1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng giai đoạn hiện nay

175 435 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, nhiều vụ việc, hành vi của đối tượng kiểm tra không chỉ dừng trong nội bộ Đảng, mà còn liên quan đến pháp luật, đến nhiều lĩnh vực khác, kể cả những mối quan hệ xã hội của đối

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

BÙI ANH TUẤN

thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra

của đảng giai đoạn hiện nay

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Chuyờn ngành: Xõy dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

Mó số: 62 31 23 01

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS NGễ HUY TIẾP

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Bùi Anh Tuấn

Trang 3

Trang

Chương 1: THẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA

CỦA ĐẢNG - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN

1.1 Khái quát về công tác kiểm tra của Đảng 31 1.2 Thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng 39

Chương 2: THẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA

CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG,

2.1 Thực trạng hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm

2.2 Nguyên nhân thực trạng hoạt động thẩm tra, xác minh trong

2.3 Một số kinh nghiệm và vấn đề đặt ra qua thực trạng hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng 103

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM

THỰC HIỆN TỐT HOẠT ĐỘNG THẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG GIAI

3.1 Dự báo một số tình hình có liên quan và phương hướng hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng trong thời

3.2 Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động thẩm tra, xác

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng Đảng ta luôn khẳng định: lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo; kiểm tra là chức năng lãnh đạo của Đảng, là một nội dung của phương thức lãnh đạo, là

bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng

Trong quá trình tiến hành công tác kiểm tra của Đảng, thẩm tra, xác minh là một khâu hoạt động rất quan trọng Thực tiễn cho thấy, nếu chưa thẩm tra, xác minh hoặc thẩm tra, xác minh chưa rõ ràng, chu đáo thì chưa thể kết thúc kiểm tra và như thế cũng có nghĩa là chưa thể kết luận, xử lý đối với nội dung và đối tượng kiểm tra Chất lượng và kết quả của hoạt động thẩm tra, xác minh có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến việc kết luận và quyết định

xử lý của tổ chức đảng có thẩm quyền đối với đối tượng kiểm tra Phương châm “công minh, chính xác, kịp thời” của việc thi hành kỷ luật trong Đảng được thực hiện tốt hay không, đạt được đến mức độ nào đều phụ thuộc vào mức độ, hiệu quả của hoạt động thẩm tra, xác minh

Nhiều năm qua, nhất là từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc trong nhiều lĩnh vực, công tác kiểm tra nói chung và hoạt động thẩm tra, xác minh nói riêng của các tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tích cực trong công tác xây dựng Đảng Khi tiến hành thẩm tra xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng, cán bộ kiểm tra các cấp đã bám sát và tuân thủ thực hiện đúng các nguyên tắc thẩm tra, xác minh, bám sát nội dung kiểm tra; thực hiện dân chủ, khách quan, công khai; thực hiện đúng các nguyên tắc, quy định của Đảng và phương pháp công tác kiểm tra của Đảng Do làm tốt thẩm tra, xác minh nên nhiều cuộc kiểm tra kết luận chính xác, đối tượng được kiểm tra “tâm phục”,

Trang 5

“khẩu phục”, nhiều vụ việc được xử lý công minh, chính xác, kịp thời, có tác dụng góp phần nâng cao trách nhiệm, chất lượng công tác xây dựng Đảng ở nơi được kiểm tra

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, những kết quả đạt được, hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra cũng đã và đang bộc lộ những khó khăn, hạn chế cần nhanh chóng được khắc phục Một số cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra và cán bộ trực tiếp tiến hành kiểm tra chưa thật sự quan tâm, coi trọng vị trí, vai trò của hoạt động thẩm tra, xác minh Một số vụ việc tiến hành thẩm tra, xác minh không kỹ, không đầy đủ, chưa sâu, chưa tìm được bằng chứng xác thực, làm ảnh hưởng đến tính chính xác, khách quan khi

kết luận nội dung kiểm tra Chất lượng chứng cứ sau một số cuộc thẩm tra,

xác minh không đầy đủ và xác đáng để làm cơ sở kết luận nội dung và đối tượng kiểm tra Hoạt động thẩm tra, xác minh - theo nguyên tắc và phương pháp công tác đảng - phải lấy việc tự phê bình và phê bình làm biện pháp chính; tuy nhiên, trong thực tế, hiệu quả của việc thực hiện biện pháp chính yếu này không phải là như nhau và lúc nào cũng có vai trò tích cực, nhất là trong bối cảnh những tổ chức đảng mất đoàn kết nội bộ, ý thức đảng chưa cao Đặc biệt, nhiều vụ việc, hành vi của đối tượng kiểm tra không chỉ dừng trong nội bộ Đảng, mà còn liên quan đến pháp luật, đến nhiều lĩnh vực khác,

kể cả những mối quan hệ xã hội của đối tượng kiểm tra… Điều đó đòi hỏi hoạt động thẩm tra, xác minh muốn có hiệu quả cần phải có sự cộng tác, phối hợp của nhiều hoạt động, nhiều tổ chức và mang tính nghiệp vụ cao Biện pháp tự phê bình và phê bình trong nội bộ tổ chức đảng để tiến hành thẩm tra, xác minh cũng cần được hoàn thiện, phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay trên cơ sở đặc điểm thực trạng của tổ chức cơ sở đảng có đối tượng kiểm tra

Những hạn chế trong hoạt động thẩm tra, xác minh dẫn đến quyết định

xử lý không chuẩn xác như oan sai, bỏ lọt các hành vi và đối tượng vi phạm,

Trang 6

tiêu cực hoặc không bảo vệ được chân lý và các nhân tố tích cực… Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: tính phức tạp của các vụ việc, sự yếu kém về tính tự giác của đối tượng kiểm tra, thực trạng nội bộ tổ chức đảng thiếu tính chiến đấu, song nguyên nhân cơ bản là về quan điểm

và phương pháp, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ kiểm tra cũng như quy trình tiến hành thẩm tra, xác minh chưa có sự đổi mới, nâng cao chất lượng cho phù hợp với tình hình mới

Để tiếp tục phát huy kết quả cũng như góp phần khắc phục những mặt hạn chế, yếu kém trong công tác kiểm tra nói chung và hoạt động thẩm tra, xác minh nói riêng thời gian qua nhằm đáp ứng những yêu cầu của công cuộc đổi mới và công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới, việc nghiên cứu đề tài

“Thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng giai đoạn hiện nay”

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng

- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân, khái quát một số kinh nghiệm tiến hành thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng giai đoạn hiện nay

- Phân tích những nhân tố tác động, đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng giai đoạn hiện nay

Trang 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về lĩnh vực nghiên cứu, luận án đi sâu nghiên cứu thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương trên tất cả các đối tượng, nhiệm vụ kiểm tra

Phạm vi nghiên cứu của luận án về thời gian từ năm 2001 đến nay; phương hướng giải pháp của luận án có giá trị định hướng đến năm 2020

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác kiểm tra, về hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng; nghiên cứu một số Luật, văn bản dưới Luật liên quan đến hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng, như: Luật Tố cáo; Luật Khiếu nại; Luật Phòng, chống tham nhũng; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính… Luận án còn kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã được công bố

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên ngành, trong đó chú trọng việc tổng kết thực tiễn, điều tra, khảo sát, phương pháp chuyên gia, hệ thống, kết hợp chặt chẽ lôgíc - lịch

sử, phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh

5 Đóng góp khoa học của luận án

- Luận giải, làm rõ hơn, sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về công tác kiểm tra của Đảng, trong đó tập trung vào hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng

Trang 8

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng, khái quát một số kinh nghiệm tiến hành thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng

- Đề xuất một số nội dung, biện pháp có tính khả thi nhằm thực hiện tốt hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng giai đoạn hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo có giá trị đối với

ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng; trong bồi dưỡng, huấn luyện nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác kiểm tra của Đảng Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước trong các học viện, nhà trường trong cả nước

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận các danh muc công trình của tác giả liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội chính của luận

án gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Ở NƯỚC NGOÀI VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KINH NGHIỆM CỦA NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Các công trình nghiên cứu có tác giả là người nước ngoài

Lý Quang Diệu trong "Bí quyết hóa rồng - Lịch sử Singapore

1965-2000" [59], trong bài viết chủ đề “Xây dựng một Chính phủ trong sạch”, tác

giả - Thủ tướng đầu tiên (từ năm 1959-1990) và là người có vai trò to lớn trong việc thay đổi và phát triển đất nước Singapore trở thành một trong những “con rồng Châu Á” - đã khẳng định và nêu bật quyết tâm của Đảng Hành động Nhân dân (tên viết tắt tiếng Anh là PAP) khi lên nắm chính quyền vào năm 1959, là đã xác định và bắt tay xây dựng một chính quyền trong sạch Một trong những “công cụ được mài nhọn” để có thể ngăn chặn, phát hiện và cản trở những thủ đoạn tham nhũng là cơ quan trọng yếu thực hiện nhiệm vụ này: Ban Điều tra hành vi tham nhũng (tên viết tắt tiếng Anh là CPIB), có quyền hạn được điều tra bất kỳ viên chức hay vị Bộ trưởng nào Nhân viên của Ban cũng được ủng hộ để thực thi luật, không e

dè hay thiên vị

Đến năm 1960, chính quyền của Đảng PAP thực hiện việc nới rộng quyền lực của các điều tra viên, kể cả quyền bắt giữ, khám xét, thanh tra tài khoản, sổ ghi tiền gửi ngân hàng của những kẻ bị tình nghi cũng như của vợ, con và thuộc hạ của họ Một sự thay đổi nữa là cho phép những người xét xử xem những chứng cứ cho thấy người bị tố cáo đang sống ở mức sống vượt quá khả năng kinh tế của họ hoặc có những tài sản mà thu nhập của họ không thể giải thích, là bằng chứng xác thực chứng minh rằng người bị tố cáo đã nhận hối lộ

Trang 10

Tác giả Lý Quang Diệu rút ra nhận định ở cuối bài viết: “Hệ thống được lập ra điều tra và báo cáo trung thực sẽ chứng minh hệ thống ấy công minh và hiệu quả, không ai ở ngoài lưới pháp luật cả” [59, tr.175].

Hồng Vĩ trong "Các biện pháp chống tham nhũng ở Trung Quốc" [197] đã nghiên cứu và trình bày rất sâu sắc về nạn tham nhũng, về cuộc đấu

tranh chống tham nhũng ở Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và vai trò lĩnh ấn tiên phong của Uỷ ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương trong cuộc đấu tranh khắc nghiệt này

Sau khi phân tích những khó khăn trong việc chống tham nhũng, tác giả cho rằng, các cơ quan chức năng phải không ngừng tăng cường công tác điều tra xử lý các vụ án lớn, nghiêm trọng để trừng phạt nghiêm khắc và gây sức ép mạnh mẽ, quyết không cho phép những phần tử tham nhũng ẩn náu trong Đảng Theo tác giả, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Uỷ ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương ưu tiên, đặt trọng tâm là phải điều tra tỷ mỉ và xử lý nghiêm các vụ án cán bộ lãnh đạo lợi dụng chức quyền mưu lợi cá nhân, coi thường chức trách, cương vị công tác, gây thất thoát nghiêm trọng tài sản nhà nước; điều tra thận trọng và xử lý các vụ án cán bộ cấp cơ sở nông thôn vi phạm kỷ cương, luật pháp Để làm được việc này, bên cạnh việc thực hiện một số biện pháp, phải tăng cường sự phối hợp giữa các ngành kiểm tra kỷ luật, tòa

án, kiểm sát, giám sát, thẩm duyệt trong quá trình điều tra, xử lý các vụ án

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 11-2012), Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng

Cộng sản Trung Quốc đã trình bày Báo cáo về tình hình công tác 5 năm

(2007-2012) và kiến nghị công tác thời gian tới [188], báo cáo đã được Đại

hội thẩm tra và thông qua Trong Báo cáo có một số nội dung về công tác điều tra trong Đảng như:

Kiên quyết điều tra xử lý những vụ án vi phạm pháp luật, bảo vệ tính nghiêm túc của kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước Đặt việc điều tra xử lý

Trang 11

các vụ án lên vị trí quan trọng, điều tra xử lý trọng điểm những vụ án lạm dụng chức quyền, tham ô hối lộ, tha hóa biến chất, không làm tròn chức trách của cơ quan lãnh đạo và cán bộ lãnh đạo, những vụ án mà những người liên quan tuy cấp bậc không cao nhưng số tiền lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng, và những vụ án tham nhũng nảy sinh bên cạnh quần chúng… Tăng cường công tác thẩm tra, xét xử khiếu nại, điều tra lại và quản lý giám sát vụ án, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cán bộ, đảng viên Cơ chế tổ chức phối hợp điều tra

vụ án ngày càng kiện toàn hơn Các chức năng trị tận gốc, trong đó có điều tra

xử lý vụ án ngày càng được phát huy

Báo cáo cũng nhận định: Hành vi tham nhũng ngày càng phức tạp, kín đáo, độ khó của việc phát hiện và điều tra ngày càng tăng …

Báo cáo đã nêu lên bảy kinh nghiệm cơ bản trong công tác xây dựng tác phong Đảng liêm chính và chống tham nhũng, trong đó có kinh nghiệm (thứ năm): Kiên quyết điều tra xử lý những vụ án vi phạm kỷ luật, pháp luật, đặc biệt là phải làm tốt việc điều tra xử lý các vụ án lớn, quan trọng…

Qua Báo cáo, Uỷ ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương đã đề xuất 8 kiến

nghị với với Đại hội XVIII, trong đó: Kiến nghị thứ nhất: Ủy ban kiểm tra kỷ

luật các cấp phải nghiêm khắc điều tra xử lý hành vi vi phạm kỷ luật chính trị,

kiên quyết bảo vệ sự tập trung thống nhất của Đảng; kiến nghị thứ tư tập trung

nhấn mạnh: Đẩy mạnh công tác điều tra, xử lý những vụ án vi phạm kỷ luật,

pháp luật, bảo đảm xu thế trừng trị tham nhũng mạnh mẽ; kiến nghị thứ năm

nêu: Tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện, nghiêm túc điều tra

hành vi vi phạm và nâng cao năng lực thực hiện chế độ liêm khiết; kiến nghị

thứ sáu: Phát huy hơn nữa vai trò giám sát của chế độ tuần thị, tăng cường

năng lực phát hiện vấn đề Kiên trì làm tốt việc thẩm tra trách nhiệm kinh tế của cán bộ lãnh đạo chủ chốt và nhân viên lãnh đạo công ty nhà nước, tăng

cường thẩm tra đối với vốn chuyên đề trọng điểm và công trình đầu tư lớn; kiến

nghị thứ tám nhấn mạnh về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra cả về

Trang 12

bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, trong đó: Cán bộ kiểm tra, giám sát cần phải nắm vững mấu chốt là xây dựng, tăng cường năng lực điều tra, phương pháp và trình độ thực hiện chức trách một cách khoa học…

Tác giả Phuthắc Phítthanuson trong “Công tác kiểm tra của Đảng

Nhân dân Cách mạng Lào trong giai đoạn hiện nay” [137], tại chương 2, khi

đánh giá ưu điểm trong công tác kiểm tra của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, tác giả viết: …Khi kiểm tra và xử lý kỷ luật đã làm tốt công tác thẩm tra, xác minh… Tuy nhiên, ở phần đánh giá nhược điểm, tác giả cũng thẳng thắn thừa nhận: …Uỷ ban kiểm tra chưa đủ mạnh, chưa có phương pháp, phương thức tiếp cận Cho nên, trong thời gian qua, chỉ khi có vi phạm nghiêm trọng đến mức phạm pháp thì mới tiến hành kiểm tra, thẩm tra, xác minh và phải tổ chức thành đoàn kiểm tra theo chỉ thị, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mới tiến hành kiểm tra được, nhất là cán bộ là ủy viên ban chấp hành

tỉnh ủy, huyện ủy…

Trong chương 3, ở giải pháp thứ hai (Kiện toàn bộ máy ủy ban kiểm tra

và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kiểm tra), tác giả nêu: Người cán bộ kiểm tra là người có khả năng triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ lập kế hoạch, thẩm tra, xác minh, viết báo cáo, văn bản, theo dõi thực hiện quyết định và lập

hồ sơ lưu trữ;… Ở giải pháp thứ tư, tác giả đề xuất: phải phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng nhân dân, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở, tạo điều kiện để quần chúng tham gia ý kiến, phản ảnh về đối tượng kiểm tra; tuy nhiên, những ý kiến đó phải được chọn lọc, kiểm tra, xác minh

Tác giả Chănsyseng Sômphu trong “Chất lượng công tác kiểm tra của

ủy ban kiểm tra Đảng và Nhà nước cấp tỉnh ở các tỉnh phía Bắc nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay” [143], tác giả luận án

đã đề xuất giải pháp “Nắm vững và thực hiện tốt phương pháp, nguyên tắc, hình thức kiểm tra, thực hiện dân chủ hóa, công khai hóa công tác kiểm tra”, trong đó phải làm tốt công tác thẩm tra, xác minh Yêu cầu đặt ra khi đánh

Trang 13

giá, kết luận những ưu điểm và khuyết điểm của cán bộ, đảng viên hoặc tổ chức đảng được kiểm tra phải đúng với bản chất của sự việc, sự kiện, do đó trong quá trình kiểm tra nhất thiết phải có khâu thẩm tra, xác minh Tác giả cũng đặt ra yêu cầu là cần xác định đúng về đối tượng thẩm tra, xác minh và phân biệt giữa đối tượng kiểm tra với đối tượng thẩm tra, xác minh; chọn đúng nội dung, đồng thời phải có phương pháp thẩm tra, xác minh hết sức khoa học, tinh vi mới đảm bảo hiệu quả, đáp ứng yêu cầu công tác kiểm tra Đảng và Nhà nước giai đoạn mới hiện nay

1.1.2 Các công trình có tác giả là người Việt Nam nghiên cứu về kinh nghiệm của nước ngoài

Sách "Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của một số nước trên thế

giới" của Ban Nội chính Trung ương [33], đã nêu và phân tích kinh nghiệm

của một số nước trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, trong đó có những kinh nghiệm về biện pháp kiểm tra, điều tra của Đảng cầm quyền, như:

Lào thực hiện nhất thể các chức danh lãnh đạo Đảng và Nhà nước; kiểm tra Đảng và thanh tra Chính phủ sáp nhập thành Ban Kiểm tra Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Do đó, việc phối, kết hợp giữa kiểm tra đảng và thanh tra nhà nước phát huy và khai thác được khả năng cán bộ, hỗ trợ, bổ sung cho nhau về kết quả thẩm tra, xác minh trong quá trình thực hiện các cuộc kiểm tra và thanh tra để kịp thời và đồng bộ trong xử lý

Các đảng cầm quyền ở Australia luôn đề cao cơ chế bảo đảm sự liêm chính trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan công quyền; áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt, các phiên điều trần theo quy định của luật pháp Bên cạnh đó, coi trọng công luận và dư luận quần chúng trong việc giám sát hành

vi của công chức, khuyến khích và phát huy vai trò báo chí có tính độc lập tương đối trong điều tra, phòng, chống tham nhũng và công chức có sai phạm

Đảng Hành động Nhân dân Singapore (là Đảng duy nhất nắm quyền ở Singapore suốt từ thời lập quốc đến nay) xác định xem xét cả các đơn thư tố

Trang 14

giác không ghi tên người gửi, thậm chí xem xét cả các cuộc điện thoại gọi tới Khi xem xét, phải quyết định có tiến hành điều tra hay không, nếu có thì phải điều tra ngay (không được để quá 4 ngày) Vì họ cho rằng, thư nặc danh là một nguồn thông tin, còn kết luận công chức có sai phạm, có tham nhũng hay không thuộc nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền

Bên cạnh đó, nhiều nước cho phép cơ quan chức năng được sử dụng một số biện pháp đặc biệt như nghe điện thoại bí mật, xây dựng cơ sở bí mật để phát hiện công chức sai phạm, tham nhũng

Trong "Báo cáo khảo sát, nghiên cứu về công tác kiểm tra, kỷ luật của

Đảng và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại Trung Quốc" của

các đoàn công tác của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Ban Đối ngoại Trung ương, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng -

Ban Nội chính Trung ương, Thanh tra Chính phủ (giai đoạn 2008-2014) [182]

đã tổng hợp rất sâu sắc nhiều nội dung như:

Uỷ ban kiểm tra kỷ luật Đảng Cộng sản Trung Quốc có các quyền hạn: Quyền giám sát, quyền kiểm tra, quyền điều tra, quyền kiến nghị và quyền xử

lý kỷ luật Nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra, kỷ luật trong công tác kiểm tra vụ việc

có nội dung: điều tra rõ sự việc; thu thập chứng cứ xác đáng, đầy đủ; người vi phạm bị kỷ luật và trừng trị thích đáng; người không vi phạm không bị truy cứu Yêu cầu đặt ra là sự thật rõ ràng; chứng cứ xác đáng, chuẩn xác (rất quan trọng);

xử lý đúng mức; thủ tục hoàn chỉnh và trình tự phải hợp pháp

Uỷ ban kiểm tra kỷ luật Đảng Cộng sản Trung Quốc rất chú trọng

những kỹ năng cơ bản của công tác kiểm tra, cụ thể là 4 kỹ năng: Kỹ năng kết hợp giữa tiến hành thẩm tra, xác minh trực tiếp, công khai với gián tiếp, bí mật; Kỹ năng kết hợp công tác tư tưởng để phát huy tính tự giác của đối tượng kiểm tra với thẩm tra, xác minh, tìm bằng chứng; Kỹ năng nắm tình hình tại chỗ (qua việc thành lập các tổ thị sát) và Kỹ năng xem xét nguồn gốc phát sinh sai phạm ("trị tận gốc, trị lý tổng hợp, coi trọng phòng ngừa")

Trang 15

Trình tự và phương pháp khi xử lý một vụ án của uỷ ban kiểm tra kỷ

luật Đảng Cộng sản Trung Quốc được tiến hành theo các bước như sau:

Thứ nhất, thụ lý vụ án

Sau khi xem xét sơ bộ tài liệu và tiến hành xử lý, nếu tài liệu cán bộ bị

xử lý thuộc thẩm quyền của ủy ban kiểm tra kỷ luật thì xác định có thể điều tra xử lý trực tiếp, làm rõ vấn đề có lập án không; những tài liệu ủy ban kiểm tra kỷ luật đang làm rõ bước đầu, lập án phải chuyển các đội điều tra chuyên môn Tài liệu phát hiện chưa rõ dấu hiệu vi phạm chuyển ủy ban kiểm tra kỷ luật cấp dưới làm rõ hơn; tài liệu không cụ thể, không có khả năng điều tra thì lưu trữ lại

Thứ hai, xác minh, làm rõ bước đầu

Về trình tự trong xác minh: Ủy ban kiểm tra kỷ luật, cơ quan thanh tra quyết định lập tổ làm rõ bước đầu, làm rõ bước đầu tài liệu tố cáo, đơn khiếu nại trước khi lập án (vấn đề trong đơn thư có thật hay không, có cần

xử lý kỷ luật đối với đối tượng được phản ánh trong đơn thư không; cung cấp được chứng cứ cho việc lập án hay không) Giai đoạn này phải điều tra lấy chứng cứ cho chặt chẽ, phải giữ gìn bí mật với bên ngoài và trong nội

bộ Nếu đủ chứng cứ thì lập án, nếu chưa đủ thì chưa lập án Trong tài liệu phản ánh cán bộ có nhiều vấn đề, tiến hành làm rõ vấn đề chính, nếu thu thập một chứng cứ khi trao đổi trực tiếp với đối tượng, họ không khai thì tìm giải pháp khác; những vấn đề chính tìm ra càng nhiều chứng cứ càng tốt Quá trình làm rõ bước đầu, chú ý nhân vật đặc biệt, việc đặc biệt, thời điểm đặc biệt Kiên trì nguyên tắc thực sự cầu thị, khẳng định rõ có hoặc không Vì đối tượng điều tra là cán bộ đảm nhiệm chức vụ nhất định, để tránh hiệu ứng tiêu cực không cần thiết, chú trọng xử lý khéo léo Có giải pháp điều tra hợp lý, điều tra cấp trên tiến hành từ cấp dưới, bên trong từ bên ngoài, điều tra đối tượng A từ đối tượng B, qua đó nắm bắt được nhiều chứng cứ

Trang 16

Về xử lý kết quả xác minh: Khi kết thúc làm rõ bước đầu, đánh giá kết quả làm rõ, đưa ra kiến nghị xử lý Nếu phát hiện có hành vi vi phạm, phải truy cứu thì lập án để điều tra sâu hơn

Thứ ba, lập án để điều tra

Chỉ ủy ban kiểm tra, kỷ luật theo thẩm quyền quy định của Điều lệ Đảng phát hiện tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm phải truy cứu thì quyết định lập án để điều tra

Thứ tư, điều tra sau khi lập án

Thông qua điều tra làm rõ vấn đề trái kỷ luật đối với những vấn đề đã được lập án Hiệu quả của vụ án phụ thuộc vào giai đoạn điều tra Thời hạn điều tra là 3 tháng, nếu vụ án phức tạp có thể kéo dài thêm 1 tháng, gia hạn thêm không quá 3 tháng (không vượt thời hạn điều tra trong 6 tháng)

Trình tự điều tra theo 3 bước sau:

Một là, bước chuẩn bị:

Thành lập tổ điều tra vụ án: trong khi lập tổ điều tra vụ án phải bổ sung thêm cán bộ tham gia để điều tra các mặt vi phạm của cán bộ Trong tổ điều tra án chuyên môn có 3 tiểu tổ: tiểu tổ trao đổi trực tiếp với đối tượng chính; tiểu tổ điều tra những vấn đề phản ánh và tiểu tổ tổng hợp Tiến hành nghiên cứu về những tình tiết, thiết kế, xây dựng, xem xét phương án điều tra, trong

đó chú ý quyết định bước đi, công tác trọng điểm Khi phương án điều tra được phê duyệt thì chuyển sang bước thực thi

Hai là, bước thực thi:

Công bố quyết định lập án: Sau khi có quyết định lập án phải công bố quyết định này trước đối tượng bị kiểm tra Tổ điều tra phải tỏ rõ thái độ lập

án, nêu yêu cầu đối với đối tượng kiểm tra về: tích cực phối hợp làm rõ vấn

đề của mình; đối xử đúng đắn, không có hành vi câu kết với người khác, không có thái độ phản ứng, thiếu hợp tác hoặc tiêu hủy chứng cứ; không trả thù người tố cáo (tổ điều tra phải coi trọng việc bảo vệ người tố cáo trong quá trình điều tra, không để lộ cho người bị điều tra biết)

Trang 17

Thu thập, điều tra chứng cứ một cách toàn diện: thu thập nhân chứng, vật chứng, tài liệu tố cáo; xem xét, phân tích hiện trường thông qua kỹ thuật hiện đại Yêu cầu đối với việc điều tra phải toàn diện, khách quan, phải thực

sự cầu thị, không được chủ quan; không chỉ thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ hành vi trái kỷ luật, pháp luật của đối tượng bị điều tra, mà phải thu thập, tổng hợp cả tài liệu chứng minh hành vi không trái kỷ luật, pháp luật của đối tượng

bị điều tra Việc điều tra lấy chứng cứ, lực lượng chủ chốt là cán bộ trong tổ điều tra chuyên môn, đồng thời chú trọng huy động nhân dân tham gia vào việc điều tra Khi xảy ra vụ việc sẽ để lại chứng cứ, sẽ có người biết việc, nên yêu cầu công tác điều tra phải đi sâu hơn, kỹ lưỡng hơn Vì vậy, trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ, cần yêu cầu cơ quan hữu quan giúp đỡ, phối hợp (cơ quan thuế vụ điều tra nộp thuế của đối tượng; trung tâm chống rửa tiền điều tra tiền vốn của đối tượng…) Thông qua sự cố gắng chung, phối hợp cơ quan hữu quan làm rõ sự thật, chứng cứ của vụ án

Ba là, bước cuối cùng (bước kết thúc):

Phân tích vụ án, tìm ra sự thật hành vi sai trái, cho người bị điều tra xem xét lại nội dung hành vi vi phạm; đưa ra ý kiến thẩm định và đề xuất việc xem xét, xử lý Hoàn chỉnh báo cáo xử lý, đồng thời hoàn chỉnh giai đoạn điều tra, chuyển cơ quan hữu quan Giai đoạn điều tra xử lý vụ án có nhiều cơ quan hữu quan, như: cơ quan tiếp dân tiếp nhận khiếu nại, tố cáo của quần chúng; cơ quan phụ trách vụ án; đơn vị làm rõ sơ bộ, lập án điều tra Khi kết thúc điều tra lập án, chuyển hồ sơ, tài liệu điều tra sang văn phòng xét xử vụ án; văn phòng xét xử vụ án căn cứ tình tiết vi phạm, đưa ra kiến nghị xử lý

Các biện pháp điều tra được sử dụng, bao gồm:

Một là, các biện pháp điều tra chung: Song quy (yêu cầu đảng viên

trong vụ án trình bày rõ vấn đề trong thời gian quy định, địa điểm quy định; đồng thời, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan, cá nhân cung cấp chứng cứ đúng sự thật, tài liệu liên quan đến vụ án, không được từ chối, quấy nhiễu vụ

Trang 18

án); ghi âm, chụp ảnh, quay phim về những nhân viên, vụ việc liên quan đến

vụ án khi cần thiết (hình thức này làm chặt chẽ chứng cứ thu thập được và giám sát chặt chẽ cán bộ xử lý vụ án); thẩm tra tài liệu và sao tài liệu liên quan (khi cần thiết có thể tiến hành niêm phong tài liệu); điều tra tài khoản đơn vị và nhân viên liên quan (có thể mời tòa án phong tỏa tài khoản của cán

bộ bị điều tra tại ngân hàng); mời cơ quan hữu quan thực hiện việc giám định

kỹ thuật những vấn đề về chuyên môn nghiệp vụ

Hai là, biện pháp điều tra đột phá vụ án quan trọng, vụ án lớn:

Công tác chính trong xử lý vụ án phải tập trung đối thoại với đối tượng

bị điều tra, tranh thủ đột phá vào trung tâm Thực tiễn phải dựa vào "4 dùng": dùng sức đe dọa của kỷ luật đảng; dùng thuyết minh chính sách; dùng quan điểm tính nhân văn; dùng chính trị của mình Phải nắm bắt trạng thái tâm lý, hiểu mong muốn, nỗi sợ, suy nghĩ của đối tượng điều tra Trường hợp đối tượng bị điều tra cố tình không khai báo, tổ điều tra phải tự tiến hành việc thu thập chứng cứ và đề phòng họ có nhiều hình thức biện bạch về vi phạm của mình Đối tượng - kể cả là cán bộ lãnh đạo - càng cố giấu hành vi vi phạm của mình, mặc dù họ chưa khai báo, qua chứng cứ chặt chẽ thu được vẫn làm rõ được sự thật Yêu cầu quá trình xử lý vụ án phải trọng chứng cứ, không chỉ dựa vào lời khai, đây là hai mặt của vụ án Xử lý quá trình trung tâm rút ngắn thời gian xử lý vụ án và giảm chi phí là rất quan trọng

Đột phá không lời khai cung phải đầu tư nhiều sức người, tiền của, tốn kém thời gian Nếu để thời gian kéo dài gây hiệu ứng tiêu cực cho quá trình

xử lý vụ án Vì vậy, khi cần thiết phải dựa vào trinh sát điều tra thu thập chứng cứ để đột phá nhanh vào trung tâm

Khi kết thúc điều tra, cho đối tượng bị điều tra xem tài liệu thu thập được và cho các đối tượng này gặp nhau để họ thực sự tâm phục, khẩu phục Nếu các đối tượng điều tra có ý kiến bất đồng đúng đắn thì chấp nhận, không đúng đắn thì giải thích lại, đồng thời tiếp tục nghiên cứu, xác định tính chất

Trang 19

trái kỷ luật của họ, đưa ra kiến nghị kết quả xử lý thích hợp Sau đó, hoàn thành báo cáo, chuyển cơ quan có chức năng xử lý

Như vậy, có thể thấy trong trình tự và phương pháp kiểm tra xử lý vụ

án (vụ việc), ủy ban kiểm tra kỷ luật Đảng Cộng sản Trung Quốc rất quan tâm

và tôn trọng các bước thẩm tra, xác minh từ khâu ban đầu đến khi kết thúc vụ việc Trong thông tin ban đầu là cơ sở để lập hồ sơ điều tra vụ án, vì vậy đây được coi là khâu quan trọng có tính quyết định tới các bước tiếp theo Trong khi điều tra vụ án phải tuân theo nguyên tắc và trình tự điều tra vụ án (trình

tự, thủ tục thẩm tra, xác minh) để làm rõ vụ việc

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC 1.2.1 Các đề tài khoa học

Tác giả Nguyễn Anh Liên trong “Cơ sở lý luận, thực tiễn đổi mới và

nâng cao hiệu quả thẩm tra - xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng”

[115], đây là đề tài khoa học đầu tiên về thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng Đề tài được thực hiện với mục tiêu tập trung đề xuất, kiến nghị những giải pháp đổi mới về phương pháp, nghiệp vụ và quy trình tiến hành thẩm tra xác minh, nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ nhiệm vụ kiểm tra Đảng Các tác giả của đề tài đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động thẩm tra, xác minh và cũng là đóng góp mới về khoa học và thực tiễn, như: đã luận giải có sức thuyết phục tư tưởng Hồ Chí Minh

về tự phê bình và phê bình là cơ sở phương pháp luận của hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng; do vậy, hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng phải lấy tự phê bình và phê bình trong

tổ chức đảng làm biện pháp chính yếu; đã đi sâu nghiên cứu những khái niệm như "thẩm tra - xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng"; những vấn đề về quan niệm như: "trọng chứng", "trọng cung", "án tại hồ sơ"… trong công tác kiểm tra của Đảng; làm nổi bật được hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng nhất thiết và chủ yếu phải dựa vào hệ thống tổ chức

Trang 20

đảng; người được kiểm tra cũng đồng thời là người kiểm tra; đã đề xuất được

ba giải pháp hợp lý, có tính khả thi nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả, chất lượng thẩm tra, xác minh

Tuy nhiên, vì một số lý do, đề tài có thể cần phân tích sâu hơn mối quan hệ giữa hoạt động thẩm tra, xác minh và các hoạt động khác, trong đó chú trọng hoạt động phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên, của phương pháp cơ bản trong công tác kiểm tra của Đảng, có những kiến nghị cụ thể hơn việc áp dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động thực tiễn của

ủy ban kiểm tra các cấp, góp phần theo dõi, giúp đỡ ủy ban kiểm tra các cấp vận dụng quy trình trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài…

Mặc dù vậy, tuy có dung lượng không lớn (khoảng 60 trang đánh máy) nhưng đây là lần đầu tiên, một đề tài đã nêu lên những vấn đề rất mới mẻ, khái quát một cách có hệ thống, luận chứng khá sâu sắc, cụ thể về thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng Những nội dung, kiến thức, những luận cứ khoa học, những vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài là nguồn

tham khảo hết sức quý báu, hữu ích và sát thực cho luận án

Tác giả Phạm Thị Ngạn trong “Hệ thống kỹ năng nghiệp vụ trong công

tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng” [121], đã phân tích cụ thể hệ thống kỹ

năng nghiệp vụ kiểm tra, bao gồm: các kỹ năng chung của công tác kiểm tra,

kỷ luật đảng và các kỹ năng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra theo quy định tại Điều 32 Điều lệ Đảng Trong các kỹ năng chung có: Kỹ năng giao tiếp; kỹ năng vận động, thuyết phục và cảm hóa con người; kỹ năng phối hợp nhóm;

kỹ năng thu thập và xử lý thông tin; kỹ năng thẩm tra, xác minh

Tác giả Tô Quang Thu trong “Thực trạng và giải pháp nâng cao kỹ

năng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm tra trong giai đoạn mới” [157], đã đề xuất

các nhóm giải pháp nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm tra, trong đó

có kỹ năng thẩm tra, xác minh, qua việc đào tạo, bồi dưỡng và tự đào tạo, bồi dưỡng (về nghiệp vụ) và việc rèn luyện trong thực tiễn (trong quá trình giải

Trang 21

quyết vụ việc của các đoàn kiểm tra; rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp làm việc khoa học; tổng kết kinh nghiệm,…)

1.2.2 Sách

Tác giả Nguyễn Thị Doan trong “Đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật

nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới”

[60], trong chương 3, phần "Quan điểm và định hướng đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật đảng", các tác giả cuốn sách khẳng định: Khi kiểm tra phải làm tốt thẩm tra, xác minh, chưa thẩm tra, xác minh để có chứng cứ cụ thể, rõ ràng bảo đảm tính pháp lý, hợp lý thì chưa kết luận Về yêu cầu đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật trong Đảng, cụ thể là đổi mới phương thức hoạt động kiểm tra trong Đảng, các tác giả đã nhấn mạnh tính đặc trưng của phương pháp kiểm tra, nhất là phương pháp nghiệp vụ tiến hành thẩm tra, xác minh - một khâu trọng yếu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động kiểm tra và bảo đảm phương châm "công minh, chính xác, kịp thời" trong việc thi hành kỷ luật Theo các tác giả, hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng rất quan trọng bởi trong giai đoạn cách mạng mới, dưới tác động của các mặt tiêu cực, tính tự giác và tự phê bình của một số cán bộ, đảng viên giảm sút, trong khi cơ chế, chính sách chưa đầy đủ, thậm chí không có, không đồng bộ nên thiếu chuẩn mực để xem xét, kết luận

Ở chương 4, vấn đề lý luận thứ năm được các tác giả rút ra qua hoạt

động thực tiễn là: Nắm vững và thực hiện tốt phương pháp cơ bản có tính

nguyên tắc của công tác kiểm tra, trong đó có việc làm tốt công tác thẩm tra, xác minh Các tác giả cho rằng: Trong các phương pháp cơ bản, thẩm tra, xác minh là phương pháp đặc biệt quan trọng, nhất là trong điều kiện hiện nay… Chưa thẩm tra, xác minh thì chưa thể kết luận Trường hợp tự phê bình và phê bình càng yếu, tự giác càng kém thì đòi hỏi thẩm tra, xác minh càng phải công phu, tỷ mỉ, thận trọng, chính xác Mặt khác, thẩm tra, xác minh cũng là một biện pháp nhằm hỗ trợ nâng cao tính tự giác của tổ chức đảng và đảng viên…

Trang 22

Tác giả Bùi Văn Thể trong “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao

chất lượng tự phê bình và phê bình trong công tác kiểm tra, kỷ luật đảng”

[147], trong chương 1, các tác giả cuốn sách nhận định: Để thực hiện tốt việc phê bình, chủ thể kiểm tra phải nắm vững: mục đích, yêu cầu cuộc kiểm tra; nội dung cần kiểm tra, thẩm tra, xác minh; chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị… có liên quan đến các vấn đề cần thẩm tra, xác minh để làm cơ sở cho việc thẩm tra, xác minh

Ở chương 2, khi đề cập về vai trò của thẩm tra, xác minh đối với việc thực hiện tự phê bình và phê bình trong công tác kiểm tra, kỷ luật đảng, các tác giả cho rằng: Nhiều chứng cứ thu thập được qua thẩm tra, xác minh đã có sức thuyết phục trong đấu tranh phê bình với những đảng viên vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước

Ở chương 3, trong giải pháp thứ năm, các tác giả nhấn mạnh: Trường hợp đối tượng kiểm tra tính chiến đấu kém, không thành khẩn, thiếu tự giác tự phê bình, cố tình không nhận thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm, trong khi chứng lý của chủ thể kiểm tra đưa ra chưa chắc chắn, chưa đủ sức thuyết phục, thì phải kết hợp chặt chẽ với công tác thẩm tra, xác minh để thu thập, tài liệu, chứng lý có cơ sở vững chắc để kết luận vụ việc, đồng thời, phải chú ý phát huy trách nhiệm phê bình, góp ý của tổ chức đảng và đảng viên có liên quan đến đối tượng kiểm tra để làm rõ trách nhiệm, thiếu sót, vi phạm của đối tượng kiểm tra

Tác giả Lê Hồng Liêm trong “Một số giải pháp cơ bản tháo gỡ khó

khăn, trở ngại khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của ủy ban kiểm tra các cấp” [112], ở chương

II, khi đề cập đến khó khăn, trở ngại trong thực hiện phương pháp, quy trình kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, các tác giả cuốn sách đã đánh giá: …Việc phối hợp trao đổi thông tin, đánh giá nhận định dấu hiệu vi phạm có trường hợp "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược", có trường hợp không cung cấp thông

Trang 23

tin cho là "bảo mật", gây trở ngại cho công tác thẩm tra, xác minh do chạy theo thành tích, bảo vệ lẫn nhau, ngại va chạm, có trường hợp thiếu trách nhiệm đến mức né tránh, vòng vo, không hợp tác theo yêu cầu của uỷ ban kiểm tra… Khi đề cập đến nguyên nhân những khó khăn, trở ngại của uỷ ban kiểm tra các cấp khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, ban chủ nhiệm đề tài đã cho rằng: Việc kiểm tra phải đúng nguyên tắc, phương pháp công tác đảng, không được sử dụng các phương pháp thẩm tra, xác minh của các cơ quan tư pháp, thanh tra nhà nước, Một trong những bài học kinh nghiệm qua tháo gỡ khó khăn, trở ngại của uỷ ban kiểm tra các cấp khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm - theo các tác giả - là: Uỷ ban kiểm tra các cấp vừa phải chủ động làm tốt công tác tư tưởng đối với đối tượng kiểm tra, vừa nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình, đồng thời coi trọng nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, xác minh

Ở chương III, khi phân tích các giải pháp, các tác giả đã đề cập đến việc: Đổi mới và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra (kể cả kỹ năng nghiệp vụ) cho tổ chức đảng, cán bộ kiểm tra các cấp, trong đó có kỹ năng thu thập thông tin, nhận biết, phân tích dấu hiệu vi phạm; kỹ năng thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ; kỹ năng thiết lập các báo cáo thẩm tra, xác minh;…

Tác giả Lê Hồng Liêm với “Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với

phòng, chống tham nhũng trong tình hình hiện nay - Thực trạng và giải pháp” [113], trong chương 2, phần về bài học kinh nghiệm, các tác giả đã

khẳng định: Việc tổ chức thu thập thông tin phải nhiều phía, kiểm tra xử lý chọn lọc thông tin để phục vụ kiểm tra, giám sát chống tham nhũng có hiệu quả, việc lưu trữ thông tin rất cần quy củ, khoa học để khai thác khi cần thiết Thực tế cho thấy, cần chú trọng chọn lọc các thông tin về quan hệ nhiều mặt của cán bộ, đảng viên và thân nhân, khi có dấu hiệu bất minh cần có biện pháp thẩm tra, xác minh thích hợp, chặt chẽ, kịp thời

Trang 24

Tác giả Lê Văn Giảng trong “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao

chất lượng thực hiện dân chủ trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng” [94], đã đánh giá việc thực hiện dân chủ qua các phương

pháp, quy trình kiểm tra, kỷ luật đảng, các tác giả cuốn sách đã nhận định: Một nội dung cơ bản trong phương pháp kiểm tra của Đảng là thực hiện dân chủ trong công tác thẩm tra, xác minh Qua công tác kiểm tra, nhiều đoàn kiểm tra đã thực hiện tốt dân chủ trong thẩm tra, xác minh Việc chủ động thu thập bằng chứng, chứng cứ được thực hiện bằng nhiều cách như nghiên cứu

hồ sơ, tài liệu có liên quan; tiếp xúc đối với tổ chức đảng và cá nhân để yêu cầu, động viên họ cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung kiểm tra để có cơ sở loại bỏ những thông tin sai sự thật, những chứng cứ giả hoặc không đủ cơ sở để kết luận, gây oan ức cho đối tượng kiểm tra… Trường hợp giữa cấp uỷ, tổ chức đảng và đoàn kiểm tra có vấn đề chưa thống nhất thì đoàn kiểm tra yêu cầu cung cấp thêm bằng chứng để cùng trao đổi, thảo luận hoặc tiếp tục thẩm tra, xác minh làm rõ

Tác giả Cao Văn Thống trong “Những vấn đề cơ bản về công tác kiểm

tra, giám sát và kỷ luật của Đảng” [154], tác giả đã dành riêng một chương

(chương 8) để bàn về thẩm tra, xác minh - nghiệp vụ quan trọng, cơ bản của công tác kiểm tra Trong Chương này, tác giả đã nêu lên một số khái niệm (thẩm tra; xác minh; thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng…); phân tích đặc điểm, vị trí, ý nghĩa, tác dụng của thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng; nội dung, đối tượng và phương pháp thẩm tra, xác minh Ở cuối chương, tác giả cũng nêu lên những vấn đề cần lưu ý và nắm vững khi tiến hành thẩm tra, xác minh

Các tác giả đã khẳng định: Công tác kiểm tra của ủy ban kiểm tra là công tác đảng, có đặc thù riêng là tiến hành kiểm tra, kết luận, xử lý hoặc giúp cấp ủy xử lý kỷ luật những trường hợp có vi phạm đến mức phải xử lý Đặc thù này không những khác với các ban của cấp ủy mà còn khác với các cơ

Trang 25

quan bảo vệ pháp luật của Nhà nước (điều tra, truy tố, xét xử đều do từng cơ quan độc lập tiến hành) Vì vậy, bên cạnh việc coi trọng và làm tốt các phương pháp cơ bản của công tác đảng, cần đặc biệt coi trọng và làm tốt công tác thẩm tra, xác minh để phục vụ cho việc kiểm tra, kết luận, xử lý được công minh, chính xác, kịp thời

Nguyễn Công Học trong “Một số giải pháp đảm bảo việc chấp hành kỷ

luật và việc thi hành kỷ luật đảng trong tình hình hiện nay” [98], tại chương

1, các tác giả cuốn sách đã nêu một số quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Đảng Cộng sản Việt Nam khi xem xét, thi hành kỷ luật Đảng là: phải điều tra, nghiên cứu kỹ càng, thận trọng, đi sâu tìm hiểu bản chất và căn cứ vào những bằng chứng xác thực

Ở chương 3, trong Nhóm giải pháp bảo đảm việc thi hành kỷ luật trong Đảng, tại giải pháp thứ 3, các tác giả đề xuất: Trong điều kiện tự phê bình và phê bình của đối tượng kiểm tra ngày càng giảm sút, phải đề cao và làm tốt khâu thẩm tra, xác minh; Chú trọng công tác thẩm tra, xác minh để làm rõ đúng, sai, xác định cụ thể chứng lý, với thái độ công tâm, khách quan, thận trọng và chặt chẽ, bảo đảm việc thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng được dân chủ, chính xác, công bằng, nghiêm minh

Các tác giả Cao Văn Thống - Đỗ Xuân Tuất trong “Nâng cao chất

lượng kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm”

[156], đã phân tích cả về lý luận lẫn thực tiễn, đánh giá thực trạng hay đề ra

các giải pháp để nâng cao chất lượng việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, các tác giả đều nhấn mạnh một vấn đề quan trọng là: Chỉ được khẳng định tổ chức đảng hoặc đảng viên có vi phạm khi được tổ chức đảng có thẩm quyền qua kiểm tra, xem xét, kết luận Do vậy, phải hết sức coi trọng công tác thẩm tra, xác minh, chưa thẩm tra, xác minh thì chưa được kết luận

Trang 26

1.2.3 Luận án, luận văn

Tác giả Trương Thị Thông trong “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

kiểm tra chuyên trách của Đảng trong tình hình hiện nay” [148], ở chương 1,

tác giả cho rằng một trong những yêu cầu của tình hình mới là sự phát triển của xã hội đòi hỏi đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách phải thực sự có năng lực, có phẩm chất, có bản lĩnh vững vàng để phân biệt rõ cái đúng - cái sai, cái tiến bộ - cái lạc hậu…

Ở chương 2, khi đánh giá nguyên nhân khách quan của những khó khăn, trở ngại về đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách, tác giả có đề cập đến việc hệ thống luật pháp, nhiều chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước chưa theo kịp sự phát triển của công cuộc đổi mới, chưa đồng bộ, thống nhất, thậm chí mâu thuẫn nhau; chuẩn mực để phân biệt đúng - sai chưa rõ ràng và thiếu nhất quán Cũng trong chương này, tác giả đã chỉ ra bảy bài học kinh nghiệm qua thực tiễn hoạt động của uỷ ban kiểm tra các cấp và của đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách trong những năm qua, trong đó có kinh nghiệm thứ tư: Phải nắm vững và chấp hành đúng phương pháp, quy trình công tác kiểm tra Tác giả phân tích: Trong quá trình kiểm tra, không được lẫn lộn và thay phương pháp kiểm tra của Đảng với phương pháp kiểm tra của các cơ quan Nhà nước, các cơ quan bảo vệ pháp luật Vận dụng phương pháp kiểm tra phải linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với nội dung, đối tượng kiểm tra và tình hình

cụ thể của đơn vị đó, nhưng dù linh hoạt đến đâu công tác kiểm tra cũng phải dựa vào tổ chức đảng, phát huy tinh thần tự giác của đảng viên để làm tốt công tác thẩm tra, xác minh Tính tự giác của tổ chức đảng và đảng viên càng yếu, đòi hỏi công tác thẩm tra, xác minh phải tỷ mỉ và chính xác mới bảo đảm cho những đánh giá, kết luận, xử lý có căn cứ xác đáng, khách quan và khoa học

Luận án thực sự đã đóng góp vào công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách nói riêng, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới

Trang 27

Lê Tiến Hào trong “Công tác kiểm tra của Thành uỷ Hà Nội trong giai

đoạn hiện nay” [95], đã phân tích những quan điểm cơ bản về lý luận và thực

tiễn về công tác kiểm tra của Đảng và công tác kiểm tra của Thành ủy Hà Nội; quan niệm và một số tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra của Thành ủy Hà Nội Luận án đánh giá thực trạng công tác kiểm tra của Thành ủy Hà Nội trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XII, XIII (1996 - 2002), trong đó có việc thực hiện các phương pháp công tác kiểm tra của Đảng; tổng kết một số kinh nghiệm về công tác kiểm tra Trong các giải pháp tác giả đưa ra, đáng chú ý có giải pháp thứ ba, nâng cao chất lượng các cuộc kiểm tra của Thành ủy, chú trọng về các phương pháp kiểm

tra, trong đó trọng tâm là phương pháp thẩm tra, xác minh

Luận án thực sự đã có những đóng góp mới về mặt khoa học, góp phần vào công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra của Đảng nói chung, công tác kiểm tra của Thành ủy Hà Nội nói riêng, nhằm thúc đẩy công tác kiểm tra của Thành ủy Hà Nội trong thời gian sau đạt được những kết quả tốt hơn

Tác giả Nguyễn Thế Tư trong “Nâng cao chất lượng kiểm tra đảng

viên khi có dấu hiệu vi phạm của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ ở các tỉnh duyên hải miền Trung hiện nay” [162], đã phân tích những vấn đề cơ bản về lý luận

và thực tiễn về kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; thực trạng công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của ủy ban kiểm tra huyện ủy

ở các tỉnh duyên hải miền Trung, chỉ ra những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm Từ những cơ sở trên, cùng với việc chỉ rõ mục tiêu, phương hướng

và quan điểm chỉ đạo, tác giả luận án đã đề ra sáu giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của ủy ban kiểm tra huyện ủy ở các tỉnh Duyên hải miền Trung thời gian tới, trong đó có giải pháp thứ tư: chủ động phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm, kiên quyết đấu tranh làm rõ đúng, sai, kết luận chính xác, kịp thời, đã đề cập sâu đến phương pháp thẩm

tra, xác minh

Trang 28

Tác giả Nguyễn Hoàng Minh trong “Công tác kiểm tra, giám sát của

Đảng bộ tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [120], đã khẳng định, trong quá trình tiến hành thẩm tra, xác minh, cán bộ

ủy ban kiểm tra phải biết tranh thủ ý kiến của cả đảng viên và quần chúng ngoài Đảng, biết phát huy vai trò xây dựng Đảng của quần chúng nhân dân để phân tích, tổng hợp, góp phần kết luận các vấn đề kiểm tra thật sự khách quan, chính xác về các hiện tượng vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước

1.2.4 Các bài báo khoa học

Tác giả Lê Khắc Khoa trong “Về ngôn ngữ nói trong thẩm tra, xác

minh” [100], tác giả viết: Lời nói trở thành một cơ sở không thể thiếu và hết

sức quan trọng để dùng làm căn cứ xác thực chứng tỏ sự việc với tính chân thật khách quan, từ đó làm căn cứ kết luận đúng sai Đặc biệt, tác giả còn nêu lên hai ví dụ thực tiễn sinh động: trường hợp thứ nhất, dấu hiệu vi phạm của đối tượng kiểm tra chỉ là những chỉ đạo bằng miệng, “khẩu dụ”, không có bằng chứng, dấu vết bằng chữ viết, nhưng dựa vào cơ sở lập luận, lý lẽ sắc bén, qua đấu tranh, cán bộ kiểm đã khiến đối tượng kiểm tra thừa nhận vi phạm của mình; trường hợp thứ hai, đối tượng kiểm tra không thừa nhận lời nói của mình, nhưng nhờ việc ghi âm công khai hội nghị kiểm điểm đã trở thành chứng

cứ quan trọng để bác bỏ nội dung khiếu nại của đối tượng kiểm tra

Để “lời nói… gió không bay”, theo tác giả: phải áp dụng các phương pháp lưu trữ lời nói bằng cách ghi biên bản, ghi âm, ghi hình

Tác giả Phạm Đình Phi trong “Kinh nghiệm thẩm tra, xác minh trong

giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng” [136], đã khẳng định: Để thực hiện tốt

công tác thẩm tra, xác minh trong giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng, cần thực hiện tốt các phương pháp thu thập chứng cứ; nghiên cứu, phân tích, xử lý tài liệu, thông tin; trưng cầu giám định của các cơ quan chuyên môn nghiệp vụ đối với những vấn đề cần thiết Trên cơ sở đó, tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, đánh giá, kết luận những nội dung vi phạm, quy trình, nguyên tắc,

Trang 29

thủ tục và phương hướng, phương châm thi hành kỷ luật của tổ chức đảng cấp dưới trong quá trình xem xét, xử lý kỷ luật và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng Khi thu thập tài liệu, bằng chứng, cán bộ kiểm tra phải trực tiếp gặp đối tượng, trực tiếp đọc những thông tin, tài liệu, nhìn thấy các vật chứng, nếu cần thì đến tận nơi xảy ra sự việc để thẩm tra, xác minh; không được chỉ nghe qua người khác, dư luận Muốn đánh giá đúng sự thật, phải thu thập được bằng chứng xác thực qua các tài liệu, thông tin nhiều phía, nhiều kênh, nhiều chiều

có liên quan đến sự việc cần làm rõ

Tác giả còn nêu thêm một kinh nghiệm rằng: Việc thu thập đầy đủ tài liệu, thông tin, bằng chứng là rất quan trọng, nhưng việc nghiên cứu, phân tích, xử lý tài liệu, thông tin, bằng chứng ấy một cách khoa học, khách quan, chính xác lại càng quan trọng, vì đó là cơ sở để kết luận và xử lý đúng

Tác giả Đỗ Hùng Cường trong “Một số vấn đề về thẩm tra, xác minh

trong công tác kiểm tra” [56], đã nhận định: Kết quả và chất lượng của thẩm

tra, xác minh có ý nghĩa quyết định việc kết luận và xử lý đối với đối tượng kiểm tra; đồng thời chỉ ra: Một thực tế cho thấy thực trạng tình hình vi phạm, tiêu cực nhất là tệ tham nhũng đã, đang và sẽ vẫn tiếp tục xảy ra nghiêm trọng,

có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất đó

là khâu thẩm tra, xác minh còn một số bất cập; nổi lên là không tìm ra được

chứng cứ vững chắc để kết luận vụ việc và quyết định xử lý kỷ luật

Tác giả kết luận: Phương pháp tư duy khoa học làm cho quá trình thẩm tra, xác minh được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, phương pháp, biện pháp

rõ ràng, khoa học và được thực hiện một cách khách quan, linh hoạt, sáng tạo

để có thể đưa ra các kết luận chính xác

Tác giả Phạm Thành Đồng trong “Chứng cứ trong kiểm tra dấu hiệu vi

phạm khi phải tiến hành trưng cầu giám định” [93], tác giả cho rằng: chứng

cứ là những gì có thật được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật để từ đó các cơ quan tiến hành tố tụng làm căn cứ xác định hành vi vi phạm và tội

Trang 30

phạm Chứng cứ được xác định bằng vật chứng, lời khai của bị can, bị cáo, của những người liên quan, người biết sự việc, kết luận giám định, các biên bản và những tài liệu thu thập trong quá trình thẩm tra, xác minh Mỗi chứng

cứ phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết

Tác giả cũng kiến nghị với Uỷ ban Kiểm tra Trung ương một số vấn đề về việc đề nghị trưng cầu giám định chứng cứ trong quá trình thẩm tra, xác minh

Tác giả Phạm Thị Ngạn trong“Các yếu tố cấu thành trình độ nghiệp vụ

thẩm tra, xác minh của cán bộ kiểm tra” [122], theo tác giả: Hiện nay, các vi

phạm của tổ chức đảng và đảng viên đang có xu hướng gia tăng về số lượng

và đa dạng, phức tạp hơn về nội dung, tính chất với nhiều hình thức tinh vi và cách thức khôn khéo Để phân định rõ đúng sai, kết luận chính xác và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm, đòi hỏi đội ngũ cán bộ kiểm tra phải có nghiệp vụ vững vàng, trong đó khả năng thẩm tra, xác minh, tìm chứng cứ để kết luận kiểm tra có ý nghĩa quyết định Trình độ nghiệp vụ thẩm tra, xác minh của mỗi cán bộ kiểm tra được cấu thành bởi 5 yếu tố chủ yếu: Kiến thức

và vốn sống thực tiễn; mức độ nắm vững và khả năng vận dụng lý luận về thẩm tra, xác minh; khả năng vận dụng phương pháp thẩm tra, xác minh; vốn kinh nghiệm cá nhân về thẩm tra, xác minh; phong cách làm việc của cá nhân Các yếu tố đó có mối liên kết chặt chẽ và tác động lẫn nhau Mỗi yếu tố vừa

là một bộ phận trong tổng thể, vừa có vai trò hỗ trợ cho sự phát triển và phát huy tác dụng của các yếu tố khác; nếu có một yếu tố bị thiếu hoặc yếu thì các yếu tố còn lại sẽ khó phát huy tác dụng

Vũ Đình Lợi trong “Thẩm tra, xác minh - một khâu quan trọng trong

giải quyết tố cáo” [116], tác giả khẳng định: Chỉ khi làm tốt công tác thẩm

tra, xác minh, trên cơ sở bằng chứng xác thực thì việc kết luận giải quyết tố cáo mới chính xác Trong bài báo, tác giả nêu lên kinh nghiệm thực tiễn qua một vụ việc giải quyết tố cáo cụ thể (về việc giả mạo bằng cấp) Qua dẫn

Trang 31

chứng đó, tác giả càng khẳng định thẩm tra, xác minh làm một khâu rất quan trọng trong toàn bộ quá trình thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra của Đảng nói chung, đặc biệt trong việc giải quyết đơn thư tố cáo nói riêng

Tác giả rút ra: Để việc thẩm tra, xác minh trong giải quyết tố cáo đạt kết quả, cán bộ giải quyết tố cáo phải có quyết tâm cao, thể hiện rõ bản lĩnh, chính kiến, nhạy bén trước mọi tình huống xảy ra; có kỹ năng nghiệp vụ thuần thục Đặc biệt, phải có đầu óc phán đoán đề ra phương án, kế hoạch thẩm tra, xác minh tối ưu, phù hợp với nội dung tố cáo cần giải quyết, nhất là đối với những đơn thư có nội dung tố cáo phức tạp, kéo dài, thời gian xảy ra

đã lâu, gây nhiều bức xúc trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, liên quan đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền các cấp

Tác giả Nguyễn Trung Dong trong “Kinh nghiệm về thẩm tra, xác

minh trong giải quyết tố cáo đối với đảng viên là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý” [61], tác giả thẳng thắn nhận định: Thẩm tra, xác minh

trong giải quyết tố cáo đảng viên là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản

lý trên địa bàn Vụ Địa phương III, Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Trung ương gặp rất nhiều khó khăn, vì: đối tượng bị tố cáo, nội dung tố cáo rất đa dạng; một

số vụ tố cáo với tính chất phức tạp, nhiều nội dung, sự việc, có liên quan đến nhiều người, nhiều cấp, nhất là cán bộ quản lý nhà nước, quản lý tài chính, phụ trách công trình, dự án, đất đai,… Một số cán bộ bị tố cáo có thái độ phản ứng, đối phó, bất hợp tác, không nhận khuyết điểm, vi phạm hoặc tuy có nhận nhưng chưa tương xứng với tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân của vi phạm, thậm chí có trường hợp còn “tố cáo ngược” cán bộ giải quyết tố cáo

Tác giả cũng rút ra một số kinh nghiệm về thẩm tra, xác minh trong giải quyết tố cáo đảng viên là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, đồng thời nhấn mạnh: Khâu thẩm tra, xác minh để tìm ra chứng cứ là một khâu có tính quyết định trực tiếp đến nhiệm vụ giải quyết tố cáo Hiệu quả của việc giải quyết tố cáo phụ thuộc rất lớn vào việc tìm ra hay không tìm ra

Trang 32

chứng cứ Mọi kết luận đúng, sai, có vi phạm hay không vi phạm của đối tượng bị tố cáo đều bắt buộc phải dựa trên những chứng cứ xác thực, liên quan Qua đó, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm tra, xác minh trong giải quyết tố cáo đảng viên là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý trong thời gian tới

Tóm lại, các công trình nghiên cứu nêu trên đều là những sản phẩm

khoa học trí tuệ, nghiêm túc, chất lượng, hết sức có giá trị dù ở những mức độ khác nhau Các công trình hoặc nghiên cứu bình diện chung, mang tính tổng

thể, hoặc đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể trong công tác kiểm tra của Đảng

Mỗi công trình đều có đề cập đến hoạt động thẩm tra, xác minh - một phương

pháp, một nghiệp vụ rất quan trọng trong công tác kiểm tra của Đảng Tuy

nhiên, các công trình đều chỉ nghiên cứu về thẩm tra, xác minh ở những khía cạnh, góc độ nhất định, một “bộ phận” cần phân tích, đánh giá trong tổng thể chung về công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng Ngoại trừ Đề tài khoa học cấp

Bộ KHBĐ-0015 “Cơ sở lý luận, thực tiễn đổi mới và nâng cao hiệu quả thẩm tra - xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng”, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, chuyên biệt về thẩm tra, xác minh Mặc dù, nội dung Đề tài KHBĐ-0015 rất có giá trị, cung cấp nhiều luận cứ, luận chứng, luận điểm để tác giả luận án lĩnh hội, tiếp thu, song do thời gian nghiên cứu (từ năm 2000-2001) so với tình hình thực tế hiện tại đã có nhiều thay đổi, ảnh hưởng, tác động đến công tác kiểm tra nói chung, đến hoạt động thẩm tra, xác minh nói riêng nên một số điểm cần nhìn nhận, đánh giá, phân tích, luận giải thêm Mặt khác, do yếu tố đặc thù và một số điều kiện, dung lượng nghiên cứu của đề tài KHBĐ-0015 nêu trên cũng cần được bổ sung, hoàn chỉnh thêm

Ở một bình diện khác, vấn đề về thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng Cộng sản cầm quyền nói riêng, của các đảng chính trị cầm quyền nói chung một phần do hoàn cảnh, điều kiện, yếu tố chính trị, một phần

do điều kiện sưu tầm, tìm tòi, thu thập (cả ở trong nước và ngoài nước) còn

Trang 33

hạn chế, nên cho thấy các công trình nghiên cứu về vấn đề này không nhiều Các tài liệu đề cập đến chủ yếu qua hình thức các giáo trình, bài giảng, tài liệu huấn luyện nghiệp vụ về kiểm tra, điều tra vụ việc, được các đoàn nghiên cứu của các cơ quan hữu quan của Đảng, Nhà nước ta tổng hợp lại; hoặc được giới thiệu một cách sơ lược, khái quát trong một số tài liệu của các cơ quan chức năng của các nước bạn khi tham dự các cuộc hội đàm, hội thảo Một vấn

đề nữa cũng cần đặt ra là, do đặc điểm, hoàn cảnh, yếu tố, thể chế chính trị (ngay cả trong những nước có Đảng Cộng sản lãnh đạo, cầm quyền) khác nhau, nên kinh nghiệm, bài học của mỗi nước cũng có những điểm đặc thù, không thể tiếp nhận, tiếp thu một cách tuyệt đối, máy móc, cơ học mà đòi hỏi có

sự gạn lọc, đánh giá, suy xét hợp lý để cùng trao đổi, thực hiện cho phù hợp

Tình hình nghiên cứu trên đặt ra cho tác giả luận án yêu cầu phải nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện hơn, hệ thống cả về phương diện lý luận cũng như hoạt động nghiệp vụ thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng Cộng sản Việt Nam; việc tiến hành hoạt động thẩm tra, xác minh

cả trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng cũng như trong thực hiện nhiệm vụ cấp ủy giao của ủy ban kiểm tra các cấp Tình hình mới với những đặc điểm, hoàn cảnh mới tác động đến công tác kiểm tra, đến hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng cũng là

vấn đề, yêu cầu nhiệm vụ xuyên suốt mà luận án sẽ phải giải quyết

Trang 34

Chương 2 THẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA

CỦA ĐẢNG - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG 2.1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò công tác kiểm tra của Đảng

2.1.1.1 Khái niệm về công tác kiểm tra của Đảng

* Khái niệm kiểm tra

Theo Từ điển Tiếng Việt, kiểm tra là "xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét" [196, tr.523] Từ điển Luật học nêu: kiểm tra là "xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét" [135, tr.265]

Còn theo Sách tra cứu các mục từ về tổ chức thì kiểm tra là: "Xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao của một cơ quan, đơn vị hoặc một người

để đánh giá, nhận xét chất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị hoặc người

quan nhà nước, của tổ chức đảng, đoàn thể cấp trên đối với cấp dưới, của thủ trưởng hoặc người lãnh đạo đối với nhân viên dưới quyền

* Khái niệm kiểm tra của Đảng

Theo Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát

và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI (ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương):

Kiểm tra của Đảng là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới

Trang 35

và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của

Nhà nước [20, tr.02]

* Khái niệm công tác kiểm tra của Đảng

Theo Từ điển Tiếng Việt, “công tác” được hiểu là “công việc của nhà nước hoặc của đoàn thể” [196, tr.48] Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị, một bộ phận trong hệ thống chính trị Việt Nam, đồng thời có vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo toàn xã hội Công tác kiểm tra

của Đảng có thể được hiểu là: việc chủ thể kiểm tra thông qua thực hiện các

phương pháp, hình thức, biện pháp để xem xét tình hình thực tế, nhận xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm (nếu có) của đối tượng kiểm tra trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đưa ra những yêu cầu, kiến nghị với đối tượng kiểm tra, các tổ chức, cá nhân có liên quan theo mục tiêu, yêu cầu đã đề ra

Từ khái niệm nêu trên, có thể nhận thức về công tác kiểm tra của Đảng

ở một số điểm cụ thể như sau:

Một là, công tác kiểm tra là nhiệm vụ của toàn Đảng Điều lệ Đảng quy

định tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát; tổ chức đảng và đảng viên phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng

Chủ thể kiểm tra là tổ chức đảng có thẩm quyền kiểm tra đối với tổ chức đảng và đảng viên theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý Đối tượng kiểm tra là tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền Các tổ chức đảng vừa

là chủ thể kiểm tra (có trách nhiệm tiến hành công tác kiểm tra), vừa là đối tượng kiểm tra (chịu sự kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên)

Do các tổ chức đảng có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nên phạm vi trách nhiệm, nội dung, đối tượng, cách tiến hành kiểm tra của các tổ chức đảng được quy định cũng khác nhau

Trang 36

Hai là, công tác kiểm tra là một chức năng lãnh đạo của Đảng, là công

tác xây dựng Đảng, sinh hoạt nội bộ Đảng, do các tổ chức đảng tiến hành căn

cứ theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền được Điều lệ Đảng quy định Do đó, tiến hành công tác kiểm tra phải theo đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đúng tính chất công tác đảng, đúng tư tưởng chỉ đạo, phương pháp cơ bản tiến hành công tác kiểm tra, đúng phạm vi trách nhiệm của từng tổ chức đảng và đều phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, nhằm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ và công tác ấy

Ba là, qua việc thực hiện hệ thống các cách thức, biện pháp mà chủ thể

và đối tượng kiểm tra phải tuân thủ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, phải xem xét đúng tình hình thực tế khách quan; phát hiện ưu điểm để phát huy, thiếu sót, khuyết điểm, lệch lạc để uốn nắn, khắc phục, sửa chữa; làm rõ đúng sai, nhận xét, đánh giá chính xác có vi phạm hay không vi phạm để kết luận rõ ràng, một mặt để tiếp tục kiện toàn, củng cố, phát huy tổ chức và cá nhân, mặt khác để chấn chỉnh, xử lý kịp thời, nghiêm minh vi phạm; cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa tổ chức đảng và đảng viên vi phạm Bên cạnh đó, qua công tác kiểm tra, phát hiện những sơ hở, thiếu sót, bất cập trong các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện để kịp thời sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế, góp phần không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý

2.1.1.2 Vị trí, vai trò công tác kiểm tra của Đảng

Một là, kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng

Thực tiễn đã khẳng định, lãnh đạo không chỉ là đề ra chủ trương, đường lối, tổ chức thực hiện, bố trí cán bộ, động viên tư tưởng, mà còn phải kiểm tra, giám sát Không những kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, Cương lĩnh chính trị, chủ trương, chính sách, mà kiểm tra ngay từ chính Cương lĩnh chính trị, đường lối, chính sách đó và kiểm tra cả các tổ chức tiến

Trang 37

hành kiểm tra nhằm bảo đảm đường lối, chính sách được xác định đúng, được quán triệt và thực hiện thắng lợi trong thực tiễn Đó là vấn đề có tính nguyên tắc; vừa là chức năng lãnh đạo, vừa là trách nhiệm, nội dung, phương pháp, quy trình lãnh đạo của Đảng

V.I.Lênin đã khẳng định: khi đường lối, chính sách đã được xác định, phương hướng đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu và sự lãnh đạo phải "chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh sang việc lựa chọn người và kiểm tra sự thực hiện" [105,

công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích" [118, tr.520]

Đảng ta luôn xác định kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng Trong suốt quá trình hoạt động, Đảng không những luôn coi trọng,

mà xác định kiểm tra là chức năng, nội dung lãnh đạo của Đảng Công tác kiểm tra là khâu rất quan trọng vì nó là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan lãnh đạo và chỉ đạo Trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền càng phải tăng cường công tác kiểm tra của Đảng

Hai là, kiểm tra là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng

Xây dựng Đảng ta vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức luôn là đòi hỏi cấp thiết và có tính khách quan Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên, cán bộ làm trọn nhiệm

vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân Do đó,

mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức” [118, tr.133]

Qua thực tiễn, Đảng ta đã kết luận: công tác kiểm tra là “một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng” [81, tr.122], là "một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện” [81, tr.123]

Trang 38

Ba là, công tác kiểm tra là nhiệm vụ của toàn Đảng; là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của mọi tổ chức đảng và đảng viên

Công tác kiểm tra là công tác đảng, là nhiệm vụ của toàn Đảng, được tiến hành đối với tổ chức đảng và đảng viên Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định: "Kiểm tra và giữ gìn kỷ luật của Đảng là nhiệm

vụ của toàn Đảng Các tổ chức đảng, trước hết là các cấp uỷ đảng, Bộ Chính

trị và các ban thường vụ cấp uỷ, cần tự mình tiến hành kiểm tra và sử dụng các ban để tổ chức thường xuyên nhiệm vụ kiểm tra" [82, tr.150-151] Để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi các cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp phải chú trọng và thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng

2.1.2 Nội dung, phương pháp công tác kiểm tra của Đảng

2.1.2.1 Nội dung công tác kiểm tra

Nội dung công tác kiểm tra của Đảng bao gồm kiểm tra việc thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng - những vấn đề có tính nguyên tắc đã được Đảng xác định, mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tuân thủ, chấp hành

và trở thành nội dung kỷ luật của Đảng Tuy nhiên, Cương lĩnh chính trị, Điều

lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng cũng như nguyên tắc tổ chức

và hoạt động của Đảng bao gồm nhiều vấn đề lớn, rất rộng Mặt khác, do chức năng, nhiệm vụ và phạm vi kiểm tra của mỗi tổ chức đảng khác nhau nên khi tiến hành kiểm tra các tổ chức đảng phải căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn kiểm tra của cấp mình và tình hình, đặc điểm, yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của địa phương, đơn vị trong từng thời gian và trọng tâm, trọng điểm lãnh đạo của mình để xác định nội dung kiểm tra phù hợp

Trang 39

Tóm lại, nội dung kiểm tra là kiểm tra việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng có quan hệ đến chức trách, nhiệm

vụ, quyền hạn của tổ chức đảng và đảng viên Mỗi tổ chức đảng phải căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của mình để xác

định nội dung kiểm tra cụ thể, phù hợp Trong điều kiện Đảng cầm quyền,

việc chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật của các đoàn thể chính trị - xã hội cũng là một nội dung kỷ luật của Đảng, đương nhiên trở thành một nội dung kiểm tra đối với mọi tổ chức đảng và đảng viên

2.1.2.2 Phương pháp công tác kiểm tra

Phương pháp công tác kiểm tra của Đảng là hệ thống các cách thức tiến hành trong hoạt động kiểm tra của Đảng mà mọi tổ chức đảng và đảng viên (chủ thể, đối tượng) phải tuân thủ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra Khi tiến hành công tác kiểm tra, phải sử dụng đồng bộ, linh hoạt năm phương pháp cơ bản có mối quan hệ mật thiết, không tách rời của công tác kiểm tra đảng

lý đối tượng kiểm tra vừa có tính nguyên tắc vừa đảm bảo tính hiệu quả, thực tiễn của công tác kiểm tra Có dựa vào tổ chức đảng và đảng viên, chủ thể kiểm tra mới hiểu rõ đặc điểm tình hình, điều kiện, hoàn cảnh, khó khăn,

Trang 40

thuận lợi, ưu điểm, khuyết điểm trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng kiểm tra để có cơ sở nhận xét, đánh giá, xem xét, kết luận một cách chính xác

Thứ hai: Phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Đội ngũ đảng viên bao gồm những phần tử tiên tiến, giác ngộ lý tưởng, giác ngộ giai cấp, tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng; là những chiến sĩ cách mạng phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng Đó là cơ sở tư tưởng và tổ chức để tổ chức đảng và đảng viên tự giác chấp hành Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

và nhiệm vụ được giao; tự giác tự kiểm tra và chịu sự kiểm tra, giám sát của

tổ chức đảng có thẩm quyền

Phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên cũng là một vấn đề có tính nguyên tắc Vì vậy, tiến hành công tác kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng, chủ thể kiểm tra cần coi trọng và làm tốt công tác tư tưởng đối với đối tượng kiểm tra, dựa vào tính tự giác của đối tượng kiểm tra để giúp cho việc xem xét, kết luận được khách quan, chuẩn xác Đồng thời, không ngừng xây dựng, phát huy và nâng cao tinh thần tự giác, tự phê bình và phê bình, tính chiến đấu của đối tượng kiểm tra là mục đích của công tác xây dựng Đảng Đối với những trường hợp quanh co, giấu diếm sai lầm, khuyết điểm, cần kiên trì động viên, thuyết phục, kết hợp với đấu tranh phê bình và công tác thẩm tra, xác minh để làm rõ đúng sai, giúp việc kết luận và xử lý được

chuẩn xác

Thứ ba: Phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của nhân dân

Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng không có mục đích tự thân, mục đích của Đảng là phụng sự Tổ quốc,

Ngày đăng: 11/03/2017, 11:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Bí thư (2009), Quy định số 222-QĐ/TW, ngày 08-5-2009 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh uỷ, thành uỷ (nay là Quy định số 219-QĐ/TW, ngày 27-12-2013), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 222-QĐ/TW, ngày 08-5-2009 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh uỷ, thành uỷ
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2009
3. Ban Bí thư (2009), Thông báo số 226-TB/TW, ngày 03-03-2009 về tăng cường tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 226-TB/TW, ngày 03-03-2009 về tăng cường tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2009
4. Ban Bí thư (2011), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban Đối ngoại Trung ương trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 19-7-2011), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban Đối ngoại Trung ương trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2011
5. Ban Bí thư (2011), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 24- QĐ/TW, ngày 19-7-2011), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2011
6. Ban Bí thư (2012), Hướng dẫn số 01-HD/TW, ngày 05-01-2012 về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số 01-HD/TW, ngày 05-01-2012 về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
7. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 136-QĐ/TW, ngày 02-10-2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
8. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 137-QĐ/TW, ngày 02-10-2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
9. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban Tuyên giáo Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 145-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban Tuyên giáo Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
10. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Đảng đoàn Quốc hội trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 146-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Đảng đoàn Quốc hội trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
11. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Đảng uỷ Công an Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 147-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Đảng uỷ Công an Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
12. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 148-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
13. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Quân uỷ Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 149- QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Quân uỷ Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
14. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 150-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
15. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 151-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
16. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban cán sự đảng Chính phủ trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 152-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với Ban cán sự đảng Chính phủ trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
17. Ban Bí thư (2012), Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 10-01-2012 về công tác kiểm tra của tố chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 10-01-2012 về công tác kiểm tra của tố chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
18. Ban Bí thư (2012), Thông báo Kết luận số 71-TB/TW, ngày 12-01-2012 về thực hiện Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với tổ chức có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo Kết luận số 71-TB/TW, ngày 12-01-2012 về thực hiện Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với tổ chức có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
19. Ban Bí thư (2012), Thông báo Kết luận số 115-TB/TW, ngày 17-12-2012 về Đề án "Phát hiện, xác định, quyết định kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện, xác định, quyết định kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2012
20. Ban Chấp hành Trung ương (2011), Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI (ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW, ngày 01-11-2011), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá XI
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2011
21. Ban Chấp hành Trung ương (2011), Quy định số 45-QĐ/TW, ngày 01- 11-2011 về thi hành Điều lệ Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 45-QĐ/TW, ngày 01-11-2011 về thi hành Điều lệ Đảng
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w