Có nhiều nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trong đó tài chính tác động tới mọi lĩnh vực, góp phần quan trọng của sự biến đổi về phát triển kinh tế - xã hội nhan
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS ĐINH TRỌNG THỊNH
2 PGS, TS NGUYỄN VĂN DẦN
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án
là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Trưng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VỚI TƯ CÁCH
1.1 Tổng quan về phát triển kinh tế - xã hội 7
1.1.1 Quan niệm phát triển kinh tế 7 1.1.2 Quan niệm về phát triển xã hội 9 1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội
1.2 Tài chính đối với phát triển kinh tế - xã hội 18
1.2.1 Quan niệm về tài chính, chức năng và vai trò của tài chính trong
nền kinh tế thị trường 18 1.2.2 Chính sách tài chính 26
1.3 Sử dụng tài chính thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội 34
1.3.1 Sử dụng ngân sách nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội 34 1.3.2 Sử dụng tín dụng để phát triển kinh tế - xã hội 54 1.3.3 Sử dụng thị trường tài chính để phát triển kinh tế - xã hội 64
Chương 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN GIAI
2.1 Đặc điểm về kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên 75
2.1.1 Đặc điểm chính các tỉnh Tây Nguyên 75 2.1.2 Những thuận lợi về phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên 75 2.1.3 Những thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội 78
Trang 52.2 Thực trạng sử dụng tài chính thông qua các công cụ ngân sách
nhà nước, tín dụng và thị trường tài chính thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2006-2010 81
2.2.1 Thực trạng sử dụng ngân sách nhà nước cho phát triển kinh tế -
xã hội ở Tây Nguyên giai đoạn 2006-2010 89 2.2.2 Thực trạng sử dụng tín dụng nhà nước để phát triển kinh tế - xã
hội Tây Nguyên giai đoạn 2006-2010 112 2.2.3 Thực trạng sử dụng tín dụng ngân hàng cho phát triển kinh tế -
xã hội ở Tây Nguyên giai đoạn 2006-2010 118 2.2.4 Thực trạng sử dụng thị trường tài chính để phát triển kinh tế - xã
2.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong sử dụng tài chính để
phát triển kinh tế - xã hội 131
2.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc về sử dụng ngân sách nhà nước
và trái phiếu chính phủ 131 2.3.2 Kinh nghiệm sử dụng tín dụng nhà nước của Nhật Bản để phát
triển kinh tế - xã hội 139 2.3.3 Kinh nghiệm sử dụng thị trường tài chính các nước Đông Nam
Á để phát triển kinh tế - xã hội 144 2.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam trong sử dụng tài
chính phát triển kinh tế - xã hội 148
Chương 3: TÀI CHÍNH VỚI NHIỆM VỤ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN GIAI ĐOẠN
3.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên đến
2015, tầm nhìn đến 2020 và quan điểm sử dụng tài chính trong giai đoạn này 153
3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên đến 2015,
Trang 63.1.2 Quan điểm sử dụng tài chính trong giai đoạn này 158 3.1.3 Những cơ hội và thách thức đối với hoạt động tài chính trong
giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến 2020 trên địa bàn các tỉnh
3.2.5 Giải pháp hoàn thiện sử dụng thị trường tài chính 191
3.3 Các giải pháp hỗ trợ 196
3.3.1 Tiếp tục hoàn thiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
vùng Tây Nguyên giai đoạn 2011-2020 196 3.3.2 Bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn Tây Nguyên 199 3.3.3 Quan tâm phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và hệ thống
thông tin kinh tế - xã hội trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên 201
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
GNI Tổng thu nhập quốc gia
HĐND Hội đồng nhân dân HTX Hợp tác xã
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức TCTD Tổ chức tín dụng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Bảng 2.1 Thu NSNN giai đoạn 2006-2010 của các tỉnh Tây Nguyên 90 Bảng 2.2 Tỷ lệ động viên thu NSNN giai đoạn 2006-2010 các tỉnh
Bảng 2.3 Mối quan hệ giữa tỷ lệ động viên thu NSNN với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010 94 Bảng 2.4 Tỷ lệ động viên thu NSNN bình quân 2001-2010 95 Bảng 2.5 Cơ cấu thu nội địa trong tổng thu NSNN theo lĩnh vực 96 Bảng 2.6 Cơ cấu giữa thuế hàng hóa, thuế thu nhập và thuế tài sản
trong tổng thu NSNN trên địa bàn Tây Nguyên 97 Bảng 2.7 Cơ cấu thuế gián thu và thuế trực thu trong tổng thu
NSNN trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên 98 Bảng 2.8 Tỷ lệ động viên thu NSNN giai đoạn 2001-2010 các tỉnh
Bảng 2.9 So sánh tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng thuế 100 Bảng 2.10 Chi NSNN so với GDP qua các giai đoạn từ 2001-2010
các tỉnh Tây Nguyên 101 Bảng 2.11 Tỷ lệ chi NSNN so với GDP qua các giai đoạn 2001-2010
Bảng 2.12 Tỷ lệ chi NSNN so với GDP qua từng năm thời kỳ
2001-2010 của Tây Nguyên 102 Bảng 2.13 So sánh tốc độ tăng chi ĐTPT và chi thường xuyên giai
đoạn 2006-2010 của Tây Nguyên 103 Bảng 2.14 Cơ cấu chi ĐTPT của các tỉnh Tây Nguyên 105 Bảng 2.15 Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội so với tổng số (%) ở Tây Nguyên 107 Bảng 2.16 Cơ cấu chi thường xuyên giai đoạn 2001-2005 các tỉnh
Bảng 2.17 Cơ cấu chi thường xuyên giai đoạn 2006-2010 ở Tây Nguyên 109 Bảng 2.18 TDNH của các tỉnh Tây Nguyên phân tỷ trọng theo ngành
giai đoạn 2001, 2005 và 2010 119 Bảng 2.19 Giá trị cổ phiếu giao dịch trên TTCK 144 Bảng 2.20 Cơ cấu khu vực TTTC ở một số nước Đông Nam Á năm 1999 146
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu
Trong 10 năm qua, thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 18-01-2002 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010, theo đó các chính sách và công cụ tài chính đã được tích cực sử dụng hướng vào mục tiêu phục vụ và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Nhờ vậy, kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên đã có bước phát triển nhanh, tạo đà cho sự phát triển trong giai đoạn tiếp theo
Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội là mục tiêu của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trong mọi thời đại Có nhiều nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trong đó tài chính tác động tới mọi lĩnh vực, góp phần quan trọng của sự biến đổi về phát triển kinh tế - xã hội nhanh hay chậm tùy thuộc vào nhận thức của các chủ thể xã hội về tài chính và sử dụng các công cụ tài chính để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội cần đạt đến
Bước vào giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến 2020, Bộ Chính trị chủ trương tiếp tục thực hiện Nghị quyết 10 với mục tiêu cao hơn về tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo; giai đoạn cả nước hội nhập quốc tế đầy đủ và sâu rộng, nảy sinh nhiều cơ hội mới, đồng thời đặt ra những thách thức, khó khăn nhiều mặt đối với Tây Nguyên, trong đó có vấn đề chính sách, cơ chế sử dụng tài chính để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hướng đến năm 2020
Với ý nghĩa là một lĩnh vực then chốt mang tính huyết mạch đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các chính sách và sử dụng công cụ tài chính cần phải được đổi mới và hoàn thiện hướng vào thực hiện các mục tiêu đã được xác định đối với Tây Nguyên trong giai đoạn đến là hết sức cần thiết Do vậy, việc
nghiên cứu đề tài “Sử dụng tài chính thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các
tỉnh Tây Nguyên” là một đòi hỏi cấp bách và thiết thực đối với Tây Nguyên
Trang 102 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, những vấn đề lý luận về tài chính được các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm nghiên cứu trong lịch sử phát triển xã hội Nhiều quan điểm và các luận thuyết theo các trường phái khác nhau đã trở thành kinh điển trong các học thuyết Tuy nhiên trong kinh tế học hiện đại, các nhà khoa học nhận thấy không thể sử dụng thuần túy một học thuyết nào đó trong lĩnh vực tài chính để giải quyết các vấn đề của nền kinh tế - xã hội đặt ra trong từng giai đoạn phát triển Các nhà khoa học ngày nay khuyến cáo cần phải kết hợp các học thuyết kinh tế thông qua sử dụng tài chính một cách linh hoạt mới bảo đảm hiệu quả Trên thực tế, nhiều quốc gia thành công như Hoa Kỳ trong thập niên 90; Hàn Quốc thành công đáng kể trong sử dụng tài chính trở thành quốc gia có nền kinh tế mới nổi; Trung Quốc rất thành công trong sử dụng tài chính để can thiệp và điều chỉnh sự phát triển kinh tế, giữ cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh trong gần 3 thập kỷ qua
Trong nước, những công trình đã nghiên cứu về tài chính đối với phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên không nhiều, tính từ năm 2004 trở lại
đây có các công trình được báo cáo tại Hội thảo khoa học về "Chính sách và giải pháp tài chính đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên" tổ chức
ở Buôn Ma Thuột, ngày 24/9/2004 do Học viện Tài chính, Sở Tài chính Đak Lak và Viện Dân tộc phối hợp thực hiện Trong đó, có 20 báo cáo trình bày ở hội thảo của một số nhà khoa học và nhà quản lý, xoay quanh vấn đề tài chính - ngân sách - tín dụng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh Tây
Nguyên Có một số công trình tiêu biểu như sau: “Thực trạng và giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên trong tình hình mới” của TS Hoàng
Ngọc Phong - Trưởng ban nghiên cứu phát triển vùng, Viện chiến lược phát
triển, Bộ kế hoạch đầu tư; “Hoàn thiện chính sách và giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên” của PGS.TS Nguyễn Đăng Nam, Phó viện trưởng Viện khoa học tài chính; “Chính sách ưu đãi thuế phát triển các thành phần kinh tế ở Tây Nguyên” của PGS.TS Bạch Thị Minh Huyền,
Trang 11Phó vụ trưởng Vụ chính sách thuế, Bộ Tài chính; "Chính sách về đầu tư nhằm phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên" của TS Nguyễn Duy Lượng, Vụ trưởng
Vụ địa phương, Văn phòng Chính phủ… Các công trình nghiên cứu trên đây, ở góc độ và mức độ tiếp cận khác nhau nghiên cứu về sử dụng tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên Trên cơ sở các nghiên cứu đã được công bố,
đề tài của Luận án tiếp tục nghiên cứu về lý luận, thực tiễn và đưa ra giải pháp cụ thể để sử dụng tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững đối với Tây Nguyên
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu để nhận thức tài chính với tư cách là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính nhằm tác động vào quá trình kinh tế - xã hội đạt đến mục tiêu xác định của từng chủ thể xã hội, theo đó góp phần tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Mục tiêu cụ thể của đề tài tập trung vào 3 khía cạnh sau đây:
- Trình bày một số vấn đề chung về tài chính với tư cách là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, làm sáng tỏ vai trò của các công cụ tài chính tác động vào quá trình kinh tế - xã hội Tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm đã sử dụng các công cụ tài chính
để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế và
mở cửa hội nhập quốc tế
- Đánh giá thực trạng sử dụng tài chính thông qua việc sử dụng các công
cụ NSNN, TDNN, TDNH và TTTC tác động thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn 2006-2010, chỉ rõ những thành tựu, những mặt hạn chế, yếu kém và nguyên nhân những hạn chế, bất cập để làm căn cứ, cơ
sở cho việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện sử dụng công cụ tài chính thúc đẩy kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển ở Tây Nguyên
- Trên cơ sở định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến 2010, đề xuất các quan điểm, giải pháp sử dụng tài
Trang 12chính mà trọng tâm hoàn thiện chính sách, cơ chế và sử dụng các công cụ NSNN, TDNN, TDNH và TTTC để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập đối với các tỉnh Tây Nguyên
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về tài chính với tư cách là động lực
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế - xã hội
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào của các công cụ tài chính:
NSNN, TDNN, TDNH và TTTC và việc sử dụng các công cụ này nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2006-2010 Tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới; từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện sử dụng các công cụ tài chính nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên trong thời gian tới
Sử dụng các công cụ tài chính NSNN, TDNN, TDNH và TTTC là một nội dung quan trọng thể hiện vai trò to lớn về nhiều mặt của nhà nước và các chủ thể xã hội khác đối với quá trình kinh tế - xã hội trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế Đề tài đề cập đến sự tác động trực tiếp của các công cụ nêu ở trên đến quá trình kinh tế - xã hội Các công
cụ này là phương tiện được các chủ thể xã hội sử dụng nhằm tác động để đạt tới mục tiêu cụ thể, theo đó thúc đẩy phát triển xã hội Do đó, nó có ý nghĩa là tổng thể những phương thức và những yếu tố vận hành các phương thức này nhằm phát huy những tác động tích cực của tài chính đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Xét đến cùng, những tác động của tài chính đối với quá trình kinh tế -
xã hội là hệ quả của các chức năng tài chính Cơ chế tác động của các công cụ tài chính xuất phát từ nhận thức các tác động khách quan vốn có của tài chính
để hoạch định và triển khai những phương thức thích hợp nhằm đạt tới hiệu quả tối ưu
Trong nền kinh tế thị trường, tài chính là công cụ quan trọng được nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Tuy nhiên, bản thân nội hàm của
Trang 13một số công cụ NSNN, TDNN, TDNH, TTTC và chính sách tài chính cũng chứa đựng nhiều lĩnh vực và nhiều khâu khác nhau, mà mỗi lĩnh vực đó, trong điều kiện phát triển kinh tế và mở cửa hội nhập quốc tế đều là những vấn đề có nội dung nghiên cứu rất phức tạp, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn Mỗi công cụ có cơ chế tác động nhất định đến kinh tế - xã hội Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ phân tích tác động trực tiếp của một số công cụ chủ yếu có thể định lượng tác động tới kết quả phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn 2006-2010 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện sử dụng các công
cụ nêu trên trong giai đoạn phát triển tới
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được triển khai với cách tiếp cận vừa khoa học, vừa thực tiễn, nghiên cứu các vấn đề trong vùng Tây Nguyên và kinh nghiệm ở một số quốc gia, gắn lý luận với thực tiễn, dùng lý luận để xem xét thực tiễn, qua đó tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ và bổ sung thêm các khía cạnh lý luận về sử dụng tài chính trong điều kiện kinh tế thị trường chưa hoàn chỉnh ở Tây Nguyên Tuy nhiên, đề tài không đi sâu phân tích các vấn đề lý luận, các học thuyết kinh tế - tài chính mang tính học thuật, chỉ tập trung xem xét chính sách, xây dựng quan điểm nhằm sử dụng một số công cụ tài chính chủ yếu để thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên
Đề tài đã áp dụng tổng hợp các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, lịch sử, phát triển, so sánh, đối chiếu trong quá trình nghiên cứu Các phương pháp này dựa trên nền tảng của phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
6 Những đóng góp của đề tài
- Về lý luận: Hệ thống hóa, tổng quan những lý luận cơ bản các công cụ
NSNN, TD và TTTC và việc sử dụng công cụ này để thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội ở các tỉnh Tây Nguyên Phân tích và đánh giá có căn cứ khoa học về thực trạng sử dụng các công cụ tài chính nêu ở trên tác động vào quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh Tây Nguyên
Trang 14- Về thực tiễn: Đề xuất những giải pháp hoàn thiện sử dụng có hiệu quả
các công cụ NSNN, TD và TTTC nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh Tây Nguyên trong thời kỳ tới
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương (196 trang)
Chương 1: Một số vấn đề chung về tài chính với tư cách động lực thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội (68 trang)
Chương 2: Thực trạng sử dụng tài chính thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2006-2010 (77 trang)
Chương 3: Tài chính với nhiệm vụ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến 2020 (51 trang)
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VỚI TƯ CÁCH ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1.1 Quan niệm phát triển kinh tế
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của một quốc gia Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển trong quá trình theo đuổi mục tiêu tiến kịp và hội nhập với các nước phát triển
1.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định thể hiện ở quy mô và tốc độ, đó là sự gia tăng nhiều hay ít, nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị, trong đó biểu hiện giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và được tính cho toàn bộ nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ trước để xác định sự tăng trưởng kinh
tế Như vậy, tăng trưởng kinh tế phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Ngày nay, tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay còn gọi bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao, đó là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người Quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học, công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý
1.1.1.2 Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế, là quá trình biến đổi lượng và chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia Vậy, phát triển kinh tế là một quá trình lâu dài
và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Nội dung của phát triển
kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức: Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập
Trang 16của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu
khác của phát triển Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế
Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được
Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu cuối
cùng của sự phát triển kinh tế của quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí của đại đa số nhân dân… Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển
Phát triển kinh tế bao hàm ý nghĩa rộng lớn hơn Nó không chỉ bao gồm những thay đổi về số lượng như tăng trưởng kinh tế, mà còn bao gồm cả những thay đổi về chất lượng cuộc sống Phát triển kinh tế là phạm trù kinh tế - xã hội rộng lớn, nó phản ánh sự tăng lên quy mô sản xuất, làm tăng thêm giá trị sản lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tích cực về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý có khả năng khai thác nguồn lực trong và ngoài nước;
sự tác động của tăng trưởng kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội, cải thiện cuộc sống dân cư, giảm bớt đói nghèo, rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, bảo đảm công bằng xã hội; phản ánh sự vận động của nền kinh tế từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn
Ngày nay, tùy thuộc quan niệm khác nhau, các nước có sự lựa chọn con đường phát triển khác nhau Các nước phát triển theo khuynh hướng tư bản chủ nghĩa lựa chọn con đường nhấn mạnh tăng trưởng nhanh Theo đó, các nước tập trung chủ yếu vào các chính sách đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, bỏ qua các nội dung xã hội Các vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống chỉ được đặt ra khi tăng trưởng thu nhập đạt được một trình độ khá
Trang 17cao Thực tế cho thấy nhiều quốc gia theo mô hình này, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, song hệ quả xấu xảy ra: một mặt, cùng với quá trình tăng trưởng nhanh, sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng gay gắt, các nội dung về nâng cao chất lượng cuộc sống không được chú trọng, một số giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống của dân tộc và đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của nhân dân bị phá hủy; mặt khác, chạy theo tăng trưởng nhanh dẫn đến
sự cạn kiệt nguồn tài nguyên quốc gia, hủy hoại môi trường sinh thái, chất lượng tăng trưởng không bảo đảm và vi phạm yêu cầu phát triển bền vững
Một số nước theo mô hình nhấn mạnh vào bình đẳng và công bằng xã hội ngay từ đầu trong điều kiện thực trạng tăng trưởng thấp Các nguồn lực phát triển, phân phối thu nhập cũng như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa được quan tâm và thực hiện dàn đều, bình quân cho mọi ngành, mọi vùng và các tầng lớp dân
cư trong xã hội Thực hiện mô hình này, các nước đã đạt được một mức độ khá tốt
về các chỉ tiêu xã hội Tuy nhiên, nền kinh tế thiếu các động lực cần thiết cho sự tăng trưởng nhanh, mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nền kinh tế chậm khởi sắc và ngày càng trở nên tụt hậu so với mức chung của thế giới
Hiện nay, nền kinh tế mở, hội nhập cho phép nhiều nước đang phát triển tận dụng lợi thế lịch sử để thực hiện một sự lựa chọn tối ưu bằng con đường phát triển toàn diện Theo đó, các nước đưa ra các chính sách thúc đẩy tăng trưởng nhanh, khuyến khích dân cư làm giàu, phát triển kinh tế tư nhân và thực hiện phân phối thu nhập theo sự đóng góp nguồn lực; mặt khác, đồng thời đặt ra vấn
đề bình đẳng, công bằng và nâng cao chất lượng cuộc sống
1.1.2 Quan niệm về phát triển xã hội
Tiến bộ xã hội mà trung tâm là vấn đề phát triển con người được xem là tiêu chí đánh giá mục tiêu cuối cùng của phát triển Sự phát triển xã hội được xem xét trên các khía cạnh chính sau:
1.1.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh nhu cầu cơ bản của con người
Đáp ứng nhu cầu về phát triển con người là mục tiêu cơ bản nhất của quá trình phát triển Nó bao gồm các nhu cầu xã hội cơ bản và những nhu cầu xã hội
Trang 18chất lượng cao trên các lĩnh vực chủ yếu như: nhu cầu mức sống vật chất, nhu cầu giáo dục, y tế, nhu cầu việc làm…
a) Các chỉ tiêu phản ánh mức sống: Chỉ tiêu GNI/người là thước đo chính, thể hiện bảo đảm nhu cầu hao phí vật chất cho dân cư mỗi quốc gia, đó là nhu cầu hấp thụ calori một ngày đêm của một người để bảo đảm sống và làm việc bình thường Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng nâng cao mức sống vật chất cho con người Ngoài ra, một số chỉ tiêu khác cũng phản ánh mức sống vật chất như lương thực bình quân đầu người, tỷ lệ phụ thuộc lương thực nhập khẩu,
tỷ lệ cung cấp calori bình quân đầu người một ngày đêm so với nhu cầu tối thiểu
b) Nhóm chỉ tiêu phản ánh giáo dục và trình độ dân trí được Liên hiệp quốc đã đưa ra những chỉ tiêu đánh giá về trình độ dân trí và giáo dục như: tỷ lệ người lớn biết chữ (tính cho những người từ 15 tuổi trở lên) có phân theo giới tính, khu vực; tỷ lệ nhập học các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; số năm đi học trung bình (tính cho những người từ 7 tuổi trở lên); tỷ lệ chi NSNN cho giáo dục so với tổng chi NSNN hoặc so với GDP Kinh tế càng phát triển, các chỉ tiêu này ngày càng tăng lên
c) Nhóm chỉ tiêu về tuổi thọ bình quân và chăm sóc sức khỏe, bao gồm: tuổi thọ bình quân tính từ thời điểm mới sinh; tỷ lệ trẻ em chết yểu có thể tính cho trẻ em chết trong vòng một năm hoặc trong thời gian 5 năm; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng theo các tiêu chuẩn chiều cao, cân nặng; tỷ lệ các bà mẹ tử vong vì
lý do sinh sản được tính bằng số bà mẹ chết trong thời gian mang thai hoặc sau khi sinh so với 1000 trẻ em sinh ra còn sống; tỷ lệ trẻ em được tiêm phòng dịch;
tỷ lệ chi NSNN cho y tế
d) Nhóm chỉ tiêu về dân số và việc làm, bao gồm: tốc độ tăng trưởng dân
số tự nhiên, tỷ lệ thất nghiệp thành thị, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn Các nước đang phát triển thường có tốc độ tăng trưởng dân số cao hơn mức trung bình thế giới
Các chỉ tiêu trên phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, mức thu nhập dân cư Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc vào chính sách và sự quan tâm của nhà nước đối với các vấn đề này
Trang 191.1.2.2 Chỉ tiêu nghèo đói và bất bình đẳng
Ngoài chỉ tiêu phát triển con người, một vấn đề quan trọng trong tiêu chí đánh giá sự phát triển xã hội là chỉ tiêu liên quan đến nghèo đói và bất bình đẳng Đây là vấn đề phụ thuộc vào khả năng thu nhập của nền kinh tế và chính sách phân phối của nhà nước Có nhiều cách để đánh giá tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng về kinh tế với các nội dung và ý nghĩa khác nhau Chỉ tiêu tỷ lệ hộ nghèo có sự phân chia theo từng vùng, giới tính, dân tộc khác nhau và theo các tiêu chuẩn quy định hiện hành của quốc tế hoặc quốc gia dùng để xác định quy mô
và tính chất nghèo đói trong xã hội Ngoài việc đánh giá nghèo đói và bất bình đẳng về kinh tế, vấn đề bất bình đẳng về xã hội cũng được quan tâm Những tiêu chí được xem xét trong lĩnh vực này là: mức độ phân biệt đối xử đối với phụ nữ
và bạo lực gia đình; mức độ thực hiện dân chủ cộng đồng thể hiện ở vị thế của cộng đồng dân cư trong tham gia vào quá trình ra quyết định những vấn đề có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ; tính minh bạch của hệ thống tài chính ở các cấp địa phương; mức độ trong sạch quốc gia thể hiện thực trạng tham nhũng và những biểu hiện tiêu cực của tầng lớp cán bộ, công chức của nhà nước
Theo dòng thời gian, quan niệm về sự gắn kết phát triển kinh tế với phát triển xã hội theo yêu cầu phát triển bền vững ngày càng được hoàn thiện Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, là quá trình phát triển
có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ
và nâng cao chất lượng môi trường sống
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3.1 Nhóm các nhân tố kinh tế
Đây là những nhân tố tác động trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, giá trị đầu ra của nền kinh tế phụ
Trang 20thuộc chính vào sức mua và khả năng thanh toán của nền kinh tế, tức là tổng cầu, còn giá trị các biến số đầu vào có liên quan trực tiếp đến tổng cung, tức là các yếu tố nguồn lực tác động trực tiếp
a) Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung
Đó là các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, bao gồm 4 yếu tố nguồn lực chủ yếu: vốn, lao động, tài nguyên và kỹ thuật công nghệ:
1) Vốn: yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế Là một nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản (vốn) mà người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản/lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có tư bản, phải thực hiện đầu tư, nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn Những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững Tuy nhiên, tư bản không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân đầu tư mang lại, mà còn tư bản cố định xã hội, những loại tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển Tư bản xã hội là những dự án quy
mô lớn, gần như không thể chia nhỏ được và nhiều khi có lợi suất tăng dần theo quy mô nên phải do nhà nước thực hiện (đường giao thông, mạng lưới điện quốc gia thủy lợi, sức khỏe cộng đồng)
2) Lao động: là yếu tố đầu vào của sản xuất Chất lượng đầu vào của lao
động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khác như vốn, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua, vay mượn, nhưng nguồn nhân lực khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ có thể phát huy tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động Cho nên, những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động gọi là vốn nhân lực đó
là lao động có kỹ năng, có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt động kinh
tế Hiện nay, tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển được đóng góp nhiều bởi quy mô, số lượng lao động, còn yếu tố vốn nhân lực có vị trí chưa cao
do trình độ và chất lượng lao động thấp
Trang 213) Tài nguyên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những tài
nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế
Từ những tính chất riêng có, các tài nguyên thiên nhiên được đánh giá về mặt kinh tế và được tính giá trị như các đầu vào khác trong quá trình sử dụng Nguồn tài nguyên phong phú hay tiết kiệm nguồn tài nguyên trong sử dụng cũng có một
ý nghĩa tương đương như việc tạo ra một GTGT so với chi phí đầu vào khác để tạo ra nó Trong nền kinh tế hiện đại, con người đã và đang tìm cách thay thế để khắc phục mức độ khan hiếm của tài nguyên và đất đai trong quá trình tăng trưởng kinh tế, hơn nữa sản phẩm quốc dân và mức tăng của nó không phụ thuộc nhiều và số lượng tài nguyên Tuy vậy, tài nguyên thiên nhiên và đất đai vẫn là nhân tố không thể thiếu của quá trình sản xuất, nhất là đối với các nước đang phát triển
4) Công nghệ, kỹ thuật: trong suốt lịch sử xã hội loài người, tăng trưởng
kinh tế rõ ràng không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động, vốn và tài nguyên, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lao động và vốn có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới cũng có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất Hiện nay, các mô hình tăng trưởng hiện đại thường không nói đến nhân tố tài nguyên đất đai với tư cách là biến số của hàm tăng trưởng kinh tế, họ cho rằng đất đai là yếu tố cố định còn tài nguyên có xu hướng giảm dần trong quá trình khai thác Mặt khác, những yếu tố tài nguyên và đất đai đang sử dụng có thể gia nhập dưới dạng yếu
tố vốn sản xuất Vì vậy, ba yếu tố trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế được nhấn mạnh là vốn, lao động và năng suất yếu tố tổng hợp (TFP-total factor productivity) Vốn và lao động được xem như các yếu tố vật chất có thể lượng hóa mức độ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng
Trang 22Năng suất nhân tố tổng hợp thể hiện hiệu quả của yếu tố công nghệ kỹ thuật hay đánh giá tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật tới tăng trưởng kinh tế được xác định bằng phần dư còn lại của tăng trưởng sau khi loại trừ tác động của các yếu tố vốn và lao động TFP được coi là yếu tố chất lượng của tăng trưởng theo chiều sâu Ngày nay, tác động của thể chế chính trị, của chính sách
mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, hay phát triển của vốn nhân lực đã giúp cho các nước đang phát triển tiếp cận nhanh chóng những công nghệ hàng đầu thế giới và sự đóng góp của TFP ngày càng cao trong quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh Theo thống kê các nước Đông Nam Á cho thấy nhân tố TFP đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trên 1/3 Tương tự như các nước trong khu vực của thời kỳ đầu phát triển, vốn vật chất có vai trò quyết định đối với tăng trưởng kinh tế ở nước ta
b) Các nhân tố tác động đến tổng cầu
Yếu tố liên quan trực tiếp đến đầu ra của nền kinh tế chính là khả năng chi tiêu, sức mua và năng lực thanh toán, tức là tổng cầu của nền kinh tế Kinh tế học vĩ mô cho thấy 4 yếu tố trực tiếp cấu thành tổng cầu, bao gồm:
1) Chi tiêu dùng cá nhân: bao gồm các khoản chi tiêu cố định, chi thường
xuyên và các khoản chi tiêu khác ngoài dự kiến phát sinh Chi tiêu dùng cá nhân phụ thuộc vào tổng thu nhập khả dụng và xu hướng tiêu dùng biên được xác định tùy theo từng giai đoạn phát triển nhất định của nền kinh tế
2) Chi tiêu của nhà nước: bao gồm các khoản mục chi mua hàng hóa và
dịch vụ của nhà nước Nguồn chi tiêu này phụ thuộc vào khả năng thu NSNN bao gồm chủ yếu từ thu thuế và lệ phí
3) Chi đầu tư: đây thực chất là các khoản chi tiêu cho nhu cầu đầu tư của
các doanh nghiệp và các đơn vị kinh tế, bao gồm đầu tư vốn cố định và vốn lưu động Nguồn chi cho đầu tư được bảo đảm từ khả năng tiết kiệm từ các khu vực của nền kinh tế, trong đó đầu tư khôi phục tức là đầu tư bù đắp giá trị hao mòn được lấy từ quỹ khấu hao còn đầu tư thuần túy được lấy từ các khoản tiết kiệm của khu vực nhà nước, các hộ gia đình và doanh nghiệp
Trang 234) Chi tiêu qua hoạt động xuất nhập khẩu: thực tế, giá trị hàng hóa xuất
khẩu là các khoản chi tiêu cho các yếu tố nguồn lực trong nước, còn giá trị nhập khẩu là giá trị của các loại hàng hóa sử dụng trong nước nhưng lại không bỏ ra các khoản chi phí cho các yếu tố nguồn lực trong nước nên chênh lệch giữa kim ngạch xuất và nhập khẩu chính là khoản chi phí ròng bỏ ra cho quan hệ thương mại quốc tế
Dưới sự tác động của thị trường, các yếu tố của tổng cầu thường xuyên biến đổi Nếu tổng cầu bị giảm sút sẽ gây lãng phí rất lớn các yếu tố nguồn lực của quốc gia đã có, nhưng không huy động và làm hạn chế mức tăng trưởng thu nhập, ngược lại, nếu mức tổng cầu quá cao sẽ làm mức thu nhập của nền kinh tế tăng, nhưng giá cả các yếu tố nguồn lực trở nên đắt đỏ đẩy mức giá cả chung của nền kinh tế tăng lên Nhà nước căn cứ vào tính chất tác động này để có các chính sách điều tiết tổng cầu sao cho bảo đảm thực hiện các mục tiêu tăng trưởng tương ứng với yêu cầu ổn định giá cả nền kinh tế
1.1.3.2 Nhân tố phi kinh tế
Khác với các yếu tố kinh tế, các nhân tố chính trị- xã hội, thể chế hay còn gọi là các nhân tố phi kinh tế có tính chất và nội dung tác động gây ảnh hưởng gián tiếp và không thể lượng hóa mức độ tác động của nó đến tăng trưởng kinh
tế Các nhân tố này tác động một cách riêng lẻ, lại mang tính tổng hợp, đan xen, tất cả lồng vào nhau, tạo nên tính chất đồng thuận hay không đồng thuận trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, không thể phân biệt
và đánh giá phạm vi, mức độ tác động của từng nhân tố đến nền kinh tế
Có rất nhiều nhân tố phi kinh tế tác động đến tăng trưởng và phát triển như: thể chế chính trị - xã hội, cơ cấu gia đình, dân tộc, tôn giáo, các đặc điểm tự nhiên, địa vị các thành viên trong cộng đồng và khả năng tham gia của họ vào quản lý phát triển đất nước Những nhân tố quan trọng nhất bao gồm:
a) Đặc điểm văn hóa - xã hội: đây là nhân tố quan trọng tác động nhiều
tới quá trình phát triển của một quốc gia Nhân tố này bao trùm nhiều mặt từ các tri thức phổ thông đến các tích lũy tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học,
Trang 24công nghệ, văn học, lối sống và cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những phong tục tập quán Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao
và sự phát triển cao của mỗi quốc gia Nhìn chung, trình độ văn hóa của mỗi dân tộc là một nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng lao động, của kỹ thuật, của trình độ quản lý kinh tế - xã hội Xét ở khía cạnh kinh tế hiện đại, nó là nhân tố cơ bản của mọi nhân tố dẫn đến quá trình phát triển Vì vậy, trình độ phát triển cao của văn hóa là mục tiêu phấn đấu của sự phát triển Để tạo dựng quá trình tăng trưởng và phát triển bền vững thì đầu tư cho sự nghiệp phát triển văn hóa phải được coi là những đầu tư cần thiết nhất và đi trước một bước so với đầu tư sản xuất
b) Nhân tố thể chế chính trị - kinh tế - xã hội: các nhân tố này được thừa
nhận tác động đến quá trình phát triển đất nước theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư Thể chế như là một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng đồng, nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt ra Thể chế được thể hiện thông qua các dự kiến mục tiêu phát triển, các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế
- xã hội, hệ thống luật pháp, các chế độ chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện
Một thể chế chính trị - xã hội ổn định và mềm dẻo tạo điều kiện để đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh Ngược lại thể chế không phù hợp
sẽ kìm hãm sự phát triển, thậm chí đi đến phá vỡ những quan hệ cơ bản làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng hoặc gây ra những xung đột chính trị - xã hội Một thể chế phù hợp với sự phát triển có những đặc trưng: tính năng động, nhạy cảm và mềm dẻo, luôn thích nghi với những biến đổi phức tạp do tình hình trong nước và trên quốc tế xảy ra; bảo đảm sự ổn định đất nước, khắc phục kịp thời những mâu thuẫn và xung đột nảy sinh trong quá trình phát triển; tạo điều kiện cho nền kinh tế mở một sự hoạt động có hiệu quả, nhằm huy động vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của thế giới; tạo ra một đội ngũ những
Trang 25người có năng lực quản lý, có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến đủ sức lựa chọn và áp dụng thành công các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, cũng như đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - xã hội; tạo được sự kích thích mạnh mẽ mọi nguồn lực vật chất trong nước hướng vào đầu tư, sản xuất kinh doanh và thu hút các nguồn lực từ bên ngoài vào Yếu tố thể chế tạo điều kiện thuận lợi để hướng hoạt động theo mục tiêu có lợi và hạn chế bất lợi, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
c) Cơ cấu dân tộc: trong cộng đồng quốc gia, có các dân tộc khác nhau
cùng sinh sống, các tộc người có thể không cùng về chủng tộc (sắc tộc, bộ tộc), khác nhau về vùng, miền (miền núi, đồng bằng, trung du) và với quy mô khác nhau so với tổng dân số quốc gia (thiểu số, đa số, v.v ) Do có điều kiện sống khác nhau về trình độ tiến bộ văn minh, về mức sống vật chất, về vị trí địa lý và địa vị chính trị - xã hội trong cộng đồng Sự phát triển của tổng thể kinh tế có thể dẫn đến những biến đổi có lợi cho dân tộc này, nhưng bất lợi cho dân tộc khác
Đó chính là những nguyên nhân nảy sinh xung đột giữa các dân tộc làm ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Cho nên, phải đặt tiêu chuẩn bình đẳng, cùng có lợi cho tất cả các dân tộc, nhưng đồng thời bảo tồn bản sắc riêng và các truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc, khắc phục các xung đột và sự mất ổn định chung của cộng đồng Làm được điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tăng trưởng và phát triển
d) Cơ cấu tôn giáo: vấn đề tôn giáo đi liền với vấn đề dân tộc, mỗi tộc
người đều theo một tôn giáo Trong một quốc gia có nhiều tôn giáo Các dân tộc
ít người, ít tiếp xúc với thế giới hiện đại, thường tôn thờ các thần linh tùy theo quan niệm Mỗi tôn giáo thường chia ra nhiều giáo phái Ngoài ra còn nhiều đạo giáo riêng, và chỉ có một số dân tộc tôn thờ Mỗi đạo giáo có những quan niệm, triết lý tư tưởng riêng, bám sâu vào cuộc sống của dân tộc từ lâu đời, tạo ra những ý thức tâm lý-xã hội của dân tộc Những ý thức tôn giáo thường cố hữu, ít thay đổi theo sự phát triển kinh tế - xã hội Những thiên kiến của tôn giáo nói chung có ảnh hưởng đến sự tiến bộ xã hội tùy theo mức độ, song có thể là sự hòa hợp, nếu có chính sách đúng đắn của nhà nước
Trang 26đ) Sự tham gia của cộng đồng: dân chủ và phát triển là hai vấn đề có tác
dụng tương hỗ lẫn nhau Phát triển là điều kiện tăng thêm năng lực thực hiện quyền dân chủ của cộng đồng dân cư trong xã hội Ngược lại, sự tham gia của cộng đồng là một nhân tố bảo đảm tính chất bền vững và tính động lực nội tại cho phát triển kinh tế - xã hội Các nhóm cộng đồng dân cư tham gia trong xác định mục tiêu của chương trình, dự án phát triển quốc gia, nhất là mục tiêu phát triển kinh tế địa phương của họ, tham gia trong tổ chức cung cấp nguồn lực cần thiết, tham gia trong tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát các hoạt động phát triển tại cộng đồng và tự quản lý các thành quả mang lại của quá trình phát triển
Đó chính là yếu tố cần thiết cho một xã hội phát triển nhằm tạo dựng sự nhất trí cao, tính hiệu quả và sự thích ứng, ổn định trong thực hiện mục tiêu phát triển, đồng thời khích lệ tiềm năng của mọi cá nhân và cộng đồng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, để cộng đồng tham gia vào quá trình phát triển có hiệu quả, cần có cơ chế xác định mức độ tham gia của dân cư tập trung vào dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra Cơ chế tham gia trên phải gắn liền với hình thức tổ chức sự tham gia ấy thông qua công đoàn, hiệp hội ngành nghề, các hội đồng trong đó có sự góp mặt của thành phần dân cư
Những nhân tố kinh tế và phi kinh tế trên khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau, đưa đến kết quả quản lý tương ứng Trong đó, yếu tố vốn đều hiện diện trong các nhân tố trên ở những mức độ khác nhau về quy mô và cách sử dụng nó của từng chủ thể kinh tế - xã hội Hay nói cách khác, hoạt động của tài chính sẽ tạo ra nguồn lực tài chính cho phép các chủ thể sử dụng nguồn tài chính phục vụ mục tiêu của mình trong kinh tế - xã hội
1.2 TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.1 Quan niệm về tài chính, chức năng và vai trò của tài chính trong nền kinh tế thị trường
1.2.1.1 Quan niệm về tài chính
Thuật ngữ “tài chính” bắt nguồn từ tiếng La Tinh “finacia”, dịch theo nghĩa hẹp là thanh toán, thu nhập; theo nghĩa rộng là vốn tiền tệ, chu chuyển tiền
Trang 27tệ Từ thế kỷ XIII-XV, lần đầu tiên danh từ “thanh toán bằng tiền” được sử dụng rộng rãi trong một số thành phố nổi tiếng của Italia với tư cách là những trung tâm khổng lồ về thương mại và ngân hàng của Châu Âu Sau đó, thuật ngữ này lan rộng ra các nước khác và được sử dụng như một khái niệm, gắn liền với hệ thống các quan hệ tiền tệ hình thành các quỹ tiền tệ được động viên bởi nhà nước
để thực hiện các chức năng chính trị và kinh tế
Theo từ điển Larousse cho rằng tài chính (tiếng Pháp cổ là finer) có nghĩa
là một khoản thanh toán Thuật ngữ tài chính (nếu ở số nhiều-finances) được hiểu là tài sản công cộng; toàn bộ các nguồn thu và khoản chi của nhà nước, hoặc của một lãnh thổ; nếu hiểu theo nghĩa thông thường là nguồn tiền mặt của
cá nhân
Trong kinh tế thị trường, thuật ngữ tài chính còn được mô tả theo nghĩa là vốn dưới hình thức tiền tệ, được thể hiện dưới dạng các quỹ cho vay hoặc đi vay thông qua TTTC hay các định chế trung gian tài chính Như vậy, tài chính được quan niệm như là nguồn tiền bạc, thu nhập hay tài sản; là cách thức, hay sự huy động, phân phối, bố trí, cung cấp, cấp phát, trợ giúp, chi tiêu, sử dụng, kiểm soát các quỹ tiền bạc; điều hành, dẫn dắt của cải Các quan niệm này được xem xét ở khía cạnh mô tả các biểu hiện, hiện tượng của hoạt động tài chính Có thể thấy khái niệm tài chính gắn liền với tiền tệ và các quan hệ hàng hóa-tiền tệ Tài chính phát sinh trong điều kiện kinh tế hàng hóa-tiền tệ là nhân tố khách quan dưới tác động ảnh hưởng của sự phát triển chức năng và nhu cầu của nhà nước
và nhu cầu của các chủ thể kinh tế Do đó, tài chính có quan hệ với các quá trình kinh tế - xã hội, được thể hiện trong các hình thức vận động khác nhau và nhất định bao giờ cũng biểu hiện dưới hình thái tiền tệ và kèm theo sự vận động của tiền tệ
Từ quan niệm đó, con người thường nhầm lẫn tài chính với tiền tệ và trong nhiều trường hợp tài chính được coi là tiền tệ Những quan niệm sai lầm đó đưa đến việc không đánh giá đúng mức vai trò của các phạm trù kinh tế khách quan Một số dấu hiệu có tính đặc trưng để nhận biết về phạm trù tài chính như sau:
Trang 28a) Trong thực tiễn quá trình vận động của tài chính có thể nhận thấy: các biểu hiện bên ngoài của tài chính dưới dạng các hiện tượng thu vào bằng tiền và chi ra bằng tiền ở các chủ thể kinh tế - xã hội Các hiện tượng thu, chi bằng tiền đều mang một tính chất chung là vốn tiền tệ đang vận động Như vậy, tính chất tiền tệ của các quan hệ tài chính - đó là dấu hiệu quan trọng của tài chính Dấu hiệu này khẳng định hoạt động tài chính chỉ có thể khi có những điều kiện nhất định, nếu thiếu điều kiện đó thì biến mất ranh giới tác động của phạm trù này Sự xuất hiện của phạm trù tài chính luôn luôn biểu hiện ở chỗ tồn tại sự vận động của vốn tiền tệ, ở đâu thiếu sự vận động đó thì ở đó không phát sinh tài chính
Do vậy, sự hiện diện của tiền tệ là điều kiện bắt buộc cho sự tồn tại của tài chính Tuy nhiên, tài chính và tiền tệ là hai khái niệm khác nhau, nhưng có quan hệ gắn
bó với nhau Tài chính khác biệt căn bản với tiền tệ cả nội dung và chức năng thực hiện Con người có thể cảm nhận tiền tệ nhờ vào trực giác, còn tài chính biểu hiện sự vận động của tiền tệ, luôn ẩn đằng sau sự vận động của tiền tệ, khiến con người không thể “sờ mó” được vào tài chính
b) Lĩnh vực phát sinh và hoạt động của tài chính là khâu phân phối, mà trong đó diễn ra quá trình phân phối giá trị sản phẩm xã hội và thu nhập giữa các chủ thể trong hoạt động kinh tế Cho nên, dấu hiệu quan trọng của tài chính là tính chất phân phối của các quan hệ tài chính Sự phân phối của tài chính nhất định phải cùng quá trình vận động của vốn tiền tệ và có hình thức biểu hiện đặc biệt được gọi là các nguồn tài chính Các nguồn tài chính được hình thành ở các chủ thể kinh tế và nhà nước nhờ vào các dạng vận động khác nhau của thu nhập, tích lũy, thanh toán, trích nộp dưới hình thức tiền tệ và được sử dụng vào những mục đích nhất định để thỏa mãn nhu cầu cho từng chủ thể
c) Các nguồn tài chính là sự biểu hiện vật chất hóa của các quan hệ tài chính và việc sử dụng các nguồn tài chính được thực hiện thông qua các quỹ tiền
tệ có những mục đích nhất định Do vậy, dấu hiệu khác biệt của phạm trù tài chính so với các phạm trù khác ở chỗ các quan hệ tài chính luôn luôn gắn liền với sự hình thành các quỹ tiền tệ có biểu hiện là các nguồn tài chính
Trang 29Quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể nói trên chính là quá trình tham gia phân phối các nguồn tài chính thông qua các hoạt động thu, chi bằng tiền của các chủ thể Các hoạt động thu, chi bằng tiền là sự vận động của tiền tệ-mặt biểu hiện bên ngoài của tài chính, còn các quỹ tiền tệ do các chủ thể nắm giữ là biểu hiện nội dung vật chất của tài chính - một thuộc tính vốn có của tài chính Trên cơ sở các hoạt động thu, chi bằng tiền do các chủ thể thực hiện lại làm phát sinh các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong xã hội Đó là các quan
hệ lợi ích phát sinh trong quá trình tham gia phân phối và sử dụng nguồn tài chính
để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ Các quan hệ kinh tế chính là mặt bản chất của tài chính, biểu hiện nội dung kinh tế - xã hội của tài chính
Từ phân tích trên, tài chính là biểu hiện sự vận động tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội
Quan niệm về tài chính được trình bày trên cho phép nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khách quan về tài chính Nó vừa chỉ ra mặt cụ thể, hình thức bên ngoài-nội dung vật chất của tài chính là sự vận động của các quỹ tiền tệ, vừa vạch rõ mặt trừu tượng, mặt bản chất-nội dung kinh tế - xã hội của tài chính là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình huy động và phân bổ các nguồn tài chính để thực hiện các mục tiêu khác nhau của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định, đồng thời có tính bao quát toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của tài chính trong đời sống kinh tế - xã hội
1.2.1.2 Chức năng của tài chính trong nền kinh tế thị trường
Chức năng của tài chính là sự thể hiện nội hàm bên trong của tài chính, theo đó quy định vai trò tác động của tài chính trong hoạt động thực tiễn Chức năng của tài chính tồn tại độc lập với nhận thức hay tác động của con người Nhận thức đúng, đầy đủ các chức năng vốn có của tài chính là hết sức quan trọng
có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả trong việc sử dụng tài chính, tránh được những quyết định chủ quan của con người khi hoạch định chính sách
Trang 30tài chính và sử dụng các công cụ tài chính trong kinh tế thị trường thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Hiện nay, chưa có sự thống nhất về số lượng các chức năng của tài chính
và tên gọi của từng chức năng Tuy nhiên, đa số các nhà khoa học đều thừa nhận tài chính có hai chức năng cơ bản là phân phối và giám đốc bằng đồng tiền
Trong điều kiện kinh tế thị trường, khác với nền sản xuất hàng hóa giản đơn, quá trình vận động của tư bản theo công thức T-H-T Ở đây, tài chính được coi là khởi điểm của quá trình vận động của tư bản và cũng chính tài chính, sau một quá trình sử dụng có khả năng tạo ra một lượng giá trị lớn hơn so với tư bản ứng trước Rõ ràng, đây là khả năng bên trong của tài chính, nhờ đó mà phát huy tác động của tài chính trong hoạt động thực tiễn Cho nên, hai chức năng trên phải hướng vào mục tiêu hiệu quả, sinh lời Giữa các chức năng của tài chính có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng phân phối phát sinh đồng thời với sự ra đời của tài chính và được coi là chức năng cơ sở, qua đó quy định sự hình thành và phát triển chức năng giám đốc để đạt hiệu quả sinh lời Điều đó cho thấy, trong những môi trường nhất định chính sự phân phối và sử dụng các nguồn tài chính đã tạo cơ sở mang lại nguồn tài chính hiệu quả hơn Ngược lại, nhờ việc thực thi chức năng giám đốc đối với mọi hoạt động tài chính được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả góp phần tăng thu nhập và của cải xã hội, đến lượt nó tạo ra cơ sở vững chắc để thực hiện chức năng phân phối tài chính Ý nghĩa của chức năng phân phối tài chính càng tăng lên khi nhà nước có nguồn tài chính nhất định để tác động một cách sâu rộng đến quá trình kinh tế - xã hội Điều đó tạo ra tiền đề để tăng thêm thu nhập cho doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư, do
đó củng cố hiệu quả và sinh lời của tài chính
Các chức năng của tài chính có sự thống nhất biện chứng Chính sự hiện diện của chức năng phân phối đã đòi hỏi sự cần thiết của chức năng giám đốc để bảo đảm cho quá trình phân phối được đúng đắn, hợp lý hơn theo mục tiêu đã định Trong thực tiễn, công tác giám đốc-kiểm tra tài chính có thể diễn ra đồng thời với công tác phân phối, với quá trình tổ chức sự vận động của các nguồn tài
Trang 31chính, quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, cũng có thể diễn ra độc lập tương đối, không đồng thời với hành động phân phối, có thể trước hoặc sau hành động phân phối Sự thống nhất đó cũng không loại trừ những mặt mâu thuẫn Chẳng hạn, khi phân phối tài chính không hợp lý, nguồn lực tài chính không được giám sát chặt chẽ trong quá trình sử dụng, điều chắc chắn không thể sinh lời hay hiệu quả về mặt tài chính Đó là tính hai mặt của tài chính, nó có khả năng tác động tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế - xã hội Tính hai mặt này cần phải tính toán, xác định trong quá trình hoạch định chính sách tài chính ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội khác nhau
1.2.1.3 Vai trò của tài chính đối với phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mở cửa hội nhập
Về mặt lý luận, vai trò của tài chính đã được làm rõ với tư cách là một công
cụ quan trọng để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước và thực hiện sự phân phối công bằng xã hội Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, vai trò của tài chính bắt nguồn từ bản chất, chức năng của phạm trù tài chính được con người nhận thức vận dụng vào thực tiễn là nhân tố động lực thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội Tài chính có các vai trò: (i) góp phần định hướng phát triển kinh
tế - xã hội vì tài chính là một trong những căn cứ để xác định định hướng phát
triển kinh tế - xã hội; (ii) tạo lập nguồn tài chính cần thiết đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, đó là thực hiện chức năng phân phối-huy động nguồn lực tài chính được cung cấp từ hệ thống tài chính đối với từng chủ thể bằng các phương
thức khác nhau trong khuôn khổ pháp luật quy định; (iii) phân phối, sử dụng
nguồn tài chính tiết kiệm, hiệu quả nhằm đạt các mục tiêu và thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, đây là vai trò quan trọng nhất của tài chính trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế dựa trên những cơ sở sau:
a) Các trường phái kinh tế học phương Tây có nhiều cách lập luận khác nhau nhưng lại thống nhất quan điểm cho rằng, phân phối có mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế và được coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 32Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng, để tăng số người lao động mang tính sản xuất phải tăng tư bản từ quỹ tăng lao động và muốn tăng NSLĐ lại đòi hỏi tăng thêm tư bản Từ đó, cho thấy đầu tư tăng tư bản cho sản xuất kinh doanh giữ vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế Cùng với Adam Smith, David Ricardo lại chú trọng đến tỷ lệ phân phối của các loại thu nhập và ảnh hưởng của nó tới tích lũy tư bản và tăng trưởng kinh tế Ông phân tích hàm
số tăng trưởng và rút ra nhận xét, do tích lũy tư bản có xu hướng co lại nên làm kinh tế tăng trưởng chậm lại Các biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế được xuất phát từ tăng tỷ lệ hình thành tư bản, coi đó là nhân tố chủ yếu quyết định tăng trưởng kinh tế
Các nhà khoa học Roy Harrod và Evsey Domar (được gọi là mô hình Harrod-Domar) đã gắn tăng trưởng kinh tế với việc cơ cấu lại tiết kiệm và đầu tư trong tổng thu nhập Hai ông cho rằng, sản lượng của bất cứ một đơn vị kinh tế,
dù một doanh nghiệp, một ngành hay toàn bộ nền kinh tế đều phụ thuộc chắc chắn vào tổng số vốn có được Khi nói tăng trưởng kinh tế, phải nói đến mức tăng thêm của sản lượng, nhưng mức tăng thêm của sản lượng lại do lượng tăng thêm của vốn quyết định, hay nói cách khác do thay đổi cơ cấu đầu tư vốn quyết định đến tăng trưởng kinh tế
Cambridge cho rằng, con đường căn bản để thực hiện tăng trưởng ổn định nền kinh tế nằm ở chỗ điều chỉnh chế độ phân phối Ông cho rằng, có thể
áp dụng biện pháp phân phối lại để điều chỉnh phần thu nhập của các tầng lớp khác nhau, từ đó thực hiện tăng trưởng ổn định của nền kinh tế, bởi vì sự tác động khác nhau giữa khuynh hướng tiết kiệm và tiêu dùng là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Nhà kinh tế người Anh J Kenyes trong tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ”, đã coi chi tiêu của nhà nước là một công cụ cơ bản của nhà nước để can thiệp vào sự phát triển có tính chu kỳ của nền kinh tế vượt qua khủng hoảng Vì vậy, sự hình thành cơ cấu và tốc độ chi tiêu của nhà nước
là yếu tố quan trọng và không thể tách rời để đạt được “cầu hiệu quả” Tốc độ
Trang 33chi tiêu của nhà nước theo ông cần phải thúc đẩy tăng thu nhập quốc dân và cuối cùng nhằm vào mục tiêu bảo đảm việc làm Để thực hiện điều đó, nhà nước tác động đến các tác nhân của cầu là: tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng đầu tư theo quan điểm của Keynes, tốc độ đầu tư của nhà nước có vai trò hỗ trợ cho các biện pháp của chính phủ để kích thích “giới hạn đối với đầu tư”
Như vậy, đã từ lâu các nhà kinh tế học phương Tây rất đề cao vai trò của phân phối tài chính, coi đó là một nhân tố quan trọng để kích thích tăng trưởng
và phát triển kinh tế - xã hội
b) Quan điểm của C Mác về vai trò của tài chính xuất phát từ những nghiên cứu lý luận sau đây:
1) Mác đã nghiên cứu về cấu tạo hữu cơ của tư bản và rút ra kết luận: cấu tạo hữu cơ tăng sẽ làm tăng NSLĐ, tạo thêm giá trị thặng dư cho xã hội Mác phân biệt cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị tư bản Cấu tạo kỹ thuật của tư bản biểu hiện quan hệ tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất với số lượng lao động sử dụng trong quá trình sản xuất Đó là quan hệ tất yếu, do trình độ phát triển của sản xuất quyết định và phản ánh trình độ tiến bộ kỹ thuật Cấu tạo giá trị tư bản biểu hiện quan hệ tỷ lệ giữa số lượng giá trị tư bản bất biến và tư bản khả biến cần thiết để tiến hành sản xuất Cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị tư bản có quan
hệ với nhau và phụ thuộc vào nhau: sự thay đổi trong cấu tạo kỹ thuật sẽ dẫn đến
sự thay đổi trong cấu tạo giá trị Sự thể hiện mối quan hệ mật thiết đó hình thành phạm trù mới, đó là cấu tạo hữu cơ của tư bản Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị của tư bản do cấu tạo kỹ thuật quyết định và phản ánh những biến đổi của cấu tạo kỹ thuật đó Do trình độ kỹ thuật không ngừng phát triển nên cấu tạo hữu cơ tư bản cũng không ngừng tăng lên Sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ thể hiện ở tư bản bất biến tăng lên tuyệt đối và tương đối, còn tư bản khả biến giảm tương đối Như vậy, do cấu tạo hữu cơ tăng lên sẽ làm tăng NSLĐ, tạo thêm giá trị thặng dư và tăng quy mô tích lũy tư bản
2) Khi nghiên cứu vai trò của các khâu cấu thành trong quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa, bao gồm sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu
Trang 34dùng, quan điểm của Mác cho rằng, sản xuất là khâu quyết định phân phối, còn phân phối có tác động ngược lại đối với sản xuất theo hướng thúc đẩy hoặc kiềm hãm Như vậy, phân phối với tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội được coi là nhân tố có tác động thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Nói khác đi tài chính là một bộ phận của các quan hệ phân phối dưới hình thức tiền tệ có vai trò quan trọng trong khuyến khích thúc đẩy kinh tế tăng trưởng Tuy nhiên, theo Mác vai trò này có phần bị động, vì phân phối do sản xuất quyết định Điều này dẫn đến những quan điểm hạn chế vai trò của phân phối, trong đó có tài chính
3) Xuất phát từ bản chất, chức năng của tài chính Tài chính có chức năng phân phối và giám đốc Các chức năng này đã quyết định vai trò của tài chính trở thành nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, từ công thức vận động của tư bản cho thấy tài chính được coi là khởi điểm của quá trình vận động của tư bản, nếu sự đầu tư nguồn lực tài chính cho các bộ phận của sản xuất theo những tỷ lệ hợp lý sẽ tạo ra thặng dư cho xã hội Với ý nghĩa đó, tài chính là nhân tố quyết định sản xuất, quyết định tăng trưởng kinh tế Vì thế,
để nền kinh tế tăng trưởng nhanh, góp phần thực hiện tốt các chính sách xã hội, cần coi việc đổi mới huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính và coi đó là nhân tố có tính đột phá, quyết định sự thay đổi cơ cấu kinh tế và tác động đến thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Với ý nghĩa đó, sản xuất là cơ sở của phân phối, của tài chính, nhưng phân phối và tài chính có tác động quyết định sản xuất, quyết định tăng trưởng kinh tế
1.2.2 Chính sách tài chính
1.2.2.1 Mục tiêu chính sách tài chính
Kinh tế thị trường vận động theo các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ… Một mặt, các quy luật này phát huy tác dụng điều tiết sản xuất, lưu thông hàng hóa
và đòi hỏi các quan hệ hiện vật phải chuyển hóa thành quan hệ tiền tệ, từ đó tạo ra
cơ sở khách quan cho các quan hệ tài chính - tiền tệ tồn tại và phát triển Mặt khác, chính sự vận động của nền kinh tế thị trường với các quy luật của nó đã tạo ra
Trang 35những khủng hoảng kinh tế - xã hội với quy mô khác nhau, gây ra sự tàn phá sức sản xuất xã hội, làm cho nền kinh tế - xã hội thường xuyên rơi vào tình trạng mất
ổn định Chính sự phát triển khách quan ấy bắt buộc con người phải biết nắm lấy các công cụ tài chính - tiền tệ để tác động trở lại đối với nền kinh tế, mà trước hết
là điều chỉnh vĩ mô bảo đảm cho nền kinh tế - xã hội phát triển ổn định và bền vững lâu dài Vì vậy, cho đến ngày nay bất kỳ quốc gia nào có nền kinh tế thị trường cũng phải sử dụng các công cụ tài chính - tiền tệ như là một trong những công cụ trọng yếu để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội
Để sử dụng tốt các công cụ tài chính - tiền tệ trong quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nhà nước cần một chính sách tài chính thích hợp
Chính sách tài chính là hệ thống các quan điểm, chủ trương, biện pháp của nhà nước trong việc sử dụng các công cụ tài chính - tiền tệ để tác động vào quá trình hình thành và vận động của hệ thống tài chính và các quan hệ giữa chúng nhằm hướng vào thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội đã được vạch ra trong chiến lược phát triển từng giai đoạn của đất nước
Thông qua chính sách tài chính, nhà nước và các chủ thể khác thực hiện khai thác, động viên và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính để kích thích tối
đa sự vận động các nguồn lực khác của đất nước nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô và nâng cao tiềm lực của nền tài chính quốc gia
Có thể nói, sức mạnh và hiệu quả của hệ thống quản lý vĩ mô của nhà nước không chỉ biểu hiện ở cơ cấu, chức năng của bộ máy mà còn ở chính sách
sử dụng các công cụ tài chính - tiền tệ, qua đó nhà nước thực hiện sự can thiệp
và điều khiển nền kinh tế vận động đến các mục tiêu kinh tế - xã hội mong muốn Vì lẽ đó, chính sách tài chính là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời chính sách kinh tế Chính sách tài chính, một mặt phản ánh các quan điểm chỉ đạo của chiến lược kinh tế, mặt khác, xác lập môi trường vận hành các quan hệ tài chính nhằm thực hiện chính sách kinh tế, kích thích và điều tiết các quan hệ
Trang 36kinh tế vận động theo định hướng của nhà nước Chính sách tài chính quốc gia
có các mục tiêu cơ bản sau:
a) Khai thác và huy động tối đa các nguồn vốn trong nước, nguồn vốn ngoài nước và phân phối, sử dụng có hiệu quả, làm tiền đề để khai thác mọi tiềm năng về nhân lực, vật lực nhằm bảo đảm cho nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, bền vững; đồng thời đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh và chiến lược phát triển con người, thực hiện CNH, HĐH
Chính sách tài chính hướng vào việc tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trong toàn xã hội; tăng nhanh sản phẩm xã hội, điều tiết quan hệ tích lũy và tiêu dùng theo hướng nâng dần tỷ lệ tích lũy Có huy động được nguồn vốn từ bên ngoài và phát triển nhanh nguồn vốn trong nước mới có thể duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trong một thời gian dài và đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước
b) Ổn định và lành mạnh hóa môi trường kinh tế vĩ mô, thúc đẩy mạnh
mẽ sự chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường ngày càng hoàn thiện có sự quản lý của nhà nước phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế
Chuyển sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, một trong những chức năng quan trọng của nhà nước là ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tăng cường ĐTPT sản xuất kinh doanh Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô trước hết là ổn định tình hình tài chính - tiền tệ, đó là: Ổn định tương đối giá trị đồng tiền, kiểm soát và duy trì lạm phát ở mức độ hợp lý để từ đó có thể giảm dần lãi suất khuyến khích đầu tư tăng trưởng kinh tế; thực hiện một chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt vừa khuyến khích xuất khẩu vừa không gây tác hại đến nhập khẩu; khống chế và duy trì mức bội chi NSNN ở mức độ hợp lý, bảo đảm nguyên tắc không phát hành tiền để bù đắp bội chi, không vay chi cho tiêu dùng thường xuyên, đồng thời duy trì tốc độ tăng chi cho tiêu dùng thấp hơn tốc độ tăng thu có tích lũy ngày càng cao cho ĐTPT; xây dựng và phát triển nguồn dự trữ tài chính đủ mạnh để nhà nước chủ động can thiệp có hiệu quả vào nền kinh tế vĩ mô khi có biến động lớn
Trang 37c) Nâng cao vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước thông qua việc sử dụng có hiệu quả các chính sách, pháp luật tài chính, các công cụ tài chính - tiền tệ và cơ chế quản lý
1.2.2.2 Nội dung cơ bản của chính sách tài chính
a) Chính sách NSNN bao gồm chính sách thu và chi NSNN; chính sách
cân đối và xử lý bội chi ngân sách; chính sách vay nợ nước ngoài; chính sách quản lý và phân cấp ngân sách
1) Chính sách thu NSNNN Ngân sách nhà nước phải động viên hợp lý ở
mức cao nhất các nguồn tài chính từ trong nước và ngoài nước để tạo ra nguồn tài chính đủ mạnh, theo đó nhà nước có thể có điều kiện thực hiện những nhiệm
vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nguồn tài chính huy động vào NSNN hàng năm được xác định bằng tỷ lệ %/GDP, trong đó nguồn thu từ thuế và lệ phí chiếm tỷ lệ chủ yếu Trong đó, chính sách thuế giữ vai trò quan trọng, được xây dựng với một cơ cấu thuế hợp lý nhằm tăng cường nguồn thu và vai trò điều tiết
vĩ mô của nhà nước; chính sách thuế phải góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế; hệ thống thuế đơn giản, ổn định mang tính luật pháp cao và có sự tương đồng với khu vực và thông lệ quốc tế; thường xuyên hoàn thiện cơ chế hành thu, tạo ra sự chuyển biến về chất trong chính sách thuế và tương đồng với khu vực về trình độ quản lý thuế
Chính sách thu NSNN được lượng hóa bằng tỷ lệ động viên GDP vào NSNN gọi là tỷ suất thu NSNN xác định theo nguyên tắc thu nhập càng tăng, khả năng động viên vào NSNN càng lớn và tỷ suất thu càng cao và ngược lại Một yếu tố khác tác động đến tỷ suất thu và gắn liền với thu nhập bình quân đầu người là tiềm năng và thực tế khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên Quốc gia
có nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn với tỷ trọng khai thác cao thì nước đó có khả năng đạt tỷ suất thu NSNN cao Ngoài hai yếu tố trên, tỷ suất thu NSNN còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: chính sách chi tiêu của chính phủ, thói quen tiêu dùng của dân cư, các khoản thu nhập từ quá khứ, sự vận động của tiêu dùng
Trang 38và tiết kiệm giữa các tầng lớp dân cư, sự phân bố dân cư, mức chi tiêu tối thiểu cần thiết trong GDP tính theo đầu người
Ngoài chính sách thuế, chính sách thu NSNN còn tính đến tăng cường các nguồn thu khác gồm: phí và lệ phí và các nguồn thu ngoài thuế cũng được quy định thống nhất cả về diện thu và mức thu
2) Chính sách chi NSNN Nội dung chi NSNN rất phong phú, đa dạng và
các khoản chi đều có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn, cần xác định nội dung, phương thức chi tiêu của NSNN nhằm bảo đảm vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế
- xã hội Nội dung của chính sách chi NSNN thể hiện trên các mặt sau:
- Chi NSNN phải phù hợp với các ưu tiên chiến lược của nhà nước để bảo đảm tính kỷ luật tài chính tổng thể cũng như tính tương hợp giữa ngân sách kế hoạch và ngân sách thực tế nhằm tối đa hóa phân bổ nguồn lực tài chính Vì vậy, trong chính sách chi NSNN được xây dựng khuôn khổ chi tiêu là cơ sở đo lường các tác động của những thay đổi về chính sách và điều kiện kinh tế đến NSNN, qua đó giúp nhà nước tái lập các mục tiêu chiến lược và phân bổ tối ưu các nguồn lực trong nền kinh tế - xã hội Chiến lược này đòi hỏi nhà nước chú trọng đến những kết quả đầu ra trong phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính với chi phí thấp nhất Vốn NSNN càng sử dụng có hiệu quả thì khả năng thu hút vốn xã hội càng lớn
- Xã hội hóa các quan hệ tài chính trong chi NSNN nhằm góp phần tích cực vào việc cải thiện tính minh bạch rõ ràng về chính sách; phá vỡ độc quyền
và tính bao biện của nhà nước; nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính của khu vực tư vào cung ứng hàng hóa công cộng với chất lượng cao cho xã hội; hạn chế sự can thiệp sâu của nhà nước vào đời sống kinh tế vi mô
- Thực hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa nhóm chi thường xuyên và chi đầu tư trong phân phối nguồn lực tài chính nhà nước Trong đó xác lập tối ưu hóa cơ cấu chi NSNN cho đầu tư và thường xuyên phù hợp với yêu cầu và tình hình thực tế phát triển của nền kinh tế theo nguyên tắc tăng chi thường xuyên nhỏ hơn tốc độ tăng chi ĐTPT tạo đà để thu hút vốn đầu tư của khu vực tư nhân
Trang 39- Thực hành triệt để chính sách tiết kiệm chi NSNN để gia tăng nguồn vốn đầu tư của nhà nước Vấn đề này, đòi hỏi thiết lập những mục tiêu và ưu tiên có tính chiến lược trước khi phân bổ nguồn lực Đồng thời, cũng đòi hỏi hệ thống chi tiêu ngân sách có sự linh hoạt, chuyển nhanh sự phân bổ nguồn lực từ những
ưu tiên thấp sang ưu tiên cao, từ những dự án, chương trình kém hiệu quả sang những chương trình, dự án có hiệu quả cao hơn Thực hiện và mở rộng chế độ khoán chi nhằm nâng cao quyền tự chủ rộng rãi cho người quản lý trong việc tái phân bổ nguồn lực tài chính và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động Đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính và tái cấu trúc khu vực nhà nước
3) Chính sách cân đối và xử lý bội chi ngân sách Cân đối NSNN là một
trong những cân đối quan trọng của nền kinh tế, là điều kiện cơ bản để ổn định
và phát triển kinh tế - xã hội Cho nên, cân đối NSNN phải bảo đảm tính vững chắc, tích cực để trở thành điểm tựa cho các cân đối khác trong nền kinh tế Chính sách cân đối NSNN thể hiện các biện pháp sau:
- Khống chế mức bội chi NSNN theo tỷ lệ %/GDP Coi đó là mức giới hạn trần tối đa để khống chế mức độ vay nợ của nhà nước, để đề phòng xảy ra những tác động xấu đến cân đối tiền-hàng, cân đối cán cân thanh toán và bảo đảm sự ổn định vĩ mô Xây dựng kế hoạch chi sao cho nhà nước có đủ kinh phí đài thọ cho sự phát triển bình thường của đất nước Dự toán chi được duyệt là mức tối đa có tính pháp luật
- Các khoản thu NSNN cần được xác định trên cơ sở tăng trưởng chắc chắn và ổn định Để chủ động, trong cân đối NSNN phải có dự phòng và một phần dự trữ cho năm tiếp theo, tạo dần và phát triển quỹ dự trữ tài chính
- NSNN chỉ bội chi cho ĐTPT và phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả để có điều kiện trả nợ, không bội chi cho tiêu dùng thường xuyên Không phát hành tiền, không vay thương mại nước ngoài và vay ngắn hạn trong nước để bù đắp bội chi Nguồn bù đắp bội chi chủ yếu bằng nguồn vốn ODA với lãi suất ưu đãi, vay trong nước với thời gian trung, dài hạn và bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ
Trang 404) Chính sách vay nợ nước ngoài Huy động nguồn vốn qua kênh này cần
đa phương hóa, đa dạng hóa để khai thác tối ưu các nguồn vay từ nước ngoài, đặc biệt là nguồn vốn ODA với thời gian dài, lãi suất ưu đãi, hạn chế tối đa vay thương mại với thời gian ngắn, lãi suất cao Vốn ODA là nguồn vốn thuộc chương trình hợp tác phát triển do chính phủ các nước ngoài hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức liên chính phủ và các tổ chức phi chính phủ cho một nước tiếp nhận Nguồn vốn ODA bao gồm viện trợ không hoàn lại, các khoản cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, khối lượng vốn vay và thời hạn thanh toán, nhằm hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ các chương trình, dự án Nguồn vốn ODA được coi là tài chính có nguồn gốc từ NSNN Đồng thời, tăng cường cơ chế quản lý và sử dụng vốn vay nước ngoài hướng vào thúc đẩy xuất khẩu phát triển và bảo đảm ngoại tệ trả nợ
5) Chính sách quản lý và phân cấp NSNN Phân cấp quản lý phải bảo đảm
tính thống nhất Bởi vì, nhà nước chỉ duy nhất có một ngân sách, nhưng để việc quản lý NSNN có hiệu quả cần có sự phân cấp quản lý NSNN giữa các cấp chính quyền trung ương và địa phương Sự phân cấp quản lý NSNN không phải
là sự phân chia quyền lực mà là sự phân công rành mạch giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp
Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao, quốc hội sẽ là cơ quan quyết định việc hình thành hệ thống luật pháp về quản lý NSNN Dựa vào đó, chính quyền trung ương thực hiện ban hành chế độ định mức chi tiêu NSNN, chế độ báo cáo, kế toán và kiểm tra để bảo đảm tính thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện NSNN
Sự phân cấp quản lý NSNN phải bảo đảm tính phù hợp tương ứng giữa chức năng của các cấp chính quyền với nguồn thu ngân sách để trang trải nhu cầu chi tiêu NSTW giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn thu lớn đủ sức giải quyết các nhu cầu chi tiêu có tính chiến lược quốc gia; thực hiện điều hòa bảo đảm sự phát triển cân đối, tính công bằng hợp lý giữa các vùng, các địa phương