Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học, giúp HS khắc sâu kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng thực hành, áp dụng kiến thức đã học vào thực tế; xây dựng năng lực tổ chức ho
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ PHẦN “DÕNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
Mã số: TB2016 - 08
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thanh Lâm
Sơn La, 12/2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ
PHẦN “DÕNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” TRONG CHƯƠNG TRÌNH
VẬT LÍ PHỔ THÔNG NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
Mã số: TB2016 - 08
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
Nguyễn Thanh Lâm
Sơn La, 12/2016
Trang 3NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1 ThS Dương Văn Lợi – Giảng viên Vật lý, Trường Đại học Tây Bắc
2 SV Điêu Chính Hòa – K53 ĐHSP Vâ ̣t lý, Trường Đa ̣i ho ̣c Tây Bắc
3 SV Đỗ Ngọc Hải – K54 ĐHSP Vâ ̣t lý, Trường Đa ̣i ho ̣c Tây Bắc
4 Tổ Vật lý đại cương và Phương pháp dạy học, Khoa Toán - Lý - Tin, trường Đại học Tây Bắc
5 Trường THPT Thảo Nguyên và một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Sơn La
Trang 4CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
5 ĐHSP Đa ̣i ho ̣c Sƣ pha ̣m
6 THPT Trung ho ̣c phổ thông
Trang 5MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
VI GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
VII ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3
VIII CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 3
Phần 2 NỘI DUNG 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VẬT LÝ Ở TRƯỜNG PT 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 5
1.2 MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ LÝ LUẬN DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PT 6
1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở nhà trường PT 6
1.2.2 Các vấn đề chung về hình thức tổ chức dạy học ở trường PT 9
1.3 CÁC NHIỆM VỤ CƠ BẢN CỦA DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG PT 10
1.4 PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HS TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 11
1.4.1 Tính tích cực của HS trong hoạt động học tập 11
1.4.2 Năng lực sáng tạo của HS trong hoạt động học tập 13
1.5 VỊ TRÍ, TÁC DỤNG CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRONG HỆ THỐNG CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PT 14
1.5.1 Vị trí của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường PT 15
1.5.2 Tác dụng của hoạt động ngoại khóa vật lý 15
1.6 CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA 16
Trang 61.7 NỘI DUNG, CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC NGOẠI KHÓA VỀ VẬT LÝ 17
1.7.1 Nội dung ngoại khóa về vật lý 17
1.7.2 Các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lý 18
1.7.3 Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khóa vật lý 23
1.8 QUY TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ VẬT LÝ 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
Chương 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VẬT LÝ VỀ 29
“DÕNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” CHO HS LỚP 11 THPT 29
2.1 MỤC TIÊU DẠY HỌC MÀ HS CẦN ĐẠT ĐƯỢC KHI HỌC VỀ “DÕNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Ở LỚP 11 THPT 29
2.1.1 Mục tiêu về kiến thức 29
2.1.2 Mục tiêu về kỹ năng 30
2.1.3 Mục tiêu phát triển tư duy 30
2.1.4 Các thí nghiệm cần tiến hành trong quá trình dạy học về “Dòng điện không đổi” 31
2.2 TÌM HIỂU TÌNH HÌNH DẠY VÀ HỌC VỀ “DÕNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Ở LỚP 11 THPT THUỘC MỘT SỐ TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA 31 2.2.1 Mục đích điều tra 31
2.2.2 Phương pháp điều tra 31
2.2.3 Đối tượng điều tra 32
2.2.4 Kết quả điều tra 32
2.2.5 Nguyên nhân của những sai lầm của HS và một số giải pháp khắc phục 36
2.3 XÂY DỰNG QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VỀ “DÕNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Ở LỚP 11 THPT 38
2.3.1 Ý định sư phạm chung khi xây dựng quy trình tổ chức hoạt động ngoại khóa 38
2.3.2 Nội dung của hoạt động ngoại khóa về “Dòng điện không đổi” 40
Trang 72.3.3 Các thí nghiệm mà GV đã nghiên cứu, chế tạo và dự kiến nội dung của hội
vui vật lý về “Dòng điện không đổi” 43
2.3.4 Hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa 59
2.3.5 Dự kiến những khó khăn mà HS gặp phải trong khi thực hiện nhiệm vụ và phương pháp hướng dẫn HS 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.1 MỤC ĐÍCH CỦA THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.3 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.4 PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.4.1 Phân tích diễn biến của các hoạt động ngoại khóa trong quá trình thực nghiệm sư phạm 66
3.4.2 Sơ bộ đánh giá tính khả thi của quy trình đã lập 74
3.4.3 Sơ bộ đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78
Phần 3 KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 84
Trang 8Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học, giúp HS khắc sâu kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng thực hành, áp dụng kiến thức đã học vào thực tế; xây dựng năng lực tổ chức hoạt động tập thể, góp phần hoàn thiện và phát triển nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và khả năng tư duy sáng tạo ở HS Thông qua tổ chức hoạt động
ngoại khóa, GV sẽ kích thích được sự hứng thú, nhu cầu, sở thích và khả năng độc lập,
tích cực tư duy ở HS, từ đó giúp HS học tập tốt hơn Ngoài ra hoạt động ngoại khóa cũng tạo điều kiện cho GV gần gũi, hiểu rõ HS hơn, tăng cường tình đoàn kết giữa các
HS với nhau
Vật lý học là một môn học bắt buộc trong hệ thống các môn học của nhà trường
PT ở nước ta hiện nay Cũng giống như các môn học khác, để học tốt môn Vật lý đòi hỏi HS phải có sự hứng thú, đam mê môn học Mặt khác với những đặc trưng riêng là liên quan nhiều đến thực tiễn đời sống, kỹ thuật và các hiện tượng trong tự nhiên, nhưng với phần lớn các trường PT hiện nay, nhất là các trường PT miền núi còn nhiều hạn chế về điều kiện kinh tế, xã hội, cơ sở vật chất, nên chưa có nhiều mô hình vật lý gắn với thực tiễn đời sống và kỹ thuật, vì vậy chưa kích thích được tính tích cực tư duy, sự yêu thích đam mê môn Vật lý ở nhiều em HS Việc tổ chức ngoại khóa vật lý cho HS ở các trường PT là rất cần thiết
Qua quá trình nghiên cứu SGK Vật lý 11, chúng tôi nhận thấy kiến thức về
“Dòng điện không đổi” có nhiều ứng dụng trong đời sống và kỹ thuật Trong dạy học nội khóa đã được trang bị một số thiết bị thí nghiệm tối thiểu về “Dòng điện không đổi”, nhưng qua điều tra chúng tôi nhận thấy các GV chưa khai thác, tận dụng được hết khả năng của các thiết bị thí nghiệm này trong dạy học Có GV sử dụng các thiết bị này trong dạy học nhưng chưa nghiên cứu để đưa thí nghiệm vào giảng dạy theo hướng tổ chức hoạt động nhận thức cho HS Ngoài ra, phần này cũng có những thí
Trang 92
nghiệm đơn giản, có thể tự chế tạo được hoặc khai thác từ những thiết bị đã có sẵn trong thực tế nhưng GV đã không tổ chức cho HS tự thiết kế và làm thí nghiệm Do vậy, trong học nội khóa, HS không có cơ hội được rèn luyện các kỹ năng, các thao tác làm thí nghiệm, cũng như không được hình thành kiến thức một cách đúng đắn dễ dẫn đến sai lầm, hay không có sự hứng thú, tích cực trong học tập và không được rèn luyện
tư duy sáng tạo
Ngành ĐHSP Vật lý là một trong các ngành Sư phạm được đào tạo tại Trường Đại học Tây Bắc, Sinh viên ngành sư phạm nói chung cũng như sinh viên ngành Sư phạm vật lý nói riêng khi đi nhận công tác được đánh giá khá cao về chuyên môn, song về nghiệp vụ và các hoạt động ngoại khóa thì còn chưa tốt, vấn đề này cần phải được khắc phục
Với mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo của Trường Đại học Tây Bắc cũng như việc dạy và học vật lý ở trường THPT,
chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoại khóa về phần
“Dòng điện không đổi” trong chương trình vật lý phổ thông nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Xây dựng tài liệu cần thiết cho sinh viên, GV muốn tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lý
- Nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên ngành Sư phạm vật lý Trường Đại học Tây Bắc; chất lượng dạy và học môn Vật lý ở các trường THPT, nhất là các trường THPT trên địa bàn các tỉnh miền núi
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu lý luận về tính tích cực, năng lực sáng tạo
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tổ chức dạy học ngoại khoá
- Vận dụng kiến thức vào việc tổ chức một số hoạt động ngoại khoá về phần
“Dòng điện không đổi” cho HS lớp 11 THPT
- Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp việc tổ chức dạy học ngoại khoá bộ môn Vật lý tại một số trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Sơn La
- Soạn thảo tiến trình dạy học ngoại khoá cho một số đơn vị kiến thức về phần
“Dòng điện không đổi” trong chương trình vật lý PT
Trang 103
- Tổ chức thực hiện, tổng kết và rút ra một số kết luận cần thiết
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a Đối tượng nghiên cứu
Dạy học ngoại khoá một số chủ đề về phần "Dòng điện không đổi'' đối với HS lớp 11 THPT, nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS
b Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu và tổ chức hoạt động ngoại khoá khi dạy một số kiến thức về
“Dòng điện không đổi” trong chương trình Vật lý PT, nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo cho HS
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận: nghiên cứu các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học,
lý luận dạy học vật lý, các tài liệu về tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Nghiên cứu thực tế dạy học ngoại khoá vật lý tại một số trường THPT
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm: thực hiện dạy học ngoại khoá một số nội dung đã chọn và đánh giá mức độ hoàn thành của đề tài so với mục đích nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý kết quả bằng thống kê toán học, đưa ra kết quả
VI GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu nghiên cứu và tổ chức được một số chủ đề hoạt động ngoại khoá vật lý về phần ''Dòng điện không đổi'' sẽ góp phần nâng cao tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS, nâng cao chất lượng dạy học vật lý ở các trường THPT, chất lượng đào tạo của Trường Đại học Tây Bắc
VII ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Đề xuất được một số nội dung và hình thức dạy học ngoại khoá vật lý
- Có thể làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên sư phạm vật lý, cũng như cho các GV vật lý ở các trường THPT muốn tham khảo, học hỏi, tổ chức ngoại khóa vật lý
VIII CẤU TRÖC CỦA ĐỀ TÀI
Phần 1 Mở đầu
Phần 2 Nội dung
Chương 1 Cơ sở lý luận về hoạt động ngoại khoá vật lý ở trường PT
Trang 125
Phần 2 NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VẬT LÝ
Ở TRƯỜNG PT
1.1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Hoạt động ngoại khoá là một hình thức dạy học có thể giúp HS có kết quả cao hơn trong học tập và góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em Chính vì vậy mà hoạt động ngoại khoá đã được chú trọng nghiên cứu và thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Thậm chí nền giáo dục của nhiều nước còn chủ trương giảm thời lượng các giờ lên lớp và tăng cường các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và hoạt động ngoại khoá Thực tế đã cho thấy rằng: những HS thường xuyên tham gia vào các chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp có chất lượng thường đạt được thành tích học tập cao hơn, có hành vi đạo đức tốt hơn, có mối quan hệ và cảm xúc tốt hơn,
Các hình thức hoạt động ngoại khoá của các trường PT của các nước trên thế giới thường tập trung chủ yếu vào các hoạt động như: trò chơi trí tuệ; câu lạc bộ nhạc, kịch, hội hoạ, thể thao; dã ngoại thực tế…
Ở nước ta, từ những năm 1960 khi xây dựng chương trình giáo dục, Bộ Giáo
dục đã xác định rõ [3]: ''Muốn thực hiện giáo dục và giáo dưỡng trong các môn học đạt kết quả đầy đủ thì ở nhà trường cần tổ chức ngoại khoá… Công tác ngoại khoá bổ sung và nâng cao chất lượng của nội khoá lên một bước'' Vật lý là một môn học bắt
buộc ở trường PT của nước ta hiện nay Hoạt động ngoại khoá về vật lý cũng là một phần trong hoạt động ngoại khoá ở trường PT và đã được nghiên cứu từ lâu Cho đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại khoá về vật lý cho đối tượng HS PT, như: Nguyễn Thúy Nga – năm 2001; Nguyễn Văn Ngà – năm 2001; Nguyễn Văn Phán – 2002; Phạm Tuyết Mai – 2002; Trần Hữu Phước (2007), Nghiên cứu việc tổ chức ngoại khóa về cơ học chất lưu chuyển động nhằm phát triển tính tích cực, sáng tạo của HS THPT, Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục; Trương Đức Cường (2007), Nghiên cứu xây dựng và tổ chức một số chủ đề ngoại khóa phần điện học lớp
12 (THPT) nhằm góp phần giáo dục KTTH cho HS, Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục; Nguyễn Hương Lan – 2007; Ngô Thị Bình (2009), Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động ngoại khoá về Tĩnh học vật rắn ở lớp 10 THPT nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS, Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục; Nguyễn
Trang 136
Quang Đông, Một số trò chơi dùng trong tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lý, Tạp chí Thiết bị giáo dục Số 36 Năm 2008; Kiều Thanh Bắc - 2013, Tổ chức hoạt động ngoại khóa có nội dung ứng dụng kỹ thuật về cảm ứng điện từ vật lý 11 theo hướng phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của HS, Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục; Nguyễn Thanh Lâm, Dương Văn Lợi – 2014, Thiết kế nội dung và tổ chức thực hiện chương trình ngoại khóa vật lý cho một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Sơn La, Đề tài cấp cơ sở,… Riêng phần “Dòng điện không đổi” cũng đã có đề tài nghiên cứu, song theo quan điểm của chúng tôi, hoạt động ngoại khóa về phần “Dòng điện không đổi” cần được nghiên cứu nhiều hơn Vì vậy chúng tôi quyết định chọn hướng đề tài này
1.2 MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ LÝ LUẬN DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PT
1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở nhà trường PT
b Nhiệm vụ quá trình dạy học
- Điều khiển, tổ chức HS nắm vững hệ thống tri thức PT cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội – nhân văn, đồng thời rèn luyện cho
họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng [2]
Trong dạy học, phải tổ chức cho người học nắm vững hệ thống tri thức PT cơ bản, phù hợp với thực tiễn đất nước về tự nhiên, xã hội, tư duy Những tri thức khoa học PT cơ bản được cung cấp cho người học phải là những tri thức phản ánh những thành tựu mới nhất của các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hóa phù hợp với chân lý khách quan Trên cơ sở đó hình thành ở người học hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định, đặc biệt là những kỹ năng, kỹ xảo có liên quan đến hoạt động học tập: tự học, tập dượt nghiên cứu khoa học ở mức độ thấp, nhằm giúp cho người học không chỉ nắm vững tri thức mà còn biết vận dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống khác nhau
Do đó, trong quá trình dạy học cần xác định các mức độ chiếm lĩnh tri thức của
Trang 14Trong quá trình dạy học, người GV cần chú ý phát triển ở HS các năng lực trí tuệ sau: năng lực định hướng đúng vấn đề nghiên cứu trong thực tế, năng lực tư duy trừu tượng, năng lực di chuyển hành động trí tuệ, dự đoán diễn biến của các hiện tượng, năng lực tổ chức lao động trí óc một cách khoa học, năng lực tự học, năng lực hoạt động nhận thức độc lập, sáng tạo
Đứng trước sự bùng nổ thông tin, khoa học công nghệ, việc hình thành cho HS năng lực tự học một cách độc lập, sáng tạo giữ vai trò hết sức quan trọng, nó là cơ sở
để giúp con người có thể học tập thường xuyên và học tập suốt đời
Bên cạnh việc phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ, quá trình dạy học có nhiệm vụ bồi dưỡng cho HS một số phẩm chất hoạt động trí tuệ cả về bề rộng, chiều sâu, tính độc lập, tính phê phán, tính mềm dẻo và tính năng động, tính khái quát của hoạt động trí tuệ, …
Tóm lại, trong quá trình dạy học các phẩm chất của hoạt động trí tuệ nói riêng
và trí tuệ nói chung không ngừng phát triển và hoàn thiện Ngược lại, sự phát triển trí tuệ trong chừng mực nhất định cũng ảnh hưởng trở lại đối với chất lượng quá trình dạy học Như vậy giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì vậy dạy học cần đi trước, đón trước và thúc đẩy sự phát triển của người học Muốn thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của người học thì nói chung việc dạy học phải đảm bảo tính vừa sức với người học, các nhiệm vụ dạy học phải tương thích với “vùng phát triển gần nhất” [23] tạo điều kiện và đòi hỏi người học phải không ngừng vươn lên với
sự nỗ lực cao nhất
Để phát triển trí tuệ cho HS cần chú ý tới các điều kiện sau:
+ Nắm được đặc điểm của đối tượng, nhất là trình độ nhận thức của đối tượng + Có phương pháp dạy học thích hợp nhằm phát huy trí thông minh của HS + Lựa chọn nội dung dạy học một cách khoa học và hợp lý
Bên cạnh phát triển trí tuệ, quá trình dạy học có nhiệm vụ chăm lo phát triển thể
Trang 158
lực cho HS, giúp các em có sức khỏe để học tập và tham gia các hoạt động khác
- Tổ chức điều khiển người học, hình thành phát triển thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất của người công dân, người lao động có bản lĩnh và
có trách nhiệm với cộng đồng [2]
Để hình thành thế giới quan khoa học cho HS, quá trình dạy học có nhiệm vụ tổ chức, điều khiển HS nắm vững hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, … hình thành ở HS niềm tin về tính chân thực và hiệu quả của kiến thức, hình thành thái độ lành mạnh với thực tiễn, hình thành quan điểm sống tích cực Trong quá trình dạy học,
GV cần giáo dục cho HS lý tưởng, những phẩm chất nhân cách của con người mà xã hội đặt ra: yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có lòng thương người, có lòng tự trọng cao, có ý thức pháp luật, có tính chủ động trong cuộc sống…
Giữa các nhiệm vụ dạy học có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau cùng thực hiện mục tiêu của quá trình dạy học Nhờ nắm vững kỹ năng, kỹ xảo mà năng lực
tư duy sáng tạo của con người không ngừng được phát triển, sự phát triển của tư duy
sẽ kèm theo sự phát triển của thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất đạo đức của con người từ đó hình thành con người mới đáp ứng yêu cầu của xã hội
c Nguyên tắc dạy học
Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tính chất xuất phát để chỉ đạo việc xác định nội dung, phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, nhiệm vụ dạy học và với những tính quy luật của quá trình dạy học [2]
Hệ thống các nguyên tắc dạy học bao gồm:
+ Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học + Đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với đời sống
+ Đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học
+ Đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của HS và vai trò chủ đạo của GV trong quá trình dạy học
+ Đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển tư duy lý thuyết + Đảm bảo tính vững chắc và sự phát triển năng lực nhận thức của HS
+ Đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt và tính
Trang 169
tập thể trong quá trình dạy học
+ Đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học
+ Nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học
1.2.2 Các vấn đề chung về hình thức tổ chức dạy học ở trường PT
Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt động của
GV và HS trong quá trình dạy học, ở thời gian và địa điểm nhất định với những phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
Hình thức dạy học khác nhau chủ yếu tùy theo mối quan hệ giữa việc dạy học có tính tập thể hay có tính cá nhân, mức độ tính tự lực hoạt động nhận thức của HS, sự chỉ đạo chuyên biệt của GV đối với hoạt động học tập của HS, chế độ làm việc, thành phần HS, địa điểm và thời gian học tập
Trong thực tế dạy học, người ta phân biệt 3 dạng tổ chức dạy học: dạng toàn lớp, dạng nhóm, dạng cá nhân
* Các dạng tổ chức dạy học cơ bản [15], [9]
+ Dạng toàn lớp: Là dạng trong đó, mỗi HS đồng thời hoàn thành những nhiệm
+ Dạng nhóm: Là dạng trong đó, từng nhóm HS cùng giải quyết những nhiệm
vụ nhận thức thống nhất Các em có thể cùng thảo luận các nhiệm vụ nhận thức, vạch
ra con đường và giải quyết các nhiệm vụ đó, cuối cùng đạt đến kết quả chung
Ưu điểm: GV có thể chú ý tới những nhu cầu riêng của từng nhóm HS, có thể
mở ra khả năng rộng rãi để HS hợp tác hoạt động với nhau cũng như để kiểm tra lẫn nhau
Nhược điểm: Những cá nhân HS nào đó do học tập thụ động có thể sử dụng những kết quả mà những HS khác thu được Mặt khác, nó còn có thể làm nẩy sinh mâu thuẫn giữa những yêu cầu của GV và mức độ tích cực của cá nhân HS riêng biệt, những yêu cầu do GV nêu ra hoặc khó quá, hoặc quá dễ so với trình độ của từng HS
Trang 17về mặt giảng dạy có thể cá biệt hóa cao độ trong việc đưa ra nhiệm vụ nhận thức, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS
Nhược điểm: Thường làm mất nhiều thời gian, đòi hỏi GV mất nhiều công sức, không có tác động qua lại, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân HS
Như vậy, mỗi dạng tổ chức dạy học đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Thực tiễn dạy học đã khẳng định rằng, muốn phát huy cao độ tác dụng của chúng, GV cần khéo léo sử dụng kết phối hợp các dạng tổ chức dạy học một cách hiệu quả Các dạng tổ chức dạy học này được thực hiện thông qua các hình thức dạy học cụ thể
* Các hình thức tổ chức dạy học ở trường PT
Để thực hiện được những nhiệm vụ dạy học ở trường PT, hoạt động dạy học được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Đối với thực tiễn dạy học ở nước ta, quá trình dạy học được thực hiện bởi nhiều hình thức, có thể kể đến một số hình thức sau: hình thức bài lên lớp (lớp – bài), hình thức học ở nhà, hình thức hoạt động ngoại khóa (tham quan, thảo luận và xêmina…), hình thức giúp đỡ riêng [15]
+ Hình thức lớp – bài: Đây là hình thức dạy học cơ bản, là hình thức GV lên lớp trình bày nội dung kiến thức của một tiết, bài
+ Hình thức học ở nhà: Với hình thức này, HS có thể làm được rất nhiều công việc như học bài, làm bài, làm thí nghiệm, đọc sách tham khảo, chuẩn bị bài mới,…
+ Hình thức hoạt động ngoại khóa: Với hình thức này, HS có thể tham quan học tập, tổ chức thảo luận theo chuyên đề, tổ chức các buổi dạ hội,… Hình thức này còn ít được tiến hành tại các trường PT
+ Hình thức giúp đỡ riêng: Trong quá trình dạy học, tất yếu sẽ có sự phân hóa
về trình độ nhận thức và sẽ xuất hiện hai loại HS: yếu – kém, khá - giỏi mà việc dạy học được tiến hành trên cơ sở trình độ chung không thỏa mãn hai loại HS này
1.3 CÁC NHIỆM VỤ CƠ BẢN CỦA DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG PT
Trang 18+ Phát triển tư duy khoa học ở HS: rèn luyện những thao tác, hành động, phương pháp nhận thức cơ bản, nhằm chiếm lĩnh kiến thức vật lý, vận dụng sáng tạo
để giải quyết vấn đề trong học tập và hoạt động thực tiễn sau này
+ Trên cơ sở kiến thức vật lý vững chắc, có hệ thống, bồi dưỡng cho HS thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái độ đối với lao động, đối với cộng đồng và những đức tính khác của người lao động
+ Góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS, làm cho HS nắm được những nguyên lý cơ bản về cấu tạo và hoạt động của các máy móc dùng phổ biến trong nền kinh tế quốc dân Có kỹ năng sử dụng những dụng cụ vật lý, đặc biệt là những dụng cụ đo lường, kỹ năng lắp ráp các thiết bị để thực hiện thí nghiệm vật lý, vẽ biểu đồ, xử lý các số liệu đo đạc để rút ra kết luận Những kiến thức, kỹ năng đó giúp cho HS sau này nhanh chóng thích ứng được với lao động sản xuất trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Những nhiệm vụ trên không thể tách rời nhau mà luôn luôn gắn liền với nhau,
hỗ trợ lẫn nhau, góp phần đào tạo ra những con người phát triển hài hòa, toàn diện
1.4 PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HS TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ
Hình thức dạy học ngoại khoá có thể tạo nhiều điều kiện cho HS phát huy được tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của mình Để đánh giá được hiệu quả của hoạt động ngoại khoá trong việc phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo cho HS thì chúng ta cần phải nghiên cứu những đặc điểm và biểu hiện của chúng trong quá trình HS hoạt động
1.4.1 Tính tích cực của HS trong hoạt động học tập [23], [17]
* Khái niệm về tính tích cực của HS trong học tập
Tính tích cực trong học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng
Trang 1912
cao về nhiều mặt trong học tập Học tập là một trường hợp riêng của nhận thức “một
sự nhận thức làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của GV” (P.N.Erddơniev, 1974) Vì vậy, nói tới tích cực học tập thực chất là nói đến tích cực nhận thức Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của HS, đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức
* Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực của HS trong học tập biểu hiện qua các hành động cụ thể như: + HS sẵn sàng, hồ hởi đón nhận các nhiệm vụ mà GV giao cho
+ HS tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập
+ HS tự giác thực hiện các nhiệm vụ mà mình đã nhận mà không cần phải để
GV đôn đốc, nhắc nhở
+ HS yêu cầu được giải đáp thắc mắc về những lĩnh vực còn chưa rõ
+ HS mong muốn được đóng góp ý kiến với GV, với bạn bè những thông tin mới mẻ hoặc những kinh nghiệm có được ngoài sách vở, từ những nguồn khác nhau
+ HS tận dụng thời gian rỗi của mình để cố gắng hoàn thành công việc, hoặc hoàn thành công việc sớm hơn thời hạn hoặc xin nhận thêm nhiệm vụ
+ HS thường xuyên trao đổi, tranh luận với bạn bè để tìm phương án giải quyết vấn đề, mong muốn được GV giúp đỡ, chỉ dẫn mà không nản chí khi gặp khó khăn
Ngoài ra, tính tích cực của HS trong hoạt động học tập cũng như trong hoạt động ngoại khoá còn có thể nhận thấy trong biểu hiện về mặt ý chí, như: sự tập trung vào vấn đề đang nghiên cứu, kiên trì theo đuổi mục tiêu, không nản chí trước những khó khăn hoặc thái độ phản ứng trong những buổi học, buổi hoạt động nhóm là hào hứng, sôi nổi hay chán nản
* Các cấp độ của tính tích cực học tập
Có thể phân biệt tính tích cực ở ba cấp độ khác nhau như sau:
+ Cấp độ 1 – bắt chước: HS tích cực bắt chước hoạt động của GV và của bạn
bè Trong hành động bắt chước cũng phải có sự cố gắng của thần kinh và cơ bắp
+ Cấp độ 2 – tìm tòi: HS tìm cách độc lập giải quyết vấn đề, thử nhiều cách khác nhau để giải quyết hợp lý vấn đề
Trang 201.4.2 Năng lực sáng tạo của HS trong hoạt động học tập
* Khái niệm năng lực sáng tạo
“Sáng tạo là một hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính đổi mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị” (Sáng tạo, Bách khoa toàn thư
Liên Xô Tập 42, trang 54)
Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới Như vậy, sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đã biết bằng cách suy luận lôgic hay bắt chước làm theo mà nó là sản phẩm của tư duy trực giác
Năng lực sáng tạo gắn liền với kỹ năng, kỹ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể Trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, nếu chủ thể hoạt động càng thành thạo và có vốn hiểu biết sâu rộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiều phương án để lựa chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy, muốn rèn luyện năng lực sáng tạo thì nhất thiết không thể tách rời, độc lập với học tập kiến thức
về một lĩnh vực nào đó
* Đặc điểm của sự sáng tạo [35], [33]
Sự sáng tạo xuất hiện trong quá trình tư duy trực giác Trong sáng tạo, tri thức được thu nhận một cách nhảy vọt, một cách trực tiếp, các giai đoạn của nó không thể hiện một cách minh bạch và người suy nghĩ không thể chỉ ngay ra làm thế nào mà họ
đi đến được quyết định đó, con đường đó vẫn chưa nhận thức được, phải sau này mới xác lập được lôgic của phỏng đoán trực giác đó Tư duy trực giác thể hiện như một quá trình ngắn gọn, chớp nhoáng mà ta không thể nhận biết được diễn biến H.Poimcarê
nói: “Lôgic là chứng minh, còn trực giác thì sáng tạo”
Đặc trưng tâm lý quan trọng của hoạt động sáng tạo là tính chất hai mặt chủ
Trang 2114
quan và khách quan: chủ quan theo quan điểm của người nhận thức mà trong đầu họ đang diễn ra quá trình sáng tạo và khách quan theo quan điểm của người nghiên cứu cái quá trình sáng tạo đó xem như một quá trình diễn ra có quy luật, tác động qua lại giữa ba thành tố là tự nhiên, ý thức con người và sự phản ánh tự nhiên vào ý thức con người Đối với người sáng tạo thì tính mới mẻ, tính bất ngờ, tính ngẫu nhiên của phỏng đoán đều là chủ quan Đối với các nhà khoa học thì chỉ những phát minh mà loài người chưa từng biết đến mới được coi là sự sáng tạo Còn đối với HS thì sáng tạo là tạo ra cái mới đối với bản thân mình, chứ GV và nhiều người khác có thể đã biết rồi Bởi vậy hoạt động sáng tạo của HS mang ý nghĩa là một hoạt động tập dượt sáng tạo hay sáng tạo lại Điều quan trọng cần đạt được không phải là những sản phẩm sáng tạo mà là khả năng sáng tạo của họ, khả năng này sẽ luôn được HS sử dụng trong hoạt động thực tiễn sau này kể cả khi kiến thức mà họ thu nhận được đã bị quên
* Các biểu hiện của sự sáng tạo trong học tập vật lý
Những hành động của HS trong học tập có mang tính sáng tạo cụ thể như sau:
- Từ những kinh nghiệm thực tế, từ các kiến thức đã có, HS nêu được giả thuyết Trong chế tạo dụng cụ thí nghiệm thì HS đưa ra được các phương án thiết kế, chế tạo dụng cụ và cùng một thí nghiệm có thể đưa ra được nhiều cách chế tạo khác nhau Đề xuất được những sáng kiến kỹ thuật để thí nghiệm chính xác hơn, dụng cụ bền đẹp hơn,…
- HS đưa ra dự đoán kết quả các thí nghiệm, dự đoán được phương án nào chính xác nhất, phương án nào mắc sai số, vì sao?
- Đề xuất được những phương án dùng những dụng cụ thí nghiệm đã chế tạo để làm thí nghiệm để kiểm tra dự đoán và kiểm nghiệm lại lý thuyết đã học
- Vận dụng kiến thức lý thuyết đã học vào thực tế một cách linh hoạt như giải thích một số hiện tượng vật lý, giải thích kết quả thí nghiệm hoặc các ứng dụng của vật
lý trong kỹ thuật có liên quan
Những biểu hiện của sự sáng tạo của HS trong học tập như nêu trên cũng sẽ là những căn cứ để chúng tôi đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa về phần “Dòng điện không đổi - lớp 11” đối với việc phát triển năng lực sáng tạo của HS trong quá trình thực nghiệm sư phạm
1.5 VỊ TRÍ, TÁC DỤNG CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRONG HỆ
Trang 22Hoạt động ngoại khóa vật lý là một trong những hoạt động ngoài giờ lên lớp có
tổ chức, có kế hoạch, có phương hướng xác định, được HS tiến hành theo nguyên tắc
tự nguyện ở ngoài giờ nội khóa dưới sự hướng dẫn của GV vật lý nhằm gây sự hứng thú và phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng, bổ sung và mở rộng kiến thức vật lý Nó có tác dụng to lớn về cả ba mặt mục tiêu dạy học: giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục kỹ thuật tổng hợp
Để vận dụng có hiệu quả hình thức dạy học tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lý cho HS thì GV cần phải hiểu rõ tác dụng và vị trí của hình thức dạy học này
1.5.1 Vị trí của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường PT [12]
Nhà trường PT có ba hình thức tổ chức đào tạo là: dạy học trên lớp, giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp dạy nghề và công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp
Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động rộng rãi trong các lĩnh vực: xã hội – chính trị, văn hóa – khoa học, nghệ thuật, thể dục thể thao, quốc phòng
Công tác ngoại khóa nói chung và công tác ngoại khóa vật lý nói riêng thuộc lĩnh vực thứ hai của toàn bộ công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường PT
1.5.2 Tác dụng của hoạt động ngoại khóa vật lý
Hoạt động ngoại khóa vật lý nói riêng và hoạt động ngoại khóa nói chung có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục ở nhà trường PT, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trên tất cả các mặt, cụ thể là:
+ Về mặt nhận thức: Hoạt động ngoại khóa giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng những tri thức đã học trong nội khóa; giúp cho HS vận dụng được những kiến thức đó vào giải quyết những vấn đề thực tiễn trong cuộc sống, gắn lý thuyết với thực tiễn, thấy được những ứng dụng của kiến thức đã được học trong đời sống và kỹ thuật
Trang 2316
+ Về mặt rèn luyện kỹ năng: Hoạt động ngoại khóa giúp cho HS được rèn luyện chế tạo dụng cụ thí nghiệm, kỹ năng tiến hành thí nghiệm, kỹ năng giải quyết vấn đề; rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng tự tổ chức, kỹ năng tự quản lý, kỹ năng điều khiển hoạt động nhóm Ngoài ra, hoạt động ngoại khóa còn giúp HS phát triển kỹ năng giao tiếp, rèn luyện ngôn ngữ và kỹ năng phát biểu trước đám đông
+ Về mặt giáo dục tinh thần, thái độ làm việc: Hoạt động ngoại khóa kích thích
sự hứng thú học tập, khơi dậy lòng ham hiểu biết, lôi cuốn HS tự giác tham gia một cách nhiệt tình vào các hoạt động, phát huy tính tích cực, tự lực của HS
Ngoài ra, hoạt động ngoại khóa còn góp phần phát triển năng lực tư duy như tư duy lôgic, tư duy trừu tượng và đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo cho HS
Tóm lại, hoạt động ngoại khóa có mục đích bao trùm là hỗ trợ cho dạy học nội khóa, giúp phát triển và hoàn thiện nhân cách người học Đặc biệt, hoạt động ngoại khóa góp phần quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực có tính tích cực, tự lực cao và có khả năng sáng tạo tốt trong công việc, đáp ứng được yêu cầu của nền giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.6 CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
Hoạt động ngoại khóa về vật lý nói riêng và hoạt động ngoại khóa nói chung có những đặc điểm cơ bản như sau:
+ Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa phải được lập kế hoạch cụ thể về cả mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, lịch hoạt động cụ thể và thời gian thực hiện
+ Tổ chức các hoạt động ngoại khóa dựa trên tinh thần tự nguyện tham gia và
sự hứng thú của HS, dưới sự hướng dẫn của GV Trên cơ sở đó, HS sẽ yêu thích công việc, hoạt động tích cực, có hiệu quả và phát triển được năng lực của mình
+ Số lượng HS tham gia không hạn chế, có thể tổ chức hoạt động ngoại khóa theo nhóm hoặc theo tập thể đông người Trong điều kiện cho phép có thể huy động
HS toàn trường tham gia, không phân biệt trình độ HS
+ Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa phải đa dạng, phong phú, mềm dẻo, hấp dẫn để lôi cuốn được nhiều HS tham gia
+ Việc đánh giá kết quả các hoạt động ngoại khóa của HS không phải bằng điểm số thông qua các bài kiểm tra như trong các giờ học nội khóa, mà thông qua tính
Trang 2417
tích cực, sáng tạo của HS và sản phẩm của quá trình hoạt động Ngoài ra, kết quả của hoạt động ngoại khóa được đánh giá một cách công khai thông qua cả GV và HS Để khích lệ quá trình hoạt động của HS thì cũng cần có sự khuyến khích và phần thưởng động viên kịp thời cho các em
1.7 NỘI DUNG, CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGOẠI KHÓA VỀ VẬT LÝ [15], [12], [30]
1.7.1 Nội dung ngoại khóa về vật lý
Nội dung của ngoại khóa vật lý phải bổ sung và hỗ trợ cho nội khóa Nội dung của ngoại khóa giúp cho HS củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức vật lý đã được học trong nội khóa; bổ sung những kiến thức lý thuyết hoặc khắc phục những sai lầm mà
HS thường mắc phải khi học nội khóa; giúp cho HS hiểu rõ, biết liên kết và khái quát hóa những kiến thức đã được hình thành một cách rời rạc Ngoài ra, nội dung của ngoại khóa cần phải giúp cho HS nâng cao lòng ham thích, ham hiểu biết về vật lý –
kỹ thuật, vật lý – đời sống, vật lý – thiên văn,…phát triển tính độc lập, óc sáng tạo của
HS, tạo điều kiện cho HS được rèn luyện một số kỹ năng và kỹ xảo
Có thể kể đến một số nội dung hoạt động ngoại khóa mà HS có thể thực hiện được như:
+ Tìm hiểu thêm các kiến thức về vật lý và kỹ thuật
+ Nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt của vật lý học, tìm hiểu những ứng dụng của vật lý trong đời sống, kỹ thuật như: kỹ thuật điện, kỹ thuật vô tuyến điện, kỹ thuật chụp ảnh, các ứng dụng của sóng siêu âm,…
+ Thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm vật lý và kỹ thuật Để lựa chọn nội dung tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lý phù hợp thì GV cần phải căn cứ vào nội dung kiến thức mà HS được học trong nội khóa và tầm quan trọng của kiến thức này trong đời sống, kỹ thuật cũng như mục tiêu dạy học về phần kiến thức đó mà
HS cần phải đạt được
Căn cứ vào các hướng có thể tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lý như trên
và thực tế dạy học vật lý ở trường PT hiện nay, chúng tôi lựa chọn nội dung của đề tài chủ yếu là hoạt động thực nghiệm: thiết kế, chế tạo và sử dụng cụ thí nghiệm vật lý đơn giản Và chúng tôi chọn nội dung kiến thức của chương “Dòng điện không đổi” trong SGK vật lý lớp 11 PT để xây dựng nội dung cho hoạt động ngoại khóa
Trang 2518
1.7.2 Các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lý
Việc phân chia các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lý chỉ mang tính chất tương đối, không phân biệt được rõ ràng Có thể phân ra các hình thức hoạt động ngoại khóa về vật lý theo lượng HS tham gia, cũng có thể theo nội dung ngoại khóa hoặc theo thời gian và địa điểm diễn ra hoạt động ngoại khóa… Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chúng tôi nhận thấy các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa về vật lý thông thường nhất là: hoạt động ngoại khóa mang tính chất cá nhân, hoạt động ngoại khóa theo các nhóm và hoạt động ngoại khóa có tính quần chúng rộng rãi Cụ thể:
+ Tổ chức các hoạt động ngoại khóa ở lớp và ở nhà (HS đọc sách báo về vật lý
và kỹ thuật; tổ chức các buổi báo cáo và dạ hội về các vấn đề vật lý – kỹ thuật; HS ra báo tường hoặc tập san về vật lý – kỹ thuật; HS biểu diễn thí nghiệm hoặc giới thiệu sản phẩm là thí nghiệm vật lý chế tạo được…)
+ HS tổ chức triển lãm giới thiệu những thành tích hoạt động ngoại khóa về vật
lý
+ Tổ chức cho HS thăm quan ngoại khóa về vật lý, kỹ thuật
+ Tổ chức, hướng dẫn HS thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm vật lý hoặc máy móc đơn giản
+ Tổ chức ôn luyện cho HS tham dự thi HS giỏi hoặc các cuộc thi khác dành cho môn Vật lý ở trường PT
Với các hình thức tổ chức ngoại khóa về vật lý như trên, HS có thể tham gia vào các hoạt động với tư cách cá nhân, nhóm hoặc tập thể
* Hoạt động ngoại khóa theo nhóm
Dựa trên tính chất đặc thù của bộ môn Vật lý: các kiến thức vật lý không khó nhưng biểu hiện khá phức tạp trong thức tế và các kiến thức được xây dựng chủ yếu bằng con đường thực nghiệm Cho nên tổ chức ngoại khóa về vật lý nên lựa chọn nhiều nội dung liên quan đến việc sử dụng thí nghiệm Để hoạt động ngoại khóa về vật
lý có liên quan nhiều đến thí nghiệm thành công được thì hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa theo nhóm là ưu việt nhất Hình thức này vừa đảm bảo cho quá trình thiết
kế, chế tạo và tiến hành thí nghiệm diễn ra nhanh, có chất lượng vừa tạo điều kiện cho
HS tự học hỏi lẫn nhau và rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm
- Các nguyên tắc đảm bảo tổ chức tốt nhóm ngoại khóa vật lý:
Trang 2619
+ Khi tổ chức nhóm ngoại khóa trước hết phải dựa trên tinh thần tự nguyện, hứng thú của HS, HS phải được lựa chọn lĩnh vực kiến thức yêu thích để thiết kế, chế tạo thí nghiệm Điều này tạo cho HS tinh thần làm việc thoải mái, từ đó họ thấy yêu thích công việc, nỗ lực hoàn thành công việc và phát triển được tài năng
+ Để nhóm ngoại khóa có thể tồn tại và hoạt động có hiệu quả thì nhất thiết phải phát hiện và xây dựng được hạt nhân của nhóm Hạt nhân của nhóm thường là nhóm trưởng HS được chọn là hạt nhân của nhóm phải thích thú và có sự nhiệt tình cao với đề tài mà nhóm theo đuổi, đồng thời cũng phải có khả năng đoàn kết các thành viên trong nhóm học tập và lực học thuộc hạng khá vững vàng, tuy nhiên nhóm trưởng không nhất thiết là thành viên giỏi nhất trong nhóm
+ Yếu tố mới và tính vừa sức của đề tài đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển sự hứng thú và tích cực của nhóm Với nguyên tắc này, nội dung hoạt động ngoại khóa phải mới ít nhiều so với nội khóa, không đơn thuần là những thí nghiệm kiểm nghiệm lại kiến thức hoặc áp dụng dưới dạng quá đơn giản các kiến thức
đã học GV cần phải xác định được nội dung thích hợp, vừa sức với HS và khéo léo tổ chức sao cho từng bước HS thu được kết quả đều đặn, kể cả ở giai đoạn đầu để động viên kịp thời Để đạt được điều đó, khi tổ chức nhóm ngoại khóa GV cần phải dự kiến được những khó khăn mà HS có thể gặp phải, lên phương án giúp đỡ và tạo điều kiện
về thời gian, tài liệu, nguyên vật liệu,…cho nhóm HS
+ Phải đảm bảo tính nghiêm túc, nhẹ nhàng, tránh nặng nề, nhưng cũng tránh tùy tiện trong quá trình nhóm hoạt động Để đảm bảo nguyên tắc này, nhóm ngoại khóa cần có lịch làm việc cụ thể về thời gian cũng như tiến độ công việc, tránh tình trạng “đầu voi, đuôi chuột” Kiên quyết không để kế hoạch bị phá sản chừng nào không bị những nguyên nhân khách quan chi phối Như vậy thì quá trình hoạt động mới có ý nghĩa và đảm bảo uy tín của GV
- Nội dung của nhóm ngoại khóa
Tùy theo nội dung hoạt động của nhóm ngoại khóa có thể phân loại thành: Nhóm “Vật lý lý thuyết”, nhóm “Chế tạo dụng cụ thí nghiệm vật lý”, nhóm “Vật lý kỹ thuật”
+ Nhóm “Vật lý lý thuyết”
Nhóm này đi sâu vào tìm hiểu và sưu tầm các tài liệu xoay quanh vấn đề đang
Trang 2720
học hoặc các vấn đề đang được quan tâm nhằm giúp cho các thành viên trong lớp hiểu sâu hơn kiến thức được học Đồng thời nghiên cứu, giải thích các hiện tượng mà trong hoàn cảnh hạn chế của thời gian trên lớp mà GV không thể đi sâu được Khi tham gia nhóm ngoại khóa này, HS có thể sưu tầm những bài vật lý hay rồi tiến hành thảo luận
để tìm ra phương pháp giải hay, ngắn gọn; cũng có thể nhiệm vụ của nhóm là tìm hiểu lịch sử phát sinh và phát triển của một lĩnh vực của vật lý, kỹ thuật hoặc HS tìm hiểu tiểu sử của các nhà bác học vật lý,… Nhóm có thể phụ trách công việc ra báo tường hoặc tập san vật lý của trường, nội dung hoạt động của nhóm ngoại khóa này phải mới
so với nội khóa, không đơn thuần là sưu tập các thông tin đã có trong SGK hoặc sách bài tập
Trong quá trình thực hiện đề tài, GV cần lưu ý tới sự hứng thú của HS theo hướng tìm hiểu, nghiên cứu mà các em đã chọn để đảm bảo cho đề tài được thành công, đúng tiến độ và cung cấp được những sản phẩm có chất lượng
tổ chức cho HS tham gia chế tạo các dụng cụ thí nghiệm là rất phù hợp Tổ chức được tốt hình thức ngoại khóa với nội dung như vậy vừa giúp HS trực tiếp tham gia chế tạo dụng cụ có thể hiểu sâu hơn kiến thức được học, thấy được ứng dụng của kiến thức trong thực tế, đồng thời cũng khiến cho các em thấy hứng thú và tích cực hơn trong học tập, đồng thời vừa có thể bổ sung thêm các dụng cụ thí nghiệm còn thiếu cho nhà trường, giúp cho việc giảng dạy các khóa sau được thuận lợi Trong trường hợp như vậy, GV cũng cần phải góp ý để các em chế tạo được những dụng cụ thí nghiệm đẹp, bền và có thể sử dụng được lâu dài Tuy nhiên trong quá trình HS chế tạo dụng cụ, GV cũng cần làm cho các em hiểu rõ nguyên tắc cấu tạo cũng như hoạt động của các dụng
cụ thí nghiệm, chứ không phải các em chỉ cần chế tạo các dụng cụ theo mẫu có sẵn mà không hiểu bản chất và ý nghĩa của các dụng cụ Như vậy thì công tác ngoại khóa mới
Trang 2821
có ý nghĩa giáo dục và thực tiễn mạnh mẽ
GV cũng cần lưu giữ các hình ảnh hoạt động và sản phẩm của nhóm trong phòng thí nghiệm của nhà trường để giáo dục và làm gương cho các thế hệ sau Trong quá trình hoạt động ngoại khóa, GV cũng cần dạy cho các em biết cách sử dụng các công cụ, hiểu tính năng và cách gia công các vật liệu khác nhau như sắt, gỗ, bìa cứng, dung dịch hoá học, dây dẫn bằng kim loại,… GV cũng có thể nhờ phụ huynh hoặc chuyên gia đến hướng dẫn cho các em trong nhóm
+ Nhóm “Vật lý kỹ thuật”
Hình thức hoạt động ngoại khóa với nội dung liên quan đến các ứng dụng của vật lý trong kỹ thuật cũng được nhiều HS tham gia, dễ hứng thú, đồng thời có tác dụng giáo dục kỹ thuật khá trực tiếp do đó cần phải được đề cao và khuyến khích Nhóm ngoại khóa này có thể hoạt động theo nhiều hướng, với tên gọi phong phú và hấp dẫn Những nhóm ngoại khóa này mang nhiều tính chất thực hành chuyên môn hơn nhóm
“Chế tạo dụng cụ thí nghiệm vật lý” nhưng hoạt động của nhóm vẫn phải gắn liền với hai mặt lý thuyết và thực hành Do vậy GV cần phải bổ sung thêm cả kiến thức lý thuyết và thực hành cho HS Khi tổ chức hình thức ngoại khóa này, GV nên tổ chức những nhóm phục vụ yêu cầu của nền sản suất ở địa phương và nên phối hợp với những chuyên gia ở đó để có sự giúp đỡ về kỹ thuật cũng như kinh nghiệm Các nhóm ngoại khóa “Vật lý kỹ thuật” này nếu làm tốt vai trò của mình sẽ trở thành nòng cốt trong việc liên hệ bài học vật lý với thực tế kỹ thuật, nhóm này có vai trò tốt trong việc giúp cho các HS khác hiểu rõ hơn vai trò và biểu hiện của các kiến thức vật lý trong đời sống
* Hoạt động ngoại khóa có tính chất quần chúng rộng rãi
Các hoạt động ngoại khóa vật lý thu hút nhiều người tham gia, như: hội vui vật lý; triển lãm vật lý; báo tường về vật lý… Hoạt động ngoại khóa này thường là kết quả của quá trình hoạt động của nhóm vật lý Các hoạt động ngoại khóa này nếu được chuẩn bị chu đáo và tổ chức một cách hấp dẫn thì có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao lòng yêu thích nghiên cứu và học hỏi của HS
+ Hội vui vật lý
Hội vui là một hình thức ngoại khóa dễ phổ biến, lôi cuốn được đông đảo HS tham gia, tạo ra được khí thế trong học tập và nghiên cứu Hội vui có thể tổ chức theo
Trang 29+ Triển lãm về vật lý
Triển lãm về vật lý ở trường PT có thể tổ chức nhân ngày lễ của trường hoặc dịp tổng kết một kì học hoặc cuối năm học Mục đích của triển lãm về vật lý là để nói lên thành tựu hoạt động học tập và nghiên cứu về vật lý của một khối lớp hoặc của toàn trường
Để cho triển lãm thành công thì nội dung triển lãm phải phong phú; trình bày đẹp, khoa học và hấp dẫn Nội dung triển lãm có thể gồm: dụng cụ, mô hình vật lý mà
HS chế tạo được; mẫu vật sưu tầm được; đồ dùng phục vụ cho việc dạy học; biểu diễn thí nghiệm vật lý có liên quan đến kiến thức vật lý PT mà HS đã được học Triển lãm có thể tổ chức kết hợp với hội vui vật lý hoặc tiến hành cùng với các bộ môn khác như toán, hóa, sinh, công nghệ,…
+ Báo tường về vật lý
Đây là một hình thức hoạt động ngoại khóa khá hấp dẫn, dễ tổ chức, lôi cuốn được đông đảo HS tham gia, không phân biệt trình độ HS nhiều Hình thức hoạt động ngoại khóa này có tác dụng tốt trong việc thúc đẩy HS sưu tầm, đọc các sách báo hoặc giải các bài toán hay về vật lý Báo tường về vật lý cũng là một hoạt động để GV hoặc các thành viên tích cực trong lớp công bố các bài toán hay mà không có điều kiện hoặc không cần thiết phải trình bày trên lớp
Trên cơ sở nghiên cứu về các nội dung, hình thức của hoạt động ngoại khóa về vật lý và mục đích của đề tài, chúng tôi đã lựa chọn hướng nội dung hoạt động ngoại
Trang 3023
khóa là hoạt động thực nghiệm: tổ chức và hướng dẫn HS thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm về dòng điện không đổi từ những vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm, đơn giản Với hướng nội dung đó, chúng tôi cũng lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa cơ bản là HS hoạt động theo nhóm Ngoài ra để hoạt động ngoại khóa của
HS có ý nghĩa và tăng sự hứng thú của HS hơn, chúng tôi có tổ chức một buổi để cho các nhóm HS báo cáo sản phẩm và kết hợp với hội vui vật lý
1.7.3 Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khóa vật lý
Phương pháp dạy học hoạt động ngoại khóa vật lý thường có tính mềm dẻo, không cứng nhắc, phụ thuộc vào nội dung của hoạt động ngoại khóa và trình độ của
GV cũng như HS Cũng như trong dạy học nội khóa, trong dạy học ngoại khóa việc hướng dẫn của GV cũng theo các kiểu định hướng: định hướng tìm tòi, định hướng khái quát chương trình hóa, định hướng tái tạo Theo chúng tôi, vận dụng các phương pháp này vào dạy học hoạt động ngoại khóa có thể tuân theo các bước như sau: Ban đầu GV định hướng HS tìm tòi, tự tìm ra các kiến thức hoặc cách thức cần áp dụng để giải quyết vấn đề Nếu HS không đáp ứng được yêu cầu đó thì GV tổ chức định hướng khái quát chương trình hoá, gợi ý thêm cho HS Nếu như HS vẫn không thực hiện được nhiệm vụ thì GV chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo angôrít
Sự định hướng tìm tòi có thể phân biệt hai trình độ khác nhau đối với hành động đòi hỏi ở HS Đó là:
+ Định hướng tìm tòi áp dụng các cách thức hành động theo các mẫu đã biết: Ở mức độ này, GV yêu cầu HS tự huy động, lựa chọn cách thức hoạt động theo các mẫu
đã biết để chuyển tải áp dụng vào tình huống đang xét
+ Định hướng tìm tòi sáng tạo: GV yêu cầu HS tự nghĩ ra cách thức hoạt động giải quyết vấn đề, không phải là theo một mẫu có sẵn
Trang 3124
* Định hướng khái quát chương trình hóa
Đó là kiểu hướng dẫn trong đó người dạy cũng gợi ý cho HS tự tìm tòi như kiểu định hướng tìm tòi nói trên, nhưng giúp cho HS ý thức được lối khái quát của việc tìm tòi giải quyết vấn đề và sự định hướng được chương trình hóa theo các bước dự định hợp lý, theo các yêu cầu từ cao đến thấp đối với HS: từ tổng quát, tổng thể, toàn bộ đến riêng biệt, chi tiết, bộ phận sao cho thực hiện được một cách có hiệu quả các yêu cầu
Người dạy phải thực hiện từng bước việc hướng dẫn HS tự lực giải quyết nhiệm
vụ mà họ đảm nhận
- Sự định hướng ban đầu đòi hỏi HS tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề
- Nếu HS không đáp ứng được thì sự giúp đỡ tiếp theo của GV là sự phát triển định hướng khái quát ban đầu (gợi ý thêm, cụ thể hóa, chi tiết hóa thêm một bước) để thu hẹp hơn phạm vi, mức độ phải tìm tòi giải quyết cho vừa sức với HS
- Nếu HS vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của GV chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo, mà trước tiên là kiểu định hướng angôrít (hướng dẫn trình tự các hành động, thao tác hợp lý) để theo đó HS tự giải quyết vấn đề đã đặt ra
- Nếu HS vẫn không đáp ứng được thì mới thực hiện sự hướng dẫn tái tạo đối với mỗi hành động, thao tác cụ thể riêng biệt của trình tự hành động, thao tác đó
* Định hướng tái tạo
Đó là kiểu định hướng trong đó GV hướng HS vào việc huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động HS đã nắm được hoặc đã được GV chỉ ra một cách tường minh, để HS có thể thực hiện được nhiệm vụ mà họ đảm nhận Nghĩa là
HS chỉ cần tái tạo những hành động đã được GV chỉ rõ hoặc những hành động trong các tình huống đã quen thuộc đối với HS
Sự định hướng tái tạo có thể phân biệt hai trình độ khác nhau đối với hành động đòi hỏi ở HS Đó là:
- Định hướng tái tạo từng thao tác cụ thể riêng rẽ: Trong kiểu định hướng này người học sẽ theo dõi, thực hiện bắt chước lặp lại theo thao tác mẫu cụ thể do GV chỉ
ra
- Định hướng tại tạo angôrít: Trong kiểu định hướng này GV chỉ ra một cách khái quát tổng thể trình tự hành động để người học tự chủ giải quyết được nhiệm vụ
Trang 3225
Với mục đích và nội dung của đề tài, chúng tôi chọn kiểu định hướng cho HS không phải chỉ là định hướng tái tạo hay chỉ là định hướng tìm tòi mà là kiểu định hướng khái quát chương trình hoá Chúng tôi sẽ giao nhiệm vụ cho HS dưới dạng những nhiệm vụ học tập, sau đó yêu cầu HS thảo luận theo nhóm để tìm cách giải quyết nhiệm vụ được giao Nếu HS gặp khó khăn thì GV gợi ý thêm, cụ thể hoá nhiệm
vụ hơn để thu hẹp phạm vi tìm tòi, nghiên cứu và vừa sức hơn với HS
Việc hướng dẫn hoạt động ngoại khoá khác với dạy học nội khoá ở chỗ:
- Ở nội khoá, nếu HS gặp khó khăn không trả lời được câu hỏi hoặc tình huống
mà GV đưa ra thì GV có thể ngay lập tức thu hẹp phạm vi nghiên cứu dần sao cho vừa sức với HS Nếu HS vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của GV chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo, mà trước hết là kiểu định hướng angôrít để theo đó HS tự lực giải quyết vấn đề đặt ra Nếu HS vẫn không đáp ứng được thì mới thực hiện sự hướng dẫn tái tạo đối với mỗi hành động, thao tác đó
- Ở dạy học ngoại khoá thì không như vậy, nếu HS gặp khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, do có nhiều thời gian nên GV có thể cho HS về nhà suy nghĩ tiếp trong vài ngày thì có thể HS sẽ tự giải quyết được khó khăn đó Nếu HS vẫn gặp khó khăn thì GV sẽ gợi ý tiếp mà không sử dụng phương pháp tái tạo ngay từ đầu
1.8 QUY TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ VẬT LÝ [15], [12], [6]
Kết quả của hoạt động ngoại khoá vật lý phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức
và lập kế hoạch hoạt động mà GV vật lý là người quyết định Hiện nay chưa có nhiều tài liệu nói rõ quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lý Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy việc tổ chức hoạt động ngoại khoá về vật lý cho HS có thể thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Lựa chọn chủ đề ngoại khoá
Căn cứ vào nội dung chương trình, mục tiêu dạy học và tình hình thực tế của dạy học nội khoá bộ môn, đặc điểm của HS và điều kiện của GV cũng như của nhà trường để lựa chọn chủ đề của hoạt động ngoại khoá cần tổ chức Việc lựa chọn này phải rõ ràng để có tác dụng định hướng tâm lý và kích thích sự tích cực, tự lực của HS ngay từ đầu
Bước 2: Lập kế hoạch ngoại khoá
Trang 33- Xây dựng nội dung cho hoạt động ngoại khoá dưới dạng những nhiệm vụ học tập cụ thể
- Dự kiến hình thức tổ chức, phương pháp dạy học
- Dự kiến các tình huống có thể xảy ra và cách giải quyết
- Dự kiến những công việc có thể nhờ đến sự giúp đỡ của các lực lượng giáo dục khác
- Dự kiến thời gian và địa điểm tổ chức
Bước 3: Tiến hành hoạt động ngoại khoá theo kế hoạch
Khi tổ chức hoạt động ngoại khoá theo kế hoạch GV cần phải chú ý những nội dung sau:
- Luôn theo dõi quá trình HS thực hiện các nhiệm vụ để có thể giúp đỡ kịp thời, đặc biệt là những tình huống phát sinh ngoài dự kiến, kịp thời điều chỉnh những nội dung diễn ra không đúng kế hoạch
- Đối với những hoạt động diễn ra ở quy mô lớn như lớp, khối thì giáo GV đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển các hoạt động Đồng thời GV cũng phải là người trọng tài để tổ chức cho HS có thể tham gia tranh luận hay bảo vệ ý kiến của mình về những nội dung hoạt động ngoại khoá
- Đối với những hoạt động diễn ra ở quy mô nhỏ như trong tổ, nhóm HS thì cần
để cho HS hoàn toàn tự chủ cả việc tổ chức và thực hiện nhiệm vụ được giao, GV chỉ
có vai trò hướng dẫn khi HS gặp khó khăn hoặc việc
- Sau mỗi đợt tổ chức hoạt động ngoại khoá thì GV phải đánh giá, rút kinh nghiệm để điều chỉnh nội dung, hình thức và phương pháp cho hợp lý để tổ chức những đợt ngoại khoá về sau đạt kết quả cao hơn
Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả, tham gia hội vui, rút kinh nghiệm, khen thưởng
Trang 3427
Việc đánh giá kết quả của quá trình hoạt động ngoại khoá không giống như trong nội khoá, mà phải đánh giá thông qua cả quá trình hoạt động GV đánh giá hiệu quả thông qua sự tích cực, sự hứng thú, sự sáng tạo của HS và cả những kết quả mà
HS đạt được trong quá trình hoạt động Trong đó sản phẩm của quá trình hoạt động là một căn cứ quan trọng để đánh giá Do vậy, cần tổ chức cho HS giới thiệu, báo cáo sản phẩm đã tạo ra được trong qua trình hoạt động ngoại khoá Mặt khác, việc làm này còn có tác dụng trong việc khích lệ, động viên tinh thần tích cực học tập của HS về sau
Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá như trên có thể đem lại hiệu quả cao nếu GV biết vận dụng tốt các điều kiện và tổ chức hợp lý các hoạt động của HS Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thì GV cần phải căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường, HS và các yêu cầu giáo dục của bộ môn mà vận dụng quy trình trên một cách mềm dẻo sao cho quá trình hoạt động ngoại khoá đạt hiệu quả cao nhất
Trang 3528
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lý
ở trường PT chúng tôi nhận thấy được rõ hơn vai trò, tác dụng của hoạt động ngoại khoá trong việc phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS cũng như cách chọn nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp dạy học ngoại khoá sao cho đạt hiệu quả tốt nhất Chúng tôi căn cứ vào những cơ sở lý luận đã nghiên cứu ở trên để tìm ra phương hướng nghiên cứu và thực hiện đề tài sao cho đạt hiệu quả tốt nhất
Do thực trạng dạy học vật lý ở các trường PT của nước ta hiện nay là phương pháp dạy học thực nghiệm và hình thức tổ chức hoạt động học tập theo nhóm còn yếu nên việc tổ chức hoạt động ngoại khoá vật lý sẽ làm cho quá trình dạy học thêm phong phú, sâu sắc hơn, toàn diện hơn và khắc phục được nhiều điểm yếu của dạy học nội khoá Nếu tổ chức tốt hoạt động ngoại khoá về vật lý đặc biệt là hoạt động chế tạo dụng cụ thí nghiệm kết hợp với báo cáo các sản phẩm mà HS đã chế tạo được và các trò chơi vật lý, sẽ bổ sung rất tốt cho dạy học nội khoá Hoạt động ngoại khoá sẽ bổ sung tốt cho dạy học nội khoá trong việc rèn luyện kỹ thuật tổng hợp, phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo thông qua quá trình thiết kế phương án thí nghiệm, lựa chọn phương án thí nghiệm, chế tạo dụng cụ thí nghiệm, sử dụng dụng cụ thí nghiệm chế tạo được để tiến hành thí nghiệm và giải thích kết quả thí nghiệm thu được Đồng thời, nó cũng giúp cho HS mạnh dạn hơn, tự tin hơn, rèn luyện kỹ năng phát biểu trước đám đông đặc biệt nó giúp cho các em làm quen với nghiên cứu khoa học, tạo ra một tiền đề tốt trong quá trình học tập, nghiên cứu sau này
Trang 3629
Chương 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ VẬT LÝ VỀ
“DÕNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” CHO HS LỚP 11 THPT
2.1 MỤC TIÊU DẠY HỌC MÀ HS CẦN ĐẠT ĐƯỢC KHI HỌC VỀ “DÕNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Ở LỚP 11 THPT
- Viết được công thức định nghĩa cường độ dòng điện
- Nêu được vai trò của nguồn điện và suất điện động của nguồn điện
- Nêu được cấu tạo và sự tạo thành suất điện động của pin Vôn-ta
- Nêu được cấu tạo của Acquy chì và nguyên nhân vì sao Acquy là một pin điện hoá nhưng lại có thể được sử dụng nhiều lần
- Giải thích được sự xuất hiện hiệu điện thế điện hoá trong trường hợp thanh kẽm nhúng vào dung dịch axit sunfuric
- Hiểu được sự biến đổi năng lượng trong một mạch điện, từ đó hiểu công và công suất của dòng điện ở một đoạn mạch tiêu thụ điện năng, công và công suất của nguồn điện
- Nêu và vận dụng được công thức của định luật Jun - Len-xơ
- Phân biệt hai loại dụng cụ tiêu thụ điện Hiểu được suất phản điện của máy thu điện Hiểu và vận dụng được các công thức về điện năng tiêu thụ và công suất tiêu thụ, công suất có ích của máy thu điện
- Nêu được và vận dụng được công thức tính hiệu suất của nguồn điện và của máy thu điện
- Phát biểu được định luật Ôm đối với toàn mạch và viết được hệ thức biểu thị định luật này
- Nêu được mối quan hệ giữa suất điện động của nguồn điện và độ giảm điện thế ở mạch ngoài và ở mạch trong
Trang 37- Vận dụng đƣợc các công thức của định luật Ôm đối với toàn mạch, định luật
Ôm đối với từng loại đoạn mạch để giải các bài tập
- Mắc đƣợc các nguồn thành bộ và tính đƣợc suất điện động và điện trở trong của bộ nguồn
- Đo điện trở trong và suất điện động của một nguồn điện (pin con thỏ) bằng cách tiến hành thí nghiệm
- Tạo ra đƣợc các mạch điện kín dùng nguồn một chiều để thắp sáng các đèn
2.1.3 Mục tiêu phát triển tƣ duy
- Thiết kế, tiến hành thí nghiệm xác định điện trở trong của nguồn điện (pin con thỏ)
- Tạo ra các mạch điện kín dùng nguồn một chiều để thắp sáng các đèn điện theo định mức
- Chế tạo đèn pin, chuông điện, máy phát điện một chiều, từ những vật liệu đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm
- Tạo ra nguồn điện từ các quả chanh, quả quýt,
- Nghiên cứu sự nạp và phát điện của Acquy
- Thiết kế, tiến hành thí nghiệm khảo sát định luật Jun - Len-xơ, định luật Ôm cho toàn mạch và cho các đoạn mạch
Trang 38- Nghiên cứu sự nạp điện và phát điện của Acquy
- Thiết kế, tiến hành thí nghiệm khảo sát định luật Jun - Len-xơ
- Thiết kế, tiến hành thí nghiệm khảo sát định luật Ôm cho toàn mạch
- Xác định suất điện động và điện trở trong của pin con thỏ
- Tạo ra các mạch điện sáng tạo để thắp sáng các đèn điện dùng các nguồn điện như pin, Acquy
- Chế tạo đèn pin, chuông điện, máy phát điện một chiều, từ những vật liệu đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm
2.2 TÌM HIỂU TÌNH HÌNH DẠY VÀ HỌC VỀ “DÕNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Ở LỚP 11 THPT THUỘC MỘT SỐ TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA 2.2.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu tình hình dạy học về “Dòng điện không đổi” ở một số trường THPT ở tỉnh Sơn La, đối chiếu với mục tiêu dạy học các kiến thức này trong chương trình vật
lý lớp 11 để phát hiện ra những điểm còn hạn chế cả về phương pháp và phương tiện dạy học; phát hiện những sai lầm, hạn chế của cả GV và HS khi dạy và học phần kiến thức này Từ đó, sơ bộ đề xuất nguyên nhân của những sai lầm, hạn chế đó Những kết quả tìm hiểu được về tình hình dạy và học là một cơ sở để chúng tôi xây dựng nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa về “Dòng điện không đổi” trong chương trình vật lý lớp 11 THPT
2.2.2 Phương pháp điều tra
- Điều tra GV (thông qua phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp, tham khảo giáo án,
dự giờ dạy trên lớp)
- Điều tra HS (thông qua phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp, tìm hiểu thông qua các bài kiểm tra của HS, quan sát HS trong các giờ học trên lớp)
- Phỏng vấn lãnh đạo nhà trường; tham quan phòng thí nghiệm vật lý, kho dụng
cụ thí nghiệm phục vụ cho dạy học về “Dòng điện không đổi”
Trang 3932
2.2.3 Đối tượng điều tra
- GV vật lý và HS của các trường THPT ở huyện Mộc Châu – Sơn La: Trường THPT Thảo Nguyên; Trường THPT Mộc Lỵ; Trường THPT Tân Lâ ̣p và trường THPT Chiềng Sơn (THPT Chiềng Ve trước đây)
- Phòng thực hành vật lý và kho đựng dụng cụ thí nghiệm vật lý của các trường THPT nói trên
2.2.4 Kết quả điều tra
Nhận thức của GV và GV về tầm quan trọng của việc tổ chức dạy học ngoại khoá vật lý: (Bảng 2.1)
* Phương pháp dạy của GV
+ Tình hình GV: Tất cả GV vật lý của các trường THPT nói trên đều được đào tạo chính quy tập trung tại các trường ĐHSP như: ĐHSP Hà Nội; ĐHSP Hà Nội 2; ĐHSP Thái Nguyên; ĐH Tây Bắc Tất cả các GV vật lý đều được đào tạo và giảng dạy đúng chuyên môn, nhiệt tình với công việc
+ Phương pháp dạy của GV
Qua việc tổng hợp kết quả ở 22 phiếu tham khảo ý kiến GV, hỏi ý kiến trực tiếp, tham khảo giáo án của các GV vật lý của các trường THPT nói trên về tình hình dạy chương “Dòng điện không đổi” ở lớp 11 (có mẫu ở phần phụ lục), chúng tôi nhận thấy:
- Hầu hết các GV vẫn mang nặng phương pháp truyền thụ, thuyết trình, thông báo Các giáo án của GV chủ yếu là tóm tắt lại kiến thức SGK, không hoạch định hoặc hoạch định không rõ ràng các hoạt động của GV và HS trong mỗi giờ học Vai trò tổ chức, định hướng của GV chưa được thể hiện rõ Quá trình thực hiện bài dạy, nhiều khi GV vẫn chủ yếu diễn đạt bằng lời: mô tả, giải thích hiện tượng, giảng giải, nhấn mạnh cho HS những kiến thức cơ bản hay nội dung quan trọng Ví dụ, khi xây dựng
Trang 4033
biểu thức định luật Ôm cho toàn mạch: GV chỉ thông báo cách làm, vẽ hình và nêu mối quan hệ giữa các đại lượng mà không cho HS được quan sát thí nghiệm hay thực hiện thí nghiệm, đo đạc để đưa ra biểu thức Điều này sẽ khiến cho HS không hứng thú, không phát triển năng lực sáng tạo của mình
- Trong quá trình giảng dạy, các GV cũng có đưa ra các câu hỏi hoặc các tình huống có vấn đề cho HS, nhưng chúng tôi thấy các câu hỏi đó vẫn mang tính chất rời rạc, các tình huống không cụ thể, không khiến cho HS có được cái nhìn tổng quát về vấn đề hay cách giải quyết toàn diện vấn đề, không có tác dụng phát triển tư duy cho
HS
Ví dụ: Khi dạy bài Pin và Acquy, GV đưa ra các câu hỏi mà không sử dụng mô
hình hay thí nghiệm Quá trình dạy học như vậy khiến cho HS bị thụ động, không tự lực nhận thức được vấn đề
- Phương pháp dạy học chưa phát huy được tính tích cực và chưa phát triển được tính sáng tạo của HS Trong các giờ học, có những hoạt động mà HS có thể thực hiện được, có thể giúp phát huy tính tích cực hoặc phát triển năng lực sáng tạo HS nhưng các GV vì nhiều lý do đã làm hộ HS
Ví dụ như khi dạy học kiến thức về ghép các nguồn thành bộ, GV không yêu cầu HS thiết kế, chế tạo một dụng cụ thí nghiệm có thể nghiên cứu các dạng mạch có nguồn mắc nối tiếp hay song song mà mô tả ngay như SGK và thông báo các đặc điểm của các dạng mạch rồi đưa ra biểu thức tính suất điện động và điện trở trong của bộ nguồn Nếu GV yêu cầu HS thiết kế, chế tạo dụng cụ thí nghiệm và tiến hành thì có tác dụng rất lớn trong việc phát huy tính tích cực, tăng sự hứng thú trong học tập, giúp các
em hiểu bài kỹ hơn, đặc biệt còn có tác dụng trong việc phát triển năng lực sáng tạo và khả năng tư duy của HS
- Hầu hết các GV được hỏi đều cho rằng: phần kiến thức này khá trừu tượng, có nhiều ứng dụng trong thực tế và kỹ thuật nhưng số giờ dành cho học chính khóa lại rất hạn chế (cả chương trình chuẩn và chương trình nâng cao đều được phân phối 13 tiết) Điều này khiến cho HS rất khó khăn trong việc nắm vững kiến thức Các GV cũng cho biết: ít khi họ sử dụng thí nghiệm trong khi nghiên cứu bài mới vì không đủ thời gian;
GV có làm thí nghiệm biểu diễn cho HS nhưng không thường xuyên, chỉ làm các thí nghiệm có sẵn trong phòng thí nghiệm
Ở bài thí nghiệm thực hành đo suất điện động và điện trở trong của nguồn điện,