BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG NGUYỄN MAI HƯƠNG Mã sinh viên: B00389 KIẾN THỨC VỀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI NH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG
NGUYỄN MAI HƯƠNG
Mã sinh viên: B00389
KIẾN THỨC VỀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI NHÀ TRONG GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH CỦA BỆNH NHÂN BỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH BỆNH VIỆN THANH NHÀN
ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG HỆ VLVH
HÀ NỘI – Tháng 12, năm 2015
Footer Page 1 of 258
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE
BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG
NGUYỄN MAI HƯƠNG
Mã sinh viên: B00389
KIẾN THỨC VỀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH TẠI NHÀ TRONG GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH CỦA BỆNH NHÂN BỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH BỆNH VIỆN THANH NHÀN
ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG HỆ VLVH
Người HDKH: ThS Nguyễn Thị Như Mai
HÀ NỘI – Tháng 12, năm 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới:
- Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện
và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
- Các Thầy, Cô giáo trong Bộ môn Điều dưỡng - Trường Đại học Thăng Long
đã trực tiếp dạy bảo, trang bị kiến thức toàn diện cho tôi trong suốt khoá học
- Ban Giám đốc, tập thể Khoa Nội Tổng Hợp - Bệnh viện Thanh Nhàn đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành được khoá học
- Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới ThS Nguyễn Thị Như Mai đã định hướng, hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khoá luận
- Tôi xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, cùng tập thể lớp KTC6 - Trường Đại học Thăng Long đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và hoàn thành khoá luận
- Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự hợp tác rất nhiệt tình, quí báu của các bệnh nhân đã tham gia nghiên cứu
Sinh viên
Nguyễn Mai Hương
Footer Page 3 of 258
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan kết quả nghiên cứu của em hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất kỳ kết quả nghiên cứu nào đã được công bố trước đây
Sinh viên
Nguyễn Mai Hương
Trang 5iii
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1 Định nghĩa 2
1.2 Đặc điểm dịch tễ học 2
1.2.1 Tình hình dịch tễ học thế giới 2
1.2.2 Tình hình dịch tễ học ở Việt Nam 2
1.3 Nguyên nhân gây bệnh 3
1.4 Yếu tố nguy cơ 3
1.4.1 Các yếu tố liên quan đến môi trường 3
1.4.2 Các yếu tố liên quan đến cơ địa 4
1.5 Triệu chứng 5
1.5.1 Triệu chứng lâm sàng 5
1.5.2 Cận lâm sàng 6
1.6 Tiến triển và biến chứng 6
1.7 Điều trị 6
1.7.1 Điều trị BPTNMT giai đoạn ổn định 6
1.7.2 Điều trị đợt cấp BPTNMT 7
1.8 Một số nội dung giáo dục sức khỏe cụ thể cho bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 8
1.8.1 Khả năng khỏi bệnh 8
1.8.2 Sử dụng thuốc xịt dự phòng 8
1.8.3 Tái khám 10
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 11
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 11
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 11
2.3 Thiết kế nghiên cứu 11
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 11 Footer Page 5 of 258
Trang 62.5 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 11
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 12
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu 12
2.6.2 Tiến hành thu thập số liệu 12
2.6.3 Các biến số nghiên cứu 13
2.7 Xử lý và phân tích số liệu 15
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 15
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 16
3.2 Kiến thức của bệnh nhân 18
3.2.1 Kiến thức chung về điều trị BPTNMT ở giai đoạn ổn định 18
3.2.2 Kiến thức về sử dụng thuốc dự phòng: 21
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 23
4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 23
4.1.1 Tuổi và giới 23
4.1.2 Trình độ học vấn 24
4.1.3 Nghề nghiệp và nơi ở 24
4.1.4 Thời gian mắc bệnh 24
4.1.5 Nguồn thông tin về bệnh 25
4.1.6 Việc được hướng dẫn sử dụng bình xịt thuốc dự phòng 25
4.2 Kiến thức của bệnh nhân 25
4.2.1 Kiến thức chung về điều trị BPTNMT ở giai đoạn ổn định 25
4.2.2 Kiến thức về sử dụng thuốc dự phòng 27
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 29
KẾT LUẬN 30
KHUYẾN NGHỊ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 7v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin về nhân khẩu học 16
Bảng 3.2: Thông tin về bệnh 17
Bảng 3.3: Kiến thức về hạn chế tiến triển của bệnh 19
Bảng 3.4: Kiến thức của bệnh nhân về việc tái khám theo hẹn 20
Bảng 3.5: Kiến thức về thời điểm cần đi khám trước lịch hẹn của bác sỹ: 20
Bảng 3.6: Kiến thức của bệnh nhân về thay đổi liều thuốc xịt nếu bệnh nặng lên 21
Footer Page 7 of 258
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kiến thức về tên bệnh 18 Biểu đồ 3.2: Kiến thức về khả năng khỏi bệnh 18 Biểu đồ 3.3: Kiến thức về các bước sử dụng bình xịt định liều 21
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bình xịt định liều 8 Hình 1.2 Bnh hít Tubuhaler 9 Hình 1.3 Ngậm kín miệng ống trước khi xịt thuốc 10
Trang 91
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh đường hô hấp có đặc tính chung là tắc nghẽn đường thở không hồi phục hoàn toàn, còn gọi là COPD (Chronic Obstructive Pulmonary Disease) Đây cũng là một nhóm bệnh hô hấp thường gặp trên thế giới cũng như ở Việt Nam Với tỉ lệ mắc bệnh cao, tiến triển kéo dài, chi phí điều trị cao và hậu quả gây tàn phế nặng nề, BPTNMT đã thực sự trở thành vấn đề lớn
về sức khỏe của toàn nhân loại
Bệnh không thể điều trị khỏi hoàn toàn và tiến triển liên tục với tốc độ chậm
Dù không điều trị khỏi hoàn toàn, các chăm sóc, điều trị và tập luyện đúng sẽ giúp hạn chế tốc độ tiến triển của bệnh Bệnh nhân trong giai đoạn ổn định được điều trị tại nhà bằng thuốc dự phòng và thực hiện lối sống cũng như tập luyện phù hợp để ngăn chặn đợt cấp, ngăn chặn tiến triển của bệnh Việc bệnh nhân điều trị tại nhà trong giai đoạn
ổn định có hiệu quả hay không phụ thuộc nhiều vào công tác hướng dẫn của nhân viên
y tế vì khi bệnh nhân về nhà, nhân viên y tế không giám sát được việc điều trị
Tại Bệnh Viện Thanh Nhàn, số bệnh nhân mắc BPTNMT đang gia tăng Hầu hết các bệnh nhân đều tham gia Câu lạc bộ hen và COPD để được dùng thuốc dự phòng theo bảo hiểm và được nâng cao kiến thức phòng chống BPTNMT Chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá về kiến thức của bệnh nhân BPTNMT tại Việt Nam và chưa từng có nghiên cứu nào tương tự đối với bệnh nhân BPTNMT tại bệnh viện Thanh Nhàn
Chính vì vậy, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo sức khỏe về điều trị tại nhà cho bệnh nhân BPTNMT trong giai đoạn ổn định, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Kiến thức về điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại nhà trong giai đoạn ổn định của bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Bệnh viện Thanh Nhàn” với mục tiêu:
1 Mô tả kiến thức chung của bệnh nhân về điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở giai đoạn ổn định
2 Mô tả kiến thức của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính về sử dụng thuốc dự phòng tại nhà
Footer Page 9 of 258
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Định nghĩa
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một tình trạng bệnh lý ở phổi, đặc trưng bởi sự tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn Hiện tượng tắc nghẽn này thường tiến triển từ từ tăng dần và liên quan đến một quá trình viêm bất thường của phổi dưới tác động của ô nhiễm khí thở [5]
1.2 Đặc điểm dịch tễ học
1.2.1 Tình hình dịch tễ học thế giới
Tại Mỹ (1994) có khoảng 16,365 triệu người mắc BPTNMT trong đó có tới 50% số bệnh nhân bị bỏ sót không được chẩn đoán Tỷ lệ mắc bệnh ước tính vào khoảng 4 – 5% dân số, đã có xấp xỉ 96.000 người chết trong năm vì bệnh BPTNMT được ước tính với tỷ lệ mắc là 6,2% ở 11 nước thuộc Hiệp hội bệnh Hô hấp châu Á Thái Bình Dương [12]
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa có tỷ lệ mắc BPTNMT cao nhất so với các vùng khác trong cùng khu vực (26,2/1.000 ở nam và 23,7/1.000 ở nữ) BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 ở thành phố lớn và đứng hàng đầu ở nông thôn của trên 50% nam giới hút thuốc ở Trung Quốc
1.2.2 Tình hình dịch tễ học ở Việt Nam
Theo một số thống kê ở Bệnh viện Bạch Mai, trong 3606 bệnh nhân vào điều trị tại khoa Hô hấp từ 1996 – 2000, tỷ lệ bệnh nhân được chẩn đoán BPTNMT lúc ra viện chiếm 25,1%, đứng hàng đầu trong các bệnh lý về phổi và có 15,7% trong số này được chẩn đoán tâm phế mạn [1], [2]
Các nghiên cứu dịch tễ về BPTNMT trong cộng đồng ở nước ta còn rất ít Trong nghiên cứu điều tra của Nguyễn Quỳnh Loan (2002), tỷ lệ mắc COPD trong cộng đồng dân cư >35 tuổi của phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Hà Nội là 1,53% [7]
Ngô Quý Châu và cộng sự nghiên cứu dịch tễ học BPTNMT trong cộng đồng dân cư có tuổi từ 40 trở lên của thành phố Hà Nội thấy tỷ lệ mắc chung cho cả 2 giới là 2% Tỷ lệ mắc bệnh ở nam là 3,4% và ở nữ là 0,7% [3]
Trang 113
1.3 Nguyên nhân gây bệnh
• Hút thuốc hoặc tiếp xúc với khói thuốc: BPTNMT xảy ra ở khoảng 15% người nghiện thuốc và việc sử dụng thuốc lá chiếm 90% nguy cơ mắc bệnh này
Hút thuốc lá thụ động hoặc tiếp xúc với khói thuốc cũng làm gia tăng tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp dẫn đến giảm chức năng của phổi
• Ô nhiễm không khí: Người ta vẫn chưa xác định được chắc chắn việc ô nhiễm không khí có gây BPTNMT hay không Tuy nhiên, nếu có thì hậu quả của nó cũng nhỏ so với thuốc lá
• Tăng nhạy cảm đường dẫn khí: Là tình trạng đường dẫn khí phản ứng quá mức với những chất kích thích từ không khí, như khói thuốc lá và chất ô nhiễm Vai trò làm yếu tố nguy cơ của chứng bệnh này đối với BPTNMT ở những người hút thuốc vẫn chưa được chứng minh rõ ràng
• Thiếu men α1 antitrypsin: Men α1 antitrypsin là một loại protein của cơ thể được gan sản xuất để giúp bảo vệ phổi khỏi bị tổn thương Thiếu men α1 antitrypsin có tính chất di truyền, và nó là yếu tố nguy cơ di truyền duy nhất của BPTNMT được biết đến Nó chiếm khoảng dưới 1% số trường hợp bị BPTNMT ở Hoa Kỳ [5], [6], [10]
1.4 Yếu tố nguy cơ
1.4.1 Các yếu tố liên quan đến môi trường
• Khói thuốc lá
• Hút thuốc chủ động Khói thuốc là một yếu tố nguy cơ quan trọng gây ra những bệnh đường hô hấp Khoảng 20% những người hút thuốc có giảm chức năng phổi ở giai đoạn sớm và có tỷ
lệ cao các triệu chứng ho, khạc đờm Bỏ thuốc lá có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bệnh nhân BPTNMT đặc biệt là nhóm mắc BPTNMT giai đoạn sớm Khói thuốc đóng vai trò là yếu tố nguy cơ ở 80 - 90% số các bệnh nhân mắc BPTNMT
• Hút thuốc thụ động Tiếp xúc thường xuyên với khói thuốc của những người hút thuốc trong cùng phòng (nhà ở hoặc nơi làm việc) làm tăng tỷ lệ mắc BPTNMT Con của những người nghiện thuốc lá bị nhiễm trùng đường hô hấp nhiều hơn và nặng hơn con những người không hút thuốc lá, sau này chúng thường có biến chứng mạn tính về hô hấp Một số đối tượng không hút thuốc nhưng đã phơi nhiễm đến mức độ cao của khói thuốc lá: chồng
Footer Page 11 of 258
Trang 12hút thuốc lá nặng, vợ không bao giờ hút thuốc, dấu hiệu tắc nghẽn tìm thấy ở cả hai vợ chồng
• Bụi và hoá chất nghề nghiệp
Ô nhiễm nghề nghiệp làm gia tăng tần suất mắc bệnh đường hô hấp, làm tắc nghẽn đường dẫn khí, giảm thể tích thở ra tối đa trong giây đầu tiên (FEV1) nhanh hơn Bụi và hoá chất nghề nghiệp (hơi, chất kích thích, khói) gây BPTNMT khi phơi nhiễm với tác động mạnh và kéo dài
• Ô nhiễm không khí
Mặc dù không rõ ràng là yếu tố nào của ô nhiễm không khí là thực sự gây hại, nhưng có vài bằng chứng cho rằng các tiểu phần ô nhiễm không khí sẽ làm thêm gánh nặng ở lượng khí hít vào Vai trò của ô nhiễm không khí gây ra BPTNMT không rõ ràng Tác động của ô nhiễm không khí tới sự xuất hiện BPTNMT thấp hơn thuốc lá
• Nhiễm trùng đường hô hấp
Bệnh nhân bị VPQM dễ mắc các đợt nhiễm trùng cấp hơn so với người bình thường Nhiễm trùng có liên quan đến nguyên nhân cũng như tiến triển của BPTNMT Những người hút thuốc có thể bị viêm tắc đường thở ngay khi chỉ nhiễm trùng đường
hô hấp nhẹ Nhiều nghiên cứu đã làm rõ quan hệ giữa các bệnh đường hô hấp với nhiễm virus, nấm, nhiễm vi khuẩn Tiền sử có nhiễm trùng hô hấp khi còn nhỏ có liên quan đến giảm chức năng phổi và tăng các triệu chứng ở tuổi trưởng thành Viêm phổi nặng do virus xảy ra khi còn nhỏ có thể dẫn đến tắc nghẽn mãn tính các đường thở sau này Nhiễm virus có thể liên quan đến các yếu tố khác như là trọng lượng khi sinh thấp và bản thân điều này cũng là yếu tố nguy cơ của BPTNMT
• Tình trạng kinh tế xã hội
Nguy cơ xuất hiện BPTNMT không hoàn toàn liên quan đến tình trạng kinh tế
xã hội Tuy nhiên, những cư dân có tình trạng kinh tế xã hội thấp thường có tình trạng dinh dưỡng nghèo nàn, cũng như môi trường sống ẩm thấp và bị ô nhiễm, do vậy tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhiễm khuẩn hô hấp và xuất hiện BPTNMT [5], [6], [10]
1.4.2 Các yếu tố liên quan đến cơ địa
• Yếu tố gen
Nhiều nghiên cứu cho thấy BPTNMT tăng lên trong những gia đình có tiền sử mắc bệnh, yếu tố nguy cơ gen được biết rõ nhất là thiếu hụt di truyền α1-antitrypsin
Trang 13BPTNMT
• Sự phát triển của phổi
Sự phát triển của phổi có liên quan đến quá trình phát triển ở bào thai, trọng lượng khi sinh và các phơi nhiễm trong thời niên thiếu Nếu chức năng phổi của một
cá thể khi trưởng thành không đạt được mức bình thường thì những cá thể này có nguy
cơ sau này dễ bị BPTNMT
• Giới tính
Người ta thấy rằng tỷ lệ mắc BPTNMT của nam giới cao hơn nữ giới liên quan tới hút thuốc lá Nhưng những năm trở lại đây tỷ lệ mắc BPTNMT ở nữ ngày càng tăng Sự khác nhau về giới trong BPTNMT là kết quả của sự tương tác về gen giới tính
và sự khác biệt giới tính về văn hoá xã hội trong thời kỳ niên thiếu, dậy thì và trưởng thành Sự khác biệt về giới tính trong chức năng sinh lý của phổi và đáp ứng của hệ miễn dịch ảnh hưởng đến BPTNMT Ngày càng có nhiều bằng chứng rằng những hormon giới tính ảnh hưởng đến sự phản ứng của đường thở trong suốt cả cuộc đời Ngoài ra sự khác biệt này còn liên quan đến sự khác nhau ở mức độ phơi nhiễm và các loại yếu tố phơi nhiễm khác như khói thuốc lá, nghề nghiệp và ô nhiễm môi trường
và thường giới nữ có nhiều rủi ro hơn nên cần lưu ý hơn nhất là ô nhiễm trong nhà [5], [6], [10]
1.5 Triệu chứng
1.5.1 Triệu chứng lâm sàng
Viêm phế quản mạn tính là bệnh gặp ở người có tuổi (50 tuổi), phần lớn là bệnh của nam giới có nghiện thuốc lá, thuốc lào Bệnh bắt đầu từ lúc nào khó xác định, khi bệnh đã rõ ràng thường có các triệu chứng sau:
- Ho và khạc đờm: thường ho và khạc đờm về buổi sáng, đờm nhầy, trong, dính hoặc có màu xanh đục, vàng đục như mủ, lượng đờm trong 24 giờ khoảng Footer Page 13 of 258
Trang 14200ml Mỗi đợt ho và khạc đờm kéo dài khoảng 3 tuần lễ, thường vào những tháng mùa đông, đầu mùa thu
- Đợt cấp của viêm phế quản mạn tính: thỉnh thoảng bệnh lại vượt lên một đợt cấp do bội nhiễm, trong đợt cấp gặp những triệu chứng sau:
+ Ho khạc đờm có mủ
+ Khó thở giống như cơn hen phế quản + Sốt, ít khi sốt cao
+ Nghe phổi: Có ran rít, ran ngáy, ran ẩm
Bệnh nhân dễ bị tử vong trong những đợt cấp do suy hô hấp cấp [6], [11]
- Xét nghiệm đờm: tìm vi khuẩn gây bệnh, chú ý tìm BK
- Thăm dò chức năng hô hấp: Thường thấy giảm dung tích sống [6], [10], [11]
1.6 Tiến triển và biến chứng
- Bắt đầu bệnh rất nhẹ, bệnh nhân không để ý vì không ảnh hưởng đến lao động
và sinh hoạt Bệnh tiến triển từ từ trong khoảng 5-10-20 năm Trong quá trình tiến triển có biến chứng sau:
+ Bội nhiễm phổi: Viêm phổi, áp xe phổi, lao phổi + Giãn phế nang
+ Suy hô hấp cấp, + Suy tim phải (tâm phế mạn tính) [5], [6], [10], [11]
1.7 Điều trị
1.7.1 Điều trị BPTNMT giai đoạn ổn định
• Loại bỏ các yếu tố nguy cơ
- Thuốc lá: là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây BPTNMT, cần ngăn ngừa cả hút thuốc lá chủ động và thụ động
- Ô nhiễm không khí: khói, bụi nghề nghiệp, bụi nhà, khói bếp Bệnh nhân cần tránh tiếp xúc với những nghề có mật độ khói bụi cao Cần sắp xếp môi trường trong
Trang 15kỹ năng dùng thuốc đúng Chủ đề của giáo dục bao gồm:
- Bỏ thuốc lá, thuốc lào
- Những thông tin cơ bản về BPTNMT
- Mục tiêu điều trị chung và các kỹ năng tự quản lý, chiến lược giúp hạn chế tối đa khó thở (như kỹ thuật thở và các bài tập), khi nào thì cần tìm kiếm sự giúp đỡ của bác sỹ,
tự quản lý và đưa ra quyết định trong tình trạng nặng
• Điều trị thuốc
- Các thuốc giăn phế quản
- Glucocorticosteroid
- Điều trị các thuốc khác: Vắc xin cúm, thuốc long đờm…
• Điều trị không dùng thuốc
- Phục hồi chức năng hô hấp: tập thở hiệu quả
- Điều trị với oxy dài hạn tại nhà
• Cải thiện tình trạng dinh dưỡng: Ăn nhiều bữa nhỏ, thêm các chất dinh dưỡng lỏng, tránh thức ăn làm đầy bụng
• Điều trị phẫu thuật
- Cắt bỏ kén khí
- Phẫu thuật làm giảm thể tích phổi
- Ghép phổi [4], [5], [6], [10]
1.7.2 Điều trị đợt cấp BPTNMT
• Xác định nguyên nhân gây đợt cấp
- Nhiễm khuẩn hô hấp: Viêm phế quản cấp, viêm phổi do virus hoặc vi khuẩn
- Các bệnh lý hô hấp: Tràn khí màng phổi, tắc động mạch phổi
- Các bệnh lý khác: Suy tim trái, rối loạn nhĩ thất Các rối loạn chuyển hoá, nhiễm khuẩn phủ tạng khác
Footer Page 15 of 258
Trang 16- Do dùng thuốc an thần, chẹn beta (thuốc nhỏ mắt…), dùng oxy ko đúng (lưu lượng cao), dùng thuốc ko đúng hoặc dừng thuốc đột ngột
- Các nguyên nhân khác: Mệt cơ hô hấp, thay đổi thời tíêt
• Điều trị
- Kháng sinh trong đợt bội nhiễm
- Thuốc giãn phế quản
- Corticoide uống hoặc truyền tĩnh mạch
- Điều trị Oxy
- Thuốc long đờm nên dùng ở bệnh nhân có đờm nhiều
- Phục hồi chức năng hô hấp, dẫn lưu tư thế
- Những trường hợp tiến triển nặng với suy hô hấp cấp nhiễm toan hô hấp thì phải tiến hành đặt ống nội khí quản, mở khí quản nếu phải thông khí nhân tạo dài ngày [4], [5], [6], [10]
1.8 Một số nội dung giáo dục sức khỏe cụ thể cho bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Trang 18Hình 1.3 Ngậm kín miệng ống trước khi xịt thuốc
1.8.3 Tái khám
Bệnh nhân cần tái khám theo hẹn của bác sỹ ngay cả khi không có triệu chứng nặng của bệnh Thông thường các bệnh nhân theo chương trình các câu lạc bộ bệnh nhân COPD thường được kê đơn dùng thuốc trong 1 hoặc 2 tháng Bệnh nhân sẽ phải quay trở lại khám khi hết thuốc để được kê đơn mới
Bệnh nhân cần đi khám ngay nếu thấy các dấu hiệu sau:
- Thấy khó thở nhiều
- Đi lại thấy nhanh mệt hơn trước
- Nhịp tim rất nhanh hoặc bất thường
- Dùng thuốc theo đơn của bác sỹ không có tác dụng hoặc tác dụng không kéo dài [5], [11]
Trang 1911
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
• Bệnh nhân BPTNMT đến tái khám tại phòng khám hô hấp bệnh viện Thanh Nhàn
• Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
• Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
• Bệnh nhân không thể hợp tác vì các lý do:
- Đến tái khám vì bệnh nặng lên
- Không có khả năng giao tiếp
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
• Địa điểm: Phòng khám hô hấp thuộc khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện Thanh Nhàn
• Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 10 năm 2015
2.3 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Do thời gian nghiên cứu ngắn, chúng tôi chọn mẫu toàn bộ các bệnh nhân đến khám trong thời gian nghiên cứu Chúng tôi đã lựa chọn được 56 bệnh nhân phù hợp với tiêu chuẩn nghiên cứu
2.5 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân BPTNMT tái khám tại phòng khám hô hấp bệnh viện Thanh Nhàn Các bệnh nhân hầu hết đều tham gia Câu lạc bộ Hen và COPD của bệnh viện Thanh Nhàn Khi tham gia câu lạc bộ, bệnh nhân được dùng thuốc dự phòng theo qui định của Bảo hiểm y tế và sinh hoạt câu lạc bộ 1 năm 2 lần Loại bình
Footer Page 19 of 258
Trang 20xịt mà bệnh nhân dùng phụ thuộc vào đợt thuốc mà Bệnh viện được cấp tại thời điểm khám
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
• Thiết kế bộ câu hỏi theo mục tiêu nghiên cứu Bộ câu hỏi gồm 2 phần: phần đặc điểm chung của đối tượng và phần kiến thức
+ Phần đặc điểm chung bao gồm các câu hỏi điều tra về các thông tin: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi ở và các câu hỏi về nguồn cung cấp thông tin cho bệnh nhân
+ Phần chuyên môn gồm 2 phần:
Kiến thức chung điều trị BPTNMT trong giai đoạn ổn định (Tên bệnh, khả năng chữa khỏi hoàn toàn, các việc giúp hạn chế tiến triển của bệnh, việc đi khám theo hẹn, thời điểm cần đi khám trước hẹn)
Kiến thức về cách dùng thuốc dự phòng (các bước sử dụng bình xịt thuốc dự phòng, việc thay đổi liều khi tình trạng bệnh nặng lên)
2.6.2 Tiến hành thu thập số liệu
Tiếp cận bệnh nhân khi bệnh nhân đến khám tại phòng khám
Thông báo mục đích của nghiên cứu với bệnh nhân
Chỉ tiến hành phát vấn khi bệnh nhân đồng ý
Điều tra bằng phương pháp phát vấn Người điều tra dùng bộ câu hỏi, đọc câu hỏi để bệnh nhân trả lời
Sau khi bệnh nhân trả lời, nhắc lại một lần câu trả lời của bệnh nhân rồi ghi lại kết quả
Trang 2113
2.6.3 Các biến số nghiên cứu
thu thập
I Thông tin chung về nhân khẩu học
1 Giới tính Giới tính của ĐTNC Nhị phân Phỏng vấn
Các bậc học (cấp học)
từ giáo dục mầm non đến tiểu học, trung học
cơ sở, trung học phổ thông, đại học
Phân loại Phỏng vấn
5 Nghề nghiệp
Là công việc bệnh nhân làm tính đến lúc về hưu
Danh mục Phỏng vấn
II Thông tin về bệnh
6 Số năm bị bệnh
Thời gian tính từ lúc bệnh nhân phát hiện mình mắc bệnh đến nay
Phân loại Phỏng vấn
7
Hướng dẫn cách dùng bình xịt thuốc
Mức độ kỹ càng BN được nhân viên y tế hướng dẫn cách sử dụng bình xịt thuốc
Phân loại Phỏng vấn
8 Kênh thông tin sức khỏe
Nơi bệnh nhân cập nhật các thông tin về bệnh COPD
Danh mục Phỏng vấn
Footer Page 21 of 258
Trang 22III Kiến thức của bệnh nhân
6 Kiến thức về tên bệnh
Bệnh nhân có biết đúng tên bệnh mà mình mắc phải không
Phân loại Phỏng vấn
7
Kiến thức về khả năng khỏi bệnh
Bệnh nhân biết bệnh có thể chữa khỏi hoặc không khỏi
Phân loại Phỏng vấn
8
Kiến thức về hạn chế tiến triển của bệnh
Là các việc làm đúng
để hạn chế tiến triển của bệnh
Phân loại Phỏng vấn
9
Kiến thức của bệnh nhân về việc tái khám theo hẹn
Bệnh nhân có biết cần phải khám lại theo hẹn của bác sĩ không
Phân loại Phỏng vấn
10
Kiến thức về thời điểm cần
đi khám trước lịch hẹn của bác sĩ
Bệnh nhân biết đi khám khi có các dấu hiệu bệnh nặng lên trước lịch hẹn của bác sĩ không
Phân loại Phỏng vấn
11
Kiến thức về các bước sử dụng bình xịt định liều
Bệnh nhân có nêu được các bước sử dụng bình xịt định liều không
Phân loại Phỏng vấn
12
Kiến thức của bệnh nhân về thay đổi liều thuốc xịt nếu bệnh nặng lên
Bệnh nhân có tự ý thay đổi liều thuốc không Phân loại Phỏng vấn
Trang 2315
2.7 Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.0 và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu
• Nghiên cứu không ảnh hưởng đến quá trình điều trị
• Các thông tin nhạy cảm về bệnh tật được giữ bí mật, mọi thông tin thu thập
được do sự hợp tác của người tham gia và người làm đề tài
• Nghiên cứu này chỉ nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân,
không nhằm mục đích nào khác
Footer Page 23 of 258
Trang 24CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin về nhân khẩu học (N = 56)
Trang 2517
Nhận xét: Bảng 1 cho thấy, đa số đối tượng nghiên cứu là trên 60 tuổi trong đó nhóm
tuổi từ 60 – 70 chiếm tỷ lệ 44,6%, nhóm tuổi trên 70 chiếm tỷ lệ 37,5% Giới tính của đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nam với tỷ lệ 76,8% Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều đã được đi học, trong đó tỷ lệ cao nhất là học cấp 2 (42,9%) và học cấp 1 (33,9%) Nơi ở của đối tượng nghiên cứu đa số là ở thành thị (62,5%) và nghề nghiệp chủ yếu là cán bộ hưu trí (44,6%)
Nhận xét: Bảng 2 cho thấy, đa số đối tượng nghiên cứu bị bệnh trong khoảng thời
gian từ 5 – 10 năm với tỷ lệ là 75% Khi đi khám, hầu như tất cả các đối tượng nghiên cứu đều đã được hướng dẫn kỹ (92,9%) Kênh thông tin chính để mà các đối tượng nghiên cứu được tiếp cận là ti vi (53,6%) và tư vấn của y tế (53,6%)
Footer Page 25 of 258