1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015

47 689 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ DỰ Mã sinh viên : B00392 KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHƯƠ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE

BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG

Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ DỰ

Mã sinh viên : B00392

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHƯƠNG PHÁP Ủ

ẤM DA KỀ DA CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON ĐẺ NON TẠI KHOA

SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2015

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP HỆ CỬ NHÂN VLVH

Hà Nội – Tháng 10 năm 2015

Footer Page 1 of 258

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE

BỘ MÔN ĐIỀU DƯỠNG

Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ DỰ

Mã sinh viên : B00392

KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHƯƠNG PHÁP Ủ

ẤM DA KỀ DA CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON ĐẺ NON TẠI KHOA

SƠ SINH BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2015

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP HỆ CỬ NHÂN VLVH

Người HDKH: Ths BS Nguyễn Thị Thái Hà

Trang 3

trong 3 năm học tại trường cũng như trong quá trình hoàn thành khóa luận này

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cám ơn

Ths BS Nguyễn Thị Thái Hà - người thầy hướng dẫn đã dành nhiều thời gian tận

tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành

khóa luận của mình

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các cô chú và các anh chị nhân viên của Bệnh viện Nhi Trung ương đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong quá trình lấy

số liệu phục vụ cho khóa luận này

Tôi luôn cám ơn sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của bạn bè trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống

Đặc biệt, con cám ơn gia đình đã luôn dành cho con sự yêu thương và những điều kiện tốt nhất để con yên tâm học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại

Trang 4

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi :

- Phòng Đào tạo đại học – Trường Đại học Thăng Long

- Khoa Điều dưỡng Trường Đại học Thăng Long

- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp, năm học 2015 – 2016

Em xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của em, toàn bộ số liệu được thu thập và xử lý một cách khách quan, trung thực và chưa được công bố

trong bất kỳ một tài liệu nào khác

Hà Nội, ngày 09 tháng 08 năm 2015

Sinh viên

Trần Thị Dự

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

JAHR KMC MDGs TCYTTG

WHO

Joint Annual Health Review Kangaroo Mother Care Millenium Development Goals

Tổ chức y tế thế giới

World Health Organization

Footer Page 5 of 258

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số vấn đề về chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh 3

1.1.1 Nội dung chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh 3

1.1.2 Các can thiệp hữu hiệu chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh 3

1.1.3 Tình hình chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh ở Việt Nam 4

1.2 Giới thiệu về phương pháp ủ ấm da kề da 6

1.2.1 Tầm quan trọng của việc ủ ấm trẻ sơ sinh 6

1.2.2 Khái niệm về phương pháp ủ ấm da kề da (skin to skin contact) cho trẻ sơ sinh 6

1.2.3 Phương pháp ủ ấm da kề da cho trẻ 9

1.3 Thực hành phương pháp ủ ấm da kề da 9

1.3.1 Trên thế giới 9

1.3.2 Tại Việt Nam 10

1.4 Tình hình nghiên cứu về phương pháp ủ ấm da kề da 11

1.4.1 Trên thế giới 11

1.4.2 Tại Việt Nam 11

CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 12

2.2 Thiết kế nghiên cứu 12

2.3 Đối tượng nghiên cứu 12

2.3.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 12

2.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ 12

Trang 7

2.4.1 Cỡ mẫu 12

2.4.2 Cách chọn mẫu 13

2.5 Biến số và chỉ số 13

2.6 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 14

2.7 Sai số và cách khống chế sai số 14

2.8 Xử lý và phân tích số liệu 14

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 14

CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15

3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 15

3.1.1 Một số thông tin chung của bà mẹ 15

3.1.2 Một số thông tin chung của trẻ sơ sinh 16

3.2 Kiến thức, thực hành phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ 17

3.2.1 Kiến thức về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ 17

3.2.2 Thực hành phương pháp ủ ấm da kề da 19

3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành da kề da 20

3.3.1 Liên quan giữa tuổi mẹ với thực hành da kề da 20

3.3.2 Liên quan giữa trình độ học vấn mẹ với thực hành da kề da 20

3.3.3 Liên quan giữa trình độ học vấn mẹ với thực hành da kề da 20

3.3.4 Liên quan giữa một số yếu tố của trẻ sơ sinh đến thực hành da kề da 21

3.3.5 Phân tích đa biến một số yếu ảnh hưởng đến thực hành da kề da 21

CHƯƠNG 4 : BÀN LUẬN 23

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 23

4.1.1 Đặc điểm của bà mẹ 23

4.1.2 Một số đặc điểm của trẻ sơ sinh 23

4.2 Kiến thức - thực hành phương pháp da kề da của các bà mẹ 24

Footer Page 7 of 258

Trang 8

4.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành da kề da của đối tượng nghiên cứu 26

KẾT LUẬN 29

KHUYẾN NGHỊ 30

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

PHỤ LỤC 35

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Phương pháp ủ ấm da kề da 9

Footer Page 9 of 258

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Nhóm tuổi của các bà mẹ 15

Bảng 3.2 Nghề nghiệp của các bà mẹ 16

Bảng 3.3 Một số đặc trưng cá nhân của trẻ sơ sinh 16

Bảng 3.4 Kiến thức của bà mẹ về các phương pháp giữ ấm trẻ sau sinh* 17

Bảng 3.5 Tỉ lệ bà mẹ biết phương pháp ủ ấm da kề da 18

Bảng 3.6 Tỉ lệ bà mẹ thực hành phương pháp da kề da cho con 19

Bảng 3.7 Liên quan giữa tuổi mẹ với thực hành da kề da 20

Bảng 3.8 Liên quan giữa trình độ học vấn mẹ với thực hành da kề da 20

Bảng 3.9 Liên quan giữa nghề nghiệp mẹ với thực hành da kề da 20

Bảng 3.10 Liên quan giữa một số yếu tố của trẻ sơ sinh 21

đến thực hành da kề da 21

Bảng 3.11 Phân tích đa biến một số yếu tố của mẹ và trẻ có ảnh hưởng đến thực hành da kề da 21

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Trình độ học vấn của các bà mẹ 15

Biểu đồ 3.2 Kiến thức của bà mẹ về sự cần thiết phải giữ ấm cho trẻ sau sinh 17

Biểu đồ 3.3 Kiến thức của bà mẹ về lợi ích của phương pháp da kề da 18

Biểu đồ 3.4 Nguồn tiếp cận thông tin của bà mẹ về lợi ích của 19

phương pháp da kề da 19

Footer Page 11 of 258

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăm sóc sức khỏe sơ sinh hiện đang là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của các quốc gia trên toàn thế giới Trong những năm qua, tỉ lệ tử vong trẻ em nói chung đã giảm mạnh nhưng tỉ lệ tử vong sơ sinh không giảm hoặc giảm không đáng

kể

Mỗi năm ước tính có khoảng 2,955 triệu trẻ sơ sinh tử vong trên thế giới trước khi chúng được 1 tháng tuổi Gần 43% tổng số tử vong trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới

là của trẻ sơ sinh, trẻ trong vòng 28 ngày đầu đời hoặc thời kỳ sơ sinh ¾ của tất cả

tử vong sơ sinh xảy ra trong tuần đầu của cuộc đời chúng [5]

Việt Nam đã có tiến bộ nổi bật trong việc làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ em và đang đi đúng hướng để đạt các chỉ tiêu của MDG4 Trên toàn quốc, tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi đã giảm từ 53/1.000 trẻ sinh sống năm 1990 xuống 16/1.000 trẻ sinh sống năm 2011 Trong cùng thời gian, tử vong trẻ sơ sinh giảm từ 44 xuống 14/1.000 trẻ sinh sống [32] Mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể, nhưng phần lớn số trẻ tử vong dưới 1 tuổi vẫn xảy ra ở tháng đầu tiên, chiếm gần 70% các ca tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi và 52% các ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi (JAHR 2010) [2] Nguyên nhân của hầu hết tử vong sơ sinh là do đẻ non, các biến chứng liên quan đến đẻ (ngạt khi sinh hoặc không thở khi sinh), và nhiễm trùng [5]

Mặc dù hậu quả do bệnh tật và tử vong sơ sinh rất nặng nề nhưng các can thiệp sẵn có trong phạm vi các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em có thể cứu sống sinh mạng của hầu hết trẻ sơ sinh [11] Trong đó, phương pháp ủ ấm

da kề da là can thiệp đơn giản, dễ thực hiện góp phần nâng cao sức khỏe và giảm tỉ

lệ tử vong ở trẻ, đặc biệt là ở những trẻ sinh non

Ngoài việc điều chỉnh thân nhiệt, phương pháp ủ ấm da kề da giữa mẹ và trẻ

sơ sinh còn có nhiều tác dụng khác như: tăng tỉ lệ bú mẹ sớm và bú hoàn toàn, tăng tình cảm mẹ con, phát triển nhận thức, giảm stress, giảm nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh [6], [17]

Mặc dù đơn giản và hiệu quả như vậy nhưng không phải những can thiệp này được thực hiện thường xuyên và rộng khắp ở nhiều nước trên thế giới Sự chậm trễ thực hành ở các nước phát triển là do sự sẵn có của các phương tiện và kỹ thuật chăm sóc tiên tiến Ở các nước đang phát triển, còn thiếu các nghiên cứu chứng

Trang 13

2

minh thuận lợi của ủ ấm da kề da so với các phương pháp khác Ở Việt Nam, phương pháp ủ ấm da kề da cho trẻ sơ sinh ít được đề cập mặc dù nó đã được áp dụng từ đầu những năm 90 ở nhiều nước khác trên thế giới [21]

Muốn thúc đẩy thực hành ủ ấm da kề da đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa hiểu biết về lợi ích, tác dụng của hai phương pháp này, cũng như sự biến chuyển lớn về kiến thức -thái độ- thực hành của bà mẹ và cán bộ y tế hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sơ sinh [8] Để góp phần cung cấp thông tin nhằm cải thiện sức

khỏe trẻ sơ sinh, tôi thực hiện đề tài “Khảo sát kiến thức, thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi trung ương năm 2015” nhằm mục tiêu:

1 Mô tả kiến thức, thực hành phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi trung ương năm 2015

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến thực hành phương pháp ủ ấm da kề da của các

bà mẹ có con đẻ non tại Khoa Sơ sinh bệnh viện Nhi trung ương năm 2015

Footer Page 13 of 258

Trang 14

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số vấn đề về chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh

1.1.1 Nội dung chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh

Thời kỳ sơ sinh được tính từ khi trẻ ra đời cho tới hết tuần thứ 4 sau đẻ Đối với trẻ sơ sinh khỏe mạnh, chăm sóc thiết yếu bao gồm: chăm sóc trước, trong và sau khi sinh (trong ngày đầu tiên, những ngày tiếp theo cho đến 28 ngày tuổi) Ngoài ra, còn những can thiệp đặc biệt cần thiết đối với trẻ ốm và trẻ thiếu cân Mục đích của chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh là giúp trẻ khỏe mạnh bằng cách đáp ứng mọi nhu cầu cơ bản về sức khỏe của trẻ (đủ ấm, thở bình thường, cho trẻ ăn, phòng chống nhiễm khuẩn), phát hiện các dấu hiệu bất thường và xử trí kịp thời, hướng dẫn bà mẹ và gia đình về cách chăm sóc trẻ sơ sinh và cách nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm

1.1.2 Các can thiệp hữu hiệu chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh

1.1.2.1 Chăm sóc trước đẻ

Tiêm phòng uốn ván

Tư vấn dinh dưỡng, chuẩn bị cho cuộc đẻ và nuôi con bằng sữa mẹ

Bổ sung sắt, iod, folat Phát hiện nguy cơ chính gây đẻ khó Điều trị giang mai và sốt rét*

Tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện *

1.1.2.2 Trong khi đẻ và 1-2 giờ đầu sau đẻ:

Đẻ sạch và an toàn Giữ ấm

Bú mẹ ngay sau đẻ và bú mẹ hoàn toàn Chăm sóc rốn và mắt

Cấp cứu tai biến sản khoa Dùng kháng sinh trong trường hợp vỡ ối sớm*

Hồi sức sơ sinh*

Xử lý các biến chứng của trẻ sơ sinh*

Phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con*

Trang 15

4

1.1.2.3 Chăm sóc trẻ sơ sinh 1-2 giờ đầu đến 4 tuần sau đẻ:

Bú mẹ hoàn toàn Giữ ấm

Chăm sóc vệ sinh và rốn Phát hiện những dấu hiệu nguy hiểm và xử lý kịp thời

Tư vấn về khoảng cách giữa các lần sinh sau Chăm sóc đặc biệt cho trẻ nhẹ cân *

Phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con*

Xử lý các biến chứng: nhiễm khuẩn nặng, vàng da nặng, trẻ đẻ quá nhẹ cân* Theo dõi các trường hợp có nhu cầu chăm sóc đặc biệt [11]

Chú ý: Tất cả các can thiệp trên thực hiện cho mọi bà mẹ và trẻ sơ sinh, riêng

các can thiệp có dấu * chỉ dành cho các trường hợp có bệnh nặng hoặc biến chứng Với trẻ bình thường, nguyên tắc cơ bản của xử trí ban đầu là ủ ấm (da kề da) và cho trẻ bú sữa mẹ sớm nhằm đảm bảo thân nhiệt và dinh dưỡng của trẻ [47]

1.1.3 Tình hình chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh ở Việt Nam

1.1.3.1 Xu hướng tử vong sơ sinh

Thực trạng về tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh, trẻ dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi ở Việt Nam chưa được rõ ràng lắm Tuy nhiên số liệu sẵn có cho thấy tỉ lệ tử vong trẻ dưới

5 tuổi giảm đáng kể trong vòng 30 năm qua, từ 55/1000 trong thập kỷ 70 xuống còn 30/1000 vào những năm đầu của thế kỷ này, trong khi đó tử vong sơ sinh hầu như không thay đổi và ở mức 15/1000 [29] Phân tích gần đây về xu hướng tử vong ở trẻ

em Việt Nam do Ngân hàng Thế giới tiến hành trong năm 2003 kết luận rằng tỉ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi dường như đã giảm xuống con số 30/1000 trẻ đẻ sống vào giữa những năm 90, và con số này giờ có thể chỉ trong khoảng 25/1000 trẻ đẻ sống hay thậm chí thấp hơn nữa [30] Theo Điều tra Quốc gia Dân số và Sức khỏe 2002, phỏng vấn hơn 5600 phụ nữ đã có gia đình thì ước tình tỉ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi là 18 % , tỉ lệ tử vong sơ sinh là 12/1000 trẻ đẻ sống [30] Một nghiên cứu điều tra hộ gia đình tại huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây thuộc miền Bắc nước ta cũng cho thấy

tử vong dưới 5 tuổi giảm rõ rệt và tử vong sơ sinh không giảm [24]

Có sự khác biệt đáng kể về tử vong trẻ em, trẻ dưới 1 tuổi và sơ sinh giữa các vùng khác nhau Tỉ lệ tử vong sơ sinh, trẻ dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi ở nông thôn

Footer Page 15 of 258

Trang 16

cao gấp 2 lần thành thị Tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi ở các nhóm dân tộc thiểu số cao gấp 2-3 lần so với dân tộc Kinh, trong khi dân số của tất cả các nhóm dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 15% dân số Việt Nam Tỉ lệ tử vong trẻ em cao nhất ở vùng núi phía Bắc, sau đó là Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên [30]

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, tử vong trẻ em Việt Nam cũng khác nhau theo hoàn cảnh kinh tế xã hội Nhóm có thu nhập cao nhất có tỉ lệ tử vong thấp nhất (13%), ngược lại nhóm rất nghèo có tỉ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi

là khoảng >50% [43]

Mô hình bệnh tật trẻ sơ sinh và tử vong sơ sinh: theo một điều tra tiến hành ở 7 bệnh viện Nhi và 10 bệnh viện tỉnh cho thấy trẻ sơ sinh nhập viện chủ yếu do viêm phổi, đẻ non, nhẹ thấp cân, vàng da, nhiễm khuẩn tại chỗ và dị tật Nguyên nhân tử vong sơ sinh chủ yếu là: nhiễm khuẩn (viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết) 24%; đẻ non, nhẹ cân 23%; ngạt 15% và dị tật 13% [25]

1.1.3.2 Chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh

Chăm sóc trước khi sinh: hơn 4/5 số trẻ sơ sinh ở Việt Nam được hưởng dịch

vụ chăm sóc trước sinh vì bà mẹ đã được thăm khám ít nhất một lần trong thời gian mang thai Theo Điều tra Dân số và Sức khỏe Việt Nam năm 2002, tỉ lệ này đã tăng

từ 71% năm 1997 lên 87% vào năm 2002 [31] Có 13-18% số bà mẹ ở Việt Nam không nhận được sự chăm sóc nào trước sinh, ở một số vùng con số này còn cao hơn, lên tới 25% hoặc hơn Chất lượng chăm sóc trước sinh không tương xứng với

tỉ lệ các bà mẹ được chăm sóc trước sinh Chỉ 53% phụ nữ cho biết đã được khám thai 3 lần, 72% được tiêm phòng hai mũi uốn ván và 51% được uống viên sắt bổ sung [30]

Chăm sóc trong sinh: Khoảng 3/4 số trường hợp sinh con được thực hiện tại

cơ sở y tế [30] Hơn 4 trong 5 số trẻ sơ sinh được cán bộ y tế được đào tạo đỡ Tuy nhiên chất lượng chăm sóc trong khi sinh cần được xem xét trong nhiều trường hợp Theo khảo sát tại một số bệnh viện do Cứu trợ Trẻ em Mỹ thực hiện năm 2002 chỉ

có 2 trong số 5 cơ sở sản khoa trong cả nước với hơn 10.000 trường hợp đẻ mỗi năm có các nhân viên được đào tạo thường xuyên về hồi sức trẻ sơ sinh

Chăm sóc sau sinh: Bú mẹ được khuyến khích và chấp nhận rộng rãi ở Việt Nam, ước tính có tới 98% trẻ nhỏ được bú mẹ Tỉ lệ này khác nhau theo từng vùng

Trang 17

6

địa lý, dân tộc, trình độ văn hóa của bà mẹ, nơi đẻ nhưng không đáng kể, nơi ít nhất cũng có 90% trẻ được bú mẹ [4] Tuy nhiên, bú mẹ hoàn toàn vẫn chưa được chấp nhận và thực hành rộng rãi ở Việt Nam, thực tế tỉ lệ này chỉ đạt 7,7% [3] Theo điều tra Dân số và Sức khỏe 2002, hiện chỉ có 30,8% trẻ < 2 tháng tuổi được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ, 8% số trẻ ở tháng thứ 4- 5 được bú mẹ hoàn toàn

1.2 Giới thiệu về phương pháp ủ ấm da kề da

1.2.1 Tầm quan trọng của việc ủ ấm trẻ sơ sinh

Do khả năng điều nhiệt của trẻ sơ sinh kém hơn rất nhiều so với người lớn nên trẻ rất dễ mất nhiệt, đặc biệt là mất nhiệt ở đầu Nếu không giữ ấm, trẻ sẽ bị mất nhiệt ở mọi điều kiện thời tiết, kể cả thời tiết ấm Bình thường, nhiệt độ của trẻ sơ sinh từ 36,5-37,50C Dưới 36,50C gọi là hạ nhiệt Hạ nhiệt gồm các mức như sau: từ 36- 36,50C hạ nhiệt nhẹ (stress lạnh); 32 - 360C hạ nhiệt vừa; < 320C hạ nhiệt nghiêm trọng [45] Một trẻ sơ sinh nếu không được ủ ấm trong nhiệt độ môi trường

là 230C sẽ bị mất nhiệt tương đương với một người lớn không mặc quần áo ở nhiệt

độ 00C và sự mất nhiệt càng lớn ở trẻ thấp cân, trẻ không được lau khô và quấn chăn ủ ấm [19]

1.2.2 Khái niệm về phương pháp ủ ấm da kề da (skin to skin contact) cho trẻ

sơ sinh

Một số nhà nghiên cứu gọi da kề da là Kangaroo mother care (chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru) hoặc Kangaroo care (chăm sóc Căng-gu-ru) nhưng khái niệm này không hoàn toàn giống nhau Tại Hội thảo Quốc tế đầu tiên tổ chức tại Trieste, Italy

1996, có tới hơn 13 khái niệm khác nhau về chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru nhưng các nhà nghiên cứu nhất trí định nghĩa chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru gồm 3 nội dung chính: tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con (skin-to-skin contact); cho trẻ bú sữa mẹ sớm và hoàn toàn; nhận ra hoặc phản ứng sớm với bệnh tật Khái niệm chăm sóc Căng-gu-ru khi đó chỉ đề cập đến can thiệp tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con trong

bệnh viện [10]

Ở Mỹ, thường sử dụng khái niệm chăm sóc Căng-gu-ru với định nghĩa là

“tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con trong bệnh viện” Chăm sóc Căng-gu-ru thường bắt đầu muộn hơn và ở trẻ sinh non đã ổn định và được sử dụng kết hợp

Footer Page 17 of 258

Trang 18

với các kỹ thuật chăm sóc khác [7] Các quốc gia châu Âu áp dụng chăm sóc Căng-gu-ru bao gồm tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con vài giờ mỗi ngày [42] Một số tài liệu định nghĩa phương pháp da kề da là “ tiếp xúc da kề da trực tiếp giữa mẹ và con càng sớm càng tốt sau khi sinh (<24 giờ) [46]; hoặc “giữ ấm trẻ

sơ sinh bằng cách đặt trẻ trần hoặc quấn một lớp tã mỏng trực tiếp lên da (ngực hoặc bụng) của mẹ (hoặc một người lớn khác)” Phương pháp da kề da (skin-to-skin contact) được sử dụng trong nghiên cứu này với định nghĩa là: “Tiếp xúc da kề

da trực tiếp giữa mẹ và con trong vòng 30 phút sau khi sinh” [37]

Can thiệp chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru đầy đủ được nhóm bác sĩ nhi khoa Rey

và Martinez áp dụng lần đầu từ năm 1979 ở Bogota, Columbia để khắc phục tình trạng bệnh tật và tử vong cao ở trẻ sinh non và nhẹ cân do thiếu lồng ấp và nhiễm khuẩn bệnh viện nghiêm trọng Kết quả là tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh ở Bogota đã giảm

từ 70% xuống còn 30% [17] Nhờ tính ưu việt, kỹ thuật này được phát triển rộng khắp ở Columbia cũng như nhiều nước đang phát triển như một phương pháp can thiệp rẻ tiền thay thế cho liệu pháp chăm sóc trẻ nhẹ cân thông thường với rất nhiều

ưu điểm: điều chỉnh nhiệt độ, kéo dài thời gian bú mẹ, thúc đẩy mối tương tác mẹ con, giảm tỉ lệ tử vong [37] Được nghiên cứu sâu kể từ năm 1983, phần lớn các nghiên cứu đều chứng minh chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru có tác động lớn và tích cực tới mẹ và trẻ, một số cho rằng không có sự thay đổi nhưng không nghiên cứu nào cho biết phương pháp này có tác động xấu tới mẹ hoặc con [8]

Sau đó, chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru được các chuyên gia khuyến cáo cần áp dụng thích hợp cho từng trẻ, từng giai đoạn phát triển và phù hợp với điều kiện ở từng cơ sở y tế hoặc khu vực Là một nội dung của chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru, phương pháp da ủ ấm kề da giữa mẹ và con (skin-to- skin contact) tốt nhất nên thực hiện ngay sau khi sinh nhưng nó vẫn có tác dụng vào bất kỳ thời gian nào và với thời gian tiếp xúc ngắn vẫn mang lại lợi ích cho trẻ [6] Các lợi ích bao gồm:

Kiểm soát thân nhiệt và chuyển hóa: kiểm soát thân nhiệt tốt, khôi phục nhiệt

độ bình thường nhanh hơn đối với những trẻ bị lạnh, kể cả trẻ sinh non Các quan sát cho thấy nhịp tim phổi, sự thở, giấc ngủ và hành vi của trẻ tiếp xúc da kề da tương

tự hoặc tốt hơn so với trẻ bị tách mẹ [19] Sự tương tác giữa mẹ và con còn có nhiều hiệu quả khác nữa như làm giảm lượng cortisol - là chỉ số báo hiệu stress trong

Trang 19

8

nước bọt của trẻ, giảm đau, giảm khóc, giúp trẻ sớm thích nghi với môi trường mới sau sinh, tác động tốt tới môi trường gia đình và sự phát triển nhận thức của trẻ [14], [19]

Giảm tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong: Nhiều năm trước đây, các bác sĩ cho rằng tách mẹ giúp trẻ được an toàn hơn vì trẻ ít có nguy cơ tiếp xúc với vi khuẩn từ mẹ Nhưng sau đó người ta nhận thấy tiếp xúc da kề da giúp trẻ giảm được nguy cơ mắc bệnh do vi khuẩn có hại [44] Các nghiên cứu đối chứng được thực hiện ở các nước

có thu nhập thấp cho thấy tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện và tỉ lệ tái nhập viện thấp hơn

ở trẻ được tiếp xúc da kề da Trẻ cũng không có nguy cơ bội nhiễm mới liên quan đến việc tiếp xúc da kề da với mẹ [39]

Thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ và sự tăng trưởng của trẻ: Các nghiên về hiệu quả của phương pháp da kề da đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ được thực hiện ở các nước có thu nhập thấp đều cho thấy phương pháp này làm tăng tỉ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ [15], [21] Một số nghiên cứu khác thực hiện ở các nước có thu nhập cao nơi thực hiện da kề da muộn hơn và thời gian tiếp xúc ít hơn cũng cho thấy phương pháp này có ảnh hưởng tốt đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ [22] Ở

tư thế da kề da với mẹ, trẻ dễ thở và có biểu hiện các hành vi như tiết nước bọt, tìm kiếm vú mẹ, vì vậy giúp trẻ thành công trong lần bú mẹ đầu tiên và thúc đẩy tự nhiên việc bú mẹ sau này [37] Mặc dù phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của người lớn nhưng trẻ sơ sinh vẫn có một số khả năng bẩm sinh như tìm bú vú mẹ, nên nếu được ở gần mẹ ngay sau sinh trẻ sẽ có cơ hội được bú mẹ trong vòng một giờ sau sinh nhiều hơn so với trẻ bị tách mẹ [6]

Các hiệu quả khác: Tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con còn làm tăng giải phóng oxytocin, một hormon gây co cơ tử cung, giảm nguy cơ chảy máu sau đẻ [41] Phân tích số liệu từ các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng ở Colombia, Tesier kết luận rằng cần khuyến khích thực hiện da kề da càng sớm càng tốt sau khi sinh bởi vì nó thúc đẩy mối tương tác giữa mẹ và con làm cho người mẹ cảm thấy mình có khả năng chăm sóc con hơn [40] Ngoài ra, có thể áp dụng phương pháp da kề da để làm

ấm lại đối với trẻ bị hạ nhiệt hoặc để ủ ấm cho trẻ trong khi vận chuyển [18]

Thực hiện phương pháp da kề da như thế nào? Tất cả các bà mẹ, không phân biệt độ tuổi , số con, trình độ văn hóa, phong tục tập quán và tôn giáo đều có thể

Footer Page 19 of 258

Trang 20

thực hiện da kề da nếu điều kiện sức khỏe cho phép Theo tiêu chuẩn nghiên cứu này, trẻ sơ sinh được đặt trực tiếp da kề da lên ngực hoặc bụng mẹ trong vòng 30 phút sau sinh

Từ định nghĩa về phương pháp da kề da tại Hội thảo Quốc tế lần đầu tiên 1996

ở Italy, đến 1998, đã có Hội nghị Quốc tế đầu tiên về tiếp xúc da kề da ở Baltimore,

Trang 21

10

Ngày nay, theo ước tính, chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru đã được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới như Colombia, Mexico, Braxin, Mỹ, Việt Nam, Indonesia, Lào Campuchia, Thụy Điển, Pháp với hơn 200 đơn vị chăm sóc đặc biệt trẻ sơ sinh có thực hành ủ ấm da kề da so với dưới 70 đơn vị vào những năm 1990 Riêng

ở Mỹ, có 82 đơn vị chăm sóc đặc biệt trẻ sơ sinh có thực hành da kề da Vào đầu những năm 1990, phương pháp ủ ấm da kề da được áp dụng ở Bắc Mỹ cho trẻ sinh non và sau đó được áp dụng cho trẻ sơ sinh khỏe mạnh [21]

Những biện pháp chăm sóc thiết yếu cho trẻ sơ sinh này rất đơn giản và ít tốn kém nhưng không phải lúc nào cũng được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, kể

cả ở các nước phát triển [11] Một nghiên cứu ở Anh cho thấy, can thiệp này rất khó được thực hiện vì đòi hỏi có sự biến chuyển lớn trong thực hành, qui tắc và văn hóa đối với nhiều cán bộ y tế [8] Do vậy, để thúc đẩy thực hiện tiếp xúc da kề da giữa

mẹ và con, cần nêu ra lợi ích của phương pháp cho bà mẹ, trẻ em, gia đình, bệnh viện, cán bộ y tế và cộng đồng ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Cần nghiên cứu thêm để cung cấp thông tin có giá trị về can thiệp dựa vào bằng chứng trong chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh

1.3.2 Tại Việt Nam

Lau khô và ủ ấm cho trẻ ngay sau khi sinh: Theo một cuộc khảo sát thực địa ở một số bệnh viện trong 3 tỉnh Cần Thơ, Quảng Trị, Huế, trẻ sơ sinh không được lau khô, ủ ấm ngay sau đẻ mà phải chờ đến khi hút nhớt và làm rốn xong Theo số liệu

từ Bệnh viện Nhi Trung ương năm 1998-2000, có 65,9% số trẻ nhẹ cân và sơ sinh

bị bệnh nặng vào phòng điều trị đặc biệt với triệu chứng hạ thân nhiệt Tình trạng

hạ thân nhiệt đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tử vong sơ sinh: trong tổng số sơ sinh

tử vong tại BV, có 32% có triệu chứng hạ thân nhiệt khi nhập viện Ở nước ta, chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru được thực hiện ở khá nhiều bệnh viện: Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí, Bệnh viện Phụ Sản Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình, Bệnh viện Phụ Sản Thanh Hóa, Bệnh viện Đa khoa Thái Nguyên, Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế Tuy nhiên do chưa có hệ thống theo dõi liên tục và hiệu quả nên có rất ít số liệu về thực hiện những hành vi này Tại Bệnh viện Uông Bí,

Footer Page 21 of 258

Trang 22

chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru được áp dụng từ năm 1985 và đã trở thành thường quy trong điều trị và chăm sóc trẻ đẻ non và trẻ có cân nặng khi sinh thấp

1.4 Tình hình nghiên cứu về phương pháp ủ ấm da kề da

1.4.1 Trên thế giới

Theo Conde-Agudelo A, Díaz-Rossello J, KMC đã được chứng minh là làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong trẻ đẻ non ở tuổi thai 40-41 tuần bằng 40% và cải thiện kết quả khác bao gồm nhiễm trùng nặng / nhiễm trùng huyết, gắn bó tình cảm ở các

bà mẹ, và tăng cân so với chăm sóc trẻ sơ sinh thông thường ở trẻ sinh non [20] Theo Joy E Lawn và cộng sự thì KMC làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh trong số trẻ sơ sinh non tháng (cân nặng <2000g) trong bệnh viện, và có hiệu quả cao trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh nghiêm trọng, đặc biệt là từ nhiễm trùng Tuy nhiên, KMC vẫn không có sẵn ở quy mô trong hầu hết các nước có thu nhập thấp [27]

Nghiên cứu từ nhiều nước khác nhau cũng cho thấy KMC là một phương pháp hiệu quả để điều trị trẻ sinh non [13], [16], mà các bà mẹ đã thực hành KMC có thể thấy nó chấp nhận được [16], [33], [35], và rằng KMC có thể có một tác động tích cực đến sức khỏe của bà mẹ trong trường hợp nhất định [12], [36]

1.4.2 Tại Việt Nam

Về thực hành giữ ấm trẻ sơ sinh, còn ít số liệu về thực hành giữ ấm nói chung cho trẻ sơ sinh ở Việt Nam Viện Nhi Trung ương 1998-2000, đã có một số báo cáo

về tỉ lệ trẻ nhập viện liên quan đến hạ thân nhiệt, tỉ lệ trẻ có dấu hiệu hạ nhiệt trong tổng số sơ sinh tử vong tại bệnh viện trong 24 giờ đầu sau đẻ Một nghiên cứu tại Hải Phòng của Đoàn Thị Thanh Hường có nói đến tỉ lệ hạ thân nhiệt trong tổng số

tử vong sơ sinh sớm [1]

Về phương pháp ủ ấm da kề da có một số nghiên cứu của Nguyễn Thu Nga về thực hành chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru ở Việt Nam với trẻ đẻ non/trẻ có cân nặng khi sinh thấp Còn thực hành giữ ấm da kề da cho trẻ sơ sinh khỏe mạnh chưa được nghiên cứu tại Việt Nam

Trang 23

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Là những bà mẹ đẻ non có con nằm trong khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Trung ương

2.3.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Từ 18 tuổi trở lên

- Có con nằm trong khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Trung ương

- Đẻ non

- Tình nguyện tham gia nghiên cứu

2.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Không đủ tiêu chuẩn trên

- Trẻ suy hô hấp, dị tật bẩm sinh…

- Những người sau khi đã được giải thích về mục đích và mục tiêu nghiên cứu nhưng từ chối tham gia nghiên cứu

p = 0,2: Tỷ lệ người người có kiến thức và thực hành về phương pháp ủ

ấm da kề da qua nghiên cứu thử

Footer Page 23 of 258

Ngày đăng: 13/03/2017, 06:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Viện Dinh dưỡng/UNICEF (2000), Tình trạng dinh dưỡng mẹ và con năm 1999, Nhà xuất bản Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng mẹ và con năm 1999
Tác giả: Viện Dinh dưỡng/UNICEF
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2000
6. Anderson G.C., Moore E., Hepworth J., et al. (2003). Early skin-to-skin contact for mothers and their healthy newborn infants. Cochrane Database Syst Rev, (2), CD003519 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cochrane Database Syst Rev
Tác giả: Anderson G.C., Moore E., Hepworth J., et al
Năm: 2003
9. Awi D.D. and Alikor E. a. D. (2004). The influence of pre- and post-partum factors on the time of contact between mother and her new-born after vaginal delivery. Niger J Med, 13(3), 272–275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niger J Med
Tác giả: Awi D.D. and Alikor E. a. D
Năm: 2004
11. Bhutta Z.A., Darmstadt G.L., Hasan B.S., et al. (2005). Community-based interventions for improving perinatal and neonatal health outcomes in developing countries: a review of the evidence. Pediatrics, 115(2 Suppl), 519–617 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pediatrics
Tác giả: Bhutta Z.A., Darmstadt G.L., Hasan B.S., et al
Năm: 2005
12. Bigelow A., Power M., MacLellan-Peters J., et al. (2012). Effect of mother/infant skin-to-skin contact on postpartum depressive symptoms and maternal physiological stress. J Obstet Gynecol Neonatal Nurs, 41(3), 369–382 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Obstet Gynecol Neonatal Nurs
Tác giả: Bigelow A., Power M., MacLellan-Peters J., et al
Năm: 2012
13. Broughton E.I., Gomez I., Sanchez N., et al. (2013). The cost-savings of implementing kangaroo mother care in Nicaragua. Rev Panam Salud Publica, 34(3), 176–182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rev Panam Salud Publica
Tác giả: Broughton E.I., Gomez I., Sanchez N., et al
Năm: 2013
14. Bystrova K., Widstrửm A.M., Matthiesen A.S., et al. (2003). Skin-to-skin contact may reduce negative consequences of “the stress of being born”: a study on temperature in newborn infants, subjected to different ward routines in St.Petersburg. Acta Paediatr, 92(3), 320–326 Sách, tạp chí
Tiêu đề: the stress of being born”: a study on temperature in newborn infants, subjected to different ward routines in St. Petersburg. "Acta Paediatr
Tác giả: Bystrova K., Widstrửm A.M., Matthiesen A.S., et al
Năm: 2003
15. Carfoot S., Williamson P., and Dickson R. (2005). A randomised controlled trial in the north of England examining the effects of skin-to-skin care on breast feeding.Midwifery, 21(1), 71–79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Midwifery
Tác giả: Carfoot S., Williamson P., and Dickson R
Năm: 2005
16. Cattaneo A., Davanzo R., Worku B., et al. (1998). Kangaroo mother care for low birthweight infants: a randomized controlled trial in different settings. Acta Paediatr, 87(9), 976–985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta Paediatr
Tác giả: Cattaneo A., Davanzo R., Worku B., et al
Năm: 1998
17. Charpak N., Ruiz J.G., Zupan J., et al. (2005). Kangaroo Mother Care: 25 years after. Acta Paediatr, 94(5), 514–522 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta Paediatr
Tác giả: Charpak N., Ruiz J.G., Zupan J., et al
Năm: 2005
18. Christensson K., Bhat G.J., Amadi B.C., et al. (1998). Randomised study of skin-to-skin versus incubator care for rewarming low-risk hypothermic neonates.Lancet, 352(9134), 1115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lancet
Tác giả: Christensson K., Bhat G.J., Amadi B.C., et al
Năm: 1998
19. Christensson K., Siles C., Moreno L., et al. (1992). Temperature, metabolic adaptation and crying in healthy full-term newborns cared for skin-to-skin or in a cot. Acta Paediatr, 81(6-7), 488–493 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acta Paediatr
Tác giả: Christensson K., Siles C., Moreno L., et al
Năm: 1992
20. Conde-Agudelo A. and Díaz-Rossello J.L. (2014). Kangaroo mother care to reduce morbidity and mortality in low birthweight infants. Cochrane Database Syst Rev, 4, CD002771 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cochrane Database Syst Rev
Tác giả: Conde-Agudelo A. and Díaz-Rossello J.L
Năm: 2014
25. Hoa DP (2005). Neonatal morbidity and mortality at hospital level in Vietnam. Journal of Medical research; Ministry of Health, Hanoi Medical University 2005;35: pp36-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Medical research; Ministry of Health, Hanoi Medical University 2005
Tác giả: Hoa DP
Năm: 2005
26. Kumar R. and Aggarwal A.K. (1998). Body temperatures of home delivered newborns in north India. Trop Doct, 28(3), 134–136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trop Doct
Tác giả: Kumar R. and Aggarwal A.K
Năm: 1998
27. Lawn J.E., Mwansa-Kambafwile J., Barros F.C., et al. (2011). ‘Kangaroo mother care’ to prevent neonatal deaths due to pre-term birth complications. Int J Epidemiol, 40(2), 525–528 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int J Epidemiol
Tác giả: Lawn J.E., Mwansa-Kambafwile J., Barros F.C., et al
Năm: 2011
28. Lozoff B. (1983). Birth and ‘bonding’ in non-industrial societies. Dev Med Child Neurol, 25(5), 595–600 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dev Med Child Neurol
Tác giả: Lozoff B
Năm: 1983
33. Muddu G.K., Boju S.L., and Chodavarapu R. (2013). Knowledge and awareness about benefits of Kangaroo Mother Care. Indian J Pediatr, 80(10), 799–803 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indian J Pediatr
Tác giả: Muddu G.K., Boju S.L., and Chodavarapu R
Năm: 2013
35. Nguah S.B., Wobil P.N.L., Obeng R., et al. (2011). Perception and practice of Kangaroo Mother Care after discharge from hospital in Kumasi, Ghana: a longitudinal study. BMC Pregnancy Childbirth, 11, 99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BMC Pregnancy Childbirth
Tác giả: Nguah S.B., Wobil P.N.L., Obeng R., et al
Năm: 2011
36. Parmar V.R., Kumar A., Kaur R., et al. (2009). Experience with Kangaroo mother care in a neonatal intensive care unit (NICU) in Chandigarh, India. Indian J Pediatr, 76(1), 25–28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indian J Pediatr
Tác giả: Parmar V.R., Kumar A., Kaur R., et al
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Phương pháp ủ ấm da kề da - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Hình 1 Phương pháp ủ ấm da kề da (Trang 20)
Bảng 3.1. Nhóm tuổi của các bà mẹ   Nhóm tuổi  Số lượng (n)  Tỉ lệ (%) - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Bảng 3.1. Nhóm tuổi của các bà mẹ Nhóm tuổi Số lượng (n) Tỉ lệ (%) (Trang 26)
Bảng 3.2. Nghề nghiệp của các bà mẹ - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Bảng 3.2. Nghề nghiệp của các bà mẹ (Trang 27)
Bảng 3.3. Một số đặc trưng cá nhân của trẻ sơ sinh - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Bảng 3.3. Một số đặc trưng cá nhân của trẻ sơ sinh (Trang 27)
Bảng 3.4. Kiến thức của bà mẹ về các phương pháp giữ ấm trẻ sau sinh* - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Bảng 3.4. Kiến thức của bà mẹ về các phương pháp giữ ấm trẻ sau sinh* (Trang 28)
Bảng 3.5. Tỉ lệ bà mẹ biết phương pháp ủ ấm da kề da  Biết phương pháp da kề da  Số lượng  Tỉ lệ % - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Bảng 3.5. Tỉ lệ bà mẹ biết phương pháp ủ ấm da kề da Biết phương pháp da kề da Số lượng Tỉ lệ % (Trang 29)
Bảng 3.6. Tỉ lệ bà mẹ thực hành phương pháp da kề da cho con  Thực hành da kề da  Số lượng  Tỉ lệ % - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Bảng 3.6. Tỉ lệ bà mẹ thực hành phương pháp da kề da cho con Thực hành da kề da Số lượng Tỉ lệ % (Trang 30)
Bảng 3.9. Liên quan giữa nghề nghiệp mẹ với thực hành da kề da  Nghề nghiệp - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Bảng 3.9. Liên quan giữa nghề nghiệp mẹ với thực hành da kề da Nghề nghiệp (Trang 31)
Bảng 3.7. Liên quan giữa tuổi mẹ với thực hành da kề da - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Bảng 3.7. Liên quan giữa tuổi mẹ với thực hành da kề da (Trang 31)
Bảng 3.8. Liên quan giữa trình độ học vấn mẹ với thực hành da kề da - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Bảng 3.8. Liên quan giữa trình độ học vấn mẹ với thực hành da kề da (Trang 31)
Bảng 3.10. Liên quan giữa một số yếu tố của trẻ sơ sinh - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Bảng 3.10. Liên quan giữa một số yếu tố của trẻ sơ sinh (Trang 32)
Bảng 3.11. Phân tích đa biến một số yếu tố của mẹ và trẻ có ảnh hưởng đến - Khảo sát kiến thức thực hành về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ có con đẻ non tại Khoa sơ sinh Bệnh viện nhi Trung ương năm 2015
Bảng 3.11. Phân tích đa biến một số yếu tố của mẹ và trẻ có ảnh hưởng đến (Trang 32)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w