Thực tiễn cho thấy việc áp dụng hệ thống xác định trị giá theoHiệp định Trị giá Hải quan GATT/WTO đã tạo ra bước ngoặt cơ bản cho hệthống xác định trị giá tính thuế hiện hành với trên 90
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan luận văn: “Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam” là công
trình nghiên cứu của riêng em, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt
nghiệp là trung thực xuất phát từ thực tế của đơn vị thực tập
Tác giả luận văn tốt nghiệp
Lê Quỳnh Nga
Trang 2MỤC L
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
Y CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁ TÍNH THUẾ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU……… 4
1.1 Khái quát chung về giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu 4
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế đối với hàng hóa nhập khẩu 4
1.1.2 Vai trò của thuế đối với hàng hóa nhập khẩu 6
1.2 Nội dung quản lý giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu 6
1.2.1 Khái niệm giá tính thuế, quản lý giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu 6
1.2.2 Công tác quản lý giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu 7
1.2.3 Nguyên tắc và phương pháp xác định giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu 7
1.2.4 Phương pháp quản lý 13
1.3 Các yếu tố tác động tới quản lý giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu .14
1.3.1 Các yếu tố khách quan 14
1.3.2 Các yếu tố chủ quan 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁ TÍNH THUẾ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 16
2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam 16
2.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam 19
2.2.1 Những kết quả đạt được 19
2.2.2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 26
Trang 3CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN
LÝ GIÁ TÍNH THUẾ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM…34 3.1 Định hướng trong quản lý giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu ở
Việt Nam 34
3.1.1 Đối với Tổng cục Hải quan 34
3.1.2 Đối với Cục Hải quan tỉnh, thành phố 36
3.2 Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu 36
3.2.1 Đối với Chính phủ 37
3.2.2 Đối với Bộ, Ngành 38
3.2.3 Đối với cơ quan Hải quan 40
KẾT LUẬN 51
Trang 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ST
T
Từ viết tắt Nghĩa
3 GATT General Agreement Of Tarriff And Trade
5 GTT02 Hệ thống giá tính thuế
8 VCIS Vietnam Customs Intelligence Information System
9 VNACCS Vietnam Automated Cargo And Port Consolidated
System
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1: Bộ máy quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo Ngànhdọc……… 16
Trang 5Bảng 2.1: Kết quả công tác tham vấn từ 2013-2015………23
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế được xem là mộttất yếu khách quan và trở thành vấn đề thời sự của tất cả các quốc gia trên thếgiới, Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ Chính vì thế, sau một thờigian dài chuẩn bị Việt Nam đã trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chứcThương mại thế giới (WTO) vào ngày 11/1/2007 Việc gia nhập WTO tạo ranhiều cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đời sống xã hội, tạo điều kiện mởrộng hoạt động thương mại quốc tế, góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tưnước ngoài, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước Tuy nhiên,việc gia nhập WTO cũng sẽ đem đến nhiều thách thức, không chỉ đối vớicộng đồng doanh nghiệp mà còn đối với cả các cơ quan quản lý Nhà nướctrước yêu cầu chúng ta phải thực hiện đầy đủ các cam kết, trong đó có camkết về trị giá Thực tiễn cho thấy việc áp dụng hệ thống xác định trị giá theoHiệp định Trị giá Hải quan GATT/WTO đã tạo ra bước ngoặt cơ bản cho hệthống xác định trị giá tính thuế hiện hành với trên 90% hàng hóa nhập khẩuđược xác định trị giá tính thuế theo phương pháp trị giá giao dịch, qua đó rútngắn thời gian thông quan hàng hóa, tạo sự công bằng, bình đẳng trong kinhdoanh thương mại, tôn trọng trị giá đàm phán giao dịch trong mua bán,khuyến khích thương mại phát triển Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta mớitiếp cận với nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh tế đối ngoại mới đangtrong tiến trình hội nhập, các chính sách quản lý vĩ mô và hành lang pháp lýphần nào còn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý thì việc tham gia thực hiện Hiệpđịnh Trị giá Hải quan GATT/WTO của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn vàcác đối tượng buôn lậu, gian lận thương mại sẽ lợi dụng các kẽ hở trong công
tác quản lý để trốn thuế Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam” là cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn Trong quá trình
Trang 7hoàn thiện đề tài mặc dù còn nhiều khó khăn trong việc thu thập số liệu và tàiliệu tham khảo nhưng với sự giúp đỡ tận tình của các cô chú, anh chị trongPhòng Trị giá – Cục Thuế xuất nhập khẩu trong suốt thời gian thực tập, đặcbiệt là giáo viên hướng dẫn Ths Nguyễn Thị Minh Hòa đã giúp em hiểu biếthơn về thực tế công việc, do đó em đã hoàn thành tốt luận văn của mình
2 Mục đích:
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống một số vấn đề lý luận liên quan
đến quản lý trị giá hải quan và đánh giá thực trạng công tác quản lý giá tínhthuế hàng nhập khẩu của Việt Nam, để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằmtăng cường công tác quản lý giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu củaViệt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài cần thực hiện những nội dungsau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý giá hàng nhậpkhẩu
- Phân tích thực trạng công tác quản lý giá hàng hoá nhập khẩu trongnhững năm gần đây
- Hệ thống hoá và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tácquản lý giá hàng hoá nhập khẩu ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp tăng cường công tác quản lý giátính thuế hàng nhập khẩu
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các giải phápliên quan đến công tác quản lý giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng những
Trang 8phương pháp sau đây:
+ Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: đề tài sử dụng phươngpháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
+Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: đề tài sử dụng phươngpháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp mô hình hoá
6 Kết cấu của luận văn tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Khái quát chung về công tác quản lý giá tính thuế đối với hàng
hóa nhập khẩu
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu của Việt
Nam trong những năm qua
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý giá tính thuế
đối với hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁ TÍNH THUẾ ĐỐI
VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU 1.1 Khái quát chung về giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế đối với hàng hóa nhập khẩu.
1.1.1.1 Khái niệm về thuế.
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các pháp nhân và thể nhân choNhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụngcho mục đích công cộng
Ở Việt Nam, thuế Hải quan được biết đến với tên gọi “Thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu” và được thực hiện tuân theo các quy định của Luật thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu
Khái niệm: Thuế Hải quan (hay thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) là mộtkhoản tiền được tính toán dựa trên các căn cứ nhất định do đối tượng nộp thuếphải nộp vào Ngân sách Nhà nước khi tiến hành xuất khẩu hoặc nhập khẩucác loại hàng hóa là đối tượng chịu thuế Hải quan qua biên giới quốc gia Thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là tổng tiền thuế phải nộp cho hàng hóakhi nhập khẩu vào biên giới quốc gia Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Namphải chịu Thuế nhập khẩu và Thuế GTGT, đối với một số loại hàng đặc thùcòn phải chịu thêm Thuế tiêu thụ đặc biệt và Thuế bảo vệ môi trường
1.1.1.2 Đặc điểm cơ bản của thuế đối với hàng hóa nhập khẩu.
Đặc điểm chung của thuế
- Thuế có tính bắt buộc
Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế vớicác hình thức huy động tài chính khác của NSNN Để đảm bảo nhu cầu chi
Trang 10tiêu công, Nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọiđối tượng có thu nhập phải chuyển giao.
- Thuế có tính không hoàn trả trực tiếp
Thuế không phải là khoản phải trả phí khi các đối tượng nộp thuế đã nhậnđược một lợi ích hay quyền lợi cụ thể nào từ phía nhà nước Bất kì ai, khi đủđiều kiện đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước, không phânbiệt họ đã nhận được lợi ích công nào Tính chất không hoàn trả trực tiếp củathuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuếthông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước
- Thuế mang tính pháp lý cao
Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởiquyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng phápluật
Đặc điểm của thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
Xét về bản chất: thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu là đều thuế gián thu,
mang đầy đủ tính chất của thuế gián thu
Về phạm vi áp dụng: áp dụng đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa qua
biên giới và đánh vào một số đối tượng hàng hóa nhất định mà Chính phủ cần
áp đặt “bàn tay” quản lý của mình
Đối tượng áp dụng: chỉ áp dụng với các hàng hóa hữu hình được nhập
khẩu qua biên giới hay được đưa từ khu phi thuế quan vào thị trường trongnước, hoặc hàng hóa mua bán trao đổi khác được coi là hàng hóa xuất khẩu
Về hình thức thu: nộp thuế bằng cách chuyển tiền (tiền mặt hoặc chuyển
khoản) vào tài khoản thuế của cơ quan Hải quan ngay khai hành động nhậpkhẩu diễn ra, do đó có tính chất tức thời và dứt điểm
Trang 11Về quản lý hành thu: cơ quan hành thu đối với thuế đánh vào hàng hóa
nhập khẩu là cơ quan Hải quan
1.1.2 Vai trò của thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
Thuế là nguồn thu chủ yếu đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước Vaitrò này là vai trò đầu tiên thể hiện chức năng cơ bản của thuế, phản ánhnguyên nhân nảy sinh thuế Trong các nguồn thu ngân sách nhà nước thì thuế
là nguồn thu chủ yếu, ổn định và vững chắc
Thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu, là công cụ bảo hộ sản xuất trongnước, là nguồn thu của NSNN Nhà nước sử dụng thuế nhập khẩu để điềuchỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả hànghóa nhập khẩu Thuế nhập khẩu cũng là công cụ quan trọng của Nhà nướcnhằm kiểm soát hoạt động thương mại quốc tế thông qua việc kiểm tra, kêkhai, tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
1.2 Nội dung quản lý giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm giá tính thuế, quản lý giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
1.2.1.1 Khái niệm giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là trị giá của hàng hóa nhập khẩuphục vụ cho mục đích tính thuế, thống kê hải quan
1.2.1.2 Khái niệm quản lý giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
Quản lý nói chung là hoạt động điều khiển, chỉ đạo một hệ thống, một quá
trình hay một tổ chức căn cứ vào những quy luật hay nguyên tắc để cho hệthống, quá trình hay tổ chức ấy vận động theo ý muốn của người quản lýnhằm đạt được những mục đích nhất định
Quản lý Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là các biện pháp mà Nhà nước tácđộng nhằm mục đích huy động nguồn lực tài chính và điều tiết kinh tế trong hoạt động thương mại quốc tế
Trang 12Quản lý giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu là việc cơ quan Hải quan sửdụng quyền lực Nhà nước để tổ chức, thực hiện các quy định về giá tính thuếđối với hàng hóa nhập khẩu.
1.2.2 Công tác quản lý giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
Công tác quản lý giá tính thuế bao gồm các công việc xây dựng, thu thập,cập nhật, khai thác, sử dụng và quản lý cơ sở dữ liệu về giá tính thuế Nghiêncứu, thu thập các thông tin thuộc lĩnh vực trị giá tính thuế để phân tích, tổnghợp, xử lý và cung cấp, hỗ trợ cho việc xác định trị giá tính thuế Thực hiệnđánh giá và phân loại việc chấp hành của doanh nghiệp trong việc khai báo vàtính chính xác của trị giá hàng nhập khẩu
Cơ cấu tổ chức quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu được thực hiện theongành dọc Tổng cục Hải quan đứng đầu sau đó là Cục Hải quan Tỉnh, Thànhphố, cơ quan trực tiếp kiểm tra giá hàng nhập khẩu là Chi cục Hải quan cửakhẩu
1.2.3 Nguyên tắc và phương pháp xác định giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
1.2.3.1 Nguyên tắc xác định giá tính thuế nhập khẩu
Giá tính thuế nhập khẩu là trị giá của hàng hóa nhập khẩu phục vụ chomục đích tính thuế, thống kê hải quan
Nguyên tắc: Trị giá hải quan là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhậpđầu tiên, được xác định theo các phương pháp:
1 Phương pháp trị giá giao dịch;
2 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt;
3 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự;
4 Phương pháp trị giá khấu trừ;
5 Phương pháp trị giá tính toán;
6 Phương pháp suy luận
Trang 131.2.3.2 Phương pháp xác định giá tính thuế nhập khẩu.
(1) Phương pháp trị giá giao dịch
Trị giá giao dịch là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho
hàng hóa được bán để xuất khẩu tới nước nhập khẩu sau khi đã được điềuchỉnh
Trị giá giao dịch = Giá thực tế thanh toán + Khoản điều chỉnh cộng – Khoản điều chỉnh trừ
Giá thực tế thanh toán là tổng số tiền mà người mua phải trả trực tiếp hoặcgián tiếp cho người bán để có được hàng nhập khẩu
Điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch:
+ Điều kiện 1: Người mua không bị hạn chế quyền định đoạt, sử dụnghàng hóa sau khi nhập khẩu
+ Điều kiện 2: Giao dịch không phụ thuộc vào điều kiện hay thỏa thuậnnào mà vì điều kiện hay thỏa thuận đó dẫn đến không thể xác định được trịgiá của hàng hóa
+ Điều kiện 3: Sau khi bán lại hàng nhập khẩu, người mua không phải trảthêm một khoản tiền nào trích từ doanh thu bán hàng để trả cho người bán.Nếu có phải xác định được số tiền để điều chỉnh vào trị giá giao dịch (khoảnđiều chỉnh)
+ Điều kiện 4: Người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt.Nếu có thì mối quan hệ đặc biệt phải không ảnh hưởng tới giá
(2) Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt
Điều kiện áp dụng: Nếu không xác định được trị giá hải quan theo phương
pháp trị giá giao dịch thì trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xácđịnh theo phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt
Trang 14Hàng hóa giống hệt là những hàng hóa giống nhau về mọi khía cạnh, baogồm các đặc tính vật lý; chất lượng sản phẩm; danh tiếng nhãn hiệu của sảnphẩm; được sản xuất ở cùng một nước, cùng một nhà sản xuất hoặc nhà sảnxuất được ủy quyền
Khi sử dụng phương pháp này phải đảm bảo trị giá giao dịch của hàng hóagiống hệt có cùng cấp độ thương mại và (hoặc) có cùng số lượng với hànghóa đang được xác định trị giá Nếu không tìm được hàng hóa giống hết nhưvậy thì trị giá của hàng hóa đang cần xác định giá sẽ phải có sự điều chỉnhcho phù hợp về sự khác nhau của các yếu tố đó và sự khác nhau về cước vậntải, bảo hiểm, xếp dỡ do có số lượng khác nhau và (hoặc) do sử dụng cácphương thức vận tải khác nhau Việc khác nhau về thời điểm nhập khẩu giữahàng hóa giống hệt và hàng hóa đang cần xác định trị giá cũng là một yếu tốcần xem xét để điều chỉnh cho phù hợp
(3) Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự
Nếu không thể xác định được trị giá tính thuế theo phương pháp trị giágiao dịch (Phương pháp 1) hay phương pháp trị giá giao dịch của hàng giốnghệt (Phương pháp 2), thì trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế của hànghóa nhập khẩu phải là trị giá giao dịch của hàng tương tự bán để xuất khẩucho cùng một nước nhập khẩu vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với lô hàngđang được xác định trị giá hải quan
Hàng hóa tương tự là những hàng hóa, dù không giống nhau về mọi khíacạnh, nhưng có các đặc trưng giống nhau, và được làm từ các nguyên vật liệucấu thành giống nhau, như thế làm cho những hàng hóa này thực hiện đượccác chức năng tương tự và có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thươngmại Chất lượng của hàng hóa, danh tiếng uy tín hàng hóa và sự hiện diện củanhãn hiệu thương mại là những yếu tố nên được xem xét trong quá trình đánhgiá hàng hóa đó có phải là mặt hàng tương tự hay không
Trang 15Khi xem xét xác định hàng hóa được coi là tương tự cần phải đảm bảocác tiêu chí:
- Được sản xuất cùng một nước với hàng hóa đang được xác định trịgiá hải quan
- Hàng hóa tương tự do nhiều người sản xuất ra thì chỉ được xem xéttrong trường hợp không có hàng hóa do cùng người sản xuất so với hàng hóađang được xác định trị giá
- Phương pháp chế tạo giống nhau
- Kích cỡ, kiểu dáng giống nhau
- Chất lượng, danh tiếng, nhãn mác của hàng hóa cũng là yếu tố cầnphải xem xét
Khi sử dụng phương pháp này phải đảm bảo trị giá giao dịch của hànghóa tương tự có cùng cấp độ thương mại và (hoặc) có cùng số lượng với hànghóa đang được xác định trị giá Nếu không tìm được hàng hóa tương tự nhưvậy thì trị giá của hàng hóa đang cần xác định giá sẽ phải có sự điều chỉnhcho phù hợp về sự khác nhau của các yếu tố đó và sự khác nhau về cước vậntải, bảo hiểm, xếp dỡ do có số lượng khác nhau và (hoặc) do sử dụng cácphương thức vận tải khác nhau Việc khác nhau về thời điểm nhập khẩu giữahàng hóa tương tự và hàng hóa đang cần xác định trị giá cũng là một yếu tốcần xem xét để điều chỉnh cho phù hợp
(4) Phương pháp trị giá khấu trừ
Nếu không thể xác định được trị giá hải quan cho hàng hóa nhập khẩutheo phương pháp trị giá giao dịch, trị giá giao dịch hàng hóa nhập khẩugiống hệt, trị giá giao dịch hàng hóa nhập khẩu tương tự, thì trị giá hải quanđược xác định theo phương pháp trị giá khấu trừ hoặc, trừ trường hợp theoyêu cầu của người nhập khẩu thứ tự áp dụng phương pháp trị giá khấu trừ vàphương pháp trị giá tính toán được hoán đổi
Trang 16Phương pháp trị giá khấu trừ là căn cứ vào đơn giá bán hàng hóa nhậpkhẩu, hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc hàng hóa nhập khẩu tương tự trênthị trường nội địa Việt Nam và trừ (-) các chi phí hợp lý, lợi nhuận thu đượcsau khi bán hàng hóa nhập khẩu.
- Người nhập khẩu và người mua hàng trong nước không có mối quan hệđặc biệt;
- Mức giá bán tính trên số lượng bán ra lớn nhất và đủ để hình thành đơngiá Mức giá bán ra tính trên số lượng bán ra lớn nhất là mức giá mà hàng hóa
đã được bán với số lượng tổng cộng lớn nhất trong các giao dịch bán hànghóa ở cấp độ thương mại đầu tiên ngay sau khi nhập khẩu;
- Hàng hóa được bán ra (bán buôn hoặc bán lẻ) vào ngày sớm nhất ngaysau khi nhập khẩu, nhưng không chậm quá 90 ngày (ngày theo lịch) sau ngàynhập khẩu lô hàng đó Ngày sớm nhất ngay sau khi nhập khẩu là ngày hàng
Trang 17hóa được bán với số lượng hàng hóa đủ để hình thành đơn giá (tối thiểu bằng10% lượng hàng hóa của mặt hàng đó trong lô hàng nhập khẩu).
* Điều kiện lựa chọn đơn giá bán trên thị trường Việt Nam:
- Đơn giá bán trên thị trường Việt Nam phải là đơn giá bán của hàng hóanhập khẩu đang được xác định trị giá hải quan, hàng hóa nhập khẩu giống hệthoặc hàng hóa nhập khẩu tương tự, được bán nguyên trạng như khi nhậpkhẩu;
- Đơn giá bán được lựa chọn là đơn giá tương ứng với lượng hàng hóađược bán ra với số lượng lũy kế lớn nhất ở mức đủ để hình thành đơn giá;hàng hóa được bán ra ngay sau khi nhập khẩu, nhưng không quá 90 ngày saungày nhập khẩu của hàng hóa đang được xác định trị giá hải quan; người muahàng trong nước và người bán không có mối quan hệ đặc biệt
(5) Phương pháp trị giá tính toán
Phương pháp trị giá tính toán là phương pháp xác định trị giá hải quan củahàng hóa dựa trên các chi phí liên quan đến việc sản xuất và bán hàng để xuấtkhẩu đến nước nhập khẩu
Trị giá hải quan của hàng hóa xác định theo phương pháp trị giá tính toán
là tổng các khoản chi phí của người sản xuất dể sản xuất và bán hàng hóađang được xác định trị giá
(6) Phương pháp trị giá suy luận
Nếu không thể xác định trị giá hải quan hàng nhập khẩu theo bất kỳphương pháp nào từ phương pháp 1 đến phương pháp 5 như trên thì sẽ xácđịnh theo một phương pháp suy luận thích hợp
Phương pháp trị giá suy luận là phương pháp xác định trị giá hải quanbằng cách dựa trên các phương pháp sẵn có, bằng cách áp dụng linh hoạt vàhợp lý trên cơ sở ưu tiên, vận dụng lại từ phương pháp thứ nhất đến phươngpháp thứ 5
Trang 18Khi xác định trị giá hải quan theo phương pháp này, người khai hải quan
và cơ quan hải quan không được sử dụng các trị giá dưới đây để xác định trịgiá hải quan:
Giá bán trên thị trường nội địa của mặt hàng cùng loại được sản xuất tạiViệt Nam;
Giá bán hàng hóa ở thị trường nội địa nước xuất khẩu;
Giá bán hàng hóa để xuất khẩu đến nước khác;
Chi phí sản xuất hàng hóa, trừ các chi phí sản xuất hàng hóa được sửdụng trong phương pháp tính toán;
Trị giá tính thuế tối thiểu;
Trị giá do cơ quan hải quan xác định không tuân theo nguyên tắc và cácphương pháp xác định trị giá hải quan hoặc trị giá do người khai hảiquan khai báo khi chưa có hoạt động mua bán hàng hóa để nhập khẩuhàng hóa vào Việt Nam;
Sử dụng trị giá cao hơn trong hai trị giá thay thế để làm trị giá hải quan
1.2.4 Phương pháp quản lý
Hiện cơ chế xác định giá tính thuế hàng nhập khẩu ở Việt Nam hoàn toàndựa trên các nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá tính thuế theo GATT/WTO Cùng với đó là cơ chế tự kê khai, tự xác định trị giá tính thuế Phươngpháp quản lý của công chức Hải quan từ chỗ bị động mang tính áp đặt sangchủ động kiểm tra, kiểm soát việc tự khai báo của doanh nghiệp
Sử dụng Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu giá chương trình GTT02 GTT làcông cụ để triển khai các công tác nghiệp vụ quản lý về giá Hệ thống GTT02được xây dựng nhằm mục tiêu xử lý thông tin quản lý trị giá tính thuế tậptrung cấp Tổng cục; đảm bảo kết nối, xử lý thông tin với hệ thống VNACCS/VCIS Hệ thống GTT02 có chức năng cập nhật các kết quả: Kiểm tra thủ tục
hồ sơ và mức giá; kết quả tham vấn giá; kết quả sau khi hàng hóa đã thông
Trang 19quan; kết quả kiểm tra, thanh tra; khiếu nại; xác định giá do xét giảm giá; giá
Tính hoàn thiện của các văn bản pháp lý có ảnh hưởng lớn tới công tácquản lý giá tính thuế Quy định của Bộ Tài chính về trị giá hải quan là cơ sởquan trọng để cơ quan Hải quan và doanh nghiệp đồng thuận về giá tính thuế.Việc hoàn thiện và thiết lập hành lang pháp lý cho một số hoạt động hỗ trợcông tác kiểm tra, kiểm soát và xác định trị giá khai báo để góp phần ngănchặn các hành vi gian lận thuế qua việc tự xác định trị giá tính thuế
- Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế
Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, các văn bản pháp lý về quản lý giá tínhthuế phải được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để phù hợp với các cam kếtquốc tế mà Việt Nam tham gia
Tuy nhiên do hội nhập kinh tế mà các loại thuế nhập khẩu dần được cắtgiảm, dẫn đến giảm nguồn thu ngân sách thuế xuất nhập khẩu Đồng thời thịphần của các nhà sản xuất trong nước tại sân nhà sẽ bị ảnh hưởng
- Nhóm yếu tố thuộc về đối tượng nộp thuế
Thuế là khoản thu mang tính chất bắt buộc Theo tâm lý chung, các chủ
thể nộp thuế rất hiếm khi tự nghuện nộp thuế mà họ tìm mọi cách để trố thuế,giảm số thuế phải nộp Các chủ thể nộp thuế nhập khẩu cũng vậy Nhiều
Trang 20doanh nghiệp đã lợi dụng cơ chế tự kê khai, tự tính thuế tiến hành khai báo trịgiá hàng hoá rất thấp so với thực tế hoặc mô tả sai hàng hoá nhằm mục đíchtrốn và tránh các khoản thuế phải nộp.
1.3.2 Các yếu tố chủ quan
- Các yếu tố thuộc về năng lực con người
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác giá có tác động lớn đến công tác quản lý Cán bộ có trình độ chuyên môn cao công tác quản lý sẽ dễ dàng hơn, hạn chế tối đa được những sai sót do thiếu kinh nghiệm, trình độ thấp Việc gian lận do đó cũng giảm thiểu
- Điều kiện cơ sở vật chất
Hiện nay việc quản lý giá được tiến hành thông qua hệ thống GTT02 Việcnâng cấp hệ thống thường xuyên để xử lý các vướng mặc phát sinh Trang thiết bị hiện đại sẽ tạo điều kiện thuận lợi để việc kiểm tra khai báo diễn ra nhanh chóng, chính xác hơn
Trang 21TỔNG CỤC HẢI QUAN
CỤC HẢI QUAN TỈNH, THÀNH PHỐ
PHÒNG GIÁ- CỤC THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU
BỘ PHẬN GIÁ- PHÒNG THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU
BỘ PHẬN KIỂM TRA GIÁ TÍNH THUẾ (thuộc Đội nghiệp vụ) CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁ TÍNH THUẾ ĐỐI VỚI HÀNG
HÓA NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý giá tính thuế đối với hàng hóa nhập
khẩu của Việt Nam
Đối với công tác quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu, cơ cấu tổ chức
quản lý được thực hiện theo ngành dọc Tổng cục Hải quan là cơ quan đứng
đầu sau đó là Cục Hải quan Tỉnh, Thành phố, cơ quan trực tiếp kiểm tra giá
hàng nhập khẩu là Chi cục Hải quan cửa khẩu
Sơ đồ 2.1: Bộ máy quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo Ngành dọc
Mối quan hệ trực thuộc
Bộ phận chức năng Mối quan hệ về nghiệp vụ giá
Trang 22 Nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan đối với công tác quản lý giá cụ thể nhưsau:
Đối với Tổng cục Hải quan:
Tổng cục Hải quan là cơ quan chịu trách nhiệm trước Bộ Tài chính đối vớicông tác quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu Mảng công tác này được giaocho Cục thuế xuất nhập khẩu (cơ quan trung ương trực thuộc Tổng Cục Hảiquan)
Phòng trị giá (Cục Thuế xuất nhập khẩu) là Phòng trực tiếp thực hiện việcquản lý công tác trị giá trong toàn Ngành Phòng có chức năng:
- Trình Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan để trình Bộ trưởng Bộ Tàichính văn bản quy phạm pháp luật về xác định trị giá tính thuế xuất khẩu,nhập khẩu
- Trình Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan: Văn bản hướng dẫn quy trìnhnghiệp vụ, thu thập, xây dựng cơ sở dữ liệu giá tính thuế;
- Hướng dẫn, giải thích về giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu theo quy định của pháp luật và của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan;
- Tổ chức xây dựng, thu thập, cập nhật, khai thác, sử dụng và quản lý cơ sở
dữ liệu về giá tính thuế
- Tổ chức triển khai thực hiện các vấn đề kỹ thuật của Hiệp định Trị giáHải quan GATT/WTO, các cam kết quốc tế về trị giá hải quan
Đối với Cục Hải quan Tỉnh, Thành phố
Phòng Thuế xuất nhập khẩu được hình thành trên cơ sở Phòng Trị giá tínhthuế và mảng quản lý thuế của Phòng Nghiệp vụ trước đây Công tác trị giátính thuế là một mảng nghiệp vụ quan trọng và chủ yếu của Phòng Thuế xuất
nhập khẩu Đối với mảng công tác trị giá tính thuế, Phòng có chức năng:
Trang 23- Nghiên cứu, thu thập các thông tin thuộc lĩnh vực trị giá tính thuế đểphân tích, tổng hợp, xử lý và cung cấp, hỗ trợ cho các Chi cục Hải quan thốngnhất xác định trị giá tính thuế và quyết định thông quan hàng hoá; cho kiểmtra sau thông quan của Cục và truyền số liệu báo cáo về Tổng cục Hải quantheo quy định
- Tiếp nhận, đề xuất trình Cục trưởng chỉ đạo, giải quyết khiếu nại của các
tổ chức, cá nhân Đề xuất điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung danh mục quản lý rủi
ro và danh mục trọng điểm về giá; đề xuất, kiến nghị để Cục trưởng báo cáoTổng cục những trường hợp vượt thẩm quyền của Cục trưởng
- Nghiên cứu hoạt động nghiệp vụ, kiểm tra, giám sát công tác xác định trịgiá tính thuế tại các Chi cục và đề xuất trang bị phương tiện kỷ thuật, ứngdụng công nghệ thông tin kỹ thuật quản lý rủi ro vào công tác xác định trị giátính thuế của Cục; theo dõi, quản lý tình trạng sử dụng các trang thiết bị,phương tiện phục vụ công tác trị giá tính thuế của Cục
- Tham mưu, giúp Cục trưởng quản lý, chỉ đạo và thực hiện các nhiệm vụ,quyền hạn của Cục trưởng về công tác trị giá tính thuế tại các địa điểm làmthủ tục hải quan; chuẩn bị nội dung, tài liệu về trị giá tính thuế cho lãnh đạoCục dự họp, hội thảo, hội nghị
Đối với Chi cục Hải quan cửa khẩu:
Chi cục Hải quan cửa khẩu theo quy trình hiện hành là cơ quan đầu tiêntiếp nhận xử lý các thông tin liên quan đến giá hàng nhập khẩu, thực hiệnđánh giá và phân loại việc chấp hành của doanh nghiệp trong việc khai báo vàtính chính xác của trị giá hàng nhập khẩu được khai báo Chính vì thế, vai tròcủa Chi cục Hải quan cửa khẩu trong công tác quản lý giá là rất quan trọng vàđóng vai trò quyết định
Công tác tổ chức cán bộ quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu
Công tác cán bộ luôn được Ngành Hải quan chú trọng nhằm nâng cao chất
Trang 24lượng công tác quản lý giá tính thuế Công tác cán bộ được quan tâm cả vềmặt số lượng lẫn chất lượng
- Tại chi cục: Công tác giá tại Chi cục do công chức nghiệp vụ đảm nhiệm(cán bộ công chức tại Chi cục vừa tiếp nhận tờ khai, kiểm tra mã số, thuế suất
và trị giá hàng hóa)
- Tại cục hải quan địa phương:
Đối với các Cục Hải quan địa phương có lưu lượng hàng hóa xuất nhậpkhẩu lớn (bao gồm: Cục Hải quan TP Hà Nội, Cục Hải quan Quảng Ninh,Cục Hải quan Hải phòng, Cục Hải quan Lạng Sơn, Cục Hải quan Đà Nẵng,Cục Hải quan TP Hồ Chí Mính, Cục Hải quan Bình Dương, Cục Hải quan BàRịa Vũng Tàu, Cục Hải quan Nghệ An, Cục Hải quan Đồng Nai) Phòng Thuếxuất nhập khẩu bao gồm từ 07 cán bộ đến trên 30 cán bộ giá chuyên trách tùytheo quy mô và khối lượng công việc của từng địa phương và do một Phó Cụctrưởng phụ trách
Đối với các Cục Hải quan địa phương có lưu lượng hàng hóa xuất nhậpkhẩu trung bình như: Cục Hải quan Bình Định, Cục Hải quan Thanh Hóa,Cục Hải quan Khánh Hòa thì thành lập bộ phận trị giá trong Phòng Nghiệp vụ
có từ 3 đến 5 cán bộ trị giá do 01 phó trưởng phòng nghiệp vụ phụ trách Đối với các Cục Hải quan địa phương còn lại: Không có bộ phận trị giátrong Phòng nghiệp vụ, chỉ có 1 hoặc 2 cán bộ làm công tác giá trong phòngnghiệp vụ, thậm trí có đơn vị không có cán bộ giá chuyên trách, chỉ có cán bộgiá kiêm nhiệm
Tại cấp Tổng Cục: Phòng Trị giá tính thuế thuộc Cục Thuế xuất nhập
khẩu bao gồm 12 cán bộ giá chuyên trách do một Phó Cục trưởng phụ trách
2.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam.
2.2.1 Những kết quả đạt được
Trang 252.2.1.1 Công tác tổ chức cán bộ
Trong những năm qua công tác tổ chức cán bộ của ngành Hải quan đối vớiviệc quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu đã đạt được một số kết quả đáng
ghi nhận Tại một số Cục Hải quan địa phương, bước đầu hình thành và củng
cố được lực lượng cán bộ làm giá tại các Phòng Đến nay ở một số đơn vị lựclượng này đã thực sự lớn mạnh cả về số lượng cũng như chất lượng như tạiCục Hải quan TP Hồ Chí Minh, Cục Hải quan Đồng Nai, Tại Cục Hải quan
TP Hồ Chí Minh, tính đến thời điểm 31/12/2009 tại Phòng Trị giá tính thuế có
30 cán bộ trong đó có 3 lãnh đạo phòng, tất cả cán bộ của Cục đều có trình độđại học và trên đại học, hầu hết số cán bộ của Phòng đều là những người cókinh nghiệm và đã qua các lớp học cơ bản và chuyên sâu về nghiệp vụ trị giá.Tại một số đơn vị mặc dù không có phòng giá nhưng cũng đã hình thành đượcmột đội ngũ cán bộ chuyên trách giá (như Cục Hải quan Bình Định, Cục Hảiquan Thanh Hóa)
Đa số cán bộ trị giá ở cấp Cục đều đã qua các khóa tập huấn, đào tạo về trị
giá tính thuế (20 đơn vị có 100% cán bộ trị giá cấp cục đã được đào tạo về trịgiá; con số này ở cấp Chi cục hạn chế hơn chỉ có 8 đơn vị) Chỉ còn 5 đơn vị
có số lượng cán bộ làm giá được đào tạo về trị giá chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 50%trên tổng số cán bộ làm công tác giá tại Chi cục (5 đơn vị)
2.2.1.2 Hệ thống văn bản quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu
Về cơ bản hệ thống văn bản hiện tại từ Luật, Nghị định, Thông tư đến cácvăn bản hướng dẫn của Tổng cục Hải quan điều chỉnh công tác xác định trịgiá tính thuế đã chuyển hóa được đầy đủ nội dung của Hiệp định Trị giá Hảiquan GATT/WTO Nội dung của các văn bản đã đảm bảo tuân thủ đầy đủ cácnguyên tắc của Hiệp định Hệ thống văn bản được xây dựng tương đối đầy đủ,
rõ ràng và minh bạch từ Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định đến các côngvăn hướng dẫn Có thể nói các văn bản hiện hành cơ bản đã đáp ứng khungpháp lý đầy đủ cho cán bộ công chức triển khai thực hiện
Trang 26Luật Hải quan 2014 đã có tác động tích cực tới hoạt động XNK và một sốhoạt động nghiệp vụ Hải quan Những thay đổi của Luật Hải quan và các vănbản quy định chi tiết thi hành đã tác động sâu rộng đến hoạt động XNK củadoanh nghiệp và toàn bộ hoạt động Hải quan đặc biệt là các hoạt động nghiệp
vụ Hải quan Cụ thể là thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK được tiếp tụcđược đơn giản hóa từ các loại chứng từ phải nộp và xuất trình cho cơ quan hảiquan cho đến thời gian thực hiện các khâu trong quá trình làm thủ tục hảiquan
Phương thức hoạt động Hải quan hiện đại theo nguyên tắc quản lý rủi ro
đã được áp dụng trong toàn bộ hoạt động kiểm tra, giám sát Hải quan Côngtác kiểm tra sau thông quan được tăng cường, để bảo đảm yêu cầu quản lý hảiquan theo phương pháp hiện đại Luật Hải quan đã tạo điều kiện để đẩy mạnh
và nâng cao hiệu quả công tác phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phéphàng hóa qua biên giới, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh chủ quyền đấtnước Trách nhiệm, thẩm quyền, nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vậnchuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong phạm vi địa bàn hoạt động hảiquan của cơ quan hải quan được nâng cao
Trình độ nghiệp vụ của công chức hải quan được chuyên sâu trong từnglĩnh vực; bộ máy tổ chức hải quan được kiện toàn Quyền và nghĩa vụ củangười khai hải quan, của tổ chức và cá nhân có liên quan được minh bạchhơn
Liên quan đến lĩnh vực thuế XNK, quy định mới đã bãi bỏ quy định ngườikhai hải quan, người nộp thuế phải nộp các chứng từ cơ quan hải quan đã cóhoặc không cần thiết; bổ sung quy định miễn thuế đối với máy móc, thiết bịtạm nhập- tái xuất phục vụ thử nghiệm, nghiên cứu phát triển sản phẩm…
Có thể thấy, việc nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá tính thuếhàng hóa XNK đã được Tổng cục Hải quan tập trung triển khai, bắt đầu từThông tư 29/2014/TT-BTC của Bộ Tài Chính sửa đổi, bổ sung nhiều quy định
Trang 27liên quan đến việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa XNK Đây là cơ
sở quan trọng để cơ quan Hải quan và doanh nghiệp đồng thuận về trị giá tínhthuế Và nay là Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 25-3-2015 của Bộ Tài chínhquy định về trị giá hải quan Việc hoàn thiện văn bản pháp lý đó nhằm tăngcường sự quản lý của Hải quan, nâng cao tính tự tuân thủ của doanh nghiệp,chống thất thu thuế
2.2.1.3 Công tác kiểm tra, tham vấn và xác định trị giá tính thuế hàng NK
Hiện nay theo Quyết định 1966/QĐ-TCHQ của Tổng cục Hải quan ngày
10/07/2015 về việc ban hành quy trình thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu thì công tác kiểm tra, tham vấn và xác định trị giá tính thuếđược quy định tại Điều 55 đến Điều 58
Hàng nhập khẩu cơ bản được xác định trị giá theo phương pháp trị giá giaodịch (chiếm khoảng 98%), do vậy đã rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa,tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, nâng cao trách nhiệm khai báocủa doanh nghiệp Ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong khai báotrị giá cũng đã được nâng cao là do qua công tác tham vấn, việc áp dụng kỹthuật quản lý rủi ro, đã có tác động tích cực đến cộng đồng doanh nghiệp, gópphần nâng cao ý thức của doanh nghiệp, khơi dậy tính tự giác, tuân thủ trongviệc khai báo trị giá của doanh nghiệp Rất nhiều mặt hàng sau khi đã đượctham vấn, doanh nghiệp đã chủ động khai báo trị giá cao hơn ở các lần nhậpkhẩu tiếp theo để được áp dụng trị giá giao dịch, điều này làm cho mặt bằngtrị giá khai báo được nâng lên Rất nhiều trường hợp doanh nghiệp chấp nhậnmức giá do cơ quan Hải quan xác định không cần qua tham vấn
Công tác kiểm tra, tham vấn và xác định trị giá đã dần đi vào nề nếp, khớpnối được với quy trình thủ tục hải quan chung cũng như chương trình khaibáo điện tử của Ngành Tại cấp Cục Hải quan công tác tham vấn đạt hiệu quả
do có điều kiện chuyên sâu và có nhiều thời gian nghiên cứu, không chịu áplực thời gian thông quan Các Cục Hải quan đã tổ chức công tác hướng dẫn,
Trang 28kiểm tra, đôn đốc các Chi cục thực hiện đúng các quy định về kiểm tra, xácđịnh trị giá Từ đó ngăn chặn, hạn chế được tình trạng gian lận thương mạiqua giá.
Ở cấp Tổng cục đã chủ động hướng dẫn quy trình kiểm tra, tham vấn vàxác định trị giá Tổng cục đã kịp thời tháo gỡ một số vướng mắc, khó khăncủa các Cục Hải quan địa phương trong quá trình triển khai thực hiện quản lýgiá hàng hóa nhập khẩu Ngoài ra, Tổng cục đã tổ chức kiểm tra, theo dõi và
rà soát trên hệ thống dữ liệu, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các trường hợptham vấn, xác định trị giá chưa đúng quy định Chẳng hạn, mặt hàng xe ô tô làmặt hàng nhạy cảm, các doanh nghiệp thường khai báo thấp trị giá để trốnthuế Do đó, Tổng cục thường xuyên có văn bản chấn chỉnh Hải quan các địaphương Tổng cục Hải quan cũng thường xuyên chấn chỉnh các Cục Hải quanđịa phương trong việc đánh dấu nghi ngờ, tổ chức tham vấn không đúng quyđịnh và không thống nhất giữa các địa phương để tránh tình trạng, cùng mộtmặt hàng nhưng nhập khẩu tại mỗi Cục Hải quan lại được xác định các mứcgiá khác nhau
Bảng 2.1: Kết quả công tác tham vấn từ 2013-2015 Cục Hải quan
Trang 29Từ bảng trên ta có thể thấy, số tờ khai tham vấn giảm hoặc có tăng nhưngkhông tương xứng với kim ngạch nhập khẩu, tỷ lệ bác bỏ thấp do xuất hiệntình trạng tham vấn tràn lan Tuy nhiên số thuế truy thu có xu hướng tăng.
2.2.1.4 Hệ thống thông tin dữ liệu giá
Hệ thống thông tin dữ liệu giá là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản
lý giá tính thuế hàng nhập khẩu thông qua việc cung cấp thông tin về giánhững mặt hàng giống hệt và tương tự được nhập khẩu Trên cơ sở đó cơquan quản lý tiến hành kiểm tra trị giá khai báo của doanh nghiệp Tuy nhiên,trong quá trình sử dụng, khai thác và cập nhật hệ thống này vẫn còn nhiềuvướng mắc, bất cập
Có thể thấy rằng hệ thống thông tin dữ liệu giá và việc thu thập, khai thác,quản lý và sử dụng thông tin dữ liệu giữa Tổng cục - Cục Hải quan địaphương và các Chi cục là điểm then chốt, quan trọng có tính quyết định củacông tác kiểm tra, xác định trị giá theo Hiệp định Trị giá Hải quanGATT/WTO
Thực tế, các nguồn thông tin được dùng để kiểm tra, tham vấn và xác địnhtrị giá trong thời gian qua được thu thập, cập nhật, khai thác, sử dụng vàtruyền nhận trong toàn ngành từ Tổng cục xuống Chi cục và ngược lại thôngqua hệ thống phần mềm quản lý giá tính thuế (GTT02)
Việc triển khai hệ thống quản lý dữ liệu giá tính thuế GTT02 đã tháo gỡđược hết các vướng mắc mà Hải quan các tỉnh, thành phố gặp phải trong thờigian triển khai hệ thống VNACCS/VCIS thời gian qua, không còn xảy ra tìnhtrạng không tra cứu được tờ khai trên hệ thống, không kiểm tra được dữ liệu
Hệ thống thông tin dữ liệu giá và Danh mục hàng hóa rủi ro về mã số đãthường xuyên được cập nhật Đồng thời, Tổng cục Hải quan cũng thườngxuyên nâng cấp chương trình Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu giá chương trình