Xin gửi lời cám ơn đến Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương, Phòng Giáo dục Mầm non, Phòng Kế hoạch Tài chính, Phòng Tổ chức Cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đ
Trang 1ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Minh Tâm
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON CỦA CÁC PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Minh Tâm
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON CỦA CÁC PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG THỊ NHỊ HÀ
ố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và động viên rất quý báu của Thầy cô, Gia đình, Bạn bè và Anh chị em đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Hoàng Thị Nhị Hà – người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời tri ân đến Quý thầy cô và cán bộ của Trường đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi và đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập
Xin gửi lời cám ơn đến Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Dương, Phòng Giáo dục Mầm non, Phòng Kế hoạch Tài chính, Phòng Tổ chức Cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện thị, các trường Mầm non và các Sở Ban ngành trên địa bàn tỉnh Bình Dương
đã cung cấp các số liệu có liên quan đến đề tài và có ý kiến đóng góp về các giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non mà đề tài nêu ra
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến Quý đồng nghiệp, bạn bè
và gia đình đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình tham gia học tập và thực hiện luận văn
Tp Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2014 Tác giả Nguyễn Thị Minh Tâm
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 9
DANH MỤC CÁC BẢNG 10
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ 11
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON 8
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Các nghiên cứu về công tác xã hội hóa giáo dục ở một số nước trên thế giới 8
1.1.2 Các nghiên cứu về công tác xã hội hóa giáo dục và xã hội hóa giáo dục Mầm non tại Việt Nam 11
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 14
1.2.1 Xã hội hóa 14
1.2.2 Xã hội hóa giáo dục 14
1.2.3 Xã hội hóa giáo dục Mầm non 16
1.2.4 Quản lý 17
1.2.5 Quản lý giáo dục 18
1.2.6 Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non 18
1.3 Cơ sở lý luận về công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non 19
1.3.1 Cơ sở pháp lý của công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non 19
Trang 51.3.2 Mục tiêu xã hội hóa giáo dục Mầm non 22
1.3.3 Nguyên tắc xã hội hóa giáo dục Mầm non 23
1.3.4 Nội dung của xã hội hóa giáo dục Mầm non 25
1.3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non 29 1.4 Cơ sở lý luận về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non 31
1.4.1 Chức năng của Phòng giáo dục – đào tạo 31
1.4.2 Nhiệm vụ - quyền hạn của Phòng giáo dục – đào tạo 31
1.4.3 Chức năng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non của Phòng giáo dục – đào tạo 33
1.4.4 Nội dung quản lý tác xã hội hóa giáo dục mầm non của Phòng giáo dục – đào tạo 35
1.5 Điều kiện đảm bảo thực hiện XHHGD thành công 36
1.5.1 Nguồn lực phi vật chất 36
1.5.2 Nguồn lực vật chất 39
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON CỦA CÁC PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO TỈNH BÌNH DƯƠNG – GIAI ĐOẠN 2010-2013 42
2.1 Khái quát về giáo dục – đào tạo tỉnh Bình Dương 42
2.1.1 Đặc điểm địa bàn tỉnh Bình Dương 42
2.1.2 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh Bình Dương 43
2.1.3 Khái quát tình hình giáo dục – đào tạo của tỉnh Bình Dương 44
2.2 Khái quát về mẫu nghiên cứu và cách thức xử lý số liệu 47
2.3 Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non của các phòng giáo dục – đào tạo tỉnh Bình Dương (2010 – 2013) 49
Trang 62.3.1 Thực trạng quy mô, mạng lưới trường lớp Mầm non 49
2.3.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên Mầm non 52
2.3.3 Đánh giá mức độ thực hiện và kết quả thực hiệnvề công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non tại tỉnh Bình Dương 58
2.4 Thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non của các phòng giáo dục – đào tạo tỉnh Bình Dương (2010 – 2013) 64
2.4.1 Quản lý công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ 64
2.4.2 Quản lý việc huy động các lực lượng xã hội phát triển quy mô, mạng lưới, đa dạng hóa các loại hình giáo dục Mầm non của các phòng giáo dục – đào tạo 65
2.4.3 Quản lý việc huy động các nguồn lực nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ 70
2.4.4 Đánh giá mức độ thực hiện và kết quả thực hiện về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non 74
2.5 Đánh giá chung về công tác xã hóa giáo dục Mầm non của tỉnh 79
2.5.1 Mặt mạnh 79
2.5.2 Mặt yếu – Nguyên nhân 80
2.5.3 Thời cơ 81
2.5.4 Thách t hức 82
Tiểu kết chương 2 83
Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON TỈNH BÌNH DƯƠNG 84
3 1 Những cơ sở đề xuất các biện pháp 84
3.1.1 Căn cứ vào cơ sở lý luận về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục Mầm
Trang 7non 84
3.1.2 Định hướng phát triển giáo dục Mầm non và xã hội hóa giáo dục Mầm non tỉnh Bình Dương giai đoạn 2013-2015 84
3.1.3 Căn cứ vào thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non của các phòng giáo dục – đào tạo tỉnh Bình Dương 86
3.2 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp 87
3.3 Các biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non trên địa bàn tỉnh Bình Dương 87
3.3.1 Đảm bảo hành lang pháp lý khi thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non 87
3.3.2 Quản lý chỉ đạo việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về giáo dục Mầm non 89
3.3.3 Quản lý chỉ đạo nâng cao năng lực sư phạm, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ giáo dục Mầm non 93
3.3.4 Củng cố, phát triển hệ thống trường Mầm non ngoài công lập, đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho giáo dục Mầm non 96
3.3.5 Tổng kết và phổ biến kinh nghiệm về công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non 98
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 99
3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp tăng cường xã hội hóa giáo dục Mầm non trên địa bàn tỉnh Bình Dương 100
3.5.1 Mục đích 100
3.5.2 Đối tượng khảo nghiệm 100
3.5.3 Kết quả khảo nghiệm 101
Tiểu kết chương 3 105
Trang 8KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC 119
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2 GDĐT Giáo dục – Đào tạo
3 HSSV Học sinh, sinh viên
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô các đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố
tỉnh Bình Dương 43
Bảng 2.2 Quy mô đội ngũ, cơ sở ngành Giáo dục – Đào tạo tỉnh Bình Dương năm 2013 46
Bảng 2.3 Mạng lưới GDMN Tỉnh Bình Dương năm học 2012 - 2013 49
Bảng 2.4 Tình hình huy động trẻ đến trường lớp Mầm non công lập và ngoài công lập năm học 2012 - 2013 51
Bảng 2.5 Quy mô đội ngũ giáo viên Mầm non tỉnh Bình Dương năm học 2012 - 2013 53
Bảng 2.7 Sự cần thiết của công tác XHH GDMN 58
Bảng 2.8 Nâng cao nhận thức và đẩy mạnh công tác thông tin và truyền thông về giáo dục mầm non 59
Bảng 2.9 Quỹ đất Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương giao hoặc cho thuê theo mục tiêu XHH GDMN đối với các trường Mầm non 60
Bảng 2.10 Thực hiện nội dung của công tác XHH GDMN của địa phương 62
Bảng 2.11 Thực hiện mục tiêu XHH GDMN của địa phương 63
Bảng 2.12 So sánh tình hình phát triển quy mô, mạng lưới GDMN tỉnh Bình Dương năm học 2012-2013 với năm học 2010-2011 66
Bảng 2.13 So sánh tình hình phát triển giáo dục Mầm non công lập tỉnh Bình Dương 2012-2013 với năm học 2010-2011 67
Bảng 2.14 So sánh tình hình phát triển giáo dục Mầm non ngoài công lập tỉnh Bình Dương năm học 2012-2013 với năm học 2010-2011 Error! Bookmark not defined Bảng 2.15 Quản lý kế hoạch, chương trình của công tác XHH GDMN 74
Bảng 2.16 Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch 75
Bảng 2.17 Tổ chức triển khai thực hiện công tác XHH GDMN 76
Bảng 2.18 Kiểm tra, đánh giá công tác XHH GDMN 77
Bảng 3.1 Ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non tỉnh Bình Dương 102
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lý 18Biểu đồ 3.1 Biểu đồ ý kiến của CBQL về tính cần thiết của các biện pháp 103Biểu đồ 3.2 Biểu đồ ý kiến của CBQL về tính khả thi của các biện pháp 104
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Trong những năm qua, quán triệt quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân”, công tác xã hội hóa giáo dục (XHH GD) nói chung và xã hội hóa (XHH) giáo dục Mầm non (GDMN) nói riêng được xem như là một trong những giải pháp củng cố, tăng cường hiệu
quả giáo dục của hệ thống GDMN đồng thời đáp ứng phần nào nhu cầu của
xã hội Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội lần thứ VIII đã khẳng định [1]: “Các vấn đề chính sách xã
hội đều giải quyết theo tinh thần XHH Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng
thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội”
Mục đích cuối cùng của quá trình XHH sự nghiệp giáo dục là nâng cao thêm
mức hưởng thụ về giáo dục của nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh
thần và vật chất của từng người dân Luật giáo dục năm 2005 và Luật giáo
dục sửa đổi năm 2009 (Điều 12, 13) [29] cũng xác định chăm lo cho sự nghiệp giáo dục là trách nhiệm chung của toàn xã hội Có thể nói, XHH là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta
Trong hệ thống giáo dục Quốc dân, GDMN được coi là cấp học đầu tiên, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự phát triển
về thể chất, trí tuệ, tình cảm của trẻ Chính vì thế, hầu hết các quốc gia và các
tổ chức quốc tế đều xác định GDMN là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người Trong hệ thống các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đến 5 năm 2011-2015, kết luận tại hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nêu rõ [1]: “Điều chỉnh chính sách về GDMN, giáo dục
miền núi; làm tốt công tác XHH GD để đảm bảo nhu cầu học tập của các đối tượng, nhất là GDMN” Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và
Trang 13Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ công tác quản lý của ngành Giáo dục phải [1]: “Chăm lo phát triển Mầm non”, đến năm 2020: “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển cấp học Mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi
Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình” Do vậy, trong những năm qua Nhà nước đã tập trung đầu tư rất lớn cho GDMN Tuy nhiên, cùng với tốc
độ tăng dân số, đời sống vật chất cũng như tinh thần ngày càng cao, với xu
thế toàn cầu hóa thì số lượng cũng như chất lượng các trường Mầm non hiện nay thật sự chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội Bên cạnh đó, nhu cầu GDMN ngày càng đa dạng Trường Mầm non không chỉ còn là nơi trông giữ trẻ mà
đã trở thành môi trường giáo dục chất lượng cao, chuẩn bị mọi tố chất cho trẻ phát triển ở những cấp học tiếp theo
Thực tiễn cho thấy, quá trình triển khai công tác XHH GDMN vẫn còn
tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề quản lý công tác XHH GDMN: Vẫn còn tồn tại một vài bộ phận quản lý và cộng đồng dân cư chưa nhận thức đầy đủ quan điểm giáo dục là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân nên công tác phối hợp đôi khi chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ giữa các
cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân; chưa thực sự chi phối sự chỉ đạo tổ chức
thực tiễn của một số cán bộ quản lý và các cấp quản lý, kể cả đầu tư cho giáo
dục và tạo cơ chế thuận lợi cho tổ chức và hoạt động GDMN
Cùng với sự phát triển của cả nước, Bình Dương là một trong những
tỉnh thuộc khu vực miền Đông Nam bộ có kinh tế phát triển khá nhanh và mạnh, thu hút một lượng khá lớn lao động nhập cư từ các tỉnh, thành trong cả nước về lập nghiệp Ngành Giáo dục- Đào tạo Bình Dương nói chung và GDMN nói riêng đang có những thuận lợi nhất định đồng thời cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, trong đó thách thức lớn nhất là giải quyết đủ chỗ học cho các cháu Vì vậy, tỉnh Bình Dương đã xem công tác XHH GDMN là một vấn đề cấp thiết trong tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh
Trang 14hiện nay, đẩy mạnh XHH GDMN là một trong những giải pháp quản lý cơ bản nhằm đáp ứng nhu cầu gửi con của các bậc cha mẹ và nâng cao chất lượng thực hiện chương trình GDMN
Công tác XHH GDMN tại tỉnh Bình Dương tuy đã được triển khai thực
hiện từ nhiều năm nay nhưng việc quản lý công tác XHH GDMN của các Phòng giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vẫn còn nhiều bất cập và thật sự chưa có
đề tài khoa học nào nghiên cứu về vấn đề quản lý công tác XHH GDMN tại các Phòng GDĐT tỉnh Bình Dương Bản thân đã nhiều năm làm công tác
quản lý GDMN, xét năng lực và điều kiện thực tế của bản thân, trước tình hình quản lý công tác XHH GDMN của các Phòng GDĐT, trước yêu cầu
XHH GDMN trên địa bàn tỉnh, bản thân đã chọn đề tài “Thực trạng quản lý
công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non của các phòng giáo dục và đào tạo tỉnh Bình Dương”
2 M ục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích, đánh giá thực trạng XHH GDMN của các phòng GDĐT tỉnh Bình Dương, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý công tác XHH GDMN để tăng cường công tác XHH GDMN
của các phòng GDĐT tỉnh Bình Dương
3 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý GDMN tỉnh Bình Dương
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý công tác XHH GDMN của các phòng GDĐT tỉnh Bình Dương
4 Gi ả thuyết khoa học
Quản lý công tác XHH GDMN của các Phòng GDĐT tỉnh Bình Dương
có thể đã khuyến khích một số doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế xã hội
và nhân dân đóng góp kinh phí, đất đai để phục vụ công tác XHH GDMN địa phương Tuy nhiên, trong quá trình triển khai công tác này chưa thực sự phát
Trang 15huy sức mạnh toàn diện trong huy động lực lượng và nguồn lực xã hội, nếu đánh giá đúng thực trạng và đề xuất được biện pháp khả thi thì công tác xã
hội hóa giáo dục Mầm non của tỉnh Bình Dương sẽ đạt được kết quả tốt hơn
5.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non
- Phân tích thực trạng quản lý công tác XHH GDMN của các phòng GDĐT tỉnh Bình Dương giai đoạn 2010 - 2013
- Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác XHH GDMN tại các phòng GDĐT tỉnh Bình Bình Dương
6 Gi ới hạn nghiên cứu
Gi ới hạn nội dung nghiên cứu:
Khảo sát thực trạng quản lý GDMN và tình hình quản lý công tác XHH GDMN của các Phòng GDĐT tỉnh Bình Dương giai đoạn 2010-2013 Đề xuất
một số biện pháp quản lý công tác XHH GDMN tỉnh Bình Dương Đề tài
phục vụ cho các cấp quản lý: Sở GDĐT Bình Dương, Phòng GDĐT 7 huyện/
thị xã/ thành phố thuộc tỉnh Bình Dương
Giới hạn mẫu nghiên cứu:
Đề tài tập trung khảo sát các đối tượng chính có liên quan trực tiếp đến công tác quản lý XHH GDMN của các Phòng GDĐT tỉnh Bình Dương gồm: Cán bộ quản lý Sở GDĐT, lãnh đạo, chuyên viên phụ trách GDMN Phòng GDĐT, ban giám hiệu các trường mầm non
Gi ới hạn thời giannghiên cứu: từ tháng 9/ 2010 đến tháng 4/2014
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận là lý luận tổng quát, là những quan điểm chung, là cách tiếp cận khoa học về vấn đề cần nghiên cứu
Trang 16Phân tích thực trạng và tình hình thực hiện công tác XHH GDMN của
tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 2010 - 2013 để đề xuất một số biện pháp
quản lý công tác XHH GDMN tỉnh Bình Dương được tiếp cận theo các quan điểm như sau:
- Quan điểm hệ thống - cấu trúc trong nghiên cứu khoa học: Nghiên
cứu nội dung XHH GDMN trong bối cảnh phát triển kinh tế, xã hội và giáo
dục của đất nước giúp người nghiên cứu tìm hiểu được sự ảnh hưởng tương tác giữa tình hình kinh tế - xã hội với tình hình thực hiện công tác XHH GDMN của tỉnh Bình Dương; vai trò của các cấp, các ngành, các tổ chức kinh
tế, các cá nhân trong sự nghiệp phát triển GDMN; mối quan hệ phối hợp chặt
chẽ giữa gia đình – nhà trường và xã hội trong công tác công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ nhằm đạt được mục tiêu GDMN là giúp trẻ phát triển toàn diện cả năm mặt: Phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển thẩm mỹ, phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội Từ đó, quan điểm hệ thống – cấu trúc giúp người nghiên cứu đề ra kết quả nghiên
cứu rõ ràng, khúc chiết, theo một hệ thống chặt chẽ có tính logic cao
- Quan điểm lịch sử - logic: Xem xét quá trình thực hiện công tác XHH giáo dục Mầm non của tỉnh Bình Dương trong bối cảnh phát triển giáo dục
tỉnh nhà và phát triển giáo dục Mầm non chung của cả nước Từ đó điều tra thu thập thông tin, số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu để đề
xuất một số biện pháp quản lý công tác XHH GDMN phù hợp với tình hình
và điều kiện thực tế của tỉnh Bình Dương
- Quan điểm thực tiễn: Nghiên cứu đánh giá thực tiễn thực trạng XHH GDMN và quản lý công tác XHH GDMN của tỉnh Bình Dương trên chủ trương chỉ đạo của các cấp và tình hình kinh tế xã hội của tỉnh để phát hiện
những mâu thuẫn, khó khăn, cản trở trong công tác công tác XHH GDMN
tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả công tác XHH GDMN tỉnh Bình Dương
Trang 177.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên
cứu sẽ được sử dụng như sau :
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp lý thuyết về XHH giáo dục, XHH GDMN, quản lý, quản lý công tác XHH GDMN, đồng
thời phân loại, hệ thống hóa tài liệu đánh giá về thực tiễn quản lý công tác XHHGDMN của tỉnh qua các báo báo tổng kết hàng năm, kế hoạch phát triển giáo dục, niên giám thông kê về công tác đào tạo của các phòng GDĐT tỉnh Bình dương
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
địa phương qua kiểm tra thực tế, quan sát các hoạt động XHH GDMNtại các
cơ sở GDMN trong địa bàn tỉnh Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình thực
tiễn để đề ra biện pháp quản lý công tác XHH GDMN của các các phòng GDĐT tỉnh Bình Duơng
trong báo cáo đánh giá về công tác XHH GDMN hàng năm 7 phòng giáo dục
tỉnh Bình Dương, kết quả thanh kiểm tra các cơ sở GDMN… trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn, thống kê tổng kết kinh nghiệm rút ra những
mặt mạnh, mặt hạn chế, điển hình chưa tốt trong công tác XHH GDMN
thống các câu hỏi dành cho đối tượng cán bộ quản lý Sở GDĐT, Phòng GDĐT, trường mầm non để thu thập dữ liệu về quản lý công tác XHH GDMN của các các phòng GDĐT tỉnh Bình Duơng
hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng các trường mầm non về công tác XHH GDMN tại đơn vị
Trang 18Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Thông qua việc tham khảo ý kiến
các chuyên gia, thu nhận kiến thức, kinh nghiệm của chuyên gia về các biện pháp đề xuất, để có ý kiến khách quan, khoa học từ đó điều chỉnh các giải pháp đề xuất cho phù hợp
số liệu thu được bằng phần mềm máy tính (phần mềm SPSS17.5 for window
và excel)
8 Cấu trúc của luận văn
- Phần mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác XHH GDMN
- Chương 2: Thực trạng quản lý công tác XHH GDMN của các phòng GDĐT
tỉnh Bình Dương giai đoạn 2010 - 2013
- Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác XHH GDMN tỉnh
Bình Dương và khảo nghiệm tính khả thi một số biện pháp
- Kết luận, khuyến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 19Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu về công tác xã hội hóa giáo dục ở một số nước trên thế giới
Ngày nay, quy mô phát triển của các nền kinh tế thị trường và các hệ
thống giáo dục định hướng thị trường ngày càng mở rộng trên toàn cầu Trong kinh tế thị trường, nền giáo dục của các nước vừa chịu sự quản lý và điều tiết
của nhà nước vừa chịu sự tác động của thị trường với các quy luật cạnh tranh, cung – cầu và giá cả… Chính điều này đã tạo nên sự đa dạng và tính phức tạp
Quốc là cuộc cải cách toàn diện, năng động, có quy mô lớn và được XHH cao
nhất so với tất cả các cuộc cải cách giáo dục trước đây
- Nghiên cứu của Vụ Giáo dục Trung học – Bộ Giáo dục và Đào tạo [32] cho thấy Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống giáo dục thống nhất trên toàn quốc, chính phủ đóng vai trò là nhà đầu tư chính và các đối tác xã hội là
Trang 20các nhà đồng đầu tư Bộ Giáo dục là cơ quan nắm quyền quản lý cao nhất,
chịu trách nhiệm thực thi các văn bản luật liên quan, các qui định, các hướng
dẫn và các chính sách của trung ương; lập kế hoạch phát triển ngành giáo dục; tích hợp và điều phối các sáng kiến và chương trình giáo dục cấp quốc gia; hướng dẫn thực hiện cải cách giáo dục trên toàn quốc Chính quyền cấp tỉnh
có vai trò xây dựng các kế hoạch, ban hành các quyết định và điều lệ liên quan trực tiếp đến địa phương, phân bổ các nguồn quỹ tới các địa khu, và
quản lý một số trường trung học điểm Chính quyền cấp địa khu có vai trò phân bổ các nguồn quỹ đến các huyện, giám sát hoạt động giáo dục, giảng
dạy và quản lý trường THPT, các trường sư phạm, các trường sư phạm tại
chức, các trường nghề nông nghiệp, cùng với trường tiểu học và THCS điểm
ở địa phương Chính quyền cấp huyện có vai trò quản lý các trường còn lại
gồm THCS, tiểu học và mẫu giáo Ngoài ra, những thành phần khác bao gồm các Bộ, các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước cũng góp phần trong đào
tạo nghề và giáo dục cho người lớn Nhà nước ủng hộ các tổ chức giáo dục tư
thục “Luật khuyến khích giáo dục tư thục” đầu tiên có hiệu lực từ ngày 01/9/2003 Sự phát triển của các trường tư thục đồng nghĩa với sự tăng lên về
tổng thể các nguồn cung cho giáo dục từ đó đáp ứng tốt hơn các nhu cầu giáo
dục, giúp nâng cao chất lượng cho giáo dục của Trung Quốc
Ở Malaysia, hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: GDMN, giáo dục
tiểu học, giáo dục trung học, giáo dục sau trung học Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học trong các trường công do Bộ Giáo dục quản lý, và chính sách giáo dục đại học xây dựng năm 2004 do Bộ Đại học quản lý Riêng đối
với GDMN (dành cho trẻ từ 4-6 tuổi), Chính phủ không có chương trình GDMN chính quy, ngoại trừ có một khoá bồi dưỡng chính thức để cấp chứng
chỉ cho hiệu trưởng và giáo viên trước khi họ thành lập và quản lý trường
mầm non Có các chương trình GDMN khác do các nhóm tôn giáo quản lý
Trang 21Vì vậy, tham gia học chương trình GDMN không phổ biến ở Malaysia và nhìn chung chỉ những gia đình giàu có mới đủ khả năng cho con học trường
Mầm non tư thục
Đối với Nhật Bản, hệ thống giáo dục được chuẩn hóa và thống nhất trên cả nước với đa số là các trường công lập Nhưng cũng giống như Malaysia, GDMN (dành cho trẻ từ 3 - 5 tuổi) là cấp học không bắt buộc Tuy nhiên, Chính phủ Nhật Bản khuyến khích tăng cường mở rộng và phát triển nhà trẻ, mẫu giáo theo hướng XHH nhằm tạo điều kiện cho các bà mẹ có thể yên tâm đi làm nên tỷ lệ trường Mầm non tư thục chiếm khá cao so với các
cấp học khác (Trường Mầm non tư khoảng 58%, trường tiểu học tư chỉ có khoảng 1%)
Ở Phần Lan, trẻ em và thế hệ trẻ luôn có địa vị đặc biệt trong xã hội
Phần Lan.Theo mô hình nhà nước phúc lợi, hầu hết mọi dịch vụ do chính phủ cung cấp cho mọi người đều miễn phí, đặc biệt đối với trẻ em Mọi loại hình giáo dục đều miễn phí, không những thế hệ thống giáo dục còn nhận được sự
hỗ trợ nhiều mặt, từ nhiều phía Các trường học cung cấp dịch vụ y tế miễn phí; học sinh và giáo viên được phục vụ ăn miễn phí trong trường; học sinh được sử dụng miễn phí máy tính và máy in; tất cả các máy tính trong trường đều kết nối Internet; học sinh từ lớp 1 trở đi có cơ hội tiếp cận tới các máy tính để nhận email từ nhà trường và dùng vào mục đích học tập khác; học sinh từ lớp 1 đến lớp 9 được cung cấp miễn phí sách giáo khoa, vở học tập và bút chì; đối với những học sinh ốm mệt trong ngày và nhà cách trường quá 5km đều được taxi hàng ngày đưa đón tới trường miễn phí Giáo viên có quyền in hoặc sao chép các bài giảng để phát miễn phí cho học sinh làm tài
liệu giảng dạy với số lượng không hạn chế Phần Lan chỉ có một số rất ít trường tư và ngay cả trường tư thì tài chính phần lớn cũng là từ chính quyền
- Theo nhóm nghiên cứu của Trần Quốc Toản [57], hệ thống giáo dục
Trang 22của Mỹ rất đa dạng các loại hình trường lớp: Trường công, trường tư, trường bán công, các doanh nghiệp, công ty đại học, trường vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, giáo dục gia đình… Ở Mỹ, trong GDMN không có các chương trình GDMN công lập do Chính phủ quản lý Chính phủ Liên bang chỉ có các chính sách trợ cấp cho các gia đình có thu nhập thấp để họ tự tìm kiếm nơi gửi con phù hợp
Qua các công trình nghiên cứu trên, ta thấy hầu hết các nước phát triển kinh tế thị trường đều có một nền giáo dục đa dạng và mở với các loại hình trường học khác nhau, sử dụng đa dạng các biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục Tìm hiểu cách làm giáo dục ở nhiều nước cho thấy sự tham gia của
cộng đồng vào giáo dục là phổ biến, thể hiện được nội hàm của xã hội hoá giáo dục
1.1.2 Các nghiên cứu về công tác xã hội hóa giáo dục và xã hội hóa giáo dục Mầm non tại Việt Nam
Nghiên cứu về XHH GDMN đã được sự quan tâm ở nước ta trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
Theo nghiên cứu “Phát triển giáo dục ngoài công lập – thực hiện chủ trương XHH giáo dục” của tác giả Bùi Tiến Hanh [37] thì phát triển giáo dục ngoài công lập (bán công, dân lập, tư thục) là biện pháp nhằm đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục Trong những năm qua sự phát triển giáo dục ngoài công lập đã đạt được một số thành tựu đáng kể
Nghiên cứu “Biện pháp quản lý công tác XHH GDMN tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh [38] cho biết: Trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta, chính quy hoá các hình thức và tổ
chức GDMN bằng con đường bao cấp là không thể thực hiện được vì quá khả năng kinh tế Mặt khác, nền kinh tế thị trường lại tăng thêm áp lực cho các gia đình nghèo, hạn chế cơ hội đến trường của trẻ em Vì vậy, XHH GDMN
Trang 23nhằm khai thác tối ưu tiềm năng của xã hội, góp phần nâng cao chất lượng GDMN, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển nhân cách và chuẩn bị tốt các điều kiện cho trẻ vào giáo dục tiểu học Việc huy động các nguồn lực cho GDMN sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến căn bản về chất lượng chăm sóc, giáo dục, tạo ra sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng GDMN
Theo tác giả Đào Thanh Âm, trong bài viết “Nhận thức cho đúng khái
niệm XHH công tác GDMN” [34] đã cho rằng XHH sự nghiệp GDMN là một bài học thành công trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống GDMN
của nước ta Đây cũng là một tư tưởng giáo dục lớn của Đảng và chủ trương
của Nhà nước nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài
để giáo dục tạo ra lớp người lao động mới phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo để đáp ứng đòi hỏi của nền công nghiệp hóa nước ta vào năm 2020
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và IX đã nêu ra
Với những suy tư, trăn trở về giáo dục, tác giả Hồ Thiệu Hùng, trong bài viết “Để GDMN vững bước trên con đường XHH” [43] cho biết: Muốn XHH GDMN thành công thì cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý công tác này từ nhiều phía: Nhà nước (từ trung ương đến địa phương), các tổ
chức kinh tế - xã hội, người dân, gia đình và bản thân ngành giáo dục
Trần Thị Hoa (2012) với nghiên cứu: “Một số nội dung cần đổi mới trong công tác xã hội hoá giáo dục”, Năm Căn, tỉnh Cà Mau [41] Tác giả đã tìm hiểu thực trạng đánh giá mặt mạnh, mặt yếu rút ra bài học kinh nghiệm về
xã hội hội hóa giáo dục ở trường THCS và đề xuất 5 giải pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục là: Tạo uy tín với phụ huynh, các cấp ủy Đảng, chính quyền và cộng đồng địa phương thông qua việc khẳng định uy tín chất lượng nhà trường; Tận dụng những kinh nghiệm và trí thức của phụ huynh, các đồng
Trang 24nghiệp đi trước; Làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo địa phương; Xây
dựng các cơ chế liên kết giữa nhà trường, gia đình, lực lượng xã hội; Quan tâm thực sự đến học sinh nghèo, học sinh khuyết tật học sinh đồng bào và con
em gia đình chính sách tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về công tác xã hội hóa để đáp ứng yêu cầu của trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nguyễn Thị Hoàng Yến, Đỗ Thị Bích Loan (2012) với đề tài Xã hội
thấy về quản lý công tác XHH GDMN đã: Phát triển đa dạng hơn, số lượng các trường ngoài công lập tăng nhanh đã lôi cuốn sự tham gia của các lực lượng xã hội, ban ngành hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non Qui mô trường mầm non ngoài công lập tiếp tục được củng cố và phát triển Tỷ lệ
giữa trường, học sinh và giáo viên của giáo dục mầm non phát triển mạnh và
hợp lý trong giai đoạn 2000-2005 vàgiảm sau đó trong giai đoạn 2006-2010
Nguyễn Võ Kỳ Anh (2014) trong đề tài: Xã hội hóa giáo dục mầm non
Viện Nghiên cứu giáo dục phát tiềm năng con người (IPD), Trung tâm Giáo
dục môi trườngvà sức khỏe cộng đồng (CECHC) [33] Tác giả với quan điểm
quản lý công tác XHH GDMN phải thực hiện chăm lo cho giáo dục mầm non
là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, của mỗi gia đình và toàn xã hội, có thể
khẳng định giáo dục mầm non là cấp học xã hội hóa cao hơn các cấp học khác Cho đến nay giáo dục mầm non đã và đang tồn tại đủ các quy mô trường, lớp, nhóm với các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục Loại hình trường tư thục đang trên đà phát triển ở các thành phố, thị xã và những nơi có nền kinh tế phát triển Loại hình bán công đang dần được chuyển sang
loại hình trường công lập
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề ra nhiều giải pháp quản lý
Trang 25cho công tác XHH GD, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của công tác XHH đối với sự nghiệp phát triển GDMN trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, để GDMN phát triển bền vững trong tình hình kinh tế - xã hội hiện nay, đặc biệt tìm ra những biện pháp, giải pháp phù hợp cho thực tiễn GDMN tỉnh Bình Dương thì chưa có đề tài nào đề
cập Chính vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác XHH GDMN tại tỉnh Bình Dương vẫn là vấn đề cấp thiết cần tiếp tục tìm hiểu phục
vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Xã hội hóa
Theo Dieter Lenzen , “XHH là quá trình là quá trình hội nhập của một
cá nhân vào xã hội hay một trong các nhóm của xã hội thông qua quá trình
học các chuẩn mực và các giá trị xã hội hay nhóm đó”
1.2.2 Xã hội hóa giáo dục
“XHH giáo dục là việc huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp phần xây dựng nền giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước.” (Văn kiện hội nghị lần 4, Ban chấp hành Trung ương khóa VII, 1993) [1]
Xã hội hóa giáo dục là vận động toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, nhằm phát huy truyền thống hiếu học và tiềm năng con người trong quá trình xây dựng nền giáo dục hiện đại dưới sự quản lý của nhà nước để
phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao mức hưởng thụ giáo dục của nhân dân
XHH giáo dục là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục
Trang 26Đa dạng hóa các hình thức hoạt động giáo dục – đào tạo, mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào các hoạt động giáo dục Mở rộng nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nguồn nhân lực,
vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy có hiệu quả các nguồn lực tạo điều
kiện cho các hoạt động giáo dục – đào tạo phát triển nhanh có chất lượng cao hơn
Xã hội hóa giáo dục gồm 2 thành phần chính:
- Xây dựng một xã hội học tập trong đó mọi người học tập thường xuyên, học tập suốt đời
- Vận động toàn xã hội tham gia đóng góp cho giáo dục
Lợi ích của xã hội hóa giáo dục:
- Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược về giáo dục, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển giáo dục nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc, có tính cách mạng trong hoạt động thực tiễn, biến hoạt động giáo dục mang tính chuyên biệt (chuyên môn và nghiệp vụ) trong một lĩnh vực, một thiết chế giáo
dục (ngành giáo dục), trở thành một hoạt động học tập rộng lớn và sâu sắc bắt
rễ vào các lĩnh vực đời sống vật chất, tinh thần của xã hội để đảm bảo cho giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội
- Tạo ra một phong trào học tập sâu rộng trong xã hội dưới nhiều hình
thức, thực hiện học tập suốt đời để người dân làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho Việt Nam trở thành một xã hội học tập
- Xã hội hóa giáo dục sẽ phát huy mọi tiềm năng trong xã hội về vật
chất, trí tuệ, khoa học kĩ thuật, huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục với các mức độ khác nhau giúp giáo dục đạt quy mô rộng, tốc
độ lớn, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển và tiến bộ giáo dục
+ Thực hiện xã hội hóa giáo dục là một giải pháp quan trọng để thực
hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược kinh tế – xã hội của Đảng
Trang 27và nhà nước Công bằng không chỉ trong việc hưởng thụ (Người dân được Nhà nước và xã hội chăm lo) mà còn trong việc đóng góp, cống hiến cho xã
hội theo khả năng thực tế của từng người, từng địa phương
1.2.3 Xã hội hóa giáo dục Mầm non
XHH GDMN là việc huy động nhân lực, tài lực, vật lực của xã hội vào quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ (dưới 6 tuổi) và đưa mục tiêu GDMN vào đời sống cộng đồng để trẻ trong lứa tuổi này được phát triển toàn
diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên
của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa
Mục tiêu của chương trình GDMN là giúp trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng
xã hội và thẩm mỹ, chuẩn bị cho trẻ vào học ở tiểu học Để đạt được mục tiêu giáo dục này, trường Mầm non phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Thực hiện chương trình GDMN do Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành, trong đó đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
- Tổ chức tốt các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ theo quy định của chương trình GDMN Trong đó, hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ bao gồm: chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc giấc ngủ, chăm sóc vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo an toàn; hoạt động giáo dục trẻ bao gồm: hoạt động chơi, hoạt động học, hoạt động lao động, hoạt động ngày hội, ngày lễ Ngoài ra, việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ còn thông qua hoạt động tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
trẻ em cho các cha mẹ trẻ và cộng đồng
- Nhà trường phải được trang bị đầy đủ thiết bị, đồ dùng, đồ chơi và tài
liệu phục vụ chương trình GDMN, khuyến khích giáo viên sử dụng tài liệu, thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
- Nhà trường phải đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất: Đủ phòng
Trang 28học cho các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo của trường; Diện tích phòng sinh hoạt chung, diện tích sân chơi, vườn trường, bếp ăn đạt chuẩn quy định (diện tích
sử dụng đất bình quân tối thiểu 12m² cho một trẻ đối với khu vực nông thôn; 8m² cho một trẻ đối với khu vực thành phố và thị xã Trong đó phòng sinh
hoạt chung đảm bảo 1,5 - 1,8m² cho một trẻ) Các công trình phải đảm bảo đúng quy cách về tiêu chuẩn thiết kế, đảm bảo an toàn và yêu cầu giáo dục
với từng độ tuổi, đảm bảo lối thoát hiểm khi có sự cố và hệ thống phòng cháy
chữa cháy
1.2.4 Quản lý
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng một hệ thống các
luật, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể
nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra” [53]
Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể có
thể là cá nhân hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý
bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên
- Có thể xem Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng tới khách thể thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý, bằng những công cụ và phương pháp mang tính đặc thù nhằm đạt được mục tiêu chung của toàn hệ
Trang 29thống Có thể sơ đồ hóa mô hình quản lý bằng sơ đồ 1.1 dưới đây:
của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình
dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên
trạng thái mới về chất
1.2.6 Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non
Quản lý công tác XHH GDMN là quản lý việc huy động nguồn nhân
lực, tài lực, vật lực của xã hội vào quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
trẻ (dưới 6 tuổi) và đưa mục tiêu GDMN vào đời sống cộng đồng
Trong phạm vi đề tài, quản lý công tác XHH GDMN bao gồm các yếu
tố sau:
- Chủ thể quản lý: Phòng GDĐT
- Đối tượng quản lý: Công tác XHH GDMN
- Mục tiêu quản lý: Nâng cao chất luợng chăm sóc, nuôi duỡng, giáo
dục trẻ trong các cơ sở GDMN
Trang 301.3 Cơ sở lý luận về công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non
1.3.1 Cơ sở pháp lý của công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định [1]: Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và toàn dân Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời…
Mọi người chăm lo cho giáo dục Các cấp ủy và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế - xã hội, các gia đình và các
cá nhân có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục – đào
tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục – đào tạo Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể… Đại hội
IX cũng nhấn mạnh [1] việc XHH giáo dục, coi đó là một trong những phương thức quan trọng để đẩy mạnh phát triển giáo dục Đại hội XI của Đảng chỉ rõ [1]: Nâng cao vai trò các đoàn thể nhân dân, tổ chức kinh tế, xã
hội trong phát triển giáo dục Khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh Kết luận tại
hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI một lần nữa
nhấn mạnh [1]: “Làm tốt công tác XHH giáo dục để bảo đảm nhu cầu học tập
của các đối tượng, nhất là GDMN” Như vậy có thể nói XHH giáo dục là chủ trương xuyên suốt của Đảng để đẩy mạnh phát triển giáo dục ở nước ta và để
thực hiện nguyên lý gắn nhà trường, gắn giáo dục với xã hội, giáo dục luôn đáp ứng nhu cầu xã hội
Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về việc đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, có
4 nội dung lớn cần thực hiện đối với giáo dục và đào tạo [18] Đó là: Nhà nước tiếp tục tăng ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo; Huy động các nguồn lực của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế - xã hội và cá nhân để
Trang 31phát triển giáo dục – đào tạo; Đổi mới hoạt động của các trường công, tăng cường phân cấp, giao quyền tự chủ cho các đơn vị, đổi mới cơ chế học phí, tăng cường công tác thanh tra kiểm tra; Phát triển các trường ngoài công lập,
hệ thống giáo dục phi chính quy
Quyết định số 20/2005/QĐ.BGD-ĐT của Bộ GD-ĐT ngày 24/6/2005 phê duyệt đề án Quy hoạch phát triển XHH giáo dục giai đoạn 2005-2010 như sau [7]: Khuyến khích thành lập các cơ sở GDMN dân lập, tư thục ở thành
phố Tiến đến đưa 70% -80% tỷ lệ trẻ Mầm non học ở các cơ sở ngoài công
lập
Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23/6/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc Phê duyệt Đề án "Phát triển GDMN giai đoạn 2006 - 2015" [20],
thể hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta là: Việc chăm lo phát triển GDMN là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, của mỗi ngành,
mỗi gia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Nhà nước có trách nhiệm quản lý, đầu tư phát triển GDMN; đồng thời
tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách, đẩy mạnh công tác XHH Việc chăm sóc, giáo dục trẻ Mầm non phải được thực hiện với sự phối hợp, gắn kết
chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Coi trọng và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức chăm sóc, giáo dục trẻ cho các bậc
phụ huynh, cha mẹ của trẻ nhằm thực hiện đa dạng hoá phương thức chăm sóc, giáo dục trẻ em
Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Đề án phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 – 2015 [23] thể hiện rõ quan điểm “Việc chăm lo để mọi trẻ em năm tuổi được đến trường, lớp Mầm non là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của
mỗi gia đình và toàn xã hội Đẩy mạnh XHH với trách nhiệm lớn hơn của Nhà nước, của xã hội và gia đình để phát triển GDMN”
Trang 32Theo Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc Quy định một số chính sách phát triển GDMN giai đoạn
2011 – 2015 [24] có nêu: Thực hiện các chính sách ưu đãi về đất đai, về tín
dụng, về thuế, để khuyến khích phát triển trường, lớp Mầm non ngoài công
lập, đặc biệt là ở các khu công nghiệp, khu chế xuất và những nơi tập trung đông dân cư
Ngày 30/5/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP
về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường [21] Nghị định nêu rõ: Nhà nước, xã hội coi trọng và đối xử bình đẳng đối với các sản phẩm và dịch
vụ của cơ sở thực hiện XHH Các cơ sở này được tham gia cung cấp các dịch
vụ công do nhà nước tài trợ, đặt hàng Các cơ sở thực hiện XHH đầu tư xây
dựng trường học được UBND cấp tỉnh tạo mọi điều kiện thuận lợi Các cơ sở này cũng được miễn phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu tài sản gắn với đất; được miễn các khoản phí, lệ phí khác liên quan đến quyền sử dụng đất, tài sản gắn với đất
Quan hệ giữa trường Mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp
mẫu giáo độc lập với gia đình và xã hội cũng được quy định rõ tại Chương VII, từ Điều 46 đến Điều 48 của Điều lệ trường Mầm non (ban hành kèm theo Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 7/4/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT) [12]
Tại Chương II, Điều 9 và Điều 14 của Quy chế Công nhận trường Mầm non đạt chuẩn quốc gia (ban hành kèm theo Quyết định số 36/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/7/2008 của Bộ GDĐT) [9] xác định rõ các nội dung chủ yếu trong công tác XHH giáo dục ở trường Mầm non
Quy chế Tổ chức và hoạt động trường Mầm non tư thục ban hành kèm theo Quyết định số 41/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25/7/2008 của Bộ Giáo dục và
Trang 33Đào tạo (Có 6 chương, 34 điều) [10] quy định cụ thể việc tổ chức và hoạt động trường Mầm non tư thục, bao gồm: Thành lập, sáp nhập, chia, tách, đình
chỉ hoạt động, giải thể nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập, tu
thục; Cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động; Tài chính, tài sản; Giáo viên, nhân viên và trẻ em; Thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm
Có thể nói, XHH GDMN là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta
và được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về quyền lợi và nghĩa vụ, bắt buộc và tự nguyện đối với tập thể và cá nhân Đây chính là nền tản, là cơ sở pháp lý vững chắc trong công tác XHH giáo dục nói chung và XHH GDMN nói riêng
1.3.2 Mục tiêu xã hội hóa giáo dục Mầm non
lượng giáo dục Mầm non
XHH GDMN sẽ tạo ra các nhân tố đồng thuận giữa nhà trường và xã
hội thực hiện mục tiêu giáo dục
Thông qua XHH, nhà trường huy động nguồn nhân lực, tài lực, vật lực
của cộng đồng phát triển nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trong trường Mầm non
1.3.2.2 Xã hội hóa giáo dục Mầm non góp phần tăng cường quá trình
Mục tiêu cao nhất của xã hội hóa giáo dục là giúp cho người học ngày càng được thụ hưởng những điều kiện học tập tốt hơn, nhất là những nơi còn
gặp nhiều khó khăn Kêu gọi XHH GDMN không có nghĩa là giảm đầu tư ngân sách cho GDMN mà là tạo điều kiện thu hút các nguồn lực đầu tư, tăng nguồn thu ngoài ngân sách cho GDMN, đây là yêu cầu bức thiết hiện nay Tất nhiên, việc thực hiện XHH GDMN phải phù hợp với sức dân, thuận lòng dân
Mọi sự huy động phải hướng vào công việc chuẩn hóa, hiện đại hóa nhà
Trang 34trường: Chuẩn hóa về đội ngũ, chuẩn hóa và hiện đại hóa về cơ sở vật chất sư
Mục tiêu của XHH GDMN là các lực lượng xã hội, gia đình – nhà trường – xã hội có sự phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện Công ước Quốc
tế về quyền trẻ em mà nước ta đã cam kết thực hiện và Luật chăm sóc giáo
dục trẻ em mà Nhà nước đã ban hành
1.3.3 Nguyên tắc xã hội hóa giáo dục Mầm non
Việc thực hiện công tác XHH GDMN cần dựa trên những quy định có tính nguyên tắc để đảm bảo sự bền vững, lâu dài và hiệu quả
1.3.5.1 Nguyên t ắc tính lợi ích
Mỗi hoạt động hợp tác đều phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của các bên tham gia Nguyên tắc này tạo động lực cho sự tham gia và bảo đảm cho
việc tiếp tục các hoạt động khác sau này
Mọi hoạt động đều đem lại kết quả cụ thể để tạo niềm tin cho hoạt động
tiếp sau, đảm bảo niềm hứng khởi cho hoạt động tiếp theo, từ chỗ các lực lượng xã hội tham gia hoạt động theo yêu cầu đến chỗ tự giác, tích cực Muốn
vậy, nhà trường phải không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, củng cố niềm tin của các lực lượng xã hội vào nhà trường
Mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của
Trang 35cả hai phía: nhà trường và cộng đồng, mỗi bên tham gia đều cần tìm thấy lợi ích chung Ngoài ra, cán bộ quản lý giáo dục phải biết lựa chọn thời gian thích hợp nhất để đưa ra một chủ trương XHH GD
Mỗi tổ chức, lực lượng xã hội đều có chức năng, nhiệm vụ riêng Để khai thác, phát huy, khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động nào đó thì
phải phát hiện và nhằm đúng chức năng, trách nhiệm của đối tác để phối hợp đúng người, đúng việc
Việc huy động các lực lượng xã hội tham gia XHH GD cần dựa trên cơ
sở pháp lý, cần được thể chế hóa về mặt nhà nước dưới hình thức văn bản pháp quy quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ, bắt buộc và tự nguyện đối
với tập thể và cá nhân để đảm bảo thực hiện được lâu dài, nghiêm túc và triệt
để
1.3.5.5 Đảm bảo tính công khai, minh bạch, “dân biết, dân bàn, dân
Nguyên tắc này giúp cho mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã
hội phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả thiết thực Công tác XHH GD được thực hiện theo phương thức thỏa thuận, tự nguyện, không ép buộc, áp đặt và phải được sự đồng thuận của cộng đồng
Cùng với cơ sở pháp lý, quá trình vận động thuyết phục cần phát huy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, đề cao sự học, giá trị của học vấn; Khơi dậy những tình cảm sâu sắc đối với thế hệ trẻ, kể cả những yếu tố như lương tri, tấm lòng cao cả quan tâm đến giáo dục; Danh dự của cộng đồng, địa phương, của gia tộc, vinh quang của cá nhân…
Nền giáo dục của nước ta là nền giáo dục của dân, do dân, vì dân, nền
Trang 36giáo dục đặt trên các nguyên tắc dân tộc, khoa học, đại chúng Chủ trương XHH giáo dục được thể hiện rất rõ nét và trong cơ chế XHH hóa giáo dục, Ngành giáo dục phải giữ vị trí hạt nhân Vì vậy, để thực hiện tốt công tác XHH giáo dục, nhà quản lý giáo dục phải biết rõ vai trò của mình trong công tác XHH giáo dục, nắm vững các nguyên tắc khi thực hiện công tác XHH giáo dục và phải chủ động trong tổ chức thực hiện các chủ trương, giải pháp
do chính mình đề ra
1.3.4 Nội dung của xã hội hóa giáo dục Mầm non
chăm sóc, nuôi duỡng, giáo dục trẻ
Ph ối hợp thực hiện chương trình chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ
- Thống nhất nội dung, phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ theo phương pháp khoa học giữa nhà trường và gia đình
- Phòng chống suy dinh dưỡng và béo phì cho trẻ, có kế hoạch và biện pháp chăm sóc đối với trẻ suy dinh dưỡng và trẻ có khiếm khuyết
- Đóng góp tiền ăn, các hiện vật theo yêu cầu của nhà trường
Ph ối hợp thực hiện chương trình giáo dục trẻ
- Thống nhất nội dung, phương pháp giáo dục trẻ theo phương pháp khoa học giữa nhà trường và gia đình
- Cha mẹ tham gia vào các hoạt động thực hiện các nội dung giáo dục
trẻ phù hợp với chương trình GDMN, cụ thể là :
Tạo điều kiện giúp trẻ được tự do tìm tòi khám phá trong môi trường
an toàn theo khả năng và sở thích của mình để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ, trẻ mạnh dạn, tự tin, dễ dàng hòa nhập với môi trường
xã hội sau này
Chú ý lôi cuốn các thành viên trong gia đình, đặc biệt các thành viên
là nam giới: Ông, bố, anh, chú, bác tham gia vào việc chăm sóc và dạy trẻ
Trang 37Coi trọng việc phát triển, can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
- Phát hiện sớm sự phát triển không bình thường của trẻ và phối hợp giáo dục can thiệp sớm đối với trẻ khuyết tật
- Phối hợp với nhà trường trong việc tổ chức các hội thi, ngày lễ, tổ
chức ngày sinh nhật cho trẻ
- Tạo môi trường an toàn về tình cảm cho trẻ : Xây dựng môi trường gia đình đầm ấm, hạnh phúc, gần gũi, thương yêu trẻ, thường xuyên quan sát, trò chuyện với trẻ, phát hiện những thay đổi ở trẻ để có biện pháp phối hợp
với nhà trường có tác động giáo dục phù hợp, kịp thời
Ph ối hợp kiểm tra đánh giá công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
d ục trẻ của trường Mầm non
- Tham gia cùng với ban giám hiệu nhà trường kiểm tra đánh giá chất lượng chăm sóc – giáo dục, cụ thể:
Theo dõi để phát hiện những tiến bộ, thay đổi, những biểu hiện của trẻ
diễn ra hàng ngày, trao đổi kịp thời để giáo viên có sự điều chỉnh trong nội dung và phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ
Tham gia đóng góp ý kiến với nhà trường về chương trình và phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ Đề xuất nhà trường hướng dẫn các bậc cha mẹ
thực hiện việc chăm sóc – giáo dục trẻ ở gia đình có hiệu quả hơn
- Đóng góp ý kiến về các mặt khác như: Môi trường trường học, cơ sở
vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi của nhóm, lớp, thái độ, tác phong, hành vi ứng xử của giáo viên và nhân viên trong trường với trẻ và phụ huynh
Tham gia xây d ựng cơ sở vật chất
- Tham gia lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh, làm đồ dùng,
đồ chơi cho trẻ
- Đóng góp xây dựng, cải tạo trường/ nhóm, lớp, công trình vệ sinh, …
Trang 38theo quy định và theo thỏa thuận
- Đóng góp những hiện vật cho nhóm/ lớp hoặc trường Mầm non
cùng chăm lo phát triển GDMN trên địa bàn
Tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương
Các nhà quản lí GDMN chủ động tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương về kế hoạch phát triển GDMN để các cấp lãnh đạo đưa vào chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
hàng năm Cụ thể các nội dung cần tham mưu :
- Tăng cường cơ sở vật chất cho trường Mầm non (trường sở, thiết bị,
đồ dùng, đồ chơi, …)
- Chỉ tiêu huy động trẻ trong độ tuổi đến lớp
- Hỗ trợ đời sống đội ngũ giáo dục Mầm non
- Quy hoạch, cấp đất đầu tư xây dựng cơ bản trường Mầm non nhằm phát triển quy mô, mạng lưới GDMN trên địa bàn
Ph ối hợp với Hội phụ nữ
- Phối hợp với đội ngũ tuyên truyền viên của hội liên hiệp phụ nữ để trang bị cho hội viên phụ nữ những kiến thức nuôi dạy con theo khoa học (Ví
dụ: Cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng, cách chế biến các bữa ăn đủ chất dinh dưỡng; tiêm chủng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm; theo dõi biểu đồ tăng trường để phát hiện còi xương, suy dinh dưỡng hoặc béo phì; đảm bảo an toàn
về thể chất và tâm lí cho trẻ, …)
- Phối hợp tổ chức các hội thi “Nuôi dạy con theo phương pháp khoa
học”… để động viên đông đảo các tầng lớp phụ nữ học tập trau đổi kiến thức
và nuôi dạy con theo phương pháp khoa học
- Phối hợp vận động các ban ngành, các tổ chức kinh tế … đầu cơ sở
vật chất thiết bị cho GDMN
Trang 39Ph ối hợp với trung tâm y tế cùng chăm lo sức khỏe cho trẻ
- Tạo môi trường sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh an toàn
- Khám sức khỏe định kì cho trẻ
- Hướng dẫn các bậc cha mẹ phòng chống một số bệnh thường gặp ở
trẻ em: các bệnh về hô hấp, các bệnh về hô hấp, còi xương, suy dinh dưỡng, tiêm chủng đúng lịch, đủ mũi, …
- Bồi duỡng kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho đội ngũ cấp dưỡng trường mầm non…
Ph ối hợp với Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em: Có chương trình
hành động vì trẻ em, phát động tháng hành động vì trẻ em để bảo vệ các thực
hiện quyền trẻ em
Ph ối hợp với Đoàn thanh niên: Phát động phong trào làm đồ chơi, đồ
dùng cho trẻ, đóng góp công sức lao động xây dựng cơ sở vật chất cho các cơ
sở GDMN.…
Ngoài ra, ngành giáo dục có thể phối hợp với các lực lượng xã hội khác cùng tham gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào kế hoạch phát triển GDMN trên địa bàn, vào quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ: Ngành giao thông tham gia vào ban nội dung và ban giám khảo hội thi giáo dục an toàn giao thông trong trường Mầm non…; Sở Tài chính phối hợp với Sở Giáo dục-đào
tạo thống nhất xây dựng chế độ chính sách cho giáo viên Mầm non làm cơ sở
để Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành chế độ chính sách cho đội ngũ GDMN ở địa phương; các doanh nghiệp góp công sức vào việc xây dựng trường sở
hoặc là nơi để nhà trường tổ chức cho trẻ đến tham quan… Ngoài ra, các
lực lượng xã hội còn có thể tham gia đóng góp ý kiến cho sự phát triển của nhà trường, của sự nghiệp phát triển GDMN trên địa bàn
Trang 401.3.4.3 Huy động các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động
GDMN là một cấp học mang tính XHH cao Thực hiện “Nhà nước và nhân dân cùng làm” góp phần đa dạng hóa các loại hình giáo dục, mở rộng các loại hình dân lập, tư thục và củng cố các trường Mầm non công lập hiện
có Kêu gọi sự đóng góp của toàn xã hội cho GDMN không chỉ về tài lực mà
cả về nhân lực, vật lực để xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất – trường lớp, bổ sung trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi phục vụ cho công tác chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục trẻ, hỗ trợ về vật chất và tinh thần giúp đội ngũ cán bộ quản
lý, giáo viên, nhân viên Mầm non an tâm công tác… Trong tình hình thực tế
hiện nay, việc huy động các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động phát triển quy mô, đa dạng hóa các loại hình trường, lớp mầm non sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển GDMN trên địa bàn, tạo điều kiện cho giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn
1.3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội hóa giáo dục Mầm non
Bản chất XHH giáo dục là quá trình vận động và tổ chức sự tham gia
rộng rãi của nhân dân, của các lực lượng xã hội cùng làm giáo dục để giáo
dục phục vụ cho mọi người Vì vậy, trong XHH GDMN, khi các lực lượng xã
hội nhận thức được vị trí, vai trò của GDMN trong đời sống cộng đồng, các
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trong trường mầm non; nhận thức được các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác XHH GDMN; nhận thức được nội dung, hình thức của công tác XHH GDMN… thì các lực lượng xã hội sẽ tự ý thức được trách nhiệm
của mình trong công tác XHH GDMN, từ đó tính tự giác, tích cực, chủ động,