1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

TỔ CHỨC PHÒNG THỦ VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG DƯỚI TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 - 1885

225 183 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 225
Dung lượng 3,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau công trình nghiên cứu về Font tư liệu nói trên, Trần Đức Anh Sơn tiếp tục nghiên cứu và công bố nhiều bài viết về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa trong đó đáng chú ý là

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

- -

Lê Tiến Công

TỔ CHỨC PHÒNG THỦ VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG DƯỚI TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 - 1885

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Trang 2

HUẾ, NĂM 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Huế, ngày 07 tháng 03 năm 2015

Tác giả

Lê Tiến Công

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ phát triển Khoa học Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) Luận án là một trong những sản phẩn đào tạo của đề tài khoa học “Tổ chức và hoạt động bảo vệ biển đảo Việt Nam dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802-1885”, mã số: IV4-2011.10 (02/2012/IV/HĐ-KHXH) Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn Quỹ NAFOSTED, PGS.TS Đỗ Bang - chủ nhiệm

đề tài đồng thời là cán bộ hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Đăng - cán bộ đồng hướng dẫn tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Văn Hoa, người đã động viên và giới thiệu tôi làm hồ sơ Nghiên cứu sinh

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Đức Cường, PGS.TS Nguyễn Minh Tường, PGS.TS Bùi Thị Tân, TS Huỳnh Công Bá, TS Thái Quang Trung,

TS Phan Tiến Dũng, TS Phan Thanh Hải, TS Ngô Đức Lập… đã có nhiều góp

ý cho các nội dung luận án

Tôi chân thành cảm ơn ThS Trần Văn Quyến, CN Ngô Đức Chí, ThS Võ Vinh Quang, NNC Tống Quốc Hưng… Những người cung cấp nhiều tư liệu cần thiết, đặc biệt là việc dịch và trích yếu nội dung các văn bản Hán Nôm Luận án này được hoàn thành nhờ rất nhiều vào những tư liệu quý giá đó

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô và đồng nghiệp tại trường Đại học Phan Châu Trinh (Hội An) đã giúp đỡ, tạo điều kiện về thời gian cũng như động viên tôi hoàn thành luận án

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và dành tặng luận án này cho gia đình và người thân, những người luôn lo lắng và dõi theo bước đi của tôi Đó cũng là động lực lớn nhất giúp tôi luôn cố gắng trong cuộc sống và học tập

Huế, tháng 03 năm 2015

Tác giả

Lê Tiến Công

Trang 4

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

DÙNG TRONG LUẬN ÁN

BAVH Bulletin des Amis du Vieux Hué (Những người bạn Cố đô Huế) Châu bản Châu bản triều Nguyễn

ĐHKH Đại học Khoa học ĐHTH Đại học Tổng hợp ĐHSP Đại học Sư phạm

Hội điển Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ

NCLS Nghiên cứu Lịch sử Nxb Nhà xuất bản

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa 0

Lời cam đoan 0

Lời cảm ơn 0

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt 0

Mục lục 0

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

5 Nguồn tư liệu nghiên cứu 13

6 Phương pháp nghiên cứu 14

7 Đóng góp của luận án 15

8 Bố cục của luận án 16

Chương 1: CƠ SỞ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TỔ CHỨC PHÒNG THỦ VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG DƯỚI TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 – 1885 17

1.1 VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA BIỂN ĐẢO MIỀN TRUNG 17

1.2 TRUYỀN THỐNG BẢO VỆ VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TẠI MIỀN TRUNG TRƯỚC TRIỀU NGUYỄN 20

1.2.1 Truyền thống bảo vệ biển 20

1.2.2 Quản lý và khai thác nguồn lợi trên quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa trước triều Nguyễn 23

1.3 BỐI CẢNH CẢNH LỊCH SỬ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1885 28

1.4 BIỂN ĐẢO MIỀN TRUNG TRONG TẦM NHÌN QUỐC PHÒNG - AN NINH DƯỚI TRIỀU NGUYỄN 32

* Tiểu kết chương 1 39

Trang 6

Chương 2: TỔ CHỨC PHÒNG THỦ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG DƯỚI TRIỀU

NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1885 40

2.1 HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH PHÒNG THỦ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG 40

2.1.1 Các công trình phòng thủ vùng biển tại Kinh sư: 40

2.1.1.1 Các công trình phòng thủ vùng biển tại cửa biển Thuận An 40

2.1.1.2 Các công trình phòng thủ phía nam Kinh sư 47

2.1.2 Các công trình phòng thủ ở cửa biển Đà Nẵng 51

2.1.2.1 Các tấn biển Đà Nẵng, Cu Đê 52

2.1.2.2 Các thành, pháo đài, bảo 53

2.1.3 Các công trình phòng thủ vùng biển các tỉnh khác 58

2.1.3.1 Các công trình phòng thủ vùng biển các tỉnh Tả trực 58

2.1.3.2 Các công trình phòng thủ vùng biển các tỉnh Hữu trực 61

2.1.3.3 Các công trình phòng thủ vùng biển các tỉnh Tả kỳ 63

2.1.3.4 Các công trình phòng thủ vùng biển các tỉnh Hữu kỳ 69

2.2 TỔ CHỨC, HUẤN LUYỆN THỦY QUÂN 73

2.2.1 Tổ chức thủy quân 73

2.2.2 Huấn luyện thủy quân 78

2.3 THUYỀN CHIẾN, VŨ KHÍ VÀ THÔNG TIN LIÊN LẠC 80

2.3.1 Thuyền chiến của thủy quân 80

2.3.2 Vũ khí của thủy quân 86

2.3.3 Thông tin liên lạc trong bảo vệ vùng biển 89

2.3.3.1 Đài hỏa phong, ngựa trạm, vọng lâu, kỳ lâu 89

2.3.3.2 Hiệu cờ, hiệu súng và kính thiên lý 91

* Tiểu kết chương 2 96

Chương 3: HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG DƯỚI TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1885 98

3.1 HOẠT ĐỘNG TUẦN TRA, KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN TRÊN QUẦN ĐẢO HOÀNG SA – TRƯỜNG SA 98

3.1.1 Tuần tra, kiểm soát vùng biển 98

3.1.2 Tổ chức bảo vệ và thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa 103 3.2 HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG CƯỚP BIỂN 110

Trang 7

3.2.1 Vài nét về nguồn gốc cướp biển tại vùng biển miền Trung 110

3.2.2 Hoạt động phòng chống cướp biển 111

3.2.3 Hiệu quả và hạn chế của hoạt động phòng, chống cướp biển 116

3.3 CÔNG TÁC CỨU HỘ, CỨU NẠN 121

3.3.1 Cứu hộ thuyền công sai 122

3.3.2 Cứu hộ thuyền buôn, thuyền đánh cá nước ngoài 124

3.4 CHỐNG NGOẠI XÂM, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN 129

3.4.1 Những cuộc đụng độ của nhà Nguyễn với thực dân phương Tây trước năm 1858 129

3.4.2 Chống ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền (1858 – 1883) 136

3.4.2.1 Liên quân Pháp – Tây Ban Nha thất bại tại chiến trường Đà Nẵng 137

3.4.2.2 Tăng cường phòng thủ tại các cửa biển miền Trung (1858 – 1883) 146

3.4.2.3 Thuận An thất thủ 150

* Tiểu kết chương 3: 153

KẾT LUẬN 155

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN 158

TÀI LIỆU THAM KHẢO 160

PHỤ LỤC 172

Trang 8

đó có vùng biển và hải đảo [68], [69]

Từ trong lịch sử, các triều đại quân chủ Việt Nam luôn coi trọng vị trí chiến lược của biển đảo Vào đầu thế kỷ XIX, để đối phó với âm mưu xâm lược từ bên ngoài, triều Nguyễn vừa phải quan tâm bảo vệ biên giới trên đất liền, vừa phải quan tâm đến công tác phòng thủ quốc gia từ phía biển Hệ thống thành đồn pháo đài, tấn

sở ven biển được xây dựng nhằm mục đích đó Bên cạnh đó, nhà Nguyễn quan tâm phát triển thủy quân, trang bị thuyền chiến, vũ khí theo hướng thủy quân biển Kết hợp quân triều đình với quân địa phương, dân binh, dân phu trong hoạt động thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Các hoạt động khác như tuần tra, kiểm soát vùng biển, chống cướp biển, cứu hộ cứu nạn… được thực hiện thường xuyên thể hiện ý chí bảo vệ biển của triều đại này

Mặc dù triều Nguyễn không thành công trong công cuộc chống ngoại xâm vào nửa sau thế kỷ XIX nhưng những nỗ lực trong bảo vệ đất nước mà triều đại này đã làm vẫn là bài học kinh nghiệm quý cho hậu thế trong xây dựng và bảo vệ vùng biển, bảo vệ đất nước Đặc biệt, nó còn có ý nghĩa lớn hơn trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn dần trên Biển Đông, không phải từ các nước xa lạ mà chính từ nước láng giềng Điển hình nhất là từ đầu tháng 5.2014, Trung Quốc đã mang giàn khoan HD 981 cùng nhiều tàu, máy bay hộ tống vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng đối với chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, xâm phạm trắng trợn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS) Vùng biển luôn có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Bảo vệ vững chắc và xây dựng vùng biển đảo giàu mạnh, kết hợp chặt chẽ

Trang 9

quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Nghiên cứu truyền thống quốc phòng, an ninh nói chung, bảo vệ biển nói riêng dưới triều Nguyễn sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề lịch sử và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong truyền thống giữ nước Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu việc tổ chức và hoạt động bảo vệ quốc gia trên biển, trực tiếp là hệ thống phòng thủ vùng biển dưới triều Nguyễn có ý nghĩa thời sự, khoa học và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay

Qua quá trình học tập, giảng dạy và nghiên cứu tại miền Trung, tác giả đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo vệ biển dưới thời Nguyễn và đã nghiên cứu, bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ liên quan đến đề tài vào năm 2006 Từ đó đến nay tác giả tiếp tục có những nghiên cứu công bố trên các tạp chí chuyên ngành, các hội thảo quốc gia và quốc tế về chủ đề biển đảo Với mong muốn mở rộng và nghiên cứu đầy đủ hơn về công cuộc bảo vệ vùng biển dưới triều Nguyễn, được sự khuyến khích của

cán bộ hướng dẫn, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tổ chức phòng thủ và hoạt động bảo vệ vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1885” để làm

luận án tiến sĩ

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong nước

2.1.1 Giai đoạn trước 1975

Thư tịch cổ của Việt Nam sớm đề cập đến vùng biển Việt Nam tuy nhiên việc nghiên cứu về vùng biển Việt Nam thì phải đến những năm đầu thế kỷ XX, với một

số bài viết đề cập đến những vấn đề liên quan trong tạp chí Những người bạn cố đô Huế Ở tạp chí này, một số bài viết giới thiệu các tư liệu liên quan đến quá trình

xâm nhập của phương Tây vào Việt Nam Đáng chú ý là các bài viết của L Cadière,

H Cosserat, R Morinneau… và đặc biệt là bản dịch các bài về Những ghi chú về thiết lập nền bảo hộ Pháp ở An Nam của một tác giả khuyết danh do Lê Thanh Cảnh

dịch (từ chữ Hán sang tiếng Pháp), công bố trên 5 số trên tạp chí từ năm 1928 đến

1837 [19]-[23],

Giai đoạn từ 1945-1975, có những nghiên cứu đáng chú ý như tác phẩm Les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens

Trang 10

d'histoire et de ge'ographie của Võ Long Tê năm 1974 Năm 1975, nhóm nghiên cứu Sử Địa (Sài Gòn) công bố số 29, Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa (Đầu năm 2015 đặc khảo này đã được tái bản với nhan đề “Đặc khảo về Hoàng Sa - Trường Sa, biển Đông và chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam” do Nguyễn Nhã chủ biên) Đặc khảo này có nhiều bài viết giá trị của các tác giả Hoàng

Xuân Hãn, Sơn Hồng Đức, Trần Thế Đức, Nguyễn Nhã, Lam Giang, Lãng Hồ… cung cấp nhiều tư liệu và luận cứ khoa học khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa được người Việt xác lập chủ quyền từ nhiều thế kỷ trước

2.1.2 Giai đoạn từ 1975 đến nay

Sau 1975, việc nghiên cứu chú trọng nhiều về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa, lịch sử thủy quân và lịch sử chống ngoại xâm Năm 1979 có

tác phẩm Hoàng Sa - quần đảo Việt Nam của Văn Trọng Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ Việt Nam, NXB Sự thật, 1981 Năm 1982

Bộ Ngoại giao Việt Nam ấn hành cuốn Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: Lãnh thổ Việt Nam Điểm nổi bật của các công trình này là công bố những tài

liệu về Hoàng Sa – một bộ phận không thể tách rời của Việt Nam Năm 1983, các

tác giả Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng có tác phẩm Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm với rất nhiều đóng góp về lĩnh vực thủy quân trong

lịch sử dân tộc, tuy vậy cuốn sách này chỉ nghiên cứu đến thời Tây Sơn [191] Năm

1988, tác giả Vũ Phi Hoàng có cuốn Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa- lãnh thổ Việt Nam (NXB Quân đội Nhân dân) [87] Ra đời ngay sau thời điểm sự kiện Gạc Ma bị Trung Quốc đánh chiếm có sách Huyện đảo Trường Sa của NXB Tổng

hợp Phú Khánh, 1988 [91] Cũng trong năm 1988, Nguyễn Q Thắng có cuốn

Hoàng Sa, Trường Sa (nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 1988, năm 2002 được bổ sung và tái bản với tên “Hoàng Sa, Trường Sa – lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế”) [182] Năm 1995, Lưu Văn Lợi có công trình Cuộc tranh chấp Việt Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (NXB Công an Nhân dân) [104]

Nhìn chung những công trình trên vừa cung cấp tư liệu, vừa phân tích tính pháp lý

về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa Năm 1995,

đề tài nghiên cứu khoa học cấp Quốc gia mã số BĐHĐ 01 về lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Nguyễn Quang Ngọc làm chủ

Trang 11

nhiệm được thực hiện thành công với nhiều đóng góp trong tiến trình nghiên cứu về Hoàng Sa, Trường Sa đặc biệt ở góc độ bản đồ, tài liệu thư tịch cổ trong nước và tư liệu phương Tây Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được xuất bản năm 2002 [118]

Năm 2003, Nguyễn Nhã bảo vệ luận án Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, với những bằng chứng chứng minh quá trình

chiếm hữu thực sự, hoà bình và thực thi liên tục của các Nhà nước quân chủ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa [124] Đầu năm 2008 các tác giả Nguyễn Nhã, Nguyễn Đình Đầu, Lê Minh Nghĩa, Từ Đặng

Minh Thu, Vũ Quang Việt có tác phẩm Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam tổng

hợp các bài viết và tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa [125]

Gần đây khi vấn đề chủ quyền lãnh hải trên Biển Đông nổi lên, việc nghiên cứu về Hoàng Sa, Trường Sa được đặc biệt quan tâm Đến nay có khá nhiều công trình viết về Biển Đông và hải đảo cũng như phòng thủ biển ở Việt Nam trong lịch

sử Tiêu biểu có một số đề tài: Đề tài cấp Bộ Hệ thống công trình phòng thủ miền Trung dưới triều Nguyễn (1802-1885) do tác giả Đỗ Bang làm chủ nhiệm, đã xuất

bản năm 2011 [7] Ở công trình này tác giả nghiên cứu về hệ thống phòng thủ cả

vùng núi và vùng biển miền Trung Đề tài khoa học cấp thành phố Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam với huyện đảo Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng do Trần Đức

Anh Sơn làm chủ nhiệm (2011) đã hệ thống các tư liệu thành văn, tư liệu cổ, bản đồ… các công trình, bài viết trong và ngoài nước liên quan đến Hoàng Sa và biển đảo Việt Nam [163] Sau công trình nghiên cứu về Font tư liệu nói trên, Trần Đức Anh Sơn tiếp tục nghiên cứu và công bố nhiều bài viết về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa trong đó đáng chú ý là những bài viết liên quan đến những bản đồ cổ Tháng 9.2014, Trần Đức Anh Sơn công bố 3 cuốn sách về Hoàng Sa –

Trường Sa và tàu thuyền thời Nguyễn gồm: Tàu thuyền và ngành đóng thuyền ở Việt Nam thời Nguyễn [164], Tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa [165], Hoàng Sa - Trường Sa, tư liệu và quan điểm của học giả quốc tế

[166] Các công trình trên có đóng góp đáng kể trong tiến trình nghiên cứu về biển đảo Việt Nam nói chung đặc biệt ở mảng tư liệu và bản đồ cổ

Trang 12

Từ đầu năm 2012 đến cuối năm 2014, Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế chủ trì thực hiện đề tài khoa học “Tổ chức và hoạt động bảo vệ biển đảo Việt Nam dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802-1885” Đề tài do Đỗ Bang làm chủ nhiệm, mã số

IV4-2011.10 (02/2012/IV/HĐ-KHXH) thuộc Quỹ Phát triển khoa học và Công

nghệ Quốc gia (Nafosted) Ở đề tài trên chúng tôi thực hiện các nội dung: “Hệ thống các công trình phòng thủ ở các cửa biển miền Trung dưới triều Nguyễn”,

“Chống ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền biển đảo”, “Cứu hộ, cứu nạn” Bên cạnh đó, chúng tôi nghiên cứu các phần chống cướp biển (phần miền Trung), vẽ bản đồ, vận tải biển, kiểm soát tàu thuyền

Những năm gần đây có nhiều cuốn sách liên quan đến Biển Đông nói chung

được xuất bản như Đinh Kim Phúc, Hoàng Sa – Trường Sa, luận cứ và sự kiện [129] Nguyễn Văn Kim (chủ biên), Người Việt với biển [96] Trần Công Trục, Dấu

ấn Việt trên Biển Đông [187] Vũ Hữu San, Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa, Trường Sa [160] Nguyễn Đình Đầu, Chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông và Hoàng Sa, Trường Sa [74] Nguyễn Ngọc Trường, Về vấn đề Biển Đông [188]

Điểm nổi bật của các công trình trên là tiếp tục công bố những tài liệu, bản đồ và phân tích cơ sở pháp lý của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa

Trong đó, cuốn Người Việt với biển là tập hợp những nghiên cứu về biển trong lịch

sử, văn hóa, giao thương của người Việt ở trong nước và với bên ngoài Năm 2013,

Ủy ban Biên giới Quốc gia đã tuyển chọn và in Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa [13] Tuyển tập đã công bố các bản gốc Châu bản triều Nguyễn từ năm Minh Mạng 11 (1830) đến năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) Các Châu bản được phiên dịch

sang các thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, ngoài bản gốc là chữ Hán… đã cung cấp những

tư liệu quý, góp phần khẳng định quá trình thực thi chủ quyền của nhà Nguyễn tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Tháng 5 năm 2014, Viện nghiên cứu Hán Nôm

xuất bản sách Một số tư liệu Hán Nôm về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông [190] Đây

là cuốn sách công bố nhiều tư liệu Hán Nôm gồm các sách địa chí, bản đồ cổ, văn bản hành chính, sách chính sử nhà Nguyễn có ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa

và vùng biển Việt Nam trong lịch sử Tuy nhiên, một số ý kiến đã góp ý cho thấy

Trang 13

công trình trên đã có những sai sót trong dịch thuật, hạn chế trong việc làm văn bản học và nhầm lẫn trong việc đưa vào một số bản đồ không phản ánh đúng quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa mà thực chất là những dải cát ven biển miền Trung làm

giảm giá trị khoa học của công trình [192] Cũng trong tháng 5.2014, sách Triều Nguyễn với công cuộc bảo vệ biển đảo tổ quốc thế kỷ XIX do Đỗ Bang chủ biên

được xuất bản là cuốn sách có liên quan trực tiếp đến đề tài [9] Cuốn sách cung cấp cho người đọc cái nhìn khách quan về Triều Nguyễn – với tư cách là triều đại quản

lý lãnh thổ, lãnh hải rộng lớn, trong đó nhấn mạnh đến thành tựu khai thác và quản

lý Hoàng Sa Cũng trong cuốn sách này, chúng tôi thực hiện phần “Hệ thống phòng thủ cảng biển miền Trung trong cuộc kháng chiến chóng ngoại xâm dưới triều Nguyễn (1858-1883)”

Trong thời gian qua, một số các cuộc tọa đàm, hội nghị khoa học quốc gia và

quốc tế liên quan đến Biển Đông được tổ chức Đó là các hội thảo quốc gia: Luận

cứ khoa học về lịch sử, địa lý và pháp lý chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa diễn ra tại Hà Nội năm 1996 Năm 2009, tại TPHCM có tọa đàm Biển Đông và hải đảo Việt Nam Cũng trong năm 2009, tại Hà Nội có hội thảo quốc tế Biển Đông: hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực Tháng 11

năm 2011, Hội Luật gia Việt Nam, Học viện Ngoại giao đồng phối hợp tổ chức Hội

thảo khoa học quốc tế lần thứ ba về Biển Đông với chủ đề Biển Đông: Hợp tác vì

an ninh và phát triển ở khu vực tại Hà Nội Tháng 12.2012, tại Đà Nẵng có hội thảo quốc gia: Hợp tác Biển Đông – lịch sử và triển vọng Tháng 11.2013, tại Hà Nội

tiếp tục tổ chức hội thảo Biển Đông lần thứ 5 có cùng chủ đề với hội thảo năm 2009

là Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và phát triển trong khu vực Tháng 12.2013, hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế tổ chức hội thảo Triều Nguyễn với công cuộc bảo vệ biển đảo tổ quốc vào thế kỷ XIX (đã xuất bản [9]) Tháng 6.2014, hội thảo khoa học quốc tế Hoàng Sa – Trường Sa: sự thật lịch sử được tổ chức tại Đà

Nẵng Tại các cuộc hội thảo, tọa đàm quốc gia, quốc tế nói trên đã có nhiều tham luận, bài viết về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, nhiều tư liệu lịch sử, các bản đồ giá trị được công bố…

Gần đây chủ đề Biển Đông trở thành mối quan tâm của nhiều người, từ giới chính trị, quân sự đến những người nghiên cứu Vì vậy việc nghiên cứu và công bố

Trang 14

tài liệu lịch sử về vùng biển Việt Nam rất được quan tâm Nhiều bài báo và tư liệu được công bố, các đề tài khoa học được triển khai đã đem đến nhiều thông tin quý giá về một phần lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc Nhiều cơ quan thông tấn báo chí

đã đăng tải các bài viết liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa Đáng chú ý như: Tạp chí Khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội số 3

1998, công bố những nghiên cứu về Hoàng Sa – Trường Sa từ kết quả của đề tài cấp

nhà nước Tạp chí Nghiên cứu & Phát Triển (Sở KHCN Thừa Thiên Huế) cho đăng chuyên san về Biển Đông (số 4 (75) 2009) và gần đây là chuyên đề sử liệu về Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư và Giáp Ngọ niên bình Nam đồ (số 2 (109), 2014) [168]

Trong những năm qua tạp chí này đã công bố nhiều các bài viết liên quan đến Biển Đông của các tác giả như Phạm Hoàng Quân [131]-[137], Nguyễn Duy Chính [55],

[56]… Tháng 7 năm 2014, tạp chí Xưa & Nay đã ra số đặc khảo về Hoàng Sa… công bố các bài viết của các nhà nghiên cứu có uy tín Các tạp chí như Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Quân sự, Xưa & Nay, Nghiên cứu Đông Nam Á, Huế xưa & nay,

… trong những năm qua đã đăng nhiều bài viết liên quan đến Hoàng Sa – Trường

Sa và các nội dung liên quan đến đến đề tài của các tác giả Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Nhã, Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Văn Kim,

Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng, Trần Đức Anh Sơn, Phạm Hoàng Quân, Nguyễn Thanh Lợi, Hoàng Anh Tuấn, Lê Thị Toán…

Bên cạnh nhiều công trình nghiên cứu về biển đảo nói chung, Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng còn có một số luận án, luận văn nghiên cứu về công tác phòng thủ và hoạt động chống ngoại xâm dưới triều Nguyễn, tiêu biểu như luận văn của

Lưu Anh Rô về Đà Nẵng trong buổi đầu chống xâm lược Pháp (1858-1860) chủ

yếu nói về quá trình tổ chức bố phòng và cuộc kháng chiến chống liên quân Pháp – Tây Ban Nha trong những năm 1858-1860 [158] Luận án của Lưu Trang với đề tài

Phố cảng Đà Nẵng từ năm 1802 đến năm 1860, đã dành một phần nghiên cứu về

cuộc kháng chiến của quan quân và nhân dân tại Đà Nẵng trong buổi đầu đánh Pháp [185] Về công tác tổ chức phòng thủ tại Kinh đô và bờ biển, đáng lưu ý có luận văn

của Lê Thị Toán về Hệ thống phòng thủ Kinh đô Huế của triều Nguyễn, 1802-1885 [175] Luận văn Tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn, thời kì 1802-1858 của Lê Tiến Công [35] Về tổ chức lực lượng phòng thủ

Trang 15

vùng biển có luận văn Thủy quân thời Nguyễn của Bùi Gia Khánh [97] Luận văn Chính sách an ninh – phòng thủ biển của nhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX của

Đinh Thị Hải Đường [80] Ở luận văn này, tác giả Đinh Thị Hải Đường tập trung vào chính sách an ninh - phòng thủ biển của vua Nguyễn trong giai đoạn đầu và phạm vi nghiên cứu được mở rộng ra cả nước…

Nhìn chung từ 1975 đến nay, các nghiên cứu trong nước về lịch sử quân sự nói chung, và công tác bảo vệ đất nước dưới triều Nguyễn nói riêng được quan tâm khá nhiều với nhiều thành tựu quan trọng, góp phần nhận diện về những nỗ lực xây dựng

và bảo vệ đất nước của các triều đại phong kiến Việt Nam, trong đó có nhà Nguyễn

2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài

Những ghi chép, nghiên cứu rời rạc có liên quan tới vùng biển Việt Nam trước năm 1945 trước tiên phải kể đến những người nước ngoài qua lại trên vùng Biển Đông và tới buôn bán tại Việt Nam Các ghi chép, báo cáo, nhật ký của các giáo sĩ,

thương nhân, quân nhân của các nước khác đến nước ta trước đây như: Xứ Đàng Trong của C Borri [11], Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán (1695) [161], Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793) của John Barrow [10] Nhìn chung,

các tài liệu trên đã đề cập tới vùng biển miền Trung với nhiều góc độ khác nhau như: địa lí - địa hình, kinh tế, chính trị, xã hội và hoạt động quân sự, ngoại giao… Cuốn sách đầu tiên đề cập đến việc thực dân phương Tây xâm lược Việt Nam

là công trình của Lé Opold Pallo được in tại Pháp năm 1864 với nhan đề “Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ năm 1861 [126] Tác giả Lé Opold Pallo cũng là người

trực tiếp tham chiến nên đã cung cấp nhiều tư liệu thực tế về cuộc chiến tại miền Trung và Nam kỳ Tuy vậy, cuốn sách không tránh khỏi những cái nhìn thiên lệch của những kẻ xâm lược

Nhiều công trình nghiên cứu của các học giả người Việt ở nước ngoài như Từ Đặng Minh Thu, Vũ Quang Việt, Nguyễn Duy Chính, các công trình dịch thuật của Ngô Bắc về các tư liệu của người nước ngoài có liên quan đến lịch sử thăm dò và xâm chiếm Việt Nam

Liên quan đến quá trình ứng phó của các vua đầu triều Nguyễn đối với âm mưu xâm lược của phương Tây phải kể đến các luận án tiến sĩ của Trương Bá Cần

bảo vệ năm 1963, Hoạt động ngoại giao của nước Pháp nhằm củng cố cơ sở tại

Trang 16

Nam Kỳ [24] Luận án của Cao Huy Thuần, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam 1857-1914 [184] Luận án của Y Tsuboi (Nhật Bản), Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa [178]… Các luận án này đều được

bảo vệ tại Pháp, đã dịch và xuất bản, tái bản nhiều lần tại Việt Nam và được giới nghiên cứu đánh giá cao Điều đặc biệt là các công trình trên đều đã khai thác, biên soạn công phu từ những tài liệu gốc của người Pháp lưu giữ lại văn khố bộ Ngoại giao, bộ Hải quân và Thuộc địa hay các thư viện lớn của Pháp Các học giả phương

Tây phải kể đến Marwyn S Samyels, Tranh chấp Biển Đông Monique Chemillier- Gendreau, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa [26] Braice M Claget, Những yêu sách và đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vựa bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong Biển Đông [27] Philippe Devillers, Nước Pháp

và người An Nam, bạn hay thù? [64]…

Nếu như các học giả phương Tây có những nghiên cứu khách quan về lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thì các học giả Trung Quốc lại ngụy biện trong các công trình của họ Tiêu biểu trong các nghiên cứu của Trung Quốc về tư liệu cổ có liên quan đến Biển Đông là cuốn sách của Hàn Chấn

Hoa cùng các cộng sự có tựa đề Ngã quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hối biên Cuốn

sách này tác giả trình bày tư liệu theo trình tự các triều đại Trung Quốc: Hán, Tam Quốc, Nam Bắc triều, Tùy, Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh Tuy nhiên nghiên cứu của họ bị các nhà nghiên cứu Việt Nam bác bỏ trong một loạt các công trình,

tiêu biểu như của Hồ Bạch Thảo có công trình Phản biện lập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Ðông được đề cập trong tác phẩm Ngã quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hối biên Tác giả Hồ Bạch Thảo

đã phê phán Hàn Chấn Hoa rằng “Ông mượn các địa danh có sẵn trong lịch sử như Trướng Hải, Tiêu Thạch, Cửu Nhũ Loa Châu để gán cho đảo Hoàng Sa; hoặc Vạn

Lý Trường Sa để gán cho quần đảo Trường Sa” [169] Tác giả Phạm Hoàng Quân

có chuyên khảo chi tiết về Những ghi chép liên quan đến biển Đông Việt Nam trong chính sử Trung Quốc Ở công trình trên, Phạm Hoàng Quân đã trích dịch 25 bộ

chính sử Trung Quốc để chứng minh trong suốt hơn 2000 năm quân chủ, Trung Quốc chưa bao giờ quản lý đất đai và hành chính tới những đảo xa hơn huyện Nhai của Hải Nam ngày nay Họ chỉ quan niệm về vùng biển Đông Việt Nam như một

Trang 17

vùng nằm ngoài sự cai quản của đế chế, là hải đạo chung trong con đường hàng hải giao thương quốc tế [131] – [136]

Bên cạnh các công trình, bài viết thì trong những năm qua, trên thế giới có rất nhiều cuộc hội thảo về Biển Đông đã được tổ chức tại nhiều quốc gia như Mỹ, Nga,

Úc, Nhật, Hàn Quốc, Campuchia, Myanmar như Tháng 4.2012, tại Nga đã tổ chức

Hội thảo khoa học quốc tế Những vấn đề thực tiễn của an ninh khu vực Đông Á và

an ninh Biển Đông Tháng 10.2012, hội thảo quốc tế về Thực trạng vấn đề chủ quyền Biển Đông và giải pháp do Đại học Chosun và Đại học Quốc gia Hà Nội phối

hợp tổ chức đã diễn ra tại Đại học Chosun, Gwangju, Hàn Quốc Tháng 3.2013, Hội Châu Á - trụ sở tại New York - phối hợp với trường Chính sách công Lý Quang

Diệu của Singapore đồng tổ chức tại Mỹ hội thảo về Tranh chấp ở Biển Đông Tháng 9.2013, Hội thảo quốc tế Biển Đông: thành tựu, thách thức và hướng tương lai tổ chức tại Campuchia Tháng 11.2013, Hội thảo quốc tế về Biển Đông diễn ra tại Đại học New South Wales, Australia Tháng 2.2014, Hội thảo quốc tế về Biển Đông và biển Hoa Đông tổ chức tại Đại học Công nghiệp Kyoto, Nhật Bản Tháng 4.2014, Hội thảo Thách thức an ninh hàng hải đối với ASEAN và triển vọng giải quyết tranh chấp Biển Đông được tổ chức tại Myanmar… Nhìn chung, chủ đề hội

thảo đã nói lên tính chất thời sự của những tranh chấp trên Biển Đông Bên cạnh đó, vấn đề Biển Đông không còn là mối quan tâm trong khu vực mà còn là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Nhiều đại biểu quốc tế, trong đó có nhiều nhà khoa học Việt Nam đã tham dự với nhiều tham luận khoa học

về lịch sử chủ quyền của quốc gia trên vùng Biển Đông

Như vậy cho đến nay nghiên cứu về lịch sử biển đảo Việt Nam nói chung và những nội dung liên quan đến đề tài nói riêng đã có khá nhiều công trình Các công trình đã đề cập đến nhiều lĩnh vực liên quan đến đề tài, có thể chỉ ra một số đặc điểm của các nghiên cứu trên như sau:

- Các công trình nghiên cứu trong những năm qua tập trung khai thác và công

bố nhiều tư liệu, bản đồ cổ (trong nước và các bài báo, bản đổ nước ngoài) liên quan đến quá trình khai thác, thực thi chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển, trong đó nhấn mạnh đến chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Các công trình, bài viết chủ yếu khai thác các bản đồ, thư tịch, tư liệu dưới thời

Trang 18

chúa Nguyễn, Triều Nguyễn như các sách Phủ biên tạp lục, Đại Việt sử ký tục biên, Hội điển, Thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Hoàng Việt địa dư chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt sử cương giám khảo lược… đặc biệt là Châu bản triều Nguyễn… Bên cạnh đó các tư liệu Hán Nôm ở các địa phương, các tư liệu, bản đồ

phương Tây và cũng được khai thác khá nhiều

- Ngày càng có nhiều tổ chức, cá nhân, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu; nhiều đề tài, hội nghị hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế được tổ chức nhằm tiếp tục làm sáng tỏ chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển và hải đảo Các cuộc hội thảo là cơ hội để các nhà khoa học Việt Nam trình bày về những chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được

ghi rõ trong chính sử, sách điển chế, sách địa lý, trong Châu bản triều Nguyễn là

văn bản Nhà nước dưới triều Nguyễn

- Các nghiên cứu tập trung nhiều về lịch sử xác lập chủ quyền tại Hoàng Sa- Trường Sa Bên cạnh đó một số công trình đề cập đến hoạt động khai thác kinh tế biển, lịch sử tàu, thuyền chiến, lịch sử chống ngoại xâm…

Như vậy nghiên cứu về Biển Đông mà đặc biệt là chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông là chủ đề không mới, đến nay đã có nhiều nghiên cứu ở các mức độ khác nhau Những nghiên cứu trên đã đánh dấu những thành tựu đáng kể trong tiến trình nghiên cứu và các tư liệu về chủ đề biển đảo Đó cũng là điều kiện thuận lợi để tác giả tiếp thu và kế thừa (đặc biệt ở mặt tư liệu) khi thực hiện đề tài này Tuy vậy các nghiên cứu trên tập trung nhiều về vấn đề lịch sử xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, trong khi những nghiên cứu về vấn đề bảo vệ vùng biển chưa được quan tâm đúng mức như: hệ thống phòng thủ, công tác tuần tra, kiểm soát vùng biển, chống cướp biển, cứu hộ cứu nạn, vận tải công,… đều là những hoạt động quan trọng thường xuyên, liên tục trong suốt giai đoạn độc lập của nhà Nguyễn

Trên cơ sở kế thừa, phát triển từ kết quả nghiên cứu luận văn thạc sĩ bảo vệ năm 2006 cùng các nghiên cứu có hệ thống của mình [34] - [49], chúng tôi mở rộng

về thời gian nghiên cứu đến năm 1885, hệ thống và cập nhật những tư liệu, kết quả nghiên cứu mới nhất để thực hiện luận án tiến sĩ Quá trình nghiên cứu luận án cũng

là quá trình tác giả tham gia thực hiện đề tài khoa học mã số IV4-2011.10

Trang 19

(02/2012/IV/HĐ-KHXH) Tác giả là người tham gia viết các phần liên quan trực tiếp đến hệ thống phòng thủ và hoạt động bảo vệ vùng biển miền Trung Luận án cũng là sản phẩn đào tạo thuộc đề tài khoa học nói trên Điểm mới trong luận án là chúng tôi bổ sung nhiều tư liệu điền dã là các văn bản Hán Nôm, bằng sắc thủy

quân, các văn bia, đặc biệt là các Châu bản triều Nguyễn chưa từng được công bố

để nghiên cứu nhằm bổ sung, góp phần nghiên cứu về lịch sử bảo vệ biển đảo dưới triều Nguyễn

3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Đề tài có những mục tiêu sau:

- Nghiên cứu đầy đủ, khách quan và hệ thống về công cuộc tổ chức, những hoạt động và hiệu quả bảo vệ vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn

- Nghiên cứu về việc tổ chức và các hoạt động bảo vệ vùng biển, bao gồm cả cửa biển, mặt biển và hải đảo miền Trung của triều Nguyễn nhằm thấy được một cách cụ thể và khái quát về công cuộc bảo vệ vùng biển cũng là bảo vệ quốc gia đương thời Từ đó, luận án đánh giá những thành công và những hạn chế của triều Nguyễn trong công cuộc phòng thủ và bảo vệ vùng biển cũng như những kinh nghiệm lịch sử góp phần làm cơ sở tham khảo cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay

- Nghiên cứu về bảo vệ chủ quyền vùng biển cũng là nghiên cứu một phần quan trọng của lịch sử quân sự Việt Nam Bối cảnh lịch sử xưa nay có khác nhau nhưng những thách thức trong công cuộc bảo vệ đất nước là không hề thay đổi, thậm chí còn phức tạp hơn rất nhiều và bài học mất nước vẫn còn nguyên giá trị Bởi vậy, nghiên cứu đề tài sẽ góp phần vào việc xây dựng và bảo vệ đất nước trong bối cảnh hiện nay

Để đạt được mục tiêu trên, luận án thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Phân tích vị trí chiến lược của biển đảo miền Trung trong tầm nhìn an ninh- phòng thủ biển dưới triều Nguyễn Nêu và phân tích các chính sách của triều Nguyễn trong việc thực hiện các biện pháp phòng thủ và bảo vệ vùng biển

- Nghiên cứu, đánh giá hệ thống phòng thủ vùng biển miền Trung trong mối tương quan với nhiệm vụ phòng thủ đất nước dưới triều Nguyễn Nghiên cứu về cách thức tổ chức, huấn luyện và trang bị của thủy quân, lực lượng chủ yếu trong

Trang 20

việc bảo vệ vùng biển, những ưu điểm và hạn chế của thủy quân triều Nguyễn trong mối tương quan với nhiệm vụ bảo vệ biển, bảo vệ đất nước

- Nghiên cứu các hoạt động bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển, bao gồm các hoạt động: tuần tra kiểm soát vùng biển, chống cướp biển, cứu hộ cứu nạn, chống ngoại xâm Phân tích những thành công và hạn chế của các hoạt động trên, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những thành công và hạn chế đó

- Chú trọng nghiên cứu về việc tổ chức bảo vệ và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa dưới triều Nguyễn, nhằm thấy được tính liên tục và quyết tâm khẳng định chủ quyền của các vua triều Nguyễn trên hai quần đảo này

- Làm rõ đặc điểm, vai trò của hoạt động phòng thủ, bảo vệ vùng biển đối với

an ninh, phòng thủ quốc gia nói chung dưới triều Nguyễn làm cơ sở tham khảo cho công cuộc xây dựng và bảo vệ vùng biển ngày nay

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng của đề tài là nghiên cứu toàn bộ công cuộc tổ chức phòng thủ và những hoạt động bảo vệ vùng biển ở miền Trung Việt Nam dưới triều Nguyễn, được thể hiện bằng những chủ trương, cơ chế tổ chức cũng như những hoạt động cụ thể, sinh động đương thời Trên cơ sở nghiên cứu, đề tài có cơ sở đánh giá tính hiệu quả và những mặt hạn chế của các hoạt động này

Đề tài giới hạn trong phạm vi không gian vùng biển các tỉnh miền Trung Việt Nam đương thời (tương đương với các tỉnh Thanh Hóa tới Bình Thuận ngày nay), bao gồm tất cả vùng biển, bờ biển, cửa biển, hải đảo, chú trọng đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Thời gian nghiên cứu trong đề tài từ năm 1802 đến năm 1885 Đây là giai đoạn

từ khi triều Nguyễn thành lập đến sự kiện Kinh đô thất thủ, đất nước rơi vào tay thực dân Pháp Đây cũng là giai đoạn mà việc tổ chức phòng thủ và hoạt động bảo vệ vùng biển được thể hiện liên tục và có hệ thống dưới sự chủ trì của nhà Nguyễn độc lập

5 NGUỒN TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau Trong

đó, nguồn tư liệu quan trọng nhất là các tư liệu gốc liên quan trực tiếp đến triều

Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ,

Trang 21

Minh Mạng chính yếu, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí… Đặc biệt nguồn tư liệu quan trọng được chúng tôi khai thác là Châu bản triều Nguyễn Châu bản triều Nguyễn là tập hợp các văn bản hành chính của triều

Nguyễn, bao gồm các tập tấu, sớ, phụng thượng dụ, chiếu, chỉ dụ, tư trình, bẩm, truyền, sai, phó, khiển được đích thân vua ngự lãm hoặc ngự phê bằng mực màu son, truyền đạt ý chỉ hoặc giải quyết các vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh

tế, văn hóa, xã hội Đây là những tư liệu gốc, có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu

Ngày 14.5.2014, Châu bản triều Nguyễn đã được UNESCO công nhận là Di sản tư

liệu Chương trình Ký ức thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương điều đó càng khẳng định giá trị nguồn tư liệu này

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tham khảo một số công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước gồm các nhóm tài liệu như: các báo cáo kết quả công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, các luận án, luận văn, các bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, các tham luận hội thảo quốc gia và quốc tế Nguồn tài liệu quan trọng khác là các tư liệu điền dã của tác giả tại miền Trung

Đó là các văn bản Hán Nôm gồm các sắc, bằng, chế, báo cáo của thủy quân; các văn bia, tài liệu địa chí địa phương Bên cạnh đó, tác giả xác định vị trí, đo vẽ một số di tích còn lại trên thực tế nhằm bổ sung và củng cố các luận chứng trong luận án

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này tác giả sử dụng phương pháp duy vật lịch sử và phương pháp lôgic để nghiên cứu Trên thực tế đề tài thuộc chuyên môn Lịch sử Việt Nam trung đại, lại nghiên cứu về những hoạt động quân sự, quốc phòng nên để thực hiện đề tài, chúng tôi áp dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu tiếp cận cụ thể là phương pháp Khảo cổ học, điền dã, phương pháp bản đồ Các phương pháp

so sánh, đối chiếu tư liệu, phương pháp thống kê cũng được áp dụng

Phương pháp điền dã: thực hiện đề tài này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu điền dã, thực địa tại vùng biển các tình miền Trung, các di tích liên quan đến hệ thống phòng thủ dưới triều Nguyễn để có cái nhìn thực tế, so sánh với các nguồn tư liệu thành văn Tác giả gặp gỡ, trao đổi với người dân địa phương, thực hành đo đạc các di tích trên thực tế nhằm góp phần xác định vị trí, kích thước, mục đích, công năng và hiện trạng các di tích

Trang 22

Phương pháp thống kê, so sánh: tác giả tiến hành thống kê, so sánh các số liệu liên quan đến đề tài như: số liệu về hệ thống các công trình phòng thủ, định ngạch các hạng thuyền cho các tỉnh miền Trung dưới triều Nguyễn, số thuyền bọc đồng được đóng dưới triều Nguyễn, tàu thuyền gặp nạn, công tác cứu hộ; thống kê, so sánh về lực lượng thủy quân… Phương pháp thống kê đã cung cấp những số liệu để

so sánh và phân tích, làm rõ các luận điểm trong đề tài

Phương pháp bản đồ: quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu các bản

đồ cổ trong và ngoài nước có liên quan đến vùng biển Việt Nam Tác giả phân tích,

so sánh thông tin từ các bản đồ, đối chứng với các tư liệu thành văn và diện mạo thực tế để đưa ra đánh giá cụ thể trong luận án

Trong xử lý, trích dẫn tư liệu, tác giả chủ yếu sử dụng tư liệu gốc có độ tin cậy cao Tác giả tiến hành sưu tầm các tư liệu liên quan đến đề tài, đặc biệt chú trọng

đến tài liệu gốc như Châu bản triều Nguyễn, các tài liệu Hán Nôm sưu tầm được Bên cạnh đó, tác giả nghiên cứu thông tin từ các nguồn tài liệu thư tịch như Đại Nam thực lục chính biên, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí,… đây là những công trình được biên soạn dưới

triều Nguyễn và được tổ chức dịch thuật bởi các cơ quan chuyên môn có uy tín Tuy nhiên có nhiều lý do khách quan, tác giả không thể tiếp cận tư liệu gốc mà phải trích dẫn lại, trong những trường hợp như vậy, tác giả đều ghi rõ nguồn

Trang 23

quyền, an ninh vùng biển của nhà Nguyễn Việc thiết lập hệ thống phòng thủ vùng biển và các hoạt động phòng thủ tại đây hoàn toàn nằm trong ý thức về chủ quyền dân tộc của nhà Nguyễn khi phải đối phó và đối đầu với một kẻ thù hoàn toàn mới đến từ phía biển với trang bị kỹ thuật và phương tiện vượt trội Đối với các hoạt động bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển, đặc biệt là trên hai quần đảo Hoàng

Sa - Trường Sa, triều Nguyễn đã tiếp tục quản lý và thực thi chủ quyền thường xuyên, liên tục Các vua đầu triều Nguyễn có công lao rất lớn đối với lịch sử thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Luận án cũng nghiên cứu cách thức quản lý, thực thi chủ quyền, thể hiện ở các hoạt động tuần tra kiểm soát, chống cướp biển, cứu hộ cứu nạn, chống ngoại xâm của triều Nguyễn Đây là những hoạt động thường xuyên nhằm khẳng định chủ quyền và giữ yên vùng biển Những hạn chế trong bảo vệ vùng biển miền Trung vừa mang yếu tố chủ quan của vua tôi nhà Nguyễn vừa là hạn chế chung mang tính thời đại lúc bấy giờ Từ những thành công và hạn chế trong công cuộc bảo vệ vùng biển dưới triều Nguyễn, tác giả rút ra một số bài học có thể áp dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay

8 BỐ CỤC LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận

án được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở tác động đến việc tổ chức phòng thủ và hoạt động bảo vệ vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1885

Chương 2: Tổ chức phòng thủ vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1885

Chương 3: Hoạt động bảo vệ và thực thi chủ quyền vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1885

Trang 24

Chương 1

CƠ SỞ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TỔ CHỨC PHÒNG THỦ

VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG DƯỚI TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802 - 1885

1.1 VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA BIỂN ĐẢO MIỀN TRUNG

Việt Nam giáp với Biển Đông ở hai phía Đông và Nam Vùng biển Việt Nam

là một phần Biển Đông với bờ biển dài 3.260km, khoảng l00km2 thì có l km bờ biển; biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km2 (gấp 3 diện tích đất liền: l triệu km2/330.000km2) Vùng biển miền Trung có vị trí quan trọng trong tổng thể biển đảo Việt Nam, trong đó có

2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển Vùng biển Việt Nam nói chung, miền Trung nói riêng có vị trí chiến lược quan trọng: nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông Giao lưu quốc tế thuận lợi, phát triển ngành biển Vùng biển và hải đảo nước ta có vị trí chiến lược hết sức to lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc, có liên quan trực tiếp đến sự phồn vinh của đất nước và hạnh phúc của nhân dân

Quốc phòng, an ninh: biển nước ta nằm trên đường giao thông quốc tế từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam vì vậy có vị trí quân sự hết sức quan trọng Đứng trên vùng biển đảo của nước ta có thể quan sát khống chế đường giao thông huyết mạch

ở Đông Nam Á Biển đảo nước ta có tầm quan trọng hết sức lớn lao đối với sự phát triển; trường tồn của đất nước

Đảo và quần đảo: vùng biển nước ta có trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó: Vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo Bắc Trung bộ trên 40 đảo Còn lại ở vùng biển nam Trung bộ, vùng biển Tây Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Căn cứ vào vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý kinh tế, dân cư, thường người ta chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:

+ Hệ thống đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời

Trang 25

nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta Đó là các đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ

+ Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triên kinh tế-xã hội Đó là các đảo như: Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc + Các đảo gần bờ có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ đề bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu), huyện đảo

Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang)

+ Quần đảo Hoàng Sa (nay là huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc thành phố Đà Nẵng) là một trong hai quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền của Việt Nam từ lâu đời Trong lịch sử quần đảo Hoàng Sa còn có tên là “Bãi cát vàng” Tên quốc tế thường được thể hiện trên các hải đồ là Paracels Quần đảo gồm 37đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một số đối tượng địa lý khác thuộc huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng Khu vực quần đảo nằm trên vùng biển rộng khoảng 30.000 km2 Phạm vi quần đảo được giới hạn bằng các đảo, bãi ở các cực Bắc, Nam, Đông, Tây

Về khoảng cách đến đất liền, từ đảo Tri Tôn đến mũi Ba Làng An, tỉnh Quảng Ngãi là 135 hải lý, đến huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) tỉnh Quảng Ngãi 123 là hải

lý Tổng diện tích phần nổi của quần đảo Hoàng Sa khoảng 10 km2, đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm với diện tích khoảng 1,5 km2 Quần đảo Hoàng Sa nằm ngang bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Ngãi Hoàng Sa nằm trong vùng "xích đạo từ" có độ sai lệch từ không thay đổi hoặc thay đổi rất nhỏ, rất thuận lợi cho việc đi biển Quần đảo này có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, thường có sương mù và nhiều giông bão, nhất là từ tháng 6 đến tháng 8 hằng năm Trên một số đảo có nguồn nước ngọt, có cây cối, chim và rùa biển sinh sống

Nằm phía Đông của Việt Nam, Hoàng Sa án ngữ đường hàng hải quốc tế huyết mạch từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương Vùng biển này có

Trang 26

tiềm năng lớn về khoáng sản và nguồn hải sản, thuận lợi trong việc phát triển kinh

tế, quan trọng hơn đây là vị trí quân sự chiến lược, khống chế đường giao thông trên biển và trên không trong khu vực phía bắc Biển Đông

+ Quần đảo Trường Sa: Người Pháp gọi là Archipel des ile Spratley, người Anh, người Mỹ gọi là Spratley Islands hay Spratlies Trung Quốc gọi là Nansha (Nam Sa) Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa tính đến đảo gần nhất là khoảng 350 hải lý, đảo xa nhất là khoảng 500 hải lý, cách Vũng Tàu 305 và các Cam Ranh 250 hải lý, cách đảo Phú Quốc 240 hải lý, cách Bình Thuận (Phan Thiết)

270 hải lý Quần đảo trải dài từ 6o 2’ vĩ B, 111o28’ vĩ B, từ kinh độ 112 o Đ, 115 o Đ1.4 trong vùng biển chiếm khoảng 160.000 đến 180.000km2 Biển tuy rộng nhưng diện tích các đảo, đá, bãi nổi trên mặt nước lại rất ít, chỉ tổng cộng 11km2 Về số lượng đảo, theo thống kê của Nguyễn Hồng Thao (Vụ Biển, thuộc Ban Biên giới Chính phủ) năm 1988, gồm 137 đảo, đá, bãi không kể 5 bãi ngầm thuộc thềm lục địa Việt Nam (gồm bãi Phúc Trần, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Nguyên, Tứ Chính) Căn cứ vào hải đồ vẽ năm 1979 của Cục Bản đồ Quân sự Bộ Tổng tham mưu (Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), quần đảo Trường Sa có thể chia ra làm các cụm chính kể từ bắc xuống nam: cụm Song Tử, Thị Tứ, Loai Ta, Nam Yết hay Ti Gia, Sinh Tồn, Trường Sa, An Bang, Bình Nguyên

Tầm quan trọng của hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa đảo ở miền Trung được đánh giá là án ngữ nhiều tuyến hàng hải và hàng không quan trọng của thế giới và khu vực, năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông bao gồm các con đường từ Tây Âu, bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy- ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân, con đường hàng hải bắc Thái Bình Dương từ tây bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam

Á, con đường từ Đông Á đến Úc và Niu Di Lân, và từ Đông đến Trung Đông Nền kinh tế của nhiều nước trong khu vực Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo phụ thuộc vào các tuyến hàng hải này

Với vị trí quan trọng của nó, từ trong lịch sử, vùng biển Việt Nam nói chung, miền Trung nói riêng đã được cha ông chú ý khai thác và bảo vệ, thực thi chủ quyền lãnh thổ như là một phần máu thịt của quốc gia Đại Việt

Trang 27

1.2 TRUYỀN THỐNG BẢO VỆ VÀ THỰC THI CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TẠI MIỀN TRUNG TRƯỚC TRIỀU NGUYỄN

1.2.1 Truyền thống bảo vệ biển

Trước khi miền Trung về với Đại Việt thì đây là địa bàn được làm chủ bởi người Chămpa, một dân tộc có truyền thống hướng biển và làm chủ mặt biển Người Chămpa rất giỏi nghề đi biển, điều đó được khẳng định như một tất yếu Kỹ thuật đóng thuyền đi biển của người Chămpa đạt đến trình độ kỹ thuật cao Họ có tiếng hung bạo trên biển, làm chủ mặt biển và bố trí lực lượng dự phòng tại các cửa

biển Theo Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, năm 1044, thuyền chiến nhà Lý khi tới

cửa Tư Dung thì "nghe tin Chiêm Thành đem quân và voi bày trận ở bên nam sông Ngũ Bồ" [102: 308] Muộn hơn, năm 1069, Lý Thường Kiệt tiên phong đem 5 vạn quân đi đường thủy vào đánh Champa, "đến cửa Nhật Lệ [cửa Động Hải] thuyền quân bị thủy quân Chiêm Thành chặn đánh Cửa Nhật Lệ rộng, sâu, chiến thuyền lớn vào được, thủy quân Chiêm Thành tập trung ở đó để bảo vệ lãnh thổ, sau này thủy quân Việt vào đánh Chiêm Thành cũng ghé ở đó" [98: 44-45] Như thế cũng cho thấy sự phòng thủ của Chămpa là ở cửa biển lớn, sẵn sàng bảo vệ và nghênh chiến với thuyền chiến Đại Việt Vào giai đoạn sau thì sự phòng thủ của Chămpa trở nên suy giảm, đến nỗi thời Trần Anh Tông, có lần Đoàn Nhữ Hài đi sứ đến Trà Bàn, đến cửa biển Ti Ni (tức cửa Thị Nại) của Chămpa là nơi thương thuyền các nơi

tụ tập đông, tuyên bố việc cấm buôn bán rồi đem bảng yết thị treo lên Với lực lượng yếu dần, quân Chămpa thường quấy phá, cướp bóc nhân dân ven biển Đại Việt nhưng không có khả năng ở lại mà thường rút lui

Vào giai đoạn đất nước chia cắt, tình hình chiến tranh trong các thế kỉ XVII, cùng với nhu cầu bảo vệ, thực thi chủ quyền vùng biển trước sự xâm nhập của thực dân phương Tây đã thúc đẩy quân thủy phát triển mạnh theo hai hướng: tăng cường trang bị và khả năng chiến đấu; mở rộng phạm vi hoạt động trên biển

XVI-[191: 421] Tuy nhiên, do đặc điểm chung của phương Đông, hoạt động bảo vệ biển

thời kỳ này lại không thể hiện rõ nét và chưa chuyên nghiệp Các tác giả Quân thủy

nhận xét: "mặc dù có hoạt động trên biển, nhưng cho đến trước thế kỷ XVII, vùng biển phương Đông này không mấy khi đặt ra nhu cầu giành giật hay bảo vệ quyền lợi trên biển một cách bức bách và thường xuyên như Địa Trung Hải đương thời

Trang 28

Không có những bộ phận lớn thường trực trên biển là nét chung của lực lượng vũ trang phương Đông cho đến tận thời cận đại" [191: 423] Theo tác giả Trần Quốc Vượng, thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong cũng là thời kỳ “phục hưng của các cảng thị miền Trung”, và đây cũng là bước đột phá đặc biệt, chính vì vậy việc phòng thủ

cũng phải gắn liền Tấm bản đồ Giáp Ngọ niên bình Nam đồ cho biết cảng thị và

đồn phòng thủ Đàng Trong rất nhiều [14] Theo A de Rhoded, thời kỳ này có khoảng 200 thuyền, tập trung ở ba nơi chính: một là bến con sông lớn (sông Gianh)

68 chiếc, hai là Kẻ Chiêm, ba là ở biên giới nước Chàm (Chămpa) vùng Khánh Hoà ngày nay [174: 45]

Chúa Nguyễn bố trí lực lượng thủy quân trên ba vùng chiến lược nhằm chống

sự đe dọa từ phương Bắc (quân Trịnh), phương Nam (Chămpa) và một lực lượng bảo vệ cửa biển "Kẻ Chiêm", đại diện cho mặt kinh tế, thương mại và là vùng "yết hầu" của chúa Cristoforo Borri cho biết người Đàng Trong rất thành thạo trong nghệ thuật sử dụng các đại bác và thủy chiến: “họ biết nạp đạn và bắn giỏi hơn cả người Âu Châu Họ tự huấn luyện để đảm bảo khả năng bằng các cuộc thực tập liên tục và các cuộc bắn bia, họ khá thành công vì thế họ kiêu ngạo về chuyện đó và tự tán tụng giá trị của mình; khi các tàu Âu Châu đến hải cảng của họ, các thủy binh của nhà vua liền thách đố các xạ thủ của chúng ta, những người này biết rằng không thể so sánh với họ nên tránh cuộc thách thức chừng nào họ tránh được” [12: 401] Ông cho biết thêm, người Đàng Trong “có hơn 100 chiến thuyền Và như thế họ trở nên mạnh trên mặt biển” [12: 402]

Về huấn luyện thủy quân, sử nhà Nguyễn cho biết, tháng 7.1642, “một hôm chúa ngự thuyền đi chơi cửa Eo [Thuận An ngày nay], thấy thủy quân không được chỉnh tề, bèn ra lệnh ba huyện Hương Trà, Quảng Điền và Phú Vang làm trường thao diễn thủy quân Từ đấy trở đi thủy quân đều tinh luyện" [149: 55] Các chúa Nguyễn cho xây dựng những căn cứ hải quân, tác giả Huỳnh Lý cho biết: "Tôi đã xem một bản đồ tình báo của một hạm trưởng Pháp gửi lên Bộ trưởng bộ Hải quân,

vẽ năm 1757, vẽ vùng bờ biển từ Huế và cửa Thuận, vào đến Hội An và Thanh Chiêm, trong đó vẽ cả sông Hương, sông Cổ Cò từ vịnh Đà Nẵng vào Hội An và sông Thu Bồn cho đến Thanh Chiêm Chúng ta biết rằng Thanh Chiêm là trại Thủy Quân, cũng là nơi ta thu thuế các tàu buôn Trong bản đồ ấy chúng có vẽ cả thuyền

Trang 29

chiến của ta, nhìn ngang, nhìn dọc và nhìn từ đằng lái- Mỗi be thuyền có 25 tay chèo, và chúng bảo dài độ 45m, rộng 4,5m, có hai đại bác nhẹ” [106: 106]

Dưới thời chúa Nguyễn, tài liệu ghi nhận những chiến công trong việc bảo vệ vùng biển đảo, chống lại sự đe dọa của các thế lực bên ngoài Tài liệu cho thấy các chúa Nguyễn sẵn sàng bảo vệ vùng biển của mình như năm 1559, tàu Tây Ban Nha

đã bị lực lượng phòng hải của chúa cảnh cáo: "mờ sáng ngày 3.9.1559, quân Tây Ban Nha thấy cả một rừng lưỡi giáo tua tủa quanh các núi trọc nơi đậu thuyền, đồng thời có nhiều chiếc thuyền mang chất cháy đi hàng ba nhằm thẳng tàu Tây Ban Nha tiến tới; cùng lúc đó, pháo từ các đồn lũy trên bờ phát hỏa Cảm thấy bị phục kích

và tiến công, hạm thuyền Tây Ban Nha vội bỏ chạy và nhờ trận gió tây, quân Tây Ban Nha mới thoát nạn" [93: 89] Năm 1585, một sự nhầm lẫn nhưng cũng đáng lưu

ý về sức mạnh thủy quân Đại Nam thực lục tiền biên chép: “Năm Ất Dậu (1585),

bấy giờ có tướng giặc nước Tây dương hiệu là Hiển Quý đi 5 chiếc thuyền lớn đến đậu ở Cửa Việt để cướp bóc ven biển Chúa sai hoàng tử thứ 6 lĩnh hơn 10 chiếc thuyền, tiến thẳng đến cửa biển, đánh tan 2 chiếc thuyền giặc Hiển Quý sợ chạy

từ đó giặc biển im hơi" [149: 32] Sự kiện này, tác giả Nguyễn Thế Anh vẫn cho rằng đó là hải tặc: "sự thật là hải tặc người Nhật, Shirahama Kenki, sẽ còn được nhắc đến 16 năm sau trong một lá thư chúa Nguyễn Hoàng gửi năm 1601 cho Ieyasu" [1] Sau này sự việc được xác định là "đánh nhầm" vào thuyền của một thương gia Nhật Bản Bên cạnh hai cuộc đụng độ trên còn có hai cuộc đối đầu khác diễn ra tại vùng biển Đàng Trong mà phần thắng thuộc về thủy quân chúa Nguyễn Một cuộc diễn ra giữa quân chúa Nguyễn với tàu chiến Hà Lan vào giữa thế kỷ XVII và một cuộc đụng độ khác diễn ra vào đầu thế kỷ XVIII với việc quân chúa Nguyễn đã đẩy lui quân Anh muốn xâm chiếm Côn Đảo [40], [42]

Dưới thời Tây Sơn, tuy thời gian tồn tại không dài nhưng triều đại này rất chú

trọng tăng cường thủy quân theo hướng quân thủy biển Theo các tác giả Quân thủy,

để làm được điều đó Tây Sơn đã tập trung vào bốn việc chính: 1 Tăng cường hệ thống bố phòng các cửa biển và hải cảng; 2 Đóng thêm thuyền chiến lớn và các biện pháp nhằm tăng sức chiến đấu của thuyền chiến; 3 Sử dụng “cướp biển”; 4 Khai thác kỹ thuật quân sự phương Tây Tây Sơn đã nhiều lần ban chiếu chiêu dụ lực lượng tàu ô, kêu gọi họ sớm đầu hàng sẽ “mở lòng bao dung, tùy tài cất dụng” Tác

Trang 30

giả Nguyễn Quang Ngọc trong một bài viết đã cho rằng đó là một chính sách quan trọng và có hiệu quả của vương triều này: “Qui thuận những người Trung Quốc xiêu dạt sống gửi trên mặt biển và sử dụng họ tham gia vào công việc giữ gìn Biển Đông

là một chính sách quan trọng và có hiệu quả cao của vương triều Tây Sơn” [117] Như vậy mặc dù có sự quan tâm khác nhau nhưng các triều đại quân chủ Việt Nam luôn chú ý đến phòng thủ ở các cửa biển, vùng biển chiến lược Bên cạnh hệ thống phòng thủ là việc thường xuyên trang bị thuyền chiến, vũ khí Và dĩ nhiên họ sẵn sàng thực thi chủ quyền khi cần thiết

1.2.2 Quản lý và khai thác nguồn lợi trên quần đảo Hoàng Sa – Trường

Sa trước triều Nguyễn

Trong các bản đồ, thư tịch cổ của nước ta đều có những ghi chép khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa thuộc phần lãnh thổ do các triều đại phong kiến Việt Nam quản lý, khai thác Đây là hai quần đảo nằm xa bờ, không phải là dải cát ven biển miền Trung kéo dài từ cửa Nhật Lệ (Quang Bình) tới Tư Dung (Thừa Thiên Huế) thường được gọi là “Đại Trường Sa”, “Tiểu Trường Sa” Tác giả Phan Huy Lê đã nhấn mạnh rằng, tuyệt đối không được nhầm lẫn giữa hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa với dải cát Đại Trường Sa, Tiểu Trường Sa: “Đại Trường Sa

đã xuất hiện từ thời Lý để chỉ dải cồn cát ven biển từ cửa Nhật Lệ (Đồng Hới, Quảng Bình) đến cửa Tư Dung (Tư Hiền, Thừa Thiên Huế) Sau khi cửa Eo bị vỡ thì dải cồn cát từ Cửa Việt (Quảng Trị) đến cửa Tư Dung gọi là Tiểu Trường Sa” [101: 7] Trong luận án tiến sĩ của mình, tác giả Nguyễn Nhã cho rằng: “Bãi Cát (Kát) Vàng hay Cồn Vàng là gốc từ chữ Nôm, Hoàng Sa gốc từ chữ Hán, đều đồng nghĩa (Sa = Cát, Hoàng = Vàng; Trường = Dài; Đại = Lớn; Vạn Lý = Vạn Dặm; bãi là chỗ đất nổi lên ở ven hay giữa sông, biển; cồn là gò đống nổi lên ở giữa sông hay biển Danh xưng từ chữ nôm "Cát Vàng" rất được thông dụng trong dân gian, được dân gian đặt tên sớm Tên gọi từ chữ Hán “Hoàng Sa” được giới nho sĩ dịch và viết

ra về sau Người Bồ Đào Nha, Hòa Lan gọi quần đảo là Parcel hay Pracel vào đầu thế kỷ XVI, khi ấy người phương Tây chưa biết đến các đảo ở phía nam mà sau này gọi là Trường Sa; trên bản đồ thường ghi “I de Pracell” như bản đồ Bartholomen Velho (1560), bản đồ Fernao Vaz Dourado (1590), bản đồVan Langren (1595)… Người Pháp, Anh gọi là Paracel vào thế kỷ XVII, XVIII trên các bản đồ hàng hải

Trang 31

Mãi đến năm 1787-1788, khi đoàn khảo sát Kergariou Locmaria xác định rõ ràng và chính xác vị trí của quần đảo Paracel như hiện nay, người phương Tây mới bắt đầu phân biệt quần đảo Paracel ở phía bắc với quần đảo ở phía nam mà sau này đến thập niên 40 trong thế kỷ XX người Pháp mới gọi là Spratly chỉ chung cho quần đảo Trường Sa [124: 1]

Đồng thời với quá trình Nam tiến của dân tộc, các chúa Nguyễn đã tiếp tục quản lý các quần đảo ngoài khơi Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vốn được người Việt khai thác và quản lý từ rất sớm và được coi như một nhóm các đảo ngoài

khơi Tập bản đồ Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư được Đỗ Bá Công Đạo vẽ năm Chính

Hòa thứ 7 (1686) có ghi chép về việc quản lý và khai thác của chúa Nguyễn trên quần đảo Hoàng Sa Ở tập bản đồ này, phần phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi ở phía biển có vẽ “Bãi Cát Vàng” và có lời chú giải nói rõ việc họ Nguyễn quản lý và khai thác “Bãi Cát Vàng”: “…Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài

độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh Mỗi lần có gió tây nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ra đấy; gió đông bắc thì thương thuyền chạy phía ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều bị chết đói cả Hàng hóa đều vứt bỏ ở đó Mỗi năm vào tháng cuối Đông, họ Nguyễn đưa

18 chiếc thuyền đến đó lấy hàng hóa, của cải, phần nhiều được vàng bạc, tiền tệ, súng đạn Từ cửa Đại Chiêm vượt biển đến đó thì một ngày rưỡi Từ cửa Sa Kỳ đến

đó thì nửa ngày Chỗ bãi cát dài ấy cũng có đồi mỗi…” [168]

Trong Đại Nam thực lục tiền biên, ghi về thời điểm năm 1711, lần đầu tiên nói

đến địa danh Trường Sa Sách chép: “mùa hạ tháng 4, sai đo bãi cát Trường Sa (Trường Sa hải chử) dài ngắn rộng hẹp bao nhiêu” [149: 126] Địa danh Trường Sa tiếp tục được nói đến trong sách này vào năm 1754, cho biết Hoàng Sa “tục gọi là Vạn Lý Trường Sa” [149: 164]

Trong các ghi chép của các nhà hàng hải phương Tây luôn xem các quần đảo giữa Biển Đông có quan hệ hữu cơ với vùng bờ biển Đàng Trong do chúa Nguyễn quản lý Tác giả Nguyễn Quang Ngọc cho rằng: “Các nhà hàng hải phương Tây đã

có nhiều ghi chép và vẽ bản đồ xác định vùng quần đảo giữa Biển Đông là Baixos

de Chapar (Bãi đá ngầm Chămpa) hay Pulo Capaa (Đảo của Chămpa) và đoạn bờ biển tương đương với khu vực từ cửa biển Đại Chiêm (Quảng Nam) đến cửa biển

Trang 32

Sa Kỳ (Quảng Ngãi) được gọi là Costa da Pracel (Bờ biển Hoàng Sa) Bước sang

thế kỷ XVII, số lượng tàu thuyền của người phương Tây đi đến vùng biển này thường xuyên hơn và nhận thức của họ về các quần đảo giữa Biển Đông cũng phong phú và chính xác hơn Nhiều tư liệu chép đến các vụ đắm tàu ở Paracel được người Đàng Trong ra tận nơi cứu hộ rồi đưa các nạn nhân về Quảng Nam Chính quyền Đàng Trong đã dành cho mình quyền giải quyết hậu quả và xử lý các hàng hoá tiền bạc trên các tàu bị đắm ở Hoàng Sa Chính vì thế mà vào năm 1701, các giáo sĩ người Pháp trên tàu Amphitrite khẳng định: "Paracel là một quần đảo thuộc

về vương quốc An Nam" [119]

Trong sách Hải ngoại kỷ sự của nhà sư Thích Đại Sán, người Trung Quốc sang

Đàng Trong năm 1695 có 3 đoạn miêu tả về Vạn Lý Trường Sa, trong đó có viết:

“Thời Quốc vương trước, hằng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền hư tấp vào” [161] Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân cho rằng đoạn văn trên không nên dịch là “thuyền đánh cá” mà nên dùng

“thuyền lớn” (điếu xá) sẽ hợp hơn với bối cảnh đoạn văn [137: 80]

Những tư liệu được chép trước thế kỷ XIX hầu hết có những nội dung tương tự như trên Đó là đều có miêu tả về vị trí, đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa giữa Biển Đông do các chúa Nguyễn quản lý Bên cạch đó các tài liệu cũng cho biết về cũng như cơ cấu, chức năng và hoạt động của đội Hoàng Sa lúc bấy giờ Trong các ghi

chép về Hoàng Sa, Trường Sa trước triều Nguyễn thì sách Phủ biên tạp lục của Lê

Quý Đôn viết vào năm 1776 có thể xem là đầy đủ nhất Sách này chép: "Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré ; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày 3 đêm thì mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn Lấy được hoá vật của tàu, như là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều Đến kỳ tháng 8 thì

Trang 33

về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn

Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản

Hoàng Sa chính gần phủ Liêm Châu đảo Hải Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc Quốc, hỏi nhau ở trong biển Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương Quỳnh Châu gửi cho Thuận Hoá nói rằng: năm Kiền Long thứ 18 có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh đội Cát Liềm huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngãi nước An Nam ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán Nguyễn Phúc Chu (Nguyễn Phúc Khoát?) sai cai bạ Thuận Hoá là Thức Lượng hầu làm thư trả lời" [75: 116-120] Khảo tả của Lê Quý Đôn có thể xem là một ghi chép hoàn chỉnh về vị trí, đặc điểm của các quần đảo mà ông chép là đảo Đại Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa từng được đội Hoàng Sa của chúa Nguyễn hàng năm đều tới quản lý, khai thác

Sách Đại Việt sử ký tục biên (16761789) [66], bộ chính sử biên soạn thời Lê Trịnh, hay về sau là Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí trong đó

-những ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa cũng có nội dung tương tự ghi chép của Lê

Quý Đôn Trong đó sách Đại Nam thực lục tiền biên chép về một sự việc đội Hoàng

Sa ra đảo chẳng may gặp nạn, dạt vào hải phận Quỳnh Châu của nhà Thanh và được cứu giúp: “Năm 1754, mùa Thu, tháng 7, dân đội Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi thuyền

ra đảo Hoàng Sa, gặp gió dạt vào hải phận Quỳnh Châu nước Thanh Tổng đốc Thanh hậu cấp cho rồi cho đưa về Chúa sai viết thư [cám ơn]” [149: 164]

Qua sự việc trên cho thấy việc đội Hoàng Sa ra đảo không có sự tranh chấp nào Cũng nhân việc này, sách nói rõ thêm về quần đảo Hoàng Sa cũng như công tác khai thác, quản lý của đội Hoàng Sa, Bắc Hải thời chúa Nguyễn (Quốc sơ) như sau: “Ở ngoài biển, về xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, có hơn 130

Trang 34

bãi cát cách nhau hoặc đi một ngày đường, hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy nghìn dặm, tục gọi là “Vạn Lý Trường Sa” Trên bãi có giếng nước ngọt Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích, ba ba Buổi quốc sơ đặt đội Hoàng Sa 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hằng năm, đến tháng 3 thì đi thuyền ra, độ ba đêm ngày thì đến bãi, tìm lượm hóa vật, đến tháng 8 thì về nộp Lại có đội Bắc Hải,

mộ người ở thôn Tứ Chánh thuộc Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, sai đi thuyền nhỏ đến các xứ Bắc Hải, Côn Lôn, để tìm lượm hóa vật; đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản)” [149: 164]

Các thư tịch cổ của Việt Nam luôn xếp Hoàng Sa – Trường Sa vào phần hình thể, cương vực vùng biển Bên cạnh đó nhiều văn bản hiện còn lưu trữ trong dân gian ở phường An Vĩnh tại Cù Lao Ré, nay thuộc huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (do Nguyễn Quang Ngọc và Vũ Văn Quân phát hiện) cũng bổ sung thêm tư liệu về việc quản lý và khai thác tại Hoàng Sa Đó là đơn của ông Hà Liễu, cai hợp phường Cù Lao Ré, xã An Vĩnh, xin chính quyền Tây Sơn cho phép chấn chỉnh đội Hoàng Sa tiếp tục hoạt động Tờ chỉ thị ngày 14 tháng 2 Thái Đức năm thứ 9 (1786) của quan Thái phó Tổng Lý Quân Binh Dân Chư Vụ Thượng Tướng Công đốc suất công việc của đội Hoàng Sa Đơn của phường Cù Lao Ré xã An Vĩnh ngày 15 tháng Giêng năm 1776, lưu tại nhà thờ họ Võ thôn Tây xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi nói rõ đội Hoàng Sa đã có lịch sử lâu đời và bên cạnh chức năng thu lượm hoá vật, hải vật còn có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ an toàn vùng biển đảo:

"Nguyên xã chúng tôi từ xưa đã có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương Bây giờ chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu dâng nạp Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp " [119]

Có thể nói việc quản lý và khai thác quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trước thế

kỷ XIX đã được ghi chép trong các thư tịch trong và ngoài nước Các tư liệu đều khẳng định từ đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn đã quản lý và khai thác tại đây Đây là công việc do nhà nước quản lý và đội Hoàng Sa, Bắc Hải thực thi nhiệm vụ Hàng

Trang 35

năm vào lúc thuận gió, từ tháng 3 đến tháng 8 họ lại ra biển để làm nhiệm vụ của Nhà nước giao phó Họ đã xác định được tại đây có hơn 130 bãi cát và hải trình đi tới các hòn đảo như thế nào Bên cạnh đó, họ tổ chức thu lượm hóa vật, sản vật đem

về phủ Phú Xuân giao nộp Hoạt động này diễn ra thường xuyên, được duy trì dưới thời Tây Sơn và được kế tục, nâng cao hơn dưới triều Nguyễn

1.3 BỐI CẢNH CẢNH LỊCH SỬ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1885

Vào đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn được thành lập, khôi phục và củng cố chế

độ quân chủ tập quyền trong bối cảnh thế giới đang có bước chuyển biến mạnh mẽ Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản là sự phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật, trong đó có kỹ thuật quân sự Đây là thời đại của các nước tư bản phương Tây ráo riết tranh giành thị trường và xâm chiếm thuộc địa Nhiều nước phương Đông lần lượt bị thôn tính, điều đó đe dọa trực tiếp đến chủ quyền của các quốc gia phương Đông, trong đó có Việt Nam

Với vị trí nằm bên bờ Biển Đông, từ rất sớm các thế lực phương Tây trong quá trình tìm kiếm thị trường, thuộc địa đã rất mong muốn có được mảnh đất màu mỡ này Cuộc chiến tranh giành thị trường và thuộc địa ở phương Đông giai đoạn đầu thuộc về người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha Bồ Đào Nha đã chiếm Goa năm 1510, Malacca (1511), dòm ngó Trung Quốc (1514), Philippin (1521) Sau người Bồ Đào Nha là Hà Lan, Anh Năm 1702, người Anh từng xâm chiếm Côn Đảo nhưng đã bị thủy quân chúa Nguyễn dùng kế đẩy lui một năm sau đó [42]

Nhìn chung, từ những cuộc thăm dò thị trường, mở thương điếm đến việc tìm cách áp đặt thuộc địa ở phương Đông đã trở thành con đường quen thuộc của tư bản phương Tây tại phương Đông Trong cuộc đua này, tư bản Pháp tuy tới muộn nhưng lại thành công trong cuộc xâm lược Việt Nam vào thế kỷ XIX

Người Pháp tới Việt Nam muộn hơn Cơ hội để người Pháp tìm cách xâm chiếm Việt Nam bắt nguồn từ cuộc chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn khi Nguyễn Ánh giao con trai của mình là Hoàng Tử Cảnh cho giám mục Pigneau de Behaine (Adran - Bá Đa Lộc) làm con tin qua Pháp cầu viện Trong một bức thư của

Bá Đa Lộc viết ngày 20.3.1785, đã cho thấy rõ âm mưu của người Pháp trong thương vụ chính trị này: “nếu sau này cha cậu (chỉ Nguyễn Ánh) đi với phía người

Trang 36

Ăng Lê hay phía người Hoa Lang để nhờ họ giúp ông ta phục quốc thì quý cha sẽ cảm thấy là cái việc mà chúng ta có thể làm cho cậu con trai của ông ta ít ra cũng sẽ hữu ích vô cùng” [88: 389] Tham vọng của Bá Đa Lộc đã được thể hiện như thế Tuy nhiên rất may là mọi việc không xuôi chèo mát mái, những điều khoản từ Hiệp ước với Pháp không được thực thi, những ràng buộc không có điều kiện thực hiện nhưng dù sao, người Pháp vẫn có cớ lui tới, ít nhất là sâu hơn những người phương Tây đương thời

Sự chi viện của Pháp không bao giờ được thực hiện nhưng với sự nỗ lực của

Bá Đa Lộc và những kẻ phiêu lưu, Nguyễn Ánh vẫn nhận được một số giúp đỡ nhất định Trong quân đội của Nguyễn Ánh từ khi còn ở Gia Định đã sử dụng những thuyền chiến, chiến thuật và cả chỉ huy là người phương Tây Các cuộc hành quân của ông, cũng được đánh giá là theo binh pháp kiểu phương Tây Chính Nguyễn Ánh – Gia Long và các vua kế nghiệp hiểu rõ hơn ai hết ý đồ của các nước phương Tây lúc bấy giờ để đưa ra những biện pháp ứng phó

Trong quan hệ với Pháp, triều Nguyễn vốn đã có chút “duyên nợ” từ trước nên khi thành công vua Gia Long cũng không dễ từ chối quan hệ với họ Gia Long đã tiếp tục sử dụng một số người Pháp cho làm quan trong triều đình như một sự đền ơn Tuy nhiên, sang đến thời Minh Mạng thì sứ mạng của những vị quan này không còn, họ

đã về nước trong sự thất bại bởi không thể là cầu nối giữa Pháp và Việt Nam

Trong quan hệ với người Anh, năm 1804 phái đoàn Anh đã tới Việt Nam muốn thiết lập quan hệ, “dâng biểu xin thông thương” nhưng Gia Long đã từ chối:

“Tiên vương kinh dinh việc nước không để người Hạ lẫn người Di, đó thực là cái ý

đề phòng từ lúc việc còn nhỏ Người Hồng Mao [chỉ người Anh] gian giảo, trí trá, không phải nòi giống ta, lòng họ khác hẳn, không cho ở lại, ban cho ưu hậu mà khiến về…” Sau đó họ đã hai ba lần dâng thư nhưng vua Gia Long vẫn kiên quyết không cho [149: 603] Dưới thời Minh Mạng, người Anh tiếp tục tới xin thông thương nhưng vẫn không thu được kết quả

Hoa Kỳ cũng từng muốn đặt quan hệ với Việt Nam Năm 1820, John White đến Gia Định Năm 1832, Edmond Roberts đến Việt Nam trình quốc thư nhưng Minh Mạng không tiếp Không nản chí, năm 1836, Edmond Roberts mang theo quốc thư trở lại nhưng vẫn không thành Tuy nhiên, càng về sau, trước tình hình thế giới có

Trang 37

nhiều biến đổi, nhất là bài học của các nước xung quanh kể cả Ấn Độ, Trung Quốc đã làm cho các vua Nguyễn thấy bất ổn Đến cuối thời Minh Mạng, ông đã nhiều lần cử các phái đoàn công tác ra bên ngoài vừa để mua hàng hóa nhưng chủ yếu là nắm tình hình thế giới Phái đoàn của Minh Mạng cử đi từng tới Pháp, Anh nhưng không được đón tiếp và không thu được kết quả nào bởi tình hình đã khó khăn hơn

Nhìn chung âm mưu xâm lược của các nước phương Tây, chủ yếu là Pháp vào Việt Nam là cả một quá trình, qua nhiều thời gian Bước vào thế kỷ XIX, thủ đoạn của chúng càng nham hiểm và mạnh mẽ hơn, điển hình là các cuộc mang tàu chiến tới đòi thi hành Hiệp ước, đòi tự do tôn giáo và mở cửa thông thương Những va chạm của thuyền chiến phương Tây với quân đội nhà Nguyễn tại các cửa biển miền Trung những năm giữa thế kỷ XIX cho biết điều đó Thực tế, họ chưa thực hiện ý

đồ xâm lược do một số lý do nội tại chứ không hẳn e sợ sức mạnh phòng ngự của quân đội nhà Nguyễn

Đứng trước tình hình thế giới nhiều chuyển biến mạnh mẽ thì ở trong nước, Triều Nguyễn vẫn xây dựng và điều hành đất nước theo lối bảo thủ Hệ tư tưởng Nho giáo đã chi phối cách nhìn và cách thực hành của vua tôi nhà Nguyễn khi tự xem mình là nhất thiên hạ Triều Nguyễn cũng thực thi chính sách cấm đạo, giết đạo một cách không phân biệt Tuy vẫn để các thương thuyền phương Tây lui tới buôn bán nhưng không giao thương chính thức, nhất là với các nước phương Tây là chủ trương nhất quán của triều Nguyễn

Chúng tôi phát hiện trong Châu bản triều Nguyễn điều đặc biệt là tư tưởng hạn

chế giao thiệp với Pháp đã được định sẵn từ hồi Nguyễn Ánh còn ở Gia Định, Hoàng Tử Cảnh (Anh Duệ Hoàng thái tử) còn sống Chính Hoàng Tử Cảnh từng có hồi đáp người Pháp rằng: “Các vị đã từng nhận chức quan nước ta, đã được thiết đặt nhiều chức vụ quan trọng, cho thông thương buôn bán, hậu đãi rất nhiều Nay, ngoài vùng biển ta có bọn hải tặc lộng hành, các vị xin được đi dẹp loạn, điều đó là tốt Việc buôn bán, trao đổi thông thương qua lại thì không vấn đề gì, song việc thiết lập phố xá lâu dài thì không thể đồng ý Bởi, nước ta đã có điều lệ rằng: người ngoại quốc không được thiết đặt phố xá, cư ngụ lâu dài ở trong nước ta Đấy là qui tắc của vương triều, thống nhất rõ ràng trước nay, từ triều quan cho đến dân dã đều phải tuân thủ Bởi thế, quan lại ở địa phương không được phép tự tiện đồng ý cho người

Trang 38

các nước thiết lập phố xá cư trú lâu dài trên đất của vùng đó Thứ nữa, việc qúi quốc buôn bán nhiều vật hạng là điều tốt nhưng trong đó có Nha phiến – một trong những vật hạng thuộc quốc cấm của nước ta – cùng các loại trân châu, dị thảo, điều đó là sai với qui định Vậy, đề nghị các vị không được phép buôn bán những loại này trên lãnh thổ nước ta Người trong nước có truyền thống lấy nông nghiệp làm nghề chính yếu, làm ruộng nương và trồng dâu nuôi tằm đã trở thành phương kế sinh nhai bao đời nay Vậy nên, việc thu mua vật hạng, thiết lập phố thương, làm đảo lộn cuộc sống của dân cư nước ta đấy là điều nên tránh” [53: tập 112, tờ 86] Hồi đáp của Hoàng Tử Cảnh cho thấy sự cứng rắn trong tư tưởng của ông đối với người Pháp, làm đảo ngược những suy nghĩ của giới nghiên cứu vẫn thường coi ông là người có tư tưởng thân Pháp Tư tưởng hạn chế giao thương đó vẫn tiếp tục duy trì

về sau, khi thuyền Tây đến xin thông thương thì vua Nguyễn vừa tự cao, vừa lo sợ

họ có ý khác nên tìm lý do thoái thác: “Tiên vương kinh dinh việc nước không để người Hạ lẫn người Di, đó thực là cái ý đề phòng từ lúc việc còn nhỏ” [149: 603] Các vua Nguyễn đã luôn coi phương Tây có những đe dọa tiềm tàng đối với an ninh và rối loạn tư tưởng thống trị là Nho giáo Kinh tế trong nước vẫn là nền nông nghiệp lạc hậu, đời sống nhân dân khó khăn Phong trào đấu tranh nông dân diễn ra liên tục, ngày càng lan rộng đã làm suy giảm sức mạnh của chính quyền và của cả dân tộc Trong bối cảnh đó, mặc dù triều Nguyễn nhận thấy những nguy cơ tiềm ẩn buộc phải thực thi một số chính sách về quốc phòng, an ninh nói chung, phòng thủ biển nói riêng nhưng nhìn chung không đủ để vươn tới tầm khoa học kỹ thuật của thời đại

Vào giai đoạn sau, nhất là từ cuối thời Thiệu Trị, khi sự thăm dò và đụng độ của thực dân phương Tây với tại các cửa biển miền Trung đã ngày một tăng Nguy

cơ của một cuộc chiến xâm lược đã rõ thì quan hệ của triều Nguyễn với phương Tây trở nên căng thẳng Vua Nguyễn cũng thấy được sự cần thiết phải tăng cường hơn nữa việc bố phòng cửa biển và tăng cường tuần tra, thể hiện ý chí sẵn sàng nhưng vẫn chỉ dừng lại ở cách phòng thủ truyền thống mà không có những giải pháp mang tính đột phá, thể hiện sự lúng túng trong cách ứng phó với phương Tây

Sang thời Tự Đức, cuộc chiến bảo vệ đất nước mới thực sự bắt đầu Tháng 9 năm 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công vào cảng Đà Nẵng, nơi hệ thống

Trang 39

phòng thủ vùng biển được xem là mạnh nhất nhưng chúng không mất quá nhiều thời gian để làm chủ thế trận Chúng chỉ thực sự khó khăn khi cố tiến sâu vào bên trong cũng như tìm một lối đi đến Huế không trở thành hiện thực Cầm chân được liên quân Pháp – Tây Ban Nha tại Đà Nẵng sau 18 tháng kiên trì kháng chiến là thành công lớn của vua tôi nhà Nguyễn

Kể từ khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công xâm lược tại Đà Nẵng năm

1858 đến khi Pháp chiếm được Kinh đô Huế năm 1885 là một quá trình kéo dài 27 năm Trong khoảng thời gian này có lúc hòa hoãn, lúc căng thẳng Trong lúc mục tiêu xâm lược của kẻ thù là không đổi thì phía triều đình Huế các về sau càng có sự phân hóa rõ rệt trong tư tưởng đánh Pháp Sự phân hóa tư tưởng nên chiến hay hòa thể hiện sự lúng túng trong ứng phó với quân xâm lược trong khi trên chiến trường quân Pháp hoàn toàn chiếm ưu thế Triều đình Huế từng bước nhân nhượng rồi đi đến ký các hiệp ước đầu hàng rồi cuối cùng dâng toàn bộ đất nước cho Pháp

Nhìn chung sau khi tái lập, triều Nguyễn đã khôi phục chế độ quân chủ trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến đổi Các vua đầu triều nguyễn từ Gia Long tới Tự Đức đều có tinh thần dân tộc trong ý thức về chủ quyền, lãnh thổ, không chỉ trên đất liền mà chú trọng cả về biển đảo, ý thức được tầm quan trọng của công tác phòng thủ, bảo vệ đất nước Tuy vậy, đây cũng là giai đoạn sự bùng nổ các mẫu thuẫn xã hội và các cuộc khởi nghĩa nông dân lan rộng đã làm sức mạnh của dân tộc suy giảm trong bối cảnh phải tiến hành cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Tây

1.4 BIỂN ĐẢO MIỀN TRUNG TRONG TẦM NHÌN QUỐC PHÒNG -

AN NINH DƯỚI TRIỀU NGUYỄN

Cương vực lãnh thổ Việt Nam có một quá trình mở rộng qua hàng trăm năm Nam tiến, trong đó quá trình lâu dài và bền bỉ nhất chủ yếu diễn ra tại các tỉnh miền Trung Miền Trung vừa có đất đứng chân, vừa có biển cả trải rộng Các tỉnh miền Trung bao gồm các tỉnh từ Thanh Hóa tới Bình Thuận ngày nay nhưng vùng Thanh

- Nghệ - Tĩnh không thuộc quá trình Nam tiến mà là đất cũ của Đại Việt Vùng đất tương đương các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị được sát nhập vào Đại Việt thời Lý Sang thời Trần, lãnh thổ được mở rộng tới đèo Hải Vân Đầu thời Hồ, có khi lãnh thổ được mở rộng tới Quảng Ngãi, tuy thế, sau thất bại của cuộc kháng chiến chống

Trang 40

quân Minh xâm lược, vùng đất này nhanh chóng bị quân Chămpa giành lại Thời Hậu Lê, lãnh thổ được mở rộng tới đèo Cù Mông, có ý kiến cho rằng đội quân của

Lê Thánh Tông thậm chí đã tới núi Đá Bia, Phú Yên ngày nay Sang thời chúa Nguyễn, do áp lực cuộc chiến tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài nên công cuộc tiến

về phương Nam được đẩy mạnh hơn lúc nào hết, lãnh thổ phía Nam của dân tộc cũng vì thế mà được mở rộng, trong đó có các tỉnh miền Trung còn lại như Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay

Qua quá trình cải cách hành chính, các tỉnh miền Trung nhiều lần được tách, nhập, thay đổi tên gọi Mãi đến cuộc cải cách hành chính lớn dưới thời vua Minh Mạng, tên gọi các tỉnh mới được ổn định như ngày nay Do đặc điểm lịch sử, các tỉnh miền Trung được ví như chiếc “đòn gánh” gánh hai đầu đất nước Đây là vùng đất có địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi vô số các con sông chảy từ Tây sang Đông tạo nên nhiều cửa biển, vừa là cánh cửa thông thương ra bên ngoài vừa là chỗ hiểm yếu để tổ chức hệ thống phòng bị đất nước chống lại các cuộc tấn công từ bên ngoài Bên cạnh đó, miền Trung có vùng biển dài và rộng nhất đất nước, có nhiều đảo và quần đảo chiến lược mà càng đi sâu khám phá các chính quyền phong kiến Việt Nam càng đánh giá cao vai trò của biển đảo cũng như ý thức rõ ràng về vùng lãnh thổ rộng lớn và đầy tiềm năng này

Với vai trò quan trọng, có tính địa chính trị, chiến lược, miền Trung không chỉ giúp các chúa Nguyễn “vạn đại dung thân” mà còn là cơ sở quan trọng để mở mang đất đai, là bàn đạp giúp các triều đại phong kiến tiến dần từng bước xuống phía Nam và cả Nam Bộ Với vai trò quan trọng đó, ngay sau khi hoàn thành công cuộc thống nhất, Gia Long đã lựa chọn chốn đóng đô tại đây, ông lấy Phú Xuân làm trung tâm để xây dựng đất nước Gia Long từng khẳng định vị trí này là đắc địa:

“Kinh sư là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền Nam - miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm; đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân chặn ngăn” [141: 13] Vua Minh Mạng cùng đồng quan điểm đó khi đánh giá rất cao vị thế hiểm yếu của Phú Xuân Trong một buổi thiết triều, vua dụ các thị thần về thế nước, khẳng định Phú Xuân là đất tốt nhất của đế vương, muôn đời không đổi: “lấy hình thế nước ta mà nói, Gia Định thì dòng sông quanh co, Bắc Thành thì đồng nội bằng phẳng, đều không có

Ngày đăng: 11/03/2017, 19:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh (2003), “Điểm sách: Đóng góp vào lịch sử lãnh thổ các chúa Nguyễn tại miền Nam Việt Nam”, Nghiên cứu Huế, (5): 363 - 365 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm sách: Đóng góp vào lịch sử lãnh thổ các chúa Nguyễn tại miền Nam Việt Nam”, "Nghiên cứu Huế
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Năm: 2003
2. Việt Anh (2014), “Tư liệu Hán Nôm Việt Nam trong văn khố hải ngoại (Aix- en provence, Pháp)”, Tạp chí Hán Nôm, số 2 (123): 53-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu Hán Nôm Việt Nam trong văn khố hải ngoại (Aix-en provence, Pháp)”, "Tạp chí Hán Nôm
Tác giả: Việt Anh
Năm: 2014
3. Đỗ Bang (1996), Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII - XVIII, NXB TH - Hội KHLS Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII - XVIII
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: NXB TH - Hội KHLS Việt Nam
Năm: 1996
4. Đỗ Bang (2003), “Những chiến công chống ngoại xâm vùng biển thời các chúa Nguyễn”, Tạp chí Huế Xưa & Nay, (57): 66 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chiến công chống ngoại xâm vùng biển thời các chúa Nguyễn”, "Tạp chí Huế Xưa & Nay
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 2003
5. Đỗ Bang (2010), “Hệ thống công trình phòng thủ Đà Nẵng (1802-1885)”, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 217 (1/2010): 39-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống công trình phòng thủ Đà Nẵng (1802-1885)”, "Tạp chí Lịch sử quân sự
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 2010
6. Đỗ Bang (2010),“Hệ thống các công trình phòng thủ cửa biển Thuận An và hạ lưu sông Hương dưới triều Nguyễn”, Tạp chí Huế Xưa & Nay, số 100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các công trình phòng thủ cửa biển Thuận An và hạ lưu sông Hương dưới triều Nguyễn”," Tạp chí Huế Xưa & Nay
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 2010
7. Đỗ Bang (2011), Hệ thống phòng thủ miền Trung dưới triều Nguyễn, NXB Văn hóa Thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống phòng thủ miền Trung dưới triều Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2011
8. Đỗ Bang (2012), "Khai thác kinh tế và thực thi chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa dưới triều Nguyễn", Huế Xưa & Nay, số 114: 6-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác kinh tế và thực thi chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa dưới triều Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang
Năm: 2012
9. Đỗ Bang chủ biên (2014), Triều Nguyễn với công cuộc bảo vệ biển đảo tổ quốc thế kỷ XIX, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triều Nguyễn với công cuộc bảo vệ biển đảo tổ quốc thế kỷ XIX
Tác giả: Đỗ Bang chủ biên
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2014
10. John Barrow (2008), Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793), Nguyễn Thừa Hỷ dịch, NXB Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793)
Tác giả: John Barrow
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2008
11. C. Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị dịch, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong năm 1621
Tác giả: C. Borri
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
12. C. Borri (1931), “Bản tường trình về xứ Đàng Trong”, (L. Cadière viết lời tựa), bản dịch năm 2003, BAVH, Tập 18: 330 - 552 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tường trình về xứ Đàng Trong”, (L. Cadière viết lời tựa), bản dịch năm 2003, "BAVH
Tác giả: C. Borri
Năm: 1931
13. Bộ Ngoại giao, Ủy ban Biên giới Quốc gia (2013), Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Tác giả: Bộ Ngoại giao, Ủy ban Biên giới Quốc gia
Nhà XB: NXB Tri Thức
Năm: 2013
14. David Bulbeck, Li Tana (2006), “Giáp Ngọ niên bình nam đồ”, Anh Vân dịch, Tạp chí Huế Xưa & Nay, (76): 34 – 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáp Ngọ niên bình nam đồ”, Anh Vân dịch, "Tạp chí Huế Xưa & Nay
Tác giả: David Bulbeck, Li Tana
Năm: 2006
15. L. Cadière (1915), "Những người Âu đã thấy Huế xưa: linh mục De Rhodes", BAVH, tập 2, bản dịch năm 1997, NXB TH, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người Âu đã thấy Huế xưa: linh mục De Rhodes
Tác giả: L. Cadière
Nhà XB: NXB TH
Năm: 1915
16. L. Cadière (1920), "Một pho sử mới về xứ An - Nam", BAVH, Tập 7, Bửu Ý bản dịch năm 2001, NXB TH, Huế: 222- 289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một pho sử mới về xứ An - Nam
Tác giả: L. Cadière
Nhà XB: NXB TH
Năm: 1920
17. L. Cadière (1926), "Những người Pháp phục vụ vua Gia Long: Thư tín liên lạc của họ", BAVH, Tập 13 bản dịch năm 2004, NXB TH, Huế: 465 - 568 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người Pháp phục vụ vua Gia Long: Thư tín liên lạc của họ
Tác giả: L. Cadière
Nhà XB: NXB TH
Năm: 1926
18. L. Cadière (1929), "Những người Âu đã thấy Huế xưa: mục sư De Choisy", BAVH, Tập 16, bản dịch năm 2003, NXB TH, Huế: 239 - 277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người Âu đã thấy Huế xưa: mục sư De Choisy
Tác giả: L. Cadière
Nhà XB: NXB TH
Năm: 1929
19. Lê Thanh Cảnh (1928), "Những ghi chú về thiết lập nền bảo hộ Pháp ở An Nam", BAVH, Tập 15, bản dịch năm 2004, NXB TH, Huế: 352 - 384 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ghi chú về thiết lập nền bảo hộ Pháp ở An Nam
Tác giả: Lê Thanh Cảnh
Nhà XB: NXB TH
Năm: 1928
20. Lê Thanh Cảnh (1928), "Những ghi chú về thiết lập nền bảo hộ Pháp ở An Nam", (tiếp theo), BAVH, Tập 15, bản dịch năm 2004, NXB TH, Huế: 497 - 514 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ghi chú về thiết lập nền bảo hộ Pháp ở An Nam
Tác giả: Lê Thanh Cảnh
Nhà XB: NXB TH
Năm: 1928

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w