1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài của lực lượng công an nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện na

180 362 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, Nhà nước cũng chú trọng công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật, thành lập các cơ quan chuyên trách về SHTT và áp dụng những biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với tổ chức, cá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN VĨNH DIỆN

VÊN §Ò THùC THI QUYÒN Së H÷U TRÝ TUÖ Cã YÕU Tè N¦íC NGOµI CñA LùC L¦îNG C¤NG AN NH¢N D¢N VIÖT NAM

TRONG GIAI §O¹N HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN VĨNH DIỆN

VÊN §Ò THùC THI QUYÒN Së H÷U TRÝ TUÖ Cã YÕU Tè N¦íC NGOµI CñA LùC L¦îNG C¤NG AN NH¢N D¢N VIÖT NAM

TRONG GIAI §O¹N HIÖN NAY

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những thông tin, số liệu nêu trong Luận án là trung thực, khách quan và những kết quả nghiên cứu của Luận án chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả của luận án

Nguyễn Vĩnh Diện

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

06

Chương 2 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU

TRÍ TUỆ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

26

trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

26

thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

51

trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

64

Chương 3 THỰC TIỄN THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÓ

YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

78

tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

78

nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân

111

Trang 5

Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ

THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG

AN NHÂN DÂN

132

thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân

132

hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân

Trang 6

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

ANQG

ANND

BLDS

BLTTDS

BLHS

BLTTHS

CHXHCN

CAND

CSND

CQHQ

ĐƯQT

NXB

NN&PTNN

QTG

QLQ

QSHCN

QĐVGCT QLTT

SHTT

SHCN

WTO

WIPO

TAND

TPHN

TPHCM

TTATXH

TNHH

UBND

VH -TT-DL

An ninh quốc gia

An ninh nhân dân

Bộ luật Dân sự

Bộ luật Tố tụng dân sự

Bộ luật Hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Công an nhân dân

Cảnh sát nhân dân

Cơ quan Hải quan Điều ước quốc tế Nhà xuất bản Nông nghiệp và phát triển nông thôn Quyền tác giả

Quyền liên quan Quyền sở hữu công nghiệp Quyền đối với giống cây trồng Quản lý thị trường

Sở hữu trí tuệ

Sở hữu công nghiệp

Tổ chức Thương mại thế giới

Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới Tòa án nhân dân

Thành phố Hà Nội Thành phố Hồ Chí Minh Trật tự an toàn xã hội Trách nhiệm hữu hạn

Ủy ban nhân dân Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Luận án

Trong tác phẩm “Sở hữu trí tuệ - Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế”

do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) phát hành, Kamil Idris khẳng định: “Tài

sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu chuẩn so sánh tình trạng kinh tế, điều đó nay không đúng nữa Động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội đương thời là tài sản dựa trên trí thức ” [63, tr.7]

Nhận định trên đây đã phản ánh chân thực về vai trò của tài sản trí tuệ đối với đời sống vật chất và tinh thần của con người, đồng thời tác giả cũng dự báo về

xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài người dựa trên nền tảng kinh tế trí thức

Với vị trí, vai trò quan trọng của tài sản trí tuệ như đã nêu, nên từ rất lâu nhiều nước trên thế giới, nhất là các cường quốc như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, Thụy Sĩ… đã dành sự quan tâm đặc biệt cho lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT), coi đây là nền tảng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Vì vậy, vấn đề thực thi pháp luật, chống lại hành vi xâm phạm quyền SHTT luôn được các quốc gia chú trọng khi thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu quốc tế

Từ một nước có xuất phát điểm thấp khi tham gia hội nhập quốc tế, Việt Nam muốn phát triển nhanh, bền vững về mọi mặt, từng bước khẳng định vị thế của mình trong cộng đồng quốc tế, thì cần phải đặc biệt quan tâm đến thị trường khoa học, công nghệ, phải đẩy mạnh các hoạt động thực thi quyền SHTT, trong đó

có cả quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Tuy nhiên, làm thế nào để vừa giữ vững an ninh quốc gia (ANQG), bảo đảm trật tự an toàn xã hội (TTATXH), tiếp thu được trí tuệ nhân loại để phát triển đất nước… là những vấn

đề lớn đặt ra đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay

Đáp ứng những yêu cầu và đòi hỏi thực tiễn, với vai trò lãnh đạo toàn diện đối với đất nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết định hướng chiến lược, chỉ đạo hoạt động thực thi quyền SHTT ở nước ta Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 nhấn mạnh:

“Việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, hình thành và phát triển thị trường khoa học, công nghệ theo hướng phù hợp yêu cầu của WTO và các điều ước quốc

Trang 8

tế mà Việt Nam là thành viên là việc làm cấp bách” [60] Nghị quyết số

20-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, cũng khẳng

định: “Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn

và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo hướng hỗ trợ hiệu quả cho việc vận hành thị trường khoa học và công nghệ Có chế tài xử lý nghiêm các

vi phạm pháp luật trong giao dịch, mua bán các sản phẩm và dịch vụ khoa học và công nghệ…” [62]

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực SHTT, Nhà nước

ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan, như: Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT), Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Hải quan, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Luật Xử lý vi phạm hành chính Đồng thời, nước ta cũng ký kết và tham gia vào nhiều điều ước quốc tế (ĐƯQT) về bảo hộ và thực thi quyền SHTT Ngoài ra, Nhà nước cũng chú trọng công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật, thành lập các cơ quan chuyên trách về SHTT và áp dụng những biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với tổ chức, cá nhân vi phạm quyền SHTT… Tuy nhiên, trong thực tiễn, tình hình xâm phạm quyền SHTT, đặc biệt là quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam vẫn chưa được kiểm soát triệt để, hành vi xâm phạm quyền tác giả (QTG), quyền liên quan (QLQ), quyền sở hữu công nghiệp (QSHCN) và quyền đối với giống cây trồng (QĐVGCT) vẫn diễn ra thường xuyên và có xu hướng ngày càng phức tạp, gây thiệt hại trực tiếp đến lợi ích của chủ thể quyền SHTT, ảnh hưởng đến ANQG, TTATXH và làm giảm sút lòng tin của đối tác nước ngoài khi đầu tư vào thị trường Việt Nam

Là một cán bộ công tác trong ngành Công an, tác giả nhận thức rằng: vấn đề thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân (CAND); đây là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu

tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà lực lượng CAND hiện vẫn chưa phát huy được tối đa được hiệu quả các mặt công tác trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

Trang 9

Vì những lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Vấn đề thực thi quyền sở

hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” để làm Luận án Tiến sĩ Luật học, nhằm đáp ứng những yêu cầu

cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

- Về mục đích nghiên cứu, Luận án làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn

thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND; trên

cơ sở đó kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT

có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND trong giai đoạn hiện nay

- Về nhiệm vụ nghiên cứu, Luận án đặt ra các nhiệm vụ chủ yếu như sau:

+ Phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài và thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài để từ đó tìm ra những nội dung cần tiếp tục làm rõ trong Luận án;

+ Phân tích, đánh giá dưới góc độ khoa học pháp lý nhận thức chung về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND;

+ Khảo sát tình hình vi phạm pháp luật về SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật đó;

+ Phân tích, đánh giá hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND để từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án

- Về đối tượng nghiên cứu:

Luận án nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND

Trang 10

biện pháp dân sự và các biện pháp nghiệp vụ khác của lực lượng CAND không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án này

+ Địa bàn nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, tập trung ở một số địa phương được chọn tiêu biểu, như: Thành phố Hà Nội (TPHN), Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), Hải Phòng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Đồng Nai, Tây Ninh, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu

+ Thời gian nghiên cứu từ năm 2003 đến năm 2014, đặc biệt từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu của Luận án Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về các lĩnh vực liên quan đến đề tài Luận án

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tập trung sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, điều tra xã hội học, lịch sử

5 Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận án Luận án có một số đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

- Làm rõ thêm nội hàm khái niệm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài và thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, góp phần hoàn thiện lý luận khoa học pháp lý ở nước ta về lĩnh vực đã nêu;

- Làm rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng CAND và yêu cầu đặt ra đối với CAND trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay;

- Dự báo tình hình quốc tế và trong nước có liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, đề xuất những giải pháp mang tính khoa học, tổng thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND trong những năm tiếp theo

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

- Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của Luận án có thể làm luận cứ đề

xuất, bổ sung những vấn đề lý luận về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước

Trang 11

ngoài ở Việt Nam, đặc biệt là lý luận về phòng, chống tội phạm và xử lý vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Về mặt thực tiễn, Luận án có thể được dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng

dạy tại các trường đại học; làm tài liệu để bồi dưỡng kiến thức pháp luật quốc tế cho cán bộ, chiến sĩ CAND trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc

tế hiện nay

7 Cấu trúc của Luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục công trình nghiên cứu của tác giả có liên quan đến đề tài nghiên cứu, Luận án được cấu trúc bởi 4 chương như sau:

- Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới và Việt Nam có liên quan đến đề tài Luận án;

- Chương 2 Nhận thức chung về thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân;

- Chương 3 Thực tiễn thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân;

- Chương 4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới Quyền SHTT và thực thi quyền SHTT luôn là vấn đề nóng hổi, được đặc biệt quan tâm ở nhiều nước trên thế giới Bill Gates, Chủ tịch tập đoàn công nghệ

thông tin hàng đầu thế giới - Microsof, từng phát biểu: “Cuộc đấu tranh về quyền

sở hữu trí tuệ trong tương lai đã bắt đầu” [96, tr.5]

Cho đến nay đã có hàng trăm công trình, tác phẩm của nước ngoài nghiên cứu về quyền SHTT và thực thi quyền SHTT Trong phạm vi Luận án này, tác giả chỉ xin nêu một số công trình, tác phẩm tiêu biểu như sau:

- Cuốn chuyên khảo “Luật sở hữu trí tuệ” của T.Hart và L.Tina được Công

ty Macmillan Press Ltd phát hành tại London năm 1997;

Cuốn chuyên khảo này không chỉ giới thiệu các vấn đề lý luận về quyền SHTT đối với phát minh, sáng chế, nhãn hiệu thương mại, QTG mà còn hướng dẫn

cả cách thức bảo vệ quyền SHTT, thực thi quyền SHTT, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến biện pháp hành chính và biện pháp hình sự kèm theo các chế tài nghiêm khắc đối với việc vi phạm các quyền đó Tuy nhiên, cuốn sách cũng khuyến cáo chủ sở hữu quyền SHTT nên chủ động bảo vệ lợi ích của mình bằng cách tự bảo

vệ, để vừa mang tính chủ động, vừa tránh tình trạng “quá tải” cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp về quyền SHTT

- Cuốn chuyên khảo “Hệ thống thương mại toàn cầu” của Hoekman,

Bernard, do Viện nghiên cứu Tauris phát hành tại New York vào năm 2002;

Trong nội dung cuốn chuyên khảo, tác giả đã phân tích các quy định của Hiệp định TRIPS/WTO, trong đó có phần thực thi quyền SHTT và các biện pháp hình sự được áp dụng đối với vi phạm quyền SHTT ở quy mô thương mại Từ nội dung cuốn chuyên khảo này, người đọc có thể liên tưởng tới khả năng phát triển của quan hệ thương mại quốc tế trong tương lai, nhất là ở các châu lục và các quốc gia đang có nhu cầu vốn và nhân lực, hé mở những tiềm năng phát triển của mỗi quốc gia thông qua chính sách bảo hộ và thực thi quyền SHTT

Trang 13

- Cuốn “Vòng đàm phán GATT Uruguay” của tác giả Stewart, Terence do

NXB Kluwer law and Taxation phát hành tại Boston vào năm 1993;

Nội dung cuốn chuyên khảo này giúp cho người đọc có cái nhìn tổng thể về những khả năng tranh chấp có thể xảy ra đối với quyền SHTT và thực thi quyền SHTT, cho thấy sự liên quan giữa quyền SHTT với các khía cạnh thương mại quốc

tế, đòi hỏi mỗi quốc gia phải hoạch định chính sách thương mại một cách hài hòa, đặc biệt về chiến lược tổng thể trong thực thi quyền SHTT

- Cuốn chuyên khảo “Quyền sở hữu trí tuệ, thương mại và đa dạng sinh

học” của tác giả Dutfield, do Nhà xuất bảnb (NXB) Graham IUCN phát hành tại

London vào năm 2000;

Tác giả đã đề cập những ĐƯQT liên quan đến sinh học, như: Công ước về

đa dạng sinh học (CBD), Hiệp định TRIPS của WTO, Công ước quốc tế về bảo vệ thực vật (IPPC); xem xét đến sự kết hợp nội dung của CBD với quy định về quyền SHTT mang tính toàn cầu và lưu ý sự quan tâm của mỗi quốc gia đối với vấn đề môi trường, ảnh hưởng xã hội, chuyển giao công nghệ và tri thức truyền thống Vấn

đề thực thi quyền SHTT cũng được đề cập đến trong một mức độ nhất định

- Cuốn chuyên khảo “Sở hữu trí tuệ và pháp luật về cạnh tranh: quan hệ đổi

mới” của tác giả Ghidini, Gustavo do NXB Edward Elgar, Cheltenham, phát hành

tại Northampton vào năm 2006;

Tác giả đã dành phần lớn nội dung cuốn sách phân tích về sự bảo hộ của chính phủ các nước đối với những đổi mới về độc quyền kháng thể của sức khỏe con người, về nghệ thuật và khoa học, công nghệ với sự phát triển bản quyền, phân biệt chức năng và giá trị quảng cáo của từng hãng và tập đoàn trong hoạt động kinh doanh, đánh giá điểm giao thoa giữa pháp luật về SHTT với pháp luật về cạnh tranh của các nước Thông qua tác phẩm này, người đọc sẽ học hỏi được kinh nghiệm của các nước trong thực thi quyền SHTT, đặc biệt là việc áp dụng các biện pháp thực thi quyền SHTT, quan hệ tương tác giữa thực thi quyền SHTT và pháp luật về cạnh tranh, đảm bảo sự phát triển song song, không trùng lặp và phát triển tương hỗ lẫn nhau giữa các quy định của pháp luật, thúc đẩy các quan hệ kinh tế phát triển một cách toàn diện

- Cuốn sách “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ” của Giáo sư Michael Blakeney

thuộc Viện nghiên cứu Queen Mary, do trường Đại học London xuất bản tại London năm 2008;

Trang 14

Tác giả ngoài việc giới thiệu khá cụ thể nội dung pháp luật về SHTT của một

số nước như Anh, Mỹ, Trung Quốc…, còn có những phân tích các hình thức thực thi quyền SHTT theo quy định của Hiệp định TRIPS (về nghĩa vụ thực thi chung của tất cả các nước thành viên; thủ tục, chế tài dân sự và hành chính dành cho các chủ thể vi phạm pháp luật về quyền SHTT; quy định thủ tục và chế tài hình sự trong trường hợp cố tình giả mạo nhãn hiệu hoặc xâm phạm bản quyền ở quy mô thương mại; quy định chế độ kiểm soát biên giới đối với hàng hóa giả mạo SHTT…)

- Cuốn sách “Sở hữu trí tuệ và chiến lược cạnh tranh trong thế kỷ 21” của

tác giả Shahid Alikhan, Raghunath Mashelkar do NXB Kluwer Law International phát hành tại The Hague năm 2004;

Nội dung cuốn sách giới thiệu về các vấn đề lý luận chung về quyền SHTT

và thực thi quyền SHTT; toàn cầu hoá chiến lược phát triển kinh tế quốc gia liên quan đến SHTT và vấn đề thực thi quyền SHTT; bảo vệ di sản văn hoá; tri thức truyền thống và hiện đại; văn hoá dân gian và phát triển kinh tế, xã hội bền vững Ngoài ra, sách còn nêu rõ tầm quan trọng của thực thi quyền SHTT đối với sự cạnh tranh công bằng của doanh nghiệp vừa và nhỏ; khuyến khích nghiên cứu và phát triển, vai trò của chính phủ, lĩnh vực tư nhân, xã hội và những thách thức đối với hệ thống SHTT trên toàn thế giới

- Tập bài giảng “Chuyên đề về quyền sở hữu trí tuệ dành cho các nước

ASEAN” của giáo sư Cho Un Young, thuộc Học viện SHTT của Hàn Quốc (IITPI)

Chuyên đề này được trình bày tại khóa học đặc biệt dành cho học viên đến từ 10 nước ASEAN [96];

Giáo sư Cho Un Young đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của hệ thống Tòa án SHTT ở Hàn Quốc; nêu rõ chủ trương của Hàn Quốc trong thực thi quyền SHTT, coi đây nhiệm vụ cần thiết cho sự phồn vinh về công nghệ của quốc gia cũng như quan hệ hợp tác với các đối tác kinh doanh, thương mại lớn trên thế giới Chuyên

đề này của giáo sư Cho Un Young, kết hợp với việc tham quan, nghiên cứu về hệ thống Tòa án SHTT đã giúp cho tác giả học tập được những kinh nghiệm của nước bạn trong thực thi quyền SHTT; hiểu rõ hơn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng và tính ưu việt của hệ thống Tòa án SHTT cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp về quyền SHTT của Hàn Quốc

Trang 15

- Cuốn “Sự thật về 100 thất bại thương hiệu lớn nhất của mọi thời đại” của

tác giả Brand Failures, do Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM dịch và xuất bản năm

2005, cho thấy sự thất bại của 100 thương hiệu lớn, trong đó có những thất bại điển hình như: New Coke, Edsel của Ford; Beatamax của Sony; Arch Deluxe của McDonald’s… một phần có sự tham gia của vấn đề bảo hộ và thực thi quyền SHTT Cuốn sách cũng đề cập đến những thất bại khác nhau nhưng cũng gợi mở cho người đọc, doanh nhân, người quản lý QSHCN rút ra những bài học quý báu trong bảo hộ

và thực thi quyền SHTT

- Chuyên khảo “Tình báo công nghiệp” của tác giả Jacques Bergier, NXB

CAND dịch và phát hành năm 2005, đề cập đến những hoạt động thu thập bí mật khoa học kỹ thuật của các cơ quan tình báo nước ngoài và vấn đề thực thi quyền SHTT Nội dung cuốn sách cho người đọc thấy tầm quan trọng của việc nâng cao ý thức về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo hộ quyền SHTT, gợi mở những ý tưởng về thực thi quyền SHTT liên quan đến công nghiệp an ninh, quốc phòng, nhằm giữ vững ANQG và bảo đảm TTATXH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

- Trang thông tin điện tử về SHTT của khối ASEAN (http://www

aseanip.org) giới thiệu hệ thống cơ quan thực thi quyền SHTT ở các nước trong

khu vực Theo đó, cơ quan chuyên trách thực thi quyền SHTT ở các nước không giống nhau về tên gọi, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ Chẳng hạn: Brunei Darussalam có những cơ quan thực thi quyền SHTT là: Cảnh sát, Hải quan, Cục Thuế, Phòng Tư pháp hình sự của Tổng Chưởng lý; ở Campuchia có: Ủy ban bản quyền và vi phạm bản quyền, Cảnh sát, Hải quan, Tòa án SHTT; ở Indonesia, có: Tòa án tối cao, Tổng hội Luật sư, Cảnh sát, Hải quan (thuộc Bộ Tài chính)…

- Trang thông tin điện tử về thực thi quyền SHTT của các nước châu Âu

(http://www.ec.europa.eu);

Vấn đề thực thi quyền SHTT cũng được Ủy ban châu Âu (EC) đặc biệt quan tâm Từ năm 2004, EC đã ban hành Chỉ thị về việc thực thi QTG và QLQ, nhãn hiệu hàng hóa, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, sáng chế; đồng thời yêu cầu tất cả các nước thành viên áp dụng biện pháp khắc phục và xử phạt đối với những người tham gia sản xuất, tiêu thụ hàng giả, vi phạm bản quyền để tạo ra một sân chơi bình đẳng cho chủ sở hữu quyền SHTT trong khối Liên minh Châu Âu (EU)

Để thực thi quyền SHTT một cách hiệu quả, EC tìm kiếm sự hợp tác mạnh mẽ giữa

Trang 16

các cấp hành chính ở mọi quốc gia, kêu gọi thành lập một Đài quan sát Châu Âu về hàng giả và vi phạm bản quyền Đài quan sát có chức năng như một trung tâm thu thập, theo dõi và báo cáo thông tin về thực thi quyền SHTT, góp phần nâng cao kiến thức của cộng đồng về tính nguy hiểm của hàng giả và vi phạm bản quyền…

Tóm lại, qua tìm hiểu các công trình, tác phẩm nghiên cứu về quyền SHTT

và thực thi quyền SHTT ở các nước trên thế giới cho thấy: từ lâu các nước đã xây dựng được hệ thống pháp luật quốc nội tương đối hoàn chỉnh về quyền SHTT và thực thi quyền SHTT, thành lập các cơ quan chuyên trách để thực thi quyền SHTT một cách hiệu quả Về cơ bản, cơ quan thực thi quyền SHTT của các nước gồm nhiều loại khác nhau, trong đó xu hướng thành lập các Tòa án SHTT là một mô hình tương đối phổ biến; bên cạnh đó, quá trình thực thi quyền SHTT ở nhiều nước cũng được biết đến với vai trò của lực lượng Công an (Cảnh sát) Trong hoạt động thực thi quyền SHTT, các nước đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ những thành quả SHTT của các tổ chức, cá nhân nước mình, đặc biệt là những sản phẩm trí tuệ liên quan đến ANQG và TTATXH, thuần phong, mỹ tục và đạo đức Ngoài ra, các nước cũng cố gắng khai thác các thành tựu trí tuệ của quốc gia khác bằng nhiều hình thức khác nhau, kể cả bằng hoạt động tình báo, gián điệp nhằm tranh thủ tối

đa các giá trị quyền SHTT vào hoạt động riêng của mình

Trong phần lớn các công trình, tác phẩm nêu trên, đã phản ánh vai trò quan trọng của các ĐƯQT về SHTT, hình thành nên các chuẩn mực chung về bảo hộ và thực thi quyền SHTT của cộng đồng quốc tế mang tính khu vực và phổ biến trên phạm vi toàn cầu Trong số các ĐƯQT đa phương về thực thi quyền SHTT, các tác giả nhấn mạnh đến nội dung và sự ảnh hưởng của Hiệp định TRIPS trong khuôn khổ WTO Đây là một hiệp định có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm đối với tất cả thành viên WTO, ngay cả trong quá trình xây dựng luật pháp của mỗi quốc gia về quyền SHTT cũng phải tuân theo các chuẩn mực này Đồng thời, thông qua nội dung của các công trình nghiên cứu trên đây, cũng cho thấy vai trò của các tổ chức quốc tế (như EU, ASEAN, WTO…) trong việc hình thành nên cơ chế thực thi quyền SHTT trên thế giới và trong khu vực, giám sát và giải quyết các tranh chấp

về quyền SHTT giữa các nước thành viên của tổ chức trong quá trình thực hiện các cam kết quốc tế

Trang 17

Mặc dù với số lượng rất đa dạng các công trình, tác phẩm nghiên cứu về quyền SHTT ở các nước trên thế giới, nhưng cho đến nay chưa có bất kỳ công trình nào đề cập trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của Luận án Sở dĩ có hiện tượng này là

vì, nội dung đề tài liên quan đến hoạt động mang tính nội bộ của ngành Công an,

mà không phải phương tiện thông tin nào hay tác giả nào cũng có thể tiếp cận được Bởi vậy, quá trình triển khai nghiên cứu đề tài Luận án, ngoài việc kế thừa những kiến thức của các công trình, tác phẩm trên đây, tác giả cũng cần phải chú ý tiếp tục

bổ sung, khai thác những điểm mới, mang tính đặc thù về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, số lượng các công trình nghiên cứu về thực thi quyền SHTT nói chung, thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài của lực lượng CAND có liên quan đến đề tài Luận án cơ bản chưa nhiều Tuy vậy, có một số công trình sau đây đáng chú ý:

- Cuốn chuyên khảo“Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, những vấn đề

lý luận và thực tiễn” của PGS.TS Lê Hồng Hạnh và ThS Đinh Thị Mai Hương,

NXB Chính trị Quốc gia phát hành năm 2004;

Cuốn chuyên khảo có nội dung khá đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn trong bảo hộ và thực thi quyền SHTT ở Việt Nam, bao gồm các vấn đề: thực trạng bảo hộ và thực thi quyền SHTT; những yêu cầu hoàn thiện đối với các quy định pháp luật dân sự liên quan đến quyền SHTT trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế; kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan tới quyền SHTT…

- Cuốn chuyên khảo “Quyền sở hữu trí tuệ” của tác giả Lê Nết, NXB Đại

học Quốc gia TPHCM xuất bản năm 2005;

Nội dung chuyên khảo đề cập đến quyền SHTT dưới góc độ của một quốc

gia đang phát triển, phân tích các mặt thuận lợi, khó khăn của việc bảo hộ và thực thi quyền SHTT tại Việt Nam, cam kết quốc tế mà Việt Nam cần thực hiện trong bảo hộ quyền SHTT Tác giả cũng phân tích việc thực thi quyền SHTT về từng đối tượng cụ thể, những khó khăn chủ quan và khách quan trong hoạt động thực thi, đồng thời đề ra những kiến nghị nhằm đưa đến một hệ thống cơ quan thực thi

Trang 18

quyền SHTT một cách cân bằng cho chủ sở hữu và cho người tiêu dùng, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế

- Cuốn chuyên khảo “Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, thực trạng và giải

pháp”, của TS Phan Xuân Dũng, NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2004;

Nội dung chuyên khảo phản ánh vấn đề chuyển giao công nghệ là một hình

thức phổ biến để các đối tượng QSHCN được sử dụng hiệu quả trong cuộc sống; đề cập một số thông tin về tình hình chuyển giao công nghệ trên thế giới và thực trạng chuyển giao công nghệ tại Việt Nam trong những năm đổi mới Vấn đề đặt ra được

đề cập từ hai góc độ: chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại của nước ngoài vào Việt Nam; chuyển giao các công nghệ ngay từ các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ của Việt Nam vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân cũng như vấn đề bảo hộ và thực thi quyền SHTT trong quá trình chuyển giao công nghệ

- Cuốn “Cẩm nang sở hữu trí tuệ” do Cục SHTT biên soạn, NXB Văn hoá -

Thông tin xuất bản năm 2005;

Sách được phát hành nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập Cục SHTT, đề cập toàn diện đến các quy định của WIPO về quyền SHTT, những khái niệm cơ bản nhất về quyền SHTT của Việt Nam và thế giới; cung cấp cho công chúng kiến thức tham khảo về các lĩnh vực khác nhau của quyền SHTT và thực thi quyền SHTT, qua đó góp phần thúc đẩy việc áp dụng hệ thống pháp luật về bảo hộ và thực thi quyền SHTT trong các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, sản xuất, kinh doanh

- Cuốn chuyên khảo “Giải pháp của lực lượng An ninh nhân dân nhằm nâng

cao hiệu quả bảo vệ bí mật Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế trọng điểm ở Việt Nam hiện nay”, Viện Chiến lược và Khoa học Công an biên soạn, NXB CAND xuất bản

Trang 19

- Cuốn chuyên khảo “Tư pháp quốc tế Việt Nam, quan hệ dân sự, lao động,

thương mại có yếu tố nước ngoài” của TS Đỗ Văn Đại, PGS.TS Mai Hồng Quỳ,

NXB Chính trị quốc gia phát hành năm 2010;

Nội dung cuốn chuyên khảo đề cập đến ba vấn đề lớn là: quan hệ lao động,

quan hệ dân sự và quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Bằng việc

đi sâu phân tích quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến ba lĩnh vực nói trên, các tác giả đưa ra luận giải về các vấn đề: xung đột thẩm quyền, xung đột pháp luật, công nhận và cho thi hành quyết định của Tòa án hay Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp các thông tin về pháp luật nước ngoài để người đọc tham khảo, so sánh khi nghiên cứu về pháp luật Việt Nam Mặc dù nội dung công trình này không trực tiếp đề cập đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài, nhưng thông qua khái niệm về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

mà các tác giả bàn luận, có thể vận dụng bổ sung vào phần lý luận về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

- Cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học “Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo

hộ, đẩy mạnh thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Hà Nội”, của

Trường Đại học Luật Hà Nội, thực hiện năm 2006;

Nội dung cuốn kỷ yếu này đăng tải các bài viết của các tác giả là những nhà khoa học, những cán bộ làm công tác thực tiễn về thực thi quyền SHTT trên địa bàn TPHN Khi tham gia hội thảo, các tác giả đã thẳng thắn nhìn nhận, đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật về SHTT, đặc biệt trong lĩnh vực QTG, QSHCN ở nước ta; đồng thời các tác giả cũng chỉ rõ thực trạng công tác thực thi pháp luật về SHTT của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ đó đưa ra các giải pháp về đẩy mạnh thực thi quyền SHTT trong những năm tiếp theo

- Cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

sau khi gia nhập WTO” do trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn phối hợp

với Viện Konrad Adenauer Stiftung (Cộng hòa Liên bang Đức), tổ chức tại Hà Nội năm 2011;

Nội dung của cuốn kỷ yếu đăng tải nhiều bài viết của các tác giả, bàn luận đối với vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến thực thi quyền SHTT ở Việt Nam từ sau thời điểm tháng 01/2007, khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO Những vấn

đề được bàn thảo bao gồm: vai trò của nhà nước trong việc thực thi QTG và QLQ;

Trang 20

bài học kinh nghiệm của các nước thành viên WTO, tiêu biểu là Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc về thực thi quyền SHTT theo quy định của Hiệp định TRIPS, thực thi quyền SHTT ở các trường đại học - kinh nghiệm của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn; các biện pháp bảo hộ SHTT; định giá tài sản SHTT trong hoạt động thương mại…

- Cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học “Bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong chiến

lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, quan điểm, nhận diện và khuyến nghị”, do

Bộ Công an tổ chức tại Học viện CSND tháng 5 năm 2013;

Kỷ yếu gồm những bài viết của lãnh đạo Bộ Công an, chuyên gia thực tiễn, nhà khoa học… phản ánh nội dung về sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong bảo đảm ANQG, TTATXH trên nhiều lĩnh vực, trong đó

có thực thi quyền SHTT, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề chung về TTATXH, chiến lược quản lý nhà nước về TTATXH, lý luận về đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay Trong nội dung của cuốn kỷ yếu, một số bài viết trực tiếp

đề cập đến đề tài Luận án, có thể được sử dụng nghiên cứu để bổ sung, như: “Hoàn

thiện pháp luật trong đấu tranh chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế” của TS Phạm

Công Nguyên; “Thực trạng vi phạm pháp luật và tội phạm xâm phạm quyền sở hữu

trí tuệ ở nước ta hiện nay và giải pháp phòng, chống” của TS Lê Hoài Nam…

- Luận án Tiến sĩ “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh

trong lĩnh vực xuất bản ở nước ta hiện nay” của tác giả Trần Anh Vũ, thực hiện tại

Học viện ANND năm 2007;

Tác giả đã trình bày một số vấn đề cơ bản về: quyền SHTT và QTG; quản lý nhà nước về xuất bản; chức năng, nhiệm vụ của lực lượng ANND trong quản lý nhà nước về xuất bản; thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh về hậu quả của việc in lậu và xuất bản sách là các tác phẩm có nội dung xâm hại đến chủ quyền, ANQG và TTATXH ở Việt Nam; thực trạng công tác của lực lượng ANND về thực thi quyền SHTT trong lĩnh vực xuất bản Bên cạnh đó, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng ANND trong quản lý nhà nước về xuất bản, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác trong lĩnh vực xuất bản

Trang 21

- Luận án Tiến sĩ “Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp và trách nhiệm của cơ

quan Công an - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Bá Ngừng, thực hiện

tại Học viện ANND năm 2008;

Tác giả đã trình bày những kiến thức lý luận cơ bản nhất về QSHCN và các biện pháp bảo vệ QSHCN; cơ sở pháp lý quy định chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Công an trong bảo vệ và thực thi QSHCN Bên cạnh việc khảo sát, đánh giá về thực trạng vi phạm pháp luật đối với QSHCN, tác giả đã đưa ra những nhận xét về các ưu điểm, hạn chế của công tác bảo vệ và thực thi QSHCN mà cơ quan Công an đã tiến hành; trên cơ sở dự báo về tình hình vi phạm QSHCN, tác giả đã đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ và thực thi QSHCN của cơ quan Công an trong những năm tiếp theo

- Luận văn Thạc sỹ “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về bảo

vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân Việt Nam hiện nay” của tác giả Bùi

Thị Dung Huyền, thực hiện tại Đại học Luật Hà Nội năm 2010;

Tác giả giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về thủ tục bảo vệ và thực thi quyền SHTT tại Tòa án nhân dân (TAND), trong đó tập trung làm rõ thực trạng và vai trò giải quyết tranh chấp quyền SHTT của TAND theo thủ tục tố tụng dân sự, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp pháp luật về bảo vệ và thực thi quyền SHTT tại TAND

- Luận văn Thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu công nghiệp

bằng biện pháp hành chính” của tác giả Trần Minh Dũng, thực hiện tại Viện Chiến

lược và chính sách khoa học, công nghệ năm 2004;

Tác giả đã đã làm rõ những khái niệm cơ bản về QSHCN và thực thi QSHCN bằng biện pháp hành chính, được tiến hành bởi các cơ quan quản lý nhà nước, như: Ủy ban nhân dân (UBND), CAND, Cơ quan Hải quan (CQHQ), Quản

lý thị trường (QLTT), Thanh tra chuyên ngành của Bộ Khoa học - Công nghệ (Bộ KH-CN) và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VH-TT-DL, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) Trên cơ sở khảo sát thực trạng xâm phạm QSHCN ở Việt Nam, tác giả đã phân tích, đánh giá, rút ra nhận xét về những ưu, nhược điểm đối với hoạt động thực thi QSHCN của các cơ quan nói trên Bên cạnh

đó, tác giả cũng đưa ra dự báo về tình hình vi phạm QSHCN và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi QSHCN bằng biện pháp hành chính ở Việt Nam

Trang 22

- Đề tài khoa học cấp Bộ “Thực trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và các

giải pháp phòng, chống của lực lượng Cảnh sát nhân dân”, tác giả Lê Hoài Nam

làm chủ nhiệm, Viện Chiến lược và khoa học Công an nghiệm thu năm 2007;

Đề tài đã nghiên cứu vấn đề thực thi quyền SHTT, thực trạng vi phạm quyền SHTT và công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm quyền SHTT của lực lượng CSND, trong đó tập trung vào công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm quyền SHTT theo chức năng của Cảnh sát kinh tế, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực thi quyền SHTT của lực lượng CSND Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung khảo sát thực trạng tình hình tội phạm theo quy định tại các Điều: 131, 156, 157, 158, 170, 171 BLHS năm 1999 và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực thi quyền SHTT liên quan đến các lĩnh vực nêu trên Thời gian nghiên cứu, được đề cập đến từ 2000 đến 2007

- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong điều kiện

Việt Nam là thành viên WTO và những vấn đề đặt ra đối với công tác an ninh”, do

ThS Nguyễn Vĩnh Diện làm chủ nhiệm, thực hiện tại Học viện ANND năm 2008;

Tác giả đã tập trung phân tích làm rõ một số vấn đề có liên quan đến quyền SHTT và thực thi quyền SHTT, như: khái niệm, đặc điểm, nội dung của quyền SHTT và thực thi quyền SHTT; các biện pháp thực thi quyền SHTT; mối liên hệ giữa vấn đề thực thi quyền SHTT với chức năng, nhiệm vụ của lực lượng ANND; thực trạng pháp luật và thực tiễn công tác thực thi quyền SHTT, công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật về quyền SHTT của lực lượng ANND; dự báo tình hình vi phạm pháp luật về SHTT trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO và những giải pháp tăng cường công tác thực thi quyền SHTT của lực lượng ANND trong tình hình mới…

- Bài viết “Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp

luật về quyền tác giả ở Việt Nam” của Trần Văn Nam, Nguyễn Hợp Toàn, Nguyễn

Thị Thanh Thủy, đăng trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 197 (II) năm 2013;

Trong bài viết này, các tác giả đã đưa ra những đánh giá tổng quan đối với việc nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về QTG ở Việt Nam; nhìn nhận về những điểm hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về QTG và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó; bài viết cũng nêu lên những giải pháp về hoàn thiện pháp luật về thực thi QTG Những giải pháp được các tác giả nêu lên, như: cần ban hành thêm

Trang 23

các văn bản dưới luật về QTG, sửa đổi Luật SHTT (Phần QTG), khắc phục những bất cập khác về thực thi QTG và QLQ, đề xuất xây dựng Luật thực thi QTG… Ngoài ra, bài viết còn đề cập một số giải pháp nhằm hoàn thiện bộ máy thực thi QTG và QLQ ở nước ta

- Bài viết “Tác hại của hàng giả và dấu hiệu xác định hàng giả trong điều

tra phám phá tội phạm” của tác giả Nguyễn Ngọc Hà, đăng trên Tạp chí Cảnh sát

phòng, chống tội phạm, số 10/2013;

Trên cơ sở khái quát thực trạng vi phạm QSHCN ở nước ta trong thời gian qua (đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, tiêu thụ hàng giả là các sản phẩm đồ uống, thuốc tân dược, mỹ phẩm…) tác giả nêu lên những khó khăn, trở ngại trong việc thực thi QSHCN, đặc biệt là hoạt động nhận diện về hàng giả và hàng kém chất lượng Những khó khăn đó xuất phát từ những lý do, như: cơ sở pháp lý quy định

về hàng giả, hàng kém chất lượng chưa rõ ràng; chưa có đủ điều kiện tổ chức giám định đối với tất cả các loại hàng hóa vi phạm QSHCN; ý thức pháp luật của người tiêu dùng chưa cao… Để khắc phục tình trạng trên, tác giả cũng đưa ra giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng CAND trong thực thi QSHCN, trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về sản xuất, buôn bán hàng giả ở nước ta

- Cuốn “Sách trắng về các vấn đề thương mại, đầu tư tại Việt Nam” do Phòng thương mại châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) phát hành năm 2012;

Nội dung cuốn sách này cho rằng việc thực thi các quyền SHTT ở Việt Nam

vẫn rơi vào tình trạng thiếu hụt những yếu tố cần thiết để thu hút các ngành sản xuất giá trị gia tăng công nghệ cao EuroCham nhận định việc thực thi quyền SHTT ở Việt Nam chưa được cải thiện và vẫn còn nhiều bất cập, như: hàng giả được sản xuất tại Việt Nam, Trung Quốc và các quốc gia khác vẫn có mặt tại hầu hết các thị trường nông thôn và thành thị; hàng giả được sản xuất thuộc nhiều chủng loại gồm may mặc, phụ kiện dệt may, giày dép, thực phẩm, đồ uống, mỹ phẩm Một số lượng đáng kể các doanh nghiệp và cá nhân do bị kích thích bởi mong muốn đạt được lợi nhuận nhanh chóng vẫn tiếp tục xâm phạm quyền SHTT của các doanh nghiệp, cá nhân khác Thay vì tạo ra nhãn hiệu, sáng chế, các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả và các kiến thức và công nghệ độc quyền do mình sở hữu, một số

Trang 24

công ty và cá nhân đơn phương hoặc cùng với các đối tác nước ngoài tiếp tục xâm phạm quyền SHTT Các doanh nghiệp Việt Nam (trong một vài trường hợp có cả các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước và của nước ngoài) đang sao chép kiểu dáng của các sản phẩm mang thương hiệu nổi tiếng của các doanh nghiệp châu Âu

và chi nhánh tại Việt Nam Với việc nghiên cứu cuốn sách nói trên, giúp cho Nhà nước ta có sự nhìn nhận khách quan về tình hình thực thi quyền SHTT và đầu tư nước ngoài ở Việt Nam để có sự điều chỉnh hợp lý về chính sách, pháp luật, nhằm tạo ra sự cải thiện đáng kể môi trường đầu tư ở Việt Nam những năm tiếp theo

- Phát biểu tại buổi lễ triển khai chiến dịch truyền tải thông điệp về SHTT nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về tôn trọng và bảo vệ quyền SHTT,

được tổ chức tại TPHCM ngày 11/10/2012, ông David Shear - Đại sứ Hoa Kỳ tại

Việt Nam đã nhấn mạnh về vai trò của thực thi quyền SHTT đối với mọi quốc gia trên thế giới, coi đây là điều kiện tiên quyết để phát triển nền kinh tế đất nước trong hội nhập quốc tế Đối với Việt Nam, mặc dù không đưa ra các số liệu thống kê về tình hình xâm phạm quyền SHTT, nhưng nội dung bài phát biểu đã thể hiện tình trạng đáng báo động về vấn đề thực thi quyền SHTT ở nước ta và đặt ra trách nhiệm của các lực lượng chức năng đối với vấn đề nói trên Ông David Shear

khẳng định:“Việt Nam muốn cất cánh, thì cần phải tuyên chiến với nạn vi phạm

quyền sở hữu trí tuệ” [93]

- Bài viết “Một số vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay”

của TS Hoàng Văn Hoàn, đăng trên trang thông tin điện tử của Tạp chí Thương mại (http://www.tapchithuongmai.vn)

Tác giả đã khái lược về một số khái niệm cơ bản liên quan đến SHTT, như: tài sản trí tuệ, chủ sở hữu trí tuệ, quyền SHTT… Ngoài ra, tác giả còn nêu các hình thức phổ biến của quyền SHTT bao gồm: bản quyền, thương hiệu, bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, bí mật thương mại…được pháp luật công nhận, theo đó những chủ sở hữu quyền SHTT được độc quyền khai thác và sử dụng những tài sản nói trên Tác giả cho rằng, quyền SHTT mang tính lịch sử và một tất yếu khách quan đã được thừa nhận Cũng như các quyền cơ bản khác về sở hữu nói chung, các chủ sở hữu quyền SHTT được độc quyền đối với các tài sản trí tuệ đã được công nhận trong một khoảng thời gian nhất định Bên cạnh đó, tác giả cũng

Trang 25

nêu lên thực trạng của pháp luật Việt Nam về bảo vệ và thực thi quyền SHTT, đánh giá những tồn tại hạn chế của hệ thống pháp luật về bảo vệ và thực thi quyền SHTT

và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ và thực thi quyền SHTT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Tóm lại, tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài Luận án cho

thấy các công trình, tác phẩm nói trên có chứa đựng những nội dung lý luận về quyền SHTT, như điều kiện thừa nhận của pháp luật để bảo hộ quyền SHTT; các biện pháp thực thi quyền SHTT; các quy định của Việt Nam và thế giới về quyền SHTT; những khía cạnh pháp lý và thực tiễn của vấn đề phòng, chống vi phạm quyền SHTT Một số công trình, tác phẩm của các tác giả nghiên cứu vấn đề thực thi quyền SHTT và trách nhiệm của lực lượng CAND, nhưng chỉ dừng lại ở một góc độ chung nhất, hoặc ở một vài khía cạnh cụ thể Chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND với tư cách là một cơ quan quản lý nhà nước về ANQG và TTATXH, đồng thời cũng là cơ quan có chức năng điều tra, xử lý tội phạm theo trình tự tố tụng hình sự Vì vậy, tác giả nhận thấy cần thiết phải tiếp tục việc nghiên cứu ở phương diện đầy đủ, toàn diện hơn gắn với chức năng, nhiệm vụ của lực lượng CAND, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1.3 Vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu đối với đề tài Luận án

Từ việc nghiên cứu về những công trình, tác phẩm khoa học đã được công bố

ở trong và ngoài nước nói trên, có thể rút ra một số giá trị mà Luận án cần tham khảo như sau:

- Thứ nhất, những công trình khoa học này đã phản ánh chân thực giá trị to

lớn của tài sản trí tuệ, khẳng định xu hướng phát triển tất yếu của loài người dựa trên nền tảng trí thức, từ đây góp phần định hướng cho mỗi quốc gia (trong đó có Việt Nam) trong hoạch định chính sách và chiến lược phát triển về SHTT cho phù hợp với xu hướng chung của thời đại

Cả thế giới đang bước vào thế kỷ thứ XXI Chưa bao giờ vấn đề khan hiếm tài nguyên thiên nhiên và thảm họa môi trường lại được đặt ra cấp bách như hiện

Trang 26

nay đối với mọi quốc gia Khi con người phải đối mặt với những khó khăn nêu trên, thì chỉ có trí tuệ loài người mới có thể đáp ứng được chúng Lịch sử cho thấy, nhiều quốc gia như Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc… đã vươn lên trở thành những cường quốc, đều nhờ có chính sách, chiến lược đúng đắn về SHTT

Việt Nam là một nước đang phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Để đạt được những mục tiêu về xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH theo các nghị quyết của của Đảng đã đề ra thì dứt khoát Nhà nước ta phải phát huy tối đa những tiềm năng, lợi thế của “yếu tố con người”, coi đây là đột phá quan trọng nhất để có chiến lược đầu tư thỏa đáng cho những hoạt động sáng tạo, bảo hộ và thực thi quyền SHTT, tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra trong giai đoạn hiện nay

- Thứ hai, những công trình khoa học cũng phản ánh hai luồng tư tưởng ở

các nước trên thế giới về thực thi quyền SHTT và khẳng định: chỉ có bảo hộ, thực thi nghiêm chỉnh quyền SHTT thì mới mang lại những lợi ích thiết thực cho mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Thực tiễn đã chứng minh rằng, quốc gia nào có sự đầu tư thỏa đáng cho các lĩnh vực SHTT thì họ sẽ nhận được thành quả to lớn về khoa học, công nghệ để phát triển đất nước Bởi vậy, các nước sẽ bằng mọi cách bảo vệ sản phẩm trí tuệ của tổ chức, cá nhân nước mình và trừng trị nghiêm khắc đối với mọi hành vi xâm hại tới chúng, kể cả sự vi phạm từ bên ngoài Các nước công nghiệp phát triển coi tài sản trí tuệ và quyền SHTT là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là cội nguồn phát triển sáng tạo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… của đất nước Do vậy, phải có các giải pháp bảo vệ rất cao, pháp luật về thực thi quyền SHTT phải rất nghiêm khắc Cũng chính vì vậy mà các nước này thậm chí còn tạo sức ép về đối ngoại, buộc quốc gia khác thực hiện cam kết về bảo hộ và thực thi quyền SHTT theo các chuẩn mực khắt khe, coi đây là điều kiện bắt buộc để thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác về kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng…

Ngược lại, các nước đang phát triển và chậm phát triển thì lại coi pháp luật về SHTT và các biện pháp thực thi quyền SHTT mà các nước công nghiệp phát triển kêu gọi chẳng qua chỉ là “trò chơi”, vì vậy cần phải lợi dụng để phát triển tri thức, khoa học, công nghệ, kinh tế nước mình; do đó pháp luật về thực thi quyền SHTT

Trang 27

phải “mềm dẻo”, “nêu cao, đánh khẽ”, thậm chí lờ đi việc thực thi quyền SHTT của

tổ chức và cá nhân nước ngoài, coi đây là cơ hội để “tranh thủ” những sản phẩm trí tuệ tiên tiến của loài người

Tuy nhiên, thực tiễn cũng đã cho thấy, nếu một “nước nhỏ” muốn phát triển thành một “nước lớn” thì không thể “tham bát, bỏ mâm” Điều này cũng giống ở Việt Nam trước đây Khi bước vào thời kỳ đổi mới, nước ta cơ bản lạc hậu về công nghệ, để tháo gỡ vướng mắc này, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII

đã đề ra phương châm: “Tranh thủ tối đa công nghệ tiên tiến, tận dụng lợi thế của

nước đi sau…”, nhằm khai thác sản phẩm trí tuệ của các nước khác, trong điều kiện

bị cấm vận của Hoa Kỳ và một số đồng minh Hệ quả cho thấy, vô hình chung chính chúng ta đã tạo thêm hố sâu ngăn cách về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phương Tây Tuy nhiên, sau khi quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ được bình thường hóa, cùng với Hiệp định về bảo vệ quyền tác giả được ký kết năm 1997 (cũng là hiệp định song phương đầu tiên của Việt Nam với nước ngoài về bản quyền), Hoa Kỳ đã ký Hiệp định Thương mại với Việt Nam năm 2000, đồng thời ủng hộ nước ta gia nhập WTO Bài học này giúp nước ta có thêm kinh nghiệm trong thiết lập, củng cố quan hệ với các quốc gia và

tổ chức quốc tế về bảo hộ và thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Thứ ba, những công trình nghiên cứu trên đây đã mang đến những kiến

thức lý luận cơ bản về quyền SHTT và thực thi quyền SHTT, giúp tác giả vận dụng vào quá trình nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung của Luận án

Nghiên cứu về những công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước nước cho thấy, có một số vấn đề cần được lưu ý như: sự khác nhau giữa tài sản trí tuệ với tài sản hữu hình, giữa quyền SHTT với quyền sở hữu tài sản là động sản và bất động sản; những điều kiện để một đối tượng của quyền SHTT được công nhận và bảo hộ; nội dung của quyền SHTT và sự hạn chế quyền SHTT; các biện pháp thực thi quyền SHTT và ưu điểm, nhược điểm của từng biện pháp đó; quy định của WTO và WIPO về quyền SHTT; những khía cạnh thương mại liên quan đến quyền SHTT; những cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền SHTT ở các nước chậm phát triển ảnh đến cộng đồng quốc tế; mối liên hệ giữa thực thi pháp luật về quyền SHTT với thực thi pháp luật ở các lĩnh vực khác nhau… Thêm vào

Trang 28

đó, các nhà khoa học cũng đưa ra những luận giải xác đáng để bảo vệ lập trường nghiên cứu trong lĩnh vực SHTT Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng quyền SHTT đơn thuần chỉ là một loại quyền dân sự, do vậy nếu có tranh chấp xảy ra thì hãy để cho các bên đương sự tự tìm cách giải quyết với nhau, nhà nước đơn thuần chỉ là

“trọng tài” trong các vụ tranh chấp đó; quan điểm khác lại cho rằng, thực thi quyền SHTT trước hết phải thuộc về cơ quan công quyền thì mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Cũng có quan điểm cho rằng, ngoài hoạt động của lực lượng CAND trong thực thi quyền SHTT, thì hoạt động của các cơ quan khác chỉ mang tính hình thức và thụ động…

- Thứ tư, những công trình nghiên cứu trên đây đã phản ánh kinh nghiệm

thực tiễn quý báu của các nước, giúp Việt Nam nghiên cứu, vận dụng vào thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Từ rất lâu các nước tiên tiến trên thế giới đã có hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh về SHTT, đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo thực thi quyền SHTT một cách hiệu quả Bên cạnh đó, để “vận hành” hệ thống pháp luật của mình, các nước cũng đã xây dựng được những cơ chế thực thi quyền SHTT một cách linh hoạt, đồng bộ, như: thành lập các cơ quan chuyên trách về thực thi quyền SHTT, đặc biệt là hệ thống Tòa án SHTT (như ở Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc…), đây

là một mô hình hoạt động cần được nghiên cứu xây dựng ở Việt Nam để đáp ứng yêu cầu giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT đang ngày một gia tăng

Ngoài ra, vấn đề thực thi quyền SHTT ở nhiều nước cũng được biết đến với vai trò của lực lượng Công an Để phát huy vai trò của lực lượng này, các nước đã tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa Công an với các lực lượng khác, đồng thời có cơ chế linh hoạt trong xử lý vi phạm quyền SHTT (như thiết lập hệ thống cảnh báo sớm, xã hội hóa công tác thực thi pháp luật, thành lập bộ phận chống hàng giả, hàng nhái và vi phạm bản quyền ở ngay trong các doanh nghiệp…)

Một vấn đề liên quan đến hiệu quả thực thi quyền SHTT mà các công trình cũng đề cập, đó là cần thiết phải nâng cao chất lượng dân trí của cộng đồng xã hội

Ở nhiều nước, mặc dù thu nhập quốc dân trên đầu người chưa cao, nhưng tình trạng

vi phạm pháp luật về quyền SHTT cũng chưa đến mức nghiêm trọng, do nhà nước

có chính sách bảo hộ đối với hàng hóa sản xuất trong nước hay do ý thức chấp hành pháp luật của người dân được chú trọng… Ngược lại, ở nhiều nước, tình trạng vi

Trang 29

phạm pháp luật về SHTT có yếu tố nước ngoài ở “trên mức báo động”, một phần

do trình độ dân trí thấp, phần khác do sự “lơi lỏng” của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thực thi quyền SHTT của các tổ chức, cá nhân

- Thứ năm, những công trình nghiên cứu trên đây đã đưa ra các phân tích

sâu sắc về mối liên hệ giữa thực thi quyền SHTT với bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH và giá trị truyền thống của dân tộc, đánh giá vai trò của lực lượng CAND trong hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

Trong thực thi quyền SHTT, các nước đặc biệt chú trọng bảo vệ ANQG, TTATXH, thuần phong, mỹ tục và môi trường sống Xét cho cùng, những sản phẩm trí tuệ con người được tạo ra, trước hết phải mang lại những giá trị cho chính con người và cho đất nước Thực tiễn cho thấy, trên con đường hội nhập và cạnh tranh quốc tế, thành công của nước này đôi khi lại là lực cản phát triển của nước kia Vì vậy, nhiều tổ chức, cá nhân đã không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào nhằm chiếm đoạt thành quả sáng tạo của quốc gia khác, đặc biệt là những sản phẩm trí tuệ chứa đựng những yếu tố bí mật về khoa học, công nghệ liên quan đến an ninh, quốc phòng… Từ đó cho thấy, thực thi quyền SHTT cũng có nghĩa là phải biết bảo vệ những thành quả của lao động sáng tạo trí tuệ, khai thác, vận dụng những sản phẩm trí tuệ của con người vào sự nghiệp bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH và những lợi ích thiết thực của dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, ngoài việc kế thừa những giá trị của các công trình trong và ngoài nước, Luận án cần phải tiếp tục khai thác những vấn đề lý luận và thực tiễn trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong lực lượng CAND Cụ thể như sau:

- Một là, khái quát những vấn đề chung về quyền SHTT và thực thi quyền

SHTT, như: khái niệm, đặc điểm, nội dung của quyền SHTT, vi phạm pháp luật về quyền SHTT; khái niệm, các biện pháp, ý nghĩa của thực thi quyền SHTT ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tiếp tục đi sâu nghiên cứu để đưa ra khái niệm, đặc điểm của quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và khái niệm, đặc điểm của thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam làm nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu các nội dung tiếp theo của Luận án;

- Hai là, làm rõ cơ sở pháp lý quy định về chức năng, nhiệm vụ của lực

lượng CAND trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; nhấn

Trang 30

mạnh vai trò nòng cốt của CAND thông qua phân tích mối quan hệ phối hợp giữa CAND với cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam;

- Ba là, khảo sát thực trạng pháp luật và vi phạm pháp luật về quyền SHTT

có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, chỉ rõ nguyên nhân, điều kiện dẫn đến thực trạng nói trên để làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, kế hoạch thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực CAND;

- Bốn là, khảo sát, đánh giá thực trạng các mặt hoạt động của lực lượng

CAND trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; nhìn nhận ưu điểm, tồn tại của các mặt công tác nói trên để có cơ sở kiến nghị việc kiện toàn tổ chức và xây dựng lực lượng CAND cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra trong điều kiện, tình hình mới;

- Năm là, dự báo mang tính chiến lược về tình hình thế giới và trong nước có

liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND; từ đó đưa ra các giải pháp mang tính tổng thể, khoa học và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND trong những năm tiếp theo

Trang 31

Kết luận Chương 1

Chương 1 của Luận án đã khái quát nội dung các công trình nghiên cứu ở các nước trên thế giới và Việt Nam có liên quan đến đề tài Luận án, giúp cho tác giả khai thác những giá trị của chúng để bổ sung vào nội dung nghiên cứu

Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều nhận định rằng, trong xu hướng phát triển của nền kinh tế trí thức hiện nay, quyền SHTT ngày càng khẳng định được vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân; là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế các nước trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế

Về vai trò của thực thi quyền SHTT, các tác giả cũng đều đánh giá cao về tầm quan trọng đối với các hoạt động của các cơ quan chức năng ở các nước trong phòng, chống vi phạm pháp luật về quyền SHTT, hướng đến bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội và chủ thể quyền SHTT, đồng thời tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh để phát huy vai trò tích cực của các hoạt động sáng tạo của con người

Chương 1 của Luận án cũng nêu một số vướng mắc về mặt lý luận, những đòi hỏi về mặt thực tiễn cần phải tiếp tục đặt ra nghiên cứu để bổ sung Những định hướng nghiên cứu này là cơ sở để thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ của Luận án và tạo tiền đề nghiên cứu những nội dung tiếp theo

Trang 32

Chương 2 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN

Theo trường phái pháp luật tự nhiên (the natural law thesis), chủ thể sáng

tạo đương nhiên có các quyền đối với tài sản trí tuệ do họ sáng tạo ra, xã hội phải chấp nhận và bảo vệ những quyền này của họ Cách tiếp cận này được thể hiện trong Hiến chương của Liên hợp quốc năm 1948 về quyền con người (Điều 27) và Công ước của Liên hợp quốc năm 1966 về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 15) [63, tr.7]

Theo trường phái lập luận bù đắp cho chi phí sáng tạo (the reward thesis),

chủ thể sáng tạo đã đóng góp cho xã hội bằng việc tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và đối tượng sở hữu công nghiệp Xã hội phải bù đắp cho họ những chi phí, nỗ lực sáng tạo của họ và cách thích hợp nhất là trao cho chủ thể sáng tạo một số độc quyền trong hạn định nhất định [63, tr.8]

Theo trường phái lập luận khuyến khích sáng tạo (the incentive thesis), chủ

thể sáng tạo phải đầu tư công sức, tài chính để tạo ra đối tượng sở hữu trí tuệ, cho nên cần phải tạo cho họ một số quyền nhất định nhằm khuyến khích sáng tạo Tuy nhiên, vấn đề cơ bản là tạo cho chủ thể những độc quyền như sự bù đắp những chi phí và những nỗ lực mà chủ thể đó bỏ ra [63, tr.8]

Trang 33

Theo trường phái lập luận mở thông tin sáng tạo (disclosure thesis), khi chủ

thể sáng tạo chấp nhận mở những thông tin về tài sản trí tuệ, xã hội được hưởng lợi

từ việc sử dụng những đối tượng sở hữu trí tuệ, do đó xã hội phải thừa nhận và bảo

vệ quyền cho chủ thể sáng tạo, điều này được coi như sự trao đổi lẫn nhau [63, tr.8]

Tại Chương 1 của tác phẩm “Cẩm nang sở hữu trí tuệ”, dịch từ cuốn sách

“WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use” của WIPO, SHTT

được nhắc đến như sau:

Theo nghĩa rộng, sở hữu trí tuệ là các quyền hợp pháp xuất phát từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật… Sở hữu trí tuệ theo truyền thống được phân chia thành hai nhánh,

“Sở hữu công nghiệp” và “bản quyền tác giả” [37, tr.3]

Bên cạnh đó, tại Điều 2 (viii) Công ước thành lập WIPO, ký tại Stockholm (Thuỵ Điển) ngày 14/12/1967 cũng quy định:

Sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền đối với: tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế trong các lĩnh vực hoạt động của con người; các phát minh khoa học; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, chỉ dẫn thương mại và tên thương mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh [37, tr.3]

Theo nội dung Hiệp định TRIPS, đối tượng của SHTT bao gồm: quyền tác

giả và quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế,

thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và thông tin bí mật [46]

Trong BLDS năm 1995 của Việt Nam, mặc dù không định nghĩa về quyền SHTT, nhưng căn cứ vào cấu trúc và nội dung phần thứ VI, có thể dẫn tới kết luận

về quyền SHTT bao gồm QTG và QSHCN Bên cạnh đó, xuất phát từ quan điểm coi quyền SHTT và chuyển giao công nghệ là những quyền cơ bản của chủ thể trong quan hệ dân sự nhưng là những nội dung có tính đặc thù, nên BLDS năm

2005 cũng không định nghĩa về quyền SHTT mà chỉ có những quy định mang tính nguyên tắc về QTG, QLQ, QSHCN, QĐVGCT, quyền chuyển giao công nghệ, hợp đồng chuyển giao quyền tài sản thuộc QTG, QLQ, hợp đồng chuyển giao công nghệ…[42]

Trang 34

Với mục đích hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, đồng thời xuất phát từ vai trò quan trọng của quyền SHTT, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật SHTT năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006); tiếp sau đó là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT năm 2009 (có hiệu lực

từ ngày 01/01/2010) Tại Điều 4, Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), quyền SHTT được định nghĩa như sau:

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng

Như vậy, trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm lý luận khoa học pháp lý về quyền SHTT từ trước đến nay, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế,

xã hội ở nước ta, định nghĩa về quyền SHTT trong pháp luật Việt Nam hiện hành

đã đánh dấu bước phát triển đáng ghi nhớ trong kỹ thuật lập pháp Việt Nam; đồng thời, cũng tương đồng cả về mặt hình thức lẫn nội dung với cách quan niệm về quyền SHTT của WIPO và WTO Định nghĩa cũng thể hiện sự đa dạng về chủ thể của quyền SHTT, bao gồm cá nhân và tổ chức; trong đó “cá nhân” có thể là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài (gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch); “tổ chức” có thể được thành lập ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài, có hay không có tư cách pháp nhân, kể cả tổ chức quốc tế liên chính phủ hoặc phi chính phủ Bên cạnh đó, định nghĩa cũng cho thấy đối tượng của quyền SHTT là “tài sản trí tuệ” Đây là những sản phẩm của lao động sáng tạo của

bộ óc con người, được bộc lộ ra bên ngoài bằng một hình thức vật chất nhất định, như: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, giống cây trồng

Tóm lại, từ việc nghiên cứu, phân tích các nội dung trên đây cho thấy, quyền

SHTT là quyền của cá nhân, tổ chức đối với các tài sản trí tuệ - sản phẩm của lao động trí tuệ - do cá nhân, tổ chức sáng tạo ra hoặc sở hữu Quyền SHTT bao gồm QTG và QLQ, QSHCN, QĐVGCT Trong mỗi lĩnh vực này, quyền SHTT được pháp luật quy định về bảo hộ theo các điều kiện khác nhau, trên cơ sở tôn trọng lợi ích của tổ chức, cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng, phù hợp với thực tiễn pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế

Trang 35

Để có sự nhìn nhận đầy đủ về quyền SHTT, cần chú ý nghiên cứu quyền đó dưới các phương diện sau đây:

- Một là, quyền SHTT trong quan hệ “de facto”, tức là nghiên cứu quyền

SHTT trong mối quan hệ phức tạp phát sinh giữa các quy định của pháp luật về quyền SHTT (de jure) và việc thực thi quyền đó trong thực tế cuộc sống thường ngày của cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư được các quy phạm pháp luật về SHTT hướng tới điều chỉnh Những quan hệ pháp luật SHTT diễn ra phổ biến trong đời sống xã hội, như: quan hệ giữa chủ sở hữu quyền SHTT và các chủ thể khác trong việc sáng tạo, công bố, phổ biến đối tượng quyền SHTT; quan hệ về bảo hộ, thực thi QTG, QLQ, QSHCN, QĐVGCT… và thái độ, cách ứng xử của các cơ quan nhà nước cụ thể trong thực thi quyền SHTT tại nước ta Trong nghiên cứu dưới góc độ này, cần lưu ý đến dòng tư tưởng của các nước đang phát triển và chậm phát triển (trong đó có Việt Nam) đối với pháp luật về SHTT và thực thi quyền SHTT như đã trình bày ở Chương 1 của Luận án

- Hai là, quyền SHTT với tư cách là bộ phận của pháp luật dân sự, là tổng

hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của tổ chức, cá nhân đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và giống cây trồng Trong nghiên cứu dưới góc độ này, quyền SHTT được nói tới với tư cách là

bộ phận của pháp luật thương mại, là tổng hợp các quyền nhân thân (quyền tinh thần) và quyền tài sản (quyền kinh tế) của tổ chức, cá nhân đối với các tài sản trí tuệ Đây là điều mà giới chức lý luận và hoạt động thực tiễn pháp luật của Việt Nam cần phải chú ý để thực thi tốt hơn các cam kết quốc tế về quyền SHTT theo các quy định của WTO

- Ba là, quyền SHTT với tư cách là một chế định pháp luật thống nhất trong

hệ thống pháp luật quốc gia trong điều kiện hội nhập quốc tế Để nghiên cứu quyền SHTT dưới góc độ này, cần chú ý đến tính hài hòa trong các ngành luật khác nhau của một nước, đặc biệt là pháp luật về dân sự, pháp luật về hình sự, pháp luật về hành chính, các quy định pháp luật về tố tụng tư pháp… Ngoài ra, các yếu tố quốc

tế (về chủ thể, khách thể, sự kiện pháp lý có yếu tố nước ngoài) có thể tác động rất

Trang 36

lớn đến quyền SHTT Hàng loạt vấn đề phức tạp trong áp dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ SHTT có yếu tố nước ngoài có thể phát sinh và cần phải có giải pháp thỏa đáng để giải quyết đối với chúng

2.1.1.2 Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ

Nghiên cứu quyền SHTT cho thấy loại quyền này có một số đặc điểm cơ bản như sau, liên quan trực tiếp đến đề tài Luận án:

- Thứ nhất, đối tượng của quyền SHTT là tài sản trí tuệ, là loại tài sản mang

tính chất phi vật thể (vô hình) nên rất dễ bị xâm phạm và được lợi dụng để tạo ra các tài sản phái sinh dưới một hình thức vật thể nào đó

Đối với tài sản hữu hình, trừ những tài sản thuộc sở hữu nhà nước và những tài sản mà pháp luật cấm hoặc hạn chế sở hữu, thì chủ sở hữu dễ dàng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt thông qua nhiều hình thức và thực hiện được việc kiểm soát, vì chúng tồn tại trong không gian dưới một hình thức nhất định, con người hoàn toàn có thể nhận biết bằng cách tri giác trực tiếp

Đối với tài sản trí tuệ thì không như vậy, vì loại tài sản này mang tính vô hình, chủ sở hữu quyền SHTT rất khó thực hiện quyền kiểm soát sau khi chúng phổ biến ra bên ngoài xã hội Trên thực tế, chủ sở hữu quyền SHTT hầu như không thể thực hiện được quyền chiếm hữu tài sản trí tuệ, khó quản lý được nội dung sáng tạo trong tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hay đối tượng QSHCN, giống cây trồng của mình sau khi công bố, phổ biến Khả năng người khác lợi dụng quyền SHTT để làm các tài sản phái sinh bất hợp pháp, làm hàng nhái… là rất lớn Do đó điều quan trọng nhất trong báo hộ quyền SHTT và thực thi quyền SHTT là phải ngăn chặn cho được hành vi xâm phạm đối tượng của quyền SHTT khi tác giả, chủ

sở hữu quyền SHTT đó chưa cho phép

- Thứ hai, trong bảo hộ và thực thi quyền SHTT, pháp luật các nước luôn

tôn trọng và đề cao tính lãnh thổ của quyền SHTT Thông thường, quyền SHTT được xác lập theo quy định của pháp luật nước nào thì được bảo hộ trong phạm

vi lãnh thổ nước đó

Khác với quyền sở hữu tài sản hữu hình, nếu một tổ chức hay cá nhân được công nhận là chủ sở hữu tài sản trong phạm vi lãnh thổ nước họ, khi họ di chuyển tài sản đó ra nước ngoài thì thông thường nước ngoài vẫn có thể công nhận quyền

Trang 37

sở hữu của tổ chức, cá nhân đó (nếu tài sản không thuộc đối tượng cấm sở hữu theo pháp luật của nước nơi tài sản được chuyển đến), cho dù mức độ phạm vi nội dung quyền sở hữu có thể khác nhau

Quyền SHTT không như vậy Nếu quyền SHTT của tổ chức, cá nhân được xác lập theo pháp luật Việt Nam thì quyền đó chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ nước ta, trừ trường hợp ĐƯQT có liên quan mà Việt Nam là thành viên có quy định khác Còn ở nước ngoài, nếu không có ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên công nhận, hoặc nếu không tuân theo nguyên tắc “có đi, có lại” giữa các bên, thì quyền SHTT có thể sẽ không được bảo hộ Do vậy, đối tượng của QTG, QLQ, QSHCN, QĐVGCT có thể bị đem ra sử dụng ở nước ngoài mà không cần có sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền SHTT hay người đại diện hợp pháp Nguyên tắc lãnh thổ cho phép quyền SHTT được bảo đảm thực thi theo đúng nội dung của

nó trong phạm vi nước được bảo hộ về điều kiện được bảo hộ, thời hạn bảo hộ, cách thức thực thi…

Tính chất lãnh thổ trong bảo hộ và thực thi quyền SHTT xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, theo đó mỗi quốc gia khi đã là chủ thể độc lập trong quan

hệ quốc tế thì hoàn toàn có quyền quyết định đối với việc xây dựng và thực thi pháp luật của nước mình; hơn nữa do một số tài sản trí tuệ có liên quan mật thiết với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, truyền thống lịch sử… của mỗi quốc gia, nên không dễ gì bất kỳ quyền SHTT nào của tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng

được bảo hộ và thực thi trên lãnh thổ nước khác

- Thứ ba, việc bảo hộ quyền SHTT thường bị giới hạn bởi nhiều yếu tố khác

nhau mà tiêu biểu nhất là giới hạn về thời gian

Đối với tài sản hữu hình, quyền của chủ sở hữu được pháp luật bảo hộ không giới hạn thời gian (trừ trường hợp tài sản bị trưng mua, tịch thu theo quy định của pháp luật) Trong suốt quá trình sở hữu, chủ sở hữu có thể trực tiếp chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản, hoặc những người thừa kế tiếp theo sẽ thực hiện quyền sở hữu theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật Thực tiễn cho thấy, có những tài sản trở thành “đồ gia bảo” của một gia đình hay một dòng họ, có niên đại lên tới hàng trăm năm qua các triều đại, chính thể khác nhau nhưng nhà nước đương thời vẫn công nhận quyền sở hữu của chủ thể nói trên đối với tài ản ấy

Trang 38

Còn đối với quyền SHTT, về cơ bản các đối tượng của nó được nhà nước bảo hộ trong một khoảng thời hạn nhất định dựa trên nguyên tắc vừa đảm bảo lợi ích của chủ sở hữu quyền SHTT, vừa đảm bảo lợi ích của cộng đồng trong việc khai thác, sử dụng tài sản trí tuệ Chẳng hạn, theo quy định của Luật SHTT năm

2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả, cộng thêm 50 năm kể từ khi tác giả qua đời; nếu tác phẩm có đồng tác giả, thời hạn này được tính theo thời điểm tác giả sau cùng chết Cách xác định thời điểm phát sinh QTG được tính từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo ra, cho dù tác phẩm đó đã được công bố, phổ biến hay chưa công bố Khi hết thời hạn bảo hộ tác phẩm thuộc về cộng đồng xã hội; hay văn bằng bảo hộ độc quyền sáng chế có hiệu lực là 20 năm kể từ ngày nộp đơn; bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết 10 năm kể

từ ngày nộp đơn…

Trong thời hạn có hiệu lực của quyền SHTT, nếu tổ chức hay cá nhân nào có hành vi sử dụng, khai thác các đối tượng của quyền SHTT mà không được sự cho phép chủ sở hữu quyền SHTT (trừ những trường hợp pháp luật quy định về giới hạn quyền SHTT) thì bị coi là vi phạm quyền SHTT Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người có hành vi xâm phạm quyền SHTT có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng với mức độ, hậu quả của sự vi phạm mà họ gây ra

- Thứ tư, quyền SHTT bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật khi việc

khai thác, sử dụng đối tượng của nó có liên quan đến lợi ích chung của cộng đồng

Quyền SHTT không phải là quyền tuyệt đối, có nghĩa là chủ sở hữu quyền SHTT không thể hoàn toàn tự do thực hiện việc khai thác lợi ích của mình đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, giống cây trồng… sau khi được nhà nước công nhận, bảo hộ Mặc dù tác giả hay chủ sở hữu quyền SHTT có thể được pháp luật trao cho một số độc quyền (như quyền đặt tên cho tác phẩm), nhưng những độc quyền này cũng bị giới hạn nhằm sử dụng hiệu quả các tài sản trí tuệ, trên cơ sở kết hợp lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền SHTT với lợi ích của cộng đồng Theo quy định của Điều 31 Hiệp định TRIPS và Điều 145 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì trong trường hợp khẩn cấp có liên quan đến ANQG, TTATXH hoặc trong các trường hợp sử dụng vào mục đích công cộng, phi thương mại… thì quyền sử dụng

Trang 39

sáng chế được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng theo quyết định của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không cần sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế Tương tự, Điều 9, 10 Công ước Berne năm 1886 và Điều

25, 26 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả nhuận bút hoặc trả thù lao

2.1.1.3 Nội dung của quyền sở hữu trí tuệ

Từ khái niệm về quyền SHTT, cho thấy đối với mỗi lĩnh vực của quyền SHTT, pháp luật có những quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của từng loại chủ thể tương ứng khi tham gia quan hệ SHTT Việc nghiên cứu về nội dung của quyền SHTT giúp ta xác định được khả năng của mỗi chủ thể trong việc khai thác giá trị vật chất và tinh thần từ đối tượng quyền SHTT Mặt khác, nắm rõ nội dung quyền SHTT cũng giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định được đâu là việc khai thác, sử dụng đối tượng quyền SHTT một cách hợp pháp, đâu hành vi vi phạm pháp luật về quyền SHTT, để từ đó áp dụng biện pháp thực thi pháp luật một cách chính xác và hiệu quả, bảo vệ được lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, quyền

và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền SHTT

Theo quy định của Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và các văn bản pháp luật có liên quan, chủ thể quyền SHTT có các quyền sau đây:

- Quyền nhân thân (hay còn gọi là quyền tinh thần) là những quyền gắn với

cá nhân, tổ chức trong quá trình sáng tạo, công bố, phổ biến các đối tượng của quyền SHTT và thường mang những dấu ấn riêng của chủ thể quyền SHTT Với quan điểm tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của con người, trong đó có quyền tự

do sáng tác, pháp luật mỗi quốc gia đã có những quy định về công nhận và bảo hộ các quyền nhân thân của cá nhân và tổ chức gắn với sản phẩm sáng tạo trí tuệ do họ sáng tạo ra Tùy thuộc vào mục đích khai thác, sử dụng của từng chủ thể đối với đối tượng của quyền SHTT mà quyền nhân thân được phân thành hai loại: quyền nhân thân không áp dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh, không khai thác về mặt thương mại (hay còn gọi là quyền nhân thân phi tài sản) và quyền nhân thân được áp dụng vào sản xuất, kinh doanh, được khai thác về mặt thương mại (hay còn gọi là quyền nhân thân có liên quan đến tài sản)

Trang 40

Đối với loại thứ nhất, quyền nhân thân của chủ thể quyền SHTT được xác lập vào thời điểm sáng tạo nên sản phẩm trí tuệ mà không nhất thiết cần phải công

bố sản phẩm đó Về nguyên tắc, những quyền nhân thân này luôn gắn liền với chủ thể sáng tạo (như tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu tác phẩm) mà không thể được chuyển giao cho người khác Chẳng hạn, tác giả có quyền đứng tên thật hoặc tên bút danh trong tác phẩm và không ai có quyền ngăn cản việc đứng tên này; bất kỳ người nào cũng không được phép mạo danh của tác giả trong việc công bố, sử dụng tác phẩm Trong một số quan hệ SHTT cụ thể, quyền nhân thân được pháp luật bảo

hộ vô thời hạn, như quyền đứng tên tác giả, quyền được bảo vệ sự toàn vẹn đối với nội dung tác phẩm…

Đối với loại thứ hai, các tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết

kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng có quyền nhân thân đối với sản phẩm trí tuệ của mình, như quyền sử dụng tên tên thương mại, uy tín của nhãn hiệu trong quá trình sản xuất, kinh doanh Về mặt nguyên tắc, những quyền này cũng gắn với chủ sở hữu quyền SHTT, không được tự động chuyển giao từ người này sang người khác, trừ trường hợp cho phép công bố QTG theo quy định pháp luật

Tìm hiểu về pháp luật Việt Nam cho thấy, quyền nhân thân của tác giả bao gồm các quyền, như: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc tên bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc tên bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm Đối với người biểu diễn, quyền nhân thân được biểu hiện ở việc được nêu tên khi biểu diễn hoặc khi phát hành các bản ghi âm, ghi hình cuộc biểu diễn và được bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn Quyền nhân thân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế

bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng thuộc về người đã trực tiếp tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng bằng lao động sáng tạo của mình, bao gồm quyền được đứng tên tác giả trong văn bằng bảo hộ do Nhà nước cấp, trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng…(Điều 19, 29, 122, 185 Luật SHTT năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2009)

- Quyền tài sản (hay còn gọi là quyền kinh tế) của chủ thể quyền SHTT, là

quyền được hưởng những lợi ích về mặt vật chất từ sản phẩm trí tuệ của mình được

Ngày đăng: 11/03/2017, 20:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Quế Anh (2003), “Bí mật kinh doanh và các tiêu chí bảo hộ”, Tạp chí Thương mại, (22), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bí mật kinh doanh và các tiêu chí bảo hộ”, Tạp chí Thương mại
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Anh
Năm: 2003
2. Nguyễn Bá Bình (2005), “Sự giao thoa giữa các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (10), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự giao thoa giữa các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Nguyễn Bá Bình
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Năm: 2005
3. Trần Thanh Bình (2005), “Quyền tác giả đối với tác phẩm viết trong pháp luật dân sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tác giả đối với tác phẩm viết trong pháp luật dân sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Thanh Bình
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2005
9. Bộ Công an (2004), Kỷ yếu Hội thảo khoa học khoa học thực tiễn an ninh, trật tự trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học khoa học thực tiễn an ninh, trật tự trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2004
10. Ban chỉ đạo 127/TW (2010), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện chỉ thị 31/1999/CT-TTg và 02 năm thực hiện Chỉ thị 28/2008/CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh sản xuất và buôn bán hàng giả, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện chỉ thị 31/1999/CT-TTg và 02 năm thực hiện Chỉ thị 28/2008/CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh sản xuất và buôn bán hàng giả
Tác giả: Ban chỉ đạo 127/TW
Năm: 2010
11. Bộ Khoa học và Công nghệ (2012), Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình hành động về hợp tác phòng và chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ giai đoạn 2006 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình hành động về hợp tác phòng và chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ giai đoạn 2006 - 2010
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
12. Bộ Công an (2013), Kỷ yếu Hội thảo khoa học bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới - Quan điểm, nhận diện và khuyến nghị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới - Quan điểm, nhận diện và khuyến nghị
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2013
13. Bộ Công an (2008), Kỷ yếu hội thảo khoa học công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đầu tư, tài chính trên mạng Internet, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đầu tư, tài chính trên mạng Internet
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2008
17. Cục Cảnh sát điều tra về tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (2012), Báo cáo tổng kết 10 năm về công tác phòng, chống hàng giả và vi phạm sở hữu trí tuệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 10 năm về công tác phòng, chống hàng giả và vi phạm sở hữu trí tuệ
Tác giả: Cục Cảnh sát điều tra về tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
18. Cục Cảnh sát điều tra về tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (2012), Công văn số 1647/C46 (P8) ngày 27/12/2012 về việc cung cấp thông tin tội phạm và vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 1647/C46 (P8) ngày 27/12/2012 về việc cung cấp thông tin tội phạm và vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài
Tác giả: Cục Cảnh sát điều tra về tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
19. Công an Hà Nội (2005), Báo cáo kết quả khám phá chuyên án 205 - C, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả khám phá chuyên án 205 - C
Tác giả: Công an Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
20. Công an Hà Nội (2008), Báo cáo kết quả khám phá vụ án sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh xảy ra tại Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả khám phá vụ án sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh xảy ra tại Hà Nội
Tác giả: Công an Hà Nội
Năm: 2008
21. Công an Hà Nội, Báo cáo kết quả và kế hoạch triển khai công tác về đấu tranh chống hàng giả và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong các năm từ 2003 đến năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả và kế hoạch triển khai công tác về đấu tranh chống hàng giả và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong các năm từ 2003 đến năm 2013
22. Công an TP Hồ Chí Minh (2013), Công văn số 06/CV-PV11 (Đ4) ngày 03/01/2013 về việc cung cấp thông tin, số liệu, đánh giá công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 06/CV-PV11 (Đ4) ngày 03/01/2013 về việc cung cấp thông tin, số liệu, đánh giá công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài
Tác giả: Công an TP Hồ Chí Minh
Nhà XB: TP Hồ Chí Minh
Năm: 2013
23. Công an tỉnh Quảng Ninh (2012), Công văn số 76/CAT- PC46 ngày 26/12/2012 về việc trao đổi thông tin trong công tác phòng, chống tội phạm về sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 76/CAT- PC46 ngày 26/12/2012 về việc trao đổi thông tin trong công tác phòng, chống tội phạm về sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài
Tác giả: Công an tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Quảng Ninh
Năm: 2012
25. Công an tỉnh Hòa Bình (2011), Báo cáo tình hình hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại năm 2011, Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại năm 2011
Tác giả: Công an tỉnh Hòa Bình
Năm: 2011
26. Công an tỉnh Điện Biên (2012), Báo cáo kết quả chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2012, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2012
Tác giả: Công an tỉnh Điện Biên
Năm: 2012
27. Công an tỉnh Lào Cai (2012), Báo cáo tổng kết tình hình, kết quả công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2012, Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình, kết quả công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2012
Tác giả: Công an tỉnh Lào Cai
Nhà XB: Lào Cai
Năm: 2012
28. Công an tỉnh Đăklăc (2013), Báo cáo tình hình công tác 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm, Đắklăc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình công tác 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm
Tác giả: Công an tỉnh Đăklăc
Nhà XB: Đắklăc
Năm: 2013
29. Công an tỉnh Lạng Sơn (2012), Báo cáo tổng kết tình hình, kết quả công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2012, Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình, kết quả công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2012
Tác giả: Công an tỉnh Lạng Sơn
Nhà XB: Lạng Sơn
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w