1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp

152 333 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giúp cho việc lập kế hoạch can thiệp làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV/STI, các nghiên cứu về dịch tễ học HIV/STI cũng như các can thiệp trong nhóm phụ nữ bán dâm là rất cần thiết.. Tại Hà Nội

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG -* -

PHẠM THỊ MINH PHƯƠNG

TÌNH TRẠNG NHIỄM HIV, CÁC NHIỄM TRÙNG LÂY QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC

Ở PHỤ NỮ BÁN DÂM TẠI 4 QUẬN HÀ NỘI

VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP

LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC

HÀ NỘI, 2013

Trang 2

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG -* -

PHẠM THỊ MINH PHƯƠNG

TÌNH TRẠNG NHIỄM HIV, CÁC NHIỄM TRÙNG LÂY QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC

Ở PHỤ NỮ BÁN DÂM TẠI 4 QUẬN HÀ NỘI

VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Phạm Thị Minh Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành Luận án Tiến sỹ y học, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- PGS.TS Trần Hậu Khang và PGS TS Nguyễn Anh Tuấn là hai người thầy đã tận tâm hướng dẫn và động viên tôi trong suốt thời gian nghiên cứu

và hoàn thành luận án

- GS.TS Nguyễn Trần Hiển đã tận tình hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và đóng góp những ý kiến quý báu cho bản luận văn

- GS.TS Phạm Ngọc Đính đã giúp đỡ tôi những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành bản luận án

Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới:

- Khoa phòng chống HIV/AIDS, Khoa xét nghiệm, phòng Đào tạo sau đại học Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và học tập

- Sở Y tế Hà Nội, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Hà Nội, Dự án Sức khỏe gia đình quốc tế đã giúp đỡ tôi trong quá trình tiến hành nghiên cứu

Tôi cũng xin bày tỏ lời cám ơn chân thành tới các đồng nghiệp tại Bệnh viện Da liễu trung ương, và các đồng nghiệp khác đã đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình tôi và các bạn bè thân thiết đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Phạm Thị Minh Phương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC… v

DANH MỤC CHŨ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC BẢNG xi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ xiii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1…. 3

TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.2 Tình hình hoạt động mua bán dâm trên thế giới và Việt nam 4

1.3 Các căn nguyên của nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục 5

1.4 Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV và STI ở phụ nữ bán dâm 7

1.4.1 Thực trạng tình hình nhiễm HIV và STI ở phụ nữ bán dâm 7

1.4.2 Đặc điểm và các hành vi nguy cơ của phụ nữ bán dâm 13

1.4.3 Liên quan giữa các hành vi và nhiễm HIV/STI 18

1.5 Các biện pháp can thiệp làm giảm nhiễm HIV/STI 20

1.5.1 Các can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/STI ở PNBD trên thế giới 20

1.5.2 Các can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/STI ở PNBD tại Việt Nam 24

1.6 Một số đặc điểm về thành phố Hà nội 29

CHƯƠNG 2 33 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 6

2.1 Đối tượng 33

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33

2.3 Thiêt kế nghiên cứu 34

2.3.1 Cỡ mẫu 34

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu: 35

2.4 Các bước tiến hành điều tra 37

2.5 Các xét nghiệm được sử dụng 40

2.5.1 Các xét nghiệm đã được sử dụng 40

2.5.2 Nguyên lý và cách tiến hành của các xét nghiệm được ứng dụng 41

2.6 Các chỉ số nghiên cứu 44

2.7 Biện pháp can thiệp 47

2.8 Nhập và phân tích số liệu 50

2.9 Hạn chế sai số 50

2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 51

2.11 Hạn chế của nghiên cứu 52

CHƯƠNG 3… 55

KẾT QUẢ… 55

3.1 Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV và STI ở phụ nữ bán dâm tại 4 quận Hà nội năm 2005-2006 55

3.1.1 Một số thông tin cá nhân của PNBD trước can thiệp 55

3.1.2 Tỷ lệ nhiễm HIV và STI của PNBD tại Hà nội 2005-2006 56

3.1.3 Các hành vi nguy cơ nhiễm HIV và STI của PNBD tại 4 quận Hà Nội năm 2005 -2006 61

Trang 7

3.2 Hiệu quả của mô hình can thiệp lên hành vi nguy cơ và tỷ lệ nhiễm

HIV/STI của PNBD ở Hà Nội năm 2005-2010 80

3.2.1 Tỷ lệ PNBD tiếp cận với các chương trình can thiệp 80

3.2.2 Sự thay đổi hiểu biết cơ bản về HIV/STI 81

3.2.3 Sự thay đổi về thái độ xử trí khi nhiễm STI 82

3.2.4 Sự thay đổi về hành vi sử dụng ma túy 84

3.2.5 Sự thay đổi về hành vi dùng bao cao su 85

3.2.6 Sự thay đổi về tỷ lệ nhiễm HIV/STI 87

CHƯƠNG 4… 90

BÀN LUẬN… 90

4.1 Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV và STI ở phụ nữ bán dâm tại 4 quận Hà Nội năm 2005-2006 90

4.1.1 Các đặc trưng cơ bản của PNBD ở Hà Nội năm 2005-2006 90

4.1.2 Tỷ lệ nhiễm HIV và một số STI của PNBD ở Hà nội năm 2005-2006 93 4.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm HIV và Chlamydia trong nhóm PNBD ở Hà nội năm 2005 - 2006 98

4.2 Hiệu quả một số biện pháp can thiệp phòng nhiễm HIV/STI của phụ nữ bán dâm ở ở Hà Nội năm 2005-2010 109

4.2.1 Tiếp cận với các hoạt động can thiệp giảm tác hại 109

4.2.2 Hiệu quả can thiệp đối với hiểu biết về HIV/STI 110

4.2.3 Hiệu quả can thiệp lên hành vi SDMT 111

4.2.4 Hiệu quả can thiệp lên hành vi sử dụng bao cao su 112

4.2.5 Hiệu quả can thiệp lên tỷ lệ nhiễm HIV 115

4.2.6 Hiệu quả can thiệp lên tỷ lệ nhiễm STI 116

KẾT LUẬN… 120

KHUYẾN NGHỊ 122

Trang 8

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 123 TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Trang 9

DANH MỤC CHŨ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Tiếng Việt

AIDS Acquired Immuno-Deficiency Syndrome

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

Vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người PCR Polymerase Chain Reaction

Phản ứng khuếch đại chuỗi polyme

QHTD Quan hệ tình dục RPR Rapid Plasma Reagin

Phản ứng RPR

STI Sexually Transmitted Infection

Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục TCMT Tiêm chích ma túy

THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông TPHA Treponema Pallidum Haemagglutination Assay

Phản ứng TPHA

Trang 10

TTVCĐ Tuyên truyền viên cộng đồng UNAIDS The Joint United Nations Programme on HIV/AIDS

Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS VCT Voluntary Counselling and Testing

Tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện WHO World Health Organization

Tổ chức Y tế thế giới

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Một số thông tin về các quận Hà nội 30

Bảng 3.1.Một số đặc trưng cá nhân của PNBD trước can thiệp 55

Bảng 3.2.Thu nhập của PNBD khi tiếp khách trước can thiệp (VNĐ) 56

Bảng 3.3.Phân bố tỷ lệ nhiễm STI theo tình trạng nhiễm HIV trước CT 61

Bảng 3.4.Tuổi bán dâm, thời gian hành nghề và số lượng bạn tình 62

Bảng 3.5.Kiến thức cơ bản về HIV của PNBD ở Hà Nội năm 2005-2006 63

Bảng 3.6.Tỷ lệ PNBD làm xét nghiệm HIV 64

Bảng 3.7.Tỷ lệ PNBD nhận biết được các triệu chứng STI trước CT 65

Bảng 3.8.Thái độ xử trí khi có các biểu hiện STI trong lần gần đây nhất 66

Bảng 3.9.Tính sẵn có của bao cao su năm 2005-2006 67

Bảng 3.10.Tỷ lệ PNBD biết các địa điểm cung cấp BCS 67

Bảng 3.11.Hành vi tiêm chích ma túy trong số PNBD có SDMT 69

Bảng 3.12.Mối liên quan giữa tuổi, số tiền nhận được khi bán dâm, số lượng khách hàng và tình trạng nhiễm HIV của PNBD ở Hà Nội năm 2005-2006 70

Bảng 3.13.Mối liên quan giữa các đặc trưng về nhóm đối tượng, nhóm tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và tình trạng nhiễm HIV 71

Bảng 3.14.Một số hành vi SDMT và nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm PNBD trước can thiệp 72

Bảng 3.15.Hành vi SDMT của khách hàng và nguy cơ nhiễm HIV của PNBD 73

Bảng 3.16.Mối liên quan giữa sử dụng BCS, tiền sử STI và nhiễm HIV trong nhóm PNBD trước can thiệp (n=499) 74

Bảng 3.17.Phân tích đa biến các yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm PNBD ở Hà Nội năm 2005 – 2006. 75

Trang 12

Bảng 3.18.Mối liên quan giữa một số đặc trưng của PNBD và nhiễm

Chlamydia (n=499) 76

Bảng 3.19.Tuổi, số tiền thu được khi bán dâm, số lượng khách hàng và nguy cơ nhiễm Chlamydia của PNBD ở Hà Nội năm 2005-2006 77

Bảng 3.20.Hiểu biết về STI, tiền sử mắc STI, thái độ xử trí khi nhiễm STI và nguy cơ nhiễm Chlamydia 78

Bảng 3.21.Hành vi sử dụng BCS và nguy cơ nhiễm Chlamydia của PNBD ở Hà Nội năm 2005-2006 (n=499) 79

Bảng 3.22.Phân tích đa biến nguy cơ nhiễm Chlamydia 79

Bảng 3.23.Tỷ lệ tiếp cận với chương trình can thiệp của BDĐP 80

Bảng 3.24.Tỷ lệ tiếp cận với chương trình can thiệp của BDNH 81

Bảng 3.25.Sự thay đổi hiểu biết cơ bản về HIV/STI của nhóm BDĐP 81

Bảng 3.26.Sự thay đổi hiểu biết cơ bản về HIV/STI của nhóm BDNH 82

Bảng 3.27.Thái độ xử trí khi nhiễm STI của BDĐP 82

Bảng 3.28.Thái độ xử trí khi nhiễm STI của BDNH 83

Bảng 3.29.Sự thay đổi về hành vi sử dụng ma túy của nhóm BDĐP 84

Bảng 3.30.Sự thay đổi về hành vi sử dụng ma túy của nhóm BDNH 84

Bảng 3.31.Sự sẵn có BCS trước và sau can thiệp đối với nhóm BDĐP 85

Bảng 3.32.Sự sẵn có BCS trước và sau can thiệp đối với nhóm BDNH 86

Trang 13

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1.Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNBD trước can thiệp 57

Biểu đồ 3.2.Tỷ lệ nhiễm HIV theo nhóm tuổi của PNBD (n=499) 57

Biểu đồ 3.3.Phân bố nhiễm HIV theo tình trạng hôn nhân của PNBD 58

Biểu đồ 3.4.Tỷ lệ nhiễm HIV theo nhóm đối tượng và hành vi SDMT của PNBD trước can thiệp 58

Biểu đồ 3.5.Tỷ lệ nhiễm STI trong PNBD ở Hà Nội trước can thiệp 59

Biểu đồ 3.6.Phân bố nhiễm Chlamydia theo nhóm tuổi trước can thiệp 60

Biểu đồ 3.7.Phân bố nhiễm Chlamydia theo tình trạng hôn nhân trước can thiệp (n=499) 60

Biểu đồ 3.8.Tiền sử nhiễm STI của PNBD ở Hà Nội trước can thiệp 65

Biểu đồ 3.9.Tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên của PNBD năm 2005-2006 68

Biểu đồ 3.10.Tỷ lệ sử dụng ma túy trong PNBD trước can thiệp 68

Biểu đồ 3.11.Tỷ lệ sử dụng BCS của BDĐP trước và sau can thiệp 86

Biểu đồ 3.12.Tỷ lệ sử dụng BCS của nhóm BDNH 87

Biểu đồ 3.13.Sự thay đổi về tỷ lệ nhiễm HIV/STI sau CT 87

Biểu đồ 3.14.Sự thay đổi tỷ lệ nhiễm HIV và Chlamydia trong BDNH 88

Biểu đồ 3.15.Sự thay đổi tỷ lệ nhiễm HIV và Chlamydia trong BDĐP 88

Trang 14

Cho đến nay, đại dịch HIV đã lan rộng ra toàn thế giới trong đó khu vực cận Sahara chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Tổ chức Y tế thế giới đánh giá nhiễm HIV/AIDS là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới trong số các bệnh truyền nhiễm, là căn nguyên gây tử vong nhiều nhất cho phụ nữ tuổi từ 15-49 Đại dịch HIV là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nhất trên toàn cầu, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội và phát triển bền vững của toàn thế giới Các nhiễm trùng lây qua đường tình dục là gánh nặng lớn về kinh tế cũng như về vấn đề sức khoẻ trên toàn cầu, làm ảnh hưởng đến ngân sách quốc gia cũng như kinh tế của từng gia đình Ở các nước đang phát triển, các bệnh này và biến chứng của chúng là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu khiến người dân đi khám bệnh [83] Để có thể đối phó với dịch HIV và STI, cần có sự kết hợp chặt chẽ của mọi quốc gia, mọi cộng đồng, mọi cá nhân và mọi lĩnh vực của xã hội, trong đó ngành y tế đóng vai trò chủ chốt [123]

Hoạt động mua bán dâm đóng một vai trò rất to lớn trong lây truyền HIV/STI và phòng chống HIV/STI hiệu quả cho nhóm này là một chiến lược then chốt trong cuộc chiến chống lại đại dịch HIV [114]

Trang 15

Ở Việt Nam, đại dịch HIV đang lan rộng Thủ tướng chính phủ đã có quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS, trong đó chương trình quản lý và điều trị các nhiễm trùng lây qua đường tình dục là một trong các chương trình hành động của chiến lược Chiến lược cũng nêu rõ cần tăng cường việc quản lý và tư vấn về các STI cho các đối tượng có nguy

cơ cao [44] Để giúp cho việc lập kế hoạch can thiệp làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV/STI, các nghiên cứu về dịch tễ học HIV/STI cũng như các can thiệp trong nhóm phụ nữ bán dâm là rất cần thiết Tại Hà Nội, có một số nghiên cứu

về tình hình nhiễm HIV/STI trên đối tượng phụ nữ bán dâm đã được thực hiện, nhưng chưa có nghiên cứu có can thiệp nào được tiến hành trong nhóm phụ nữ bán dâm tại cộng đồng Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài “Tình trạng nhiễm HIV, các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm tại 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp”

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm chứng minh cho giả thiết: “tỷ lệ nhiễm HIV và STI trên phụ nữ bán dâm tại cộng đồng ở 4 quận nội thành Hà Nội khá cao” và “Các biện pháp can thiệp giúp làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV/STI, tăng hiểu biết về HIV/ STI và giảm các hành vi nguy cơ cao của phụ nữ bán dâm tại 4 quận nội thành Hà Nội”

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Mô tả tình trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm tại 4 quận Hà nội năm 2005- 2006

2 Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp phòng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm tại Hà nội giai đoạn 2005-2010

Trang 16

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm

Phụ nữ bán dâm: là những phụ nữ dùng quan hệ tình dục qua đường âm đạo

hoặc hậu môn để đổi lấy tiền hoặc vật chất, quyền lợi

Phụ nữ bán dâm đường phố (bán dâm đường phố): đón khách ở đường phố,

công viên hoặc những nơi công cộng

Phụ nữ bán dâm nhà hàng (bán dâm nhà hàng): Đón khách tại quán bar, nhà

hàng, khách sạn, sàn nhảy, cơ sở xông hơi mát xa hoặc các cơ sở dịch

vụ giải trí [70]

Hành vi nguy cơ cao: là hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như quan hệ tình dục

không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm và những hành vi khác dễ làm lây nhiễm HIV [6]

Hiểu biết cơ bản đầy đủ về HIV: cho rằng chung thủy với bạn tình, luôn sử

dụng BCS khi QHTD làm giảm nguy cơ nhiễm HIV, dùng chung BKT làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV, muỗi hoặc côn trùng đốt và sử dụng nhà vệ sinh công cộng không làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV

Địa điểm làm xét nghiệm HIV bí mật tự nguyện: Là nơi khách hàng tự nguyện

đến làm xét nghiệm HIV và các thông tin cá nhân của khách hàng được giữ bí mật

HIV: là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả

năng chống lại các tác nhân gây bệnh [6]

STI (Sexually Transmitted Infection): là các nhiễm khuẩn lây truyền qua quan

hệ tình dục không bảo vệ

Sử dụng BCS thường xuyên với khách lạ: Sử dụng BCS trong mọi lần QHTD

Trang 17

Sử dụng BCS thường xuyên với khách quen: Sử dụng BCS trong mọi lần

QHTD với khách quen trong vòng 1 tháng trước khi được phỏng vấn

Sử dụng BCS thường xuyên với chồng/bạn trai: Sử dụng BCS trong mọi lần

QHTD với chồng/bạn trai trong vòng 12 tháng trước khi được phỏng vấn

1.2 Tình hình hoạt động mua bán dâm trên thế giới và Việt nam

Trên thế giới, hoạt động mua bán dâm ở một số nơi được coi là hợp pháp (như Úc, New Zealand, Ấn độ) nhưng ở hầu hết các nước đều bị cho là

vi phạm pháp luật Tuy nhiên, việc chấm dứt hoạt động này là rất khó Nhóm người bán dâm là nhóm người bị phân biệt đối xử, kỳ thị và do các hoạt động mua bán dâm là trái với pháp luật nên việc tiếp cận và giám sát họ rất khó khăn [70] Nhóm PNBD được coi là một trong những nhóm người có nguy cơ cao nhiễm HIV và có ảnh hưởng nhiều đến mô hình đại dịch HIV [110]

PNBD thường được phân làm 2 loại: PNBD trực tiếp và PNBD gián tiếp PNBD trực tiếp chỉ có thu nhập từ hoạt động bán dâm PNBD trực tiếp bao gồm các phụ nữ bán dâm trên đường phố, bán dâm trong nhà chứa Đối với PNBD gián tiếp, hoạt động bán dâm không phải là nguồn thu duy nhất mà chỉ là thu nhập bổ sung của họ, bên cạnh các thu nhập từ các công việc khác làm tại các cơ sở dịch vụ như cắt tóc, mát xa, phục vụ bàn tại các nhà hàng [61], [70]

Ở Việt nam, mua bán dâm là hoạt động trái pháp luật và được coi là một tệ nạn xã hội Cảnh sát và chính quyền địa phương tổ chức các chiến dịch phòng chống tệ nạn xã hội nhằm vào PNBD Nếu bị bắt, họ sẽ được đưa vào các trung tâm phục hồi nhân phẩm Tại đây, họ được giáo dục, dạy một số nghề thủ công, được khám, xét nghiệm và điều trị STI [97] Theo Bộ Lao động thương binh xã hội, cả nước có tới 86.547 cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ

bị lợi dụng để hoạt động mua bán dâm bao gồm khách sạn, vũ trường, quán

Trang 18

Karaoke, cơ sở mát xa, quán cà phê Đội kiểm tra liên ngành và các ngành chức năng đã có những đợt kiểm tra, xử phạt các cơ sở dịch vụ có hoạt động bán dâm và phá vỡ nhiều ổ, đường dây bán dâm [5]

PNBD ở Việt Nam được phân làm 3 cấp: Cấp thấp (là bán dâm trên đường phố, di chuyển ở các khu vực có nhiều khách hàng bằng xe máy, hoặc thuê xe ôm đưa đón và dẫn khách), cấp trung bình (là PNBD làm ở quán cà phê ôm, bia ôm, các nhà hàng nhỏ, chòi câu cá, hiệu cắt tóc gội đầu và một số

cơ sở giải trí khác Họ có thu nhập khá hơn so với BDĐP) và cao cấp (PNBD làm việc trong các sàn nhảy, quán rượu, karaoke, hộp đêm và những cơ sở dịch vụ đắt tiền khác Họ thường có trình độ học vấn cao hơn, hấp dẫn hơn và

có thu nhập cao hơn) [131]

1.3 Các căn nguyên của nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục

Các căn nguyên gây các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả vi khuẩn, vi rút, đơn bào Đường lây chủ yếu của các tác nhân này là quan hệ tình dục không bảo vệ, nhưng cũng có thể lây từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai, chuyển dạ, lây qua truyền máu và các sản phẩm của máu hoặc cấy ghép mô [55], [73], [74], [92], [93], [94]

Do vi khuẩn

Neisseria gonorrhoeae (Vi khuẩn lậu): Gây bệnh lậu

Ở người lớn: gây viêm niệu đạo, tiết dịch niệu đạo, viêm tinh hoàn, mào tinh hoàn, viêm cổ tử cung, nội mạc tử cung, vòi trứng, viêm tiểu khung, vỡ ối non, vô sinh

Ở trẻ sơ sinh: gây viêm kết mạc, sẹo kết mạc, mù

Chlamydia trachomatis: Gây nhiễm Chlamydia sinh dục

Trang 19

Ở người lớn: gây viêm niệu đạo, viêm tinh hoàn, mào tinh hoàn, viêm

cổ tử cung, nội mạc tử cung, vòi trứng, viêm tiểu khung Thường không biểu hiện triệu chứng lâm sàng

Ở trẻ sơ sinh: gây viêm kết mạc, viêm phổi

Treponema pallidum (Xoắn khuẩn giang mai): Gây bệnh giang mai

Ở người lớn: gây loét sinh dục, hạch to, ban ngoài da, tổ thương xương, thần kinh và tim mạch, xảy thai, thai chết lưu, đẻ non

Thai nhi: thai chết lưu, giang mai bẩm sinh

Hemophilus ducreyi (Trực khuẩn hạ cam): Gây bệnh hạ cam

Biểu hiện lâm sàng là các vết loét đau ở sinh dục, có thể kèm hạch bẹn sưng to và đau

Klebsiela granulomatis: Gây bệnh Donovan (u hạt bẹn)

Gây tổn thương sưng, loét, đau vùng bẹn và sinh dục

Do vi rút Human immunodeficiency virus (HIV)

Gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, gây các biểu hiện do HIV, AIDS

Herpes simplex virus type 1, 2 (HSV1,2): Gây herpes sinh dục

Ở người lớn: gây mụn nước sau đó loét ở vùng hậu môn sinh dục

Ở trẻ em: Gây herpes trẻ sơ sinh, thường gây tử vong

Human papiloma virus (HPV): Gây sùi mào gà sinh dục

Ở người lớn: gây các tổn thương sùi ở sinh dục, có thể dẫn tới ung thư nhất là ung thư cổ tử cung

Trẻ sơ sinh: gây u nhú thanh quản

Đơn bào

Trang 20

Trichomonas vaginalis (trùng roi âm đạo):

Ở người lớn: viêm niệu đạo (thường không có triệu chứng), viêm âm đạo, đẻ non, sinh con nhẹ cân

1.4 Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV và STI ở phụ

nữ bán dâm

1.4.1 Thực trạng tình hình nhiễm HIV và STI ở phụ nữ bán dâm

 Thực trạng tình hình nhiễm HIV ở PNBD trên thế giới

Đại dịch HIV/AIDS được con người biết đến từ năm 1981 khi tháng 6/1981 Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa kỳ đã phát hiện 5 người đồng tính nam bị nhiễm Pneumocystis carinii ở Los Angeles Sau đó nhiều nơi cũng công

bố lần lượt những trường hợp suy giảm miễn dịch trên những bệnh nhân bị mắc bệnh ưa chảy máu đã từng truyền máu nhiều lần, hay những người tiêm chích

ma túy [40]

Theo ước tính của UNAIDS, toàn thế giới có khoảng 34 triệu người nhiễm HIV [112] Tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD ở các khu vực trên thế giới khác nhau, nhưng châu Phi vẫn là nơi có tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD rất cao Trên toàn khu vực châu Phi, 19% PNBD nhiễm HIV Một số nước có tỷ lệ này rất cao:49,4%

ở Guinea-Bissau, > 30% ở các nước Benin, Burundi, Cameroon, Ghana, Mali

và Nigeria [109]

Châu Mỹ là nơi có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người bán dâm không đồng đều Tại Mỹ La tinh, tỷ lệ PNBD bị nhiễm HIV rất thấp, đặc biệt khu vực Andean [51] Ở khu vực Trung Mỹ, cho thấy tỷ lệ này khá cao ở Honduras (10%), nhưng thấp ở Guatemala (4%) và El Salvador (3%) Guyna là một quốc gia ở nam Mỹ có tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm PNBD khá cao, tới 16,6% Một số nước ở vùng Caribe có tỷ lệ nhiễm thấp như ở Haiti l 5,3 % và Jamaica 4.9 % [111]

Trang 21

Ở Đông Âu, tỷ lệ nhiễm HIV rất cao ở nhóm PNBD nghiện chích ma túy

Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm PNBD có tiêm chích ở Uzebekistan là 58%, và không tiêm chích là 5% Tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD tại St Peterbur là 48%, Moscow 14%, Latvia 16%, Bungari 2% [113]

Ở khu vực Tây Âu, số liệu về tình hình nhiễm HIV ở PNBD không có nhiều, mặc dù khu vực này có một số nước hoạt động mua bán dâm là hợp pháp

và được kiểm soát như Thụy Sỹ, Phần Lan, Đức, Ireland, Áo, Latvia, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ và Hà Lan Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm PNBD ở Áo (2002) là 4%, London (2003) là 9%, Hà Lan (2003) là 5% PNBD có tiêm chích có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn nhóm không tiêm chích [113], [118]

Tại Châu Á, dịch HIV tương đối ổn định từ năm 2000 Dịch chủ yếu tập trung vào một số nhóm quần thể đặc biệt như nhóm nghiện chích ma túy, PNBD và bạn tình của họ, nam giới có quan hệ tình dục đồng giới [109] Ở nhiều quốc gia, nhóm người bán dâm có nguy cơ nhiễm HIV rất cao Ở Trung Quốc, đường lây truyền HIV chủ yếu là qua nghiện chích ma túy, nhưng con đường lây truyền qua đường tình dục ngày càng đóng một vai trò quan trọng [119] GSTĐ HIV cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm PNBD đang ngày càng tăng [84] Nghiên cứu tại Kaiyuan City ở tỉnh Yunnan, một trong những tỉnh có

tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất tại Trung Quốc cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV của PNBD

ở đây là 10,3% [130]

Thái Lan là một đất nước có dịch HIV lan rộng nhanh chóng vào những năm cuối của 1980 và 1990 Trong thời gian này, có tới 80% các trường hợp mới nhiễm HIV là PNBD và khách hàng của họ [54] Năm 1991 tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD trong nhà chứa là 15,2% Tuy nhiên sau nhiều nỗ lực đặc biệt chương trình 100% bao cao su được thực hiện, tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD tại Thái Lan giảm mạnh, còn 2,8% năm 2009 [117]

Trang 22

Ấn Độ là một quốc gia đông dân ở châu Á và cũng là một quốc gia có số người nhiễm HIV cao Cũng như nhiều quốc gia Châu Á khác, Ấn Độ đang ở trong giai đoạn dịch tập trung và PNBD là nhóm đối tượng bị ảnh hưởng nhiều của đại dịch HIV Điều tra tại 4 bang của Ấn Độ cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD là 14,5 % [96] Tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm PNBD trên toàn quốc là 5%, nhưng ở một số bang tỷ lệ nhiễm HIV của PNBD rất cao, như 18% ở Maharashtra, and 13% ở Manipur[116] Điều tra về sinh học kết hợp với giám sát hành vi đã được tiến hành năm 2006 và năm 2009 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV giảm đáng kể trong nhóm đối tượng PNBD, từ 17,7% (2006) xuống còn 13,2 % (năm 2009) [95]

Tại Campuchia, tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD rất cao Năm 2003, tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD trực tiếp là 23,4% và năm 2006 là 14,7% Tuy nhiên, ở một số thành phố như Kampong Speu, Sihanoukville và Banteay Meanchey tỷ lệ có thể lên tới 26%, 27% và 31% [58] Tỷ lệ mắc HIV ở PNBD ở đô thị cao hơn khu vực nông thôn Từ 1992 tới 2003, tỷ lệ nhiễm HIV ở các đô thị lớn trung bình là 60% so với khu vực ngoài đô thị là 19,8% Campuchia là một đất nước được cho là rất thành công trong công cuộc phòng chống HIV, đã làm giảm tỷ

lệ nhiễm HIV trong cộng đồng từ 3% năm 2007 xuống còn 0,7% năm 2009 Các thành tựu này được cho là có sự đóng góp rất lớn của chương trình 100% bao cao su ở Campuchia [57]

 Thực trạng tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam

Tại Việt Nam, ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1990 Phần lớn các trường hợp nhiễm thuộc nhóm nghiện chích ma túy nhưng lây nhiễm HIV qua đường tình dục ngày càng tăng đặc biệt thông qua hoạt động mua bán dâm Việt Nam đang ở giai đoạn dịch tập trung, có tỷ lệ nhiễm HIV còn thấp ở nhóm quần thể dân cư và cao trong một số nhóm như nghiện chích ma túy và PNBD [24], [127] Theo báo cáo của Cục phòng chống HIV/AIDS Bộ Y tế, hiện nay

Trang 23

Việt Nam có 201.134 người nhiễm HIV hiện còn sống, trong đó có 57.733 trường hợp AIDS đang sống và 61.579 người đã chết do AIDS Đường lây nhiễm HIV chủ yếu qua đường tình dục (45,5%) và sau đó là đường máu (41,9%) [10]

Tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm PNBD trên 10% tại nhiều tỉnh/ thành phố và hiện có xu hướng gia tăng tại một số tỉnh thành phố khác [8] Theo kết quả của GSTĐ HIV từ 1994-2011, tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm này trong những năm 1994-1997 dưới 2% Từ 1998-2002, tỷ lệ nhiễm HIV tăng nhanh, và trong giai đoạn 2003-2011 khá ổn định Trong giai đoạn 2003-2011, tỷ lệ nhiễm HIV tính chung cho các tỉnh tham gia GSTĐ giao động từ 3%-5% [17]

Tuy nhiên, các tỉnh khác nhau có tỷ lệ nhiễm khác nhau Một số tỉnh có tỷ

lệ nhiễm HIV trong nhóm PNBD rất cao như Lạng Sơn (17,06%), Cần Thơ (10,67%), Điện Biên (8%) [17] Tuy nhiên, ở nhiều tỉnh, tỷ lệ này khá thấp như

Đà Nẵng (0,6%) [13], Khánh Hòa 1,1 % [34] Tỷ lệ nhiễm HIV của PNBD ở 5 tỉnh biên giới Việt Nam cũng thấp: ở Lai Châu là 2%, Quảng Trị 1%, Đồng Tháp 4,7%, An Giang 7%, Kiên Giang 4% [12]

Ở Hà Nội, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm PNBD tăng nhanh từ 0,09% năm

1996 tới 10% năm 2000 Từ 2001-2004, tỷ lệ nhiễm HIV vẫn tăng, nhưng với tốc độ chậm hơn, từ 11,5% năm 2001 tới 15,75% năm 2004 [19] Nghiên cứu của Tran TN (2005) cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD ở Hà Nội là 12 % [107] Nhiều tỉnh khác cũng có tỷ lệ nhiễm HIV ở PNBD khá cao như Quảng Ninh (12,4%), Cần Thơ (29% ở nhóm BDĐP) [13], Thái Nguyên (14,69%) [2].PNBD ở miền Bắc Việt Nam năm 2009 có tỷ lệ nhiễm HIV là 11% [31]

 Thực trạng tình hình nhiễm STI trên thế giới

WHO tính hàng năm trên thế giới có khoảng 340 triệu người mắc các STI

cổ điển gồm lậu, giang mai, Chlamydia và trùng roi Khu vực chiếm tỷ lệ nhiều nhất là khu vực Nam Á và Đông Nam Á, sau đó là khu vực cận Sahara, Mỹ la tinh và vùng Caribe [122] Tỷ lệ nhiễm STI thường bị ước lượng thấp do rất

Trang 24

nhiều nhiễm trùng không biểu hiện triệu chứng và hệ thống báo cáo không đầy

đủ PNBD được coi là nhóm có tỷ lệ nhiễm STI cao

Lậu: là một STI cổ điển Nhóm tỷ lệ nhiễm lậu của PNBD khác nhau giữa

các quốc gia, các khu vực Tỷ lệ nhiễm lậu của PNBD ở Yunnan (Trung Quốc)

là 37,8% [128], ở Quảng Đông là 9,5% [130] Tại Campuchia, điều tra về STI

ở PNBD ở 3 thành phố lớn là Phnom penh, Battambang và Sihanouk Ville năm

1996 cho thấy 35% nhiễm lậu [100], tỷ lệ nhiễm lậu của PNBD trong điều tra năm 2001 là 14,2% [80] và năm 2005 là 12% [72] Tại Indonesia, tỷ lệ nhiễm lậu và Chlamydia của PNBD trong những năm 2000 từ 35% - 68% [64], [102];

tỷ lệ nhiễm lậu năm 2005 của PNBD là 28,6% [67]

Giang mai là một STI cổ điển và tỷ lệ nhiễm ngày càng giảm Tại Trung

Quốc, tỷ lệ nhiễm giang mai của PNBD ở Yunnan là 9,5% [128], ở Quảng Đông là 8% [130] Ở Campuchia, điều tra về tình hình STI năm 1996 ở PNBD cho thấy tỷ lệ có huyết thanh giang mai (+) là 14% [100], năm 2001 là 5,7% [80] và năm 2005 là 2,3% [72]

Chlamydia là một STI rất thường gặp PNBD là quần thể có tỷ lệ nhiễm

khá cao Ở Trung Quốc, tỷ lệ nhiễm Chlamydia ở PNBD tại Yunnan năm 2000

là 58,6% [128], tại 5 tỉnh khác năm 2001 là 41% [99], tại Quảng Đông 3,9% [130] Ở Campuchia, điều tra năm 1996 ở 3 thành phố Phnom penh, Battambang và Sihanouk Ville cho thấy tỷ lệ PNBD nhiễm Chlamydia là 22,5% [100], điều tra năm 2001 là 12,1%[80] và năm 2005 là 14% [72]

 Thực trạng tình hình nhiễm STI tại Việt Nam

Ở Việt Nam, theo thống kê của Bệnh Viện Da liễu Trung ương, hàng năm

có khoảng 300.000 người mắc các STI do các đơn vị da liễu tuyến tỉnh báo cáo [15] Việt Nam chưa có một hệ thống giám sát các STI hoàn chỉnh nên số lượng cũng như tình hình mắc STI ở các nhóm quần thể trong đó có nhóm PNBD không được đầy đủ Tuy nhiên, hình nhiễm các STI ở nhóm PNBD cũng được

Trang 25

quan tâm và có một số nghiên cứu đã bước đầu đưa ra được các thông tin và các số liệu cơ bản

Tỷ lệ nhiễm lậu ở nhóm PNBD khác nhau rất nhiều tùy theo tỉnh và theo

thời gian Năm 2002, GSTĐ STI gắn kết với GSTĐ HIV cho thấy tỷ lệ PNBD

bị nhiễm lậu tại Hà Nội là 3%, tại TP Hồ Chí Minh là 0,5% [30], tại Hải Phòng

là 5,3% [35] Nghiên cứu về STI ở PNBD ở Trung tâm xã hội Ba Vì II và Trung tâm phục hồi nhân phẩm Thanh xuân năm 2009 cho thấy tỷ lệ nhiễm lậu

ở nhóm này rất thấp (2,1%) [31] Nghiên cứu năm 2002 cho thấy tỷ lệ nhiễm lậu của PNBD ở Lai Châu là 20,2%, Quảng Trị 24,8%, Đồng Tháp 7,3%, An Giang 5,7% và Kiên Giang là 9,4% [12] Tỷ lệ nhiễm lậu của PNBD ở Sóc Trăng năm 2003 là 14,9% [106], ở các cơ sở dịch vụ giải trí ở Huế năm 2008

là 30,6% [38]

Bệnh giang mai : Nghiên cứu lồng ghép GSTĐ STI vào GSTĐ HIV năm

2002-2003 cho thấy tỷ lệ nhiễm giang mai trong nhóm PNBD ở Hải Phòng là 2,7% [35], Hà Nội là 4,5%, ở, TP Hồ Chí Minh là 4,5% và Đà Nẵng 3% [30]

Tỷ lệ nhiễm giang mai của PNBD ở Lai Châu rất thấp (1%), cao ở Kiên Giang (13,4%), Quảng Trị (12,9%), Đồng Tháp (11,4%) và An Giang 10,8% [12] Tỷ

lệ này thấp ở Sóc Trăng (3,8%) [106] và ở Huế (2,8%) [38] Giám sát sinh học gắn kết với giám sát hành vi được Bộ Y tế thực hiện 2005-2006 cho thấy tỷ lệ nhiễm giang mai ở nhóm BDĐP và BDNH tại TP Hồ Chí Minh là 9,1% và 7,3%; tại An Giang là 5,5% và 5,8%; tại Đà Nẵng là 3% và 5,4% ; tại Cần Thơ

là 5,6% và 0,3%; tại Hải Phòng là 3,2% và 2,2%; và tỷ lệ nhiễm giang mai thấp nhất ở Quảng Ninh (0,6% ở nhóm BDĐP, 0,5% ở nhóm BDNH) [13]

Chlamydia là một STI khá phổ biến Tỷ lệ mắc Chlamydia của PNBD tại

Sóc Trăng năm 2003 là 48,4% [106] Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu ở các địa điểm khác cho thấy tỷ lệ nhiễm Chlamydia ở PNBD thấp hơn nhiều Nghiên cứu trên 5 tỉnh khác năm 2002-2003 cho thấy tỷ lệ nhiễm Chlamydia rất thấp ở

Trang 26

Hà Nội (5%), Hải Phòng 3,3%, Quảng Ninh 3%, TP Hồ Chí Minh 6,5% và Đà Nẵng 3,5% [30] Nghiên cứu khác tại Hà Nội cũng cho thấy chỉ 6,3% PNBD nhiễm Chlamydia (năm 2002) [107] và 7,5% năm 2009[31] Tại TP Hồ Chí Minh (năm 2005-2006) có 6,4% nhóm BDĐP và 14,2% nhóm BDNH nhiễm Chlamydia [13] Các nữ nhân viên làm việc tại cơ sở giải trí tại Huế có tỷ lệ nhiễm Chlamydia là 8,2% [38]

1.4.2 Đặc điểm và các hành vi nguy cơ của phụ nữ bán dâm

Tuổi, trình độ học vấn và tình trạng hôn nhân của PNBD

Nghiên cứu ở Campuchia năm 2005 cho thấy phần lớn PNBD trong các nhà chứa đều còn trẻ (tuổi trung bình là 25), trình độ học vấn thấp, có tới 44% chưa từng học qua trường lớp nào Gần một nửa số họ chưa từng lấy chồng (43%), một nửa ly dị hoặc ly thân (49%) [72] Nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy PNBD ở cộng đồng tại Quảng Đông có tuổi trung bình là 26 và tuổi quan

hệ tình dục lần đầu tiên là 19 Khoảng 50% bắt đầu bán dâm khi 23 tuổi Trong

số PNBD, 51,1% có trình độ học vấn THCS, 0,4% có trình độ cao hơn THPT, 40,8% chưa từng lấy chồng, 60,4% chỉ sống một mình và 39,6% có sống cùng bạn tình [130] Ở Indonesia, tuổi trung bình của PNBD là 25 tuổi Họ có trình

độ học vấn thấp, 45% số họ hoặc chưa qua trường lớp nào, 57,7% sống ly thân (57,7%), 21,7% sống một mình Chỉ có 14,1 % có chồng [67]

Ở Việt Nam, PNBD thường dưới 30 tuổi, có trình độ học vấn thấp và thường sống độc thân Nghiên cứu ở 5 tỉnh biên giới Việt Nam cho thấy phần PNBD ở lứa tuổi 20-29 (chiếm 60%), trình độ học vấn thấp (50,8 % có trình độ học vấn tiểu học) [91] PNBD ở Thái Nguyên có tuổi trung bình là 28,5 tuổi Đa số chỉ

có văn hóa dưới lớp 9, và phần lớn đều vào nghề khi còn rất trẻ (21-23 tuổi) [2] Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Hiền (2010) cho thấy phần lớn PNBD ở Vĩnh Long có tuổi từ 20-29 (chiếm 74%), có trình độ học vấn thấp: THCS chiếm 53,5%, không biết chữ + tiểu học chiếm 36% Tuổi trung bình là 23,7

Trang 27

Phần lớn họ đều chưa lập gia đình (68,7%) và chỉ có một số ít đang có chồng (6,8%), còn lại là li dị hoặc li thân (17,8%) [23]

Số khách hàng, bạn tình của PNBD

Số khách hàng của PNBD khác nhau tùy theo địa điểm PNBD ở Campuchia có khoảng 3,5 khách hàng mỗi ngày Hơn một nửa (58%) có người yêu 18% còn có quan hệ tình dục với các khách làng chơi mà họ biết đã từng quan hệ với nam giới Như vậy có sự đan xen nhau của quần thể nam giới quan

hệ đồng tính và PNBD, làm cho nguy cơ lây truyền HIV/STI tăng lên [72] Tại Quảng Đông (Trung Quốc), trung bình 1 tuần PNBD ở cộng đồng tiếp khoảng 5 khách Gần một nửa (46,6%) có bạn tình thường xuyên và không phải trả tiền [130] PNBD ở Indonesia có trung bình 4 khách hàng trong 1 tuần, trong đó PNBD ở nhà chứa có 7 khách hàng, BDĐP đường phố có 3 khách hàng và BDNH có 3 khách hàng Khoảng một nửa trong số họ (44,6%) có bạn tình lâu dài [67]

Ở Việt nam, số lượng khách hàng của PNBD khác nhau tùy theo tỉnh và tùy theo loại PNBD PNBD ở Thái Nguyên có khoảng 25 khách hàng/ tháng, trong đó khoảng 9 khách lạ, 13 khách quen [2] Nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy, trung bình 1 ngày BDĐP tiếp 2 khách hàng, còn BDNH tiếp 1,2 khách [107] Nghiên cứu về hành vi và các chỉ số sinh học trên PNBD năm 2006 cho thấy số khách lạ trong 1 tuần giao động từ 3-6 người, tùy theo từng tỉnh và số khách quen khoảng 2-3 người [13] Tại Vĩnh Long, trung bình 1 tháng PNBD

có 18 khách hàng Số khách lạ trung bình trong 1 tháng là 8,5và khách quen là 9,7 [23]

Hiểu biết về HIV/STI của PNBD

Có đến 50% PNBD ở Campuchia không cho rằng bản thân họ có nguy cơ nhiễm HIV/STI cao hơn so với người phụ nữ bình thường, thậm chí 26,7% lại cho rằng họ có nguy cơ nhiễm HIV/STI thấp hơn, chỉ 17,2% biết họ có nguy cơ

Trang 28

cao hơn [72] PNBD trong cộng đồng của Jamaica có kiến thức khá tốt về HIV

và cách phòng lây nhiễm HIV 98,2% cho rằng dùng BCS thường xuyên liên tục

và 74% cho rằng chung thủy với 1 bạn tình là các cách có thể ngăn ngừa lây nhiễm HIV [75]

Ở Việt nam, kiến thức về HIV/STI của PNBD khác nhau giữa các tỉnh PNBD ở Khánh Hòa có hiểu biết rất tốt về HIV 95% biết đúng cả 3 đường lây truyền HIV, 93% biết đúng 3 cách phòng HIV [34] Tại Cần Thơ, có tới 93% BDĐP và 96 % BDNH hiểu biết đúng về phương pháp phòng tránh HIV Tuy nhiên tỷ lệ tự cho rằng bản thân có nguy cơ nhiễm HIV lại không cao (62% BDNH và 51% BDĐP) [3]

Nghiên cứu tại 7 tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ và An Giang) cho thấy những hiểu biết của PNBD về HIV đều rất tốt: tỷ lệ biết đường lây qua đường máu là 93%, tình dục 98%, mẹ sang con 70%, biết cách phòng lây nhiễm HIV bằng cách chung thủy 93%, dùng BCS đúng cách 99% và không dùng chung BKT 97,5% Hầu hết họ đều biết vai trò của BCS trong phòng HIV/STI (98-100%) [41] Tại Thái Nguyên, kiến thức về HIV còn thấp Chỉ 43,5% có được hiểu biết đúng về tất cả các đường lây của HIV Nhận thức của nhóm này về HIV/AIDS còn rất thấp: kiến thức tối thiểu chỉ đạt 44,39%, có tới >50% không dùng BCS khi tiếp khách [2]

Nhận thức của PNBD về các triệu chứng của STI cũng thay đổi qua các tỉnh Triệu chứng chảy mủ được nhiều người cho là triệu chứng của STI nhất (77,8% ở Hải phòng, 63,2% ở Quảng Ninh, 54,1% ở Đà Nẵng) PNBD ở TP Hồ Chí Minh nhận biết về các triệu chứng STI kém hơn các tỉnh khác [13]

Những hiểu biết về HIV và STI của PNBD ở Vĩnh Long không cao Chỉ

có 22,5% biết rằng chung thủy với một bạn tình và 38,5% biết rằng sử dụng BCS là những yếu tố bảo vệ giúp làm giảm lây nhiễm HIV Hiểu biết về STI của họ cũng rất hạn chế Chỉ có một tỷ lệ nhỏ nhận biết được các biểu hiện thường gặp của STI như đau bụng dưới (25,5%) chảy mủ ở cơ quan sinh dục

Trang 29

(22,3%), đi tiểu buốt (16,5%), loét sùi cơ quan sinh dục (5%) Khi nhiễm STI, 51% vẫn tiếp tục QHTD và 60% vẫn không dùng BCS khi QHTD [23]

Tiền sử nhiễm STI và hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế của PNBD

Đã từng nhiễm STI là một đặc điểm khá phổ biến trong nhóm PNBD trên thế giới Tại Campuchia, 47% PNBD đã từng nhiễm STI trong năm trước Khi mắc bệnh, đa số họ đến khám tại các cơ sở y tế nhà nước (63,7%), 21,5% đến các phòng khám STI của các tổ chức phi chính phủ Ở một số tỉnh, tỷ lệ đi khám ở bệnh viện nhà nước rất cao (98% ở Banteay, 97% ở Battambang) [72] Tại Jamaica, 38,2% PNBD bị tiết dịch âm đạo và 20,9% bị loét sinh dục trong năm vừa qua Khi bị nhiễm STI, họ cũng hay đến khám tại các phòng khám của nhà nước (72,3%) hơn là khám bác sỹ tư (18,1%) [75] Đối với PNBD ở Indonesia, khi nhiễm STI, khoảng 1/3 số họ (33,2%) đi khám bác sỹ, hơn 1/3 (36,4%) tự mua thuốc điều trị tại các quầy thuốc, 12,2% điều trị bằng y học cổ truyền và 18,3% không điều trị gì [67]

Ở Việt Nam, tiền sử từng nhiễm STI trong PNBD khá phổ biến, chiếm tới 50-60% Nghiên cứu cú Bộ Y tế năm 2005-2006 cho thấy tỷ lệ PNBD có tiền

sử STI trong 12 tháng vừa qua khá cao Tại TP Hồ Chí Minh, 34,4% có tiền sử chảy mủ sinh dục và 15,6% có tiền sử loét sùi sinh dục Tại An giang, tỷ lệ có chảy mủ sinh dục là 43,2% và loét sùi sinh dục là 15,2% [13] Nghiên cứu tại 5 tỉnh biên giới của Nguyen Vu Thuong và CS (2007) cho thấy: khi bị tiết dịch bất thường, 50,6% PNBD đi khám bác sỹ tư, 31% tự điều trị Chỉ có 60,6% dùng BCS trong thời gian bị bệnh và có 34% không QHTD trong thời gian này [91] PNBD ở Khánh Hòa có tỷ lệ nhiễm STI trong 6 tháng qua chiếm tới 68% Khi mắc bệnh, 25,6% tự mua thuốc điều trị ở quầy thuốc, 31,2% đến khám bác

sĩ tư nhân [34] PNBD ở Vĩnh Long khi nhiễm STI, có tới 69,4% tự đi mua thuốc để chữa, 26,5% đi khám y tế tư nhân [23]

Tình hình sử dụng BCS của PNBD

Trang 30

Tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên ở nhóm PNBD khác nhau ở nhiều nơi, nhưng nhìn chung tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên đối với với khách lạ cao nhất, với khách quen thấp hơn và với chồng/ bạn trai thấp nhất

Tại Campuchia, có 80% PNBD sử dụng BCS thường xuyên với khách hàng trong tuần trước khi được phỏng vấn, nhưng chỉ có 25% PNBD sử dụng BCS thường xuyên với chồng/ bạn trai trong tháng vừa qua [72] Tại Jamaica, PNBD trong cộng đồng sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất với khách hàng phải trả tiền nhiều hơn với khách hàng không phải trả tiền (91,3% so với 30%) [75] Indonesia là một quốc gia có tỷ lệ sử dụng BCS trong nhóm PNBD thấp

Tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên với khách hàng chỉ đạt 26,8% Các PNBD trong nhà chứa và BDĐP sử dụng BCS không thường xuyên nhiều hơn so với BDNH [67]

Tỷ lệ PNBD dùng BCS khi quan hệ tình dục với khách hàng ở Việt Nam khác nhau tùy theo tỉnh Ở Khánh Hòa, 100% PNBD đều sử dụng BCS khi QHTD trong 6 tháng qua [34] Ở Thái Nguyên, có tới > 50% PNBD không dùng BCS khi tiếp khách và 35,2% không dùng ngay cả khi có dấu hiệu mắc bệnh STI Chỉ 24,5% số lần QHTD với chồng/ bạn trai có sử dụng BCS [2] Tỷ

lệ sử dụng BCS với khách hàng của PNBD ở Cần Thơ khá cao, 92% BDĐP và 95% BDNH sử dụng BCS thường xuyên với khách lạ trong 1 tháng trước khi được phỏng vấn Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên với bạn tình thường xuyên rất thấp: 21% ở BDĐP và 12% ở BDNH [3] Ở Hà Nội, tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên trong 1 tháng với khách lạ là 63%, khách quen là 41%

và với chồng hoặc người yêu chỉ là 4,8% [107] Ở Vĩnh Long, tỷ lệ sử dụng BCS liên tục trong 1 tháng với khách lạ thấp (55,2% ở BDĐP và 57% ở BDNH) Tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên trong 1 tháng đối với khách quen thấp hơn nhiều: 41,4% ở BDĐP và 54,4% ở BDNH Chỉ có 16% BDĐP và 22,4% BDNH sử dụng BCS liên tục trong 1 tháng khi QHTD với chồng [23]

Trang 31

Tình hình sử dụng ma túy của PNBD

Sử dụng ma túy được cho là một hành vi thường gặp ở nhóm PNBD.Tuy nhiên, mức độ sử dụng này rất khác nhau ở các nước khác nhau Có tới 56,6% PNBD trong cộng đồng ở Jamaica đã từng sử dụng thuốc phiện (marijuana) Những PNBD nhiễm HIV dùng thuốc phiện nhiều hơn so với PNBD chưa nhiễm HIV (27,6% so với 4,1%) 3,6% đã từng tiêm chích ma túy [75] Điều tra

về các hành vi nguy cơ cao trong nhóm PNBD ở Quảng Đông cho thấy không

ai trong nhóm này sử dụng ma túy, cocain, nhưng có khoảng 9,75% có sử dụng thuốc lắc [130]

Ở Việt Nam, sử dụng ma túy cũng là hành vi hay gặp trong nhóm PNBD

và trong số những người đã SDMT, tỷ lệ tiêm chích khá cao, có thể chiếm tới trên 70% Tại Khánh Hòa, tỷ lệ PNBD sử dụng ma túy rất thấp (1,1%) Tất cả những người SDMT đều tiêm chích ngay từ đầu và không ai dùng chung BKT [34] Ở Thái Nguyên, 8,5% đã từng SDMT, trong đó 72% đã tiêm chích [2] Tại Cần Thơ, 19% BDĐP và 1% BDNH có sử dụng ma túy Tỷ lệ TCMT trong

số những người đã từng SDMT ở BDĐP là 93% và BDNH là 75% Ở BDĐP,

tỷ lệ dùng chung BKT và thuốc hoặc dụng cụ pha thuốc là 10% và 19% [3] Nghiên cứu về hành vi gắn với các chỉ số sinh học năm 2005-2006 cho thấy nhiều PNBD ở các tỉnh tham gia nghiên cứu có SDMT, nhưng tỷ lệ này khác nhau tùy theo tỉnh BDĐP Cần Thơ có tỷ lệ SDMT và TCMT cao nhất (tỷ lệ là 18,52% và 17,28%), sau đó đến nhóm BDNH của TP Hồ Chí Minh (tỷ lệ SDMT là 15,23%) và An Giang (tỷ lệ SDMT trong nhóm BDNH là 13,85%) [13] Trong số PNBD ở Vĩnh Long, 8% đã từng SDMT và 4,5% đã từng TCMT BDĐP có tỷ lệ TCMT cao gấp 3 lần BDNH (10,3% so với 3,5%, p<0,05).Tỷ lệ sử dụng chung BKT trong vòng 1 tháng là 27,8% [23]

1.4.3 Liên quan giữa các hành vi và nhiễm HIV/STI

Liên quan giữa các hành vi và nhiễm HIV/STI trên thế giới

Theo nhiều nghiên cứu, một số hành vi làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV như trình độ học vấn thấp, hiểu biết kém về HIV/STI, không sử dụng BCS

Trang 32

thường xuyên, có sử dụng ma túy Một số hành vi có nguy cơ làm tăng lây nhiễm STI gồm tuổi trẻ, thuộc nhóm PNBD đường phố, bắt đầu bán dâm khi còn trẻ tuổi, có nhiều khách hàng và không sử dụng BCS thường xuyên

Nghiên cứu ở Quảng Đông (2010) cho thấy trình độ học vấn cao và nhận thức tốt về nguy cơ nhiễm HIV là các yếu tố làm giảm nguy cơ mắc STI Các hành vi như đón khách ở khách sạn hoặc trên đường phố, được trả nhiều tiền cho quan hệ tình dục là các yếu tố có liên quan đến nhiễm STI Yan Li cũng cho rằng khả năng thuyết phục khách hàng sử dụng BCS có liên quan chặt chẽ đến nhiễm STI [130]

Nghiên cứu ở Jamaica cho thấy các yếu tố như tuổi, sử dụng ma túy, không sử dụng BCS trong lần quan hệ tình dục gần nhất với khách hàng làm tăng nguy cơ nhiễm HIV ở nhóm PNBD Những người sử dụng BCS với khách hàng trong lần QHTD gần nhất có nguy cơ nhiễm HIV ít hơn 76,5 % [75] Điều tra về STI và hành vi của PNBD ở Indonesia cho thấy PNBD trong các nhà chứa và đường phố có nguy cơ nhiễm lậu và Chlamydia cao hơn BDNH Các yếu tố nguy cơ nhiễm lậu và Chlamydia khác bao gồm bắt đầu bán dâm khi trẻ hơn 24 tuổi; mới vào nghề dưới 1 năm, nhiều hơn 4 khách hàng trong 1 tuần, không sử dụng BCS liên tục thường xuyên trong tuần trước khi tham gia nghiên cứu [67]

Liên quan giữa các hành vi và nhiễm HIV/STI tại Việt Nam

Nhiều nghiên cứu đã tìm ra một số hành vi làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/STI, bao gồm tuổi trẻ, đã từng SDMT, không sử dụng BCS thường xuyên,

có nhiều khách hàng, có hiểu biết kém về HIV/STI

Nghiên cứu về HIV và các yếu tố nguy cơ của PNBD ở 3 tỉnh TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ và An Giang cho thấy các yếu tố liên quan độc lập với nhiễm HIV gồm dưới 30 tuổi, QHTD hơn 20 lần/ tuần, bị loét sinh dục, bị sùi mào gà,

Trang 33

sử dụng BCS không thường xuyên, và hành nghề ở khu vực gần biên giới PNBD dưới 30 tuổi từng nhiễm STI nhiều hơn [88]

Nghiên cứu tại Hải Phòng về các yếu tố liên quan đến mắc STI cho thấy trình độ học vấn thấp có nguy cơ mắc bệnh cao hơn Có kiến thức tốt về STI là một yếu tố bảo vệ làm giảm nguy cơ mắc bệnh, kiến thức về sử dụng BCS kém

có nguy cơ mắc STI cao hơn Một số hành vi làm tăng nguy cơ nhiễm STI khác như có nhiều hơn 4 khách hàng/ tuần và tự chữa bệnh khi nhiễm STI [26]

Một nghiên cứu khác ở các cơ sở dịch vụ giải trí tại Huế năm 2008 cũng tìm ra một số yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm STI gồm trình độ học vấn thấp,

sử dụng BCS không đúng cách Những người đã từng có chồng, góa chồng hay

li dị có tỷ lệ nhiễm cao nhất (53,4%), rồi đến những người chưa từng kết hôn (42,8%) và những người có chồng (33,3%) [38]

Nghiên cứu của Tran T N (2005) phát hiện được một số yếu tố hành vi có liên quan đến nhiễm HIV Các yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm HIV bao gồm tuổi trẻ, trình độ học vấn thấp dưới lớp 7, thuộc nhóm BDĐP, có thu nhập cao hơn, cho rằng bản thân có nguy cơ nhiễm HIV thấp, kiến thức về HIV thấp và dùng chung BKT khi tiêm chích ma túy [107] Nghiên cứu tại 5 tỉnh biên giới của Nguyen VT (2005) cũng cho thấy các yếu tố nguy cơ làm tăng lây nhiễm HIV là thu nhập thấp, tuổi QHTD lần đầu tiên < 15 tuổi và có nhiều khách hàng (> 9 khách hàng/tuần) [90]

1.5 Các biện pháp can thiệp làm giảm nhiễm HIV/STI

1.5.1 Các can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/STI ở PNBD trên thế giới

Các giải pháp nhằm làm giảm tỷ lệ nhiễm STI ở PNBD tập trung vào 3 lĩnh vực: tăng cường sử dụng BCS trong hoạt động mua bán dâm, cải thiện việc chẩn đoán và điều trị các STI và giảm nhu cầu về hoạt động mua bán dâm thông qua các thông điệp nhắm tới khách làng chơi [98]

Chương trình 100% bao cao su

Trang 34

Chương trình 100% BCS đã được chứng tỏ là một chương trình can thiệp hiệu quả trong phòng chống HIV/STI Mục tiêu đặt ra là BCS được sử dụng trong tất cả các lần QHTD, trong tất cả các mối quan hệ có nguy cơ và trong tất

cả các cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí có hoạt động mua bán dâm Nếu tỷ lệ sử dụng BCS trên 90% thì có thể coi đã đạt được mục tiêu Chương trình này không thể tồn tại độc lập mà cần phải phối hợp với nhiều hoạt động của chương trình phòng chống AIDS như các chương trình giáo dục sức khỏe cộng đồng,

hệ thống giám sát HIV/STI, chương trình quản lý STI [121]

Chương trình 100% BCS được thực hiện đầu tiên ở Thái Lan năm 1990 Thái Lan cho rằng ngành công nghiệp tình dục đã góp phần rất quan trọng làm dịch HIV lan rộng, và quyết định thực hiện một can thiệp thử nghiệm, đó là chương trình 100% BCS Chương trình đã mang lại hiệu quả rõ rệt: tỷ lệ sử dụng BCS tăng và tỷ lệ nhiễm STI của PNBD giảm [121]

Sự thành công của chương trình tại Thái Lan giúp cho Campuchia cũng quyết định thực hiện can thiệp theo mô hình này Số liệu điều tra năm 1998 của Campuchia cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV rất cao ở nhóm PNBD Chính phủ Campuchia quyết định thực hiện chương trình 100% BCS ở Sihanoukville năm

1998 Sau 18 tháng can thiệp, tỷ lệ sử dụng BCS trong nhóm khách làng chơi tăng đáng kể và tỷ lệ nhiễm HIV giảm xuống còn 40% Sau thử nghiệm thành công ở Sihanoukville, chính phủ Campuchia mở rộng chương trình ra toàn quốc Can thiệp đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm HIV/STI cùng với tăng tỷ lệ

sử dụng BCS thường xuyên liên tục trong nhóm PNBD và khách làng chơi [121]

Ngoài ra, chương trình 100% BCS cũng đã thành công và đạt được kết quả tốt, làm tăng tỷ lệ sử dụng BCS trong nhóm PNBD và khách làng chơi và làm giảm tỷ lệ nhiễm STI trong nhóm PNBD tại một số nước khác trong khu vực như Trung Quốc, Myanmar, Phillipines, Mongolia, Lào và Việt Nam

Trang 35

Các can thiệp thay đổi hành vi, cung cấp dịch vụ STI và cung cấp BCS

Thái Lan đã có nhiều thành công trong việc áp dụng các nguyên tắc phòng chống HIV/STI từ đầu những năm 1990 Thông qua hoạt động truyền thông, tăng cường sử dụng BCS và can thiệp trong quản lý các STI, tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên của PNBD tăng từ 14% tới 80% và tỷ lệ nhiễm STI giảm tới 95% trong vòng 1 thập kỷ Cùng thời gian đó, tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng ổn định và cuối cùng có giảm [60] Những can thiệp tương tự cũng cho các chiều hướng tương tự tại Campuchia, Nairobi, Abidjan và Contonou [49], [80] Một can thiệp toàn diện bao gồm khuyến khích PNBD sử dụng BCS và đi khám tự nguyện tại phòng khám STI đã được tiến hành tại Zaire Can thiệp cho thấy tỷ

lệ sử dụng BCS tăng lên, tỷ lệ nhiễm STI và tỷ lệ mới nhiễm HIV giảm một cách có ý nghĩa [79]

Trung Quốc là một quốc gia chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của HIV trong 2 thập kỷ qua Trong những năm đầu của dịch HIV, đường lây truyền chủ yếu là qua tiêm chích là truyền máu, nhưng những năm gần đây, đường lây HIV qua quan hệ tình dục tăng rất nhanh [62] Nhiều nghiên cứu can thiệp về HIV đã được thực hiện Can thiệp tại Wuhan bao gồm tăng cường tính sẵn có của bao cao su, tư vấn, giáo dục về STI cũng cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS trong lần quan hệ cuối cùng tăng từ 60% tới 88,5% Sau chương trình 100% BCS ở Jiangsu từ 2001-2003, tỷ lệ nhiễm STI ở PNBD giảm từ 25% xuống còn 14%,

tỷ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất tăng từ 74,9% tới 92,2% Ở Guangxi tỷ lệ nhiễm STI giảm từ 44% tới 29% [129]

Năm 2003, Ấn Độ đã tiến hành can thiệp trên nhóm PNBD ở bang Karnataka Can thiệp này bao gồm các hoạt động như sử dụng đồng đẳng viên

để tiếp cận được PNBD, truyền thông thay đổi hành vi, tăng sử dụng BCS, sàng lọc STI thường xuyên, chẩn đoán và điều trị STI theo hội chứng, khám STI định kỳ Kết quả cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS của PNBD với khách quen trong

Trang 36

lần QHTD gần nhất tăng lên rõ rệt (66% so với 84%), nhưng tỷ lệ sử dụng BCS lần QHTD gần nhất với khách lạ không tăng (82,9% so với 88%, p=0,2) và trong quan hệ với người yêu/ chồng vẫn thấp (32% so với 34%) Tỷ lệ nhiễm HIV và một số STI cũng giảm một cách có ý nghĩa: HIV (19,6% so với 16,4%, p=0,04), giang mai (5,9% so với 3,4%, p=0,001), lậu (3,5% so với 2,5%, p=0,03), nhiễm Chlamydia và / hoặc lậu (8,9% so với 7%, p=0,02) [96]

Maryam Shahmanesh đã đánh giá hiệu quả của các can thiệp làm giảm HIV và các STI thông qua tìm hiểu một loạt các nghiên cứu đã được tiến hành

ở các nước nghèo Đánh giá này cho thấy các hoạt động can thiệp về hành vi và bao cao su đã làm tăng tỷ lệ sử dụng BCS và giảm tỷ lệ mới nhiễm HIV và STI [82] Ở Madagascar, can thiệp đã làm giảm tỷ lệ nhiễm STI đồng thời tỷ lệ sử dụng BCS tăng lên [66] Một số can thiệp điều trị giả định định kỳ cũng đã được Maryam đánh giá Nghiên cứu ở Nairobi cho thấy điều trị giả định định

kỳ làm giảm đáng kể các STI do vi khuẩn [77], nhưng nghiên cứu ở Benin và Ghana không chứng tỏ được hiệu quả của biện pháp can thiệp này [78] Nghiên cứu ở Nicaragua cấp các phiếu điều trị STI ở các phòng khám có chất lượng kết hợp với điều trị giả định định kỳ cũng cho thấy làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm STI ở PNBD [53] Một số nghiên cứu về hiệu quả của việc sàng lọc STI thường xuyên, giáo dục đồng đẳng và khuyến khích sử dụng BCS làm giảm tỷ lệ mới nhiễm HIV đã được tiến hành ở Zaire [79] và giảm tỷ lệ nhiễm STI tại Peru [101] và Trung Quốc [81]

Can thiệp tại Kenya cho nhóm PNBD được tiến hành từ 2000 tới 2005 bao gồm truyền thông giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức về HIV/STI, kỹ năng đàm phán và khuyến khích sử dụng, cung cấp BCS thông qua mạng lưới đồng đẳng Sau can thiệp, tỷ lệ luôn dùng BCS với khách hàng tăng từ 28,8% lên 70,4% Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên với chồng hoặc bạn trai không tăng (20,3% so với 20,1%) Một số kiến thức về HIV cũng được cải

Trang 37

thiện Tuy nhiên một số hiểu biết về STI lại kém đi Sau can thiệp, tỷ lệ nhiễm giang mai và lậu không giảm, tỷ lệ người bị loét sinh dục tăng lên từ 11 % lên 19,6% Như vậy, can thiệp có thể thay đổi hành vi tình dục ở PNBD, nhưng không làm giảm tỷ lệ nhiễm STI [103]

Wariki cùng cộng sự cũng đã nghiên cứu hiệu quả của can thiệp hành vi

và chương trình BCS được tiến hành ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình Thống kê của Wariki đã chỉ ra rằng các can thiệp hành vi kết hợp với việc khuyến khích sử dụng BCS đã làm giảm tỷ lệ nhiễm STI đáng kể, nhưng các can thiệp hành vi không làm giảm tỷ lệ mới nhiễm HIV [120]

1.5.2 Các can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/STI ở PNBD tại Việt Nam

Chính phủ Việt Nam đã đề ra chiến lược phòng chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 Chiến lược nêu rõ trong giai đoạn hiện nay, dịch HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn đang là giai đoạn dịch tập trung trong nhóm đối tượng có nguy cơ cao như TCMT và PNBD Vì vậy ngăn chặn lây nhiễm HIV

từ nhóm nguy cơ cao ra cộng đồng có ý nghĩa rất quan trọng và cơ bản sẽ khống chế được tốc độ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng Đối với nhóm người có nguy cơ cao như TCMT và PNBD thì các hoạt động cần thiết bao gồm thông tin giáo dục truyền thông thay đổi hành vi, chương trình 100% BCS, chương trình BKT, đảm bảo tính sẵn có của các dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện, thành lập các điểm khám cố định và nhóm khám lưu động để điều trị các STI cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao [45] Bộ Y tế cũng đã xây dựng chương trình hành động phòng chống STI, trong đó PNBD là một trong các đối tượng của can thiệp Các giải pháp kỹ thuật cần thiết gồm đẩy mạnh công tác thông tin giáo dục truyền thông, cung cấp và hướng dẫn sử dụng BCS, phát hiện và điều trị sớm các STI, tổ chức các đợt khám chữa bệnh tại các cơ sở

Trang 38

vui chơi giải trí, khám và xét nghiệm định kỳ HIV/STI 6 tháng 1 lần cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao [14]

Việt Nam cũng đã có nhiều biện pháp can thiệp dự phòng HIV/STI cho nhóm người có nguy cơ cao trong đó có nhóm PNBD, bao gồm chương trình truyền thông thay đổi hành vi, chương trình tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện, chương trình BKT và chương trình BCS

Chương trình truyền thông thay đổi hành vi

Theo báo cáo của Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS, các hoạt động truyền thông được tổ chức rộng rãi trên toàn quốc bởi nhiều ban ngành, tổ chức dưới nhiều hình thức và nhiều kênh truyền thông như ti vi, báo, đài, tờ rơi, pa

nô, áp phích Bên cạnh đó, các hoạt động đào tạo, giáo dục đồng đẳng, tư vấn cho nhóm người có hành vi nguy cơ cao được chú trọng Năm 2006, chỉ có 35,4% PNBD và 37,6% nam nghiện chích ma túy, 54,9% nam giới quan hệ đồng tính biết chính xác được các cách phòng lây nhiễm HIV qua đường tình dục và các quan niệm sai lầm về cách lây truyền HIV Năm 2009, tỷ lệ nay tăng lên: ở nhóm PNBD là 51,5%, nam giới nghiện chích là 49,2% và tình dục đồng giới nam là 60,3% [46]

Chương trình bao cao su

Chương trình 100% BCS ở Việt Nam lần đầu tiên được thực hiện tại Thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh năm 2000 [121] Cho đến năm 2009, chương trình BCS đã được thực hiện trên 2110 xã của 363 huyện trên 57 tỉnh thành phố Năm 2009, đã có 24,8 triệu BCS được phân phát miễn phí cho nhóm nguy cơ cao Hệ thống cộng tác viên bao gồm các chủ nhà hàng, khách sạn, dịch vụ giải trí, các PNBD hoàn lương đã phân phối 65% số BCS được phân phát [16] Chương trình BCS cố gắng để BCS luôn có sẵn trong khách sạn, nhà nghỉ

và các cơ sở dịch vụ giải trí Nhiều tỉnh đã có sự hợp tác chặt chẽ giữa lực lượng cảnh sát và y tế trong việc thực hiện chương trình như An Giang, Cần

Trang 39

Thơ, Thanh Hóa Năm 2006, chỉ có 30% PNBD được nhận BCS từ chương trình, tỷ lệ này tăng lên 47,3% năm 2009 Tỷ lệ sử dụng BCS của PNBD với khách hàng gần đây nhất khá cao: 95% năm 2008 và 77,7% năm 2009 [46]

Chương trình bơm kim tiêm (BKT)

Mục tiêu của chương trình BKT là làm giảm nguy cơ lây truyền HIV qua đường máu do sử dụng chung BKT khi TCMT Các hoạt động chủ yếu của chương trình này là phát BKT sạch hoặc trao đổi BKT Việc thu gom và phân phát BKT chủ yếu do hệ thống tư vấn viên đồng đẳng thực hiện

Theo báo cáo của Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống

tệ nạn ma túy mại dâm, với sự hỗ trợ ở một loạt các cấp hành chính và sử dụng các cơ cấu dịch vụ y tế và tuyển dụng các tuyên truyền viên đồng đẳng, chương trình trao đổi bơm kim tiêm được mở rộng Phân phát BKT miễn phí được duy trì ở mức khoảng 30 triệu chiếc vào năm 2011, và mở rộng tiếp cận thông qua hiệu thuốc cộng đồng và hộp tự phục vụ tại các trạm y tế xã và các điểm nóng trong cộng đồng [43]

Chương trình giáo dục đồng đẳng -tiếp cận cộng đồng

Chương trình giáo dục đồng đẳng là việc tổ chức một nhóm người có thể là PNBD, người SDMT để giáo dục cho các đối tượng cùng cảnh ngộ về các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV/STI [23]

Theo báo cáo của Bộ Y tế, cho đến 31/3/2012, chương trình giáo dục đồng đẳng bao gồm 5.276 đồng đẳng viên [18] Hệ thống giáo dục viên đồng đẳng đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động can thiệp cho các nhóm đối tượng nguy cơ cao khó tiếp cận Số BKT mà các giáo giục viên đồng đẳng phát ra chiếm 83,4% tổng số BKT được phát và hoạt động thu gom BKT cũng chủ yếu thực hiện qua mạng lưới đồng đẳng viên (chiếm 93% số thu gom) Nhóm giáo dục viên đồng đẳng cũng tham gia tích cực chương trình BCS Số

Trang 40

BCS họ phát cho nhóm đối tượng nguy cơ cao chiếm 78% tổng số bao cao su phát ra [18]

Các nghiên cứu can thiệp gồm các hoạt động tư vấn thay đổi hành vi, cung cấp dịch vụ STI và cung cấp BCS

Một nghiên cứu đánh giá hiệu quả các biện pháp can thiệp trên nhóm PNBD tại An Giang và Kiên Giang được thực hiện năm 2000-2002 Nội dung can thiệp gồm giáo dục đồng đẳng, truyền thông về HIV/STI và tăng cường quản lý STI cho nhóm PNBD Sau 2 năm can thiệp, tỷ lệ hiểu biết của PNBD ở Kiên Giang có cải thiện ở một số bệnh như giang mai, nhưng không thay đổi đối với bệnh lậu, loét sinh dục Tỷ lệ PNBD biết vai trò BCS trong phòng ngừa STI khá cao (90,8% vòng 1 và 91,3% vòng 2) Ở An Giang, hiểu biết về STI ở

cả 2 vòng không có sự khác biệt, nhưng tỷ lệ hiểu về vai trò dự phòng của BCS tăng lên Tỷ lệ sử dụng BCS liên tục với bạn tình thường xuyên không được cải thiện nhưng tỷ lệ sử dụng BCS với khách hàng tăng từ 28,1% lên 38,1% (p< 0,01) Hiểu biết của PNBD về các cách dự phòng HIV được cải thiện rõ ràng: dùng BCS (91,9% so với 95,6%, p< 0,01), giảm số khách làng chơi (25,1% so với 48,4%, p<0,01), làm xét nghiệm HIV (từ 50,8% lên 63,8%, p< 0,01) [33] Một nghiên cứu khác ở Việt Nam đã được thực hiện tại 5 tỉnh biên giới là Lai Châu, Quảng Trị, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang nhằm làm giảm tỷ

lệ nhiễm STI và HIV cho PNBD Các hoạt động can thiệp bao gồm truyền thông thay đổi hành vi, khuyến khích hành vi tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc STI; khuyến khích sử dụng BCS; chăm sóc và quản lý STI hiệu quả bằng việc nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị, lập các đội khám chữa bệnh lưu động cho PNBD Sau 2 năm can thiệp, tỷ lệ nhiễm lậu và/hoặc Chlamydia giảm

từ 19,9% xuống 11,3%, lậu giảm từ 10,7 % xuống 2,9% Tỷ lệ nhiễm HIV không thay đổi một cách có ý nghĩa Tỷ lệ nhiễm giang mai tăng từ 10,7% tới 12,9% [91]

Ngày đăng: 11/03/2017, 14:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Ân và CS (1996), "Tình hình bệnh lây truyền qua đường tình dục ở gái mại dâm tại trung tâm xã hội II Ba vì từ 10/1992-12/1995", Nội san da liễu. 3, tr. 38-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh lây truyền qua đường tình dục ở gái mại dâm tại trung tâm xã hội II Ba vì từ 10/1992-12/1995
Tác giả: Bùi Thị Ân, CS
Nhà XB: Nội san da liễu
Năm: 1996
2. Hoàng Anh và CS (2010), "Nghiên cứu hành vi nguy cơ và tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy và phụ nữ mại dâm tại 5 huyện/thành của tỉnh Thái nguyên năm 2010", Y học thực hành(742-743), tr.139-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi nguy cơ và tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy và phụ nữ mại dâm tại 5 huyện/thành của tỉnh Thái nguyên năm 2010
Tác giả: Hoàng Anh, CS
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2010
3. Lại Kim Anh và CS (2010), "Nghiên cứu hành vi và các chỉ số sinh HIV/STI trên nhóm phụ nữ mại dâm tại thành phố Cần thơ, 2006- 2007", Y học thực hành(742-743), tr. 214-223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi và các chỉ số sinh HIV/STI trên nhóm phụ nữ mại dâm tại thành phố Cần thơ, 2006- 2007
Tác giả: Lại Kim Anh, CS
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2010
5. Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội (2011), Báo cáo công tác phòng, chống mại dâm; cai nghiện, quản lý sau cai nghiện ma túy 9 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phòng, chống mại dâm; cai nghiện, quản lý sau cai nghiện ma túy 9 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 3 tháng cuối năm 2011
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội
Năm: 2011
6. Bộ Y tế (2006), Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
7. Bộ Y tế (2008), Chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng lây qua đường tình dục, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng lây qua đường tình dục
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2008
10. Bộ Y tế (2012), Báo cáo sơ kết kế công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và định hướng kế hoạch 6 tháng cuối năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết kế công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và định hướng kế hoạch 6 tháng cuối năm 2012
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
11. Bộ Y tế và Cục Y tế dự phòng và phòng chống HIV/AIDS (2003), Xử trí các bệnh lây truyền qua đường tình dục, PGS TS Phạm Văn Hiển chủ biên, Nhà xuất bản y học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử trí các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Tác giả: Bộ Y tế, Cục Y tế dự phòng và phòng chống HIV/AIDS, PGS TS Phạm Văn Hiển
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2003
12. Bộ Y tế. (2003), Kết quả điều tra nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI/HIV) ở phụ nữ mại dâm thuộc 5 tỉnh biên giới Việt nam, 2002, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI/HIV) ở phụ nữ mại dâm thuộc 5 tỉnh biên giới Việt nam
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2003
13. Bộ Y tế. (2006), Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học (IBBS) tại Việt nam 2005-2006, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học (IBBS) tại Việt nam 2005-2006
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2006
15. Bộ Y tế. (2008), Chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng lây qua đường tình dục, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng lây qua đường tình dục
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2008
17. Bộ Y tế. (2011), Tình hình nhiễm HIV/AIDS và hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2011, phương hướng nhiệm vụ chủ yếu năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm HIV/AIDS và hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2011, phương hướng nhiệm vụ chủ yếu năm 2012
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
18. Bộ Y tế. (2012), Báo cáo sơ kết kế công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và định hướng kế hoạch 6 tháng cuối năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết kế công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và định hướng kế hoạch 6 tháng cuối năm 2012
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
19. Nguyễn Đức Chung và Trần Thị Bích Trà (2010), "Tỷ lệ nhiễm HIV ở các nhóm đối tượng nguy cơ tại Hà nội trong 10 năm 1996-2005", Y học thực hành(742-743), tr. 26-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ nhiễm HIV ở các nhóm đối tượng nguy cơ tại Hà nội trong 10 năm 1996-2005
Tác giả: Nguyễn Đức Chung và Trần Thị Bích Trà
Năm: 2010
20. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Thực trạng lây nhiễm HIV ở gái bán dâm và hiệu quả của can thiệp dự phòng tại 3 tỉnh An giang, kiên giang và Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lây nhiễm HIV ở gái bán dâm và hiệu quả của can thiệp dự phòng tại 3 tỉnh An giang, kiên giang và
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Năm: 2008
21. Kim Bảo Giang, Phạm Ngân Giang, Đào Thị Minh An (2011), Sai số trong nghiên cứu và quản lý chất lượng số liệu, Tài liệu hướng dẫn xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học y học, Hoàng Văn Minh chủ biên, Nhà xuất bản y học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học y học
Tác giả: Kim Bảo Giang, Phạm Ngân Giang, Đào Thị Minh An
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2011
22. Hoàng Đức Hạnh (2010), Thực trạng nhiễm HIV và mô hình can thiệp phòng nhiễm HIV ở gái bán dâm tỉnh Hà tây, 2007-2008, Luận án Tiến sỹ y tế công cộng, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhiễm HIV và mô hình can thiệp phòng nhiễm HIV ở gái bán dâm tỉnh Hà tây, 2007-2008
Tác giả: Hoàng Đức Hạnh
Nhà XB: Luận án Tiến sỹ y tế công cộng
Năm: 2010
23. Nguyễn Khắc Hiền (2010), Nghiên cứu hành vi nguy cơ và đánh giá hiệu quả của các giải pháp can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm tại tỉnh Vĩnh long, Luận án Tiến sĩ y tế công cộng 2010, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi nguy cơ và đánh giá hiệu quả của các giải pháp can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm tại tỉnh Vĩnh long
Tác giả: Nguyễn Khắc Hiền
Nhà XB: Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Năm: 2010
24. Nguyễn Trần Hiển (2003), Giám sát dịch tễ học nhiễm HIV/AIDS ở Việt nam, Hội thảo tại Trường Đại học Y tế công cộng, 13-3-2003, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát dịch tễ học nhiễm HIV/AIDS ở Việt nam
Tác giả: Nguyễn Trần Hiển
Nhà XB: Hội thảo tại Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2003
25. Lưu Ngọc Hoạt (2008), Tổng quan về các loại thiết kế nghiên cứu, Thống kê - tin học ứng dụng trong nghiên cứu y học, Nhà xuất bản y học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về các loại thiết kế nghiên cứu
Tác giả: Lưu Ngọc Hoạt
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.4.  Tuổi bán dâm, thời gian hành nghề và số lượng bạn tình - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.4. Tuổi bán dâm, thời gian hành nghề và số lượng bạn tình (Trang 75)
Bảng 3.6.  Tỷ lệ PNBD làm xét nghiệm HIV - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.6. Tỷ lệ PNBD làm xét nghiệm HIV (Trang 77)
Bảng 3.7.  Tỷ lệ PNBD nhận biết được các triệu chứng  STI  trước CT - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.7. Tỷ lệ PNBD nhận biết được các triệu chứng STI trước CT (Trang 78)
Bảng 3.8.  Thái độ xử trí khi có các biểu hiện STI trong lần gần đây nhất - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.8. Thái độ xử trí khi có các biểu hiện STI trong lần gần đây nhất (Trang 79)
Bảng 3.10.  Tỷ lệ PNBD biết các địa điểm cung cấp BCS - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.10. Tỷ lệ PNBD biết các địa điểm cung cấp BCS (Trang 80)
Bảng 3.9 cho thấy 99% PNBD đã từng sử dụng BCS và 97,8% PNBD có  được BCS trong vòng 15 phút (97,5% nhóm BDĐP và 98,2% nhóm BDNH) - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.9 cho thấy 99% PNBD đã từng sử dụng BCS và 97,8% PNBD có được BCS trong vòng 15 phút (97,5% nhóm BDĐP và 98,2% nhóm BDNH) (Trang 80)
Bảng 3.11.   Hành vi tiêm chích ma túy trong số PNBD có SDMT - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.11. Hành vi tiêm chích ma túy trong số PNBD có SDMT (Trang 82)
Bảng 3.14.   Một số hành vi SDMT và nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm  PNBD trước can thiệp - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.14. Một số hành vi SDMT và nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm PNBD trước can thiệp (Trang 85)
Bảng 3.15.  Hành vi SDMT của khách hàng và nguy cơ nhiễm HIV của  PNBD - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.15. Hành vi SDMT của khách hàng và nguy cơ nhiễm HIV của PNBD (Trang 86)
Bảng 3.18.   Mối liên quan giữa một số đặc trưng của PNBD và nhiễm  Chlamydia (n=499) - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa một số đặc trưng của PNBD và nhiễm Chlamydia (n=499) (Trang 89)
Bảng 3.21.  Hành vi sử dụng BCS và nguy cơ nhiễm Chlamydia của PNBD - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.21. Hành vi sử dụng BCS và nguy cơ nhiễm Chlamydia của PNBD (Trang 92)
Bảng 3.24.  Tỷ lệ tiếp cận với chương trình can thiệp của BDNH - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.24. Tỷ lệ tiếp cận với chương trình can thiệp của BDNH (Trang 94)
Bảng 3.26.  Sự thay đổi  hiểu biết cơ bản về HIV/STI của nhóm BDNH - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.26. Sự thay đổi hiểu biết cơ bản về HIV/STI của nhóm BDNH (Trang 95)
Bảng  3.27  cho  thấy  đối  với  BDĐP  khi  có  các  biểu  hiện  STI,  tỷ  lệ  đi  khám tại các sơ sở y tế nhà nước tăng một cách có ý nghĩa (từ 11,8% lên tới  43,3%, p=0,0001, CSHQ =267%), tỷ lệ tự mua thuốc ở hiệu thuốc giảm đáng - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
ng 3.27 cho thấy đối với BDĐP khi có các biểu hiện STI, tỷ lệ đi khám tại các sơ sở y tế nhà nước tăng một cách có ý nghĩa (từ 11,8% lên tới 43,3%, p=0,0001, CSHQ =267%), tỷ lệ tự mua thuốc ở hiệu thuốc giảm đáng (Trang 96)
Bảng 3.30.  Sự thay đổi về hành vi sử dụng ma túy của nhóm  BDNH - Thực trạng nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở phụ nữ bán dâm 4 quận Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Bảng 3.30. Sự thay đổi về hành vi sử dụng ma túy của nhóm BDNH (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w