Tác giả chọn mô hình nghiên cứu sự gắn bó khác xuất phát từ tài liệu về sự kiệt sức trong đó mô tả sự gắn bó trong công việc như là sự tương phản rõ ràng của sự kiệt sức làm xói mòn sự g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
-
NGUYỄN ANH TUẤN
HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN CÓ TÀU
ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ Ở VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tôi chân thành biết ơn và xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và các anh chị, cô chú liên quan đến ngành đánh bắt hải sản xa bờ đã vui vẻ cung cấp thông tin khảo sát, các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã
được chỉ rõ nguồn gốc giúp cho việc thực hiện hoàn thành Luận văn này
Học viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Anh Tuấn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy TS.Trần Anh Dũng, người
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề cương, tìm kiếm tài liệu, chỉ dẫn giới thiệu tham quan khảo sát các nơi có ngư dân sống về nghề đánh bắt cá cho đến khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành biết ơn quý thầy cô Trường Đại học C ô n g ng h ệ Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong chương trình cao học
Xin chân thành cảm ơn các anh chị, cô chú chủ tàu cá, đại diện tàu cá, ngư phủ; Sở Nông nghiệp và Phát riển nông thôn TP.HCM, Sở Tài Chính TP.HCM, Ban Quản lý Trung tâm Thủy sản thành phố nơi tôi công tác, Cảng cá Nhật Lệ tỉnh Quảng Bình, Cảng cá Hòn Rớ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, Cảng cá Tắc Cậu tỉnh Kiên Giang, Cảng cá Trần Văn Chiểu, Trần Đề tỉnh Sóc Trăng, Cảng cá Cát Lở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Cảng cá Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; Chi cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thành phố Hồ Chí Minh, Chi cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Kiên Giang; Công ty TNHH Chế biến Thủy hải sản Lộc Biển, thành phố Đà Nẳng, Công ty TNHH Chế biến Thủy hải sản Hải Vương, Công ty TNHH Thủy hải sản Hải Long, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa…
Cuối cùng tôi xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình các anh chị, cô chú và bạn bè
đã giúp đỡ, động viên tinh thần cho tôi, giúp tôi kiên trì hoàn tất bài Luận văn có ý nghĩa giai đoạn hiện nay và sau này
Học viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Anh Tuấn
Trang 4TÓM TẮT
Việt Nam có bản đồ hình chữ S, với mặt tiền là Biển Đông mênh mông, từ bao đời nay, hàng trăm ngàn ngư dân ven biển các tỉnh, thành trong cả nước đã gắn bó cuộc sống với đảo xa, với biển cả trên những con tàu đánh bắt hải sản
Nguồn lợi thủy hải sản phong phú, đa dạng ẩn chứa trong lòng biển, là nguồn mưu sinh từ ngàn đời nay của ngư dân Nhưng cũng chính biển là nơi thử thách vô cùng khắc nghiệt, thậm chí cướp đi mạng sống biết bao người khi cuồng phong, bão tố nổi lên Nên, mỗi con tàu khi rời bến ra khơi mang theo niềm hy vọng, sự mến thương, nỗi nhớ nhung và cả những lo toan của biết bao người thân trên đất liền Cơ cực và mất mát, nhiều khi phải trả giá bằng mạng sống, nhưng từ bao đời nay, nỗi khát khao vươn ra khơi của ngư dân tồn tại hiển nhiên như không khí để thở, như một phần máu thịt không thể tách rời
"Thuyền là nhà, biển cả là quê hương", " Thuyền lưới là vũ khí, ngư dân là chiến sỹ", "Cát vàng, sóng xanh, buồm nâu, máu đỏ", "Tất cả vì miền Nam ruột thịt", " Vững tay chèo, chắc tay súng"! Đó là những khẩu hiệu khắc trên đá, trên đảo, trên các
bờ biển thời chiến mà ngư dân các làng chài xứ biển đã thuộc lòng Những khẩu hiệu trên thể hiện lòng yêu nước, yêu biển cháy bỏng, quyết tâm đánh giặc bảo vệ biển trời
Tổ quốc của nhân dân nói chung và ngư dân nói riêng
Sau khi nghiên cứu các lý thuyết, sự hạn chế về nghiên cứu tới các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân Tác giả chọn mô hình nghiên cứu sự gắn
bó khác xuất phát từ tài liệu về sự kiệt sức trong đó mô tả sự gắn bó trong công việc như là sự tương phản rõ ràng của sự kiệt sức làm xói mòn sự gắn bó của một người - Maslach và cộng sự (2001), kết hợp lý thuyết động viên để đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân, đề tài này tập trung
nghiên cứu sáu yếu tố sau: 1 Khen thưởng và phúc lợi, 2 Hỗ trợ của nhà tổ chức, nhà quả lý, 3 Môi trường làm việc 4 Công bằng về chính sách, 5 Công bằng về hỗ trợ, 6
Đặc điểm công việc
Trang 5Giải pháp nâng cao hoạt đông bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt xa bờ
- Duy trì và tăng cường khen thưởng phúc lợi nâng cao sự gắn bó và khả năng bám biển của ngư dân
- Tăng cường sự hỗ trợ của nhà quản lý, định hướng phát triển nghề cá để ngư dân gắn bó và bám biển lâu dài
- Môi trường làm việc, ngư trường đánh bắt được ổn định về an ninh chính trị
và thiên tai giúp ngư dân thuận lợi gắn bó và bám biển lâu dài
- Hội nghề cá Việt Nam quan tâm có đề xuất kiến nghị kịp thời đến cơ quan chức năng để hỗ trợ ngư dân an tâm bám biển
- Kiến nghị Chính phủ cụ thể hóa chủ trương quy hoạch, định hướng phát triển nghề cá đánh bắt xa bờ đi vào thực tiển có hiệu quả để ngư dân an tâm ra khơi bám biển
Hoạt động bám biển = B0 + B1 * môi trường làm việc + B2 * Hỗ trợ của nhà tổ
chức, quản lý + B3 * khen thưởng và phúc lợi + B4 * công bằng về chính sách + B5 * công bằng về phân phối + B6 * đặc điểm công việc
Trang 6ABSTRACT
Vietnam has the map shaped like S, along with the East Sea large and wide , since many generations passed, hundreds of thousands of fishermen who live along the coast of provinces and cities in the nation they have locked their lives with distant islands, with the sea on boats for catching fish and sea products
Sources of sea products and aquatic products are abundant, diverse, they are hidden
in the sea beds , are also the source of livelihood for hundreds of generations until now
of fishermen However, the sea itself is an extremely harsh challenge , even it takes away the lives of so many people when storms, tempests arise Therefore, each boat and ship each time it leaves the harbor for the open sea bringing along with it the hope, love, nostalgia and worrying of so many people on the mainland
Destitute life and loss , at times the price was paid even with human lives , however for many generations until now, the desire to reach out to the open sea of fishermen exist evidently as the air for breathing , as parts of blood and flesh of the body that they cannot be separable
" Boat is home , sea is home country ", " Boat and fish-net are weapon, fishermen are fighting soldiers ", " Yellow sand , blue waves , brown sail , red blood "," All for the blood- related South ", " Firm is the arms for rowers , firm is the hands on gun"! Those are slogans that were carved on the stones and rocks, on the islands, on the coast in the war time that fishermen already memorized The above slogans show their patriotism, passionate love of the sea that is burning, the determination to fight against the enemy defending sea and skies of the Fatherland of the people in general and of fishermen in particular
After studying the theories , the limitations on research to the factors that to stick
to run the sea of fishermen The author selects the model of research on other connections starting from documents on exhaustion in which is the description of the locking to work as clear contrast of exhaustion that erodes the locking of a man to sea work - Maslach and his partners (2001), combining the theory of encouragement in
Trang 7order to put forward a model of study on factors that to stick to run the sea of fishermen , this paper concentrates on the study of six factors as follows: 1 Rewards and welfare, 2 Supports from Organizers , Managers , 3 The working environment 4 Justice on Policy , 5 Justice in supporting , 6 The working features
Solutions to enhance to work closely with the sea of fishermen who have boats that catching fish distant from shore
- Maintain and strengthen the rewards/ bonus and benefits and enhance the connection the locking to job and ability to stay close to the sea of fishermen ;
- Strengthen the support from managers, orienting to develop the fishery so that fishermen locked to stack to the sea on long term basis ;
- Working environment, fishing ground for catching are stabilized concerning political security and natural calamity in order to help fishermen to be convenient in long term locking and sticking to the sea
- Propose to Vietnam Fisheries Society to pay attention to and also proposing to functional agencies to support them in time
- Propose to The Vietnamese Government should concretize the policy on planning and directing fishing boats and ships that operate far from shore in an effective way so that fishermen could have peace in mind to go out to the sea attached to the sea
The factors that to stick to run the sea = B0 + B1 * working environment
+ B2 * Supports from Organizers, Managers + B3 *rewards and welfare + B4 * Justice on Policy + B5 * justice in distribution + B6 * working features
Trang 8PHỤ LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT v
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xii
DANH MỤC CÁC BẢNG xiii
DANH MỤC CÁC HÌNH xiv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tổng quan nghiên cứu và điểm mới của đề tài 1
2 Lý do và tính cấp thiết chọn đề tài 2
3 Mục tiêu, nôi dung và phương pháp nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Kết cấu của luận văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ BÁM BIỂN, ĐÁNH BẮT XA BỜ ………15
1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 15
1.1.1 Một số khái niệm, định nghĩa về sự gắn bó 15
1.1.2 Lý thuyết động viên 17
1.1.2.1 Thuyết động viên 17
1.1.2.2.Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow 18
1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó của người lao động 19
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân 20
Trang 91.2.1 Khen thưởng và phúc lợi 20
1.2.2 Hỗ trợ của nhà tổ chức, nhà quản lý 21
1.2.3 Môi trường làm việc 22
1.2.4 Công bằng về chính sách 22
1.2.5 Công bằng về phân phối 23
1.2.6 Đặc điểm công việc 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC XA BỜ Ở VIỆT NAM – CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN CÓ TÀU ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ 24
2.1 Thực trạng về các đoàn tàu cá khai thác xa bờ ở Việt Nam 24
2.2 Thông tin nhân khẩu học của những người tham gia khảo sát 33
2.3 Tinh lọc thang đo 38
2.3.1 Kiểm định đánh giá độ tin cậy của thang đo 38
2.3.2 Phân tích nhân tố EFA 39
2.3.3 Phân tích nhân tố đối với biến độc lập 40
2.3.4 Phân tích nhân tố đối với biến phụ thuộc 43
2.4 Phân tích hồi quy tuyến tính 45
2.5 Kiểm định giả thuyết 47
2.6 Kiểm định sự khác biệt theo các đặc tính cá nhân đến hoạt động bám biển của ngư dân 49
2.6.1 Khác biệt về giới tính 49
2.6.2 Khác biệt về độ tuổi 49
2.6.3 Khác biệt về vị trí công tác 50
2.6.4 Khác biệt về thâm niên 50
Trang 102.7 Thống kê mô tả cho các biến quan sát của từng yếu tố 51
2.8 Kết luận 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN CÓ TÀU ĐÁNH BẮT XA BỜ 55
3.1 Định hướng dài hạn phát triển nghề cá khai thác xa bờ ở Việt Nam giai đoạn 2014 – 2020 55
3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt xa bờ 56
3.2.1 Duy trì và tăng cường khen thưởng phúc lợi nhằm nâng cao hoạt động bám biển của ngư dân 56
3.2.2 Tăng cường sự hỗ trợ của nhà quản lý, định hướng phát triển nghề cá để ngư dân gắn bó và bám biển lâu dài 57
3.2.2.1 Giải pháp nâng cao trọng tải phương tiện, trang hiết bị hiện đại, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kỹ thuật đánh bắt 57
3.2.2.2 Hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc phục vụ tàu đánh bắt xa bờ 58 3.2.2.3 Quan tâm hỗ trợ đồng bộ các tỉnh giáp biển giúp ngư dân ra khơi bám biển 59
3.2.2.4 Nâng cao chất lượng dịch vụ của các Cảng cá, Khu chế biến Thủy hải sản 60
3.2.2.5 Nâng cao chất lượng sản phẩm chế biến thủy hải sản công nghệ cao 61 3.2.2.6 Phát triển nguồn nhân lực 62
3.2.2.7 Môi trường làm việc, ngư trường đánh bắt được ổn định về an ninh chính trị và thiên tai giúp ngư dân thuận lợi gắn bó và bám biển lâu dài 63
3.3 Kiến nghị 66
3.3.1 Kiến nghị Hội nghề cá Việt Nam 66
3.3.2 Kiến nghị Chính phủ 66
Trang 113.3.2.1.Tổ chức lại khai thác chế biến Thủy hải sản trên biển khơi 66 3.3.2.2.Chính sách quan tâm đến ngư dân sống bằng nghề biển 67 3.3.2.3.Tổ chức lại dịch vụ, hậu cần phục vụ khai thác hải sản 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tài liệu tham khảo
2 Văn bản pháp luật
3 Mạng Internet PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Tham khảo nghiên cứu định tính Phụ lục 2: Khảo sát tàu cá đánh bắt hải sản xa bờ Phụ lục 3: Số tàu cá, sản lượng, trị giá Thủy hải sản xuất khẩu Phụ lục 4: Thông tin mẫu nghiên cứu
Phụ lục 5: Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo (lần1) Phụ lục 6: Phân tích nhân tố (EFA) đối với biến độc lập Phụ lục 7: Phân tích nhân tố (EFA) đối với biến phụ thuộc Phụ lục 8: Kiểm định thang đo sau khi phân tích nhân tố đối với biến độc lập (lần 2)
Phụ lục 9: Phân tích hồi quy Phụ lục 10: Phân tích hồi quy sau khi loại biến Phụ lục 11: Phân tích biệt số
Phụ lục 12: Kiểm định sự khác biệt về độ tuổi với hoạt động bám biển Phụ lục 13: Khác biệt về vị trí công tác
Phụ lục 14: Kiểm định sự khác biệt về thâm niên nghề cá đối với hoạt động bám biển của ngư dân
Trang 12Phụ lục 15: Thống kê mô tả 03 biến độc lập ảnh hưởng nhiều đến hoạt động bám biển của ngư dân
Trang 13DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- CBTHS: Chế biến Thủy hải sản
- DN: doanh nghiệp
- DNCBTHS: Doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản
- GTGT: Giá trị gia tăng
- MMTB: Máy móc thiết bị
- NK: Nhập khẩu
- TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
- Vasep: Hiệp hội nghề cá Việt Nam
- XK: Xuất khẩu
Trang 14DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 : Bảng 1.1:
Bảng 2.1:
Tổng hợp các thang đo được mã hóa Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân Kết quả hệ số tương quan của các thang đo
12
20
39
Trang 15DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 : Hình 1.1:
Hình 2.1:
Hình 2.2 Hình 2.3:
Đánh bắt với mắt lưới nhỏ Biểu đồ đại diện tàu cá Biểu đồ về giới tính Biểu đồ về công suất tàu cá Biểu đồ về ngư trường khai thác Biểu đồ cảng cá thương xuyên cặp bến Biểu đồ tàu chuyển hàng về cặp cảng Biểu đồ về thâm niên nghề cá
Biểu đồ về độ tuổi Biểu đồ về trình độ
Mô hình hoạt động bám biển của ngư dân, sau khi phân tích nhân tố
Trung tâm Thủy sản TP.HCM đang triển khai đầu tư tại
Trang 16PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tổng quan nghiên cứu và điểm mới của đề tài
Quốc gia biển đầu tiên được biết đến trong lịch sử là Phoenicia ở Tây Nam Á Quốc gia biển tiếp theo là Hy Lạp cổ đại, sau đó là La Mã Tiếp theo La Mã là người Viking ở Bắc Âu Từ thời trung đại trở đi là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, hiện nay là Mỹ Ở Châu Á, Nhật Bản từng là quốc gia biển trong giai đoạn từ sau chiến tranh Nhật-Nga đến 1945
Quốc gia biển thì không nhiều, nhưng nghề biển ở Châu Á thì nhiều hơn Vì thế khi nào thì mới có thể nói rằng châu Á có tiềm năng về các đoàn tàu khai thác
xa bờ ở khu vực Châu Á? Nói cách khác cần có tiêu chí phân biệt sự tồn tại của những yếu tố về nghề khai thác hải sản xa bờ khu vực Châu Á
Tiêu chí định lượng này cũng đã được các nhà nghiên cứu Nhật Bản sử dụng khi định nghĩa “làng chài” Sakurada Katsunori (1953) định nghĩa làng chài là “làng
cư trú của những người theo ngư nghiệp , hoặc là làng cư trú bao gồm cả những người theo ngư nghiệp và những người sinh sống trong mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với những người theo ngư nghiệp” Takeuchi Toshimi (1958) định nghĩa
làng chài là “xã hội làng xóm được tạo nên bởi những người sinh sống chủ yếu bằng
nghề thủy sản” [dẫn theo Chu Xuân Giao 2008: 401] Theo hướng này, Yabuuchi Yoshihiko (1958) và Takakuwa Morihumi (1976) đưa ra tiêu chuẩn là một làng sẽ được coi là làng chài nếu tổng số nhân khẩu lao động theo ngư nghiệp trong làng là 20% (trở lên) [dẫn theo Chu Xuân Giao 2008: 402] Cần chú ý là tỷ lệ 20% lao động ngư nghiệp này chắc là phải cộng thêm với số nhân khẩu phụ thuộc (cha mẹ,
vợ con) mà họ nuôi sống nữa mới đạt đến tiêu chuẩn “sinh sống chủ yếu bằng nghề thủy sản”
Tổng số tàu cá trên thế giới ước tính khoảng 4,36 triệu chiếc (năm 2010), trong đó, Châu Á đóng góp khoảng 3,18 triệu phương tiện (chiếm 73% tổng số tàu thuyền), tiếp theo là Châu Phi (11%) Châu Mỹ La tinh và vùng Ca-ri-bê (8%), Châu Âu và Bắc Mỹ tương đương nhau, khoảng 3% Trong tổng số tàu thuyền trên,
Trang 17có khoảng 3,23 triệu phương tiện đánh bắt cá biển (chiếm 74% số tàu thuyền), phương tiện đánh bắt cá nội địa khoảng 1,13 triệu Điều này chứng tỏ số tàu tham gia khai thác nguồn lợi thủy sản nội địa là khá lớn, chiếm 26% Theo thống kê, số tàu khai thác thủy sản nội địa ở Châu Phi chiếm 42%, Châu Á (26%), Mỹ La tinh và Ca-ri-bê (21%) Trên phạm vi toàn cầu, có khoảng 60% số lượng phương tiện được trang bị động cơ (năm 2010) và 69% số tàu đánh bắt hải sản được trang bị động cơ,
và 36% số phương tiện đánh bắt thủy sản nội địa được lắp máy
Việt Nam hiện có 27.988 chiếc tàu cá có công suất từ 90cv trở lên vươn ra xa biển khơi đánh bắt hải sản, với bờ biển dài 3.260 km của 28 tỉnh thành trong cả nước giáp biển Nhiều năm qua, nhận thấy tầm quan trọng cũng như dự báo về những khó khăn của nghề đi biển, từ Chính phủ cho đến các địa phương và toàn xã hội đã có những chính sách, những động thái tiếp sức, khuyến khách ngư dân vươn khơi bám biển Trước những khó khăn của lao động nghề đi biển, cho nên đề tài nghiên cứu hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ, nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển để đưa ra một số giải pháp và kiến nghị, trong đó có hỗ trợ về vốn đóng mới phương tiện, lắp thiết bị hiện đại cho tàu, tặng ngư dân lưới cụ, chính sách phúc lợi xã hội và khen thưởng…
2 Lý do và tính cấp thiết chọn đề tài
Hoạt động khai thác hải sản được hình thành từ rất sớm, gắn liện với lịch sử của xã hội, nhưng nghề khai thác hải sản của Việt Nam đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước vẫn là nghề khai thác thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở vùng gần bờ Thủy hải sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp phát triển đất nước Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đây là
cơ hội lớn để mở rộng thị trường và cạnh tranh bình đẳng với các nước xuất khẩu cùng các mặt hàng hải sản Sản phẩm hải sản của nước ta nhìn chung đã đáp ứng được các yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh và an toàn thực phẩm của các nước trong khu vực và trên thế giới Khoa học, Công nghệ ngày càng phát triển nhanh và mạnh, đã và đang tạo cơ hội cho việc áp dụng vào hoạt động
Trang 18nghiên cứu nguồn lợi, dự báo ngư trường, dò tìm đàn cá và trang bị các công cụ hỗ trợ cho hoạt động khai thác hải sản, thực hiện cơ giới hóa các khâu trong sản xuất
Vì thế phát triển thủy sản được triển khai rộng khắp từ những vùng ven biển đến các hải đảo xa xôi và bao quát cả vùng biển đặc quyền kinh tế trên biển, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự an ninh và chủ quyền biển đảo của Tổ quốc Việt Nam tham gia vào Công ước Luật biển 1982, Công ước có hiệu lực năm 1994 Hiện nay, việc khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ thiếu kiểm soát đang khiến nguồn lợi này dần cạn kiệt, một số loài hải sản trở nên khan hiếm Để khai thác thủy sản ven bờ, nhiều ngư dân vẫn sử dụng những công cụ đánh bắt không đúng quy định về kích thước mắt lưới, có nơi còn sử dụng các phương tiện khai thác hủy diệt (chất nổ, xung điện, chất độc) Bảo vệ nguồn lợi thủy sản là bảo vệ tài nguyên tự nhiên có giá trị kinh tế cao nhưng với cường độ khai thác như hiện nay thì khả năng tái tạo của nguồn lợi thủy sản là khó khăn, đe dọa sự sinh tồn của nhiều loài thủy sản, nguồn lợi này trở nên cạn kiệt Tuy nhiên, tốc độ tăng dân số ngày càng nhanh, trong khi nguồn lợi thủy sản ven bờ có hạn khiến việc giải quyết công ăn việc làm
và thu nhập cho bà con ngư dân cũng là vấn đề nan giải Do đó, giải pháp cho tình hình trên là phát triển loại hình đánh bắt xa bờ vừa giúp bảo vệ tài nguyên thủy sản ven bờ vừa giúp phát triển kinh tế
Thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng ra Quyết định số 834/QĐ-BNN-TCTS ngày 17/4/2012 phân bổ bổ sung 157 tàu cá được lắp đặt thiết
bị kết nối vệ tinh thuộc Dự án MOVIMAR cho 18 tỉnh ven biển gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà mau, Kiên Giang và lực lượng Bộ đội Biên phòng Hiện đã cung cấp cho 3.000 tàu
cá được lắp đặt thiết bị kết nối vệ tinh cho các địa phương có biển Tuy nhiên, đánh bắt xa bờ còn tồn tại nhiều vấn đề khó khăn cần tháo gỡ
Một là: khai thác thủy sản vẫn là khâu yếu nhất trong ba trụ cột là khai thác,
nuôi trồng và chế biến Đánh bắt xa bờ chỉ đóng góp khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản hằng năm Có thể nói lực lượng, trình độ và năng lực đánh bắt
Trang 19xa bờ của Việt Nam còn thua thế giới, các nước trong khu vực Cụ thể là các điều kiện cơ sở hạ tầng như cảng cá, chợ cá, tàu thuyền, nơi tránh trú bão đều hạn chế Trong khi việc đánh bắt xa bờ của các nước đã bỏ qua tàu gỗ, thay bằng tàu sắt, tàu bằng vật liệu composite cùng với thiết bị hiện đại để vươn ra đại dương thì Việt Nam vẫn ra khơi bằng tàu gỗ rất nhiều và công nghệ đánh bắt chậm thay đổi
Hai là: số lượng tàu đánh bắt xa bờ có thể nhiều lên nhưng chất lượng chưa
được cải thiện tương ứng Việt Nam đã có nhiều chính sách cho vay đóng tàu đánh bắt xa bờ nhưng cách quản lý không đáp ứng yêu cầu Việc đánh bắt xa bờ đòi hỏi đầu tư công nghệ cao, cải tiến liên tục và có chiến lược phát triển cụ thể
Để có được những đội tàu đánh bắt xa bờ ngang tầm khu vực và thế giới Việt Nam nên chọn lọc, xem xét học hỏi kinh nghiệm, thu hút đầu tư và hợp tác với các nước bên ngoài như Nga, Tây Ban Nha Ngoài ra, việc hỗ trợ ngư dân bám biển là
vô cùng cần thiết để giúp ngư dân yên tâm đi biển Việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thủy sản nói chung, nghề cá nói riêng cũng hết sức quan trọng Tăng cường lực lượng kiểm ngư để kiểm soát tàu cá trong nước và nước ngoài là hết sức cần thiết Tiếp theo là các giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho ngư dân theo định hướng hạn chế đánh bắt gần bờ, ưu tiên cho đánh bắt xa bờ Việc tổ chức cộng đồng đánh cá là rất quan trọng đối với nghề cá, thông qua tổ chức cộng đồng mới có thể thực hiện tốt nhất các hoạt động về tiêu chuẩn hóa, về quản lý, kiểm soát bảo vệ nguồn lợi Hiện nay, cơn sốt khan hiếm lao động nói chung và lao động cho nghề cá lan rộng ở nhiều vùng biển Mỗi chuyến biển, chủ tàu bỏ ra hàng trăm triệu đồng chi phí ban đầu; còn lao động cũng mong đánh được tôm, cá Vậy nhưng, trong năm
2013 lại thêm một năm thất bát của nghề biển, có thể nói là năm mất mùa nhất trong vòng 50 năm qua, nên nhiều ngư dân và chủ tàu lâm vào cảnh khó khăn Theo nhiều ngư dân, cứ hễ thu nhập của các chuyến biển giảm sút là ngay lập tức có nhiều bạn thuyền lại dịch chuyển đi nơi khác, làm những công việc khác Mặt khác tiền công của lao động biển thường phụ thuộc vào từng chuyến biển, nên chủ tàu khó chắc chuyện ổn định thu nhập cho các lao động, do đó sợi dây liên kết giữa họ khó bền vững Chính vì tính chất bấp bênh này khiến chủ tàu cá khó giữ chân bạn thuyền
Trang 20Nếu nhà nước hỗ trợ ngư dân vốn liếng, đóng tàu lớn, làm ăn lớn, nâng cao thu nhập… cho lao động nghề biển thì họ mới yên tâm bám biển
3 Mục tiêu, nôi dung và phương pháp nghiên cứu
- Mục tiêu của đề tài
Thứ nhất: xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư
dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam
Thứ hai: đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động bám biển
của ngư dân
Thứ ba: kiểm tra xem có sự khác biệt về sự gắn bó và khả năng bám biển
của ngư dân theo một vài đặc tính riêng của gia đình sống về nghề cá (giới tính, độ tuổi, thâm niên trong nghề, vị trí công tác, trình độ)
Để thực hiện bốn mục tiêu này, đề tài nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau: Hoạt động bám biển của ngư dân (có tàu) đánh bắt xa bờ ở Việt Nam như thế nào?
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân?
Phạm vi và đối tượng khảo sát
Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
bám biển của ngư dân hiện có tàu đánh bắt xa bờ ở Việt Nam
Đối tượng khảo sát gồm: Ngư dân tham gia đánh bắt xa bờ chủ yếu là Chủ tàu
và một số Cảng cá, Doanh nghiệp Chế biến Thủy hải sản có tàu cá
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này chỉ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để giải quyết vấn đề nghiên cứu thông qua việc khảo sát 920 ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ (bao gồm hộ cá thể, cảng cá, doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản có tàu cá)
Trang 21Dữ liệu thu thập được xử lý bằng SPSS cùng với các công cụ thống kê mô tả, kiểm định trung bình, kiểm định thang đo với Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính
Phương pháp phân tích dữ liệu chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp phân tích nhân tố và hồi quy tuyến tính
Cách thức thu thập dữ liệu
Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi cá nhân đại diện Người được khảo sát đã được tiếp cận và giới thiệu tóm tắt về mục đích của nghiên cứu cũng như lợi ích của nó Để người được khảo sát dễ trả lời, cuộc khảo sát cũng được tiến hành gửi bảng câu hỏi qua email, bưu điện nhờ bến, cảng cá gửi trực tiếp chủ tàu và trực tiếp khảo sát tại bến cá, cảng - chợ cá, doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản có tàu cá
- Thiết kế câu hỏi, thang đo Nghiên cứu định tính
Đây là giai đoạn nghiên cứu sơ bộ, được thực hiện để điều chỉnh thang đo và
bổ sung các biến quan sát Phương pháp này được thực hiện bằng cách phỏng vấn
sâu (n=10) theo một nội dung đã được chuẩn bị trước (xem phụ lục 1)
Các thông tin cần thu thập: Xác định xem người được phỏng vấn hiểu về nhu
cầu của ngư dân công việc đánh bắt ngoài khơi đối với biển thế nào? Theo họ, yếu
tố nào làm cho ngư dân gắn bó và tạo động lực bám biển để giữ lấy công việc nhiều hơn? Kiểm tra xem người được hỏi có hiểu đúng ý câu hỏi hay không? Có điều gì mà bảng câu hỏi chưa được đề cập đến, cần bổ sung gì trong nội dung các câu hỏi? ngôn ngữ trình bày trong bảng câu hỏi có phù hợp hay chưa?
Đối tượng phỏng vấn: Dựa vào mối quan hệ cảng cá, ngư dân, doanh
nghiệp CBTHS phỏng vấn 08 ngư dân, 01 lãnh đạo phòng quản lý tàu cá cập
cảng, 01 lãnh đạo phòng phụ trách thu mua (xem phụ lục 1)
Trang 22Kết quả nghiên cứu sơ bộ này là cơ sở hoàn chỉnh câu hỏi sau khi phỏng vấn 10 nhân vật am hiểu về nghề cá giúp cho việc thiết kế bảng câu hỏi để đưa vào nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu định lượng
Đây là giai đoạn nghiên cứu chính thức với phương pháp thu thập thông tin bằng cách gửi phiếu, điền thông Tin thông qua bảng câu hỏi khảo sát Dữ liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 20 Sau khi mã hoá và làm sạch
dữ liệu, sẽ trải qua các bước sau:
Đầu tiên là đánh giá độ tin cậy các thang đo: Độ tin cậy của các thang đo được đánh giá bằng hệ số Cronbachalpha, qua đó các biến không phù hợp sẽ bị loại bỏ nếu hệ số tương quan biến–tổng (Correcteditem–total correlation) nhỏ hơn 0.3 và thang đo có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy nếu hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 0.6 Tiếp theo, phương pháp phân tích nhân tố EFA được dùng để kiểm định giá trị khái niệm của thang đo Các biến có trọng số thấp (<0.5) sẽ bị loại và thang đo chỉ chấp nhận khi tổng phương sai trích >0,5 Các dữ liệu quan sát đủ điều kiện về độ tin cậy và giá trị hợp lệ được sử dụng để kiểm tra mô hình nghiên cứu lý thuyết Trong nghiên cứu này, hồi quy bội được dùng để ước tính và đánh giá ảnh hưởng của đặc điểm công việc, khen thưởng và phúc lợi, nhận thức về sự hỗ trợ từ nhà tổ chức, quản lý, nhận thức về sự công bằng về chính sách, nhận thức về sự công bằng về phân phối đối với sự gắn bó của người lao động đối với công việc, để họ bám giữ việc lâu dài
Nghiên cứu cũng tiến hành kiểm định trung bình tổng thể để xem liệu có khác biệt giữa những độ tuổi, công suất tàu hay thâm niên nghề cá của ngư dân về mức
độ ảnh hưởng của những nhân tố đó đến mức độ gắn bó của người lao động hay không Tiếp theo là phân tích nhân tố để kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các biến thành phần Các biến có hệ số tải nhân tố (factorloading) nhỏ hơn 0,5
sẽ bị loại Thang đo sẽ được chấp nhận khi tổng phương sai trích lớn hơn hoặc bằng 50% vàeigenvalue có giá trị lớn hơn 1 Sau đó tiến hành kiểm định các giả thuyết
Trang 23của mô hình và mức độ phù hợp tổng thể của mô hình Mô hình hồi quy đa biến và kiểm định với mức ý nghĩa 5%
Cuối cùng kiểm định T-test và phân tích ANOVA (Analysisofvariance) nhằm tìm ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của một vài nhóm cụ thể đối với hoạt động bám biển của ngư dân Nghiên cứu sẽ so sánh kết quả giữa các mức độ đồng ý của mỗi nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó và khả năng bám biển của ngư dân đối với biển để tìm hiểu xem có bất kỳ khoảng trống nào giữa mong đợi của ngư dân đến
sự gắn bó và khả năng bám biển hay không Căn cứ vào kết quả đó, nghiên cứu sẽ rút
ra kết luận về những yếu tố Chính phủ nên quan tâm nhiều hơn để nâng cao mức độ gắn bó và khả năng bám biển của ngư dân
Quy trình nghiên cứu
Trang 24Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý thuyết, pháp lý
về liên quan hoạt động bám biển
Khảo sát phỏng vấn bảng câu hỏi
Phỏng vấn bằng câu hỏi
Thu thập thông tin
Hình 1: Quy trình nghiên cứu
Dựa vào tình hình thực tế của tàu cá
Giai đoạn 1 Nghiên cứu
Trang 25Thiết kế thang đo cho bảng câu hỏi
Bản câu hỏi (Phụ lục 2) được thiết kế dựa trên nền tảng lý thuyết đã nêu.Các
câu hỏi được xây dựng dưới dạng các câu hỏi nhiều lựa chọn Thang đo năm điểm Likert đã được sử dụng cho các câu hỏi
Thành phần của thang đo
Tất cả các biến quan sát trong các thành phần đều sử dụng thang đo Likert 5 điểm,với sự lựa chọn từ 1 đến 5, người được hỏi có quyền chọn 1 trong 5 bậc thang
đo mà họ cảm nhận được, như sau:
Hoạt động bám biển của ngư dân: Một thang đo năm mục được thiết kế cho
nghiên cứu này để đo lường mức độ hoạt động của người lao động với công việc, với tổ chức Các mục được liệt kê để đánh giá sự hiện diện về mặt tâm lý của những người tham gia khảo sát về sự gắn bó hoạt động với tổ chức Một mục mẫu
Trang 26cho hoạt động bám biển của ngư dân: “Một trong những điều tâm đắc và thú vị nhất đối với tôi là việc tham gia vào những điều xảy ra trong tổ chức, trong công việc nhiều rủi ro mang nhiều ý nghĩa này ”
Khen thưởng và phúc lợi: Được đo bởi thang đo bốn mục thiết kế cho nghiên
cứu này Những người tham gia được yêu cầu chỉ ra mức độ đồng ý khi họ nhận
được kết quả khác nhau từ việc họ làm tốt công việc của mình
Nhận thức về sự hỗ trợ từ nhà tổ chức, nhà quản lý: Được đo bằng năm mục
của khảo sát nhận thức về sự hỗ trợ từ nhà tổ chức, quản lý với những đặc tính kiểm soát, quản lý về mức độ an toàn phương tiện, trang thiết bị, dịch vụ tiếp ứng ngoài khơi xa đất liền, cảng – chợ cá nơi cập bến sau thời gian khai thác, mua bán hải sản, nhà máy chế biến thủy hải sản thu mua từ các tàu đánh bắt hải sản tiêu thụ
xuất khẩu và nội địa để giúp ngư dân giảm bớt tổn thất, tăng thu nhập
Công bằng về chính sách: Được đo bởi thang đo bốn mục được sử dụng để đo
sự công bằng về thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư Những người tham gia yêu cầu chỉ ra mức độ đồng ý khi họ nhận được kết quả khác nhau khi nhận được sự công bằng tích cực từ phía chính quyền về thủ tục chính sách ưu đãi đầu tư ngành nghề
mà họ xem là chưa tốt
Công bằng về phân phối: Được đo bởi thang đo năm mục được sử dụng để đo
sự công bằng về phân phối thu nhập, Chính phủ giảm thuế nghề cá nhiều hơn các nghề khác, cảm nhận của ngư dân được chia sẽ công việc ngoài khơi nhiều rủi ro.Tạo động lực gắn bó, tăng khả năng bám biển giữ công ăn việc làm,ngoài ra còn
có ý nghĩa bảo vệ vùng biển tổ quốc
Đặc điểm công việc: Được đo bởi bốn mục mỗi mục tương ứng với một đặc
tính công việc cốt lõi công việc của họ là truyền thống, đánh bắt hải sản ở biển khơi mang về bán làm thực phẩm chủ yếu cho con người
Trang 27Bảng 1 : Tổng hợp các thang đo được mã hóa
1/ Khen thưởng ngư dân có thành tích bám biển ktpl1 2/ Chăm lo gia đình ngư dân có người hy sinh bám biển ktpl2 3/ Có chính sách quan tâm gia đình truyền thống gắn bó với biển ktpl3
1/ Trang thiết bị dò tìm luồng cá, dự báo thời tiết hiện đại httcql1 2/ Hỗ trợ giá dầu, bảo hiểm tài sản và con người ra khơi đánh bắt httcql2 3/ Đào tạokỹ thuật đánh bắt cung ứng lao động cho tàu cá httcql3 4/ Đăng ký, đăng kiểm an toàn kỹ thuật phương tiện nhanh chóng đảm
1/ Môi trường làm việc trên biển nguy hiểm mtlv1
2/ Thời tiết không thuận lợi cho tàu ra khơi mtlv2
4/ Ngư trường đánh bắt nhiều hải sản phải đi xa hơn, rủi ro nhiều hơn mtlv4
1/ Chính sách hỗ trợ đầu tư phương tiện, MMTB đánh bắt phù hợp cbcs1 2/ Chính sách hỗ trợ đến ngư dân được thực hiện công bằng cbcs2
Trang 284/ Chính sách khuyến khích khai thác, chế biến, xuất khẩu phù hợp cbcs4
1/ Miễn giảm thuế tàu đánh bắt hải sản xa bờ cbpp1
2/ Miễn giảm thuế doanh nghiệp thu mua nguyên liệu hải sản từ tàu đánh bắt xa bờ
cbpp2
3/ Miễn giảm thuế XK đối với mặt hàng hải sản đánh bắt xa bờ cbpp3 4/ Miễn giảm thuế cảng chợ cá, khu chế biến THS tập trung cbpp4 5/ Miễn giảm phí bảo hiểm y tế cho ngư dân cbpp5
1/ Nghề đánh bắt hải sản xa bờ là nghề truyền thống ddcv1 2/ Công việc đánh bắt xa bờ là ở ngoài biển khơi ddcv2 3/ Nghề đánh bắt xa bờ ngư dân thường ở ngoài khơi ddcv3 4/ Tàu đánh bắt xa bờ mang lại thực phẩm cho con người ddcv4
1/Tôi (chúng tôi) gắn bó với nghề cá truyền thống lâu đời gbbb1 2/ Tôi (chúng tôi) rất tự hào là ngư dân của nước Việt Nam gbbb2 3/ Tôi (chúng tôi) sống bằng nghề cá cũng làm giàu như bao nghề khác gbbb3 4/ Tôi (chúng tôi) đoàn kết thành đội tàu ra khơi bám biển gbbb4 5/ Tôi (chúng tôi) cam kết sẽ gắn bó và bám vùng biển Việt Nam lâu dài gbbb5
5 Kết cấu của luận văn
Phần mở đầu: nêu lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu và nội
dung phương pháp nghiên cứu một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu, khai thác xa bờ ở khu vực Châu Á, các doanh nghiệp chế biến thủy hải sản ở Việt Nam, các cảng cá ở Việt Nam, một số văn bản pháp lý
Trang 29Chương 1: Cơ sở lý luận hoạt động bám biển của ngư dân Chương 2: Thực trạng hoạt động bám biển của ngư dân ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt xa bờ ở Việt Nam
Trang 30CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ BÁM BIỂN, ĐÁNH BẮT XA BỜ
1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.1.1 Một số khái niệm, định nghĩa về sự gắn bó
Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều sự quan tâm đến sự gắn bó của người lao động đối với tổ chức Nhiều người đã tuyên bố rằng sự gắn bó của người lao động dự báo kết quả lao động, thành công của tổ chức và các kết quả tài chính (Bates, 2004; Baumruk, 2004; Richman, 2006) Đồng thời, có báo cáo cho rằng sự gắn bó của người lao động đang suy giảm và có một sự không gắn bó sâu sắc trong người lao động ngày nay (Bates, 2004; Richman, 2006)
Khái niệm về sự gắn bó của người lao động đóng một vai trò trung tâm trong bối cảnh kinh doanh toàn cầu khi tổ chức cố gắng để tối ưu hóa sức mạnh trí tuệ vốn có trong lực lượng lao động đa dạng hiện nay Sự gắn bó của người lao động đại diện cho một nguồn lực bền vững có khả năng thúc đẩy cho sự thành công và lợi thế cạnh tranh của tổ chức Các tổ chức tích cực theo đuổi mức độ gắn bó nhiều hơn của người lao động để tăng năng suất, khơi dậy nguồn năng lượng tích cực trong văn hóa doanh nghiệp cũng như để nâng cao danh tiếng của tổ chức trong ngành và trong cộng đồng hoạt động kinh doanh rộng lớn hơn
Sự gắn bó của người lao động (employee engagement) đã trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi và phổ biến (Robinson và cộng sự, 2004) Tuy nhiên, hầu hết những gì đã được viết về sự gắn bó của người lao động chỉ có thể được tìm thấy trong các tạp chí thực hành nơi mà cơ sở của nó ở trong thực tế hơn là lý thuyết
và nghiên cứu thực nghiệm Theo ghi nhận của Robinson và cộng sự (2004), đã có chút ngạc nhiên khi nghiên cứu và thực nghiệm về một chủ đề mà đã trở nên khá phổ biến Kết quả là, sự gắn bó của người lao động có diện mạo hơi khác
Để làm cho vấn đề tồi tệ hơn, sự gắn bó của người lao động còn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và các định nghĩa và cách đo lường thường giống như những thuật ngữ nổi tiếng như sự tận tâm đối với tổ chức (Organizational commitment) và hành vi công dân trong tổ chức, trong một quốc gia
Trang 31(Organizational citizenship behavior) (Robinson và cộng sự, 2004) Thông thường,
sự gắn bó của người lao động được định nghĩa là sự gắn bó về cảm xúc và trí tuệ đối với tổ chức (Baumruk, 2004; Richman, 2006; Shaw, 2005) hoặc những nỗ lực tự phát của người lao động trong công việc của họ (Frank và cộng sự, 2004)
Trong các tài liệu học thuật, nhiều định nghĩa đã được cung cấp Kahn (1990, trang 694) định nghĩa sự gắn bó cá nhân là “sự tự khai thác bản thân của chính các thành viên trong tổ chức trong công việc của họ; trong sự gắn bó, người lao động sử dụng và thể hiện bản thân qua vật chất, nhận thức và tình cảm trong công việc” Cá nhân không có sự gắn bó thường có xu hướng “tách rời bản thân và công việc; trong việc không gắn bó, người lao động rút ra và bảo vệ bản thân qua vật chất, nhận thức và tình cảm trong công việc” Như vậy, theo Kahn (1990, 1992), sự gắn bó có nghĩa là sự hiện diện của tâm lý khi nắm giữ và thực hiện vai trò tổ chức
Rothbard (2001, trang 656) cũng xác định sự gắn bó như sự hiện diện tâm lý nhưng đi xa hơn khi nói rằng nó bao gồm hai thành phần quan trọng: sự chú tâm và
sự say mê Sự chú tâm đề cập đến việc “có nhận thức và dành thời gian để suy nghĩ
về một vai trò nào đó”, trong khi sự say mê có nghĩa là “hăng say trong một vai trò
và đề cập đến cường độ tập trung của một người vào một vai trò nào đó”
Những nhà nghiên cứu về sự kiệt sức (burnout) xác định sự gắn bó như là sự đối lập hoặc sự tương phản tuyệt đối của sự kiệt sức (Maslach và cộng sự, 2001) Theo Maslach và cộng sự (2001), sự gắn bó được đặc trưng bởi năng lượng, sự tham gia và hiệu quả làm việc, đối lập trực tiếp với ba chiều của sự kiệt sức đó là hoài nghi, kiệt sức và không hiệu quả Nghiên cứu về sự kiệt sức và sự gắn bó đã tìm thấy rằng các chiều cốt lõi của sự kiệt sức (mệt mỏi và hoài nghi) và sự gắn bó (đầy sinh lực và sự cống hiến) là đối lập với nhau (Gonzalez-Roma và cộng sự, 2006)
Schaufeil và cộng sự (2002, trang 74) định nghĩa sự gắn bó như là “một trạng thái tâm lý liên quan đến công việc, tích cực và sẵn sàng làm việc được đặc trưng bởi sự cống hiến, năng lượng và sự say mê” Họ còn cho rằng sự gắn bó không phải là một trạng thái tạm thời và cụ thể, mà đúng hơn, nó là “một trạng thái nhận thức tình
Trang 32cảm lan tỏa và liên tục, không tập trung vào bất kỳ đối tượng, cá nhân, sự kiện hoặc hành vi cụ thể nào” (trang 74)
Sự gắn bó cũng khác với sự tham gia trong công việc (Job involvement) Theo May và cộng sự (2004), sự tham gia trong công việc là kết quả của sự đánh giá về mặt nhận thức về khả năng đáp ứng nhu cầu của công việc và gắn liền với hình ảnh của chính mình Sự gắn bó phải thấy được người lao động thực hiện các công việc của họ Hơn nữa, sự gắn bó liên quan đến việc chủ động sử dụng cảm xúc và hành vi để bổ sung cho nhận thức May và cộng sự (2004, trang 12) cũng cho rằng “sự gắn bó có thể được dùng như một tiền đề cho sự tham gia trong công việc, trong đó các cá nhân có sự gắn bó nhiều hơn trong vai trò của mình sẽ đồng nhất với công việc của họ”
Tóm lại, Sự tận tâm của nhà nước cũng liên quan đến hoạt động ở chỗ nó đề cập đến thái độ của ngư dân và sự ràng buộc đối với đất nước của họ Sự gắn bó không phải là một thái độ, nó là mức độ mà một cá nhân chú ý và say mê trong việc thể hiện vai trò của họ Và trong khi hành vi công dân trong cả nước liên quan đến hành vi tự nguyện và phi chính thức trong việc giúp ngư nghiệp mang tính chất bảo
vệ tổ quốc vùng biển tiêu điểm của sự gắn bó là việc thể hiện vai trò chính thức của một người chứ không phải là phụ giúp hay hành vi tự nguyện
1.1.2 Lý thuyết động viên 1.1.2.1 Thuyết động viên
Lý thuyết bản chất con người của Douglas Mc.Gregor (1956) chỉ ra tùy theo bản chất X (người không thích làm việc, lười biếng trong công việc ) hay bản chất
Y (người ham thích làm việc, có ý thức tự giác cao ) của người lao động để áp dụng biện pháp động viên Đối với người có bản chất X, nhà quản trị nên nhấn mạnh đến yếu tố kích thích bằng vật chất, giao phó công việc cụ thể và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc Ngược lại với người có bản chất Y, nhà quản trị nên dành nhiều quyết định trong công việc; tôn trọng sáng kiến của họ, và tạo điều kiện để họ chứng tỏ năng lực hơn là kiểm tra Khác với lý thuyết của Maslow & Mc Gregor
Trang 33được xây dựng trên cơ sở lý thuyết tâm lý học, lý thuyết của Herzberg (1976) được xây dựng trên cơ sở kiến thức thực tế của người lao động Trên cơ sở khảo sát, Herberg đã chia thành hai mức độ: mức độ thứ nhất, làm việc một cách bình thường: nếu những biện pháp là nhân tố duy trì không được thỏa mãn, nhân viên sẽ bất mãn và làm việc kém hăng hái Nhân tố duy trì là thỏa mãn những nhu cầu bậc thấp; mức độ thứ hai, làm việc một cách hăng hái khi được động viên bằng những biện pháp gọi là nhân tố động viên: nếu không có, họ vẫn làm việc một cách bình thường Nhân tố động viên là thỏa mãn những nhu cầu bậc bậc cao và duy trì sự thỏa mãn Việc động viên người lao động đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng đồng thời cả hai nhóm nhân tố duy trì và nhân tố động viên, không thể chú trọng một nhân tố nào cả
1.1.2.2 Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow
Trong hệ thống lý thuyết quản trị và động viên, thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow là thuyết có được một sự hiểu biết rộng lớn A Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau:
Những nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý: là những nhu cầu đảm bảo cho
con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác
Những nhu cầu an toàn và an ninh: là các nhu cầu như an toàn, không bị đe
doạ, an ninh, chuẩn mực, luật lệ…
Những nhu cầu xã hội: là các nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, xã
hội…
Những nhu cầu tự trọng: là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác,
được người khác tôn trọng, địa vị…
Những nhu cầu tự thể hiện: là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng
tạo, hài hước…
Trang 34
Hình 1.1 : Tháp nhu cầu của Maslow
1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó của người lao động
Trong nghiên cứu thực nghiệm để kiểm tra mô hình của Kahn (1990), May và cộng sự (2004) thấy rằng sự có ý nghĩa, sự an toàn và sự sẵn sang liên quan đáng kể đến sự gắn bó Họ cũng thấy rằng việc làm thú vị hóa công việc và vai trò phù hợp
là những yếu tố dự báo tích cực của sự có ý nghĩa; khen thưởng, đồng nghiệp và động viên khuyến khích của người giám sát là những yếu tố dự báo tích cực về sự
an toàn trong khi tuân thủ các quy tắc của đồng nghiệp và sự tự ý thức là những yếu
tố dự báo tiêu cực Nguồn lực có sẵn là một yếu tố dự báo tích cực của sự sẵn sàng
về mặt tâm lý trong khi sự tham gia vào các hoạt động bên ngoài là một yếu tố dự báo tiêu cực
Một mô hình sự gắn bó khác xuất phát từ tài liệu về sự kiệt sức trong đó mô tả
sự gắn bó trong công việc như là sự tương phản rõ ràng của sự kiệt sức, trong đó lưu ý rằng sự kiệt sức liên quan đến việc xói mòn của sự gắn bó với công việc của một người (Maslach và cộng sự, 2001) Theo Maslach và cộng sự (2001), sáu lĩnh
Trang 35vực của đời sống - công việc dẫn đến sự kiệt sức và sự gắn bó là khối lượng công việc, sự kiểm soát, khen thưởng và ghi nhận, cộng đồng và hỗ trợ xã hội, nhận thức về
sự công bằng, và giá trị Họ cho rằng sự gắn bó với công việc được liên kết với một khối lượng công việc có thể chịu đựng được, ý thức về sự lựa chọn và kiểm soát, ghi nhận và khen thưởng thích hợp, một cộng đồng làm việc có sự hỗ trợ, công bằng
và công lý, và công việc có ý nghĩa và giá trị Giống như sự kiệt sức, sự gắn bó dự kiến được mong muốn là sẽ làm trung gian liên kết giữa sáu yếu tố đời sống công việc và những kết quả làm việc khác nhau
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân
Sau khi nghiên cứu các lý thuyết, sự hạn chế về nghiên cứu tới các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn và khả năng bám biển của ngư dân Tác giả chọn mô hình nghiên cứu sự gắn bó khác xuất phát từ tài liệu về sự kiệt sức trong đó mô tả sự gắn bó trong công việc như là sự tương phản rõ ràng của sự kiệt sức làm xói mòn sự gắn bó của một người - Maslach và cộng sự (2001), kết hợp khái niệm về khả năng thực hiện của triết học để đưa ra mô hình nghiên cứu hoạt động bám biển của ngư dân,
đề tài này tập trung nghiên cứu sáu yếu tố sau: 1 Môi trường làm việc, 2 Hỗ trợ của nhà tổ chức, nhà quả lý, 3 Khen thưởng và phúc lợi 4 Công bằng về chính sách, 5 Công bằng về phân phối, 6 Đặc điểm công việc
Bảng 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân
1.2.1 Khen thưởng và phúc lợi
Cũng trong điều kiện của lý thuyết trao đổi xã hội, khi người lao động tin rằng nhà tổ chức, nhà quản lý của họ và lo lắng cho họ, họ có khả năng đáp lại bằng cách
cố gắng thực hiện nghĩa vụ của mình đối với tổ chức bằng cách ngày càng trở nên gắn bó hơn, làm cho họ tăng thêm khả năng bám biển để có việc làm nuôi sống gia đình Nếu được Nhà nước có chính sách quan tâm chăm lo những người thân của
Hoạt động bám biển của ngư dân = B0 + B1 * môi trường làm việc + B2 * hỗ
trợ của nhà tổ chức, quản lý + B3 * khen thưởng và phúc lợi + B4 * công bằng về chính sách + B5 * công bằng về phân phối + B6 * đặc điểm công việc
Trang 36họ, khi ra khơi đánh bắt gặp chuyện rủi ro, thì họ cũng an tâm hơn khi làm việc ở môi trường khó khăn và huy hiểm
1.2.2 Hỗ trợ của nhà tổ chức, nhà quản lý
Đảm bảo các tàu đánh bắt hải sản luôn ở trạng thái an toàn, có đầy đủ các trang thiết bị an toàn cho người và tàu (phao cứu sinh, thiết bị thông tin liên lạc, ); mua bảo hiểm tai nạn thuyền viên; khai báo với chính quyền và Đồn Biên phòng nơi cư trú về hô hiệu và tần số liên lạc của tàu
Tàu thuyền khi ra, vào cảng, bến đậu phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ khai báo; phải thông báo cụ thể ngư trường đang hoạt động (vị trí, tọa độ) cho cơ quan quản lý thủy sản và thường xuyên theo dõi dự báo thời tiết trong quá trình hoạt động trên biển
Phương tiện đánh bắt thủy hải sản đóng bằng gỗ từ thời xa xưa, đến nay chỉ phù hợp đối với các con tàu đánh bắt gần bờ, gỗ dùng để đóng tàu ngày càng hiếm,
kỹ thuật đóng tàu sắt lớn an toàn, giá thành thấp so với tàu gỗ Đăng ký cấp số phương tiện tàu đánh bắt thủy hải sản để Nhà nước theo dõi, quản lý và đăng kiểm
an toàn kỹ thuật theo Quy phạm của Cục Đăng kiểm Việt Nam
Dịch vụ hậu cần nghề cá: Trong nỗ lực nâng cao hiệu quả nghề khai thác hải
sản, chính quyền địa phương cùng với bà con ngư dân đã cho ra đời nhiều loại hình dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển như dịch vụ cứu nạn cứu hộ, vận chuyển sản phẩm… có nhiệm vụ chuyên chở sản phẩm từ biển vào bờ để giao cho các nhà máy chế biến Dịch vụ bao tiêu tiêu thụ sản phẩm trực tiếp và môi giới trong mua bán sản phẩm tại các Cảng cá trong nước Dịch vụ cung ứng nhiên liệu tham gia vận chuyển xăng dầu, nước đá từ đất liền ra biển cung cấp cho các tàu đang hoạt động
xa bờ Dịch vụ sửa chữa nhanh là lực lượng có tay nghề sửa máy nổ, vá lưới, sửa tàu hư hỏng…
Doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản (DNCBTHS): là nơi tiếp nhận nguyên
liêu sau thu hoạch khai thác thủy hải sản, trong đó nghề đánh bắt hải sản cung cấp cho các nhà máy chế biến xuất khẩu, làm giá trị gia tăng sản phẩm đánh bắt, chia sẻ
Trang 37lợi nhuận với ngư dân Tàu đánh bắt xa bờ quyết định sản lượng nguyên liệu, Doanh nghiệp chế biến hải sản quyết định lợi nhuận cho danh nghiệp của họ và cho tàu đánh bắt hải sản Ngành chế biến Thủy hải sản thay đổi máy móc thiết bị sản xuất sạch, công nghệ tiên tiến để đáp ứng với thị trường và quy chuẩn quốc gia cho
ngành chế biến Thủy hải sản tại Việt Nam
Cảng - Chợ cá địa phương kết hợp với khu CBTHS: là nơi tập trung cho tàu
đánh bắt ngoài khơi hoặc tàu trung chuyển về cập bến lên hải sản, chợ giao dịch mua bán giữa ngư dân với doanh nghiệp chế biến, thương lái các chợ lậu cận, cung cấp dịch vụ tiện ích hỗ trợ doanh nghiệp và ngư dân Khu chế biến thủy sản giống như một khu công nghiệp chuyên ngành Thủy hải sản, hệ thố hạ tầng kỹ thuật, trạm
xữ lý nước thải tập trung…
1.2.3 Môi trường làm việc
Môi trường làm việc là ở ngoài biển khơi, ngư dân lên tàu ra đến ngư trường ngoài xa đánh bắt hải sản, khối lượng công việc ngoài khơi đơn độc, nhiều khó khăn
và nguy hiểm Nghề cá là nghể nhiều rủi ro, thách thức nhưng rất thú vị khi trúng vụ
và đòi hỏi ngư dân phải yêu nghề, yêu biển Mỗi chuyến ra khơi từ hơn một tháng sau đó quay về đất liền thăm gia đình, công việc nặng nhọc, khó khăn hàng ngày của ngư dânđã trở nên bình thường như bao nghề khác Rừng vàng biển bạc, ngư trường gần bờ ngày cạn kiệt do khai thác quá mức, ngư trường xa bờ là mục tiêu của Chính phủ xây dựng chiến lược biển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, định hướng cho ngư dân phát triển ngành đánh bắt hải sản xa bờ là rất phù hợp với ngư dân
1.2.4 Công bằng về chính sách
Chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư được cụ thể hóa đúng đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước, đúng địa chỉ, đúng nội dung của ngành, xử lý nghiêm khi có tiêu cực xảy ra và công bằng đối với ngư dân vùng biển Sự công bằng là một trong các điều kiện gắn bó của Maslach và cộng sự (2001), khi người lao động có nhận thức về sự công bằng trong tổ chức cao, có nhiều khả năng họ
Trang 38cảm thấy có nghĩa vụ đáp lại công bằng đó trong cách thức họ thực hiện vai trò của
họ bằng cách gắn bó nhiều hơn, tạo động lực làm tăng thêm khả năng bám biển vì cuộc sống và bảo vệ tổ quốc
1.2.5 Công bằng về phân phối
Khi chính sách phân phối của Chính phủ liên quan đến ngành đánh bắt xa bờ
sẽ tạo cho ngư dân, nhà kinh doanh hải sản do ngư dân đánh bắt nhận thức được qua thuế suất Thuế Giá trị gia tăng (GTGT), Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNCN) Khoản thu nhập từ giảm miễn thuế họ có thể sang sẻ nhau về lợi nhuận để tàu đánh bắt ra khơi liên tục mang về hải sản cho nhà máy chế biến không ngừng xuất khẩu mang ngoại tệ về cho đất nước Từ việc giảm miễn thuế giúp cho ngư dân nhận thức được sự quan tâm của Chính phủ thể hiện bằng vật chất, họ sẽ có ý thức làm gì để gắn bó với nghề cá lâu dài và cố gắng bám biển vùng lãnh hải của Việt Nam
1.2.6 Đặc điểm công việc
Nghề đánh bắt xa bờ là nghề truyền thống, công việc đánh bắt là ở ngoài biển khơi, sản phẩm của công việc này là mang về cho người dân hải sản giàu chất dinh dưỡng Do đó có nhiều ngư dân làm việc trên biển khơi hơn nữa đời người vì yêu nghề, yêu biển, yêu quê hương đất nước nơi sinh ra, lớn lên với nghề cá cha truyền con nối
Tóm tắt Chương 1
Chương 1 đã đưa ra một số khái niệm về sự gắn bó, các lý thuyết liên quan đến nhu cầu cá nhân, thuyết động viên, thuyết mong đợi, thuyết về sự công bằng Theo mô hình Maslach và cộng sự (2001), sáu lĩnh vực của đời sống - công việc dẫn đến sự kiệt sức và sự gắn bó là khối lượng công việc, sự kiểm soát, khen thưởng và ghi nhận, cộng đồng và hỗ trợ xã hội, nhận thức về sự công bằng và giá trị
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC XA BỜ Ở VIỆT NAM – CÁC YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN
CÓ TÀU ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ 2.1 Thực trạng về các đoàn tàu cá khai thác xa bờ ở Việt Nam
Hoạt động khai thác hải sản được hình thành từ rất sớm, gắn liền với lịch sử của xã hội, nhưng nghề khai thác hải sản của Việt Nam đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước vẫn là nghề khai thác thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở vùng gần bờ Đến năm 1985, cả nước có 29.203 tàu thuyền máy với tổng công suất là 456.796 cv, bình quân 19 cv/chiếc; gần 30.000 tàu thuyền thủ công
Tuy nhiên, từ năm 1991 tới nay, số lượng tàu thuyền máy tăng nhanh, số thuyền thủ công giảm dần Nhất là từ sau năm 1997, khi có chủ trương phát triển khai thác xa bờ và ổn định khai thác vùng ven bờ, thời điểm bắt đầu triển khai chương trình vay vốn tín dụng đầu tư đóng tàu đánh bắt xa bờ, tỷ trọng tàu thuyền công suất lớn trên 90 CV tăng đáng kể
Tính đến 31 tháng 12 năm 2011, cả nước có gần 130 ngàn tàu cá các loại, trong đó loại tàu cá lắp máy < 20 CV là 65 ngàn chiếc (50%), lắp máy từ 20 ≤ 50CV có 28 ngàn chiếc (21,84%), từ 50 ≤ 90 CV có 9,5 ngàn chiếc (7,3%) và lắp máy từ 90CV trở lên có 27.224 chiếc (20,84%), tăng 55,23% so với năm 2009 Trong năm 2011, tàu thuyền được đóng mới đã có những bước cải tiến, hoàn thiện về mặt chất lượng cũng như độ an toàn của con tàu Nhiều tàu đóng mới trang
bị công suất trên 1.000 CV như tàu lưới kéo của các tỉnh Quảng Bình, Quảng ngãi, Bình Định, Kiên Giang, Bến Tre, Bà Rịa Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Thuận, cá biệt có tàu làm nghề câu mực của thành phố Đà Nẵng cũng đã trang bị máy có công
suất 1000 CV (xem phụ lục 3)
Nhiều tàu xa bờ đóng mới, cải hoán hoặc sửa chữa đã sử dụng vật liệu composite bọc xung quanh tàu nâng độ cứng vững, kín nước đảm bảo an toàn khi tàu hoạt động trên biển
Trang 40Công tác bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch trong khai thác thủy sản ngày càng được quan tâm, nhiều tàu đã trang bị hầm bảo quản sản phẩm bằng công nghệ xốp thổi (Polyurethan) thay cho xốp ghép truyền thống
Sự hiện diện dân sự của lực lượng tàu thuyền và ngư dân trên các vùng biển đã góp phần giữ vững chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo của Tổ quốc Trước những năm của thập niên 90 của thế kỷ trước tàu thuyền nước ngoài thường xuyên xâm phạm vùng biển Việt Nam để khai thác trộm thủy sản, nhất là vùng biển Vịnh Bắc
Bộ và vùng biển Tây Nam Bộ
Ngày nay, khi đội tàu khai thác xa bờ phát triển, có mặt thường xuyên trên khắp vùng đặc quyền kinh tế, tình trạng tàu thuyền nước ngoài vị phạm vùng biển Việt Nam khai thác trộm thủy sản giảm đáng kể
Hệ thống hậu cần dịch vụ hậu cần nghề cá đang từng bước được hoàn thành và ngày càng phát triển Hiện cả nước có các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền
Hình 2.1: Tàu nước ngoài bắn cháy tàu cá của ta trong lãnh hải Việt Nam