Do đó ngày càng nhiều họa sĩ sử dụng máy vi tính với tư cách là một công cụ hỗ trợ sáng tác mỹ thuật, đa phương tiện ĐPT, đa chức năng, thể hiện một cách hiệu quả những ý tưởng sáng
Trang 1VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Nguyễn Đức Sơn
TRANH KỸ THUẬT SỐ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Trang 2Nguyễn Đức Sơn
TRANH KỸ THUẬT SỐ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 62 21 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Người hướng dẫn khoa học:
PGS NGUYỄN XUÂN THÀNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ Tranh kỹ thuật số ở Việt Nam hiện
nay là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là
trung thực Những ý kiến, nhận định khoa học của các tác giả khác được ghi chú xuất xứ đầy đủ
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRANH KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM 24
1.1 Khái lược về tranh kỹ thuật số 24
1.2 Sự hình thành nghệ thuật đa phương tiện và tranh kỹ thuật số 37
Tiểu kết 58
Chương 2: ĐẶC TRƯNG CỦA TRANH KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM 60
2.1 Đặc điểm tranh kỹ thuật số ở Việt Nam 60
2.2 Khuynh hướng sáng tác tranh kỹ thuật số ở Việt Nam 73
2.3 Đặc trưng tạo hình trong tranh kỹ thuật số ở Việt Nam 90
Tiểu kết 97
Chương 3: LUẬN BÀN VỀ PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠI TRANH KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 99
3.1 Một số vấn đề của tranh kỹ thuật số ở Việt Nam hiện nay 99
3.2 Phương thức biểu đạt tranh kỹ thuật số ở Việt Nam 114
Tiểu kết 128
KẾT LUẬN 130
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
PHỤ LỤC 147
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
B
CNTT ĐPT
H
KTS Nxb
đa phương tiện Hình
kỹ thuật số Nhà xuất bản Phụ lục
thành phố Hồ Chí Minh trang
Tài liệu tham khảo
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1: Tính chất của những dạng phương tiện trong nghệ thuật ĐPT 149 Bảng 2: Bảng so sánh quy trình vẽ tranh KTS với vẽ tranh hội họa giá vẽ truyền thống 150 Bảng 3: Bảng hỏi nghiên cứu khảo sát (phỏng vấn trực tiếp, qua điện
thoại hoặc email) 151 Bảng 4: Bảng hỏi nghiên cứu khảo sát (thông qua trang web khảo sát
trên internet) 152
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới ngày nay đã và đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới với một nền văn minh trí tuệ và nền kinh tế tri thức, hội nhập toàn cầu hoá Các quốc gia trên thế giới đang có những bước chuyển nhanh và mạnh từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin, từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh
tế tri thức Chính bởi sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng công nghệ thông tin (CNTT) đã ảnh hưởng một cách sâu rộng đến mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân loại
Hoà cùng với xu thế phát triển chung cuả thế giới, Việt Nam cũng đã và đang chuyển mình mạnh mẽ trên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Mọi lĩnh vực của đời sống: kinh tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật… đều có những bước phát triển đáng kể, cả về chất cũng như
về lượng nhằm thích ứng với điều kiện phát triển mới của đất nước cũng như
xu thế chung của toàn nhân loại khi bước vào thiên niên kỷ mới - kỷ nguyên
đó, một dạng thức nghệ thuật đã xuất hiện, hình thành và phát triển ở Việt Nam thông qua con đường giao lưu văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam với thế giới đương đại trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa Đó chính là nghệ thuật kỹ thuật số (KTS)
Trang 8Quá trình vận động nền nghệ thuật trong nước dẫn đến sự hình thành và phát triển của hình thức tranh KTS Do đó ngày càng nhiều họa sĩ sử dụng máy vi tính với tư cách là một công cụ hỗ trợ sáng tác mỹ thuật, đa phương tiện (ĐPT), đa chức năng, thể hiện một cách hiệu quả những ý tưởng sáng tạo
và quá trình “sản xuất sản phẩm thẩm mỹ” [30] Việc khai thác triệt để khả năng ứng dụng máy vi tính trong lĩnh vực mỹ thuật giúp họa sĩ có thể tạo ra những tác phẩm nghệ thuật một cách nhanh chóng
Mặc dù vậy ở Việt Nam hiện nay, khi đề cập đến tranh KTS, rất nhiều người thậm chí là cả giới nghệ sĩ cũng đều nhìn nhận nó dưới góc độ kỹ thuật
Lý do chính là sự thiếu cập nhật thông tin đã gây ra những hiểu biết sai lệch
về lĩnh vực này và tạo ra tâm lý “sùng mộ” một cách quá đáng hoặc dè dặt, e
sợ, thậm chí “dị ứng” đối với tranh KTS… Về phương diện lý luận nghệ thuật, ở Việt Nam hiện nay cũng đã có những tài liệu, bài viết và giáo trình có nội dung về đồ họa vi tính nhưng lại ít đề cập đến tranh KTS Rất cần những công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, chuyên sâu, tiếp cận liên ngành về các vấn đề của tranh KTS Để từ đó có một cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về hình thức của dạng nghệ thuật này Việc nghiên cứu và xem xét tranh KTS theo quan điểm: nghệ thuật học, mỹ thuật học, ký hiệu học nghệ thuật, cấu trúc văn bản nghệ thuật… nhằm đúc kết thành một công trình mang tính khoa học là rất cần thiết và cấp bách Thực tế ở Việt Nam vẫn còn thiếu những nghiên cứu về lĩnh vực tạo hình trong các tác phẩm được thể hiện bằng cách ứng dụng các phương tiện KTS Hơn nữa, tranh KTS phát triển ở Việt Nam hiện nay vẫn mang tính chất manh mún và bộc phát Cần phải có những chiến lược phát triển dài lâu nhằm thúc đẩy cũng như tạo điều kiện cho sự phát triển của nghệ thuật KTS trong xã hội một cách chuyên nghiệp và có định hướng Đối với những họa sĩ vẽ tranh KTS cũng chưa thực sự tìm được những hướng đi vững chắc cho hoạt động nghề nghiệp của mình Đa số họ chỉ
Trang 9dừng lại ở mức độ tìm kiếm và thể nghiệm các kỹ thuật vẽ KTS
Xuất phát từ tình hình thực tiễn nêu trên, tác giả luận án mạnh dạn chọn
đề tài Tranh kỹ thuật số ở Việt Nam hiện nay Thông qua đó, đề tài nghiên
cứu muốn đề cập đến thực trạng, xu hướng phát triển và sự biến đổi của mỹ thuật Việt Nam trong kỷ nguyên KTS Đồng thời cũng phân tích, tổng hợp và
lý giải những vấn đề liên quan đến tranh KTS cũng như ngôn ngữ tạo hình trong tranh KTS ở Việt Nam hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề có liên quan đến đề tài
Trên thế giới, việc nghiên cứu về lĩnh vực nghệ thuật ĐPT đã và đang phát triển mạnh, trải rộng trên mọi khía cạnh của lĩnh vực này như: nghệ thuật KTS, nghệ thuật đồ họa, hoạt hình, nghệ thuật thực tế ảo, nghệ thuật nhiếp ảnh, điện ảnh, nghệ thuật truyền thông tương tác
Công trình nghiên cứu The digital computer as a creative medium (Máy
vi tính KTS với tư cách là một phương tiện sáng tạo) [40] của tác giả A
Micheal Noll đề cập đến việc sử dụng máy vi tính trong thực hành nghệ thuật như là một phương tiện sáng tạo nghệ thuật Ông cố gắng tìm hiểu những khả năng của máy tính được ứng dụng trong nghệ thuật như là một “môi trường nghệ thuật”, đồng thời cũng đưa ra một số dự đoán về sự phát triển của nghệ thuật trong tương lai
Tác giả Frank Dietrick trong nghiên cứu Visual Intelligence: The first
Decade of Computer Art (1965 - 1975) (Thị giác thông minh: Thập niên đầu tiên của nghệ thuật máy tính (1965 – 1975)) [62] bàn nhiều về sự phát triển
của nghệ thuật đồ họa vi tính trong những năm thập niên 60 của thế kỷ XX Thông qua đó, tác giả cũng phần nào giới thiệu được những hoạt động nghệ thuật KTS của một số nghệ sĩ được cho là những người tiên phong trong thời
kỳ đầu của nghệ thuật vẽ tranh KTS trên thế giới
Nổi bật trong hướng nghiên cứu lý luận nghệ thuật ĐPT là Media
Trang 10Aesthetics - Aesthetics Theory (Lý thuyết thẩm mỹ - Thẩm mỹ của phương tiện) [69] của tác giả Herber T Zettl tại Đại học bang San Francisco nghiên
cứu về những ứng dụng thẩm mỹ trên các phương tiện truyền thông Nghiên cứu đưa ra những lý thuyết quan trọng (lý thuyết công cụ) nhằm phân tích tính thẩm mỹ của các tác phẩm nghệ thuật ĐPT một cách phù hợp và đáng tin cậy Qua đó, tác giả đã cho thấy các xu hướng về phong cách cũng như các kỹ thuật cụ thể trong quá trình sáng tạo tác phẩm thẩm mỹ Đây chính là một công trình nghiên cứu về một lĩnh vực rộng lớn có liên quan đến những giới hạn thẩm mỹ của các hiệu ứng tăng cường cho máy vi tính trong sáng tác và thể hiện tác phẩm
Herbert W Franke Leonardo trong nghiên cứu The New Visual Age:
The Influence of Computer Graphics on Art and Society (Kỷ nguyên thị giác mới: Sự ảnh hưởng của đồ họa vi tính đến nghệ thuật và xã hội) [70] đề cập
đến những ảnh hưởng của đồ họa vi tính trong nghệ thuật và xã hội vào thời điểm những năm thập niên 80 của thế kỷ XX Đồng thời tác giả cũng đưa ra những lập luận về sự phát triển trong lĩnh vực CNTT đã và đang làm cho nghệ thuật KTS thâm nhập ngày càng sâu rộng hơn vào giới nghệ sĩ chuyên nghiệp cũng như nghiệp dư trong xã hội
Công trình nghiên cứu Visual Literacy Theory (Lý thuyết văn hóa thị
giác) [91] của Paul Messaris về hình ảnh thị giác trong nhiều lĩnh vực từ
truyền thông có liên quan đến tâm lý học, giáo dục, thẩm mỹ và thậm chí cả trong nghiên cứu văn hóa Qua đó, tác giả khẳng định tầm quan trọng của việc trình bày, thể hiện, bố cục tác phẩm thông qua hình ảnh đối với các học giả nghiên cứu về hình ảnh thị giác Thông qua việc hướng dẫn người xem cách quan sát và thưởng ngoạn tác phẩm nghệ thuật; lý thuyết về hình ảnh thị giác
có thể là một cơ sở giúp người xem hiểu rõ hơn về sức mạnh của hình ảnh, đặc biệt là khi chúng được sử dụng trong các phương tiện truyền thông đại
Trang 11chúng và quảng cáo Tài liệu này cũng đề cập đến việc sử dụng hình ảnh thị giác để làm giàu nhận thức của người xem
Trong lĩnh vực bản quyền tác phẩm Bài viết Copyright Law in the
Digital Age (Luật bản quyền trong kỷ nguyên KTS) [74] của Jordan M
Blanke bàn về thực trạng pháp luật nói chung về quyền tác giả đối với các công trình, tác phẩm nghệ thuật KTS hoặc tác phẩm được số hóa trên các phương tiện truyền thông khác nhau…
Nghiên cứu của William Vaughan: History of Art in the Digital Age:
Problems and Possibilities (Lịch sử nghệ thuật trong kỷ nguyên KTS: những vấn đề và khả năng) [98] nhằm mục đích cung cấp một tổng quan về sự tác
động của máy vi tính trong việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Tài liệu này cũng ảnh hưởng đến việc nghiên cứu hình ảnh, xem xét cả những tiềm năng của hình ảnh KTS làm nảy sinh những hình thức nghiên cứu và phân tích mới trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, cũng như những cơ hội mới nổi lên thông qua hệ thống mạng toàn cầu internet
Công trình nghiên cứu của Boden, M Aesthetics and Interactive Art (Thẩm mỹ và nghệ thuật tương tác) [48] đưa ra và khẳng định tính mới trong
nghệ thuật tương tác cũng như tầm quan trọng của nó đối với lịch sử nghệ thuật, bảo trợ và thực hành nghệ thuật Qua đó là cơ sở để tiếp tục phát triển một số lý thuyết mở rộng trong nhiều lĩnh vực của nghệ thuật: từ hình thức nghệ thuật hội họa đến nghệ thuật tương tác
Bài báo khoa học của Daniel Palmer: Embodying Judgement: New
Media and Art Criticism (Đánh giá tổng quan: Phương tiện truyền thông mới
và phê bình nghệ thuật) [53] là một phần của một dự án lớn nhằm khám phá
ra những tác động của các nghệ sĩ sử dụng công nghệ truyền thông (bao gồm
cả video, nhiếp ảnh và các phương tiện truyền thông KTS) trong tiếp nhận nghệ thuật
Trang 12Bài viết nghiên cứu của Frieder Nake: Behind the Canvas: an
Algorithmic Space Reflections on Digital Art (Phía sau khung tranh: Sự phản ánh không gian thuật toán trong nghệ thuật KTS) [63] bàn nhiều về không
gian trong hình ảnh và không gian nghệ thuật Tác giả đã chỉ ra và phân tích một số điểm tương đồng giữa nghệ thuật “readymade” của Duchamp và nghệ thuật KTS
Bằng cách nêu vấn đề, bài viết nghiên cứu của George Mallen On the
relationship of computing to the arts and culture – an evolutionary perspective (Mối quan hệ giữa máy tính với nghệ thuật và văn hóa – một hướng tiến hóa) [66] đã đề cập nhiều đến vấn đề nghệ thuật trong kỷ nguyên
KTS Bên cạnh đó, tác giả cũng đã làm rõ được mối quan hệ của máy tính với nghệ thuật và văn hóa trong thế giới hiện đại của nhân loại cũng như với thế giới bên ngoài Tác giả lý giải và khẳng định việc tiếp cận, cập nhật những kiến thức và công nghệ phát triển nhanh chóng sẽ đem lại những thành tựu đáng kể cho nghệ thuật vi tính
Tháng 6 năm 1967, Sol LeWitt giới thiệu Paragraphs on Conceptual
Art (Những đoạn văn về nghệ thuật ý niệm) trong Artforum Bài viết này đã
trở thành một văn bản lý thuyết có ảnh hưởng đến nghệ thuật của thế kỷ XX
Nó được coi như là một bản “tuyên ngôn” tồn tại gần một thập kỷ Trong bối cảnh kỷ nguyên KTS, kể từ khi nghệ thuật máy tính mở đường cho sự xuất hiện và phát triển của nghệ thuật Ý niệm, Frieder Nake cũng muốn mượn phong cách đặt tiêu đề cũ của bản “tuyên ngôn” đầu tiên cho bài viết
Paragraphs on Computer art, past and present (Những đoạn văn về nghệ thuật máy tính, quá khứ và hiện tại) [64] của ông Kể từ khi triển lãm đầu tiên
về nghệ thuật máy tính KTS năm 1965, bài viết là một tuyên ngôn của Nghệ thuật KTS Bài viết của Frieder Nake cũng có thể được coi như là một bản tuyên ngôn thứ hai về nghệ thuật máy tính
Trang 13Bài viết Creating continuity between computer art history and
contemporary art (Sự sáng tạo liên tục giữa lịch sử nghệ thuật máy tính và nghệ thuật đương đại) [49] của Bruce Wands tìm hiểu phương thức tạo ra sự
liên tục giữa lịch sử nghệ thuật máy tính với các nghệ sĩ thế hệ mới, những người lao động nghệ thuật trên máy tính một cách tự nhiên nhằm tạo nên nền nghệ thuật KTS phát triển như hiện nay
Trong tài liệu nghiên cứu The Computer as a dynamic medium (Máy vi
tính như là một phương tiện động) [88] của Nick Lambert đề cập đến không
gian đại diện trong các màn hình máy tính Tác giả chỉ ra rằng hình ảnh máy tính là kết quả của một quá trình hiển thị động Hiển thị hình ảnh trong nghệ thuật máy tính rất linh hoạt trong không gian ảo của máy tính
Báo cáo khoa học Transitioning to a Digital World - Art History, Its
Research Centers, and Digital Scholarship (Chuyển đổi sang một thế giới KTS - Lịch sử Nghệ thuật, Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Nghệ thuật, và học thuật KTS) [58] kết hợp các cuộc phỏng vấn với nghiên cứu các trang web
của trung tâm nghiên cứu đã đưa ra một số chủ đề: vai trò của các trung tâm nghiên cứu lịch sử nghệ thuật trong việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật KTS; những thách thức trong giảng dạy lịch sử nghệ thuật, nghiên cứu và học thuật trong lĩnh vực KTS; truy cập các công cụ KTS, dịch vụ và các nguồn lực cần thiết cho những nghiên cứu; phương pháp sư phạm KTS trong lịch sử nghệ thuật; vai trò và giới hạn của xuất bản KTS và những đổi mới trong lĩnh vực này; vai trò của các tổ chức tài trợ nghệ thuật trong việc hỗ trợ hoạt động nghiên cứu lịch sử nghệ thuật KTS
Công trình nghiên cứu của Anna Bentkowska-Kafel, Trish Cashen và
Hazel Gardiner: Digital Art History, A Subject in Transition, Computers and
the History of Art (Lịch sử Nghệ thuật KTS, một chủ đề trong quá trình chuyển đổi, Máy tính và Lịch sử Nghệ thuật) [42] khẳng định rằng nghệ thuật
Trang 14KTS không phải là một hoạt động độc lập rời rạc được tách ra từ các loại hình nghệ thuật khác Mà nó chính là một phương pháp tiếp cận và có thể liên quan đến tất cả các phương thức liên kết với các dạng thực hành nghệ thuật khác
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay, trong nước cũng đã có
những bài viết về lĩnh vực nghệ thuật ĐPT, tuy nhiên nhìn chung còn khá phổ quát và chưa chuyên sâu trong lĩnh vực mỹ thuật:
Đầu tiên phải kể đến tài liệu của tác giả Đỗ Trung Tuấn Giới thiệu về
Đa phương tiện (Introdution to Multimedia) [34] có bàn về ĐPT
(Multimedia) Tài liệu chủ yếu giới thiệu khái quát về Multimedia, mô tả các dạng của Multimedia, trong đó đề cập đến các tình huống dùng Multimeida, những vấn đề liên quan đến bản quyền trong công nghiệp Multimedia Tuy nhiên, cuốn sách chỉ dừng lại ở những vấn đề cơ bản chung nhất của lĩnh vực Multimedia, chưa đề cập về nghệ thuật KTS cũng như những vấn đề liên quan đến việc ứng dụng ĐPT trong mỹ thuật
Tài liệu dịch của nhóm tác giả Cao Thụy và Cao Bình về Multimedia và
thế giới ảo [2] giới thiệu khái quát về nghệ thuật truyền thông ĐPT và những
kiến thức cơ bản về thế giới ảo trong công nghệ Games và những ứng dụng của Multimedia trong giáo dục Tài liệu là cuốn cẩm nang cho người đọc tham khảo và bổ sung kiến thức chung về thực tế ảo trong lĩnh vực nghệ thuật truyền thông ĐPT
Nhóm tác giả Mai Thanh Long và Nguyễn Thanh Tùng cũng có sách
Ngành mỹ thuật ĐPT [19] Tài liệu này đề cập và mô tả ngành mỹ thuật ĐPT
ở Việt Nam với mức độ nêu vấn đề, liệt kê và giải thích những kiến thức phổ thông trong lĩnh vực mỹ thuật ĐPT nhằm hướng nghiệp cho đối tượng là học sinh phổ thông
Ở luận văn Thạc sĩ [30] của tác giả luận án (bảo vệ năm 2009), chủ yếu tập trung vào nghiên cứu những đặc trưng của mỹ thuật ĐPT ở Việt Nam
Trang 15trong kỷ nguyên KTS Tác giả tập trung làm rõ sự hình thành và phát triển của mỹ thuật ĐPT, những đặc trưng cơ bản của mỹ thuật ĐPT trên thế giới và
ở Việt Nam Ngoài ra, tác giả luận án cũng đóng góp và thực hiện một số bài
viết nghiên cứu về nghệ thuật ĐPT ở Việt Nam: bài tham luận Thiết kế đồ họa
– Giảng dạy thiết kế đồ họa trong kỷ nguyên KTS [36] đề cập đến thiết kế đồ
họa của Việt Nam khi bước vào thế kỷ XXI Qua đó dự báo trước được xu hướng vận động cũng như sự phát triển của đồ họa Việt Nam trong kỷ nguyên KTS Bài viết cũng đề xuất những kiến nghị cũng như những giải pháp nhằm định hướng cho các trường đào tạo thiết kế đồ họa điều chỉnh cách giảng dạy
và học tập thiết kế đồ họa phù hợp với tình hình mới của Việt Nam khi bước
vào thế kỷ XXI Các bài tham luận Giảng dạy mỹ thuật truyền thông ĐPT ở
Việt Nam trong Kỷ nguyên KTS [5], Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo thiết kế mỹ thuật ĐPT ở Việt Nam hiện nay [38], Một số vấn đề
về ứng dụng Công nghệ KTS trong Công nghệ dạy và học thiết kế ở Việt Nam hiện nay [6] nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề giảng dạy mỹ thuật ĐPT ở Việt
Nam trong kỷ nguyên KTS Thực trạng và giải pháp để phát triển đội ngũ họa
sĩ mỹ thuật ĐPT ở Việt Nam Ứng dụng Công nghệ khoa học kỹ thuật, đặc
biệt là CNTT trong giảng dạy và học tập mỹ thuật ĐPT Bài viết Đặc trưng
mỹ thuật ĐPT đề cập đến những đặc trưng của mỹ thuật ĐPT ở Việt Nam,
những ưu điểm và hạn chế của những đặc trưng này trong xã hội nói chung
cũng như trong nghệ thuật tạo hình nói riêng Bài viết Ảnh hưởng của mỹ
thuật ĐPT đến nghệ thuật thị giác đề cập đến phần còn thiếu trong hoạt động
lý luận phê bình nghệ thuật Việt Nam khi chưa có nhận định, đánh giá cũng như sự định hướng cần thiết cho sự phát triển của nghệ thuật thị giác ở Việt Nam trong kỷ nguyên KTS Bài viết khẳng định vai trò, đồng thời phân tích làm rõ sự ảnh hưởng của mỹ thuật ĐPT trong dòng chảy chung của Mỹ thuật Việt Nam đương đại Kỷ nguyên KTS đã tạo ra cho nền Nghệ thuật Việt Nam
Trang 16những thời cơ thuận lợi để phát triển nghệ thuật ĐPT được các nghệ sĩ lĩnh hội và phát triển nó trở thành một trong những lĩnh vực sôi động nhất trong nền kinh tế, văn hóa, nghệ thuật hiện nay Tuy nhiên sự phát triển nghệ thuật ĐPT ở Việt Nam hiện nay vẫn còn manh mún, bộc phát, chưa có những chiến
lược phát triển dài lâu Bài viết Ảnh hưởng của mỹ thuật ĐPT đến sự phát
triển của nghệ thuật thị giác Việt Nam trong kỷ nguyên KTS cũng đề cập đến
những giải pháp quản lý vĩ mô với những chiến lược đào tạo dài hạn, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ “họa sĩ số” Bên cạnh đó cần phải có hành lang pháp lý bảo vệ, duy trì và phát triển nghệ thuật ĐPT nói riêng và nghệ thuật thị giác nói chung ở Việt Nam trong kỷ nguyên KTS
Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu về lĩnh vực nghệ thuật ĐPT trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhưng trên thực tế rất cần có những công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, chuyên sâu, tiếp cận liên ngành để luận giải và đúc kết những vấn đề về lý luận khoa học và thực tiễn của nghệ thuật KTS cụ thể là tranh KTS ở Việt Nam hiện nay
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: đề tài nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ tạo hình
tranh KTS trong lĩnh vực nghệ thuật ĐPT ở Việt Nam Qua đó, đề xuất những giải pháp trong hoạt động, nghiên cứu và thực hành nghệ thuật KTS, góp phần phát triển nền Mỹ thuật nói chung và nghệ thuật KTS nói riêng ở Việt
Nam trong kỷ nguyên KTS
Mục tiêu cụ thể: luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm
nêu lên được những đặc trưng ngôn ngữ tạo hình trong tranh KTS ở Việt Nam; làm rõ cấu trúc nền tảng mỹ thuật, cơ sở tạo hình, cũng như bố cục và thủ pháp tạo hình tranh KTS ở Việt Nam; làm rõ bản chất cũng như vai trò của họa sĩ trong quá trình sáng tác và thể hiện tranh KTS trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam
Trang 17Bên cạnh đó, luận án cũng luận bàn về phương thức tạo hình tranh KTS
ở Việt Nam trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, nhằm đáp ứng nhu cầu thẩm
mỹ của xã hội và góp phần xây dựng nền mỹ thuật Việt Nam phát triển
Ngoài ra, trên cơ sở phân tích điều kiện văn hóa, xã hội, nghệ thuật Việt Nam, luận án dự đoán sự phát triển của tranh KTS ở Việt Nam trên cơ sở khoa học và khách quan Tạo cơ sở tiền đề cho những nghiên cứu chuyên sâu hơn của các nhà nghiên cứu phê bình, lý luận nghệ thuật về lĩnh vực nghệ thuật ĐPT nói chung và tranh KTS nói riêng ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tranh KTS ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: tranh KTS ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp ứng dụng phương tiện KTS trong quá trình vẽ tranh)
Giới hạn về thời gian: nghiên cứu từ năm 2000 đến nay (đầu thế kỷ XXI đến nay)
Giới hạn về không gian: tập trung nghiên cứu ở hai trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam là Hà Nội và TP HCM
Tài liệu nghiên cứu: tranh hội họa giá vẽ và tranh KTS ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử mỹ thuật Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở mỹ thuật học, thông qua nghiên cứu đa ngành, liên ngành như: văn hóa, lịch sử, khoa học, nghệ thuật, mỹ thuật… Quá trình nghiên cứu thông qua các phương pháp chủ yếu sau:
Nghiên cứu văn bản, tài liệu: tham khảo, phân tích những công trình nghiên cứu, bài viết, bài tham luận, bài báo khoa học… trong và ngoài nước
về tranh KTS từ đó đưa ra được tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề có liên quan đến đề tài cũng như cơ sở lý luận chung của luận án Bên cạnh đó, luận
án nghiên cứu những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật
Trang 18của Nhà nước về vấn đề văn hóa nghệ thuật trong bối cảnh hiện nay làm cơ sở đánh giá và đề xuất giải pháp Các tác giả, tác phẩm hội họa giá vẽ và tranh KTS ở Việt Nam cũng như trên thế giới được sử dụng để nghiên cứu, làm dẫn chứng và phân tích
Nghiên cứu thực tế và điền dã: Khảo sát các cơ sở đào tạo Mỹ thuật và nghệ thuật ĐPT có tầm ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật thị giác ở Việt Nam; xưởng vẽ; bảo tàng; phòng triển lãm; công ty, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực mỹ thuật và nghệ thuật ĐPT ở Việt Nam…
Phân tích và tổng hợp: phân tích tranh KTS thành những những yếu tố cấu thành đơn giản hơn để nghiên cứu nhằm phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của chúng Từ đó giúp hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái tổng thể phức tạp thông qua những yếu tố bộ phận Bên cạnh đó, từ những kết quả phân tích được, sẽ tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra những đặc trưng tạo hình tranh KTS ở Việt Nam
Quy nạp và diễn giải: Những lý thuyết, kinh nghiệm, hiểu biết về ngôn ngữ tạo hình sẽ được khái quát và quy nạp thành những nguyên lý chung Phát hiện ra các quy luật, rút ra từ những kết luận tổng quát nhằm đưa ra các giả thuyết Ngoài ra, luận án dùng phương pháp diễn giải đi từ cái bản chất, nguyên lý đã được thừa nhận trong những tài liệu của các tác giả khác trong lĩnh vực nghiên cứu nhằm tìm ra các hiện tượng, biểu hiện, những cái trùng hợp cụ thể trong thực tiễn vận động của nghệ thuật KTS ở Việt Nam
Phương pháp lịch sử: sự xuất hiện của tranh KTS ở Việt Nam được biểu hiện trong toàn bộ tính cụ thể của nó và theo một trật tự thời gian nhất định Nếu đi theo dấu vết của lịch sử nghệ thuật KTS sẽ có cái nhìn trung thực
về tranh KTS ở Việt Nam Từ đó sẽ phát hiện ra quy luật phát triển và những đặc điểm tạo hình trong tranh KTS ở Việt Nam
Trang 19Nghiên cứu khảo sát: Khảo sát thông qua phỏng vấn (Trực tiếp các tác giả hoặc thông qua điện thoại, hoặc email) Khảo sát trên internet (thông qua các website và diễn đàn nghệ thuật, sử dụng những đường dẫn liên kết người tham gia khảo sát đến trang web chứa các bảng câu hỏi khảo sát)
Thể nghiệm: Việc vẽ tranh KTS nhằm nghiên cứu những thao tác của họa sĩ trong điều kiện sáng tác thực tế có thể giúp bổ sung thêm nhận thức về những phương thức vẽ tranh KTS một cách hoàn thiện hơn Tác giả luận án
cố gắng tham gia sáng tác tranh KTS (ứng dụng phương tiện KTS trong quá trình vẽ tranh) nhằm bổ sung thêm những nội dung mang tính thực tiễn cho đề tài nghiên cứu
6 Giả thuyết nghiên cứu
Ngày nay, khi họa sĩ sử dụng máy tính như là một phương tiện, công cụ
để hỗ trợ sáng tác nghệ thuật, đã làm nảy sinh vấn đề rằng liệu tranh KTS có phải là nghệ thuật hay không? Giả thiết rằng nếu tranh KTS cũng được coi là một dạng nghệ thuật, vậy thì đặc trưng của nó là gì? Hơn thế nữa, CNTT hiện nay đang phát triển rất nhanh trên thế giới cũng như ở Việt Nam Nó đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có nghệ thuật Giả thiết rằng ở Việt Nam hiện nay có nhiều người vẽ tranh KTS, vậy tranh KTS ở Việt Nam có những khuynh hướng sáng tác và đặc trưng nào? Những phương thức vẽ nào có thể làm cho tranh KTS trở nên sống động hơn, hấp dẫn hơn, và
có giá trị nghệ thuật cao? Cần có những định hướng và giải pháp nào nhằm phát triển tranh KTS ở Việt Nam?
Thông qua nghiên cứu, đề tài luận án sẽ làm sáng tỏ những giả thuyết
và câu hỏi nghiên cứu nêu trên
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Đề tài nghiên cứu đưa ra cách nhìn nhận có hệ thống về đặc trưng tạo hình và phương thức vẽ tranh KTS ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, đề tài
Trang 20nghiên cứu cũng đề xuất những giải pháp tích cực từ việc phân tích, tổng hợp trong thực tiễn nghệ thuật ở Việt Nam, góp phần dự báo và định hướng cho sự phát triển của tranh KTS ở Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai
Đề tài nghiên cứu là tài liệu tham khảo về lý thuyết và thực tiễn cho các đối tượng là nhà phê bình, lý luận nghệ thuật, nhà quản lý văn hóa nghệ thuật, họa sĩ, nhà thiết kế đang hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật KTS; làm tư liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu phê bình, lý luận và lịch
sử mỹ thuật, nghiên cứu và giảng dạy môn cơ sở ngành nghệ thuật ĐPT trong các cơ sở đào tạo mỹ thuật ở Việt Nam
8 Một số khái niệm công cụ
Thuật ngữ Hội họa: Theo từ điển Encyclopædia Britannica, hội họa là
sự biểu hiện ý tưởng và cảm xúc nhằm tạo ra giá trị thẩm mỹ nhất định thông qua ngôn ngữ thị giác trên mặt phẳng hai chiều Các yếu tố của ngôn ngữ thị giác gồm: đường nét, hình dạng, màu sắc, kết cấu… Chúng được sử dụng bằng nhiều cách khác nhau nhằm tạo nên cảm giác về không gian, chuyển động và ánh sáng trên một bề mặt phẳng Những yếu tố này được sắp xếp bố cục trên bề mặt tranh nhằm thể hiện các hiện tượng thực tế hoặc thiên nhiên, biểu đạt một câu chuyện hoặc có thể tạo ra một bố cục thị giác hoàn toàn trừu tượng Họa sĩ sử dụng những phương tiện biểu đạt như màu bột, màu dầu, màu nước… và lựa chọn một hình thức thể hiện như: tranh tường, tranh giá
vẽ, trang sách, màn ảnh hoặc bất kỳ của một hình thức hiện đại nào để vẽ Mỗi nghệ sĩ sẽ có những chọn lựa riêng về phương tiện biểu đạt, hình thức cũng như kỹ thuật thể hiện nhằm tạo ra những hình ảnh thị giác độc đáo
Thuật ngữ Hội họa giá vẽ: Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, hội họa
giá vẽ là loại tranh thường được tiến hành vẽ trên giá, do đấy thành tên gọi
Đó là loại hình hội hoạ thịnh hành từ thế kỷ XV ở Châu Âu sau khi thoát li quan hệ phụ thuộc với kiến trúc, bắt đầu bằng sự thể nghiệm những bố cục
Trang 21hoàn chỉnh trên bề mặt chữ nhật, hình vuông và lấy các thành của khung làm ranh giới không gian trong tranh với thế giới bên ngoài Tranh giá vẽ thường là cỡ nhỏ hoặc trung bình, có thể vận chuyển, treo gỡ hay xê dịch tuỳ theo yêu cầu, tạo thuận tiện cho công việc trưng bày [15]
Thuật ngữ Nghệ thuật đa phương tiện (multimedia art): Theo từ điển
Webster: nghĩa từ điển của “Multimedia” = “Multi” + “media” Trong đó Multi-: (tiền tố) mang nghĩa “nhiều”, “đa” (Nghĩa Latin: Số đông, quần chúng) Media (danh từ số nhiều): Phương tiện, dụng cụ; hệ thống truyền thông; (The media) Báo chí Media trong một số trường hợp có thể có nghĩa là “Máy điện toán đa phương tiện tiếp nhận và tái tạo văn bản, hình ảnh, âm thanh… như máy quay video, máy thu âm, sách điện tử…” [1, tr.8]
Cách dùng từ “Media”: Khi nói đến báo chí, media thường được coi là danh từ số ít, vì nó không phải là số nhiều của “medium”: thuật ngữ này bắt nguồn từ khái niệm “mass media”, có nghĩa là ngành kinh doanh liên lạc dùng nhiều phương tiện như: tờ báo, truyền hình, phim, và tạp chí Ý nghĩa
“medium” này có số nhiều là “media” Trong các trường hợp khác, “media”
là số nhiều của “medium”, hoặc nói đến chất pha màu trong nghệ thuật, phương tiện dữ liệu (CD, DVD, ), dụng cụ chơi nhạc…
Như vậy, “Multimedia” có nghĩa là: “đa phương tiện” Tuy nhiên đó mới chỉ là nghĩa từ điển (sự kết hợp máy móc của những từ đơn nghĩa) Trong thực tế khi nói đến Multimedia, tùy theo từng lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng hoặc tùy theo ngữ cảnh mà Multimedia có nghĩa khác nhau “Multimedia” là thuật ngữ để chỉ một ngành khoa học được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực, trong đó có nghệ thuật nói chung và nghệ thuật tạo hình nói riêng Việc ứng dụng multimedia trong lĩnh vực mỹ thuật đã làm nảy sinh ra khái niệm “Multimedia art” Nghệ thuật truyền thông đa phương tiện, thường có thể gọi là Nghệ thuật đa phương tiện Nó gồm nhiều loại phương tiện (chất
Trang 22liệu) để biểu đạt tác phẩm nghệ thuật Tùy trường hợp cụ thể mà nghệ sĩ chọn lựa phương tiện biểu đạt phù hợp với tác phẩm [PL.1, B.1, tr.149]
Thuật ngữ Đồ họa: Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, đồ họa là bộ
môn nghệ thuật tạo hình dùng ngôn ngữ chủ yếu là nét vẽ, nét khắc hoặc những mảng hình tách bạch, dứt khoát, có hoặc không kết hợp với màu sắc Khi cần bổ sung sắc độ trung gian, họa sĩ dùng nhiều cách tạo những chấm nhỏ, gạch nét li ti ken nhau mau hay thưa, gây hiệu quả những mảng hình đậm hơn nền giấy nhưng sáng hơn màu mực Khái niệm đồ họa hình thành trong mỹ thuật phương Tây, vốn có truyền thống tư duy rạch ròi, duy lí, để phân biệt với hội hoạ; phương Đông không có sự phân biệt này Phát triển tại Châu Âu từ thời trung đại (thế kỷ X - XIII) trên cơ sở hình vẽ khúc chiết, rành mạch, đồ họa mở đường cho thể loại tranh có sắc thái riêng, khác hẳn với tác phẩm hội hoạ Tranh đồ họa thường thực hiện bằng những chất liệu đa dạng (mực, chì, màu nước ), trong đó đặc biệt phong phú là các dạng tranh in tay, nhất là tranh khắc (gỗ, đá, đồng, kẽm, cao su, thạch cao) Tranh khắc có nét đặc thù là được tác giả tự in hoặc tạo ra bản in thủ công, nhân ra với số lượng hạn chế Tranh khắc gỗ màu của Nhật Bản và tranh khắc gỗ dân gian của Việt Nam được coi như những đóng góp xuất sắc vào nghệ thuật đồ họa Giá trị nghệ thuật cao của đồ họa đã được khẳng định qua nhiều tác phẩm mới mẻ, táo bạo của các nghệ sĩ Châu Âu thế kỷ XIX Đặc biệt từ nửa sau thế kỷ XX, nghệ thuật đồ họa ảnh hưởng mạnh mẽ trở lại tới hội họa Các họa sĩ hiện đại thường dung hợp rất tinh tế, đầy gợi cảm tính đồ họa với tính hội hoạ trong một tác phẩm Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, phạm vi sáng tạo của đồ họa đã được mở rộng sang các loại hình trang trí ứng dụng: áp phích, ấn phẩm, trang trí hàng dệt, thương nghiệp và còn phát huy vai trò trong các loại hình nghệ thuật thị giác khác nhau như sân khấu, nhiếp ảnh, điện ảnh, video [15]
Trang 23Thuật ngữ Ngôn ngữ tạo hình hội họa: là hệ thống các yếu tố thị giác
của nghệ thuật thị giác: điểm chấm, đường nét, hình mảng, khối, không gian, ánh sáng, màu sắc, họa tiết, chất liệu… và những quy tắc, nguyên lý kết hợp, sắp xếp, bố cục các yếu tố thị giác này tạo nên một tác phẩm hội họa (văn bản thẩm mỹ) Nó tạo nên một hệ thống ký hiệu dùng làm phương tiện biểu đạt, thể hiện nội dung tư tưởng, chủ đề của các tác phẩm hội họa Nghệ thuật hội họa biểu thị và truyền đạt những cảm xúc thẩm mĩ của họa sĩ “chuyển tải” đến người xem thông qua ngôn ngữ tạo hình hội họa
Trong hội họa, quá trình sáng tạo của họa sĩ chính là quá trình “soạn thảo văn bản thẩm mỹ” từ những tín hiệu thị giác cơ bản Họa sĩ tiến hành bố cục, sắp xếp, chia cắt, chiếm lĩnh không gian của bức tranh bằng những yếu tố thị giác nhằm “mã hóa” những thông tin và ý tưởng của mình cần truyền tải đến người xem Tuy nhiên, đối với người xem thì quá trình xem và cảm nhận tác phẩm chính là quá trình “giải mã” thông tin Thông qua đó họ có thể
“hiểu” những thông điệp của họa sĩ dựa trên ngôn ngữ của các yếu tố thị giác được sắp xếp bố cục theo ý đồ của họa sĩ
Thuật ngữ Nghệ thuật kỹ thuật số (Digital art): Là một thuật ngữ
chung để chỉ các tác phẩm nghệ thuật có sử dụng công nghệ KTS trong sáng tạo hoặc trình bày Hay nói cách khác công nghệ KTS được ứng dụng trong nghệ thuật hình thành nghệ thuật KTS với các phương thức xử lý ảnh KTS tạo
ra vô số các ảnh ghép, kỹ xảo truyền hình mà tín hiệu tương tự (analog) không thể làm được [75] Công nghệ KTS đã đem lại sự tiện lợi và dễ dàng cho nghệ sĩ trong việc phác họa, sáng tạo hình dáng, màu sắc, bố cục ý tưởng
Từ những năm 1970, có nhiều tên gọi khác nhau đã được sử dụng để nói đến nghệ thuật máy tính và nghệ thuật ĐPT Hiện nay nghệ thuật KTS có nghĩa rộng hơn để nói đến nghệ thuật truyền thông ĐPT mới Tác động của công nghệ KTS đã làm biến đổi hội họa, đồ họa và điêu khắc Hiện nay, có những
Trang 24hình thức nghệ thuật KTS mới, chẳng hạn như nghệ thuật internet, nghệ thuật sắp đặt KTS, thực tế ảo… trở thành những dạng nghệ thuật đã được công nhận Trong một ý nghĩa mở rộng, “nghệ thuật KTS” là một thuật ngữ áp dụng cho nghệ thuật đương đại có sử dụng các phương pháp sản xuất đại chúng hoặc các phương tiện truyền thông KTS Ngày nay, nghệ thuật KTS đã trở nên gần gũi và thân thiết rất nhiều với các nghệ sĩ nhiếp ảnh, họa sĩ, nhà điêu khắc Những tác phẩm nghệ thuật truyền thông, quảng cáo, những tác phẩm nghệ thuật ấn tượng mà ta thường thấy đều có sự can thiệp rất lớn của công nghệ KTS [78]
Thuật ngữ Họa sĩ kỹ thuật số: Họa sĩ KTS sử dụng công cụ vẽ KTS
cho phép vẽ với độ chính xác và chuyển động giống như một cây cọ vẽ trong thực tế để thể hiện tác phẩm (hình ảnh) trực tiếp trên màn hình Bề mặt của tranh KTS là một màn hình chứa khung tranh hoặc sketchbook (tấm vẽ phác thảo KTS), họa sĩ sử dụng một con chuột máy tính (mouse) hoặc bút vẽ và bảng vẽ (tablet) để thể hiện tác phẩm trên màn hình vi tính Hiệu quả của tranh KTS có hình thức giống như tranh vẽ bằng những chất liệu trong hội họa giá vẽ: màu dầu, màu nước, phấn tiên, than, in khắc gỗ như tác phẩm [PL.2, H.1], [PL.2, H.120] Những chương trình phần mềm hỗ trợ vẽ KTS luôn được cải thiện nhằm tạo ra hiệu ứng gần với việc họa sĩ vẽ bằng những phương tiện vẽ truyền thống qua nhiều hiệu ứng bề mặt của cọ vẽ và màu vẽ
9 Cấu trúc của luận án
Luận án có độ dài phần chính văn là 146 trang (kể cả Lời cam đoan, Danh mục chữ viết tắt, Mục lục, Tài liệu tham khảo và Danh sách các công trình đã công bố) Để minh họa và hỗ trợ thêm cho nội dung nghiên cứu của luận án, phần Phụ lục cũng được đánh số trang gồm các bảng: Bảng giải thích thuật ngữ, Bảng hỏi, Hình ảnh minh họa Ngoài phần Mở đầu (19 trang), phần Kết luận (04 trang), phần Tài liệu tham khảo (12 trang) và Phụ lục (70 trang)
Trang 25Nội dung nghiên cứu của đề tài được cấu trúc gồm có 03 Chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tranh KTS ở Việt Nam: (36 trang)
Chương 2: Đặc trưng của tranh KTS ở Việt Nam: (39 trang)
Chương 3: Luận bàn về phương thức biểu đạt tranh KTS ở Việt Nam hiện nay: (31 trang)
Trang 26Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRANH KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái lược về tranh kỹ thuật số
1.1.1 Khái niệm Tranh kỹ thuật số
A Micheal Noll – một trong những nghệ sĩ KTS đầu tiên trên thế giới
đã khẳng định trong tuyên ngôn của mình về nghệ thuật KTS:
Con người tạo ra máy vi tính không phải là một công cụ vô tri vô giác mà nó là một “đối tác” giúp tăng cường hoạt động trí tuệ và sáng tạo của con người Khi được khai thác tốt, nó có thể được sử dụng để “sản xuất” ra các loại hình nghệ thuật hoàn toàn mới và có
thể đem tới những kinh nghiệm thẩm mỹ mới [40]
Các nghệ sĩ trên thế giới bắt đầu sử dụng công nghệ để tạo ra nghệ thuật KTS sớm nhất vào năm 1960 Khoảng nửa sau của thế kỷ XX và đặc biệt là trong mười năm đầu của thế kỷ XXI, nghệ thuật KTS phát triển rất nhanh Công nghệ KTS đã được nhiều nghệ sĩ tận dụng và khai thác tối đa trong sáng tác nghệ thuật Để rồi từ đó hình thành nên một dạng thức tranh phát triển cùng với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT trên thế giới Đó chính
là tranh KTS
Theo từ điển Encyclopaedia Britannica:
“Digital”: (phương tiện) kỹ thuật số; Digital: (xử lý dữ liệu và lưu trữ dưới dạng KTS)
“Paint”: (động từ) có nghĩa là hành động “đặt màu” (vẽ màu) trên một
bề mặt phẳng, được xem như là một dạng của nghệ thuật
Theo từ điển Webster's Unabridged: Painting: (danh từ) là hoạt động vẽ màu; với nghĩa khác là: nghệ thuật vẽ hình thể một đối tượng nào đó bằng màu sắc trên bề mặt của tranh hoặc bất kỳ một bề mặt phẳng nào, hoặc tái hiện nhận thức của con người thông qua những hình thể và màu sắc; là một
Trang 27tác phẩm minh họa hoặc hình vẽ; Painting cũng có nghĩa khác là: một bức tranh với những mảng màu đặt cạnh nhau; hoặc nghĩa khác là: vẽ màu hoặc tái hiện một hình ảnh
Như vậy, digital painting là hình thức nghệ thuật dùng kỹ thuật vẽ
giống như trong hội họa giá vẽ Những kỹ thuật này được áp dụng vào việc sử dụng các công cụ vẽ KTS trên máy vi tính: bảng vẽ KTS, bút vẽ KTS… và phần mềm hỗ trợ vẽ KTS nhằm tạo ra tác phẩm mỹ thuật một cách trực tiếp trên máy tính Tất cả các chương trình phần mềm hỗ trợ vẽ KTS đều cố gắng
“bắt chước” việc sử dụng các phương tiện vẽ trong hội họa giá vẽ truyền thống bằng nhiều kiểu bút vẽ khác nhau và các hiệu ứng bề mặt màu (chất liệu) khác nhau Trong các phần mềm ứng dụng, cọ vẽ được KTS hóa tạo hiệu quả thị giác giống với hội họa giá vẽ như màu nước, phấn màu, sơn dầu,
Digital paintings (tranh KTS): là dạng tranh nghệ thuật được tạo ra với
việc sử dụng một số hình thức của công nghệ KTS Tranh KTS có hình thức được thể hiện trực tiếp trên máy tính hoặc ghi lại thông qua hệ thống ĐPT Hình ảnh ghi lại có thể được lưu trữ dưới dạng băng từ hoặc KTS Ngày nay, tranh KTS có thể được tải xuống (download) từ mạng internet và lưu vào thiết
bị lưu trữ cá nhân tùy theo mục đích người sử dụng Tranh KTS cũng có thể được sử dụng trong những môi trường thực tế ảo với những hiệu quả đặc biệt
Nó có thể tồn tại dưới dạng KTS và được truyền thông trên mạng toàn cầu (internet) và cho phép nhiều người cùng xem và cùng tương tác ở cùng một thời điểm
Về mặt kỹ thuật thể hiện, khi vẽ tranh KTS, họa sĩ tạo ra tác phẩm nghệ thuật KTS một cách trực tiếp trên máy tính thông qua những kỹ thuật vẽ giống như trong hội họa giá vẽ bằng chính khả năng của mình với sự trợ giúp của máy tính
Về công cụ và phương tiện biểu đạt: tất cả các chương trình vẽ KTS
Trang 28đều cung cấp cho người dùng nhiều kiểu cọ vẽ, màu vẽ và hiệu ứng vẽ khác nhau Trong phần mềm hỗ trợ vẽ, nhà sản xuất đã tích hợp sẵn trong đó những kiểu bút vẽ KTS, hiệu ứng giả lập chất liệu (tương tự trong hội họa giá vẽ) như: sơn dầu, phấn màu, than, bút phun màu Ngoài ra, trong hầu hết các chương trình hỗ trợ vẽ KTS, họa sĩ có thể tự tạo ra và tùy chỉnh (customize) những kiểu cọ vẽ của mình bằng cách kết hợp các kiểu kết cấu và hình dạng
cọ KTS [PL.2, H.3] Tính năng quan trọng này góp phần thu hẹp khoảng cách khác biệt giữa tranh hội họa giá vẽ và tranh KTS Ngày nay, những phần mềm
hỗ trợ vẽ KTS như Corel Painter, Adobe Photoshop, ArtRage, GIMP, Krita, openCanvas… đã cung cấp cho nghệ sĩ một môi trường sáng tác “thân thiện” [PL.2, H.124], [PL.2, H.125] (tương tự như trong hội họa giá vẽ) chẳng hạn như: không gian của tác phẩm, bộ công cụ vẽ, bảng màu gồm mười sáu triệu màu và họa sĩ có thể pha trộn màu KTS với nhau cũng giống như khi họa sĩ
vẽ tranh hội họa giá vẽ
Về chất lượng và nội dung của tác phẩm: tương tự như tranh hội họa giá vẽ, giá trị nghệ thuật của tác phẩm mới thực sự là quan trọng Cho dù là
vẽ bằng chất liệu nào hoặc bằng KTS thì điều quan trọng nhất đối với họa sĩ
là họ luôn phải làm chủ được các yếu tố thị giác (đường nét, hình mảng, màu sắc…) cũng như những nguyên lý bố cục Thực tế là họa sĩ vẽ tranh dựa trên
ý tưởng của mình Công nghệ KTS cung cấp những công cụ để họa sĩ có thể chọn lựa kỹ thuật nào, công cụ nào phù hợp nhất với quan điểm thẩm mỹ và
tư tưởng chủ đề của tác phẩm [71] Mục tiêu của họa sĩ là tạo ra tác phẩm có giá trị nghệ thuật dựa trên những ý tưởng của họ
Về bản chất, có thể nói tranh KTS cũng là một dạng nghệ thuật Trên thế giới, nhiều nghệ sĩ đã thừa nhận phương tiện KTS trong sáng tác, họ áp dụng các kỹ thuật vẽ chất liệu: màu nước, màu dầu thông qua các phần mềmtrong máy tính Vẽ tranh KTS có thể sử dụng công nghệ KTS trong bất kỳ
Trang 29giai đoạn nào của quá trình thể hiện Những tác phẩm KTS sau khi được họa
sĩ vẽ hoàn tất, nó có thể được in ra để công chúng có thể thưởng ngoạn hoặc
có thể được hiển thị trên các màn hình vi tính
Về mặt cảm thụ và thưởng ngoạn: trên thực tế, tranh KTS thường được xem thông qua một màn hình máy tính Để cố gắng duy trì đúng nghĩa tác phẩm là một hình thức nghệ thuật, tranh KTS được in ra trên một chất liệu nào đó như: giấy hoặc vải Họa sĩ cũng có thể xử lý thêm bằng cách kết hợp với những chất liệu khác Đây là công đoạn cuối cùng trong quy trình vẽ Tranh KTS bao gồm các yếu tố thị giác: ánh sáng, màu sắc, độ bão hòa màu, độ tương phản, thông qua hình thức chuyển động của đường nét, màu sắc, hình mảng,… truyền tải cảm xúc cũng như ý tưởng của họa sĩ đến người xem
Ngày nay, phần lớn họa sĩ kết hợp nhiều kỹ thuật vẽ chất liệu (màu dầu, màu nước…) trong tranh KTS của họ Điều này đã và đang hình thành nên một dạng nghệ thuật tổng hợp: Tradigital Arts Theo từ điển Computer Desktop Encyclopedia: “Tradigital” = “Traditional” + “Digital” Thuật ngữ này được giảng viên nghệ thuật Judith Moncrieff đưa ra đầu những năm 1990 của thế kỷ XX Trong tradigital arts, các kỹ thuật trong hội họa giá vẽ được ứng dụng và nâng cao triệt để thông qua sự trợ giúp của các công cụ thể hiện trên máy tính [PL.2, H.4] Chính vì vậy mà trong một số trường hợp, rất khó
có thể phân định rõ ràng ranh giới giữa tranh KTS và tranh hội họa giá vẽ trong một tác phẩm nghệ thuật Tradigital
1.1.2 Đặc trưng của tranh kỹ thuật số
Trong kỷ nguyên KTS, sự phát triển của khoa học công nghệ giúp con người có thể tiến hành KTS hóa thế giới tự nhiên Trong lĩnh vực mỹ thuật, ngôn ngữ tạo hình hội họa cũng đã và đang được KTS hóa một cách mạnh mẽ
và ngày càng hoàn thiện hơn Điều này phần nào cũng đã được thể hiện ởhình thức tranh KTS Xét về phương tiện và công cụ vẽ: họa sĩ dùng bút KTS
Trang 30thao tác trên máy tính để tạo ra tác phẩm mỹ thuật Xét về mặt thị giác, tranh KTS không khác biệt nhiều với các hình thức tranh hội họa giá vẽ Nó chỉ là một phần mở rộng của hội họa giá vẽ sang chất liệu KTS Tuy nhiên, tranh KTS cũng có một số đặc trưng như sau:
1.1.2.1 Đặc trưng về hình thức và truyền thông tác phẩm
Tranh KTS với đặc trưng về nguyên lý “biến đổi” [86] rất quan trọng vì
nó có thể cho phép tác phẩm mỹ thuật tồn tại ở nhiều biến thể khác nhau Tranh KTS có thể được xem và cảm thụ với định dạng KTS trên màn hình hoặc nó có thể được in ra trên các chất liệu khác nhau để trở thành những biến thể khác nhau của tác phẩm và của hình ảnh ban đầu
“Chuyển mã” [86] cũng là một trong những nguyên lý đặc trưng quan trọng nếu xét về mặt kỹ thuật Nguyên lý này đề cập đến sự chuyển dịch của một tác phẩm sang một định dạng khác Hình ảnh được tạo ra trong một chương trình phần mềm hỗ trợ vẽ đơn cử như Adobe Photoshop có thể cần phải được chuyển đổi chế độ màu (color mode) và được lưu thành một định dạng nhất định khác để có thể xem được trên các phương tiện truyền thông khác nhau Đối với những tác phẩm hội họa giá vẽ truyền thống sau khi được KTS hóa (scan) cũng có thể được xem ở dạng KTS trên màn hình máy tính
Khi tác phẩm KTS được tạo ra bằng chương trình phần mềm hỗ trợ vẽ như Adobe Photoshop, hoặc Corel Painter,… chúng phải được lưu với một định dạng cụ thể tùy thuộc vào phương thức tác phẩm sẽ được xem Tranh KTS được giới thiệu với thế giới nghệ thuật như là một phương tiện, trong đó tác phẩm không chỉ được biểu đạt trên giấy hoặc vải theo cách truyền thống nữa, mà chúng có thể được xem trên một màn hình máy tính ở khắp mọi nơi trên thế giới, trong các bảo tàng hoặc trên máy tính cá nhân… Hơn thế nữa, tranh KTS cũng có thể được in, sao chép và sản xuất hàng loạt nhằm nhân rộng và chuyển tới công chúng một cách nhanh chóng và hiệu quả thông qua
Trang 31nhiều kênh truyền thông như: truyền hình, internet, CD tương tác, ấn phẩm…
Phương tiện nghệ thuật KTS rất thuận lợi cho nghệ sĩ cũng như công chúng thưởng thức nghệ thuật Thông qua Internet, người xem không cần tới bảo tàng hoặc phòng triển lãm tranh cũng có thể thưởng thức tác phẩm của họa sĩ Thậm chí, họa sĩ sau khi hoàn thiện tác phẩm có thể đăng ngay lập tức hình ảnh các tác phẩm nghệ thuật của mình lên internet Có thể coi internet là một môi trường rộng lớn giúp truyền thông tác phẩm Nó cho phép tác phẩm
có thể “hiện diện” ở mọi nơi trên khắp thế giới Triển lãm ảo chính là một trong những phương thức giúp nghệ sĩ KTS đưa tác phẩm của họ đến với công chúng, mà ở đó người xem không cần phải tới một địa điểm thực tế nào như bảo tàng, phòng triển lãm Thay vào đó là những bộ sưu tập tác phẩm trong những bảo tàng KTS ảo và trực tuyến (thông qua internet)
Ngoài ra, sự linh hoạt của nghệ thuật KTS là một trong những lý do khiến nhiều họa sĩ chuyển sang thể nghiệm sáng tác tranh KTS Tác phẩm KTS có thể được sử dụng trong các phương tiện khác nhau với những mục đích khác nhau Nó có thể được in kết xuất ra với nhiều kích thước lớn nhỏ khác nhau Họa sĩ cũng có thể dễ dàng điều chỉnh kích thước của tác phẩm trong quá trình sáng tác nhằm phù hợp với nhiều phương tiện truyền thông khác nhau…
1.1.2.2 Đặc trưng về quy trình vẽ và sáng tạo
Quá trình vẽ tranh KTS về cơ bản gần giống với vẽ tranh giá vẽ [PL.1, B.2, tr.150] Họa sĩ vẽ tranh giá vẽ phải bắt đầu từ đầu, quá trình này đòi hỏi độ chính xác cao, kỹ năng xử lý chất liệu điêu luyện, thời gian và cả sự kiên nhẫn Đối với họa sĩ vẽ tranh KTS, họ vẽ với sự trợ giúp của công nghệ KTS (các thiết bị phần cứng và phần mềm) trên máy tính một cách nhanh chóng
Một bức tranh KTS không chỉ là một hình ảnh cuối cùng, mà còn là công nghệ KTS trợ giúp họa sĩ trong quá trình vẽ Bề mặt ảo của tranh tồn tại
Trang 32bên trong của máy tính, theo nhiều nhà lý luận thì phương tiện truyền thông KTS đóng một vai trò quan trọng trong thẩm mỹ của một tác phẩm KTS [60] Tuy nhiên, họa sĩ KTS cho rằng công nghệ KTS chỉ là một phương tiện để vẽ, cũng giống như các họa sĩ hội họa giá vẽ sử dụng cọ vẽ trên khung vải toan
Màn hình máy tính có vai trò như một bề mặt tranh (giống như một loại vải) để họa sĩ vẽ lên Chất liệu “vải” mới này có thể hiển thị hình ảnh cuối cùng cho người xem ở nhiều dạng Họa sĩ KTS kết hợp các kỹ năng vẽ trong hội họa giá vẽ truyền thống với kỹ năng sử dụng công nghệ KTS trong quá trình thể hiện tác phẩm [PL.2, H.11]
Về phương diện sáng tạo, sáng tác tranh KTS đòi hỏi người nghệ sĩ phải có kiến thức, kỹ năng, sự nỗ lực làm chủ công nghệ và thường xuyên phải cập nhật công nghệ KTS mới Các họa sĩ KTS sử dụng một bảng màu với mười sáu triệu màu, vô số các kích cỡ cọ vẽ, kích cỡ khung hình, bộ lọc hiệu ứng đặc biệt khác nhau… ảnh hưởng đến độ sáng, độ tương phản, độ mờ đục, độ đậm… [PL.2, H.123] và nhiều cách để xem hình ảnh cuối cùng theo ý của họa sĩ Hơn thế nữa, những lựa chọn sẵn có trong phần mềm giúp họa sĩ KTS có thể tham khảo những gợi ý bố cục tạo hình trong quá trình vẽ Đơn cử như trong Corel Painter, họa sĩ có thể sử dụng những công cụ với chức năng
hỗ trợ bố cục tranh [PL.2, H.12]
1.1.2.3 Đặc trưng về phương thức tạo hình tác phẩm
Đặc trưng của tranh hội họa giá vẽ chính là tính độc bản Trong hội họa giá vẽ, hầu hết tác phẩm được vẽ bằng sơn dầu, lụa, chì, màu nước… đều là độc bản (những tranh chép lại chỉ là phiên bản) Ngoài ra, thuật ngữ “độc bản” thường dùng để chỉ tranh đồ họa in được một bản duy nhất Tranh in độc bản thường hay sử dụng mặt đá, kính, kẽm phẳng… như một bề mặt chế bản Họa sĩ vẽ lên các bề mặt phẳng và phối hợp nhiều chất liệu, nhiều thủ pháp kỹ thuật khác nhau sẽ cho ra một bản in duy nhất Vẻ đẹp tự thân và chất lượng
Trang 33nghệ thuật của tranh in độc bản còn được bộc lộ rõ trong tính tự do, ngẫu hững của đường nét, mảng màu cũng như sự tổng hòa các đặc tính của hội họa và đồ họa Tranh in độc bản là kết quả tổng hợp của trò chơi ngẫu hứng màu sắc của mực in và giấy, qua đó tạo ra bề mặt in ấn của tranh hết sức độc đáo [26] Những nét vẽ thể hiện những tâm trạng, xúc cảm ở một khoảnh khắc thăng hoa của người nghệ sĩ được lưu lại trên bề mặt tranh Chính vì lẽ đó mà hội họa giá vẽ truyền thống thường tạo ra tranh độc bản và chúng thường được coi là dạng quý hiếm
Tranh KTS không có tính chất độc bản, nó chỉ có thể được xem như là một điển hình về công nghệ “nhẹ nhàng” [70] Ngày càng nhiều nghệ sĩ tham gia sáng tác, khám phá tiềm năng của nó Khi vẽ tranh KTS, họa sĩ không cần phải tiếp xúc với những mùi độc hại và nồng nặc của sơn dầu, họ cũng không cần phải bận tâm về hàng tá cọ vẽ, bay vẽ, bút chì, hộp màu… Họ chỉ cần một chiếc máy vi tính với những thiết bị hỗ trợ vẽ và chiếc máy in chất lượng cao [90] Đó chính là không gian sáng tác của một họa sĩ KTS
Ưu điểm của vẽ tranh KTS là quá trình sáng tác đỡ tốn kém, linh động, thay đổi bố cục nhanh, dễ hình dung ra kết quả của tác phẩm và dễ sửa chữa thông qua những lệnh vẽ chỉ có trong môi trường vi tính (lệnh Undo, Revert, Rollback) Mặc dù vậy, nghệ thuật vẫn quan trọng nhất là ý tưởng, là ngôn ngữ nghệ thuật Chất liệu, máy tính hay đôi tay, cọ vẽ hay chuột vi tính cũng chỉ là công cụ giúp thể hiện ý tưởng của nghệ sĩ Những bức ảnh thực được họa sĩ bố cục, kết hợp với nhau, biên tập và biến đổi thành tác phẩm KTS Quá trình diễn tả bằng KTS trên màn hình máy vi tính làm cho hình ảnh KTS
có vẻ hấp dẫn và lạ hơn hình ảnh ngoài thực tế Những tiện ích của công nghệ được họa sĩ ứng dụng trong quá trình vẽ tranh KTS có thể làm tăng thêm hiệu quả thị giác đối với người xem thông qua những hiệu ứng đặc biệt thể hiện trên màn hình
Trang 34Công nghệ được ứng dụng trong vẽ KTS, chẳng hạn như máy tính màn hình cảm ứng (tablet) và bút vẽ KTS (stylus), hoặc phần mềm vẽ KTS như Photoshop, Corel Painter… góp phần không nhỏ tạo nên chất lượng thẩm mỹ của hình ảnh cuối cùng Họa sĩ KTS sử dụng công nghệ trong thực hành nghệ thuật, chủ động xử lý các yếu tố thị giác trong mọi giai đoạn của quá trình sáng tạo Mặc dù vậy, họ cũng không cần phải có bất kỳ kiến thức nào về ngôn ngữ máy tính cần thiết để có thể vẽ một bầu trời trong xanh hoặc những
lá cây úa vàng lặng lẽ rơi bên thềm ngập tràn nắng Những phần mềm này đều
đã được trang bị hầu như tất cả những gì mà họa sĩ cần để có thể vẽ và thể hiện ý tưởng tác phẩm của mình mà không cần phải biết thuật toán hay ngôn ngữ máy tính Đơn giản là họ chỉ cần áp dụng các tổ hợp bàn phím cần thiết, kết hợp với thao tác vẽ bút KTS nhằm đạt được kết quả mong muốn
Về phương thức tạo hình: hầu hết phần mềm hỗ trợ vẽ KTS liên quan đến việc tạo ra một hình ảnh gồm nhiều lớp Mỗi lớp có thể được thao tác bằng cách áp dụng bộ lọc trong chương trình phần mềm, thay đổi các thuộc tính của hình ảnh như: độ sáng, độ tương phản và độ bão hòa màu Mỗi lớp hình ảnh luôn có sự độc lập tương đối của nó so với các lớp khác, nhưng đồng thời chúng cũng phụ thuộc vào các lớp khác để hiển thị một hình ảnh hoàn chỉnh Trong khi thể hiện tác phẩm, họa sĩ có thể lưu tiến trình vẽ của mình thành từng bước bằng cách lưu chúng lại như là một phần của tác phẩm và họa sĩ có thể quay trở lại sau để vẽ hoàn tất tác phẩm
Thực tế trong quá trình vẽ tranh bằng các chất liệu trong hội họa giá vẽ, đôi khi họa sĩ cần phải chỉnh sửa lại một số vùng hình ảnh cho đẹp hơn Thậm chí họ có thể phải bỏ cả tác phẩm của mình để vẽ lại nếu như phải sửa quá nhiều chỗ Tuy nhiên, trong quá trình vẽ tranh KTS, họa sĩ có thể kiểm tra lại lịch sử các bước tiến trình thao tác mà họ đã thực hiện trong khi vẽ Từ đó có thể điều chỉnh bức vẽ theo ý muốn Ngoài ra, quá trình vẽ tranh KTS cũng
Trang 35cho phép họa sĩ thay đổi hình dạng, màu sắc, đường nét, độ nghiêng, của các đối trượng trong tranh một cách dễ dàng và nhanh chóng
1.1.2.4 Đặc trưng về ngôn ngữ tạo hình các yếu tố thị giác
Tỷ lệ của không gian thao tác trong tranh KTS: Trong một vài thể loại, họa sĩ phải thể hiện thế giới bao la trong một “không gian chính xác của màn hình máy vi tính, màn hình TV ” [67, tr.10] Trong hội họa giá vẽ, họa sĩ có thể kéo dãn khung tranh ra theo phương thẳng đứng hoặc nằm ngang để phù hợp với nội dung mà đề tài và ý tưởng yêu cầu Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi vẽ tranh KTS họa sĩ phải làm việc bên trong một không gian
có tỷ lệ các cạnh cố định [47] Hiện nay, đa số màn hình chuẩn có tỷ lệ các cạnh là 4 x 3 Đối với truyền hình số (DTV - truyền hình KTS) màn ảnh và phim có độ rộng hơn tiêu chuẩn TV và những màn ảnh phim cổ điển, với những tỷ lệ các cạnh là 16 x 9, hoặc 5.3 x 3 cho DTV và thậm chí còn rộng hơn (5.6 x 3)
Ánh sáng và màu sắc KTS: Trong hội họa giá vẽ, màu sắc được sử dụng dựa trên nguyên lý pha màu của Prang và Prewster [16] Tuy nhiên, tranh KTS có màu sắc rất đa dạng và phong phú khi được hiển thị trên màn hình Trên phương diện lý thuyết, màu KTS có hai hệ màu chính: màu ánh sáng và màu mực in Ngoài ra, tùy thuộc vào mục đích hiển thị mà họa sĩ có thể sử dụng những hệ màu KTS khác như: La*b*, HSB, Grayscale [24]
Về phương diện kỹ thuật của yếu tố thị giác điểm chấm: Trong tranh KTS khi thể hiện trên màn hình, mỗi điểm chấm chỉ là một pixel (điểm ảnh)
có dạng hình học là hình vuông Trên màn hình máy tính, một điểm là một vị trí vùng nhớ màn hình để lưu trữ thông tin độ sáng của điểm tương ứng đó [39, tr.3] Nếu tác phẩm được đem kết xuất (in ra) điểm chấm sẽ được hiển thị
là một điểm (point) có dạng hình học là hình tròn Như vậy, tùy thuộc vào môi trường hiển thị mà hình thức thể hiện của hình ảnh có sự thay đổi khác
Trang 36nhau Tranh KTS khi được xem trên màn hình máy tính có thể điều chỉnh ở độ phân giải màn hình khác nhau, ảnh hưởng đến màu sắc và độ nét của ảnh
Về bố cục: trong lĩnh vực nghệ thuật KTS, họa sĩ thường dùng hệ thống lưới (grid) để bố cục Bởi lẽ, hình ảnh được hiển thị trên màn hình bằng những điểm ảnh (pixel) theo dạng ma trận cột và dòng (tùy thuộc vào độ phân giải của thiết bị hiển thị màn hình) Phương thức bố cục dạng lưới thường được phần mềm hỗ trợ một cách mạnh mẽ thông qua chức năng bắt dính (snap) vào những đường thẳng đứng, nằm ngang hoặc bắt dính vào các điểm đặc biệt trong bố cục Điều này làm nổi bật tính cấu trúc của bố cục Tuy nhiên, chức năng bắt dính (snap) này cũng có thể làm giả đi sự uyển chuyển
và linh hoạt trong quá trình tạo hình
Về không gian, thời gian: trong tác phẩm KTS, ngoài yếu tố về không gian truyền thống (chiều dài, rộng, sâu) còn có chiều thứ tư – chiều thời gian: Chiều thời gian chính là đặc trưng tạo nên hiệu quả chuyển động (biến đổi đối tượng theo thời gian) Nhờ khái niệm thời gian mà những tác phẩm nghệ thuật KTS trở nên sống động và đa dạng hơn [87] Chiếc lá cuối thu vàng úa cũng
có thể chuyển màu dần sang xanh biếc trong quá trình hiển thị trên màn hình, giúp họa sĩ diễn đạt sự hồi sinh trong tác phẩm của mình Có thể nói, cách diễn đạt các yếu tố thị giác trong bố cục được biến đổi theo thời gian thực (realtime) [88] là một trong những đặc trưng của nghệ thuật KTS khi tác phẩm được hiển thị trên màn hình máy vi tính
Về định dạng và độ phân giải của tác phẩm KTS: khi họa sĩ lưu trữ hình ảnh trên máy tính có rất nhiều lựa chọn định dạng khác nhau: jpg, gif, tiff Trên thực tế, tùy từng mục đích của tác phẩm mà họa sĩ có thể chọn lựa đinh dạng hình ảnh cho phù hợp Chẳng hạn như tập tin định dạng jpg là lựa chọn tốt nhất cho hình ảnh trên web vì hình ảnh sẽ được nén ở mức độ cao khi được lưu trữ ở định dạng này - có nghĩa là nó sẽ đưa hình ảnh vào một tập tin
Trang 37có thể dễ dàng “lưu thông” trên internet Họa sĩ cần xác định độ phân giải của tác phẩm KTS để có thể kiểm soát được những chi tiết đẹp khi kết xuất in ấn, hoặc có thể giảm kích thước tập tin cho những trường hợp muốn tải tác phẩm lên internet hoặc tải xuống từ internet một cách nhanh chóng
Về bản chất của hình ảnh KTS: Hình ảnh sử dụng trong tranh KTS rất
đa dạng và phong phú Tuy nhiên nếu xét về mặt bản chất, chúng chỉ tồn tại dưới hai dạng cơ bản: hình ảnh vector và hình ảnh bitmap Hình ảnh vector được xây dựng dựa trên những hàm toán học và việc xử lý hình ảnh cũng được xây dựng dựa trên những thuật toán nào đó Chính vì vậy mà hình ảnh vector thể hiện tính đồ họa rất cao, sắc nét và rõ ràng Trong khi đó, hình ảnh bitmap xây dựng trên lý thuyết điểm ảnh (pixel) Mỗi điểm ảnh chứa đựng những thông tin về vị trí, màu sắc, độ tương phản, độ bão hòa màu [84] Hình ảnh bitmap rất mềm mại và uyển chuyển do cách thức chuyển màu, sắc độ, độ tương phản tương đồng với lý thuyết nguyên lý thị giác trong hội họa giá vẽ truyền thống
Ngoài những đặc trưng về ngôn ngữ tạo hình kể trên, tranh KTS còn có những đặc trưng khác liên quan đến kỹ thuật và công nghệ: chất lượng của tác phẩm KTS phụ thuộc vào thiết bị kết xuất; thiết bị hiển thị màn hình; độ phân giải màn hình; độ phân giải hình ảnh; độ phân giải kết xuất; định dạng hình ảnh; mô hình màu để xây dựng tác phẩm; thiết lập tùy biến trên thiết bị phần cứng của người sử dụng
1.1.2.5 Đặc trưng về sự tương tác giữa họa sĩ và máy tính
Sự khác nhau chủ yếu giữa vẽ tranh KTS và vẽ tranh trong hội họa giá
vẽ chính là “sự giao tiếp” [56, tr.128] giữa họa sĩ và tác phẩm của mình Họa
sĩ KTS có nhiều tùy chọn sử dụng công cụ vẽ Đó là: bảng mẫu màu gồm 16 triệu màu; không gian của tác phẩm KTS có thể thay đổi to nhỏ tùy ý Khả năng biên tập các yếu tố thị giác trên bố cục tranh cũng rất đa dạng và phong
Trang 38phú; nhiều hiệu ứng hai chiều, ba chiều được xây dựng sẵn trong các phần mềm hỗ trợ vẽ KTS Chúng có khả năng kết hợp với nhau, biến đổi nhiều tổ hợp các thông số kỹ thuật để tạo nên những hiệu ứng mới một cách nhanh chóng, hiệu quả và đa dạng
Hình thức giao tiếp giữa họa sĩ và tác phẩm thông qua các thiết bị trung gian như giao diện màn hình, thiết bị nhập và xuất KTS Đây cũng chính là một trong những đặc trưng của nghệ thuật KTS “Hình thức giao tiếp giữa họa
sĩ và máy vi tính là một quá trình tương tác hai chiều” [56, tr.127] qua lại trong quá trình sáng tạo:
Chiều tương tác từ máy vi tính tới họa sĩ: thông tin, dữ liệu vẽ của họa
sĩ được thiết bị KTS biến đổi những tín hiệu thị giác như điểm chấm, đường nét, màu sắc, hình mảng thành những tín hiệu KTS Các tín hiệu này sẽ được hiển thị trên màn hình máy tính Đây chính là quá trình số hóa
Chiều tương tác từ họa sĩ tới máy vi tính: đa dạng và phong phú, tùy thuộc vào sự phát triển của khoa học công nghệ và mức độ ứng dụng của họa
sĩ Một số dạng cơ bản như: joysticks (thiết bị nhập dùng để điều khiển máy
vi tính, có chức năng giống như chuột), bảng vẽ đồ họa (graphics tablets), găng tay dữ liệu (data gloves) và thậm chí là cả những thiết bị mặc vào người
để thể hiện những chuyển động trong mô hình thực tế ảo [80] nhằm diễn đạt một cách tốt nhất ý tưởng của họa sĩ
Ngoài ra, khi thưởng thức tranh KTS còn có sự tương tác qua lại giữa người xem (công chúng) với tác phẩm Người xem tham gia vào tác phẩm, có quyền thay đổi dòng chảy mạch ý tưởng của tác phẩm [56,tr.129] Với chiều tương tác này, tác phẩm KTS trở nên sống động, lôi cuốn và đa dạng
Xét về mối quan hệ giữa nghệ sĩ và tác phẩm: dù là hội họa giá vẽ hay
là tranh KTS, suy cho cùng thì mục tiêu của họa sĩ là tạo ra một tác phẩm đẹp chia sẻ cho người xem [92] Mục tiêu của họ là có thể truyền đạt ý tưởng của
Trang 39mình mà không phụ thuộc vào kỹ thuật Mối quan hệ giữa nghệ sĩ và tác phẩm nghệ thuật được hình thành bất kể tác phẩm đó được tạo ra như thế nào Trong tranh KTS, do đặc trưng của công nghệ KTS nên khó cảm nhận được chất liệu sơn hay nét cọ vẽ Hơn thế nữa, bản thân công nghệ tồn tại ở một hình thức trừu tượng khiến cho việc nắm bắt các yếu tố bên trong tác phẩm KTS của họa sĩ trở nên khó khăn hơn
1.2 Sự hình thành nghệ thuật đa phương tiện và tranh kỹ thuật số
Nghệ thuật trên thế giới biến đổi và phát triển rất nhanh theo quy luật của sự vận động Khi xã hội phát triển, kinh tế, khoa học kỹ thuật, trình độ học vấn và nhu cầu hưởng thụ thẩm mỹ của người dân cũng dần được nâng cao và trở nên rất đa dạng Trong lĩnh vực mỹ thuật tạo hình cũng có sự thay đổi về chất, đa dạng hóa về nội dung và chất liệu biểu đạt cũng như những phương thức truyền thông nhằm đưa tác phẩm nghệ thuật đến với công chúng
Để đáp ứng được những biến đổi do sự phát triển của xã hội, cùng với sự phát triển của CNTT, ở Việt Nam đã “du nhập” một hình thức mới của nghệ thuật
và phát triển rất nhanh với sự trợ giúp của CNTT và truyền thông Đó chính là nghệ thuật ĐPT
1.2.1 Lược sử tranh kỹ thuật số trên thế giới
1.2.1.1 Sự xuất hiện của nghệ thuật đa phương tiện trên thế giới
Do sự vận động và phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật trên thế giới, ngày càng nhiều nghệ sĩ khám phá ra sức mạnh của máy tính trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật Họ nhìn nhận khả năng biểu đạt nghệ thuật của máy tính như là một “môi trường nghệ thuật” [40] thông qua những ứng dụng
đa phương tiện (Multimedia) Multimedia được ứng dụng trong lĩnh vực mỹ thuật đã làm nảy sinh ra nghệ thuật ĐPT (multimedia art) Trong đó vẽ tranh KTS là một trong số những ứng dụng phổ biến của multimedia trong lĩnh vực nghệ thuật
Trang 40Năm 1965 thuật ngữ “Multimedia” được sử dụng lần đầu tiên trên thế giới để nói về một loại hình nghệ thuật tổng hợp [70] Trong đó có kết hợp nhạc rock, phim ảnh, ánh sáng và nghệ thuật trình diễn (performance art) Giai đoạn đầu của Multimedia chủ yếu là sự phát triển của công nghệ kỹ thuật
số và phần cứng được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có nghệ thuật Tới thập niên 1990 của thế kỷ XX, thế giới mới có khái niệm về multimedia một cách đầy đủ như ngày nay thường dùng Có thể khái lược sự phát triển của Multimedia art theo những mốc thời gian sau:
Từ những năm 1950 đến 1960: Thiết bị đồ họa đầu tiên là màn hình xuất hiện tại Đức (1959); SAGE (Semi-Automatic Ground Environment System) xuất hiện bút sáng (light pen) thao tác với màn hình (1960); William Fetter (nhà khoa học người Mỹ) nghiên cứu xây dựng mô hình buồng lái máy bay cho hãng Boeing của Mỹ Ông đã dựa trên hình ảnh ba chiều của mô hình phi công trong buồng lái máy bay để xây dựng một mô hình tối ưu cho buồng lái Phương pháp này cho phép các nhà thiết kế quan sát một cách trực quan
vị trí của người lái trong khoang lái Ông đặt tên cho phương pháp này là đồ hoạ vi tính (Computer Graphics - 1960); Màn hình là thiết bị thông dụng nhất trong hệ thống đồ họa, các thao tác trên màn hình dựa trên thiết kế ống tia âm cực CRT (Cathode ray tube)
Từ 1960 đến 1970: 1963 Ivan Sutherland (Hội nghị Fall Joint Computer
- lần đầu tiên có khả năng tạo mới, hiển thị và thay đổi được những thực hiện trong thời gian thực trên màn CRT) Hệ thống này được dùng để thiết kế mạch điện: CRT, LightPen, computer Người dùng có thể vẽ trực tiếp lên màn hình thông qua bút sáng
Từ 1970 đến 1980: Raster Graphics (đồ hoạ điểm) Bắt đầu sử dụng chuẩn đồ hoạ như: GKS (Graphics Kernel System): trở thành chuẩn ISO 2D của Châu Âu