Cụ thể: quan hệ sở hữu ảnh hưởng gì tới đói nghèo và hoạt động giảm nghèo; quan hệ về tổ chức quản lý tác động gì tới đói nghèo và việc tổ chức thực hiện hoạt động giảm nghèo; quan hệ ph
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ KIM THU
VẤN ĐỀ GIẢM NGHÈO CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG QUÁ TRÌNHPHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 62.31.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS, TS Trần Hữu Quang
2 PGS, TS Lê Cao Đoàn
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Võ Thị Kim Thu
Trang 3MỤC LỤC
Trang
1.1 Tình hình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 8 1.2 Tình hình nghiên cứu của các tác giả trong nước 11
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIẢM NGHÈO VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 22
2.4 Một số kinh nghiệm và mô hình giảm nghèo 47
Chương 3: THỰC TRẠNG NGHÈO VÀ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO GẮN
VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
56
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Đồng bằng sông Cửu
Long có ảnh hưởng đến vấn đề giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer
56
3.2 Tình hình nghèo và hoạt động giảm nghèo gắn với phát triển
bền vững của đồng bào dân tộc Khmer ở ĐBSCL 68 3.3 Những vấn đề đặt ra trong quá trình giảm nghèo gắn với phát
triển bền vững vùng đồng bào dân tộc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long
103
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN GIẢM NGHÈO
VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
109
4.1 Phương hướng giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc Khmer ở
4.2 Giải pháp cơ bản giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc Khmer ở
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
12 TNBQĐN Thu nhập bình quân đầu người
13 TLSX Tư liệu sản xuất
14 TTKT Tăng trưởng kinh tế
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG PHỤ LỤC
(Phụ lục)
Bảng 3.1 Tỷ lệ hộ nghèo phân theo thành thị, nông thôn và
Bảng 3.2 Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng phân theo
Bảng 3.3 Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao
động trong độ tuổi năm 2013 phân theo vùng 8 Bảng 3.4 Dân số chung và dân số dân tộc Khmer
ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm 2012 9 Bảng 3.5 Tỷ lệ hộ nghèo chung và tỷ lệ hộ nghèo dân tộc
Bảng 3.6 Bảng tổng hợp về Chùa và Phật tử ở 9 tỉnh, thành
Bảng 3.7 Số xã đặc biệt khó khăn ở 9 tỉnh vùng Đồng bằng
Bảng 3.8 Tỷ lệ hộ nghèo một số tỉnh có đông đồng bào dân tộc
Bảng 3.9 Tỷ lệ hộ nghèo huyện Trà Cú năm 3013 12 Bảng 3.10 Cơ cấu nhân khẩu dân tộc Khmer phân theo độ tuổi 14 Bảng 3.11 Trình độ học vấn dân tộc Khmer phân theo độ tuổi và
Bảng 3.12 Trình độ học vấn, chuyên môn của chủ hộ sản xuất là
người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long 16 Bảng 3.13 Nghề nghiệp (việc làm chính) của các hộ nghèo dân
Bảng 3.14 Thu nhập theo ngành nghề của các hộ nghèo dân tộc
Bảng 3.15 Cơ sở vật chất của các hộ nghèo dân tộc Khmer 19 Bảng 3.16 Thu nhập bình quân đầu người phân theo nhóm của
Bảng 3.17 Tự đánh giá về sự thay đổi mức sống của các hộ
Bảng 3.18 Nguyên nhân nghèo của ĐBDT Khmer ở ĐBSCL 21
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, so với người Kinh, mức độ nghèo của các DTTS trầm trọng và sâu sắc hơn Theo số liệu thống kê, đồng bào các DTTS chỉ chiếm 15% dân số nhưng lại chiếm tới 47% số người nghèo của cả nước và chiếm 68% số nghèo cùng cực Đặc biệt, mật độ DTTS trong nhóm hộ nghèo có xu hướng tăng: nếu như năm 1993, nghèo có tính rộng khắp và hộ nghèo DTTS chỉ chiếm 20% tổng
số hộ nghèo thì năm 2010 hộ nghèo DTTS chiếm khoảng 47% tổng số hộ nghèo [151, tr.ii, 23] Do đó, giảm nghèo đối với DTTS là mục tiêu hàng đầu trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
ĐBSCL là vùng đất rộng lớn ở miền Tây Nam bộ gồm 13 tỉnh, thành phố là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ Đây là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế,
an ninh, quốc phòng, đối ngoại; là vùng có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế Thế nhưng, một nghịch lý là: đây lại là vùng có tỷ lệ nghèo cao
nhất cả nước Trong đó, tập trung chủ yếu ở ĐBDT Khmer [1]
ĐBSCL cũng là nơi sinh sống của nhiều dân tộc anh em như: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, Tày, Nùng, Ngái, Mnông, Stiêng, Chơro, Châu mạ… nhưng DTTS đông nhất là người Khmer sống ở 9 tỉnh với 1.198.499 người, chiếm 10,64% dân số toàn vùng, trong đó tập trung chủ yếu ở 2 tỉnh Trà Vinh
và Sóc Trăng với trên 30% dân số toàn tỉnh [3] Đây cũng là dân tộc có tỷ lệ
hộ nghèo cao nhất ĐBDT Khmer chỉ chiếm hơn 10% dân số toàn vùng nhưng trong tổng số hộ nghèo toàn vùng thì có đến hơn một nửa là ĐBDT Khmer [3] Mặc dù qua nhiều năm đổi mới đã có rất nhiều chính sách, chương trình cụ thể giúp đồng bào thoát nghèo; bản thân ĐBDT Khmer sống hiền lành chất phác, cần cù, chịu khó làm ăn, thế nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao, khoảng cách giàu nghèo vẫn tăng, và đặc biệt, tỷ lệ tái nghèo ở ĐBDT Khmer rất cao
Trang 7Vấn đề đặt ra là: tại sao ĐBDT Khmer lại nghèo hơn các dân tộc khác? Nghèo hơn người Kinh? Và tình trạng nghèo của ĐBDT Khmer kéo dài có ảnh hưởng gì tới mục tiêu PTBV, nhất là đối với sự ổn định chính trị, xã hội ở ĐBSCL ? Việc phân tích nguyên nhân, đặc biệt là những đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội…, dẫn tới sự yếu kém trong năng lực sản xuất, năng lực tiếp cận thị trường… khiến cho ĐBDT Khmer ở đây khó khăn trong phát triển kinh
tế nói chung, giảm nghèo nói riêng, từ đó đề xuất các phương hướng và tìm kiếm các giải pháp thiết thực, hiệu quả cho việc giảm nghèo, nhất là đưa ĐBDT Khmer hội nhập vào sự phát triển chung của cả vùng là cần thiết Đây không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị, xã hội trong chính sách dân tộc
của Đảng Chính điều này làm cho “Vấn đề giảm nghèo của đồng bào dân tộc Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình phát triển bền vững” trở
nên cấp thiết và được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra nguyên nhân nghèo của ĐBDT Khmer ở ĐBSCL để đề xuất giải pháp giảm nghèo cho đồng bào, hướng tới PTBV ở vùng này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giảm nghèo trong quá trình phát triển; làm rõ mối quan hệ giữa giảm nghèo và PTBV
+ Phân tích thực trạng và nguyên nhân của tình trạng nghèo trong ĐBDT Khmer ở ĐBSCL
+ Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để thực hiện giảm nghèo cho ĐBDT Khmer, hướng tới PTBV và đảm bảo sự ổn định chính trị ở khu vực Tây Nam bộ
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu giảm nghèo đối với ĐBDT Khmer ở ĐBSCL trong quá trình phát triển bền vững
Trang 83.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu ở 9 tỉnh vùng ĐBSCL có ĐBDT Khmer sinh sống và tập trung chủ yếu ở 2 tỉnh đông nhất là Sóc Trăng và Trà Vinh vì đây cũng là nơi
có số người Khmer nghèo nhiều nhất
- Thời gian khảo sát từ năm 2006 đến 2014 và đề xuất định hướng giải pháp đến năm 2020
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý thuyết
Trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án sử dụng một số lý thuyết sau:
- Lý thuyết về PTBV Năm 1987, Ủy ban quốc tế về môi trường và
phát triển công bố báo cáo “Tương lai của chúng ta” trong đó chính thức sử
dụng thuật ngữ “PTBV” với nội dung gồm 3 trụ cột chính: TTKT; Giải quyết
các vấn đề xã hội nâng cao đời sống; và cải thiện môi trường sinh thái
- Lý thuyết của Deumnger và Squire (1988) cho rằng tăng trưởng không làm tăng bất bình đẳng mà ngược lại, khi tăng trưởng đạt đến trình độ nhất định sẽ là điều kiện để thực hiện CBXH vì tăng trưởng làm tăng của cải cho nên sẽ mở rộng phạm vi lựa chọn của con người
- Lý thuyết về phân phối thu nhập Bình đẳng trong phân phối thu nhập sẽ tạo động lực cho phát triển kinh tế và sẽ giúp giảm nghèo bền vững
- Lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng nền KTTT có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng ta đề xướng và thực hiện đã mang lại những khởi sắc cho nền kinh tế Việt Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu 4.2.1 Hướng tiếp cận
+ Kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu trước có liên quan đến
đề tài Đặc biệt, về cơ sở lý luận và những định hướng, những giải pháp đã được thực hiện có thể mang lại hiệu quả, cũng có thể hiệu quả chưa cao Phân tích, đánh giá tìm ra nguyên nhân, từ đó chọn lọc để có thể vận dụng cho đề tài
Trang 9+ Đề tài được tiếp cận ở góc độ kinh tế chính trị: xem đói nghèo là 1 hiện tượng xã hội và phân tích nguyên nhân ở góc độ quan hệ sản xuất Cụ thể: quan hệ sở hữu ảnh hưởng gì tới đói nghèo và hoạt động giảm nghèo; quan hệ về tổ chức quản lý tác động gì tới đói nghèo và việc tổ chức thực hiện hoạt động giảm nghèo; quan hệ phân phối tác động trực tiếp hay gián tiếp đến phân hóa giàu nghèo cũng như việc thực hiện giảm nghèo…
+ Nghiên cứu các chính sách đối với ĐBDT nói chung và chính sách giảm nghèo đối với ĐBDT Khmer nói riêng Trong đó bao gồm cả chính sách của Trung ương, chính sách của địa phương và việc thực hiện các chính sách giảm nghèo đối với ĐBDT Khmer cụ thể ở từng địa phương có những thuận lợi, khó khăn gì; chính sách nào phù hợp đã phát huy tác dụng, chính sách nào còn hạn chế
+ Tiếp cận trực tiếp với ĐBDT Khmer, tìm hiểu các hoạt động kinh tế, đời sống, những sinh hoạt cộng đồng, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng… Toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần, thế giới quan, nhận thức của ĐBDT Khmer để tìm ra nguyên nhân tại sao ĐBDT Khmer nghèo hơn các dân tộc khác trong vùng, từ đó đề xuất cách khắc phục
4.2.2 Các phương pháp cơ bản đã sử dụng trong luận án
- Phương pháp quan sát tham dự kết hợp với phỏng vấn sâu: giúp hiểu rõ
hơn tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của bà con Khmer nghèo Qua sinh hoạt và cuộc sống hàng ngày của bà con, biết được quan niệm của họ về hạnh phúc, niềm vui trong cuộc sống; những hoạt động Tôn giáo, tín ngưỡng, những phong tục tập quán, văn hóa sinh hoạt cộng đồng… mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho bà con Từ đó có cách tiếp cận, đánh giá thực trạng làm cơ sở đề xuất giải pháp
- Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng: Theo cách tiếp cận trên,
Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, bổ sung cho nhau nhưng cơ bản nhất là phương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu kết hợp với điều tra và tổng hợp số liệu để phân tích trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài… Đây là vấn đề tổng hợp mang tính liên ngành nên cách tiếp cận liên ngành được đặc biệt chú ý
- Chọn mẫu: chọn ngẫu nhiên thuận tiện trên gần hết các địa phương có
Trang 10ĐBDT Khmer sinh sống (6/9 tỉnh) trong đó có tỉnh tỷ lệ dân tộc Khmer cao như Trà Vinh (31,58%), Sóc Trăng (30,39%); có tỉnh tỷ lệ thấp như An Giang (4,23%), Vĩnh Long (2,34%) với mong muốn nghiên cứu tình hình nghèo đói của ĐBDT Khmer ở những địa phương khác nhau để làm rõ thực tế: dù ở đâu thì
tỷ lệ nghèo của ĐBDT Khmer vẫn luôn cao hơn dân tộc Kinh Trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng và nguyên nhân nghèo của đồng bào, rà soát các chính sách giảm nghèo đã và đang thực hiện để đề xuất thêm những giải pháp giảm nghèo cho ĐBDT Khmer ở ĐBSCL phù hợp thực tế hơn, nhằm đạt hiệu quả cao hơn
- Phương pháp điều tra theo bảng hỏi:
Nhằm làm rõ thực trạng nghèo của đồng bào dân tộc Khmer ở ĐBSCL, luận án đã sử dụng phương pháp lập phiếu điều tra, bảng hỏi đối với các hộ Khmer nghèo ở ĐBSCL, các cán bộ làm công tác giảm nghèo, kết hợp với phỏng vấn sâu chuyên gia
4.2.3 Thông tin/dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu:
Đối với dữ liệu thứ cấp:
Luận án tham khảo số liệu từ các nguồn: Các báo cáo về thực trạng nghèo của Ủy ban nhân dân các tỉnh, các huyện qua các năm; số liệu thống kê của Ban dân tộc các tỉnh; số liệu và báo cáo về công tác giảm nghèo của Vụ địa phương III, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ qua các năm; số liệu thống kê của Tổng cục thống kê đã ban hành
Đối với dữ liệu sơ cấp:
Để đánh giá thực trạng và tìm ra nguyên nhân nghèo cùng việc thực hiện các chính sách giảm nghèo đối với ĐBDT Khmer ở ĐBSCL, đề tài tiến hành điều tra theo bảng hỏi đối với 1200 hộ gia đình thuộc 12 xã ở những địa phương
có đồng bào Khmer sinh sống là Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Vĩnh Long 50 câu hỏi chính với nhiều câu hỏi thành phần được thiết
kế để tìm thông tin về các nội dung: đời sống, kinh tế, việc làm, thu nhập, học vấn, nguyên nhân nghèo, mong muốn… của ĐBDT Khmer
- Điều tra được thực hiện hai lần, cụ thể như sau:
Trang 11+ Lần thứ nhất (Thời gian khảo sát: 12/2012), với định hướng xem xét nghèo theo hướng nghèo đa chiều nên tiến hành khảo sát không chỉ thu nhập, mức sống mà còn khảo sát một số yếu tố như: điều kiện sống, điều kiện làm việc, cơ hội việc làm, cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục…
Chọn địa bàn khảo sát: ba địa phương thuộc hai tỉnh có đông ĐBDT Khmer trong đó 2 địa phương có tỷ lệ dân tộc Khmer cao nhất tỉnh và một địa phương có tỷ lệ dân tộc Khmer trung bình Cụ thể: huyện Trà Cú và huyện Cầu
Kè của tỉnh Trà Vinh; Thị xã Vĩnh Châu của tỉnh Sóc Trăng, mỗi huyện chọn hai xã gồm: Hàm Giang và Kim Sơn của Huyện Trà Cú; Phong Phú và Châu Điền của Huyện Cầu Kè; Lai Hòa và Lạc Hòa của Thị xã Vĩnh Châu
+ Lần thứ hai (Thời gian khảo sát: 10/2014), khảo sát về nguyên nhân nghèo của ĐBDT Khmer Địa bàn khảo sát là 6 xã khác với những xã ở lần khảo sát trước, gồm: Nhị Trường (Huyện Cầu Ngang-Trà Vinh), Liêu Tú (Huyện Trần Đề-Sóc Trăng), Ô Lâm (Huyện Tri Tôn-An Giang), Thủy Liễu (Huyện Gò Quao-Kiên Giang), Hưng Hội (Huyện Vĩnh Lợi-Bạc Liêu và Loan
Mỹ (Huyện Tam Bình-Vĩnh Long) Mỗi địa phương chọn một xã có đông dân tộc Khmer với mục đích kết hợp với lần khảo sát thứ nhất để có cái nhìn rộng hơn, bao quát hơn Từ đó, rút ra những nguyên nhân nghèo chung nhất
Trong tổng số 1200 phiếu phát ra, đã thu được kết quả trả lời bình quân cho mỗi câu hỏi đạt trên 80%
4.2.4 Phương pháp phân tích thông tin/dữ liệu đã thu thập được
+ Phân tích số liệu, bảng biểu dựa trên phương pháp phân tích: Thống kê
mô tả, So sánh tỷ lệ, nhằm đánh giá sự thay đổi của các số liệu trong quá khứ,
Trang 12Việc phát hiện và phân tích những mâu thuẫn này là cơ sở để có giải pháp phát triển toàn diện vùng ĐBDT Khmer, góp phần đảm bảo PTBV vùng ĐBSCL
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án đã xây dựng khung lý thuyết về giảm nghèo trong mối quan
hệ với phát triển bền vững cho trường hợp đặc thù của ĐBDT Khmer ở ĐBSCL Đồng thời khái quát những mâu thuẫn chủ yếu trong quá trình thực hiện giảm nghèo đối với ĐBDT Khmer ở ĐBSCL
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án góp phần làm rõ luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách của các cấp ủy và chính quyền địa phương các tỉnh ở ĐBSCL về giảm nghèo trong quá trình phát triển bền vững ở vùng này
7 Kết cấu của Luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các
tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án gồm 4 chương, 12 tiết
Trang 13CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
- David S Landes (2001), 2 tập “Sự giàu và nghèo của các dân tộc -
Vì sao một số giàu đến thế mà một số lại nghèo đến thế” Đây là bộ sách có
tính lịch sử về các vấn đề liên quan đến nghèo Những sử liệu và sự việc phong phú được chọn lọc cẩn thận, bao quát không gian toàn cầu và trong thời gian dài, cụ thể đến từng nước, từng thành phố, từng ngành kinh tế, từng loại doanh nghiệp, từng thời kỳ lịch sử ngắn, sự trình bày sử liệu đan xen với
sự phân tích của tác giả Điểm đặc biệt của cuốn sách là cách nhìn của tác giả
về lịch sử kinh tế không chỉ đơn thuần kinh tế mà đặt trong tổng thể KT - XH, làm nổi bật những mối tương tác giữa kinh tế với các lĩnh vực khác, nhất là văn hóa Về mỗi thời kỳ lịch sử, về mỗi quốc gia, dân tộc, cuốn sách đều nêu lên được những kinh nghiệm bổ ích, những điều đáng suy ngẫm, trong đó có những điều có ý nghĩa thiết thực đối với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta hiện nay Tuy nhiên, với phương pháp phân tích như tự sự của người dẫn truyện kể về những trải nghiệm của chính tác giả về những vùng đất mà tác giả đã từng đặt chân đến, từng có những công trình nghiên cứu thì góc nhìn và đánh giá của tác giả là rất rộng và trải đều đối với tất cả các dân tộc nên khía cạnh riêng, sâu sắc của từng dân tộc phần nào còn hạn chế
- Nhóm tác giả ở NHTG gồm Richarh M.Bird, Jennie I.Livack và
M.Govinda Rao đã khảo sát đói nghèo trong “Quan hệ tài chính nhà nước các cấp và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam” Với phương pháp khảo sát và
phân tích định lượng đã chỉ ra rất rõ ràng, cụ thể mối quan hệ phân cấp tài chính giữa chính quyền Trung ương với chính quyền địa phương trong công tác xóa đói, giảm nghèo qua hệ thống phân phối ngân sách Tuy nhiên, đây là một nghiên cứu chủ yếu dựa vào các chương trình phân tích số liệu cho nên các yếu tố khác ảnh hưởng nghèo và vấn đề giảm nghèo như yếu tố văn hóa,
xã hội, phong tục tập quán không được đề cập
Trang 14- Philip Taylor “Những vấn đề của phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay: các cách tiếp cận” (Đặng Thế Truyền dịch), Tạp chí Xưa và Nay từ
số 408 (7/2012) đến 413 (10/2012) Ở loạt bài này, tác giả phân tích những vấn
đề đặt ra trong quá trình phát triển nông thôn vùng ĐBSCL qua nghiên cứu về đời sống, phong tục tập quán, tôn giáo, tâm lý dân tộc, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng… trong toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội và ảnh hưởng của KTTT cùng những chính sách của Chính phủ Trong đó, đề cập đến những định kiến về nguyên nhân nghèo đói nơi người Khmer ở Nam bộ dưới góc nhìn của một nhà xã hội học người nước ngoài
Loạt bài viết này là tài liệu rất tốt cho nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, đây chỉ là những bài viết mang tính thực tiễn, không đề cập đến khung
lý thuyết trong nghiên cứu Và do nhìn vấn đề xã hội của Việt nam trong lăng kính của một người nước ngoài nên không tránh khỏi có những nhận xét, đánh giá mang tính chủ quan không phải trên quan điểm dân tộc của Đảng
- Litchfeld, J và Justino, P “Giảm đói nghèo ở Việt Nam: những con
số nói lên điều gì?”, tài liệu nghiên cứu số 8, Đại học Sussex, Brighton
(2002) Tài liệu tập hợp toàn bộ những số liệu điều tra, thống kê về tình trạng đói nghèo và công tác xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian từ năm
1992 đến 2002 Qua đó, chỉ ra những thành tích đã đạt được và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết để công tác xóa đói, giảm nghèo bền vững hơn
Đây là một nghiên cứu khoa học được điều tra trên phạm vi cả nước với nhiều số liệu cụ thể của một giai đoạn lịch sử cho nên không đề cập đến những vấn đề riêng, đặc thù của ĐBDT, nhưng sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích
để có cái nhìn toàn diện về vấn đề giảm nghèo chung của cả nước Trên cơ sở
đó, nghiên cứu vấn đề giảm nghèo riêng ở ĐBSCL
- Ngân hàng thế giới (4/2001) “Toàn cầu hóa và tình trạng đói nghèo
ở Việt Nam” Tài liệu phân tích và chứng minh những tác động của toàn cầu
hóa đến tình trạng đói nghèo và phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam Qua đó đề cập đến một số cách tiếp cận để có thể giảm thiểu bộ phận dân cư dễ bị tổn
Trang 15thương trong quá trình toàn cầu hóa Tuy nhiên, do nghiên cứu ở tầm vĩ mô cho nên không đề cập đến một bộ phận dân cư hay một DTTS cụ thể nào Đây
là một nghiên cứu khoa học có cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng, do đó sẽ là tài liệu tham khảo rất tốt để cung cấp về phương pháp luận cho nghiên cứu vấn đề giảm nghèo mang tính đặc thù của đề tài là ĐBDT Khmer – bộ phận dân cư cũng rất dễ bị tổn thương
- Ngân hàng thế giới, “Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012 Khởi
đầu tốt nhƣng chƣa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tƣợng của Việt
Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới” Với phương pháp
nghiên cứu hiện đại đáng tin cậy kết hợp cả định lượng và định tính, số liệu khảo sát chi tiết kết hợp khảo sát của Tổng cục Thống kê trong thời gian dài
từ 2004, 2006, 2008 đến 2010 để đánh giá về thành tựu giảm nghèo của Việt Nam và chỉ ra những thách thức mới đó là: Khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng, đặc biệt là khoảng cách giữa dân tộc Kinh với các DTTS; bộ phận nghèo còn lại tập trung nhiều ở vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS và ngày càng khó tiếp cận hơn Báo cáo cũng phân tích và chứng minh những nhân tố đặc trưng của người nghèo ở thập kỷ 90 vẫn tiếp tục đặc trưng cho người nghèo trong giai đoạn hiện nay, đó là: học vấn, kỹ năng làm việc, sản xuất còn nhiều yếu tố tự cung tự cấp, cô lập về địa lý, xã hội, chịu nhiều rủi ro thiên tai… Nghĩa là để có giải pháp đột phá cho những đối tượng nghèo còn lại là không
hề dễ dàng, và đó cũng chính là thách thức lớn đối với cuộc chiến chống đói nghèo những năm tiếp theo Đây là tài liệu thật sự bổ ích cho nghiên cứu của
đề tài, giúp có cái nhìn toàn diện về công cuộc giảm nghèo và bộ phận nghèo dai dẳng mà chủ yếu là đồng bào DTTS, để từ đó có những gợi ý cho việc nghiên cứu đề xuất giải pháp mang tính đột phá cho ĐBDT Khmer
- Dự án “Phân tích hiện trạng nghèo, đói ở ĐBSCL” (MDPA) do tổ
chức Tầm nhìn thế giới kết hợp với công ty Adam Ford thực hiện Các hoạt động nghiên cứu được các chuyên gia thuộc Viện Khoa học xã hội và trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh tiến hành năm 2004 Trong báo cáo
Trang 16tổng hợp của dự án, các tác giả đã chỉ ra đặc điểm của người nghèo vùng
ĐBSCL Đặc biệt, trong chuyên đề 3: “Người Khmer vùng ĐBSCL” của dự
án, các tác giả đã làm rõ các nguyên nhân của hiện tượng đói nghèo ở cộng đồng người Khmer, xác định những cơ hội cũng như rào cản đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của ĐBDT Khmer
Tài liệu này rất gần với nghiên cứu của đề tài, giúp có cái nhìn xuyên suốt, đánh giá được vấn đề giảm nghèo đối với ĐBDT Khmer trong liên tục
về mặt thời gian, để từ đó tiếp tục nghiên cứu vấn đề này trong giai đoạn mới với những điều kiện mới Tuy nhiên, khi đánh giá các nguyên nhân nghèo hơi thiên về nguyên nhân kinh tế mà chưa phân tích những ảnh hưởng tác động khác như văn hóa, tín ngưỡng, phong tục tập quán…
Ngoài ra, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, tác giả đã tiếp cận với
một số tài liệu như: Bản tổng kết 10 tài liệu về “Chương trình nghiên cứu Toàn cầu hóa và tình trạng đói nghèo” của cơ quan Phát triển Quốc tế
Vương Quốc Anh (DFID), do John Thoburn và Richard Jones thực hiện;
“Báo cáo của UNDP về tốc độ xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam và các thành tựu trong mục tiêu Thiên niên kỷ” (tháng 9 năm 2003)
Tất cả những tài liệu đã tiếp cận đều giúp cho tác giả có cái nhìn tổng thể trong quá trình nghiên cứu Từ đó, là cơ sở để vận dụng vào địa bàn và lĩnh vực nghiên cứu đặc thù cụ thể của đề tài
1.2 Tình hình nghiên cứu của các tác giả trong nước
Ở trong nước, thời gian qua cũng có nhiều công trình khoa học nghiên cứu
về vấn đề giảm nghèo ở Việt Nam nói chung và các vùng, địa phương nói riêng
- Những công trình nghiên cứu tình hình nghèo đói tiếp cận ở phạm vi rộng của cả nước hoặc của các vùng trong cả nước điển hình như:
+ Nguyễn Thị Hằng (Chủ biên): “Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997
Trong cuốn sách, tác giả đã nêu lên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề đói, nghèo; kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo của các nước trong khu
Trang 17vực; thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam trong quá trình chuyển sang KTTT; phương hướng và biện pháp chủ yếu xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta Tài liệu này tiếp cận ở địa bàn rất rộng trên phạm vi cả nước và tiếp cận ở góc độ xã hội nên chủ yếu phân tích, đánh giá những ảnh hưởng xã hội của tình trạng nghèo đói ở nông thôn, chưa đề cập đến đối tượng ĐBDT
+ Nguyễn Thị Hoa (2010), Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2015, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Nghiên cứu này
tiến hành đánh giá tác động của một số chính sách đến công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay Trong đó tập trung vào 4 chính sách chủ yếu: Chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo; Chính sách đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng xã nghèo; Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo; Và chính sách
hỗ trợ y tế cho người nghèo Ngoài việc phân tích, đánh giá và phản ánh thực trạng thực hiện các chính sách, tác giả còn đưa ra những phương hướng nhằm hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm
2015 Tuy nhiên, công trình tiếp cận ở góc độ đánh giá chính sách cho người nghèo nói chung, chưa đi vào đánh giá đối tượng người nghèo là đồng bào DTTS người Khmer
+ Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2011), “Giảm nghèo ở Việt Nam: thành tựu và thách thức”, Hà Nội Công trình đã đánh giá những thành tựu
trong công cuộc giảm nghèo của Việt Nam trong hai thập kỷ qua (cụ thể là từ năm 1993 đến nay); phân tích công tác giảm nghèo đặt trong bối cảnh sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong đó đặc biệt chú ý đến cách ứng phó với các rủi ro mang tính hệ thống ở cấp độ nền kinh
tế, cũng như với các rủi ro ở cấp độ hộ gia đình hoặc cấp cá nhân và cách tạo
ra nhiều cơ hội hơn cho người nghèo và người thu nhập thấp trong bối cảnh kinh tế mới Cụ thể các vấn đề liên quan đến duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tăng cường hệ thống an sinh xã hội, mở rộng cơ hội và nâng cao năng lực cho người nghèo và người thu nhập thấp; và nhận định những thách thức ở phía trước Công trình này mặc dù có phân tích tình trạng nghèo của đồng bào
Trang 18DTTS, tuy nhiên chỉ là tiếp cận có tính khái quát theo hướng so sánh chênh lệch về khoảng cách nghèo, chi tiêu bình quân đầu người theo nhóm các dân tộc và vùng mà chưa phân tích cụ thể đối với trường hợp của ĐBDT Khmer
+ Luận án Tiến sỹ “Vấn đề giảm nghèo trong nền KTTT ở nước ta hiện nay” của Trần Thị Hằng phân tích về sự tác động của KTTT đến phân
hóa giàu nghèo ở nước ta và những giải pháp để giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách khi KTTT ngày càng tác động sâu rộng đến toàn bộ đời sống xã hội Tuy nhiên, Luận án nghiên cứu vấn đề giảm nghèo nói chung nên không đề cập đến bộ phận dân cư yếu thế là đồng bào DTTS, đặc biệt trong điều kiện KTTT với những quy luật tất yếu và những thay đổi về thực tiễn diễn ra liên tục và nhanh chóng thì đồng bào DTTS nói chung và ĐBDT Khmer nói riêng
+ Nguyễn Văn Hồi: “Tiếp tục thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo và an sinh xã hội vùng đặc biệt khó khăn”, Tạp chí Cộng sản, số 61
(01/2012) Tác giả khẳng định xóa đói, giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, nhà nước và là sự nghiệp của toàn dân, phải được tiếp tục thực hiện đồng thời cùng với quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Ở nghiên cứu này tác giả phân tích những điều kiện ảnh hưởng tác động đến đói nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn trong đó có ảnh hưởng tới đồng bào
Trang 19DTTS Tuy nhiên, đây chỉ là những nhận định dưới góc độ một bài viết cho nên chưa thể hiện được tính toàn diện và cũng chưa đề cập tới một đối tượng
+ Tiến sỹ Bùi Văn Trịnh: “Người DTTS vùng ĐBSCL”, đề tài nghiên
cứu khoa học cấp cơ sở của khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Cần Thơ, năm 2007 Trong đề tài tác giả đã khái quát những đặc điểm của các DTTS vùng ĐBSCL; thực trạng về đời sống và đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các DTTS vùng ĐBSCL Tuy nhiên, do tiếp cận ở góc độ Dân tộc học nên việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp chủ yếu liên quan đến chính sách Dân tộc của Đảng
- Những nghiên cứu tập trung vào vấn đề nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo của ĐBDT Khmer ở ĐBSCL
+ Ngô Văn Lệ và Nguyễn Văn Tiệp (đồng chủ biên): “Thực trạng kinh
tế-xã hội và những giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở người Khmer tỉnh Sóc Trăng”,
Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2003 Cuốn sách đã khái quát một bức tranh chung về thực trạng kinh tế - xã hội của ĐBDT Khmer ở tỉnh Sóc Trăng; chỉ ra nguyên nhân của nghèo đói Trên cơ sở đó, đề ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao đời sống của ĐBDT Khmer tỉnh Sóc Trăng
Trang 20Đây là tài liệu tham khảo tốt cho nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ riêng địa bàn tỉnh Sóc Trăng nên sẽ là cơ sở để đề tài tiếp tục nghiên cứu rộng hơn cho cả vùng ĐBSCL
+ Nguyễn Thị Ánh: “Thực trạng, giải pháp xóa đói, giảm nghèo đối với ĐBDT Khmer, Chăm ở khu vực Tây Nam bộ” Đề tài trọng điểm năm
2012, Học viện Chính trị khu vực IV Đề tài nghiên cứu khảo sát khá toàn diện về cuộc sống của ĐBDT Khmer và dân tộc Chăm ở ĐBSCL, từ đó làm
cơ sở để đề xuất những giải pháp xóa đói giảm nghèo cho đồng bào hai dân tộc ở vùng này Tuy nhiên, tài liệu này nghiên cứu chung cho cả hai dân tộc nên chưa có sự đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện nguyên nhân nghèo của riêng ĐBDT Khmer Do đó những giải pháp mà đề tài đưa ra cũng là những giải pháp được thực hiện chung cho cả hai dân tộc
Luận án có thể kế thừa những kết quả khảo sát và nghiên cứu của đề tài về riêng ĐBDT Khmer đồng thời mở rộng phạm vi nghiên cứu trên toàn vùng ĐBSCL
+ Huy Vũ: “Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần vùng ĐBDT Khmer”, Tạp chí Cộng sản, số 61 (01/2012) Tác giả đánh giá một cách khái
quát kết quả thực hiện các chương trình, dự án xóa đói, giảm nghèo đối với ĐBDT Khmer vùng Tây Nam bộ trong thời gian qua Ở bài viết này phân tích
cụ thể điểm riêng biệt, đặc thù của ĐBDT Khmer Tuy nhiên cũng chỉ dưới góc độ một bài viết nên chưa thể đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc
+ Nguyễn Quốc Nghi: “Thực trạng và giải pháp định hướng sinh kế cho các DTTS vùng ĐBSCL: trường hợp người Chăm ở An Giang và người Khmer ở Trà Vinh”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học
Cần Thơ, năm 2010 Trong đề tài, tác giả đã phân tích thực trạng sinh kế và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của ĐBDT Khmer và Chăm, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao thu nhập dựa trên các nguồn lực sẵn có của người dân tộc ở ĐBSCL Đây là đề tài có cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khoa học dựa trên những số liệu điều tra rất chi tiết bao gồm cả định tính và
Trang 21định lượng, chỉ ra hàng loạt các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và mức sống của đồng bào DTTS ở ĐBSCL như: dân số, điều kiện sống, điều kiện canh tác, ảnh hưởng tác động của thị trường, chính sách của nhà nước, phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của cả hai dân tộc… Tuy nhiên, đây là những nghiên cứu được tiếp cận ở góc độ xã hội nên những đề xuất giải pháp chủ yếu
về chính sách xã hội, chưa lấy kinh tế làm nền tảng động lực chính Mặt khác, cũng là những chính sách chung cho cả hai dân tộc Khmer và Chăm
+ TS Mai Chiếm Hiếu (2014), “Nghèo và phân hoá giàu nghèo tại khu vực đồng bào khmer tập trung sinh sống ở ĐBSCL”, Luận án tiến sĩ
kinh tế, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt nam Luận án đã làm rõ thực trạng nghèo, thực trạng phân hóa giàu nghèo tại khu vực đồng bào Khmer tập
trung sinh sống ở ĐBSCL Xác định và lượng hóa các nhân tố tác động đến
tình trạng nghèo đói tại khu vực đồng bào Khmer với bảy nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng nghèo đói của hộ gia đình Khmer tại khu vực nghiên cứu, bao gồm: (i) nghề nghiệp-việc làm, (ii) khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất, (iii) trình độ học vấn, (iv) đặc điểm nhân khẩu học, (v) sự tách biệt xã hội, (vi) các rủi ro của hộ, (vii) yếu tố tâm lý-dân tộc (Ở yếu tố thứ bảy này, luận án đã định lượng được sự ảnh hưởng của yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến nghèo đói để gợi mở một cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu định lượng về nghèo mang tính toàn diện hơn) Ngoài ra, luận án cũng đã tìm thấy những bằng chứng về sự bất cập và hạn chế trong các chính sách phân bổ nguồn lực, tạo cơ hội và giáo dục tư tưởng liên quan đến công tác XĐGN tại địa bàn nghiên cứu Qua đó đề xuất các giải pháp giảm nghèo cho khu vực đồng bào Khmer tập trung sinh sống ở ĐBSCL Luận án là kênh tham khảo quan trọng về vấn đề nghèo và phân hóa giàu nghèo của đồng bào Khmer ở ĐBSCL Tuy nhiên do quá tập trung vào vấn đề phân hóa giàu nghèo của đồng bào Khmer, trong khi sự phân hóa trong nội bộ dân tộc Khmer của vùng là không cao, mà cần có sự đối chứng với các dân tộc khác như Kinh, Hoa nhằm làm sáng tỏ thêm thực trạng và các khía cạnh liên quan đến nghèo và PHGN
Trang 22tại khu vực đồng bào Khmer tập trung sinh sống ở ĐBSCL Từ đó luận án chưa làm rõ mối quan hệ giữa nghèo đói với PTBV
+ “Đề án tổng thể về chính sách đối với Phật giáo Nam tông Khmer và đồng bào Khmer vùng Tây Nam bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh với 35 Đề án
nhánh bao quát toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, nghiêng về các chính sách
đã và đang thực hiện đối với ĐBDT Khmer ở vùng này để làm cơ sở ban hành các chính sách tiếp theo Tuy nhiên, đây là để án lớn, nghiên cứu tổng thể làm
cơ sở đề xuất những chính sách vĩ mô cho nên vấn đề nghèo của ĐBDT Khmer ở đây chỉ được đề cập đến một cách khái quát như tất cả các vấn đề khác của đời sống xã hội, không mang tính chuyên biệt
+ Nhóm nghiên cứu của Đại học Sussex và Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã tiến hành điều tra về mức sống của các nhóm đồng bào DTTS trong mối tương quan so sánh với các dân tộc khác trong cộng đồng 54 dân tộc của Việt Nam (năm 2008) Nghiên cứu tập trung cho việc lý giải tại sao nhóm đồng bào DTTS chưa tận dụng được đầy đủ những lợi ích do sự tăng trưởng cao gần đây của Việt Nam tạo ra cho dù có hàng loạt các chương trình của chính phủ được thiết kế và thực hiện để hỗ trợ đồng vào các DTTS Báo cáo của nhóm này cho thấy, dân tộc Khmer và dân tộc Chăm là nhóm có thu nhập cao thứ ba sau nhóm dân tộc Kinh và dân tộc Hoa, nhưng vẫn thấp hơn mức thu nhập trung bình của cả nước Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra một thực tế là ½ chênh lệch thu nhập là do người Khmer sử dụng nguồn lực của
họ chưa hiệu quả Những nhận định này cũng trùng khớp với nhận định của các công trình nghiên cứu khác tiếp cận từ khía cạnh văn hoá và xã hội của người Khmer Ngoài ra, các công trình nghiên cứu về phật giáo Nam tông, về một số chính sách của các tỉnh đối với ĐBDT Khmer là những cứ liệu tốt cho khảo sát đánh giá của Luận án
- Những công trình nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ giữa TTKT với thực hiện CBXH và nghèo đói, điển hình như:
Trang 23+ GS.TS Đỗ Thế Tùng: “Phân phối và tác động của phân phối đến
sự phân hóa giàu, nghèo trong nền KTTT” Tác giả phân tích một trong
những nguyên nhân của tình trạng nghèo ngày càng gia tăng trong nền KTTT
là từ chính sách phân phối Từ đó, đề xuất một số giải pháp cụ thể từ phía chính sách của nhà nước - đặc biệt là chính sách trong lĩnh vực phân phối để
Ở hai nghiên cứu này, chủ yếu phân tích về mặt lý luận và lấy số liệu thực tiễn để chứng minh làm rõ những tác động của KTTT đến phân hóa giàu nghèo Những nghiên cứu này cả về lý luận và thực tiễn đều mang tính khái quát chung mà không đề cập đến một đối tượng đặc thù riêng nào
+ Nhóm tác giả Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương với
“Ảnh hưởng của tự do hóa giá cả và cải cách thị trường đối với tình trạng đói nghèo tại nông thôn Việt Nam” Với phương pháp nghiên cứu cả định
tính và định lượng, đã phân tích cho thấy ảnh hưởng của tự do hóa giá cả - mà rộng hơn là ảnh hưởng của tự do hóa thị trường đến tình trạng đói nghèo và phân hóa giàu nghèo tại vùng nông thôn của Việt Nam trong giai đoạn từ
1990 đến 1996 Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ đề cập đến vấn đề đói nghèo chung ở nông thôn dưới góc độ giá cả và thị trường cho nên chưa đề cập đến những đối tượng yếu thế hơn hay những đối tượng có tính đặc thù mang tính vùng miền hay đặc thù dân tộc như dân tộc Khmer
Trang 24+ Nguyễn Thị Nga (2007), “Quan hệ giữa TTKT và CBXH ở Việt Nam thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp”, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà nội
Công trình làm rõ những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa TTKT với CBXH ở nước ta trong thời kỳ đổi mới; tính tất yếu, một số thành tựu và những vẫn đề đặt ra trong việc kết hợp giữa TTKT với thực hiện CBXH ở nước ta trong phát triển nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta và đề ra những giải pháp cơ bản cho
sự kết hợp hai mục tiêu này trong điều kiện phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời gian tới Đây là tài liệu tham khảo cần thiết cho vấn đề
lý luận về mối quan hệ giữa TTKT với CBXH trong đó có vấn đề giảm nghèo Tuy nhiên công trình tiếp cận ở góc độ chung, phân tích thực trạng theo dữ liệu chung về mối quan hệ này của cả nước cho tất cả các dân tộc nên chưa đi vào phân tích cụ thể
về TTKT với vấn đề nghèo đói của đồng báo dân tộc Khmer
+ Hoàng Đức Thân và Đinh Quang Ty (2010), “TTKT và tiến bộ, CBXH ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Công trình làm
rõ mối quan hệ giữa TTKT và tiến bộ, CBXH; Khái quát những thành tựu đạt được và những hạn chế, vấn đề đạt ra cho trong việc giải quyết mối quan hệ này trong thời gian tới và đề ra những giải pháp để giải quyết tốt mối quan hệ này trong thời gian tới ở Việt Nam Đây là tài liệu tham khảo cần thiết cho vấn
đề lý luận về mối quan hệ giữa TTKT với CBXH trong đó có vấn đề giảm nghèo Tuy nhiên công trình này cũng tập trung vào mối quan hệ chung chứ chưa đi sâu vào phân tích cụ thể đến vấn đề đói nghèo với TTKT
1.3 Nhận định tình hình nghiên cứu
Tất cả các công trình nghiên cứu, các đề tài, Luận án, Luận văn, các bài viết… đề cập đến đói, nghèo và xóa đói giảm nghèo ở rất nhiều góc độ khác nhau và trên nhiều địa bàn khác nhau Cụ thể:
- Nghiên cứu của nước ngoài như NHTG đề cập đến đói nghèo và XĐGN trên phạm vi cả nước và dưới góc độ kinh tế tài chính Không đề cập đến mối quan hệ trong sự PTBV
Trang 25- Rất nhiều nghiên cứu về tình trạng đói nghèo và phân hóa giàu nghèo ở nông thôn Việt Nam của các tác giả như: Nguyễn Thị Hằng, Chu Hữu Quý, Nguyễn Văn Hồi, Philip Taylo… và các giải pháp của các tác giả
đã và đang phát huy hiệu quả hoặc tiếp tục được thực hiện Tuy nhiên, do nông thôn là khu vực có rất nhiều biến động - đặc biệt về lao động và đất đai trong quá trình công nghiệp hóa cho nên những nghiên cứu từ những năm 90 đến nay cần phải được bổ sung cho phù hợp
- Những nghiên cứu về phân hóa giàu, nghèo ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào DTTS trong đó có ĐBDT Khmer được đề cập đến ở rất nhiều góc độ khác nhau và các địa bàn khác nhau Có đề tài nghiên cứu về giảm nghèo của ĐBDT Khmer nhưng chỉ ở từng địa phương riêng biệt như đề tài của Ngô Văn Lệ
và Nguyễn Văn Tiệp chỉ nghiên cứu ở riêng tỉnh Sóc Trăng Có đề tài nghiên cứu
cả vùng ĐBSCL nhưng gồm cả dân tộc Khmer và dân tộc Chăm như đề tài của Nguyễn Quốc Nghi, Nguyễn Thị Ánh Ở đề tài này, tác giả cũng chỉ nghiên cứu ở góc độ khảo sát thực trạng sinh kế và những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của ĐBDT Khmer và dân tộc Chăm ở ĐBSCL Cho nên những giải pháp mà tác giả đưa ra chỉ ở góc độ cải thiện đời sống cho ĐBDT nói chung và cụ thể là dân tộc Khmer và dân tộc Chăm ở vùng này Hơn nữa, những đề xuất giải pháp là chung cho cả hai dân tộc trong khi dân tộc Khmer, ngoài những đặc điểm chung của DTTS còn có những đặc điểm mang nét văn hóa đặc trưng riêng
Tóm lại, qua tìm hiểu tài liệu về lĩnh vực này, tác giả nhận thấy có rất nhiều tài liệu nghiên cứu, nhưng đề cập đến ở rất nhiều góc độ khác nhau và với những địa bàn nghiên cứu khác nhau Có tài liệu nghiên cứu về giảm nghèo của ĐBDT Khmer nhưng chỉ trong phạm vi từng địa phương mà không phải toàn vùng ĐBSCL Có tài liệu nghiên cứu trong toàn vùng ĐBSCL nhưng lại chưa đề cập đến mối quan hệ giữa giảm nghèo cho ĐBDT Khmer với sự PTBV của vùng này và cũng chỉ ở dạng bài tham luận Do đó, tác giả luận án muốn nghiên cứu vấn đề giảm nghèo của ĐBDT Khmer một cách có hệ thống cả về
lý luận và thực tiễn và đặt trong mối quan hệ với sự PTBV của cả vùng
Trang 26Tiểu kết chương 1
Tất cả những kết quả nghiên cứu về tình trạng đói nghèo và giảm nghèo
ở Việt Nam nói chung và nơi ĐBDT Khmer ở ĐBSCL nói riêng trong thời gian qua là hết sức phong phú và đa dạng với nhiều tổ chức, cá nhân cả trong
và ngoài nước trên rất nhiều góc nhìn khác nhau Điều đó cho thấy, đây là vấn
đề được quan tâm không chỉ của Đảng, Nhà nước mà còn của toàn xã hội Phân hóa giàu, nghèo luôn cùng đồng hành với quá trình phát triển, cho nên thực hiện giảm nghèo cũng sẽ là công việc thường xuyên, liên tục Ở mỗi giai đoạn, tùy từng điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau mà những giải pháp cũng sẽ phải điều chỉnh cho phù hợp với mục đích mang lại hiệu quả cao nhất
Toàn bộ những kết quả nghiên cứu trên đây đều là những tài liệu quan trọng, cần thiết để tác giả có thể sử dụng trong quá trình nghiên cứu của mình
Quá trình nghiên cứu sẽ tập trung vào tìm hiểu, phân tích những nguyên nhân đặc thù dẫn đến tình trạng nghèo của đồng bào dân tộc Khmer ở ĐBSCL và ảnh hưởng của nghèo đói đến quá trình PTBV ở vùng này Đây cũng là vấn đề mà các tài liệu chưa đề cập tới một cách đầy đủ và toàn diện
Có thể bó hẹp ở từng địa phương mà không chung cho cả vùng; có thể chung cho cả vùng nhưng lại chưa phân tích được nguyên nhân và những giải pháp đặc thù để mang lại hiệu quả… Đó cũng chính là mục tiêu mà tác giả muốn nghiên cứu tìm hiểu Từ mục tiêu này, luận án xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, cách tiếp cận và các phương pháp sẽ sử dụng để đạt mục tiêu đề ra
Trang 27CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIẢM NGHÈO
VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
2.1 Cơ sở lý luận của giảm nghèo
2.1.1 Quan niệm về nghèo
2.1.1.1 Quan niệm của thế giới về nghèo
Trong thời đại ngày nay, nghèo không chỉ đơn thuần là sự thiếu thốn về vật chất, về miếng cơm manh áo, mà quan niệm về nghèo đã được rất nhiều nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu và tiếp cận dưới các góc độ khác nhau:
Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội ở Copenhagen,
Đan Mạch (tháng 3/1995) xác định: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [1,12]
Việc phân loại các nước theo mức độ giàu hay nghèo được tư duy theo cùng lôgic này và tùy thuộc vào chỉ số GDP (tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người) Nhà kinh tế học được người Ấn Độ đạt giải thưởng Nobel, năm 1998, Amartya Sen đã phê phán mạnh mẽ quan điểm thiển cận nói trên về nghèo Theo ông, nghèo đối với mỗi cá nhân trước hết là không có cơ hội khai thác năng lực và định hướng cuộc sống của mình Vì vậy, nghèo liên quan đến tình trạng thể chất và tinh thần, trình
độ học vấn, khả năng có thể lên tiếng tại các cuộc thảo luận, liên quan đến sự tồn tại của mỗi cá nhân cũng như mức độ hưởng được quyền lợi như là con người xã hội
Cùng quan điểm này, tổ chức LHQ cho rằng: “nghèo cũng được đặc trưng bởi tình trạng hạn chế tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị và
xã hội Đẩy các cá nhân vào chỗ không được hưởng quyền lợi như là những con người xã hội; ngăn cản họ tiếp cận tới những lợi ích của sự phát triển kinh tế-xã hội và do đó hạn chế sự phát triển văn hóa của họ” [146,1]
Trang 28Cũng với quan điểm như vậy, Báo cáo về tình hình phát triển thế giới tấn công đói, nghèo của NHTG năm 2000 - 2001, đã thêm vào định nghĩa nghèo những nét mới như: tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội nên không có tiếng nói và quyền lực, hay tính dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất lợi
nằm ngoài khả năng kiểm soát “Họ còn chịu sự đối xử tàn tệ bởi những thể chế Nhà nước và xã hội và không có quyền lực để tác động đến những quyết định then chốt có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ”; “Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa nên không có tiếng nói
và quyền lực trong các thể chế đó” [146, 1]
Tư tưởng này cũng phù hợp với quan điểm của nhà khoa học người Mỹ
Galbraith khi ông cho rằng “con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như là cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực” [45,14]
Như vậy có thể thấy, mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung lại đa số đều thống nhất hiểu “nghèo” là tình trạng thiếu thốn trên nhiều phương diện chứ không chỉ đơn thuần là vật chất và “nghèo” có nhiều
cấp độ khác nhau Với cách hiểu này, Tổ chức LHQ nêu khái niệm về nghèo khổ tuyệt đối và nghèo khổ tương đối
+ Nghèo khổ tuyệt đối: là trình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống
+ Nghèo khổ tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống
dưới mức trung bình của cộng đồng
Ủy ban KT - XH khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ESCAP tổ chức
hội nghị tại Băng-Cốc năm 1993 thống nhất định nghĩa: “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế
xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương” [39,16]
Trang 29Có thể thấy, định nghĩa này bao quát hơn cả, gồm cả nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Đặc biệt, nghèo theo định nghĩa này hoàn toàn là một khái niệm động, mang tính lịch sử cụ thể Điều này được thể hiện rõ trong thực tế quá trình vận động phát triển của xã hội loài người Chẳng hạn, ở thời kỳ sơ khai, mông muội thì nghèo lúc này mang ý nghĩa tuyệt đối Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển cho đến thời đại ngày nay thì ngoài nghèo tuyệt đối còn hiện tượng nghèo theo nghĩa tương đối tùy từng quốc gia với những đặc điểm kinh tế-xã hội, phong tục tập quán, mức sống, quan niệm khác nhau
Ví dụ: với thu nhập 500USD/người/năm, đây là những người nghèo
trong các nước đang phát triển Nhưng với thu nhập 13.000USD/người/năm thì đây lại là những người nghèo ở các nước phát triển
Mặt khác, nghèo tương đối còn phải được xem xét đến các nhu cầu tinh thần như học tập, vui chơi giải trí, hưởng thụ văn hóa
Theo Ngân hàng thế gới (WB): Chỉ tiêu để đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia sẽ căn cứ vào thu nhập quốc dân tính theo đầu người với hai cách:
Thứ nhất: tính theo phương pháp Atlas, tức theo tỷ giá hối đoái Thứ hai: tính theo phương pháp Purchasing Power Parity (P.P.P), tức
tính theo sức mua tương đương
Cả hai phương pháp này được tính bằng USD
Giả sử, theo phương pháp Atlas, WB sẽ phân loại giàu nghèo trên thế giới theo sáu mức như sau: (lấy mức thu nhập năm 1990)
- Trên 25.000 USD : Nước cực giàu
- Từ 20.000USD đến dưới 25.000 USD : Nước giàu
- Từ 10.00 USD đến dưới 20.000 USD : Nước khá giàu
- Từ 2.500 USD đến dưới 10.000USD : Nước trung bình
- Từ 500USD đến dưới 2.500USD : Nước nghèo
- Dưới 500USD : Nước cực nghèo
Trang 30Và sau đó, WB đã phân loại các nước năm 2009/2010 thành các nhóm nước/vùng lãnh thổ theo mức GNI năm 2008, với 3 nhóm cụ thể sau:
(1) Nhóm nước có thu nhập thấp (có GNI dưới 975 USD/người);
(2) Nhóm nước có thu nhập trung bình (có GNI từ khoảng 976 USD/người đến 11.905 USD/người, trong đó có hai phân nhóm trung bình thấp từ 3.855 USD/người trở xuống và trung bình cao);
(3) Nhóm nước có thu nhập cao (trên 11.906 USD/người) [120]
Nếu chỉ căn cứ vào mức thu nhập bình quân đầu người để phân tích thì sẽ là phiến diện, bởi lẽ chỉ cần TTKT, nâng cao mức thu nhập của dân chúng là sẽ giải quyết được nghèo Song trong thực tế, không ít trường hợp hai nước có cùng mức GDP và thu nhập bình quân đầu người như nhau nhưng
hệ số bất bình đẳng về thu nhập lại khác nhau Thậm chí ở những nước giàu
hệ số bất bình đẳng hay khoảng cách giàu nghèo còn cao hơn so với những nước nghèo Chẳng hạn như ở Mỹ năm 2012, thu nhập bình quân đầu người
51.749 USD, nhưng 80% dân số nước này hiện đang sống ở mức cận nghèo
Theo báo cáo của Cục Điều tra dân số Mỹ công bố ngày 23/4/2013 thì 7% những người giàu nhất ở Mỹ đã chiếm tới 63% tổng tài sản của hộ gia đình
trên toàn quốc [97] Như vậy cũng có nghĩa là 93% dân số còn lại sẽ chia
nhau 37% tài sản còn lại Và khoảng cách giàu nghèo ở cường quốc số một này là 24 lần!
Trong khi Việt Nam thuộc nhóm nghèo thu nhập bình quân đầu người
2.028USD (năm 2014), nhưng hệ số này là 9,4 lần [146] Tuy nhiên, nếu chỉ
dừng ở đây, sẽ có thể hiểu rằng, những người nghèo ở những nước giàu là nghèo theo nghĩa tương đối Thế nhưng trong thực tế, ngay tại các nước giàu vẫn tồn tại hiện tượng nghèo một cách tuyệt đối Xin được dẫn lời của tác giả
Michael Roberlt khi viết về “Tình trạng chung của Anh và Mỹ” vào tháng 8/2004 được in trong tạp chí Thông tin tư liệu chuyên đề số 4/12/2004, của
HVCTQGHCM Ông viết: “Ở Anh, có 11% số công nhân triền miên nghèo đói (3 trong 4 năm)” “Đối với hầu hết những người lao động, những người kiếm
Trang 31ăn lần hồi và thậm chí đối với cả những người có cuộc sống cao hơn mức trung bình đôi chút, thì điều bức xúc nhất là phải chứng kiến sự chênh lệch lớn trong thu nhập và sự phân hóa giàu-nghèo rõ rệt” “Trong thập kỷ trước, thu nhập bình quân của công nhân đã tăng 45%, nhưng thu nhập của các chủ doanh nghiệp trong tốp 100 nhà Tư bản kếch xù đứng đầu ở Anh thì tăng tới 288%”
“Sự bất bình đẳng trong thu nhập đã tăng nhanh dưới thời chính quyền của ông Blair Nhưng sự phân hoá giàu-nghèo còn rõ ràng hơn Sự phân phối của cải vật chất trong chế độ Tư bản chủ nghĩa Anh và Mỹ còn bất công gấp đôi so với
sự bất bình đẳng về thu nhập Những người giàu có nhất vẫn tiếp tục giàu lên Trong khi nấc thang dưới cuối cùng của sự giàu có, tỷ lệ phần trăm những người Anh không có của cải tăng từ 5% -10% và 56% số người từ 16-24 tuổi không có chút tài sản nào” Tác giả phân tích: “vậy là, Chủ nghĩa tư bản Anh
“thành công” chính là một hiện thực phản ánh sự bất công xã hội lớn nhất Nó đồng nghĩa với việc có thêm nhiều người nghèo hơn, nhiều trẻ em và người già sống trong nghèo đói hơn; sự chênh lệch về thu nhập, sự phân hóa giàu-nghèo giữa những người giàu nhất và nghèo nhất, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ ngày càng lớn hơn, và cơ hội có thể ăn nên làm ra từ một người nghèo đói thành một người giàu có là vô cùng ít ỏi Điều đó có nghĩa là, một khi bạn trở thành người nghèo ở Anh, thì bạn sẽ nghèo mãi”
“Với nước Mỹ, tình cảnh cũng không khá hơn Những báo cáo của cục dân số của Chính phủ cho thấy, dưới thời ông Bush cầm quyền, số lượng những người Mỹ sống trong nghèo khó đã tăng gần 1,5 triệu người trong năm
2003 (năm thứ ba liên tiếp) Và hiện nay gần 36 triệu người Mỹ sống trong nghèo đói, chiếm 12,5% dân số (Theo cục dân số, người nghèo là người có thu nhập chỉ đạt 600USD/ năm) Có 13 triệu trẻ em Mỹ sống trong nghèo khổ, chiếm 17,6% (trước đây 16,7%) Những tỷ lệ này, kể cả theo như cách mà Cục dân số định nghĩa, không hề khá hơn so với những tỷ lệ đã có trong giai đoạn cuối những năm 60 của thế kỷ XX” “Thật tồi tệ là hiện nay có gần 45 triệu người mỹ không có bảo hiểm y tế, nhưng chi phí cho bệnh viện, bác sĩ
Trang 32và thuốc men lại là những khoản chi phí khổng lồ” Và cuối cùng, không biết
là tác giả muốn “cảnh báo” hay “kêu gọi” khi ông viết: “Xin các bạn hãy đừng đau ốm ở Mỹ” [145]
Như vậy rõ ràng, ngay trong các nước giàu vẫn tồn tại đói nghèo theo
cả hai nghĩa tương đối và tuyệt đối Điều này chứng minh rằng, trong thời đại ngày nay, giải quyết đói nghèo không chỉ là làm giàu mà phải xóa bỏ nguồn gốc dẫn đến phân hóa - đó là sự phân phối bất bình đẳng
2.1.1.2 Quan niệm của Việt Nam về nghèo
Dựa trên những nghiên cứu về mặt khoa học của các tổ chức trên thế giới, căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, để đánh giá đúng mức độ nghèo, Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Lao động, thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho rằng: Nghèo được phân chia thành hai khái niệm
là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về
ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục )
Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định
Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư
không được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết là ăn,
mặc, ở ; nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một
bộ phận dân cư khi so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng tại địa phương trong một thời kỳ nhất định Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo tương đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, giảm thiểu tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối
Ngoài việc thừa nhận định nghĩa chung về nghèo của tổ chức LHQ và
Ủy ban kinh tế-xã hội khu vực Châu Á-Thái Bình Dương ESCAP, ở Việt Nam còn đề cập đến nghèo ở một số góc độ sau:
Trang 33Hộ nghèo: là hộ đói ăn không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ
ấm, không có khả năng phát triển sản xuất
Xã nghèo: là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những
kết cấu hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao
Vùng nghèo: là địa bàn tương đối rộng nằm ở những khu vực khó
khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao
Tuy nhiên, muốn đánh giá được mức độ nghèo cần phải có các tiêu chí cụ thể Và các tiêu chí để đánh giá về mức độ nghèo ở Việt Nam được gọi
là chuẩn nghèo
Chuẩn nghèo là một khái niệm động, luôn biến đổi theo không gian và thời gian Vì vậy, mỗi vùng, mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, với trình độ và tốc độ phát triển kinh tế-xã hội khác nhau thì chuẩn nghèo cũng sẽ có sự biến đổi không giống nhau
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế-xã hội của nước ta và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cư hiện nay, có thể xác lập các tiêu chuẩn để đánh giá về nghèo và các tiêu chuẩn đó sẽ được thay đổi không ngừng-mà cụ thể là sẽ được nâng lên không ngừng cùng với sự thay đổi ngày càng tăng của điều kiện kinh tế-xã hội Trên cơ sở phương pháp chung của các tổ chức quốc tế và tốc độ phát triển kinh tế-xã hội, ở Việt Nam, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã nhiều lần thay đổi các chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người, theo vùng cho từng giai đoạn khác nhau Cụ thể trong các giai đoạn: 1993 - 1995; 1995 - 1997; 1997 - 2000; 2001 - 2005;
2006 - 2010 và giai đoạn 2011 - 2015 Ở giai đoạn 2001 - 2005, theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho hộ nghèo ở nông thôn miền núi, hải đảo là 80.000đồng/người/tháng; hộ nghèo ở nông thôn đồng bằng là 100.000đồng/người/tháng; hộ nghèo ở khu vực thành thị là 150.000đồng/người/tháng Giai đoạn 2006 - 2010, theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho hộ nghèo ở vùng nông
Trang 34thôn cho cả miền núi và đồng bằng là 200.000đồng/người/tháng; hộ nghèo ở
thành thị là 260.000đồng/người/tháng Từ ngày 30/01/2011 theo Quyết định
số: 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 là: hộ nghèo ở nông thôn là hộ
có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống; hộ nghèo
ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống; hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000
- 520.000đồng/người/tháng; hộ cận nghèo ở thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 - 650.000đồng/người/tháng
Giai đoạn 2016-2020 sẽ thực hiện chuẩn nghèo đa chiều theo hướng tiếp cận nhiều hơn các dịch vụ cơ bản, mà trước hết là 5 dịch vụ: giáo dục, y
tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin với 10 chỉ số đo lường mức
độ thiếu hụt Riêng mức thu nhập bình quân hàng tháng sẽ được nâng lên 700.000đ với khu vực nông thôn và 900.000đ với khu vực thành thị
2.1.1.3 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về nghèo
Nghèo đã tồn tại ở nhiều thời đại khác nhau và cũng có nhiều cách lý giải khác nhau về nguyên nhân nghèo Giai cấp bóc lột lý giải nguyên nhân của tình trạng nghèo là do ngu dốt, lười biếng và ngụy tạo hành động xâm lược là “sự khai hóa”(?) Đồng thời biện minh cho tình trạng nghèo, thất nghiệp như là “một áp lực cần thiết, tất yếu” để cho những người đang có việc làm phải cố gắng lao động(?) Điều đó đòi hỏi, để đảm bảo tính chính xác, khoa học khi nghiên cứu nghèo phải đứng vững trên lập trường và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
Trọng tâm nghiên cứu của Mác, Ăngghen, Lênin là Chủ nghĩa tư bản
và ngay từ những năm 1850 của thế kỷ XIX, trong các tác phẩm của mình, Mác đã phân tích vạch rõ bản chất bóc lột của Chủ nghĩa tư bản Đặc biệt, trong Bộ “Tư bản”, Mác mô tả tỷ mỷ, cặn kẽ tình cảnh thống khổ của những người lao động phải đi làm thuê cho chủ tư bản và bị bóc lột thậm tệ Hậu quả
Trang 35sự bóc lột tàn bạo này đã đẩy xã hội tư bản phân hóa thành hai cực: một bên
là sự giàu có, xa hoa về phía giai cấp tư sản, còn một bên là sự bần cùng, nghèo khổ về phía giai cấp vô sản Từ đó dẫn đến mâu thuẫn giai cấp đối kháng không thể điều hòa được Mà theo Mác, nguyên nhân sâu xa là do chế
độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Như vậy, theo phân tích của Mác, những người nghèo trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh là những người bị bần cùng hóa một cách tuyệt đối Những người nghèo luôn nằm trong “ranh giới giữa sự sống và sự chết đói” [63, 924]
Tiêu chí của nghèo là: “Trong đời sống gia đình đã mất hết những tiện nghi vật chất rồi Không còn có đủ điều kiện để chống đỡ thời tiết khắc nghiệt, nhà ở bị thu hẹp đến mức trở thành nguyên nhân gây bệnh tật hay làm cho bệnh nặng thêm, dụng cụ gia đình hay bàn ghế tủ giường hầu như không
có gì, ngay cả giữ gìn sạch sẽ cũng trở nên quá tốn kém hay khó khăn… Nhà
ở thì người ta chọn những nơi nào tiền thuê nhà rẻ nhất, ở những khu phố mà hoạt động của cảnh sát vệ sinh ít hiệu quả nhất, cống rãnh tồi nhất, đi lại bất tiện nhất, nhiều rác rưởi trên đường phố nhất, nước nôi cung cấp tồi tàn hay ít nhất, là nơi thiếu ánh sáng và không khí nhất trong thành phố Đó là những điều nguy hiểm cho sức khỏe mà dân nghèo nhất định phải chịu” [62, 925]
Và Mác nhấn mạnh: “Điều đó là những ý nghĩ đầy đau khổ, nhất là nếu ta nhớ rằng sự nghèo khổ nói ở đây không phải là sự nghèo khổ do lười
biếng gây ra” [62, 925]
Như vậy, qua phân tích của Mác có thể thấy quan niệm về nghèo ở đây là nghèo về kinh tế một cách tuyệt đối với ý nghĩa không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu để tồn tại và hoạt động của con người, có nguy cơ đe dọa đến tính mạng Đặc biệt, Mác chỉ ra thủ phạm của nghèo ở thời kỳ này là do:
“để cởi trói cho những quyền lực tự nhiên vĩnh cửu của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa, để hoàn thành quá trình công nhân tách ra khỏi những điều kiện lao động của họ, ở một cực thì biến tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt của xã hội thành tư bản, và ở cực đối lập thì biến quần chúng nhân dân thành
Trang 36công nhân làm thuê, thành “những người nghèo lao động” tự do - một sản phẩm tuyệt vời của lịch sử hiện đại”[62, 1055]
Ở đây, nghèo là hệ quả của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, hệ quả của sự tước đoạt và bóc lột thậm tệ trong quá trình ra đời và tồn tại của chủ nghĩa tư bản Do đó, chỉ có xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ nguồn gốc sinh ra bóc lột thì người lao động mới thoát khỏi đói nghèo
2.1.1.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nghèo
Tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân,
đế quốc và chủ trương làm cách mạng để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc; ham muốn tột bậc của Người là đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được hưởng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc Người cho rằng: chỉ có CNXH thì mọi người mới ăn no, mặc ấm, thoát khỏi áp bức, bất công, nghèo nàn, lạc hậu
Hồ Chí Minh nói về CNXH rất đơn giản: “Chủ nghĩa xã hội là gì? Là mọi người
được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do” [65, 693]
Theo Hồ Chí Minh, chính sách xóa nghèo nàn, lạc hậu sẽ ảnh hưởng đến tổng thể chính sách chung và các mục tiêu cách mạng mà Đảng ta đề ra
Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, quyên
góp gạo chia sẻ cho người nghèo Người nói: “Tôi xin đề nghị đồng bào cả nước và tôi xin thực hiện trước Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn
ăn 3 bữa, đem gạo đó để cứu dân nghèo” [65, 33]
Chúng ta có thể nhận thấy, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
giảm nghèo rất cụ thể và rất chiến lược, đó là biện pháp trước mắt: nhịn ăn một bữa, gạo tiết kiệm được phát cho người nghèo và biện pháp lâu dài: chiến dịch tăng gia sản xuất Người luôn nhấn mạnh phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất kết hợp thực hành tiết kiệm, coi đây là con đường lâu dài và chắc
Trang 37chắn để không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân Người còn lưu ý cần phải: “làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì
giàu thêm” [64, 61] vì “Dân có giàu thì nước mới mạnh” [67, 316]
Như vậy, theo Hồ Chí Minh: phải tiến tới giảm nghèo và tăng giàu
Đây chính là quan điểm PTBV để tiến tới một xã hội ngày càng giàu có, văn minh và hạnh phúc
Tiếp tục tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo Cách mạng, Đảng ta luôn lấy độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc của nhân dân làm mục đích lý tưởng của mình Chính vì vậy, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm làm cho toàn dân có cuộc sống ngày càng tốt hơn, hạnh phúc hơn
Tuy nhiên, sau 30 năm kháng chiến gian khổ và những năm đầu sau chiến tranh thiếu thốn mọi bề, các sản phẩm xã hội làm ra về cơ bản được phân
phối bình quân (mà thực chất là “chia đều sự nghèo khổ”), thì ranh giới giàu-
nghèo dường như đã bị xóa mờ trong ý thức của đại đa số người dân, trừ những người có điều kiện so sánh với các hoàn cảnh khác Chỉ đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đại hội của đổi mới và phải trải qua năm năm thực hiện “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường”, sự phân hóa giàu-nghèo dần dần lộ rõ Do đó, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6 /1991) đã chủ trương: “Khuyến khích làm giàu đi đôi với giảm số người nghèo, nâng cao phúc lợi xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế” [29,9]
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, với tư tưởng
chủ đạo “TTKT phải gắn liền với tiến bộ và CBXH ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển” [40,113] Đại hội nhấn mạnh: “Thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng các dân tộc, các tầng lớp dân cư” [34,114]
Tiếp tục đường lối đổi mới, Đại hội IX của Đảng đề ra định hướng
phát triển các lĩnh vực xã hội đến năm 2005, trong đó nhấn mạnh: “Tiếp tục
Trang 38thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo, quan tâm xây dựng
kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo, cải tạo các tuyến trục giao thông nối xã nghèo, vùng nghèo với các vùng khác; coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để dân cư vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng thu nhập” [35, 299]
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trong Chiến lược phát triển
KT - XH 10 năm, 2011-2020, xác định nhiệm vụ “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ, đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất
và các vùng đặc biệt khó khăn Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, có chính sách và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo” [36, 124-125]
Trải qua quá trình thực hiện giảm dần khoảng cách giàu nghèo và đã đạt được những thành tựu nhất định, thì đến thời kỳ này giảm nghèo được nâng lên một bước là giảm nghèo phải bền vững, không để xảy ra hiện tượng tái nghèo Do
đó, để triển khai thực hiện nhiệm vụ của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020, ngày 19/5/2011 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP
“Về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020” Và
tiếp theo đó là một loạt các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, trong đó hướng tới xây dựng bộ tiêu chí về giảm nghèo đa chiều
Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều đang được các tổ chức quốc tế như UNDP, WB sử dụng để giám sát, đo lường sự thay đổi về mức độ tiếp cận nhu cầu cơ bản giữa các quốc gia, thông qua các chỉ số như HDI (thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ) Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ Những chỉ số này cung cấp đẩy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc so với các thang đo về thu nhập giản đơn Thang đo này biểu lộ cả tính tự nhiên
và quy mô của sự nghèo khổ ở các cấp độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và cấp độ quốc tế
Trang 39Việt Nam cũng cần thay đổi cách tiếp cận các tiêu chí đo lường nghèo
từ đơn chiều sang đa chiều, bởi lẽ:
Thứ nhất, việc sử dụng chuẩn nghèo (dựa vào thu nhập/chi tiêu) kéo
dài trong một thời gian dài (từ năm 1993 đến nay) không còn phù hợp, bộc lộ nhiều hạn chế như bỏ sót đối tượng, độ bao phủ chưa cao, thiếu công bằng trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo, chưa đánh giá, đo lường mức độ chuyển biến về tiếp cận các nhu cầu xã hội cơ bản của người dân
Thứ hai, việc tiếp cận đo lường nghèo đa chiều nhằm mục đích đánh
giá một cách toàn diện hơn kết quả giảm nghèo của cả nước cũng như từng địa phương, làm cơ sở để ban hành các chính sách giảm nghèo phù hợp cho từng nhóm đối tượng, cũng như phân bổ ngân sách hợp lý, hiệu quả hơn
Thứ ba, xu hướng đo lường nghèo đa chiều đã được nhiều quốc gia
trên thế giới từng bước áp dụng (khoảng 20 nước), được UNDP, WB và mới đây, tại Hội nghị thượng đỉnh LHQ, trong Chương trình nghị sự 2030 đã khuyến cáo các quốc gia nên sử dụng thay vì đo lường nghèo đơn chiều
Thứ tư, chủ trương này đã được các ngành chức năng nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020” và được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt ngày 15/9/2015 (Quyết định 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015) với 2 nội dung chính là xây dựng các tiêu chí đo lường nghèo và xây dựng chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 theo hướng tiếp cận nhiều hơn các dịch vụ cơ bản, mà trước hết là 5 dịch vụ: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch
và vệ sinh, tiếp cận thông tin với 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt
Trong thực tế, Việt Nam đã thực hiện các chính sách giảm nghèo theo hướng đa chiều từ nhiều năm nay, các chính sách giảm nghèo cơ bản đã bao phủ được mọi mặt đời sống của người nghèo, được thể hiện qua các nhóm chính sách
hỗ trợ sinh kế, hỗ trợ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục đào tạo, điều kiện và môi trường sống, trợ giúp thông tin Vấn đề còn lại là xây dựng bộ tiêu chí về chuẩn nghèo đa chiều để thực hiện trong những năm tiếp theo
Trang 40Tóm lại, Đảng ta nhận thức giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển KT - XH của đất nước, giảm nghèo là yếu tố cơ bản để đảm bảo CBXH và TTKT bền vững Do đó, giảm nghèo được coi là một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển KT - XH
2.1.2 Nguyên nhân nghèo
Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau ở từng thời kỳ khác nhau dẫn đến đói nghèo
Từ thời tiền sử mông muội, loài người trong khi tách ra khỏi thế giới động vật để trở thành người thì cùng với bước ngoặt vĩ đại ấy, con người đã phải thường xuyên đối mặt với đói nghèo Trong nền văn minh sơ khai ấy không có áp bức bóc lột và bất công xã hội Ở đây nghèo đói là hệ quả trực tiếp của lạc hậu, mông muội Có thể coi đây là điển hình sự thống trị của tự nhiên đối với con người, và đã có hàng triệu năm diễn ra sự ngưng đọng, trì trệ như thế của lịch sử
Trong thực tế, nghèo đã tồn tại ở nhiều thời đại khác nhau và cũng có nhiều quan niệm, nhiều cách lý giải khác nhau về nguyên nhân nghèo Trong học thuyết giá trị thặng dư, Mác chứng minh bằng thực tiễn sinh động và thuyết phục rằng: Trong nền sản xuất hàng hóa, chính chế độ sở hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, sự tác động của quy luật giá trị và quá trình tích lũy ngày càng tăng của tư bản là nguyên nhân dẫn đến hai cực đối
lập nhau: Một bên là sự giàu có, xa hoa về phía giai cấp tư sản; Một bên là sự
bần cùng, nghèo khổ về phía giai cấp vô sản
Tuy nhiên, chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về TLSX chỉ là nguyên nhân sâu xa, còn nguyên nhân trực tiếp chính là do chế độ phân phối bất bình đẳng Bởi vì, xét ở cả hai góc độ lý luận và thực tiễn thì sở hữu là mục đích của đấu tranh giai cấp, thế nhưng sở hữu chỉ là mục đích phương tiện để con người đạt tới mục đích cuối cùng là được hưởng cái gì? bao nhiêu? và đó chính là phân phối Theo giáo sư, tiến sỹ Đỗ Thế Tùng, trong nền kinh tế hàng hóa, phân phối không những phụ thuộc vào quyền sở hữu