bằng việc cho phép người dân từ khắp nơi đến làm ăn sinh sống tại Hà Nội, nhưng được quản lý thông qua hình thức tạm trú tạm vắng

1.1.1.3 Lý thuyết về di dân

Đã có nhiều lý thuyết được các nhà nghiên cứu sử dụng nhằm lý giải về hiện tượng di dân đã và đang diễn ra trong các xã hội Có thể coi Ravenstein (1889) là người đầu tiên xây dựng nền móng lý thuyết đẩy – hút để giải thích hiện tượng di dân trong xã hội Theo lý thuyết này, một số người di cư vì họ bị xô đẩy ra khỏi nơi

cư trú ban đầu, số khác di cư là do sức hút và sự cám dỗ của nơi ở mới, như: yếu tố kinh tế, tốc độ phát triển, thương mại Đối với di cư, sức hút thường mạnh hơn sức đẩy (ngược lại với tị nạn – sức đẩy mạnh hơn sức hút) Con người thường bị ước muốn sống tốt đẹp hơn thôi thúc di cư hơn là trốn chạy khỏi tình thế không thỏa

Trang 18

mãn hiện thời [69, tr.30] Trên cơ sở lý thuyết lực hút – lực đẩy, Everettts Lee đã chỉ ra bên cạnh yếu tố kinh tế, di dân nông thôn – đô thị còn chịu sự tác động của các yếu tố văn hóa, xã hội nhưng ở những mức độ khác nhau [74] Lý thuyết này cũng được Harris-Todaro (1970) lựa chọn để phân tích, lý giải đối với hiện tượng di dân từ nông thôn ra đô thị: “Di dân trong quá trình phát triển kinh tế là hiện tượng tất yếu Nó gắn với tình trạng chênh lệch trong phát triển kinh tế - xã hội giữa khu vực nông thôn và khu vực đô thị” [74]

Tại Việt Nam, lý thuyết về “lực hút – đẩy” được áp dụng phổ biến trong các nghiên cứu nhằm lý giải cho các nguyên nhân dẫn đến các luồng di cư đang diễn ra Thực tế cho thấy rằng, con người di chuyển do nhiều nguyên nhân khác nhau Người di dân không chỉ di chuyển vì nguyên nhân kinh tế mà còn do các nguyên nhân khác như nguyên nhân chính trị, tôn giáo, tâm lý, tình cảm, quốc phòng, hoặc

do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt hoặc bị thiên tai: động đất, núi lửa, sạt lở đất, hạn hán kéo dài… Tuy vậy, khi phân tích những nguyên nhân của sự di dân, người ta cho thấy rằng nguyên nhân phổ biến nhất vẫn là nguyên nhân kinh tế Kết luận này

đã được nhiều nhà nghiên cứu di dân trên thế giới và Việt Nam thừa nhận, trong đó đặc biệt rõ rệt đối với luồng di dân nông thôn – đô thị [163]

Bên cạnh đó, ta có thể kể đến lý thuyết về mạng lưới xã hội trong việc giải thích các nguồn lực xã hội nói chung và động lực dẫn tới các cuộc di cư nói riêng John A, Barnes (khoa Nhân học xã hội, Đại học Manchester) được coi là người đề

ra khái niệm “mạng lưới xã hội” trong các ngành khoa học xã hội Tuy nhiên, quá trình hình thành “phân tích mạng lưới” chịu ảnh hưởng của nhiều ngành khoa học khác nhau Đó là xã hội học và triết học của Georg Simmel, tâm lý học xã hội của Jacob L Moreno, nhân học cấu trúc của Claude Lévi Strauss, ngôn ngữ học của Jackobson… Theo Simmel, ý tưởng sâu xa của phân tích mạng lưới là thấy được

“không phải các cá nhân và những đặc trưng của họ mà chính những tương tác và mối quan hệ giữa các cá nhân mới là những yếu tố hình thành nên đối tượng nghiên cứu cơ bản của xã hội học” [65, tr.100]

Trang 19

Ở Việt Nam, mạng lưới xã hội cũng được nghiên cứu gắn với vốn xã hội Theo Hoàng Bá Thịnh thì mạng lưới bao gồm tập hợp các đối tượng và một lược đồ hoặc sự miêu tả của mối quan hệ giữa các đối tượng đó Mạng lưới có thể được chia theo các cấp độ khác nhau (vi mô, trung gian và vĩ mô) và mạng lưới xã hội của các

cá nhân cũng có thể khác nhau Điều này tùy thuộc vào vốn xã hội và vốn con người của cá nhân như thế nào [168, tr.45]

Các nhà tâm lý học chủ yếu nghiên cứu mặt nhu cầu, động cơ, tình cảm của mạng lưới xã hội Các nhà xã hội học tập trung nghiên cứu hình thù, khuôn mẫu, kiểu, loại, quy mô, đặc điểm và tính chất của sự hình thành, vận động và biến đổi mạng lưới xã hội Mark Grannovetter, với “hiệu ứng mạnh của các mối liên hệ yếu ớt”, cho biết mật độ và cường độ của các mối liên hệ xã hội có tác dụng khác nhau đối với giao tiếp và sự hội nhập xã hội Trái với quan niệm thông thường, ông cho rằng những người có mạng lưới xã hội dày đặc khép kín trong đó mọi người đều quen biết và thân thiết nhau có thể sẽ tạo ra sự hạn chế trong việc trao đổi thông tin

và cản trở sự liên hệ với thế giới bên ngoài Ngược lại, một mạng lưới xã hội gồm các mối liên hệ yếu ớt, lỏng lẻo, thưa thớt, luôn luôn mở lại tỏ ra có lợi cho sự trao đổi thông tin và tạo ra sự hội nhập với xã hội cũng như tạo cơ hội cho cá nhân theo đuổi mục đích của họ [94, tr.69]

Nhà xã hội học Christiphe Gironde đã chỉ ra tầm quan trọng của các mạng lưới xã hội ở Việt Nam Ông chỉ ra rằng sự bất bình đẳng xã hội trước hết chính là

sự bất bình đẳng trong các quan hệ Các mối quan hệ được xây dựng trong suốt cả cuộc đời con người thậm chí được hình thành từ các thế hệ trước và được đời sau kế thừa Ông cũng chỉ ra rằng những thành công về kinh tế của một hộ gia đình và các chiến lược được sử dụng để đạt được thành công đó phụ thuộc phần lớn vào các mạng lưới xã hội mà các hộ gia đình tham gia, và qua đó họ có được những nguồn lực vật chất và phi vật chất cho phép họ hòa nhập một cách nhanh chóng vào một xã hội mới và thu được các nguồn lợi về mặt xã hội, chính trị, kinh tế [65, tr.112]

Tác giả Lê Ngọc Hùng đã vận dụng lý thuyết phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội nhằm tìm hiểu thành phần, kiểu dạng các quan hệ xã hội mà các cá nhân

Trang 20

có thể sử dụng để tìm kiếm việc làm Những yếu tố cơ bản, quan trọng nhất tạo nên mạng lưới xã hội ở đây là các thành viên gia đình bao gồm bố mẹ, anh em bà con ruột thịt; những người quen thân của gia đình, các bạn bè của cá nhân và những người khác, những nhóm, tổ chức xã hội mà họ có những mối liên hệ nhất định trong quá trình sống, sinh hoạt, học tập và tham gia vào thị trường lao động xã hội Mạng lưới xã hội có vai trò trực tiếp làm cầu nối và hỗ trợ tìm kiếm việc làm Tác giả nêu ra khái quát 3 kiểu mạng lưới xã hội: kiểu truyền thống (các cá nhân chủ yếu dựa vào các quan hệ gia đình tìm kiếm việc làm); kiểu hiện đại (cá nhân chủ yếu dựa vào các mối quan hệ chức năng với cơ quan, tổ chức và các thiết chế thị trường lao động); kiểu hỗn hợp (kết hợp kiểu 1 và 2) Trong đó, kiểu hỗn hợp được

sử dụng phổ biến hiện nay [94, tr.69]

Lý thuyết về mạng lưới xã hội cũng được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để giải thích về động lực, hướng di chuyển của các nhóm di cư (Đặng Nguyên Anh (1998, 2012); Sền Thị Hiền (2013); Đinh Quang Hà (2014)…) Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm mạng lưới xã hội, ta có thể hiểu khái quát “mạng lưới xã hội là phức hợp quan hệ xã hội của con người trong xã hội, đa dạng, nhiều tầng, đan cài vào nhau từ quan hệ trong gia đình, nhóm xã hội đến các tổ chức và đoàn thể xã hội” [73] Mạng lưới xã hội giữ vai trò quan trọng đối với mỗi con người, với xã hội Với cá nhân, mạng lưới xã hội tạo môi trường để mỗi người học hỏi xã hội, qua

đó hoàn thiện con người xã hội; thông qua mạng lưới xã hội các cá nhân khẳng định cái “tôi xã hội”, tạo ra ảnh hưởng và xác lập quyền lực trong nhóm xã hội, cộng đồng xã hội Một số nhà xã hội học cho rằng, mạng lưới xã hội gắn liền với “vốn xã hội”, vốn xã hội ở trong mạng lưới xã hội, mạng lưới xã hội là thành tố của vốn xã hội Do đó, vốn xã hội là nguồn lực nằm trong mạng lưới xã hội, các cá nhân có thể

sử dụng vốn xã hội là mạng lưới xã hội để tạo dựng sự thăng tiến xã hội, tìm kiếm lợi ích, đảm bảo cuộc sống cho mình, gia đình, và nhóm xã hội [73]

Thuyết mạng lưới xã hội chỉ ra tầm quan trọng của quan hệ xã hội, nhất là trong cộng đồng di cư, giữa nơi đi và nơi đến Quan hệ với người quen ở nơi đến sẽ làm tăng khả năng kiếm được việc làm, trong khi quan hệ thân thích giúp cho người

Trang 21

di cư an tâm trong quá trình di chuyển, bảo đảm tính hiệu quả và giảm bớt rủi ro trong quá trình di cư Một khi đã hình thành, mạng lưới xã hội sẽ ngày càng phát triển, và quá trình di cư được duy trì mà không cần đến sự can thiệp của các yếu tố cấu trúc bên ngoài [211]

Mỗi trường phái lý thuyết đều có điểm mạnh và hạn chế khác nhau Tùy vào từng góc nhìn, tình hình thực tiễn mà ta có thể áp dụng lý thuyết nào phù hợp nhất với vấn đề đặt ra Qua hệ thống khái quát một số lý thuyết nêu trên, chúng tôi quyết định lựa chọn “mạng lưới xã hội” làm khung lý thuyết áp dụng vào nghiên cứu của mình

Mạng lưới xã hội hình thành từ quá trình di cư cũng như phục vụ cho mục đích di cư được gọi là mạng lưới di cư Mạng lưới này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải thích các loại hình di chuyển, quá trình định cư và thích ứng cũng như ý định chuyển cư trong tương lai Bởi di cư vốn là quá trình mang nhiều bất trắc, một mạng lưới xã hội tin cậy sẽ góp phần làm giảm thấp những rủi ro do thiếu thông tin Các liên kết xã hội giữa nơi xuất cư và nơi nhập cư sẽ góp phần giảm thấp cái giá (kinh tế và tâm lý) phải trả cho quá trình di cư, đồng thời làm tăng cơ hội thành công của đối tượng di chuyển tại nơi đến [4] Thực tế cũng chỉ ra vai trò của mạng lưới xã hội trong việc đưa ra quyết định di chuyển và lựa chọn nơi chuyển đến của người di cư Dựa trên các kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết các quyết định di chuyển đều do bản thân người di cư hoặc vợ (chồng), bố mẹ, người thân quyết định

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về di dân và quản lý di dân

Tại Việt Nam, trong những năm trở lại đây, vấn đề di dân đang trở thành một

đề tài thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế Trên nhiều góc độ, sử dụng các phương pháp và áp dụng những lý thuyết nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đã cho thấy sự phong phú, phức tạp của vấn đề di dân cũng như sự tác động của hiện tượng này đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Trên cơ sở đó, yêu cầu được đặt ra với các nhà quản lý là đánh giá đúng tình hình thực tế, khai thác tốt những mặt tích cực của hiện tượng di dân cũng

Trang 22

như hạn chế những khó khăn của hiện tượng này với sự nghiệp phát triển chung của đất nước

1.1.2.1 Những vấn đề chung về di dân

Ở Việt Nam, nếu trước thời kỳ Đổi mới, quá trình di cư thường gắn với các chính sách phân bố dân cư, phát triển vùng kinh tế theo kế hoạch của nhà nước, thì

từ sau năm 1986, các luồng di dân nghiêng phần lớn về hướng di dân nông thôn –

đô thị và mang nặng yếu tố tự phát (di dân tự do) (Đặng Nguyên Anh, Tống Văn Chung, Tống Văn Đường, Lê Bạch Dương…) Để lý giải cho điều này, các tác giả cho rằng do sự chênh lệch về mức thu nhập giữa lao động ở khu vực nông thôn và thành thị nên di dân nông thôn – đô thị là không thể tránh khỏi (Đặng Nguyên Anh)

Di dân không chỉ tác động đến bản thân người thực hiện di dân mà còn là một bộ phận trong sự vận động quy luật của đất nước “Đối với từng người, từng gia đình, tham gia vào cuộc di dân chỉ là sự chuyển đổi địa điểm mưu sinh, còn đối với quốc gia và dân tộc thì đó chính là thực hiện quy luật của sự tồn tại và phát triển, quy luật của kinh tế, quy luật của xã hội, quy luật của văn hóa” [101, tr.3] Di dân nông thôn – đô thị không những giải được bài toán khó khăn về kinh tế với những cá nhân, hộ gia đình thực hiện quá trình di chuyển: Các kết quả nghiên cứu về di dân đều cho thấy tỷ lệ lao động di cư tham gia hoạt động kinh tế cao hơn dân sở tại, tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn, và thu nhập cao hơn nơi xuất cư và người di cư nhìn chung hài lòng với quyết định di chuyển Hầu hết lao động di cư có thu nhập tích lũy, góp phần phát triển cuộc sống gia đình (Đặng Nguyên Anh); mà còn đóng góp một vai trò lớn đối với tiến trình phát triển của đô thị

Di cư nông thôn - đô thị là một nhân tố tích cực trong chiến lược phát triển nông thôn:

“nó là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tháo gỡ sự bế tắc của thực trạng nông thôn đất chật người đông, dư thừa lao động…” và bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực, “di cư, trên thực tế, đã thúc đẩy quá trình hội nhập nông thôn đô thị, góp phần thúc đẩy sự phát triển nông thôn và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội… [101, tr.16]

Từ góc độ dân số, giới, kế hoạch hóa gia đình và vấn đề hội nhập của người

di cư trong cuộc sống mới… các tác giả tập trung phân tích vai trò, vị thế cũng như

Trang 23

những khó khăn mà người di cư gặp phải trong quá trình tìm kiếm cơ hội thay đổi cuộc sống của họ

Đánh giá khả năng hội nhập của người di cư vào đời sống đô thị (quan sát từ

TP HCM), trên cơ sở phân tích các động lực và rào cản, hiện trạng và triển vọng

mà cơ cấu xã hội đô thị có thể hấp thụ được nhóm xã hội này, nhất là đối với tiểu nhóm di dân nghèo, tác giả Nguyễn Quang Vinh kết luận: 1, Tính chọn lọc của di dân đã đem đến cho họ một tiềm năng hội nhập không nhỏ; 2, Cuộc ra đi của họ được cân nhắc kỹ càng Các mạng lưới thân tộc và hôn nhân đã củng cố sức mạnh

và độ bền cho cuộc di chuyển có tính quyết định đó; 3, Thị trường lao động đô thị tiếp họ rất nhanh, nhưng hấp thụ họ khá chậm; 4, Họ sớm có được tiền lương hấp dẫn hơn nhiều so với nơi xuất cư, nhưng mức sống của họ chưa có gì gọi là được hoàn thiện; 5, Con đường gây dựng cho mình một lối sống đô thị đang đòi hỏi người di dân một nghị lực rất lớn để vượt qua mâu thuẫn và nghịch lý, trước mắt là không bị biến thành nhóm bên lề, còn về lâu dài trở thành một nhóm cư dân đô thị đích thực Trong cuộc đấu tranh này, người dân nghèo đang cần được nâng đỡ nhiều [211, tr.88]

Trên góc độ dân số, tác giả Hoàng Thị Thêu đã tìm hiểu thực trạng dân nhập

cư vào TP HCM và ảnh hưởng của nó đến biến động dân số thành phố, từ đó làm

cơ sở khoa học để đề ra các chính sách thích hợp nhằm đạt tới quy mô dân số và phân bố dân cư phù hợp với quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa TP HCM, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân TP HCM, giảm áp lực dân số lên cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội và môi trường đô thị [150]

Các tác giả Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng (2008) đề cập đến vấn đề di dân và bảo trợ xã hội, đặc biệt từ sau khi công cuộc Đổi mới được khởi xướng ở Việt Nam Di dân với số lượng lớn đã trở thành một thách thức trọng tâm cho các nhà hoạch định chính sách trong nỗ lực vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vừa duy trì

ổn định xã hội Nhóm tác giả cũng phân tích: do quan điểm còn khá phổ biến về tác động tiêu cực của di dân đối với quá trình phát triển, sự thiếu vắng của các chính sách và chương trình toàn diện về bảo trợ xã hội cho các nhóm bị thiệt thòi cũng

Trang 24

như những yếu kém về tổ chức đã hạn chế đáng kể năng lực của Nhà nước trong việc đối phó với thách thức đó [50]

Trong báo cáo “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Di dân và sức khỏe” (2012), Nguyễn Đình Cử và cộng sự đã phân tích mối liên hệ giữa tình trạng di cư

và sức khoẻ Đối với người di cư, những so sánh được thực hiện dựa trên loại hình

di cư, hiện trạng đăng ký hộ khẩu và độ dài thời gian đến nơi ở hiện tại Việc so sánh cũng được thực hiện giữa nhóm di cư và không di cư Theo đó, di cư có ảnh hưởng tích cực trong việc nâng cao tỷ lệ người lao động được cấp bảo hiểm y tế Hiện nay, tỷ lệ người di cư được bảo hiểm y tế lớn hơn người không di cư Bên cạnh đó, báo cáo cũng đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng không sử dụng dịch vụ y tế trong lần đau ốm của người di cư gồm: vùng cư trú, giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng sở hữu thẻ bảo hiểm y tế, tình trạng đăng ký hộ khẩu và điều kiện sống [40, tr.9 – 14]

Di dân trong vấn đề giới và sức khỏe sinh sản là một trong những nội dung thu hút được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu và các tổ chức bảo trợ xã hội Trong một nghiên cứu về “Khả năng chấp nhận sử dụng bao cao su nữ trong nữ lao động di cư tại các khu công nghiệp của Việt Nam”, (2012), tổ chức UNFPA đưa ra

“do thiếu thông tin và sản phẩm bao cao su nữ chưa sẵn có và chưa được phân phối rộng rãi ở thị trường Việt Nam, nên hầu hết những người tham gia nghiên cứu và chồng của họ chưa từng nghe nói về hoặc nhìn thấy bao cao su nữ cho đến khi họ tham gia nghiên cứu này” [205] Cùng với quá trình di cư, vai trò và vị thế của người phụ nữ trong gia đình đã có sự thay đổi Thông qua những đóng góp về mặt tài chính từ quá trình di cư, người phụ nữ hiện nay đã có nhiều hơn tiếng nói trong việc quyết định di cư cũng như lựa chọn nơi đến Vai trò của người phụ nữ (bộ phận

di cư lao động) trong gia đình đã được nâng lên thông qua nguồn thu nhập gửi về gia đình Điều này cũng trực tiếp tác động đến những quyết định về di cư hay định

cư tại nơi làm việc [180] Tuy nhiên, hiện thực cũng cho thấy, khi người phụ nữ chấp nhận “bươn chải” bên ngoài xã hội thường chịu nhiều khó khăn hơn nam giới:

Trang 25

tiền lương ít hơn, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, tiếp cận dịch vụ xã hội khó khăn, tệ nạn xã hội… [180]; [205]

1.1.2.2 Quản lý di dân

Di dân, đặc biệt di dânnông thôn – đô thị là một hiện tượng phổ biến của xã hội Việt Nam từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước đến nay Trên nhiều góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu về cơ bản đều phân tích và chỉ ra những yếu tố tích cực và hạn chế của hiện tượng này đối với xã hội đô thị cũng như xã hội nông thôn nơi các cộng đồng di cư ra đi, từ đó, đề ra các chính sách, khuyến nghị với mong muốn quản lý, khai thác tốt hơn nguồn lực từ nhóm dân cư này và hạn chế các mặt tiêu cực

Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi ngày 28/11/2013) đã quy định mọi công dân, bao gồm cả người nhập cư, đều có quyền bình đẳng, gồm quyền được làm việc, học tập, chăm sóc sức khỏe, tự do đi lại và sinh sống “Người dân có quyền tự do đi lại và sinh sống trong nước, đi ra nước ngoài và quay trở về” Việc thực hiện các quyền này phù hợp với các quy định của

luật pháp” (Điều 23) [228]

Luật Cư trú (sửa đổi bổ sung năm 2013) quy định mọi công dân đều có

quyền lựa chọn nơi sinh sống mà không bị ràng buộc bởi bất cứ một điều kiện việc làm nào cả

Về Quyền của công dân về nơi cư trú: “Lựa chọn, quyết định nơi thường trú, tạm trú của mình phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật liên quan; được cấp, cấp lại, đổi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú…” (Điều 9)

Điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương: “có chỗ ở hợp pháp, trường hợp đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ một năm trở lên, trường hợp đăng ký thường trú vào quận thuộc thành phố trung ương thì phải có thời gian tạm trú tại thành phố đó từ hai năm trở lên…” (Điều 20) [227]

Trang 26

Điều 19 của Luật số 25/2012/QH13 có hiệu lực từ ngày 1/7/ 2013 quy định rằng: “Người dân thủ đô sẽ được quản lý theo quy mô, mật độ và cơ cấu trong quy hoạch tổng thể đối với hoạt động xây dựng của thủ đô” Mọi công dân đều có quyền đăng ký hộ khẩu tại các thành phố theo các trường hợp quy định của Luật Cư trú, và đối với những người sinh sống tạm thời tại các thành phố trong vòng ít nhất 3 năm,

có nhà hoặc thuê nhà của các tổ chức và doanh nghiệp chính thức Những người hiện đang sinh sống ở nhà đi thuê mà muốn đăng ký hộ khẩu thì phải có đồng ý chính thức bằng văn bản [228]

Theo các tác giả của bài viết “Di cư nông thôn – đô thị ở Việt Nam: đôi điều bàn lại” [219] thì dường như cả dư luận xã hội và các nhà hoạch định chính sách đều không mấy thiện cảm với dòng di cư nông thôn – đô thị, thường nhìn nhận vấn

đề di dân nông thôn – đô thị trên những góc độ hạn chế, tiêu cực Chính vì vậy những chính sách luôn xuất phát từ khả năng tiếp nhận của khu vực đô thị hơn là giải quyết nhu cầu phát triển đô thị Nghĩa là, luôn nghiêng về hướng hạn chế nhập

cư đô thị chứ chưa tạo điều kiện cho quá trình này diễn ra trôi chảy Có 3 yếu tố quyết định trực tiếp sự gia tăng dân số đô thị và tỷ lệ dân đô thị: Quyết định hành chính mở rộng địa giới đô thị; Tăng tự nhiên của khu vực đô thị (số sinh - số chết);

Di dân từ nông thôn ra đô thị

Trên cơ sở phân tích những đặc điểm di cư của Việt Nam trong thời gian qua, tác giả đặt ra vấn đề: Di cư nông thôn- đô thị chưa lớn nhưng vì sao các vấn đề của đô thị lại nghiêm trọng và đe dọa phát triển bền vững? Các tác giả chỉ ra rằng

“đây là vấn đề “điều hòa dân số” chứ không phải vấn đề di cư Nghĩa là vẫn có dòng

di cư mạnh đến đô thị nhưng không có vấn đề đô thị do dân cư gây ra”

Từ đó, các tác giả đưa ra khuyến nghị:

- Đổi mới tư duy chính sách về di dân nông thôn - đô thị, tạo điều kiện thông thoáng cho dòng di cư này diễn ra trôi chảy Bởi “Di cư nông thôn - đô thị là kênh

có tác động mạnh làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo lao động vốn đang còn lạc hậu theo hướng hiện đại hóa, nâng cao năng suất lao động là con đường phát triển nhanh

và bền vững ở nước ta, là một trong những giải pháp giảm nghèo đối với nơi xuất

Trang 27

cư Vì thế, chính sách di cư nông thôn - đô thị không lấy khả năng tiếp nhận di cư đến mà nên lấy nhu cầu phát triển làm điểm xuất phát Cần tạo điều kiện thông thoáng cho dòng di cư này diễn ra trôi chảy”

- Quy hoạch các cơ sở y tế, giáo dục chuyên nghiệp ở các thành phố trực thuộc Trung ương theo hướng chỉ giữ lại các cơ sở có ý nghĩa vùng và quốc gia

- Cả nơi xuất cư và nơi nhập cư hướng đến trợ giúp người di cư

Đối với nơi xuất cư: Cần tuyên truyền lợi ích và thách thức của di cư Đặc biệt là về sức khoẻ nói chung và sức khoẻ sinh sản nói riêng để người di cư tránh xa mại dâm, ma tuý và các tệ nạn xã hội khác Tuyên truyền về quyền và nghĩa vụ của người lao động, những kiến thức, kỹ năng cần thiết khi di cư (đăng ký hộ khẩu, tìm việc, ký kết hợp đồng lao động, bảo vệ sức khoẻ, tiết kiệm, ), nêu những tấm gương di cư thành công trong xoá đói, giảm nghèo và làm giàu chân chính

Đối với nơi nhập cư: Các vùng có tiềm năng nhập cư cần chủ động đón các dòng di cư lớn đổ vào, làm tốt công tác Quy hoạch phát triển đô thị và nông thôn định hướng cho việc phân bố dân cư; Tạo điều kiện thuận lợi và tổ chức tốt việc đăng ký, thống kê dân cư Đẩy mạnh bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản của người

di cư, đặc biệt phòng chống các bệnh lây nhiễm qua đường sinh dục bằng cách tuyên truyền, tư vấn và phát triển mạng lưới dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản

Chính sách của nhà nước là một trong những vấn đề cấp bách trước những động thái của vấn đề di dân ngày một gia tăng ở nước ta Tiếp cận trên góc độ chính sách quản lý, tác giả Lê Văn Định và cộng sự mô tả, đánh giá thực trạng về vấn đề

di dân đã, đang diễn ra tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, cụ thể là tại 4 tỉnh

và thành phố: Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi Từ đó, tác giả đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm quản lý tốt hơn quá trình di dân tại khu vực này trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Theo tác giả,

“quản lý quá trình di dân là những tác động có chủ đích của các chủ thể quản lý di dân tới những người di dân để định hướng hành vi, hoạt động, thái độ, quan điểm của họ theo những mục đích định trước” [55] Trên thực trạng quản lý, tác giả cho rằng, nhiều chủ thể quản lý di dân nhận thức chưa đầy đủ và đúng đắn về thực

Trang 28

trạng, vị trí, vai trò, tác động tích cực – tiêu cực của các dòng di dân đối với sự phát triển kinh tế xã hội tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung hiện nay; Một số chính sách di dân và quản lý di dân chưa hiệu quả, quyền lợi và nghĩa vụ của người di cư chưa được đảm bảo đầy đủ trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường; Bộ máy quản lý di dân chồng chéo, ít phối kết hợp

Cùng trên quan điểm đó, tác giả Trương Bá Thanh, Đào Hữu Hòa (2010) cho rằng: Muốn kiểm soát dòng di cư từ khu vực nông thôn vào đô thị, cần giải quyết đồng bộ 02 vấn đề lớn đó là cải thiện thu nhập cho khu vực nông thôn và giảm cơ hội có việc làm ở đô thị, tức là tìm cách đưa các hoạt động kinh tế có khả năng tạo

ra nhiều việc làm, thu nhập từ khu vực đô thị về nông thôn và kiểm soát chặt chẽ khu vực phi chính thức [157]

Việc làm và giải quyết áp lực về công việc tại khu vực đô thị là một trong những vấn đề cần đặt ra đối với các nhà quản lý khi đề cập tới câu chuyện di dân nông thôn – đô thị Tác giả Nguyễn Thế Thắng đề cập đến những bước phát triển nhanh quá trình đô thị hóa của nước ta trong thời gian qua, giải quyết một bộ phận dân cư lao động, nhập cư từ các tỉnh lân cận Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa tốc độ phát triển với nhu cầu lao động đến từ bộ phận dân di cư nông thôn – đô thị lớn nên dẫn đến tình trạng còn một bộ phận lớn người lao động không có việc làm Tác giả

đã đưa ra một số cố gắng trong chính sách quản lý của nhà nước trong thời gian qua nhằm khắc phục dần tình trạng thất nghiệp của một bộ phận người lao động… [162]

Ngoài ra, ta có thể nhắc đến hướng tiếp cận di dân và tái định cư với vấn đề

môi trường với các tác giả: Nguyễn Đình Hòe (2001) Dân số, định cư và môi

trường ; Nguyễn Thị Thiềng (2001); Bùi Minh Thuận (2010)…, ở đó nhấn mạnh

đến vấn đề dân số và quản lý môi trường của các khu dân cư ở đô thị và nông thôn

Đối với hiện tượng di dân nông thôn – đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội,

từ cơ sở phân tích tính năng động của dòng di dân nông thôn – đô thị, các quá trình

đô thị hóa, sự đa dạng văn hóa và những khác biệt trong không gian sinh tồn của cư dân Hà Nội, Nguyễn Văn Chính đã đi đến nhận xét rằng:

Trang 29

Không có một bản sắc Hà Nội với tư cách là một thực thể văn hóa xác định, bền vững

và bất biến Tính chất “tứ chiếng” và dòng chảy liên tục của các lớp cư dân khác nhau, nơi hội tụ của tinh hoa và bình dân, nơi phô bầy sự tương phản giữa giàu sang và khốn cùng là những đặc điểm dễ nhận thấy trong suốt trường kỳ lịch sử của thành phố thủ

đô [32]

Thực tế cho thấy, số lượng thị dân sống trong các khu phố luôn chiếm một tỷ

lệ nhỏ hơn nhiều so với những người nông dân sống trong các làng xã truyền thống của Hà Nội

Về đặc điểm, lực lượng nhập cư vào Hà Nội được phân thành 4 nhóm: nhóm

di cư theo gia đình; nhóm di dân theo đường vòng (nông thôn – nước ngoài – Hà Nội); nhóm sinh viên các trường đại học, cao đẳng; nhóm di dân tự do kiếm việc làm Mỗi nhóm có những khó khăn và cách giải quyết khác nhau trong vấn đề nhà ở tại Hà Nội Trong đó, phức tạp nhất là bộ phận di cư kiếm việc làm tự do đa phần còn rất trẻ, khỏe mạnh và chưa lập gia đình [94] Mục đích ban đầu của họ khi ra thủ đô là kiếm tiền giúp đỡ gia đình và cố gắng tạo lập cuộc sống mới tại đây Họ

đã có nhiều cố gắng để xây dựng cho mình một tương lai tốt, ổn định nhưng đã gặp phải nhiều khó khăn trong công việc cũng như trong việc tìm bạn đời [75] Những người lao động di cư ra Hà Nội làm việc kiếm sống thường có xu hướng “co cụm” sống gần nhau [123]…

Về mặt tích cực, quyết định di chuyển đến Hà Nội mưu sinh của bộ phận lao động nông thôn (làm nhiều công việc khác nhau: khu vực kinh tế chính thức hoặc phi chính thức) có vai trò quan trọng với việc ổn định đời sống kinh tế, mức chi tiêu sinh hoạt của các gia đình tại nông thôn cũng như bản thân họ (Vũ Quế Hương, (2000); Rolf Jensen, Donald M Peppard JR., Vũ Thị Minh Thắng (2009))…

Về mặt hạn chế, di dân tự do nông thôn vào Hà Nội tạo ra nhiều sức ép về việc làm, an ninh trật tự, ô nhiễm môi trường của thủ đô… (Vũ Quế Hương (2000); Đinh Văn Thông (2010); Hoàng Văn Chức (2004)…) Về chính sách, các tác giả cho rằng “những biện pháp hành chính ngăn cản người nhập cư là không khả thi” (Đỗ Thị Minh Đức và Nguyễn Viết Thịnh (2010); Phạm Thị Hồng Điệp (2010)), cần có những tiếp cận mang tính xã hội – văn hóa, ở đó, việc nhấn mạnh đến nghiên

Trang 30

cứu các mối quan hệ xã hội, nhân văn của các khu vực nông thôn và đô thị và quản

lý các quan hệ và tương tác nông thôn – đô thị, vẫn còn bỏ ngỏ

1.2 Đời sống văn hóa và quản lý đời sống văn hóa

1.2.1 Đời sống văn hóa

Đời sống văn hóa có thể hiểu một cách cơ bản là toàn bộ những hoạt động gắn liền với sự tồn tại của con người trên các bình diện khác nhau như ăn, mặc, ở,

đi lại, học tập, sáng tạo,… như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đề cập tới khi định nghĩa về khái niệm văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt

ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [109, tr.431] Chính vì vậy, các khía cạnh của đời sống văn hóa là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, như văn hóa học, xã hội học, nhân học…

Đây là cụm từ mới được sử dụng rộng rãi ở nước ta vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX để đề cập đến những điều kiện, những hành vi văn hoá của con người xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong từng hoàn cảnh cụ thể của đời sống Tiền thân của cụm từ này là cụm từ “đời sống mới” cũng là tiêu đề của bài viết dưới dạng hỏi - đáp, được chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1947, với bút danh Tân Sinh [223] Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “đời sống mới không phải cái gì cũ bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới Cái gì xấu thì phải bỏ… cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý Thí dụ: đơm cúng, cưới hỏi quá

xa xỉ, ta phải giảm bớt đi Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm… Cái gì mới mà hay, thì ta phải sử đổi lại cho hợp lý” [109, tr.112 – 113] Cũng theo Hồ Chủ tịch thì

“Bất kỳ ai, muốn sống thì phải có bốn điều ăn, mặc, ở, đi lại Muốn có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đường đi thì phải làm Từ trước đến giờ, ta vẫn có làm, vẫn có cơm, áo, nhà, đường sá Nhưng vì làm chưa hợp lý nên số đông dân ta ăn đói, mặc rách, nhà cửa chật hẹp, đường sá gập ghềnh… Đời sống mới không phải cao xa gì, cũng không phải khó khăn gì Nó không bảo ai phải hy sinh chút gì Nó chỉ sửa đổi

Trang 31

những việc rất cần thiết, rất phổ thông, trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc Sửa đổi được những điều đó, thì mọi người đều được hưởng hạnh phúc [109, tr.114]

Cụm từ đời sống văn hoá xuất hiện lần đầu tiên trong văn kiện của Đảng từ Đại hội IV, đoạn viết: “Chú ý tổ chức tốt đời sống văn hoá ở các vùng kinh tế mới, các nông trường, lâm trường, công trường ở các vùng dân tộc, ở miền núi và hải đảo” [51, tr.1022] Đến Đại hội V (1982), Đảng ta xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá, nhất là đời sống văn hoá ở cơ sở, coi đó là một chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng văn hoá và con người:

Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, công trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công

an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường ấp, đều có đời sống văn hóa Tổ chức tốt hơn nữa đời sống văn hóa ở thành phố, thị xã, làm cho thành thị xứng đáng giữ vai trò tiêu biểu cho nền văn hóa mới Hết sức chăm lo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn, chú ý đến vùng căn cứ cũ, vùng có đồng bào dân tộc Xây dựng một số công trình như nhà văn hóa, rạp chiếu bóng, thư viện, sân vận động [52, tr.105]

Sau Đại hội V, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trở thành một phong trào phát triển sâu rộng trên địa bàn dân cư, đơn vị sản xuất, công tác, học tập tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hoá trong đời sống của mọi tầng lớp nhân dân Từ đó, khái niệm về đời sống văn hoá

ngày một sáng tỏ Năm 1987, cuốn sách Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng

Cộng sản Việt Nam đã luận giải: “Đời sống văn hoá chính là những hành vi sống

biểu hiện một trình độ văn hoá, bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng cá nhân, nhằm mục đích văn hóa hoá tức là hoàn thiện con người” Năm 2000,

cuốn Giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng đưa ra khái

niệm: “Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu

tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó)” Năm

Trang 32

2007, cuốn Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng cho rằng đời sống văn

hoá bao gồm 4 yếu tố: văn hoá vật thể và phi vật thể; cảnh quan văn hoá; văn hoá cá nhân; văn hoá của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng, từ đó đưa ra khái niệm: “Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người” [223]

Đời sống văn hóa có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của con người tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để hướng con người vươn lên theo quy luật của cái đúng, cái đẹp, cái tốt, của chuẩn mực giá trị chân, thiện, mĩ, đào thải những biểu hiện tiêu cực tha hoá con người Đời sống văn hóa là quá trình diễn ra sự trao đổi thông qua các hoạt động văn hóa nhằm nâng cao chất lượng sống của con người [223]

Trong cuốn Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội

nhập, tác giả Nguyễn Văn Dân đã dành một mục riêng bản về Đời sống văn hóa của

người Việt Nam [46, tr.86] Theo tác giả, đổi mới đời sống văn hóa của người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập chính là đổi mới trong quan niệm về văn hóa; đổi mới trong tự do sáng tác; đổi mới trong quan niệm sống và lối sống; tiếp thu các giá trị văn hóa thế giới; phục hồi và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Công trình nghiên cứu đi sâu phân tích sự hình thành, phát triển văn hóa và lối sống trong xã hội đô thị hiện đại; tác động của đô thị hóa cùng các ảnh hưởng của kinh tế, chính trị, giáo dục – đào tạo đối với quá trình hình thành và biến đổi văn hóa và lối sống

đô thị Việt Nam Sự biến đổi môi trường sống của các cộng đồng dân cư, dẫn đến những thay đổi trong văn hóa và lối sống của họ Và đô thị hóa bao giờ cũng kéo theo sự hình thành, phát triển của văn hóa và lối sống đô thị trong các cộng đồng cư dân Thực chất, đó là quá trình chuyển đổi văn hóa và lối sống nông thôn sang văn hóa và lối sống đô thị [55, tr.7]

Ở khía cạnh tương tự, cũng có thể hiểu đời sống văn hóa bao hàm tất cả những hoạt động để tồn tại của con người từ lúc sinh ra cho đến lúc chết Nhưng

Trang 33

những hoạt động đó được thực hiện trên những bình diện khác nhau, vì những mục đích khác nhau Có những bình diện thuần sinh hoạt như ăn chỉ để cho khỏi đói, có bình diện mang tính tinh thần như học tập, sáng tạo, có bình diện mang tính cá nhân như tình yêu, có bình diện mang tính xã hội như phong tục tập quán [104, tr.45]

Theo các nhà văn hóa học, con người thường có 6 nhu cầu cơ bản sau: nhu cầu sinh sống vật chất, lưu truyền huyết thống, sinh hoạt chính trị, hiểu biết, tâm linh, tín ngưỡng, sáng tạo và giải trí [131; tr.46] Xã hội càng phát triển thì biểu thị càng đa dạng, trình độ văn hóa khác nhau thì biểu thị cũng có thể tinh tế hoặc thô thiển khác nhau Mỗi xã hội tùy theo trình độ phát triển, tùy theo truyền thống văn hóa riêng của mình mà ước định những biểu thị của nhu cầu văn hóa thích hợp với

Cấu trúc của đời sống văn hóa bao gồm: con người văn hóa, hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa; hoặc là tổng thể những yếu tố văn hóa vật thể, phi vật thể

và nhân cách văn hóa bao quanh con người, gây ra sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân trên phạm vị không gian nào đó, trực tiếp hình thành lối sống và nếp sống con người ở đó [114, tr.21] Thể thống nhất này có 4 yếu tố: những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể của mỗi cộng đồng; những yếu tố cảnh quan văn hóa; những yếu

tố văn hóa cá nhân; những yếu tố văn hóa của các vi môi trường trong những cộng đồng Ở khía cạnh khác, cũng có thể chỉ ra, đời sống văn hóa là toàn bộ diện mạo các hoạt động văn hóa của con người Từ đó, xác định cấu trúc văn hóa gồm: con

Trang 34

người văn hóa, hệ thống các giá trị văn hóa, các quan hệ văn hóa, các hoạt động văn hóa, hệ thống các thiết chế và cảnh quan văn hóa [114, tr.21]

1.2.2 Quản lý đời sống văn hóa

Thuật ngữ quản lý là một khái niệm chỉ chức năng của các hệ thống có tính

tổ chức, một loại tương tác xã hội trong đó các chủ thể hành động bị chi phối lẫn nhau bởi mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về vị trí xã hội [133, tr.17] Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau

F.W Taylor (1856-1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học” Tiếp theo cũng

có thể kể đến một số các nhà xã hội học có những đóng góp cho sự phát triển của khoa học quản lý, như H Fayol (1886-1925), M.P Follet (1868-1933), C I Barnarrd (1866-1961)… Các nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận khác nhau về lĩnh vực quản lý, trong đó nhấn mạnh đến khía cạnh quản lý dưới góc độ kinh tế -

kỹ thuật (Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết

được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất);

quản lý theo quy trình (Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức,

điều khiển, phối hợp và kiểm tra); quản lý dưới góc độ quan hệ con người, nhấn

mạnh tới nghệ thuật trong quản lý (Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc

của bạn được hoàn thành thông qua người khác); quản lý tứ góc độ lý thuyết hệ

thống (Quản lý không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn để duy trì và phát triển tổ chức)

Các nhà xã hội học thường xác định quản lý là quá trình thực hiện các chức năng lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, phối hợp, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các hoạt động trong tổ chức: “quản lý là một kiểu quan hệ giữa con người và xã hội trong đó diễn ra quá trình ra quyết định, tổ chức, chỉ đạo, khuyến khích, động viên, kiểm tra, giám sát, điều chỉnh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống xã hội của con người” [95, tr.35] Tác giả Vũ Hào Quang thì cho rằng “quản lý

Trang 35

chính là sự tác động liên tục có tổ chức, có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” [133, tr.17]

Hoạt động quản lý là một loại tác động có ý thức của con người, trong đó xác định cụ thể chủ thể quản lý và đối tượng quản lý thông qua công cụ quản lý Dựa vào đó, các nhà khoa học phân chia hoạt động quản lý thành ba dạng chính: quản lý quan hệ con người với môi trường tự nhiên; quản lý quan hệ con người với văn hóa, khoa học kỹ thuật và công nghệ; quản lý quan hệ con người với con người trong các nhóm, các tổ chức hay trong xã hội nói chung [133, tr.19] Các hoạt động quản lý có quy mô, tính chất khác nhau đều hướng tới mục tiêu điều hòa các mối quan hệ xã hội; hoàn thành các chương trình, dự án với kết quả cao nhất… vì sự phát triển chung của cộng đồng

Mọi hoạt động quản lý đều được cấu thành bởi năm yếu tố cơ bản: chủ thể quản lý; khách thể quản lý; mục đích quản lý; môi trường và điều kiện tổ chức; biện pháp quản lý Quản lý là sự kết hợp của ba phương diện: thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân; điều hòa quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai bên; và tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân – giá trị tập thể [68, tr.24]

Quản lý văn hóa là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các

cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân…) [68, tr.26]

Quản lý văn hóa bao gồm những nội dung sau: Xác lập quan hệ chủ đạo (hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức…) những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hóa – là cơ sở của việc xác lập nội dung và phương thức quản lý văn hóa…; Bộ máy tổ chức, cán bộ thực hiện chức năng quản lý văn hóa từ Trung ương đến địa phương và theo các lĩnh vực; cơ chế phối hợp liên ngành (bộ, ban, ngành,

Trang 36

đoàn thể, cơ cấu dân sự…); hệ thống pháp luật (luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, chỉ thị…); Hệ thống chính sách trên từng lĩnh vực (lối sống, nếp sống, văn học, di sản văn hóa,…) và theo địa bàn lãnh thổ; Công tác giám sát, kiểm tra, khen thưởng và xử

lý vi phạm [64] Quản lý văn hóa là quá trình xây dựng đường lối, chính sách và tổ chức hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của văn hóa Việt Nam đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại làm giàu cho văn hóa dân tộc

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể kể tới bài nghiên cứu của tác giả Bùi Văn Tuấn, cho rằng “xây dựng văn hoá đô thị và văn hoá quản lý ở các đô thị nước ta thực chất là xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống và thiết chế văn hoá ở tất cả các lĩnh vực, các ngành, các cấp của đô thị, trong đó Đảng, Nhà nước và đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng” Trong đó, văn hóa đô thị được hiểu:

Là một thực thể tồn tại khách quan trong mối quan hệ với đời sống thành thị, nó bao hàm các yếu tố văn hoá tĩnh (sản phẩm văn hoá vật thể, các thiết chế văn hoá…) và các yếu tố văn hoá động (bao gồm cách thức sản xuất, hình thức sinh hoạt văn hoá của

cư dân đô thị) như phong tục tập quán, lễ hội, sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, các hoạt động khoa học, giáo dục, văn hoá, thể thao,….Và thông qua các phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà chúng ta có thể xác định lối sống, nếp sống của các giai tầng cư dân đô thị [194, tr.364]

Trên cở sở phân tích khái niệm đời sống văn hóa và quản lý văn hóa, chúng ta bước đầu có thể hiểu quản lý đời sống văn hóa là một dạng thức hoạt động, sự tương tác của chủ thể quản lý đối với lĩnh vực văn hóa nói chung nhằm kế thừa, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng cũng như tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa mới, hiện đại, phục vụ cho sự nghiệp phát triển chung của toàn xã hội

1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Làng Đồng Vàng, xã Hoàng Long là một làng quê ngoại thành Hà Nội Tôi biết đến ngôi làng này trong quá trình làm việc của mình cũng như thông qua một người bạn vốn là người làng nhưng đang sinh sống tại khu vực trung tâm thành phố

Hà Nội Qua nhưng câu chuyện được nghe, và qua vài lần theo người người bạn của tôi về làng, tôi đã nhận ra ngôi làng này bên cạnh những đặc trưng của một ngôi

Trang 37

làng ven đô, làng quê vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, còn có những câu chuyện rất riêng mà không phải làng quê nào cũng có Từ câu chuyện di dân, chuyển cư, chuyển nghề và đến nay nhiều hộ gia đình đã định cư (với việc mua nhà riêng, cho con cái ăn học…) tại khu vực trung tâm Hà Nội Trong tôi đã bị lôi cuốn

về việc tìm hiểu về ngôi làng này cũng như cộng đồng người làng Nhiều câu hỏi được đặc ra: người dân làng Đồng Vàng di cư lên khu vực trung tâm Hà Nội và hành nghề kiếm sống như thế nào? quá trình đó diễn ra sao? Sự di chuyển người làng có ảnh hưởng gì đến văn hóa truyền thống của họ và làng quê? Và đặc biệt, làm thế nào để quản lý đời sống văn hóa của cộng đồng di cư này trong bối cảnh diễn manh mẽ ra quá trình di dân nông thô – đô thị hiện nay? Tất cả những câu hỏi đó đã thôi thúc tôi đi đến việc lựa chọn làng Đồng Vàng, cộng đồng di dân của làng làm đối tượng nghiên cứu của mình

1.3.1 Khái quát về làng Đồng Vàng, xã Hoàng Long

1.3.1.1 Xã Hoàng Long

• Vị trí địa lý

Xã Hoàng Long là một xã thuần nông nằm ở phía Tây Nam huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây cũ phía Bắc giáp xã Tri Trung, phía Nam giáp huyện Ứng Hòa, phía Đông giáp xã Văn Hoàng, Tân Dân, Chuyên Mỹ, phía Tây giáp xã Phú Túc Năm 2008, xã Hoàng Long cùng toàn bộ diện tích tỉnh Hà Tây được quy hoạch, sáp nhập, trở thành một bộ phận trong địa giới hành chính của thành phố Hà Nội Xã Hoàng Long có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi với hai tuyến đường liên huyện chạy qua Hai tuyến đường này cũng là những nút giao thông quan trọng gắn kết các thôn trong xã với nhau Bên cạnh đó, các con đường trong nội bộ các thôn đều được lát gạch hoặc làm bê tông chắc chắn

Mặt phía Bắc và phía Đông xã Hoàng Long có dòng sông Nhuệ chảy qua, thuộc địa phận thôn Vân Hoàng, Đào Xá, Hoàng Đông Trước kia, dòng sông Nhuệ còn ăn sâu vào khu vực bên trong địa phận thôn Đồng Vàng, sau đó chảy xuôi theo thôn Đào Xá và tiếp tục ăn vào nhánh sông chính tại khu vực trạm bơm thôn Hoàng

Trang 38

Đông ngày nay Tuy nhiên, sau khi bị thực dân pháp điều chỉnh dòng chảy, các

nhánh phụ của sông Nhuệ trở thành các con sông tách biệt, giữ vị trí quan trọng

trong việc điều hòa nguồn nước tưới tiêu cho nông nghiệp của xã

• Kinh tế - xã hội

Tổng diện tích xã Hoàng Long là 106,09ha Trong đó, diện tích đất canh tác

là 737,36ha (diện tích đất trồng lúa và mặt nước nuôi trồng thủy sản), đất sinh hoạt

là 310,32ha Xã gồm 9 thôn: Đồng Vàng (Thanh Xuyên), Cổ Hoàng, Vân Hoàng,

Hoàng Đông, Đào xã, Kim Long Thượng, Kim Long Trung, Kim Long Nội, Nhị

Khê Tổng dân số tính đến thời điểm khảo sát (2014) là 10428 người với 2954 hộ,

khoảng 3 – 4 cá thể/hộ Căn cứ từ số liệu trên, có thể tính được mỗi hộ gia đình xã

Hoàng Long có khoảng 6,3 sào ruộng để cày cấy Diện tích canh tác trung bình tính

trên đầu người là khoảng 1,78 sào/người (Đồng bằng sông Hồng khoảng 1,2

đồng/%) 82,5 (57,7) 79,2 (53,4) 90,7 (57,1) 90,9 (56,6) 93 (57,6) 93 (56,9) Tiểu thủ công nghiệp

và dịch vụ (tỷ

đồng/%) 40,5 (28,3) 39 (26,3) 38 (23,9) 38,6 (24) 38 (23,5) 39,2 (24) Khác (tỷ đồng/%) 20 (14) 30 (21,3) 30 (19) 31 (19,4) 30 (18,9) 31 (19,1) Thu nhập bình quân

Bảng thống kê trên cho thấy, sau 7 năm trở thành một bộ phận trong địa giới

hành chính của thủ đô, cơ cấu kinh tế xã Hoàng Long vẫn nghiêng nhiều về phát

triển nông nghiệp, với tỷ trọng chiếm trên 50% Tỷ trọng phát triển của các ngành

nghề khác như: tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,… đã có những thay đổi nhất định,

nhưng còn chậm Thu nhập bình quân đầu người trong xã từ năm 2011 – 2015 đã có

những thay đổi đáng kể Tuy nhiên, sản lượng lương thực bình quân đầu người

Trang 39

trong các năm này lại có dấu hiệu giảm dần, từ 690kg năm 2011 xuống còn 675 kg năm 2012 và tiếp tục giảm xuống còn 652,5 kg năm 2016 Điều này phần nào cho

thấy sự vươn lên chiếm tỷ trọng cao hơn của các ngành nghề khác

1.3.1.2 Làng Đồng Vàng

● Vị trí làng Đồng Vàng

Thôn Thanh Xuyên hay có tên gọi cổ là Đồng Vàng (Đường Hoàng) thuộc

xã Hoàng Long, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây cũ, nay vào địa phận thủ đô Hà Nội, nằm trong khu Cháy, cách nơi đào được trống đồng Hoàng Hạ 1km (xưa cùng tổng) và khu mộ táng Châu Can khoảng 10km Mặc dù nằm cách đường quốc lộ khoảng 4km nhưng các tuyến đường lưu thông đều dễ dàng Xưa làng nằm sát sông Nhuệ nhưng từ sau khi thực dân Pháp nắn dòng sông, đắp đập phía làng Đào Xá (cùng xã) thì nhánh sông Nhuệ xưa bị biến thành một con sông tách biệt

Về vị trí địa lý, phía Đông làng tiếp giáp với thôn Đào Xá, được ngăn cách bởi cánh đồng vùng 1, 2, 3 của làng Từ đây, xưa bên cạnh đường bộ thì có thể men theo dòng sông Nhụê đi ra huyện lỵ Phú Xuyên một cách dễ dàng Phía Bắc tiếp giáp với thôn Vân Hoàng, được ngăn cách bởi con sông (xưa là sông Nhụê) Từ đây qua cầu, đi khoảng 4km đến Đồng Quan và từ Đồng Quan theo đường 73 khoảng 5km ra Tía, hướng theo đường quốc lộ 1A khoảng 25km là tới thủ đô Hà Nội Hoặc cũng có thể đi về phía Tây 4km đến đường 22, từ đây đi ngược lên phía Bắc sẽ tới

Hà Đông, hoặc xuôi xuống phía Nam sẽ đến thị trấn Vân Đình Phía Tây tiếp giáp với xã Phú Túc được ngăn cách bởi cách đồng làng Phía Nam tiếp giáp với thôn Cổ Hoàng, được ngăn cách bởi một con đường nhỏ Qua thôn Cổ Hoàng xuôi xuống phía Nam có thể đi khắp các làng trong vùng trũng khu Cháy

Làng Đồng Vàng tuy không nằm sát đường lớn nhưng tất cả các tuyến đường trong làng đều thông ra đường quốc lộ, tạo điều kiện thuận lợi để người dân địa phương có thể giao lưu với bên ngoài thông qua hoạt động chủ đạo là buôn bán với các khu chợ, trung tâm gần xa, trong đó bao gồm cả thủ đô Hà Nội Đây là một trong những điểm thuận lợi đầu tiên để thúc đẩy nghề buôn bán của làng phát triển, mặc dù chỉ ở dạng “buôn thúng bán mẹt”

Trang 40

● Kinh tế - xã hội làng Đồng Vàng

Tính đến thời điểm bắt đầu nghiên cứu (2014), làng Đồng Vàng có 1350 nhân khẩu với 416 hộ, mỗi hộ trung bình có 3 - 4 nhân khẩu Số nóc nhà trong làng vào khoảng 245 Như vậy, trung bình có khoảng 2 hộ cùng sống chung trong một mái nhà Kiểu gia đình 2, 3 thế hệ là phổ biến trong làng: ông bà - con cái - cháu Đến năm 2015, và 2016, số lượng dân số có tăng, 1422 người và 436 hộ năm 2015

và 1457 người và 446 hộ năm 2016 (số liệu do trưởng thôn Đồng Vàng cung cấp) Kết quả khảo sát cho thấy người dân làng Đồng Vàng đang thực hiện tốt chính sách

kế hoạch hoá gia đình của nhà nước Mỗi cặp vợ chồng ở đây hiện thường chỉ có một đến hai con Nó thể hiện sự tiến bộ trong nhận thức của người Đồng Vàng

Đối với từng gia đình, tuy đã được tách hộ riêng và có nền kinh tế độc lập nhưng vẫn là điểm tựa cho các mối quan hệ gia đình Các hình thức sinh hoạt gia đình – dòng họ như: Giỗ, Tết…được duy trì, góp phần tạo ra sự bền chặt trong quan

hệ anh em, nhất là vào giai đoạn hiện nay khi thời gian đoàn tụ của các thành viên ngày càng ít

Làng Đồng Vàng là một bộ phận trong vùng trũng của khu Cháy (khu vực chiêm trũng) với kinh tế chủ đạo là nông nghiệp trồng lúa Nghề thủ công chưa bao giờ là thế mạnh của người Đồng Vàng Cùng với nghề nông, “đi chợ” từ lâu đã được coi là nghề truyền thống của cả làng

Theo truyền tích thì vào thế kỷ 15, Nguyễn Phục - một vị quan lớn dưới triều

Lê Sơ sau khi đi xứ Trung Quốc đã đem về nghề để trứng tằm, hay còn gọi là nghề hàng Ngài Nghề này sau được truyền về làng Đồng Vàng Để ghi nhớ công ơn, nhân dân đã tôn ông lên làm Thành Hoàng, hàng năm tổ chức lễ hội để tưởng nhớ (hiện nay, thành hoàng Nguyễn Phục vẫn được thờ tại đền Thượng của làng, đặt trong khuôn viên của ngôi chùa làng Dân làng còn lưu giữ được hai bản sắc phong: Một từ đời vua Khải Định, một dưới thời vua Duy Tân)

Nghề hàng Ngài đã tạo ra một cuộc sống no đủ hơn cho người dân Để làm được hàng Ngài, người dân phải trồng dâu, nuôi tằm, thành phẩm là trứng tằm Để sản phẩm có thể bán được và tiêu thụ rộng rãi, người dân phải tự mình gồng gánh

Ngày đăng: 13/03/2017, 11:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê kinh tế xã Hoàng Long trong 5 năm trở lại đây: (1) [198] - Quản lý đời sống văn hóa cho nhóm di dân nông thôn – đô thị (nghiên cứu trường hợp làng đồng vàng, xã hoàng long, huyện phú xuyên, thành phố hà nội)
Bảng th ống kê kinh tế xã Hoàng Long trong 5 năm trở lại đây: (1) [198] (Trang 38)
Bảng số liệu trên chỉ ra được đặc điểm về các lớp tuổi của nhóm di dân làng  Đồng  Vàng - Quản lý đời sống văn hóa cho nhóm di dân nông thôn – đô thị (nghiên cứu trường hợp làng đồng vàng, xã hoàng long, huyện phú xuyên, thành phố hà nội)
Bảng s ố liệu trên chỉ ra được đặc điểm về các lớp tuổi của nhóm di dân làng Đồng Vàng (Trang 46)
Bảng 1: Thống kê danh sách  người làm nghề xe ôm làng Đồng Vàng - Quản lý đời sống văn hóa cho nhóm di dân nông thôn – đô thị (nghiên cứu trường hợp làng đồng vàng, xã hoàng long, huyện phú xuyên, thành phố hà nội)
Bảng 1 Thống kê danh sách người làm nghề xe ôm làng Đồng Vàng (Trang 156)
Sơ đồ làng Đồng Vàng - Quản lý đời sống văn hóa cho nhóm di dân nông thôn – đô thị (nghiên cứu trường hợp làng đồng vàng, xã hoàng long, huyện phú xuyên, thành phố hà nội)
Sơ đồ l àng Đồng Vàng (Trang 162)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w