1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

199 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 2,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nợ xấu luôn tồn tại trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, là một phần rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động ngân hàng.. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý nợ xấ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

- -

NGUYỄN THỊ THU CÚC

qu¶n lý nî xÊu t¹i Ng©n hµng N«ng nghiÖp

vµ Ph¸t triÓn N«ng th«n ViÖt Nam

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

- -

NGUYỄN THỊ THU CÚC

qu¶n lý nî xÊu t¹i Ng©n hµng N«ng nghiÖp

vµ Ph¸t triÓn N«ng th«n ViÖt Nam

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng

Mã số : 62.34.02.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS HOÀNG VĂN QUỲNH

2 PGS, TS LÊ THỊ KIM NHUNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả nêu trong luận án

là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thu Cúc

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ, sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5

1.1.1 Các nghiên cứu về rủi ro tín dụng và rủi ro ngân hàng thương mại 5

1.1.2 Các nghiên cứu về hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 8

1.2 KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU 10

1.2.1 Nghiên cứu sẽ tìm ra điều gì 10

1.2.2 Điều đó khác nghiên cứu khác ở đâu? 10

1.3 ĐIỂM YẾU VÀ ĐIỂM MẠNH CỦA NGHIÊN CỨU 11

1.4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA NGHIÊN CỨU 11

1.4.1 Về ý nghĩa khoa học 11

1.4.2 Về ý nghĩa thực tiễn 11

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 12

2.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 12

2.1.1 Khái niệm và đặc trưng của ngân hàng thương mại 12

2.1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 13

2.2 NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 15

2.2.1 Khái niệm nợ xấu 15

2.2.2 Tác động tiêu cực của nợ xấu 21

2.3 QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 23

2.3.1 Quan niệm về quản lý nợ xấu 23

2.3.2 Nội dung quản lý nợ xấu 24

2.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 44

2.3.4 Các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá công tác quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại 49

Trang 5

2.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI Ở NƯỚC NGOÀI VÀ NHỮNG BÀI HỌC CHO NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 52 2.4.1 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu của một số ngân hàng thương mại ở

nước ngoài 52 2.4.2 Bài học cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Việt Nam 67 Kết luận chương 2 69

Chương 3: THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN

HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 70

3.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN

NÔNG THÔN VIỆT NAM 70 3.1.1 Quá trình hình thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn Việt Nam 70 3.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn Việt Nam 72 3.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn giai đoạn 2010 - 2014 73 3.2 THỰC TRẠNG NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ

PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 77 3.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn Việt Nam 77 3.2.2 Thực trạng nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn Việt Nam 83 3.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG NÔNG

NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 88 3.3.1 Thực trạng nhận diện, phân loại, đánh giá nợ xấu của Ngân hàng

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 89 3.3.2 Thực trạng ngăn ngừa nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn Việt Nam 94 3.3.3 Thực trạng xử lý nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn Việt Nam trong thời gian qua 100

Trang 6

3.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA

NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 109

3.4.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 109

3.4.2 Những điểm còn hạn chế và nguyên nhân 113

Kết luận chương 3 136

Chương 4: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 137

4.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 137

4.2 QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 138

4.2.1 Quan điểm quản lý nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 138

4.2.2 Mục tiêu quản lý nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 140

4.3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 141

4.3.1 Hoàn thiện chiến lược và mô hình quản trị rủi ro tín dụng, tổ chức lại bộ máy quản trị rủi ro tín dụng 141

4.3.2 Hoàn thiện việc nhận diện, đánh giá, phân loại nợ xấu 145

4.3.3 Nâng cao hiệu quả các biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng 152

4.3.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với giáo dục đạo đức nghề nghiệp 159

4.3.5 Đổi mới công nghệ ngân hàng 160

4.3.6 Chú trọng tăng trưởng tín dụng bền vững 161

4.3.7 Nâng cao sức mạnh tài chính 163

4.4 CÁC GIẢI PHÁP ĐIỀU KIỆN VÀ HỖ TRỢ 167

4.4.1 Nhóm giải pháp từ Nhà nước 167

4.4.2 Nhóm giải pháp từ Ngân hàng Nhà nước 176

KẾT LUẬN 180

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 181

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 182

PHỤ LỤC 189

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BASEL Uỷ ban giám sát về các hoạt động ngân hàng

NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Bảng 2.1: Quy trình cấp tín dụng 34

Bảng 2.2: Nợ xấu của các ngân hàng Hàn Quốc 53

Bảng 2.3: Mua nợ xấu theo loại hình nợ của KAMCO 55

Bảng 3.1: Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn qua các năm 73

Bảng 3.2: Kết quả cho vay của NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 74

Bảng 3.3: Kết quả thực hiện chỉ tiêu phân loại nợ ở NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 83

Bảng 3.4: Tỷ lệ nợ xấu ở NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn 2010- 2014 84

Bảng 3.5: Tổng hợp dư nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam theo ngành kinh tế giai đoạn 2010- 2014 86

Bảng 3.6: Phân tích về tỷ lệ nợ xấu 88

Bảng 3.7: Kết quả phân loại nợ theo điều 6 và điều 7 Quyết định 493/QĐ-NHNN ở một số thời điểm từ năm 2012 - 2013 92

Bảng 3.8: Tình hình khai thác nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 102

Bảng 3.9: Tình hình thanh lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 104

Bảng 3.10: Kết quả trích dự phòng, xử lý nợ xấu từ DPRR của NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 105

Bảng 3.11: Tỷ trọng nợ xấu được xử lý bằng từng biện pháp tại NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 107

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ nợ xấu (% / tổng dư nợ) của hệ thống Ngân hàng Thái Lan

(giai đoạn 2005 - 2011) 59 Biểu đồ 2.2: Lợi nhuận kinh doanh và lợi nhuận ròng của hệ thống Ngân hàng

Thái Lan (giai đoạn 1995 - Q3/2007) 64 Biểu đồ 2.3: Tổng tài sản của các ngân hàng thương mại và Công ty tài chính ở

Thái Lan vào tháng 6/1997 và tháng 12/2006 64 Biểu đồ 3.1: Thị phần tín dụng của các NHTMNN giai đoạn 2010-2014 77 Biểu đồ 3.2: Số lượng chi nhánh, PGD và ATM của các NHTM Việt Nam

năm 2014 82 Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ nợ xấu của một số NHTM Việt Nam thời điểm 31/12/2014 84 Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ nợ xấu bình quân toàn ngành ngân hàng 2010-2014 85 Biểu đồ 3.5: Tỷ trọng nợ xấu được xử lý bằng từng biện pháp tại NHNo&PTNT

Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 107 Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ nợ xấu được xử lý tại NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Hệ thống ngân hàng đóng vai trò huyết mạch của nền kinh tế, luôn giữ một vị trí

vô cùng quan trọng Các ngân hàng thương mại Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ như: góp phần ổn định và kiềm chế lạm phát, thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia, phát huy vai trò kênh dẫn vốn lưu thông trong nền kinh tế thị trường… Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, rủi ro kinh doanh là điều khó tránh khỏi, đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

vì nó có thể gây ra phản ứng dây truyền, lây lan và ngày càng có biểu hiện phức tạp Sự sụp đổ của ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế - chính trị - xã hội và có thể lan rộng ra khỏi phạm vi cả một quốc gia thậm chí cả khu vực và trên thế giới Bên cạnh những rủi ro về lãi suất, hối đoái, đạo đức… rủi ro về nợ xấu là vấn đề nghiêm trọng, cần được xử lý hiệu quả trong điều kiện hiện nay

Nợ xấu luôn tồn tại trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, là một phần rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, nợ xấu lớn cũng đồng nghĩa với một lượng vốn tương ứng không được quay vòng, dòng tiền trong nền kinh tế không lưu thông được và hệ thống ngân hàng sẽ gặp khó khăn về thanh khoản Nợ xấu lớn cũng làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất và quản lý thị trường tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Nếu cứ để các tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp có nợ xấu tự xử lý thì thời gian kéo dài, số lượng doanh nghiệp không có vốn sản xuất kinh doanh phải dừng hoạt động, thậm chí phá sản sẽ gia tăng Điều này

sẽ đe dọa đến sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính quốc gia nói riêng và của nền kinh tế nói chung Do vậy, ở bất kỳ quốc gia nào cũng vậy, khi nợ xấu đủ lớn đe dọa sự an toàn hệ thống ngân hàng và ổn định kinh tế vĩ mô thì đòi hỏi Chính phủ cũng như các tổ chức tín dụng lập tức phải can thiệp xử lý nợ xấu, kể cả sử dụng nguồn ngân sách hoặc vốn vay từ nội lực hay bên ngoài

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là ngân hàng thương mại hàng đầu, giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong phát triển kinh tế ở Việt Nam, đặc biệt là đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn Thời gian qua, hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng

kể Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận thì hoạt động kinh doanh của

Trang 11

NHNo&PTNT Việt Nam cũng còn những hạn chế cần khắc phục, trong đó tỷ lệ nợ xấu ở mức cao, công tác quản lý nợ xấu còn nhiều bất cập như việc nhận diện, phân loại, ngăn ngừa nợ xấu chưa chính xác, kịp thời, xử lý nợ xấu chưa dứt điểm, hiệu quả thấp, thiếu sự phối hợp chặt chẽ trong các khâu quản lý nợ xấu Đây là vấn đề nan giải, đòi hỏi cần có sự quan tâm của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu trong hoạt động quản trị ngân hàng

Chính vì lý do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý nợ xấu trong hoạt động

tín dụng của ngân hàng thương mại nói chung và NHNo&PTNT Việt Nam nói riêng

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Về nội dung: Công tác quản lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của

NHNo&PTNT Việt Nam

- Về không gian: Luận án tập trung đánh giá thực trạng về quản lý nợ xấu

trong hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT Việt Nam Đồng thời, các giải pháp nhằm quản lý nợ xấu được tiếp cận ở góc độ quản lý của NHNo&PTNT Việt Nam

- Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ 2010-2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, trong quá trình thực hiện luận án, tác giả

đã sử dụng các phương pháp sau:

Trang 12

Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp hệ thống: Việc nghiên cứu công tác quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam

được thực hiện một cách đồng bộ gắn với hoàn cảnh, điều kiện và các giai đoạn cụ thể Các nội dung của quản lý nợ xấu đối với NHNo&PTNT Việt Nam được xem xét trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau cả về không gian và thời gian

Phương pháp thống kê: Tác giả sử dụng số liệu thống kê thích hợp để phục vụ

cho việc phân tích thực trạng công tác quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam

Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở phân tích từng nội dung cụ thể,

tác giả đưa ra những đánh giá chung về thực trạng quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam

Phương pháp so sánh, đối chiếu: Quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt

Nam được xem xét trên cơ sở có sự so sánh đối chiếu giữa các giai đoạn, cũng như so sánh với thực trạng quản lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại trong nước và trên thế giới

5 Các nguồn số liệu

- Các nguồn tài liệu thứ cấp bao gồm: Các số liệu thống kê, các văn bản do các

cơ quan Chính phủ, NHNN, NHNo&PTNT Việt Nam hoặc các tổ chức khác công bố

Các công trình nghiên cứu, luận án, các ấn phẩm xuất bản, các bài báo có liên quan đến

đề tài Thu thập và hệ thống các tài liệu của các tác giả ngoài nước

- Các số liệu và tư liệu sơ cấp: Các số liệu thu thập trên các nguồn có tính chính xác, có sự đối chiếu, có tính đầy đủ, kịp thời hoàn toàn phù hợp với đề tài nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở sưu tầm, tổng hợp, luận án đã hệ thống hoá và

làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nợ xấu và quản lý nợ xấu của ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, luận án cũng đã sưu tầm kinh nghiệm về quản lý nợ xấu của một số NHTM ở một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra những kinh nghiệm

có thể tham khảo, vận dụng cho công tác quản lý nợ xấu của NHTM nói chung và NHNo&PTNT Việt Nam nói riêng

Ý nghĩa thực tiễn: Luận án đã tổng hợp và phân tích một cách hệ thống về thực

trạng quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam trong giai đoạn 2010- 2014 Trên cơ

sở phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế, luận án cũng đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam Kết

Trang 13

hợp với kinh nghiệm quản lý nợ xấu của các NHTM ở một số quốc gia trên thế giới, luận án đã đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm góp phần tăng cường quản lý nợ xấu tại NHNo&PTNT Việt Nam trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận án gồm 4 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nợ xấu và quản lý nợ xấu của Ngân

hàng Thương mại

Chương 3: Thực trạng nợ xấu và quản lý nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn Việt Nam

Chương 4: Giải pháp quản lý nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn Việt Nam trong thời gian tới

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.1.1 Các nghiên cứu về rủi ro tín dụng và rủi ro ngân hàng thương mại

- Luận án tiến sỹ với đề tài: “Một số vấn đề rủi ro ngân hàng trong điều kiện

nền kinh tế thị trường” [29] của Nguyễn Thị Phương Lan, trường Đại học Kinh tế

Quốc dân, năm 1995

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng các mô hình toán để lượng hóa rủi ro tín dụng ngân hàng khi nền kinh tế mới chuyển sang kinh tế thị trường, môi trường pháp lý, môi trường tín dụng còn nhiều rủi ro, quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại còn nhiều hạn chế Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài là rủi ro ngân hàng Mặt khác thời kỳ nghiên cứu từ năm trước đó nên các giải pháp đến thời điểm này không còn phù hợp

- Luận án tiến sỹ với đề tài: “Những giải pháp chủ yếu hạn chế rủi ro tín dụng

ngân hàng thương mại giai đoạn hiện nay” [60] của Nguyễn Hữu Thủy, trường Đại

học Kinh tế Quốc dân, năm 1996

Công trình nghiên cứu nói trên tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại giai đoạn đầu thực hiện công cuộc đổi mới hoạt động ngân hàng, thực hiện hai Pháp lệnh ngân hàng, mở rộng cho vay kinh

tế ngoài quốc doanh Thời điểm này các ngân hàng thương mại quốc doanh đang chiếm 70% thị phần hoạt động tín dụng toàn ngành ngân hàng, nên thực trạng và giải pháp được luận án đề cập chủ yếu đối với ngân hàng thương mại quốc doanh Các giải pháp mà luận án đề cập không còn phù hợp với thực tế trong giai đoạn hiện nay

- Luận văn thạc sỹ với đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương

mại cổ phần Tiên Phong” [12] Trần Việt Hà tại Học viện Tài chính, năm 2011

Công trình nghiên cứu nói trên tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Tiên Phong giai đoạn 2008 - 2010 và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Tiên Phong Tuy nhiên, trong phạm vi một đề tài luận văn thạc sỹ nên các giải pháp đề xuất còn ở mức hạn chế nhất định, chưa luận giải rõ các luận cứ khoa học của các giải pháp Hơn nữa,

Trang 15

với thời kỳ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu hoàn toàn độc lập nên vấn đề nợ xấu chỉ

là một nội dung rất nhỏ được đề cập trong bản luận văn

- Luận văn thạc sỹ kinh tế với đề tài: “Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai" [17] của Nguyễn Thị

Thu Hiền tại Đại học Đà Nẵng, năm 2012

Công trình nghiên cứu nói trên tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài hẹp, chỉ trong phạm vi một tỉnh nên các giải pháp xử lý phần nhiều còn mang tính xử lý tình huống, hơn nữa các khoản nợ xấu không có ảnh hưởng nhiều đến các loại hình doanh nghiệp, cá nhân và không phức tạp như vấn đề xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại trên phạm vi cả nước

- Luận văn thạc sỹ với đề tài: “Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân

hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Đông Đô” [67]

của Tống Xuân Trường tại Học viện Tài chính, năm 2013

Công trình nghiên cứu nói trên tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển - chi nhánh Đông Đô trong giai đoạn 2010 - 2012 và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh này Tuy nhiên, trong phạm vi một đề tài luận văn thạc sỹ nên các giải pháp đề xuất còn ở mức hạn chế nhất định, chưa luận giải rõ các luận cứ khoa học của các giải pháp Hơn nữa, với thời kỳ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu nhỏ (chỉ phù hợp với một chi nhánh) nên vấn đề nợ xấu chỉ là một nội dung rất nhỏ được đề cập trong luận văn

- Luận án tiến sỹ với đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” [3] của Nguyễn Tuấn Anh tại trường Đại

học Kinh tế Quốc dân, năm 2012

Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng của NHNo&PTNT Việt Nam Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận án là toàn bộ hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong đó quản lý nợ xấu là một khía cạnh rất nhỏ được đề cập trong nội dung luận án Hơn nữa

Trang 16

thời kỳ nghiên cứu của luận án trong giai đoạn 2006 - 2012 nên có những giải pháp không hoàn toàn phù hợp tại thời điểm hiện nay

- Luận án tiến sỹ với đề tài “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Thương mại Việt Nam”

[43] của Nguyễn Thị Hoài Phương tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2012

Công trình nghiên cứu đã đề cập đến quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam trong những năm gần đây Tuy nhiên, phạm vi đề tài nghiên cứu khá rộng, liên quan đến tất cả các ngân hàng thương mại Vì vậy, số liệu và cách đánh giá mang tính tổng quát chung đối với hệ thống ngân hàng thương mại, không đi sâu phân tích quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam

- Luận án tiến sỹ với đề tài “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương

mại cổ phần công thương Việt Nam” [70] của Nguyễn Đức Tú tại Trường Đại học

Kinh tế Quốc dân, năm 2012

Công trình nghiên cứu đề cập đến quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM Cổ phần Công thương Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng trong thời gian tới Tuy nhiên, luận án không đề cập sâu vào vấn đề quản lý nợ xấu và các số liệu, phân tích phù hợp với NHTM Cổ phần Công thương Việt Nam nên không hoàn toàn phù hợp với NHNo&PTNT Việt Nam

- Các kỷ yếu hội thảo khoa học:

+ Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Quản lý nợ xấu tại Việt Nam, kinh nghiệm

quốc tế và các chiến lược tối đa hoá lợi nhuận cho ngân hàng” do Hiệp hội ngân

hàng Việt Nam tổ chức, năm 2011

+ Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Quản lý nợ xấu trong tái cấu trúc doanh

nghiệp nhà nước” do Bộ Tài chính phối hợp với cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản

tổ chức, năm 2012

+ Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Cơ chế xử lý nợ: Xu hướng thế giới và thực

tiễn Việt Nam” doViện Chiến lược và chính sách tài chính phối hợp với Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng (DATC) - thuộc Bộ Tài chính tổ chức, năm 2012

+ Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Quản trị rủi ro 2014” do Trung tâm thông tin

tín dụng Quốc gia (CICB) và Tập đoàn dữ liệu quốc tế Việt Nam (IDG) đồng tổ chức, năm 2014

+ Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Nợ xấu, tình trạng và triển vọng pháp lý” do

Hội luật gia ngành thương mại quốc tế (AJAI) tổ chức, năm 2015

Trang 17

Các công trình nghiên cứu nói trên chủ yếu tập trung vào nghiên cứu một khía cạnh nhỏ trong quản lý nợ xấu ở Việt Nam hoặc ở các nước như: quản lý nợ xấu trong tái cấu trúc DNNN; cơ chế xử lý nợ xấu; khía cạnh pháp lý trong xử lý nợ xấu… không gắn với các ngân hàng thương mại cụ thể

- Chuyên đề nghiên cứu của Trung tâm thông tin dữ liệu (CIEM), Giải quyết

nợ xấu - vấn đề mấu chốt trong tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, Hà Nội, 2013

Công trình nghiên cứu trên tập trung vào nghiên cứu một số vấn đề lý luận về

xử lý nợ xấu, kinh nghiệm xử lý nợ xấu ở một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, phân tích thực trạng diễn biến nợ xấu ở Việt Nam, từ đó gợi ý các vấn đề về chính sách cho xử lý nợ xấu của các NHTM ở Việt Nam Do công trình nghiên cứu vào xử lý nợ xấu chứ không phải quản lý nợ xấu, hơn nữa nghiên cứu trong bối cảnh số liệu chung của tất cả các TCTD ở Việt Nam vì vậy các gợi ý chỉ mang tính chất định hướng cho các TCTD, không có tính cụ thể đối với NHNo&PTNT Việt Nam

1.1.2 Các nghiên cứu về hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

- Luận án tiến sỹ với đề tài: “Vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện

đại vào hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [68] của Âu Văn Trường, trường Đại học Kinh

tế Quốc dân, năm 1999

Luận án thiên về nghiên cứu công nghệ tin học được vận dụng trong quản lý ngân hàng nói chung tại NHNo&PTNT Việt Nam Nội dung được đề cập và nghiên cứu khi trình độ quản lý và công nghệ ngân hàng ở nước ta còn lạc hậu, hoạt động tín dụng bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và một số vụ án kinh tế lớn, hoạt động tín dụng hộ nghèo chưa tách khỏi NHNo&PTNT Việt Nam Qua nghiên cứu công trình cho thấy nội dung thời điểm đó không đề cập đến quản trị rủi ro tín dụng phù hợp với thông lệ quốc tế

- Luận án tiến sỹ với đề tài: “Giải pháp huy động và sử dụng vốn ngoại tệ của

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” [61] của Nguyễn Mạnh

Tiến, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2002

Luận án thiên về đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp trong huy động

và sử dụng vốn ngoại tệ của NHNo&PTNT Việt Nam Vì vậy toàn bộ nội dung về quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam không được đề cập

Trang 18

- Luận án tiến sỹ với đề tài: “Giải pháp phát triển và hoàn thiện hoạt động

thuê mua ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” [66] của

Nguyễn Quốc Trung, Học viện Ngân hàng, năm 2004

Nội dung luận án tập trung nghiên cứu về phát triển và hoàn thiện hoạt động thuê mua, đây là hoạt động NHTM thực hiện hoặc công ty độc lập tiến hành Quản trị rủi ro hoạt động thuê mua được luận án đề cập không nhiều và có tính đặc thù so với quản lý nợ xấu nói chung, tập trung tại hai Công ty cho thuê tài chính của NHNo&PTNT Việt Nam là Công ty Cho thuê tài chính 1 và Công ty Cho thuê tài chính 2 Phạm vi thời gian nghiên cứu cũng trong giai đoạn đầu cơ cấu lại hai hệ thống ngân hàng thương mại theo đề án của Chính phủ, song trong điều kiện mở của thị trường tài chính, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thực tế đã thay đổi cơ bản cả về quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro trong hoạt động thuê mua nói riêng

- Luận án tiến sỹ với đề tài: “Giải pháp hoàn thiện hoạt động của Ngân hàng

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” [50] của Đoàn Văn Thắng, Trường Đại học Kinh tế

Quốc dân, năm 2003

Công trình nghiên cứu đề cập khá rộng các hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Việt Nam giai đoạn cơ cấu lại theo Đề án của Chính phủ sau ảnh hưởng khủng hoảng tài chính khu vực Luận án chỉ đề cập sơ qua về quản trị rủi ro tín dụng, không đi sâu vào lĩnh vực rủi ro tín dụng và nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam và không có tính thời sự trong giai đoạn hiện nay

- Luận án tiến sỹ với đề tài: “Chiến lược phát triển của Ngân hàng Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” [71] của Phạm

Minh Tú, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2009

Luận án đề cập khá rộng đến chiến lược phát triển của NHNo&PTNT Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Luận án chỉ đề cập sơ qua về quản trị rủi ro tín dụng, không đi sâu vào lĩnh vực rủi ro tín dụng và nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam và không có tính thời sự trong giai đoạn hiện nay

- Luận văn thạc sỹ với đề tài: “Phát triển bền vững ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn Việt Nam” [44] của Nguyễn Thanh Phương tại Trường Đại

học Kinh tế Quốc dân, năm 2011

Trang 19

Công trình nghiên cứu nói trên tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng phát triển theo hướng bền vững của NHNo&PTNT Việt Nam trong giai đoạn 2008

- 2011 trên các khía cạnh về độ tiếp cận của ngân hàng, về tính an toàn của ngân hàng và về khả năng sinh lời của ngân hàng Tuy nhiên, trên cơ sở thực trạng nói trên, luận văn tập trung vào các giải pháp nhằm phát triển NHNo&PTNT Việt Nam theo hướng bền vững

1.2 KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU

Như vậy, tác động tiêu cực của nợ xấu là gì, thực trạng quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam và giải pháp để tăng cường quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam như thế nào? Đây là những câu hỏi nghiên cứu và câu hỏi quản lý cần phải có lời giải đáp

Xuất phát từ tổng quan nghiên cứu cũng như xuất phát từ câu hỏi quản lý, câu hỏi nghiên cứu nêu trên, tác giả xác định hướng tiếp cận của đề tài là: Để quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam thông qua các giải pháp nhận biết nợ xấu, giải pháp

đo lường, đánh giá nợ xấu, giải pháp ph òng ngừa, kiểm soát nợ xấu, các giải pháp xử

lý nợ xấu kể cả từ phía cơ quan Nhà nước, Hiệp hội ngân hàng, NHNo&PTNT Việt Nam và bản thân các doanh nghiệp

1.2.1 Nghiên cứu sẽ tìm ra điều gì

Nghiên cứu sẽ xác định vấn đề quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam trên cơ sở các vấn đề lý luận như nợ xấu là gì, nguyên nhân của nợ xấu, tác động tiêu cực của nợ xấu, các chỉ tiêu đo lường nợ xấu Từ đó đưa ra những vấn đề căn bản trong quản lý nợ xấu đối với NHNo&PTNT Việt Nam trong thời gian tới như: Qui trình xử lý nợ xấu như thế nào? Việc bán nợ và xử lý tài sản đảm bảo ra sao? Trích lập và quản lý quỹ dự phòng rủi ro tín dụng tại ngân hàng thế nào có hiệu quả? Khung pháp lý cho hoạt động phòng ngừa và xử lý nợ xấu? Trình độ công nghệ thông tin và trình độ cán bộ, đạo đức kinh doanh của cán bộ ngân hàng? Các cơ quan Nhà nước sẽ làm gì để tạo điều kiện cho doanh nghiệp giải phóng hàng tồn kho, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, hạn chế nợ xấu…

1.2.2 Điều đó khác nghiên cứu khác ở đâu?

Giải pháp quản lý nợ xấu tại NHNo&PTNT Việt Nam trên cơ sở bám sát định hướng, quan điểm trong hoạt động cho vay cũng như quan điểm trong quản

Trang 20

lý nợ xấu của chính bản thân ngân hàng, xuất phát từ thực trạng quản lý nợ xấu từ

đó xác định giải pháp quản lý nợ xấu cho phù hợp với thực tế là cách tiếp cận chưa được nghiên cứu sâu, có hệ thống ở các công trình trước đây đã công bố

1.3 ĐIỂM YẾU VÀ ĐIỂM MẠNH CỦA NGHIÊN CỨU

Điểm yếu của nghiên cứu này là: Đây là vấn đề không mới ở Việt Nam

nhưng tương đối nhạy cảm trong xã hội, do vậy chưa có nhiều người nghiên cứu từ các tài liệu liên quan cho đến các văn bản pháp qui đề cập đến nội dung này còn hạn chế Do đó, ở cả giác độ lý luận và thực tiễn, vấn đề này đang cần đầu tư nghiên cứu

ở Việt Nam, cần có sự hệ thống hóa, đánh giá đầy đủ thực trạng về quản lý nợ xấu của các NHTM

Điểm mạnh của nghiên cứu là: Luận án sử dụng cách tiếp cận mới, với

nguồn số liệu cập nhật và chính xác cao, đầy đủ được thu thập từ nguồn đáng tin cậy, chất lượng Mặt khác quản lý nợ xấu đối với các NHTM Việt Nam hiện nay là vấn đề thời sự nóng bỏng, được sự quan tâm của các cấp, các ngành và tổ chức tín dụng… Vấn đề quan trọng là luận án cần có sự đánh giá sâu sắc, chi tiết về thực trạng quản lý nợ xấu của NHNo&PTNT Việt Nam, từ đó đề ra những giải pháp sát thực và phù hợp

1.4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA NGHIÊN CỨU 1.4.1 Về ý nghĩa khoa học

Thông qua việc sưu tầm, tổng hợp và phân tích, đánh giá từ các nguồn tài liệu liên quan sẽ luận giải và hệ thống NHTM

1.4.2 Về ý nghĩa thực tiễn

Đã nghiên cứu, đề xuất được các giải pháp quản lý nợ xấu tại NHNo&PTNT Việt Nam trong thời gian tới Cụ thể, đã đưa ra được các giải pháp như: Hoàn thiện việc nhận diện, đánh giá, phân loại nợ xấu; Hoàn thiện chiến lược và mô hình quản trị rủi ro tín dụng, tổ chức lại bộ máy quản trị rủi ro tín dụng; Nâng cao hiệu quả các biện pháp xử lý nợ xấu của ngân hàng; Nâng cao sức mạnh tài chính; Đổi mới công nghệ ngân hàng; Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ gắn với giáo dục đạo đức nghề nghiệp; Chú trọng tăng trưởng tín dụng bền vững và các giải pháp điều kiện và hỗ trợ Nhóm các giải pháp điều kiện hỗ trợ bao gồm nhóm giải pháp từ Chính phủ và Ngân hàng nhà nước

Trang 21

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ XẤU VÀ QUẢN LÝ NỢ XẤU

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1.1 Khái niệm và đặc trưng của ngân hàng thương mại

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp

Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện đại: Ngân hàng thương mại là các tổ

chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế

Ở Hoa Kỳ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp

các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính

Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường

xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà

họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính

Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà

nước xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và được phép sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và là phương tiện thanh toán”

Theo Khoản 2, Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng của Việt Nam năm 2010 có

nêu: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt

động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”

Trong đó, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”

Như vậy, NHTM là tổ chức tín dụng thực hiện chức năng cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn NHTM là cầu nối giữa các cá nhân và tổ

Trang 22

chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan hiếm Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó tạo nên lợi nhuận của NHTM Hoạt động của NHTM phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội

Qua những khái niệm trên, ta có thể rút ra một số điểm đặc trưng của NHTM như sau:

- NHTM là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của công chúng với trách nhiệm hoàn trả

- NHTM là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác

- NHTM kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, tín dụng - là loại hình hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nên luôn chịu sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý

Hiện nay, NHTM thực sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông tạo nên sự tăng trưởng kinh tế

Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa khái quát về NHTM như sau: “Ngân hàng

thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với các hoạt động chủ yếu là huy động vốn, cho vay, đầu tư và các hoạt động dịch vụ nhằm một trong các mục tiêu quan trọng là tối đa hoá lợi nhuận”

2.1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

2.1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là hoạt động sử dụng vốn của NHTM thông qua việc chuyển giao quyền sử dụng vốn cho các tổ chức và cá nhân để họ sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh, tiêu dùng trên nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ngân hàng và tổ chức, cá nhân đó Tín dụng được hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi giữa người đi vay và người cho vay Thực chất tín dụng là dựa trên cơ sở lòng tin, nghĩa là người cho vay tin tưởng vào người đi vay sẽ sử dụng vốn có hiệu quả

và hoàn trả đúng thời hạn cả vốn lẫn lãi

Có thể hiểu tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế Trong đó ngân hàng chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho

Trang 23

các chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn (người được cấp tín dụng) trong một khoảng thời gian xác định Hết thời hạn theo thỏa thuận, người được cấp tín dụng có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ngân hàng một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu

Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng (năm 2010), “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp

vụ cấp tín dụng khác”

Tín dụng của NHTM có một số đặc trưng chủ yếu sau:

Một là, chủ thể tham gia giao dịch tín dụng gồm: người đi vay (tổ chức tín

dụng) và người cho vay (doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân), các tổ chức

Hai là, trong hoạt động cho vay, người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn

trả vào một ngày xác định mà hai bên đã thoả thuận; người cho vay chỉ chuyển giao tiền cho người đi vay sử dụng khi có đủ cơ sở tin tưởng rằng người vay sẽ trả đúng hạn, tiền mà ngân hàng cho vay thường không thuộc sở hữu của ngân hàng

Ba là, giá trị khoản tiền được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị ban đầu, hay

nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc

Bốn là, việc người đi vay hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi cho người cho vay khi

đến thời hạn thanh toán là vô điều kiện

2.1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng

- Nếu căn cứ vào thời hạn tín dụng, có 3 loại:

+ Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình tín dụng có thời hạn dưới 1 năm và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp, các tổ chức và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân

+ Tín dụng trung hạn: là loại hình tín dụng chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có qui mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh, thời hạn vay từ 1-5 năm (hoặc 1- 7 năm tùy theo quan niệm từng nước)

+ Tín dụng dài hạn: là loại hình tín dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng các công trình có qui mô lớn, xây dựng các nhà máy, xí nghiệp mới có thời hạn vay trên 5 năm (hoặc trên 7 năm)

Trang 24

- Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:

+ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại hình tín dụng cấp cho các chủ thể kinh tế để tiến hành các hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hoá

+ Tín dụng tiêu dùng: Là loại hình tín dụng cấp cho các cá nhân, hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt như mua sắm nhà cửa, xe, các hàng hoá tiêu dùng khác

- Căn cứ vào bảo đảm tín dụng

+ Tín dụng không bảo đảm bằng tài sản: Là loại hình tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cấp tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng

+ Tín dụng bảo đảm bằng tài sản: Là loại hình tín dụng đòi hỏi người được cấp tín dụng phải có tài sản có giá trị để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ

Ngoài ra, tùy vào mục tiêu nghiên cứu và quản lý mà có thể sử dụng các tiêu thức khác để phân loại như: căn cứ vào đồng tiền cấp tín dụng, căn cứ vào phương thức hoàn trả

Trong kinh doanh ngân hàng, rủi ro là điều khó tránh khỏi Trong trường hợp, việc cho vay vì những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau dẫn đến việc khách hàng không trả nợ được một phần hay toàn bộ khoản vay (gồm gốc và lãi) trong một thời gian dài, khoản vay đó có thể bị xếp vào thành khoản nợ xấu Một khi nợ xấu xảy ra thì sẽ kéo theo nhiều hệ lụy về mặt tài chính đối với cả người cho vay và đi vay

và cần phải có những cơ chế, biện pháp đặc thù xử lý các khoản nợ xấu này Phần tiếp theo sẽ đề cập đến khái niệm và nội hàm của phạm trù nợ xấu

2.2 NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.2.1 Khái niệm nợ xấu

Nhóm chuyên gia tư vấn (AEG) của Liên Hợp quốc cho rằng định nghĩa nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho

các ngân hàng (AEG, 2004) AEG thống nhất định nghĩa “Về cơ bản một khoản nợ

được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã thanh toán dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” Nói cách

Trang 25

khác, nợ xấu được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày; và (ii) nghi ngờ về khả năng trả nợ

Thực tế, khái niệm nợ xấu không hoàn toàn đồng nhất ở các quốc gia khác nhau Hiện nay, ngoài quan niệm nợ xấu của các quốc gia, một số tổ chức quốc tế cũng

đã đề cập đến khái niệm này Có thể kể đến một số trường hợp điển hình:

Quan niệm về nợ xấu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) được đề cập trong tài liệu

“Hướng dẫn tính các chỉ số lành mạnh tài chính”: “Nợ xấu là những khoản nợ có lãi

hoặc /và gốc quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày, các khoản lãi quá hạn 90 ngày hoặc trên 90 ngày được vốn hóa, tái tài trợ hoặc hoãn trả nợ theo thỏa thuận, hoặc quá hạn dưới 90 ngày nhưng có các dấu hiệu khác cho thấy người vay không có khả năng thanh toán đầy đủ về gốc và lãi”

Uỷ ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa cụ thể về

nợ xấu Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi ví dụ giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ) (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày BCBS đặc biệt nhấn mạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tương lai” khi đánh giá một khoản vay Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ Tuy nhiên, một vài quốc gia báo cáo nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn 31 ngày quá hạn, hoặc báo cáo các khoản nợ quá hạn 61 ngày được tính vào danh mục nợ xấu Chính vì mốc thời gian quá hạn 90 ngày là một tiêu chí khá phổ biến nhưng không phải thống nhất hoàn toàn, việc đánh giá và so sánh số liệu nợ xấu giữa các quốc gia cần phải hết sức thận trọng và được kiểm tra kỹ lưỡng các qui định cụ thể định tính và định lượng ở từng quốc gia

Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 (đoạn 58 - 70) đưa ra khái niệm nợ giảm giá trị (impaired loan): là những khoản nợ được dự báo khả năng thu hồi thấp hơn số tiền

đã cho vay Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống vì những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra Uỷ ban Basel cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể Giá trị tổn thất gây ra sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập

Trang 26

của ngân hàng Như vậy, lãi suất của các khoản vay sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được Về cơ bản, IAS 39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn Vì vậy, nó vẫn đang được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế chỉnh sửa lại trong IFRS

Khái niệm nợ xấu theo quan điểm của IMF không nhất thiết đồng nhất với khái niệm nợ bị giảm giá trị trong chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 và Uỷ Ban Basel về Giám sát ngân hàng Khi khoản vay bị giảm giá trị, nó sẽ được đưa vào diện không được cộng dồn, cụ thể: nguồn thu nhập từ lãi cho vay của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn trên báo cáo thu nhập của ngân hàng Điểm cần lưu ý là có những tình huống kinh tế có thể dẫn tới việc khoản vay có thể được xếp vào tình trạng không được cộng dồn, ví dụ như khi suy thoái kinh tế hoặc khi công nghệ thông tin có sự thay đổi mạnh Thêm vào đó, trong định nghĩa của IMF, phần thứ hai của nợ xấu sẽ không được tính là nợ tốt kể cả khi thay thế nó bằng một khoản nợ mới

Viện Tài chính Quốc tế (Institute of International Finance) đề xuất phân loại nợ thành 5 nhóm bao gồm:

Nợ đủ tiêu chuẩn(Standard): là nợ có gốc và lãi trong hạn, không có dấu hiệu

khó khăn trong thanh toán nợ và dự báo có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn, đầy đủ theo cam kết

Nợ cần chú ý (Watch): Là nợ trong tình trạng nếu không có các biện pháp xử lý

có thể tăng nguy cơ không thanh toán đầy đủ gốc và lãi Vì vậy đây là khoản nợ cần được chú ý hơn mức bình thường

Nợ dưới tiêu chuẩn (Substandard): là khoản nợ nghi ngờ về khả năng thanh toán

đầy đủ gốc, lãi theo cam kết, hoặc gốc hoặc/ và lãi quá hạn trên 90 ngày, hoặc tài sản đảm bảo giảm giá trị dẫn đến nguy cơ giảm giá trị khoản vay nếu không xử lý kịp thời

Nợ nghi ngờ (Doubtful): là nợ được xác định không thể thu hồi đầy đủ gốc, lãi

trong điều kiện hiện hành hoặc lãi hoặc /và gốc quá hạn trên 180 ngày Nợ nhóm này

đã bị giảm giá trị nhưng chưa mất vốn hoàn toàn vì còn có những yếu tố được xác định

có thể tác động cải thiện chất lượng nợ

Trang 27

Nợ mất vốn (Loss): là nợ được đánh giá không có khả năng thu hồi hoặc gốc

hoặc/và lãi quá hạn trên 1 năm

Nợ xấu bao gồm nợ 3 nhóm cuối

Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu được đề cập trong Điều 10, điều 11, Thông tư

số 02/2013/ TT- NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN Việt Nam Quy định việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng

để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (từ đây gọi tắt là Thông tư 02) Cụ thể:

- “Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 bao gồm nợ dưới tiêu

chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn qui định tại Điều 10 của Thông tư 02 Tại Điều 10, các tổ chức tín dụng được yêu cầu phân loại nợ theo phương pháp định lượng, trong đó các khoản nợ xấu nhóm 3, nhóm 4, và nhóm 5 là các khoản nợ xấu:

- Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu; (iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà

tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;

+ Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính

tổ chức tín dụng nhận vốn góp;

+ Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;

+ Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật;

+ Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;

+ Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

Trang 28

+ Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách

dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

(v) Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra

- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;(iv) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày

có quyết định thu hồi; (v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;(vi) Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này

- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn trên 360 ngày; (ii)

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; (iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; (v) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (vi) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày

mà vẫn chưa thu hồi được; (vii) Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được NHNN công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản; (viii) Nợ được phân loại vào nhóm 5 bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu; các khoản

nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

Tại Điều 11, các khoản nợ được phân loại theo phương pháp định tính và nợ xấu thuộc nhóm 3, 4, 5 bao gồm các khoản nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao

Trang 29

Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn bao gồm nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi gốc và lãi đến khi đến hạn; nợ nghi ngờ (nhóm 4) bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất cao; và

nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5), bao gồm nợ được đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn

Việc NHNN ban hành Thông tư 02 nhằm thay thế cho Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 Quyết định về việc ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (từ đây gọi là Quyết định 493) và một số văn bản khác Thông tư 02 có thể khiến các TCTD phải công bố tỷ lệ nợ xấu cao hơn trước đây làm căn cứ cho việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhiều hơn Bởi văn bản này có một

số tiêu chí khắt khe hơn trong việc phân loại nợ:

Thứ nhất, các khoản nợ bị gia hạn nợ lần đầu sẽ được đưa vào nợ nhóm 3 thuộc

nhóm nợ xấu, thay vì nếu gia hạn nợ trong thời hạn vẫn được xếp vào nhóm 2 theo Quyết định 493

Thứ hai, nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi

đầy đủ theo hợp đồng tín dụng cũng được đưa vào nhóm nợ xấu

Thứ ba, ngoài các tiêu chí để phân loại nợ từ đặc tính khả năng trả nợ của khách

hàng, điểm mới được đánh giá khá khắc nghiệt là xem xét hoạt động cấp tín dụng cho những đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng hoặc cấp tín dụng có điều kiện theo Luật các TCTD sửa đổi năm 2010 Nếu như trước đây trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM, việc cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng bị hạn chế tín dụng diễn ra rất thường xuyên thì nay được đưa vào nhóm 3 “nợ dưới tiêu chuẩn” trong nhóm chỉ tiêu nợ xấu

Thứ tư, hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu của các TCTD hoặc các công ty con

của TCTD này để góp vốn vào TCTD khác trong hệ thống các NHTM cũng là những khoản vay được liệt kê vào nhóm nợ xấu Qui định này xếp các khoản tín dụng theo kiểu đầu tư chéo lẫn nhau sẽ bị hạn chế khi liệt kê vào nhóm nợ xấu mà qui định trước đây không đề cập đến

Trang 30

Thứ năm, nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết mà TCTD đang nắm

quyền kiểm soát không vượt quá tỷ lệ qui định

Như vậy, những qui định chi tiết từ Thông tư 02 đã đưa việc phân loại nợ xấu cao hơn so với qui định trước đây, không chỉ là thời gian chậm thanh toán mà là mối quan hệ cấp tín dụng giữa TCTD với khách hàng và tài sản cấp tín dụng được đảm bảo bởi cổ phiếu của TCTD Bên cạnh đó, những khoản cam kết ngoại bảng cân đối

kế toán như bảo lãnh thanh toán của các TCTD cũng được xếp vào nhóm nợ xấu

Như vậy, nợ xấu thường được xác định căn cứ vào hai yếu tố chính là thời

gian quá hạn hoặc khả năng trả nợ của khách hàng Có thể hiểu một cách khái quát nợ

xấu là những khoản nợ được đánh giá không có khả năng thanh toán đầy đủ, đúng hạn theo cam kết

2.2.2 Tác động tiêu cực của nợ xấu

2.2.2.1 Đối với ngân hàng thương mại

Thứ nhất, nợ xấu sẽ làm tăng chi phí hoạt động của các ngân hàng do vậy lợi

nhuận ngân hàng giảm Chi phí hoạt động của ngân hàng tăng bao gồm kể cả chi phí

dự phòng rủi ro và chi phí hoạt động cho việc thu hồi nợ xấu Vấn đề nợ xấu đã buộc các ngân hàng sử dụng một nguồn lực đáng kể cho việc thu hồi và xử lý nợ xấu, như trích lập dự phòng, xiết nợ, thanh lý tài sản thế chấp thay vì dùng những nguồn nhân lực và tài lực để cung cấp tín dụng và phục vụ thị trường Những tài sản hiện hữu đóng vai trò là những tài sản đảm bảo tại ngân hàng ngày càng bị hư hỏng làm giá trị sử dụng lẫn giá trị của tài sản sẽ bị mất dần theo thời gian Bên cạnh đó, việc duy trì, bảo dưỡng, quản lý, giám sát làm cho NHTM bỏ ra một khoản tiền không nhỏ Do các tài sản thế chấp có tính thanh khoản không cao, nên ảnh hưởng đến lợi nhuận bị suy giảm, cùng lúc chất lượng tài sản bị suy giảm và khoản trích lập dự phòng gia tăng Từ đó, dẫn đến chi phí sử dụng vốn vay ngày càng tăng Tỷ lệ nợ xấu gia tăng sẽ làm suy giảm khả năng sinh lợi của ngân hàng

Thứ hai, nợ xấu sẽ không khai thông được nguồn vốn để cho vay Với tình trạng

nợ xấu gia tăng, không những các ngân hàng tìm mọi cách để không cho các món nợ tốt (nhóm 1) nhảy nhóm và trở thành nợ quá hạn (nhóm 2) hay trở thành nợ xấu (nhóm

3 - 5), mà các ngân hàng đều rất cẩn thận cho vay mới do tình trạng tài chính của doanh nghiệp suy giảm, thiếu hay không còn thế chấp và tài sản đảm bảo, hàng tồn kho tăng cao làm gián đoạn vòng quay vốn và tài sản lưu động, khó chứng minh được nguồn hoàn trả cũng như tính khả thi của nhiều dự án

Trang 31

Thứ ba, nợ xấu cao có thể đẩy ngân hàng rơi vào tình trạng mất vốn, mất thanh

khoản và mất lòng tin của người dân Khi nợ xấu gia tăng thì đồng nghĩa với nguồn vốn “đầu tư” sẽ bị đóng băng, không có khả năng thu hồi Nguồn vốn cho vay không

có khả năng thu hồi được thì khả năng thanh toán giảm Khủng hoảng trong thanh toán

là nguyên nhân dễ dẫn đến sự phá sản của các ngân hàng

Hơn nữa, nợ xấu làm gián đoạn vòng quay vốn của các ngân hàng: những món

nợ khó đòi, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn ngăn chặn dòng tiền trở lại với ngân hàng và có thể nhanh chóng tạo tình trạng mất thanh khoản nếu số nợ xấu tăng cao

Thứ tư, nợ xấu sẽ làm suy giảm năng lực tài chính của NHTM, vì thế ảnh hưởng

đến sự ổn định của khu vực tài chính Do tỷ lệ nợ xấu gia tăng, lợi nhuận của NHTM vì thế sẽ bị suy giảm Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực tài chính và khả năng tồn tại lành mạnh của NHTM, đặc biệt đối với các NHTM nhỏ sẽ rất dễ bị phá sản Lợi nhuận không đạt với những khoản nợ khó đòi trong nhiều quí và chính NHTM cũng trở thành những con nợ với những khoản nợ khổng lồ và buộc phải đi đến kết cục

bị phá sản hay bị thôn tính sáp nhập

Thứ năm, nợ xấu khiến uy tín của ngân hàng giảm sút Khi nợ xấu phát sinh sẽ

khiến uy tín của các ngân hàng thương mại giảm sút đối với khách hàng như việc chậm trễ trong thanh toán, khả năng thanh toán giảm sút , đối với cổ đông như chậm trễ trong thanh toán cổ tức, cổ tức giảm do thu nhập giảm, hoạt động kinh doanh và chất lượng tín dụng đi xuống và đối với các đối tác khác như như chậm trễ trong giải ngân các khoản cho vay hợp vốn, các khoản đầu tư, chứng khoán Trong lĩnh vực ngân hàng, uy tín là vấn đề quan trọng quyết định đến sự sống còn, tồn tại và phát triển của một ngân hàng Chính vì vậy, nợ xấu đã ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn bộ hệ thốngngân hàng

2.2.2.2 Đối với doanh nghiệp

Doanh nghiệp khó tiếp cận được nguồn vốn vay Do nợ xấu gia tăng gây nên chi phí hoạt động của ngân hàng tăng cao Vì vậy, nhiều ngân hàng có nợ xấu cao khó có thể giảm lãi suất cho vay vì họ muốn giữ những món nợ cũ với lãi suất cao và những món nợ mới cũng với lãi suất cao để bù trừ cho chi phí và thiết hại phát sinh từ những món nợ xấu hiện đang nằm trong sổ sách Điều này lý giải phần nào hiện tượng các ngân hàng vẫn giữ lãi suất cao khi lãi suất đầu vào đã thuyên giảm đáng kể, thậm chí với các hợp đồng tín dụng cho phép lãi suất được điều chỉnh bất cứ ở thời điểm nào

Trang 32

Hơn nữa, kinh nghiệm nợ xấu đã buộc các ngân hàng áp dụng chặt chẽ hơn những chỉ tiêu của chính sách cho vay và siết chặt các điều kiện cho vay mà trước kia, trong một nền kinh tế tăng trưởng nóng, các ngân hàng đã nới lỏng quá mức Đặc biệt trong lĩnh vực cho vay BĐS và chứng khoán Như vậy, doanh nghiệp không có vốn để

để tiếp tục hay mở rộng sản xuất, kinh doanh và kéo theo hệ luỵ của xã hội Nền kinh tế dẫn rơi vào tình trạng bị động, khó có khả năng cạnh tranh lẫn tồn tại

2.2.2.3 Đối với nền kinh tế

NHTM là doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế Do đó, nợ xấu của ngân hàng thương mại ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế Tác động của nợ xấu đối với nền kinh tế là tác động gián tiếp thông qua mối quan hệ hữu cơ: ngân hàng - khách hàng - nền kinh tế Qua đó, nợ xấu ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Khả năng khai thác, đáp ứng vốn

và khả năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế sẽ bị hạn chế khi nợ xấu phát sinh Nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ cả nền kinh tế, tác động tới sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế do vốn ứ đọng, sản xuất, kinh doanh bị đình trệ

2.3 QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.3.1 Quan niệm về quản lý nợ xấu

Hoạt động tín dụng của NHTM luôn chứa đựng những rủi ro và khả năng phát sinh nợ xấu là một biểu hiện rõ nhất của rủi ro tín dụng Nợ xấu phát sinh sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh tế Vì thế, việc xác định mức rủi ro ngân hàng có thể chấp nhận, từ đó có những biện pháp ngăn ngừa, kiểm soát rủi ro và xử lý tổn thất là việc làm cần thiết và mang lại hiệu quả trong hoạt động tín dụng ngân hàng

Khái niệm “quản lý” thường được hiểu là hệ thống các hoạt động dựa trên

những nguyên tắc nhất định nhằm đạt mục tiêu quản lý đã đề ra Theo cách tiếp cận này, quản lý nợ xấu là tổng hợp các hoạt động có hệ thống, dựa trên những nguyên tắc nhất định để nhận diện, đo lường, ngăn ngừa và xử lý nợ xấu nhằm đảm bảo hoạt động tín dụng của NHTM an toàn và hiệu quả

Theo đó, mục tiêu của quản lý nợ xấu là hướng vào việc đảm bảo tính an toàn, hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM Quản lý nợ xấu phải hướng vào mục tiêu kiểm soát nợ xấu ở mức độ ngân

Trang 33

hàng có thể chấp nhận trên cơ sở cân đối giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng trong từng giai đoạn cụ thể Hay nói cách khác, quản lý nợ xấu phải luôn nhằm vào việc kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ở mức hợp lý để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của mỗi NHTM bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp và các công cụ quản lý của mỗi ngân hàng

2.3.2 Nội dung quản lý nợ xấu

Quản lý nợ xấu bao gồm 4 nội dung cơ bản:

2.3.2.1 Nhận diện nợ xấu

Nhận diện nợ xấu là việc phát hiện, xác định nợ xấu trên cơ sở các tiêu chí để nhận diện nợ xấu Việc xác định đúng về con số và bản chất nợ xấu là một khâu quan trọng tác động đến tất cả các khâu còn lại của quá trình quản lý nợ xấu Nhận diện nợ xấu chủ yếu thông qua đánh giá lại các khoản tín dụng và phụ thuộc vào tiêu chí xác định nợ xấu do Cơ quan quản lý Ngân hàng từng quốc gia và hệ thống tiêu chí nội bộ

do ngân hàng xây dựng

Hiện nay, các NHTM nhận diện nợ xấu thông qua các tiêu chí định tính (dựa vào mức độ nghi ngờ về khả năng trả nợ), định lượng (chủ yếu dựa vào thời gian quá hạn của khoản nợ) hoặc kết hợp định tính và định lượng

Theo tiêu chí định tính, ngân hàng nhận diện nợ xấu thông qua việc đánh giá khả năng tài chính, lịch sử vay mượn và các thông tin liên quan khác nhằm dự báo khả năng trả nợ của khách hàng vay Việc nhận diện theo các tiêu chí định tính thường phức tạp do phụ thuộc rất lớn vào nguồn thông tin, độ lớn và tin cậy của dữ liệu, phương pháp và nội dung đánh giá

NHẬN DIỆN

NỢ XẤU

ĐO LƯỜNG, ĐÁNH GIÁ NỢ

NỢ XẤU

XỬ LÝ NỢ XẤU

Trang 34

Để nhận diện nợ xấu theo tiêu thức định tính (xác định nguy cơ không trả được

nợ của khách hàng), ngân hàng căn cứ vào nguồn thông tin mà khách hàng cung cấp và ngân hàng thu thập để đánh giá các khoản vay Số lượng thông tin của mỗi khoản vay thu thập được căn cứ vào qui mô khoản vay và chi phí thu thập các thông tin đó Các thông tin chủ yếu bao gồm:

- Khách hàng trì hoãn hoặc gây trở ngại đối với ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất về tình hình sử dụng vốn vay, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính của khách hàng

- Khách hàng có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các qui định, vi phạm pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng

- Khách hàng chậm hoặc trì hoãn thực hiện các báo cáo tài chính theo yêu cầu của ngân hàng mà không có sự giải thích minh bạch, không thuyết phục

- Khách hàng đề nghị gia hạn, điều chỉnh các khoản nợ nhiều lần không nêu

lý do

- Có sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng mà không giải thích được lý do

- Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn thanh toán

- Xuất hiện nợ đáo hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả vì những lý do: tiêu thụ hàng chậm, thu hồi công nợ chậm

- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, vượt quá nhu cầu dự kiến

- Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản đảm bảo giảm sút so với định giá cho vay, có các dấu hiệu cho người khác thuê, bán hoặc trao đổi

- Khách hàng có dấu hiệu trông chờ vào các khoản thu nhập bất thường khác không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh

- Khách hàng chấp nhận sử dụng nguồn vốn lãi suất cao với mọi điều kiện

Theo tiêu chí định lượng việc nhận diện thường đơn giản hơn vì chủ yếu dựa vào thời gian quá hạn của khoản vay Tuy nhiên, nhận diện theo hình thức này thường không chính xác vì trên thực tế có nhiều khoản nợ chưa quá hạn nhưng chất lượng nợ

đã suy giảm, thậm chí không còn khả năng thu hồi

Để khắc phục những hạn chế của hai hình thức nhận diện trên, nhiều quốc gia cho phép các NHTM nhận diện nợ xấu thông qua kết hợp cả tiêu chí định tính và định lượng

Trang 35

Để đảm bảo nợ xấu được nhận diện kịp thời, cơ quan quản lý ngân hàng các quốc gia đều có qui định tần suất nhận diện nợ xấu Thông thường việc đánh giá các khoản nợ để từ đó nhận diện nợ xấu có thể thực hiện định kỳ theo quí (Pháp, Việt Nam), hoặc nửa năm (Hà Lan) hoặc hằng năm (Hồng Kông, Đức) Tuy nhiên các khoản nợ đã được xác định là nợ xấu sẽ được đánh giá thường xuyên hơn nhằm quản

lý chặt chẽ chất lượng nợ và có biện pháp xử lý thích hợp và hạn chế tổn thất

2.3.2.2 Đo lường nợ xấu

Trên cơ sở kết quả nhận diện, các NHTM sẽ tiến hành đo lường, đánh giá nợ xấu Mục đích chính của đo lường nợ xấu là xác định mức độ rủi ro, khả năng không trả được nợ của khách hàng, đánh giá mức độ tác động của nợ xấu đến hoạt động, kết

quả kinh doanh của ngân hàng Từ đó, xác định các biện pháp để xử lý phù hợp

Thông thường tại các NHTM hiện nay, kết quả đo lường, đánh giá nợ xấu được thể hiện thông qua kết quả phân loại nợ Các khoản nợ tương đồng về mức rủi ro và khả năng không trả được nợ được phân vào cùng 1 nhóm Việc phân loại thành bao nhiêu nhóm nợ và các nhóm được tính là nợ xấu tùy thuộc vào qui định của cơ quan giám sát ngân hàng từng quốc gia và hệ thống phân loại nợ nội bộ của từng ngân hàng

Ví dụ ở Mỹ qui định 5 nhóm nợ, Brazil: 9 nhóm nợ Mexico: 7 nhóm nợ, Singapore:

5 nhóm nợ, Việt nam: 5 nhóm nợ…trên cơ sở đó qui định các nhóm thuộc nợ xấu Một số nước không qui định cụ thể về số nhóm nợ mà cho phép các ngân hàng tự xác định và phân loại nợ theo hệ thống phân loại nợ nội bộ Ví dụ ở Anh và Hà Lan các ngân hàng phân loại nợ theo hệ thống phân loại nội bộ, cơ quan quản lý ngân hàng định kỳ sẽ xem xét, đánh giá tính phù hợp của hệ thống phân loại nợ Ở Pháp qui định các yêu cầu tối thiểu về đánh giá nợ mà không có hướng dẫn cụ thể về phân loại nợ xấu, theo đó các ngân hàng tự xây dựng hệ thống phân loại nợ nội bộ theo yêu cầu của cơ quan quản lý

Khi đánh giá nợ nói chung và nợ xấu nói riêng, một khách hàng có nhiều khoản nợ, việc xác định nhóm nợ cho các khoản nợ của cùng một khách hàng vay ở các quốc gia cũng rất khác nhau Phần lớn qui định khi một khoản nợ được coi là nợ xấu thì các khoản nợ khác của cùng một khách hàng vay phải được xếp cùng 1 nhóm nợ (Ví dụ:ở Pháp, Việt nam, Úc, Chi Lê, Ấn độ…) Một số nước khác qui định khi một khoản nợ là nợ xấu, các khoản nợ khác của cùng một khách hàng vay

Trang 36

phải đánh giá lại, có thể xếp cùng nhóm hoặc khác nhóm nợ xấu tùy kết quả đánh giá Theo quan điểm các nước này các khoản nợ khác của cùng một khách hàng có thể không xếp vào cùng nhóm nợ vì còn tùy thuộc vào tài sản thế chấp, cầm cố, bão lãnh và các hình thức đảm bảo khác của từng món vay riêng biệt (Ví dụ: Hồng Kông, Đức) Một số nước khác cho phép ngân hàng tự quyết định (Anh, Hà Lan, Trung Quốc) Thậm chí ở Nhật cho rằng các món nợ khác không cần đánh giá lại khi một trong số các món nợ của cùng một khách hàng bị chuyển sang nợ xấu

Để đo lường nợ xấu, đánh giá nợ xấu, các NHTM thường sử dụng một số chỉ tiêu sau đây:

- Tổng số nợ xấu: Là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ

khoản nợ xấu của ngân hàng Chỉ tiêu này cho biết quy mô các khoản nợ xấu mà ngân hàng phải đối mặt nhưng chưa cho biết trong tổng số dư nợ xấu nợ không có khả năng thu hồi là bao nhiêu, nợ có khả năng thu hồi là bao nhiêu và cũng chưa phản ánh được

tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ có vượt mức khống chế theo khẩu vị rủi ro của ngân hàng

- Tỷ lệ nợ khó đòi/ Tổng dư nợ và Nợ khó đòi/ Nợ xấu: Các tỷ lệ này cho biết chỉ

tiêu tương đối của nợ khó đòi - một cấu phần quan trọng của nợ xấu Đây là những chỉ tiêu phản ánh một cách khá trung thực về thực tế và nguy cơ mất vốn của ngân hàng

Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng rủi ro mất vốn của ngân hàng càng cao

- Tỷ lệ giữa các khoản xóa nợ trong năm so với tổng dư nợ cho vay:

Tỷ lệ các khoản

Dư nợ các khoản được xóa nợ trong năm

x 100% Tổng dư nợ trong năm

Trang 37

Các khoản xóa nợ là các khoản vay được ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi vốn và được phân vào nhóm 5 Các khoản vay này được ngân hàng dùng quĩ dự phòng cụ thể để xử lý rủi ro và theo dõi ở ngoại bảng

- Tỷ lệ dự phòng tổn thất tín dụng so với tổng dư nợ cho vay kỳ báo cáo:

Tỷ lệ dự phòng

Dự phòng RRTD được trích lập

x 100% Tổng dư nợ

Dự phòng rủi ro tín dụng là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ tín dụng theo cam kết Dự phòng rủi ro bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung

- Tỷ lệ dự phòng tổn thất tín dụng so với các khoản nợ xấu:

Tỷ lệ dự phòng so với các khoản nợ xấu =

Dự phòng RRTD

x 100% Các khoản nợ xấu

Tỷ lệ này phản ánh quĩ dự phòng rủi ro có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu khi chúng chuyển thành các khoản nợ mất vốn Nếu tỷ lệ này càng cao thì khả năng quĩ dự phòng rủi ro đủ bù đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng lớn và ngược lại

Hai chỉ tiêu Tỷ lệ dự phòng RRTD và Tỷ lệ giữa dự phòng tổn thất tín dụng so với các khoản nợ xấu nói lên sự chuẩn bị của ngân hàng cho các khoản tổn thất tín dụng thông qua việc trích lập quĩ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm từ thu nhập hiện tại Hai chỉ tiêu này càng cao thì sự chủ động của ngân hàng khi có rủi ro tín dụng xảy

ra càng cao

Theo Hiệp ước Basel 2 do Ủy ban Basel ban hành năm 2004, để đo lường rủi ro tín dụng nói chung và nợ xấu nói riêng, ngân hàng cần ước lượng các yếu tố cơ bản:

PD, EAD và LGD

Thứ nhất, PD - Xác suất không trả được nợ Cơ sở để tính toán xác suất này

là hạng tín dụng của khách hàng, thời hạn và qui mô của khoản vay, kế hoạch trả nợ của khách hàng và chu kỳ kinh tế, trong đó quan trọng nhất là hạng tín dụng của khách hàng Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán được xác suất không trả được

nợ trong vòng một năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu của khách hàng trong vòng ít nhất là 5 năm trước đó Những dữ liệu được phản ánh theo

3 nhóm sau:

Trang 38

- Nhóm dữ liệu tài chính: liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng

- Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính: liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành

- Những dữ liệu mang tính cảnh báo: liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi

Từ những dữ liệu trên ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tính được hạng tín dụng và xác suất không trả được nợ của khách hàng Đó có thể là mô hình tuyến tính, mô hình probit và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp

Thứ hai, LGD - Tỷ trọng tổn thất của ngân hàng trong trường hợp khách hàng

không trả được nợ - đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ LGD không chỉ bao gồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các khoản tổn thất khác phát sinh khi khách hàng không trả được nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán và các chi phí hành chính có thể phát sinh như: chi phí xử lý tài sản thế chấp, các chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan

Tỷ trọng tổn thất ước tính có thể tính toán theo công thác sau:

LGD = (EAD- Số tiền có thể thu hồi)/EAD Trong đó EAD là tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ Số tiền có thể thu hồi bao gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố LGD cũng có thể được coi là 100% tỷ lệ vốn có thể thu hồi được

Trên cơ sở xác định các yếu tố trên, ngân hàng cần xác định tổn thất dự tính được - EL và Khoản tổn thất không dự tính được - UL của một khoản vay

Tổn thất dự tính được(EL):

Tổn thất dự tính được là mức tổn thất trung bình mà có thể tính được từ các số liệu thống kê trong quá khứ, đây là mức tổn thất ngân hàng kỳ vọng sẽ xảy ra trong một khoảng thời gian ngân hàng có thể sử dụng chỉ tiêu tổn thất trong dự tính làm chuẩn để ra quyết định cho vay Nếu tổn thất trong dự tính của một khách hàng vượt quá một tỷ lệ theo qui định của ngân hàng thì ngân hàng sẽ tự động từ chối cho vay với

Trang 39

khách hàng Đồng thời, trên cơ sở mức tổn thất dự tính được là căn cứ để ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro

Theo đó, đối với mỗi khoản vay hay mỗi khách hàng, tỷ lệ tổn thất dự tính _ EL

- PD: Xác suất không trả được nợ của khách hàng

Giá trị tổn thất dự kiến sẽ bằng: Tỷ lệ tổn thất dự kiến nhân (x) Dư nợ của khách hàng tại thời điểm tính toán

Nói cách khác, giá trị tổn thất dự kiến EL = LGD * PD * EAD Trong đó:EAD: Dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ

Các chỉ tiêu cấu thành công thức trên được tính toán như sau:

Theo thống kê của Ủy ban Basel tỷ lệ thu hồi vốn thường mang giá trị rất cao (70% - 80%) hoặc rất thấp (20% - 30%) Do đó trong tính toán không nên sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ thu hồi vốn bình quân Hai yếu tố quan trọng nhất quyết định đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ là tài sản bảo đảm của khoản vay và cơ cấu tài sản của khách hàng

Tổn thất không dự tính được: (UL)

Tổn thất không dự tính được (UL) của một khoản vay được hiểu là giá trị của

độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình (tổn thất dự tính được EL) Nguồn để bù đắp tổn thất ngoài dự tính chính là từ vốn chủ sở hữu của ngân hàng, bởi vậy ngân hàng cần nắm giữ đủ vốn để bù đắp cho tổn thất này

Theo Basel 2, để đánh giá tác động của nợ xấu, ngân hàng cần tính EL và UL cho danh mục tín dụng

Đối với tổn thất dự tính của danh mục: Tổng cộng các khoản tổn thất trong dự tính của từng khách hàng vay vốn trong danh mục tín dụng của ngân hàng tạo thành tổn thất trong dự tính của toàn bộ danh mục tín dụng Trên cơ sở đó ngân hàng sẽ xây dựng chính sách định giá và trích lập dự phòng nhằm bù đắp tổn thất cho từng khoản vay, từng khách hàng và toàn bộ danh mục cho vay

Trang 40

Đối với tốn thất không dự tính được của danh mục: xác định qua 3 bước:

Bước 1: Xác định UL riêng lẻ của từng khoản vay, chưa xem xét đến hiệu ứng của mối tương quan

Bước 2: Ước lượng hệ số tương quan vỡ nợ của các khoản vay riêng lẻ trong cùng một danh mục Hệ số tương quan vỡ nợ có thể được tính toán thông qua số liệu thống kê hoặc các mô hình

Bước 3: Xác định tổn thất không dự tính được UL trong xem xét mối quan hệ tương quan vỡ nợ giữa các khoản vay trong danh mục

Kết quả xác đinh EL, UL của từng khoản tín dụng riêng lẻ và danh mục tín dụng là cơ sở để xác định mức độ rủi ro và khả năng tác động của từng khoản nợ, danh mục tín dụng Từ đó ngân hàng có biện pháp ứng phó để kiểm soát nợ xấu ở mức độ hợp lý

2.3.2.3 Ngăn ngừa nợ xấu

Sau khi các khoản nợ xấu được đo lường, đánh giá, các nhà quản trị NHTM sẽ phải sử dụng các biện pháp nhằm giữ nợ xấu trong phạm vi mà ngân hàng chấp nhận

đã được xác định trong từng giai đoạn Để kiểm soát nợ xấu, các NHTM nên áp dụng một hệ thống các biện pháp cơ bản theo nguyên tắc của Basel II, đó là:

Thứ nhất, xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng

Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng là xây dựng cách thức quản lý rủi ro tín dụng tổng thể của một ngân hàng, trong đó thể hiện được cách thức tổ chức quản lý, thực hiện qui trình tín dụng, nhận biết, đo lường, kiểm soát rủi ro tín dụng nhằm khống chế rủi ro trong một giới hạn cho phép theo nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận

Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng cho phép các NHTM có sự nhìn nhận chính xác hơn về triển vọng kinh doanh của ngân hàng trong tương lai, từ đó có khả năng hoạch định chính sách kinh doanh phù hợp So với các chỉ tiêu phản ánh thực tế kinh doanh như doanh thu, mức sinh lời, các khoản lãi và phí… thì rủi ro lại mang tính “dự đoán” Nói đến rủi ro là nói đến những biến cố xảy ra không chắc chắn Trên thực tế người ta có thể xem nhẹ kết quả trong tương lai để chú trọng hơn vào những mục tiêu trước mắt Việc xem nhẹ rủi ro như vậy có nghĩa NHTM có thể

sẽ phải chịu những tổn thất nặng nề xảy ra trong tương lai Do đó, quan tâm đến xây dựng mô hình quản lý rủi ro có nghĩa là các nhà ngân hàng đã đưa rủi ro vào thành

Ngày đăng: 11/03/2017, 05:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hải An (2013), "Điều hành tỷ giá đồng Việt Nam đáp ứng yêu cầu ổn định và tăng trưởng kinh tế", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (419), tháng 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều hành tỷ giá đồng Việt Nam đáp ứng yêu cầu ổn định và tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Nguyễn Hải An
Năm: 2013
2. Hà Thị Mai Anh (2012), "Chất lƣợng tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam", Tạp chí NCTCKT, số 9 (110), tr.15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lƣợng tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Tác giả: Hà Thị Mai Anh
Năm: 2012
3. Nguyễn Tuấn Anh (2012), Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Luận án tiến sỹ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Năm: 2012
4. Bộ Tài chính - Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản, Quản lý nợ xấu trong tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, Kỷ yếu hội thảo khoa học năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nợ xấu trong tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước
5. Đào Ngọc Chuyền, Phạm Thị Ngát (2010), "Một số khó khăn trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại", Tạp chí Ngân hàng, (18), tháng 9, tr.49-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khó khăn trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại
Tác giả: Đào Ngọc Chuyền, Phạm Thị Ngát
Năm: 2010
6. Hạ Thị Thiều Dao, "Quản trị công ty trong các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và Phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị công ty trong các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
7. Hạ Thị Thiều Dao (2011), "Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng", Tạp chí Tài chính, (6), tr.48-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng
Tác giả: Hạ Thị Thiều Dao
Năm: 2011
8. Hạ Thị Thiều Dao (2013), "Tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến kinh tế vĩ mô Việt Nam", Tạp chí Ngân hàng, (7), tháng 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến kinh tế vĩ mô Việt Nam
Tác giả: Hạ Thị Thiều Dao
Năm: 2013
9. Lê Thị Huyền Diệu (2010), Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Huyền Diệu
Năm: 2010
10. Tô Ánh Dương (2013), "Hệ thống ngân hàng Việt Nam: những vấn đề đặt ra trong bối cảnh tái cơ cấu", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (418), tháng 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống ngân hàng Việt Nam: những vấn đề đặt ra trong bối cảnh tái cơ cấu
Tác giả: Tô Ánh Dương
Năm: 2013
11. Đỗ Văn Độ, Đặng Ngọc Đức, "Hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại góp phần phát triển bền vững thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và Phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại góp phần phát triển bền vững thị trường tiền tệ liên ngân hàng Việt Nam
12. Đặng Ngọc Đức, "Tiếp tục đổi mới hoạt động của ngân hàng nhà nước nhằm phát triển bền vững các ngân hàng thương mại", Tạp chí Kinh tế và Phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới hoạt động của ngân hàng nhà nước nhằm phát triển bền vững các ngân hàng thương mại
13. Trần Việt Hà (2011), Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong
Tác giả: Trần Việt Hà
Năm: 2011
14. Đinh Xuân Hạng (2012), "Hoàn thiện chính sách tài chính - tiền tệ nhằm phát triển bền vững các ngân hàng thương mại Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán, số 10 (111), tr.5-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách tài chính - tiền tệ nhằm phát triển bền vững các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Hạng
Năm: 2012
15. Đỗ Thị Kim Hảo (2012), "Tín dụng cho bất động sản ở Việt Nam - khái quát và một số đề xuất chính sách", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (409), tháng 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng cho bất động sản ở Việt Nam - khái quát và một số đề xuất chính sách
Tác giả: Đỗ Thị Kim Hảo
Năm: 2012
16. Đỗ Thị Kim Hảo (2013), "Đánh giá nhân tố ảnh hưởng hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (421), tháng 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhân tố ảnh hưởng hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Kim Hảo
Năm: 2013
17. Quách Mạnh Hào (2013), "Thực trạng bài toán nợ xấu", Tạp chí Kinh tế Phát triển, (194), tháng 8, tr.17-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bài toán nợ xấu
Tác giả: Quách Mạnh Hào
Năm: 2013
18. Hội Luật gia ngành thương mại quốc tế (AJAI), Nợ xấu: tình trạng và triển vọng pháp lý, Kỷ yếu hội thảo khoa học tháng 5/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nợ xấu: tình trạng và triển vọng pháp lý
19. Nguyễn Thị Thu Hiền (2012), Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Năm: 2012
20. Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, Quản lý nợ xấu tại Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế và các chiến lược tối đa hoá lợi nhuận cho ngân hàng, Kỷ yếu hội thảo khoa học năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nợ xấu tại Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế và các chiến lược tối đa hoá lợi nhuận cho ngân hàng

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w