với các quy luật khách quan; phù hợp với xu thế kinh tế, chính trị khu vực và thếgiới; phản ánh khả năng khai thác sử dụng các nguồn lực kinh tế trong nước [79].Lý thuyết “cất cánh” được
Trang 1Trường đại học kinh tế quốc dân
o0o
-Nguyễn chí bính
QUá TRìNH CHUYểN DịCH CƠ CấU NGàNH KINH Tế TRONG CÔNG NGHIệP HóA, HIệN ĐạI HóA ở TỉNH NINH BìNH
Từ NĂM 1992 ĐếN NAY: KINH NGHIệM Và GIảI PHáP
Chuyên ngành: kinh tế học (lịch sử kinh tế)
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêngtôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học:PGS.TS Phạm Thị Quý và PGS.TS Lê Quốc Hộithuộc Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Các số liệu nêu trong luận án này đều được thu thập từnhững nguồn gốc hợp pháp và có trích dẫn rõ ràng Những tàiliệu đặc biệt đều đã được sự đồng ý của tác giả khi trích dẫn
và sử dụng trong Luận án Những kết quả trong luận án chưatừng được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Chí Bính
LỜI CAM ĐOAN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các tổ chức và cá nhân đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu, hoàn thành và bảo vệ luận án trước Hội đồng chấm luận án cấp trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn
Nhân đây, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên tinh thần và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để đạt được kết quả hôm nay.
Xin chân thành cảm ơn tất cả!
Tác giả luận án
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 13
1.1 Cơ sở lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 13
1.1.1 Khái niệm về cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế 13
1.1.2 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 17
1.1.3 Các lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 20
1.2 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa 29
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa 29
1.2.2 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa 32
1.2.3 Cách thức chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa 34
1.2.4 Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa 35
1.2.5 Các tiêu chí và chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa 37
1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa 42
Trang 51.3 Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp
hóa, hiện đại hóa 49
1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong các mô hình công nghiệp hóa trên thế giới 49
1.3.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa của một số địa phương 54
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH NINH BÌNH 62
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình 62
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của Ninh Bình 62
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của Ninh Bình 64
2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1992-2012 66
2.2.1 Chủ trương và chính sách của Ninh Bình về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa 66
2.2.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Ninh Bình 74
2.3 Đánh giá chung về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Ninh Bình 118
2.3.1 Kết quả đạt được 118
2.3.2 Hạn chế 123
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 127
CHƯƠNG 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TẠI NINH BÌNH 131
3.1 Bài học kinh nghiệm về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Ninh Bình 131
3.2 Quan điểm và phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Ninh Bình 138
Trang 63.2.1 Quan điểm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới 138
3.2.2 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Ninh Bình 141
3.3 Các giải pháp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Ninh Bình 149
3.3.1 Hoàn thiện công tác quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của tỉnh 149
3.3.2 Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn 150
3.3.3 Đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 152
3.3.4 Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm 154
3.3.5 Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ 156
3.3.6 Tăng cường đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng 157
3.3.7 Hoàn thiện cơ chế, chính sách 159
3.3.8 Thực hiện các giải pháp cụ thể cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế từng ngành 161
KẾT LUẬN 163
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 165
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 166
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ASEAN (The Association of Southeast AsianNations)
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
FDI (Foreign Direct Investment) Đầu tư trực tiếp nước ngoàiIMF (International Monetary Fund) Quỹ Tiền tệ Quốc tế
WB (The World Bank) Ngân hàng Thế giớiWTO (World Trade Organization) Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng
Bảng 2.1: Giá trị và cơ cấu ngành theo GDP của Ninh Bình 75
Bảng 2.2: So sánh chuyển dịch CCNKT của Ninh Bình với cả nước và khu vực đồng bằng sông Hồng năm 2000 và năm 2010 78
Bảng 2.3: Giá trị và tỷ trọng GDP trong nội bộ ngành công nghiệp và xây dựng của Ninh Bình, 1992 -2012 80
Bảng 2.4: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản, giai đoạn 1992-2012 84
Bảng 2.5: Giá trị và cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp Ninh Bình giai đoạn 1992-2012 87
Bảng 2.6: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt giai đoạn 1992-2012 89
Bảng 2.7: Giá trị và cơ cấu sản xuất ngành lâm nghiệp Ninh Bình giai đoạn 1992-2012 91
Bảng 2.8: Giá trị sản xuất và cơ cấu sản xuất ngành thủy sản giai đoạn 1993 -2012 93
Bảng 2.9: Giá trị sản xuất và cơ cấu của nuôi các loại cá 95
Bảng 2.10: Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành dịch vụ Ninh Bình giai đoạn 1992 – 2012 97
Bảng 2.11: Giá trị sản xuất và cơ cấu của ngành Vật liệu xây dựng 100
Bảng 2.12: Giá trị sản xuất và cơ cấu của ngành sản xuất thép 103
Bảng 2.13: Giá trị sản xuất và cơ cấu của ngành viễn thông 105
Bảng 2.14: Doanh thu ngành du lịch Ninh Bình qua các năm 108
Bảng 2.15: Số lượng và cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế giai đoạn 1992 – 2012 111
Bảng 2.16: Số lượng và cơ cấu lao động phân theo nội bộ các ngành kinh tế, giai đoạn 1992 - 2012 113
Bảng 2.17: Giá trị và cơ cấu hàng xuất khẩu tại Ninh Bình, giai đoạn 1992-2012 116 Bảng 3.1: Các phương án chuyển dịch CCNKT tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 141
Bảng 3.2: Dự báo chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp 144
Trang 9Biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Xu hướng chuyển dịch CCNKT của tỉnh Ninh Bình 76Biểu đồ 2.2: Xu hướng chuyển dịch của từng ngành trong ngành công nghiệp vàxây dựng 82Biểu đồ 2.3: Chuyển dịch trong nhóm ngành nông, lâm và thủy sản, từ 1992-2012 85Biểu đồ 2.4: Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, 1992-2012 110
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (CCNKT) là một trong những nội dungchủ yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trên phạm vi từngnước và từng địa phương Thực tế cho thấy, việc tạo lập cơ cấu kinh tế hợp lý theohướng CNH, HĐH, trong đó có CCNKT, có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng
và phát triển bền vững của một nền kinh tế và địa phương Đến nay, mặc dù đã cónhiều công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và CCNKT, nhưng vấn
đề chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH của một địa phương lại chưa đượcnghiên cứu đầy đủ Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống vấn đềchuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH đã và đang được các nhà khoa học quan tâmtrên cả phương diện lý luận và thực tiễn
Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, CCNKT cả nước và ở từng địa phương
đã có chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH Tuy nhiên, cho đến nay, những yếu kém
cơ bản về CCNKT ở nước ta vẫn chưa được khắc phục Nền kinh tế chủ yếu vẫndựa vào các ngành có lợi thế về tài nguyên và lao động chi phí thấp Tỷ trọng côngnghiệp chế biến tăng chậm trong khi tỷ trọng ngành nông-lâm-ngư nghiệp và khaikhoáng còn cao, tỷ trọng các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao trong tổng sảnphẩm quốc nội (GDP) như tài chính, ngân hàng, giáo dục, y tế, bảo hiểm còn thấp.CCNKT địa phương và vùng lãnh thổ cũng tồn tại nhiều bất cập Trên thực tế, chínhquyền cấp tỉnh còn ít chú trọng đến việc xây dựng một CCNKT hợp lý theo hướngCNH, HĐH và thường theo đuổi mô hình phát triển và CCNKT tương tự nhau Cácđịa phương cũng ít chú trọng đến việc xây dựng một CCNKT dựa trên các lợi thếtương đối và lợi thế cạnh tranh của địa phương mình trên cơ sở định hướng phát triển
cả nước và các vùng liên quan Điều này dẫn đến tình trạng các địa phương cạnh tranhnhau trong huy động các nguồn lực cho chuyển dịch CCNKT, làm cho việc sử dụngcác nguồn lực này trên cả nước và ở từng địa phương trở nên kém hiệu quả
Trang 11Từ khi tái lập tỉnh (1992) đến nay, cùng với thực hiện CNH, HĐH, quá trìnhchuyển dịch CCNKT của tỉnh Ninh Bình đã có sự thay đổi theo hướng tích cực, phùhợp với động thái phát triển kinh tế của địa phương theo hướng CNH, HĐH Điều
đó tạo thêm nhiều ngành nghề mới, việc làm mới, gia tăng giá trị hàng hóa xuấtkhẩu và qua đó góp phần tạo tăng trưởng kinh tế của địa phương Chính những kếtquả kinh tế đạt được đã làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội và tạo thế và lực đểtỉnh Ninh Bình cùng cả nước hướng đến mục tiêu đến năm 2020 đưa Việt Nam cơbản trở thành nước công nghiệp Tuy nhiên trong sự chuyển dịch CCNKT ở tỉnhNinh Bình vẫn bộc lộ không ít những hạn chế Điều dễ nhận thấy là tốc độ chuyểndịch CCNKT vẫn chưa thực sự theo đúng kỳ vọng của tỉnh; hiệu quả và chất lượngcủa chuyển dịch CCNKT trong quá trình CNH, HĐH vẫn ẩn chứa những nhân tốthiếu bền vững Trong chuyển dịch CCNKT vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và bấtcập bắt nguồn từ công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từchính sách huy động và sử dụng nguồn lực, chính sách đầu tư phát triển
Từ lý luận và thực tiễn đặt ra nhiều vấn đề phải nghiên cứu chuyển dịchCCNKT trong CNH, HĐH của Ninh Bình và tác động của nó đến sự phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh Do đó Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Quá trình chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Ninh Bình từ 1992 đến nay: Kinh nghiệm và giải pháp” làm nội dung nghiên cứu của Luận án.
2 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Tổng quan nghiên cứu lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Vấn đề chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH đã được các trường phái, các
lý thuyết kinh tế từ trước đến nay đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau và với nhiềucách tiếp cận khác nhau
Lý thuyết của Max (1909) về CCNKT đã đưa ra các phạm trù về CCNKT và
cơ cấu kinh tế hợp lý Theo Max, CCNKT hợp lý là cơ cấu có khả năng tạo ra quátrình tái sản xuất mở rộng CCNKT hợp lý phải đáp ứng các điều kiện như phù hợp
Trang 12với các quy luật khách quan; phù hợp với xu thế kinh tế, chính trị khu vực và thếgiới; phản ánh khả năng khai thác sử dụng các nguồn lực kinh tế trong nước [79].
Lý thuyết “cất cánh” được trình bày trong nghiên cứu của Rostow (1960) đã
chỉ ra rằng quá trình phát triển của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng phải trảiqua 5 giai đoạn tuần tự và ứng với mỗi giai đoạn là một dạng CCNKT đặc trưng thểhiện bản chất phát triển của giai đoạn đó Như vậy lý thuyết này đã chỉ ra một sựlựa chọn hợp lý về dạng CCNKT tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển nhất địnhcủa mỗi quốc gia [85]
Lý thuyết nhị nguyên của Lewis (1954) giải thích quá trình và cơ chế chuyển
dịch cơ cấu của nền kinh tế từ khu vực nông nghiệp với năng suất thấp và dư thừalao động sang khu vực công nghiệp có năng suất cao và có khả năng tự tích lũy Về
cơ bản lý thuyết này đã phản ánh được một số quy luật khách quan của sự chuyểndịch giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, giữa chuyểndịch dân cư và đô thị hóa trong quá trình phát triển kinh tế của các nước đang pháttriển Tuy nhiên, mô hình này đã có một số hạn chế do các giả thuyết đưa ra khôngphù hợp với thực tế của các nước đang phát triển hiện nay [77]
Phê phán quan điểm dư thừa lao động trong nông nghiệp của lý thuyết Lewis,các nhà kinh tế đại diện cho trường phái tân cổ điển cho rằng trong quá trình chuyểndịch và phát triển kinh tế cần đầu tư cho cả hai khu vực nông nghiệp và công nghiệptheo hướng nâng cao năng suất lao động ở khu vực nông nghiệp và khu vực côngnghiệp cần đầu tư theo chiều sâu Như vậy, lý thuyết của trường phái tân cổ điểnnhấn mạnh đến động lực tích lũy ở cả hai khu vực kinh tế trong đó khu vực côngnghiệp cần được ưu tiên, quan tâm nhiều hơn
Trên cơ sở những giả thuyết mang tính kế thừa và phát triển của Lewis, quanđiểm thống nhất với trường phái tân cổ điển và dựa trên những đặc điểm kinh tế củacác nước châu Á, Oshima (1986) đã đưa ra lý thuyết mới về mối quan hệ giữa côngnghiệp và nông nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu từ nền kinh tế do nôngnghiệp chiếm ưu thế sang nền kinh tế công nghiệp trong điều kiện cụ thể của cácnước đang phát triển thuộc khu vực châu Á gió mùa Oshima cũng đưa ra những nội
Trang 13dung cụ thể của trong quá trình chuyển dịch CCNKT để hướng tới một nền kinh tếphát triển.
Lý thuyết phát triển cân đối của Nurkse (1961) và Rosentein-Rodan (1943)
không sắp xếp thứ tự mức độ quan tâm đến các ngành trong nền kinh tế mà chorằng phải phát triển đồng đều ở tất cả các ngành kinh tế để chuyển dịch cơ cấu kinh
tế (CCKT) một cách nhanh chóng Lý thuyết này phù hợp với các nước đang pháttriển thực hiện CNH theo hướng nội hoặc thay thế nhập khẩu Tuy nhiên khi ápdụng vào thực tế thì đã bộc lộ nhiều nhược điểm, nhất là trong quá trình hội nhập vàtoàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ [80]
Akamatsu (1956) đã đưa ra lý thuyết phát triển theo mô hình “đàn nhạn bay”
để giải thích sự bắt kịp của các nước đang phát triển đối với các nước phát triển vànhấn mạnh chuyển dịch CCNKT có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình đuổi kịpnày Nghiên cứu này cũng chỉ ra những ngành nào cần thúc đẩy trong mỗi giai đoạnCNH Cho đến đầu thập niên 1990, hầu hết các nhà nghiên cứu kinh tế đều cho rằng
áp dụng lý thuyết đàn nhạn bay để giải thích sự lan tỏa của công nghiệp tại các nướcĐông Á là có cơ sở [67]
Syrquin (1988) đã đưa ra lý thuyết chuyển dịch CCKT miêu tả khá tổng thể
và chính xác về sự phát triển và chuyển dịch CCKT thời kỳ hiện đại Công trình này
đã tóm tắt quá trình phát triển và chuyển dịch CCKT của một quốc gia thành 3 giaiđoạn: sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hóa và nền kinh tế phát triển Nghiên cứunày cũng chỉ ra đặc trưng của CCNKT trong từng giai đoạn đó [86]
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây đã thách thức các nhà kinh tếxem xét lại sự phù hợp của các lý thuyết kinh tế hiện có Tiếp nối những nỗ lực đểlấp đầy các khoảng trống tri thức trong quá trình phát triển, trên cơ sở đúc kết từnhững kinh nghiệm trong quá khứ và những lý thuyết kinh tế trước đây, Lin (2007)
đã đưa ra học thuyết CCKT mới Nghiên cứu này khẳng định phát triển kinh tếkhông phải là một thứ gì đó có thể chia thành các giai đoạn cứng nhắc và cấu trúckinh tế tối ưu của mỗi nước là khác nhau ở các giai đoạn khác nhau Nghiên cứu
Trang 14này còn nhấn mạnh đến vai trò của thị trường và nhà nước trong quá trình chuyểndịch và phát triển kinh tế.
Như vậy, hầu hết các lý thuyết về chuyển dịch CCKT đều coi vấn đề chuyểndịch CCNKT là một trong những nội dung quan trọng của sự phát triển trong thời
kỳ công nghiệp hóa Các lý thuyết này chỉ ra rằng hình thức chuyển dịchCCNKTcủa các nước trong thời kỳ CNH, HĐH diễn ra rất phong phú, đa dạng vàkhó tìm thấy một khuôn mẫu chung duy nhất cho mọi quốc gia Đồng thời, các lýthuyết kinh tế cũng nêu ra những quan điểm mang tính nguyên tắc là phải xây dựngmột CCKT có sự liên kết, thúc đẩy, lôi kéo lẫn nhau trong quá trình phát triển.Nhiều lý thuyết còn nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước trong việc đánh giá vàkhai thác các nguồn lực bên trong và bên ngoài để tìm ra một CCKT riêng và thíchhợp cho nước mình
2.2 Tổng quan nghiên cứu thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Ở Việt Nam, vấn đề chuyển dịch CCNKT trong quá trình CNH, HĐH đãđược quan tâm nghiên cứu từ lâu Thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu vềvấn đề chuyển dịch CCNKT, đặc biệt là đề cập và phân tích một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về chuyển dịch CCNKT ở trên phạm vi cả nước, ở một số ngành và địaphương, trong đó tiêu biểu là:
Ngô Đình Giao (1994) với công trình “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân” Nội dung cơ bản của công trình này
là nghiên cứu những cơ sở lý luận và sự cần thiết của chuyển dịch CCKT theohướng công nghiệp hóa Đồng thời công trình còn đề xuất những phương hướng vàbiện pháp chuyển dịch CCKT ở Việt Nam trong thời gian tới Tuy nhiên, đây làcông trình nghiên cứu tổng hợp trên góc độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung
mà chưa đề cập chi tiết về CCNKT trong điều kiện hội nhập và CNH, HĐH, đặcbiệt là chuyển dịch CCNKT của một địa phương [31]
Đỗ Hoài Nam (2006) chủ biên công trình “Chuyển dịch cơ cấu ngành và
phát triển các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn” Công trình này đã tập trung đưa
ra những quan điểm, phương pháp tiếp cận vấn đề chuyển dịch CCNKT nhằm phát
Trang 15triển các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn Công trình này mới đề cập đến chuyểndịch CCNKT trên phạm vi cả nước xét trên góc độ nhằm phát triển các ngành kinh
tế mũi nhọn của nền kinh tế Việt Nam nói chung mà chưa đề cập chi tiết vấn đềchuyển dịch CCNKT ở một địa phương cụ thể [15]
Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ (1999) đồng chủ biên công trình
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới” đã
trình bày rõ về luận cứ khoa học của chuyển dịch CCKT theo hướng hội nhập vàthực trạng chuyển dịch CCNKT nước ta trong giai đoạn 1991 – 1997 Công trìnhtập trung chủ yếu vào vấn đề chuyển dịch cơ cấu ba nhóm ngành lớn của nền kinh
tế, các vấn đề chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế và vùng kinh tế chỉ được đềcập ở mức độ là các vấn đề liên quan để bảo đảm tính hệ thống Để đảm bảo cácluận cứ có tính thực tiễn và tính thực tế của các nhận xét cũng như kiến nghị, ngoàiviệc tập trung nghiên cứu ba nhóm ngành, công trình cũng chú trọng khảo sát thêmtình hình chuyển dịch CCKT ở một số vùng và một số địa phương trong thời kỳ
1991 – 1997 [41]
Lê Đình Thắng (1998) đã thực hiện công trình về “Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn – những vấn đề lý luận và thực tiễn” Công trình nghiên cứu đã làm
nổi bật cơ sở khoa học, thực trạng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch CCKTnông thôn Việt Nam Ngoài ra, công trình còn đưa ra những quan điểm, phươnghướng, mục tiêu và các giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông thônViệt Nam đến năm 2000 Tuy nhiên, công trình đề cập đến những vấn đề chung củaCCKT nông thôn cả về cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần nênkhông chú trọng nghiên cứu sâu về CCNKT của một địa phương cụ thể [22]
Đề tài cấp Nhà nước do Lương Xuân Quỳ (2000) chủ nhiệm có sự tham giacủa nhiều nhà khoa học kinh tế đầu ngành “Cơ cấu các thành phần kinh tế trong cơchế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Đề tài đã làm rõnhững vấn đề lý luận và quan điểm về thành phần kinh tế, cơ cấu và vị trí các thànhphần kinh tế trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ởnước ta Trên cơ sở các lý thuyết về CCKT và các mô hình, đề tài đã đánh giá thực
Trang 16trạng xây dựng và phát triển cơ cấu các thành phần kinh tế ở Việt Nam từ khi đổimới đến năm 2000, từ đó góp phần tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học vàcác giải pháp cho việc định hướng các chính sách đối với các thành phần kinh tếnhằm phát triển lực lượng sản xuất xã hội trong cơ cấu thành phần kinh tế của ViệtNam Tuy nhiên, vấn đề chuyển dịch CCNKT trong bối cảnh CNH, HĐH và hộinhập chưa được nghiên cứu và đề cập một cách có hệ thống [27]
Công trình “Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Thị Bích Hường (2005) đã đi sâu nghiên cứu
những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển đổi CCNKT trong tiến trình hội nhậpkinh tế khu vực và quốc tế Nghiên cứu này đã phân tích thực trạng chuyển đổiCCNKT ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế thời gianqua Công trình đề cập phương hướng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển đổiCCNKT ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế thời giantới Công trình còn đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịchCCNKT trong hội nhập, chỉ rõ đâu là nhân tố nội sinh, đâu là nhân tố ngoại sinh.Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ khoa học kỹ thuật và khoa học công nghệ,yếu tố bên ngoài là vô cùng quan trọng, để phát huy lợi thế so sánh của mỗi nước,
sự chuyển dịch CCNKT phải theo hướng nào cho phù hợp với điều kiện cụ thể củanước đó Ngoài chuyển dịch nói chung, công trình đã đề cập đến việc chuyển dịch nộingành từ công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp Tuy vậy, công trình cũng chỉ đề cấp tớiCCKT chung của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập mà chưa đề cấp đến khía cạnhchuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH mà đặc biệt ở một địa phương cụ thể [42]
Phan Công Nghĩa (2007) với nghiên cứu “Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế - nghiên cứu thống kê cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế”.
Công trình này nghiên cứu sâu về lý luận và phương pháp luận nghiên cứu thống kêCCKT, cũng như nghiên cứu CCKT nông nghiệp và nông thôn theo thành phầnkinh tế, hình thức tổ chức sản xuất và chuyển dịch của nó theo hướng CNH, HĐH
Do đó, công trình không nghiên cứu hệ thống và sâu sắc về thực trạng chuyển dịchCCNKT ở Việt Nam [48]
Trang 17Ở cấp độ địa phương, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chuyển dịchCCNKT Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Ở Hà Nội, Lê Văn Hoạt (1999) đã thực hiện nghiên cứu “Phân tích động
thái của cơ cấu kinh tế thủ đô giai đoạn 1991 - 1998 và đề xuất kiến nghị về phương hướng và các giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế thủ đô giai đoạn 2000 – 2005” Công trình này đã đề cập đến các vấn đề lý luận về CCKT và đi sâu phân
tích, đánh giá, nghiên cứu các động thái chuyển dịch CCKT ở cả ngành kinh tế,thành phần kinh tế và khu vực kinh tế Đặc biệt là việc đề xuất các giải pháp cũng nhưkiến nghị về phương hướng nhằm chuyển dịch CCKT thủ đô Hà Nội giai đoạn 2000 –
2005 có chú ý gắn với đặc thù của thủ đô Công trình nghiên cứu cũng cho biết sự biếnđổi, tăng giảm tỷ trọng các ngành của kinh tế thủ đô trong CNH, HĐH [26]
Công trình nghiên cứu của Nghiêm Xuân Đạt (2005) đã đưa ra những luận
cứ khoa học thực hiện chuyển dịch CCKT thủ đô Hà Nội giai đoạn 2006 – 2010.
Nội dung chủ yếu của công trình này là nghiên cứu việc chuyển dịch CCKT thủ đô
Hà Nội giai đoạn 2006 – 2010 hướng đến kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long –
Hà Nội với những luận cứ khoa học thuyết phục [29]
Ở một khía cạnh khác, nghiên cứu của Nguyễn Đình Dương (2006) đã phân
tích và dự báo CCKT thủ đô Hà Nội đến năm 2020 Công trình này đã trình bày khá
đầy đủ về cơ sở lý luận của CCKT và đi sâu nghiên cứu về thực trạng CCKT cũngnhư đề xuất các biện pháp chuyển dịch CCKT thủ đô Hà Nội đến năm 2020 Tác giảcũng chỉ rõ cơ sở phương pháp luận về chuyển dịch CCNKT của thủ đô, đề cập đếnnhững luận cứ xuất phát từ thực tiễn qua những thời kỳ phát triển, đặc điểm văn hóa –lịch sử, đặc biệt ở cả trạng thái động và trạng thái tĩnh của thủ đô Hà Nội [35]
Ở Hải Phòng, Nguyễn Văn Giang (2010) đã thực hiện công trình về “Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành trong nền kinh tế thị trường ở thành phố Hải Phòng”.
Công trình đã đề cập đến các vấn đề cơ sở lý luận về CCKT, CCNKT, phân tíchthực trạng CCKT thành phố Hải Phòng, đặc biệt là việc rút ra các kinh nghiệm vàgiải pháp nhằm chuyển dịch CCKT thành phố Hải Phòng Công trình chủ yếu tập
Trang 18trung đề cập đến CCKT nói chung của một địa phương nặng về công nghiệp và dịch
vụ vận tải, logistics như Hải Phòng Công trình chưa đề cập toàn diện đến chuyểndịch CCNKT theo hướng CNH, HĐH [45]
Đào Văn Hiệp (2005) phân tích đầu tư trực tiếp nước ngoài và ảnh hưởng
của nó đến chuyển dịch CCKT ngành theo hướng CNH, HĐH ở Hải Phòng Tác giả
đã phân tích và làm rõ được thực trạng đầu tư nước ngoài và chuyển dịch CCNKT
ở Hải Phòng Trên cơ sở đánh giá thực trạng tác động của FDI đến chuyển dịchCCNKT ở Hải Phòng theo hướng CNH, HĐH, tác giả đã đề xuất phương hướng vàgiải pháp thu hút, sử dụng đầu tư nước ngoài thúc đẩy chuyển dịch CCNKT theohướng CNH, HĐH ở Hải Phòng Tuy nhiên, công trình này chủ yếu đề cập đến ảnhhưởng của FDI với chuyển dịch CCNKT trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế vàgiải pháp thu hút FDI vào Hải Phòng mà chưa đề cập đến giải pháp chuyển dịchCCNKT theo hướng CNH, HĐH [12]
Ở Bắc Ninh, Nguyễn Hùng Quân (2009) đã thực hiện công trình nghiên cứu
về xác lập CCKT hợp lý ở Bắc Ninh Công trình đã đề cập đến tình hình chuyểndịch CCKT của Bắc Ninh trong những năm vừa qua Với xu hướng phấn đấu để đếnnăm 2015 Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp, tỉnh đã và đang nỗ lực đẩy mạnhphát triển kinh tế, tạo ra CCNKT phù hợp và hiệu quả Công trình cũng đưa ra một
số hạn chế trong quá trình chuyển dịch CCNKT ở Bắc Ninh Trên cơ sở đó, tác giả
đã đề ra một số biện pháp khả thi để thúc đẩy chuyển dịch CCNKT của Bắc Ninhhợp lý và hiệu quả [37]
Qua tổng quan nghiên cứu cho thấy đến nay các công trình nghiên cứu chưa
đi sâu nghiên cứu về nội dung và tiêu chí của chuyển dịch CCNKT theo hướngCNN, HĐH Bên cạnh đó, các công trình cũng chưa đi đâu vào nghiên cứu quá trình
và động thái chuyển dịch CCNKT cũng như sự gắn kết giữa chuyển dịch CCNKTvới quá trình thực hiện CNH, HĐH ở một địa phương cụ thể Ngoài ra, chưa cócông trình nào nghiên cứu quá trình chuyển dịch CCNKT theo hướng CNH, HĐH ởtỉnh Ninh Bình Do vậy, nghiên cứu này sẽ giải quyết những khoảng trống nghiêncứu này
Trang 193 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm hướng đến giải quyết các mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa và làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyểndịch CCNKT trong CNH, HĐH
- Đánh giá thực trạng chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH ở tỉnh Ninh Bình
từ năm 1992 đến 2012; từ đó rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
- Rút ra những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn về chuyểndịch CCNKT trong CNH, HĐH ở Ninh Bình trong thời gian qua
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy quá trình chuyểndịch CCNKT của Ninh Bình trong CNH, HĐH theo hướng hiệu quả và bền vững
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế trong CNH, HĐH
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu toàn bộ địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu quá trình chuyển dịch CCNKT tỉnh NinhBình từ năm 1992 (từ khi tái lập tỉnh) đến năm 2012 và đề xuất những giải pháp đếnnăm 2020
- Phạm vi nội dung: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu chuyển dịch CCNKT theo
ba ngành lớn là nông-lâm-ngư nghiệp, công nghiệp-xây dựng và dịch vụ và chuyểndịch trong nội bộ của từng ngành đó Tuy nhiên, những vấn đề về cơ cấu thành phầnkinh tế, cơ cấu vùng cũng được xem xét ở mức độ cần thiết nhằm góp phần làm rõ mốiliên hệ và tác động đối với chuyển dịch CCNKT ở tỉnh Ninh Bình
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận:
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử trong nghiên cứu
Trang 205.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu:
+ Các số liệu thống kê về tình hình CCNKT và chuyển dịch CCNKT củatỉnh Ninh Bình từ Tổng cục thống kê và Cục thống kê tỉnh Ninh Bình
+ Các báo cáo tổng kết hàng năm của UBND tỉnh Ninh Bình, báo cáo củacác Sở, ngành của tỉnh Ninh Bình về các chủ trương, chính sách liên quan đến tìnhhình phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch CCNKT
+ Các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về chuyển dịch CCNKT
và CNH, HĐH
- Phương pháp lịch sử: Miêu tả, trình bày diễn biến của quá trình chuyển
dịch CCNKT và cơ cấu nội bộ từng ngành một cách đầy đủ, chi tiết, khách quan ởNinh Bình từ 1992 đến 2012
- Phɵɳng pháp logic: Từ diễn biến của quá trình chuyển dịch CCNKT tìm ra
những bản chất và đặc trưng của chuyển dịch CCNKT và rút ra những đánh giá,nhận định về xu hướng chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH ở Ninh Bình
- Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương
đối, số bình quân để tính toán và mô tả quá trình chuyển dịch CCNKT, từ đó đưa
ra những đánh giá về chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH ở Ninh Bình
- Phương pháp thống kê so sánh: Bằng các số liệu và chỉ tiêu (tuyệt đối,
tương đối, tốc độ) về chuyển dịch CCNKT để đưa ra so sánh chuyển dịch CCNKTgiữa các thời kỳ ở Binh Bình, so sánh giữa chuyển dịch CCNKT của Ninh Bình vớicác địa phương khác trong nước
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, xin tư vấn các nhà quản lý, các nhà hoạch
định chính sách của địa phương về quá trình chuyển dịch CCNKT của Ninh Bình
6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài và đóng góp của luận án
Thực hiện nghiên cứu đề tài này thực sự cần thiết, đặc biệt đối với tỉnh NinhBình và luận án có những đóng góp chính sau đây:
- Góp phần làm phong phú hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịchCCNKT trong CNH, HĐH Cụ thể, luận án đã làm rõ nội hàm, các chỉ tiêu đánh giá và
Trang 21các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch CCNKT trong quá trình CNH, HĐH.
- Đánh giá toàn diện quá trình chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH củatỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 1992-2012 Từ đó, rút ra được những thành công,hạn chế và nguyên nhân của hạn chế của quá trình chuyển dịch CCNKT theohướng CNH, HĐH tại Ninh Bình
- Đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp tính đặc thù gắn với điềukiện và tình hình thực tế tại Ninh Bình nhằm thúc đẩy chuyển dịch CCNKT theohướng CNH, HĐH của tỉnh trong thời gian tới
Những đóng góp của luận án là luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện cácchủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Ninh Bình trongquá trình CNH, HĐH
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Bài học kinh nghiệm, phương hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Ninh Bình
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1.1 Cơ sở lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.1.1 Khái niệm về cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế
Trong các tài liệu và công trình nghiên cứu có nhiều cách tiếp cận khác nhau
về khái niệm cơ cấu kinh tế (CCKT) Các cách tiếp cận này thường bắt đầu từ kháiniệm "cơ cấu" Xét về nguồn gốc, khái niệm cơ cấu có nguồn gốc từ chữ La tinh
“structure” nghĩa là xây dựng, là kiến trúc, được sử dụng đầu tiên trong sinh vật học
dùng để chỉ cách cấu tạo, cách tổ chức và phối hợp, điều chỉnh các yếu tố đã tạo nêncác tế bào thực vật, động vật Sau đó khái niệm cơ cấu được sử dụng chung cho nhiềungành khoa học và được phát triển, hoàn thiện theo sự phát triển của khoa học
Xét trên phương diện triết học, khái niệm cơ cấu được sử dụng để biểu thịcấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành một tổng thểhoặc của một hệ thống Cơ cấu được hiểu như là tập hợp các mối quan hệ liên kếthữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định Cơ cấu là thuộc tính của
hệ thống, do đó khi nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống, CCKT đượchiểu là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân,giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng vàchất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, chúng vậnđộng hướng vào những mục tiêu nhất định Cơ cấu kinh tế bao gồm cơ cấu giữa cáclĩnh vực sản xuất, trao đổi tiêu dùng; giữa các ngành kinh tế công nghiệp, nôngnghiệp, dịch vụ Mỗi vùng, mỗi ngành lại có CCKT riêng của mình tuỳ thuộc vàođiều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế - xã hội cụ thể
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành,
lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” Theo
Trang 23Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ cấu kinh tế được hiểu là nộidung, cách liên kết, phối hợp giữa các phần tử cấu thành hệ thống kinh tế; biểu hiệnquan hệ tỷ lệ cả về lượng và chất của các phần tử hợp thành hệ thống, hay cơ cấukinh tế thực chất là cách thức kết cấu của các phần tử cơ cấu tạo nên hệ thống kinh tế.
Theo Lê Sỹ Thiệp (2000), “Cơ cấu kinh tế là thành phần cấu tạo và cơ chế vận hành
của một tổ chức kinh tế, trong đó tổ chức kinh tế có thể là toàn cầu, khu vực, khối, quốc gia, tổng công ty, doanh nghiệp tùy theo đối tượng nghiên cứu” [25, tr.21]
Một cách tiếp cận khác thì cho rằng CCKT hiểu một cách đầy đủ là một tổngthể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau trongnhững không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện kinh tế - xã hộinhất định, cả về số lượng và chất lượng phù hợp với các mục tiêu được xác định củanền kinh tế
Từ các quan điểm trên, có thể thấy rằng CCKT là một phạm trù kinh tế, mộtkhái niệm phản ánh cấu trúc bên trong của nền kinh tế Hiểu một cách đầy đủ thì:
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố, các bộ phận hợp thành nền kinh tế mà giữa chúng luôn có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, thường xuyên vận động trong những điều kiện tự nhiên, xã hội cụ thể gắn với không gian, thời gian nhất định được thể hiện cả về định tính lẫn định lượng, phù hợp với xu hướng vận động và phát triển của nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế có những đặc trưng sau:
- Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, luôn luôn phản ánh và chịu sự tác
động của các quy luật khách quan Vai trò của các yếu tố chủ quan là thông qua
nhận thức ngày càng sâu sắc những quy luật đó phân tích đánh giá những xu hướngphát triển khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau để tìm ra phương án thay đổi cơ cấucho phù hợp với những điều kiện cụ thể của từng nước, cũng như của từng địaphương, từng vùng, từng ngành trong quá trình phát triển kinh tế Đối với một quốcgia hay một ngành, một địa phương CCKT được thể hiện và phản ánh dưới chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội, ở các chương trình dự án, kế hoạch phát triển củanhà nước, của ngành hay của địa phương
Trang 24- Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử xã hội Thực tế cho thấy nền kinh tế chỉ
phát triển được khi đã xác định được một mối quan hệ cân đối giữa các bộ phận củaquá trình tái sản xuất xã hội và phân công lao động xã hội CCKT luôn gắn liền với sựbiến đổi không ngừng của bản thân các yếu tố, các bộ phận trong nền kinh tế và mốiquan hệ giữa chúng khi nào giải quyết tốt mới diễn ra trôi chảy và đạt hiệu quả cao
- Cơ cấu kinh tế luôn vận động và phát triển ngày càng hợp lý, hoàn thiện và
đạt hiệu quả hơn Đó là sự vận động và phát triển không ngừng của lực lượng sản
xuất và phân công lao động xã hội ngày càng ở trình độ cao hơn, phạm vi ngày càng
mở rộng hơn Khi tiến bộ khoa học và kỹ thuật công nghệ tác động làm cho lựclượng sản xuất và cấu trúc của nó có sự biến đổi về chất, khi đó sẽ tạo điều kiện chocon người ý thức để thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển đồng bộ, hợp lýtrong quá trình tái sản xuất xã hội ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể
- Cơ cấu kinh tế vận động theo hướng ngày càng tăng cường mở rộng sự hợp tác, phân công lao động trong nước và quốc tế Trong nền kinh tế thị trường, sự vận
động khách quan của CCKT theo hướng mở rộng sự hợp tác và phân công lao độngdiễn ra không chỉ trong phạm vi mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi quốc gia mà còn mởrộng ra các nước trong khu vực và trên thế giới Do đó, mỗi quốc gia muốn pháttriển nhanh cần xác định được CCKT trên cơ sở xác định được lợi thế của mình gắnvới thị trường trong nước và quốc tế, nhằm tạo ra CCKT hợp lý, thúc đẩy nhanh quátrình quốc tế hoá nền kinh tế quốc dân
Dựa trên sự nhìn nhận dưới các khía cạnh khác nhau của quá trình phân cônglao động xã hội và tái sản xuất xã hội mà chúng ta có thể phân chia CCKT theo cácloại khác nhau Xét trên sự phân công lao động theo ngành kinh tế có CCNKT Xét
sự phân công lao động theo vùng kinh tế có cơ cấu vùng kinh tế Xét về quan hệ sởhữu có cơ cấu thành phần kinh tế Xét về trình độ kỹ thuật có CCKT kỹ thuật… Cácloại cơ cấu trên quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó CCNKT có vai trò quyết định
Trang 251.1.1.2 Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế
Có nhiều cách tiếp cận và khái niệm khác nhau về CCNKT Cơ cấu ngànhxét theo quan điểm hệ thống là một chỉnh thể liên kết các ngành kinh tế theo mộtkiểu cấu trúc nhất định, tạo ra những thuộc tính mới, chất lượng mới của hệ thống
mà những thuộc tính này không thể có ở từng bộ phận riêng rẽ hợp thành hệ thống
Theo Đỗ Hoài Nam (2006), “Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp
thành, các tương quan tỷ lệ biểu hiện mối quan hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân” [15, tr 17] Cơ cấu n g à nh kinh tế phản ánh trình độ phân công
lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.Khái niệm CCNKT không chỉ được áp dụng cho một nền kinh tế mà có thể được ápdụng cho một vùng hoặc một địa phương
Theo Nguyễn Thị Bích Hường (2005), “Cơ cấu ngành kinh tế là tổng thể các
mối quan hệ chủ yếu về chất lượng và số lượng tương đối ổn định giữa các yếu tố kinh tế và trong từng yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một
hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định trong một khoảng thời gian nhất định” [42, tr.26].
Có nhiều cách phân loại CCNKT Dựa theo tính chất tác động vào đối tượnglao động, CCNKT của một quốc gia bao gồm 3 nhóm ngành: Nhóm ngành nôngnghiệp và khai khoáng, bao gồm các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệpkhai khoáng; Nhóm ngành công nghiệp chế tạo bao gồm các ngành côngnghiệp như công nghiệp điện tử, sản xuất chế biến, công nghiệp sản xuất hoá chất,trang phục, công nghiệp khai thác, sản xuất máy móc thiết bị… và công nghiệp xâydựng; Nhóm ngành dịch vụ, theo WTO bao gồm 12 ngành: Dịch vụ kinh doanh(bao gồm cả dịch vụ chuyên môn và máy tính); Dịch vụ viễn thông; Dịch vụ xây dựng
và kỹ thuật; Dịch vụ phân phối; Dịch vụ giáo dục; Dịch vụ môi trường; Dịch vụ tàichính (bảo hiểm và ngân hàng); Dịch vụ y tế; Dịch vụ du lịch; Dịch vụ thể thao, vănhoá, giải trí; Dịch vụ vận tải; Các dịch vụ khác không nằm trong các loại trên
Dựa theo đặc điểm kinh tế kỹ thuật, CCNKT được chia thành các ngànhcông nghiệp, xây dựng cơ bản, nông nghiệp, dịch vụ
Trang 26Dựa trên cơ sở phân công lao động chung, CCNKT được chia thành cácngành lớn: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
Dựa trên chu kỳ vận động của bản thân ngành, CCNKT được phân thànhngành “mới ra đời” và ngành “sắp lặn”
Dựa vào vị trí, tầm quan trọng và xu thế vận động, CCNKT bao gồm cácngành mũi nhọn, trọng điểm và các ngành khác
Việc phân loại CCNKT như trên là căn cứ vào từng mục đích nghiên cứu.Trong luận án này, tác giả lựa chọn CCNKT theo sự phân công lao động xã hội, baogồm ba ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ở tầm vĩ mô Sự phân tích đượcchú trọng cả về mặt lượng (số lượng ngành, quan hệ tỷ lệ giữa các ngành) và mặtchất (vị trí, vai trò của các ngành hiện tại trong nền kinh tế, các quan hệ gắn kết,tương tác giữa các ngành trong nền kinh tế )
1.1.2 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Đến nay có nhiều khái niệm về chuyển dịch CCNKT Theo Từ điển kinh tếhọc Oxford thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi chính trong nền kinh
tế của một đất nước Theo đó, quá trình này có thể liên quan đến chuyển giao nguồnlực quy mô lớn từ khu vực sản xuất sang khu vực sản xuất công nghiệp, như cácnước công nghiệp mới NICs Nó cũng có thể liên quan đến sự chuyển dịch phươngpháp tổ chức các hoạt động kinh tế từ một nền kinh tế được kế hoạch sang nền kinh
tế dựa trên thị trường như nhiều nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây ở Liên
Xô và các nước Đông Âu
Một số nghiên cứu cho rằng chuyển dịch CCNKT là quá trình phát triển củacác ngành kinh tế dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổimối quan hệ tương quan giữa chúng so với thời kỳ trước đó Khái niệm này coi sựchuyển dịch CCNKT là kết quả sự phát triển tất yếu của các ngành làm thay đổitương quan, tỷ lệ và mối quan hệ giữa chúng
Theo Nguyễn Đình Dương (2006), chuyển dịch CCNKT được hiểu đó là sựthay đổi của CCNKT qua các trạng thái khác sao cho hợp lý, hiệu quả, phù hợp với
xu thế, điều kiện và môi trường phát triển
Trang 27Theo Ngô Doãn Vịnh (2005), “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự thay
đổi tỷ lệ thành phần trong cơ cấu ngành kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm có được sự phát triển tốt hơn, hiệu quả hơn” [32, tr 15] Khái niệm đã
đưa ra được mục tiêu của chuyển dịch CCNKT
Theo Nguyễn Thị Bích Hường (2005), “Chuyển dịch (hay điều chỉnh) cơ cấu
ngành kinh tế là khái niệm chỉ rõ sự chủ động của các chủ thể làm thay đổi một số mặt, một số yếu tố của cơ cấu ngành kinh tế cho thích ứng với điều kiện khách quan hay mục đích phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ mà không tạo ra sự thay đổi đột biến về cơ cấu” [42, tr.23].
Một số nghiên cứu khác lại cho rằng dưới sức ép của nhu cầu thị trường vàyêu cầu phát triển kinh tế đòi hỏi phải thay đổi cơ cấu ngành của nền kinh tế Cácnghiên cứu này khẳng định chuyển dịch CCNKT có tính khách quan do yêu cầu củathị trường và sự phát triển kinh tế và nhấn mạnh đến sự chuyển dịch CCNKT là cómục đích và có định hướng Điều này có nghĩa chuyển dịch CCNKT gắn với sự chủđộng của Nhà nước và nhận thức tính tất yếu khách quan cần thực hiện sự thay đổi
cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác, hợp lý và hiệu quả hơn
Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau song các nghiên cứu trên đềuthống nhất một số nội dung cơ bản là: quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời làquá trình làm thay đổi CCNKT, cả quan hệ tỷ lệ về số lượng lẫn về chất lượng Sựthay đổi cấu trúc các bộ phận hợp thành hay các ngành trong nền kinh tế sẽ dẫn đến
sự thay đổi cả nền kinh tế Vì vậy, có thể rút ra khái niệm: Chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế là quá trình vận động, phát triển của các ngành kinh tế làm thay đổi trong tổng thể, trong tỷ trọng và trong mối quan hệ của các ngành trong một nền kinh tế phù hợp với sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Nếu xem xét cụ thể trong một khoảng thời gian xác định, sự chuyển dịchCCNKT trong quá trình phát triển được thể hiện ở những điểm sau:
- Sự thay đổi về số lượng và loại ngành trong nền kinh tế do sự xuất hiện thêm những ngành mới hoặc mất đi một số ngành đã có Đó cũng là quá trình cải
Trang 28tạo những ngành cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng và phát triển cácngành mới, tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung ngành cũ nhằm biến đổi cơ cấu ngành
cũ thành cơ cấu ngành mới hiện đại và phù hợp hơn Với việc phân loại ngành kinh
tế được chi tiết tới nội bộ từng ngành, tới các phân ngành trong các ngành lớn nhưcông nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ thì sự thay đổi này sẽ dễ dàng nhận thấy
- Sự tăng trưởng về quy mô và tốc độ không đồng đều giữa các ngành Kết
quả của sự không đồng đều này dẫn tới thay đổi tương quan tỷ lệ, mối quan hệ giữacác ngành so với thời kỳ trước đó và như vậy CCNKT đã có sự thay đổi Ngược lại,
sự tăng trưởng đồng đều về quy mô và tốc độ sau một giai đoạn phát triển của cácngành và duy trì tương quan tỷ lệ, mối quan hệ giữa chúng như thời kỳ trước đó sẽkhông dẫn đến sự thay đổi CCNKT Điều này cho thấy, chỉ có xem xét đồng thời cảtốc độ tăng trưởng, quy mô phát triển và tương quan tỷ lệ giữa các ngành trong mỗithời kỳ so với thời kỳ trước đó mới đánh giá đúng quá trình chuyển dịch CCNKT
- Sự thay đổi trong quan hệ tác động qua lại giữa các ngành, được thể hiện
bằng số lượng các ngành có liên quan lẫn nhau, thể hiện qua quy mô đầu vào màcác ngành này cung cấp cho các ngành kia hay ngược lại ngành kia nhận được từcác ngành này Đây là sự thay đổi về mặt chất lượng cơ cấu ngành, nó có liên quanđến thay đổi công nghệ sản xuất sản phẩm
- Sự thay đổi của CCNKT phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội, biểu hiện chủ yếu trên hai mặt Một là, lực lượng sản xuất càng phát triển, càng
tạo điều kiện cho quá trình phân công lao động xã hội trở nên sâu sắc Hai là, sựphát triển của phân công lao động xã hội đến lượt nó lại làm cho mối quan hệ kinh
tế thị trường củng cố và phát triển Như vậy, sự thay đổi về số lượng và chất lượngcủa CCNKT phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Trong thời
kỳ công nghiệp hoá, chuyển dịch CCNKT phản ánh mức độ đạt được của quá trìnhcông nghiệp hoá
- Sự chuyển dịch CCNKT còn phản ánh mức độ thay đổi của phương thức sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại, những khu vực có năng suất lao động cao,
Trang 29giá trị gia tăng lớn, sẽ có tốc độ phát triển cao hơn và do đó, sẽ thay thế dần nhữngkhu vực sản xuất - kinh doanh có năng suất lao động và giá trị gia tăng thấp.
1.1.3 Các lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.1.3.1 Lý thuyết của Max
Vấn đề chuyển dịch CCNKT được Max (1909) đề cập chủ yếu trong nộidung của hai học thuyết: học thuyết về phân công lao động xã hội và học thuyết vềtái sản xuất xã hội Max cho rằng quá trình chuyển dịch CCNKT đạt hiệu quả khi có
sự chín muồi của các tiền đề sau:
- Trong xã hội hình thành hai khu vực rõ ràng, khu vực nông thôn và khu vựcthành thị Khu vực nông thôn chủ yếu sản xuất nông nghiệp, khu vực thành thị gồmcác hoạt động của các ngành công nghiệp, thương mại và các ngành dịch vụ khác.Hai khu vực này có mối quan hệ khăng khít với nhau, trong quá trình sản xuất vàgiao lưu buôn bán hai khu vực có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cùng hỗ trợ nhauphát triển
- Số lượng dân cư và mật độ dân cư, các phương hướng chuyển dịch đưa ranhằm khắc phục tình trạng di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị ngày càng giatăng nhưng đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế và mối quan hệ phát triển giữa haikhu vực
- Năng suất lao động trong nông nghiệp được nâng cao đủ để cung cấpnhững sản phẩm thiết yếu cho cả những người lao động trong nông nghiệp cũngnhư người lao động thuộc các ngành nghề sản xuất khác
- Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, nông nghiệp truyềnthống chi phối các hoạt động kinh tế nhưng sự phát triển của nông nghiệp truyềnthống này chưa đủ sức mạnh để thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, trong xãhội chưa có sự chuyển biến lớn Nhưng đến giai đoạn phát triển tiếp theo của nềnkinh tế có sự chuyển dịch từ nền nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế côngnghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Sự phát triển của ngành công nghiệp thúc đẩy sựphát triển của ngành nông nghiệp cả chiều rộng lẫn chiều sâu Sự phát triển của
Trang 30ngành nông nghiệp và công nghiệp tất yếu dẫn đến sự phát triển của ngành dịch vụ.
Do nông nghiệp phát triển cho nên mức sống của người dân ở khu vực nông thônluôn được cải thiện theo hướng đi lên Vì vậy, tình trạng di dân từ nông thôn rathành thị ngày càng có xu hướng giảm Sự phát triển của ngành công nghiệp vàngành dịch vụ không ngừng ảnh hưởng tới việc nâng cao năng suất lao động trongnông nghiệp, do vậy sự chuyển dịch CCNKT là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng vàphát triển của nền kinh tế quốc dân
1.1.3.2 Lý thuyết của Rostow
Rostow (1960) cho rằng quá trình phát triển và chuyển dịch CCKT của bất
cứ quốc gia nào cũng trải qua năm giai đoạn phát triển:
- Giai đoʭn xã h i truy˒n th˨ng: giai đoạn này sản xuất nông nghiệp giữ vai
trò chủ yếu, sản xuất bằng công cụ thủ công, kỹ thuật chưa phát triển, tuy vậy nềnkinh tế không bị chững lại mà vẫn có sự tăng trưởng liên tục do áp dụng khoa học
kỹ thuật vào nông nghiệp, đặc biệt là thủy lợi
- Giai đoʭn chuʷn bˢ cʳt cánh: công nghiệp bắt đầu được hình thành thời kỳ
nông nghiệp - công nghiệp có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển Đây là thời
kỳ xây dựng nền tảng cho một hệ thống kinh tế hiện đại
Giai đoʭn cʳt cánh: công nghiệp ra đời và phát triển, đây là thời kỳ công
-nông nghiệp, nó cũng chính là giai đoạn trung tâm của sự phát triển Đây là thời kỳxây dựng nền tảng công nghiệp cho nền kinh tế
- Giai đoʭn tăng trɵ ng: thời kỳ công nghiệp phát triển mạnh, giai đoạn mà
tỷ lệ đầu tư trên thu nhập quốc dân cao và xuất hiện nhiều cực tăng trưởng mới
- Giai đoʭn tiêu dùng cao: là giai đoạn trình độ kinh tế phát triển cao, sản xuất
nông nghiệp hàng hóa, thị trường linh hoạt và có hiện tượng giảm nhịp độ tăng trưởng
Như vậy, quan điểm của Rostow cho rằng, nền kinh tế phát triển theo xuhướng chuyển dịch từ thời kỳ nông nghiệp truyền thống sang thời kỳ nông - côngnghiệp, thời kỳ công - nông nghiệp và dịch vụ, thời kỳ công nghiệp phát triển mạnh
Trang 31Xét trên góc độ mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và quá trình phát triển, lýthuyết Rostow là chỉ ra được sự lựa chọn hợp lý dạng cơ cấu ngành tương ứng vớitừng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia Tuy nhiên, lý thuyết của Rostow cũng
có những hạn chế là thiếu cơ sở cho sự phân đoạn trong quá trình phát triển và thiếu
sự đặc trưng của mỗi giai đoạn so với thực tế
1.1.3.3 Lý thuyết nhị nguyên của Athus Lewis
Athus Lewis (1954) chia nền kinh tế thành hai khu vực cùng song song vàtồn tại, đó là khu vực nông nghiệp và khu vực công nghiệp Lý thuyết này đề cậpđến mối quan hệ công nghiệp và nông nghiệp trong việc giải quyết lao động dư thừa
ở nông thôn Giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, nông nghiệp phát triểnchi phối các hoạt động của kinh tế nhưng sau đó do sự dư thừa lao động cho nênnăng suất lao động trong nông nghiệp có chiều hướng giảm Bên cạnh đó, do côngnghiệp mới được hình thành cho nên cần nhiều lao động dẫn đến sự di chuyển laođộng từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp Khoa học và kỹ thuật kếthợp với lao động thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp, công nghiệp phát triển tạotiền đề cho nông nghiệp Nền kinh tế có sự chuyển dịch từ thời kỳ nông nghiệpthuần túy sang thời kỳ công - nông nghiệp phát triển Như vậy, lý thuyết của Lewis
đã xác định được hướng giải quyết mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệptrong quá trình chuyển dịch CCKT để đạt mục tiêu tăng trưởng và phát triển
Lý thuyết nhị nguyên của Lewis tiếp tục được nhiều nhà kinh tế như Ranis,Fei, Harris tiếp tục nghiên cứu và phát triển Luận cứ của các nhà kinh tế này xuấtphát từ khả năng phát triển và tiếp nhận lao động của khu vực công nghiệp Nếunhư công nghệ hiện đại vừa phải sử dụng nhiều lao động thì sẽ thu hút hết lượng laođộng dư thừa của khu vực nông nghiệp Nhưng việc di chuyển lao động được giảđịnh là do chênh lệch về thu nhập giữa lao động của hai khu vực kinh tế trên quyếtđịnh Như vậy, khu vực công nghiệp chỉ có thể thu hút lao động nông nghiệp khi có
sự dư thừa lao động nông nghiệp và chênh lệch tiền công giữa hai khu vực đủ lớn
Trang 32Tuy nhiên, khi nguồn lao động nông nghiệp dư thừa cạn dần thì khả năngduy trì sự chênh lệch về tiền lương này sẽ ngày một khó khăn vì không thể tăng mãilương ở khu vực công nghiệp Nếu có thể, việc tiếp tục di chuyển lao động nôngnghiệp sang công nghiệp sẽ làm giảm sản lượng nông nghiệp và làm cho giá cảnông sản tăng lên, và kéo theo đó là mức tăng tiền công ở khu vực công nghiệp.Như thế, cả khu vực công nghiệp và khu vực nông nghiệp đều gặp khó khăn trongtăng trưởng.
1.1.3.4 Lý thuyết cân đối liên ngành
Những người ủng hộ quan điểm phát triển cân đối như Nurkse (1961),Rosenstein-Rodan (1963) cho rằng phải phát triển đồng đều ở tất cả mọi ngành kinh
tế quốc dân để nhanh chóng CNH và chuyển dịch cơ cấu Theo quan điểm trong lýthuyết này, tất cả các ngành kinh tế có liên quan chặt chẽ với nhau trong chu trình
“đầu ra của ngành này là đầu vào của ngành kia” Do vậy, muốn phát triển nền kinh
tế phải phát triển cân đối các ngành Đây cũng là lý thuyết mang yếu tố có lợi đặcbiệt so với phương án chuyên môn hóa trong sản xuất Mô hình này cũng không ủng
hộ chiến lược phát triển một ngành duy nhất Mô hình khẳng định đầu tư là yếu tốquan trọng quyết định phát triển Mô hình cũng có khả năng ứng phó linh hoạt vớinhững biến động bất thường và dễ hòa nhập với quốc tế Chẳng hạn, một nước tìmcách phát triển mà lấy nông nghiệp làm ngành chủ đạo, nước đó phải thực hiệnchính sách sao cho sản xuất nông sản phải có một thu nhập đủ để đáp ứng nhu cầutrong nước ngày càng tăng về sản phẩm chế biến thông qua nhập khẩu Trong điềukiện hệ số co giãn của nhu cầu trên thế giới về hàng nông sản là rất thấp, con đườngphát triển sẽ gặp khá nhiều khó khăn
Mặt khác, công nghiệp còn là ngành có ưu thế hơn trong việc tạo ra tiến bộkhoa học kỹ thuật, tận dụng những đặc trưng của nền sản xuất hiện đại, khuyếnkhích tăng trưởng trong các khu vực khác của nền kinh tế thông qua việc mua sắmcác yếu tố đầu vào, sản xuất đầu ra là các thành phẩm và tư liệu sản xuất Sự pháttriển lành mạnh của ngành nông nghiệp và khai khoáng có ý nghĩa sống còn đối vớithành công của tiến trình CNH Chúng không những cung cấp phần lớn nguyên liệu
Trang 33cho ngành công nghiệp chế biến, mà còn là nguồn vốn và lao động cho công nghiệp
và nguồn tạo ra nhu cầu trong nước về sản phẩm tiêu dùng của công nghiệp Sựthành công của hai ngành này còn có ý nghĩa sống còn trong những giai đoạn đầucủa CNH
Tuy nhiên, lý thuyết cân đối liên ngành chỉ phù hợp với giai đoạn CNHhướng nội Trong điều kiện CNH, HĐH và xu thế hội nhập thì bộc lộ những hạnchế: (i) Việc phát triển một CCKT cân đối và hoàn chỉnh dẫn đến một nền kinh tếđến chỗ khép kín và tách biệt với thế giới bên ngoài Như vậy sẽ rất bất lợi với xuthế quốc tế hóa và toàn cần hóa kinh tế đang diễn ra trên thế giới và không tận dụngđược những lợi ích tích cực từ môi trường bên ngoài đem lại; (ii) Các nền kinh tếđang phát triển không đủ nguồn lực về nhân lực, KHCN, tài chính, quản lý… để cóthể thực hiện được những mục tiêu phát triển đặt ra
1.1.3.5 Lý thuyết "cực tăng trưởng" hay phát triển không cân đối
Nhà kinh tế Hirschman (1958) cho rằng bảo tăng trưởng bền vững bằng cáchduy trì cơ cấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia là không thể và không nhấtthiết Lý do của quan điểm này là: (i) Việc phát triển không cân đối sẽ tạo ra kíchthích đầu tư, dồn đầu tư vào những ngành mang lại lợi nhuận cao và phát triểnmạnh Ðể nền kinh tế phát triển được, cần phải tập trung đầu tư vào một số ngànhnhất định gọi là “cực tăng trưởng”, tạo ra một "cú hích" thúc đẩy và có tác dụng lôikéo đầu tư trong các ngành khác, từ đó kéo theo sự phát triển của nền kinh tế; (ii)Trong mỗi giai đoạn phát triển, vai trò "cực tăng trưởng" của các ngành trong nềnkinh tế là không giống nhau vì chúng có điều kiện và khả năng phát triển khác nhautrong mỗi thời kỳ Vì vậy, cần tập trung những nguồn lực (vốn khan hiếm) cho một
số lĩnh vực cụ thể trong một thời điểm nhất định; (iii) Trong thời kỳ đầu của quátrình CNH, các nước đang phát triển rất thiếu các nguồn lực sản xuất nên không thể
có khả năng phát triển đồng bộ tất cả các ngành hiện đại cùng một lúc
Như vậy, với các nước tiến hành CNH, HĐH và hội nhập phát triển khôngcân đối các ngành kinh tế là một sự lựa chọn tất yếu Phát triển cơ cấu không cân
Trang 34đối và mở cửa ra bên ngoài của lý thuyết này là phù hợp với điều kiện hội nhậpquốc tế Do vậy, trong thời gian gần đây lý thuyết này càng được thừa nhận rộng rãi,nhất là từ sau sự thành công của các nước công nghiệp hóa mới (NICs) Lý thuyếtphát triển không cân đối đã được nhiều nước đang phát triển áp dụng với mô hìnhcông nghiệp hóa mở cửa và hướng ngoại.
1.1.3.6 Lý thuyết của Moshe Syrquin
Lý thuyết chuyển dịch CCKT của Syrquin (1988) đưa ra một bức tranh tổngthể về sự phát triển và chuyển dịch CCKT thời kỳ hiện đại Quá trình phát riển kinh
tế của một quốc gia theo lý thuyết này được chia thành ba giai đoạn: sản xuất nôngnghiệp, công nghiệp hóa và nền kinh tế phát triển
Giai đoạn 1 có đặc trưng chính là sự thống trị của các hoạt động của khu vực
khai thác, đặc biệt là nông nghiệp, nguồn lực chính trong việc gia tăng sản lượngcủa các hàng hóa phi thương mại Mặc dù khu vực khai thác thông thường có tốc độtăng trưởng chậm hơn khu vực chế biến nhưng ở mức thu nhập bình quân đầu ngườithấp thì sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng đó bị bù trừ hoàn toàn bởi nhu cầu hạnchế về các mặt hàng công nghiệp chế biến Đặc trưng chủ yếu của giai đoạn này là
tỷ lệ tích lũy tư bản còn khiêm tốn nên tỷ lệ đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng cao củalực lượng lao động, tốc độ tăng trưởng năng suất nhân tố (TFP) rất thấp và nhân tốsau cùng này tác động mạnh đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chung hơn là yếu tố tỷ
lệ đầu tư thấp Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng kinh tế chung khá chậm màmột trong những nguyên nhân chính là do tỷ trọng tương đối cao của khu vực nôngnghiệp trong tổng giá trị gia tăng (hay GDP)
Giai đoạn 2 (giai đoạn công nghiệp hóa) có đặc điểm nổi bật là tầm quan
trọng trong nền kinh tế đã được chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực chếbiến, và chỉ tiêu chính để đo lường sự chuyển dịch này là tầm quan trọng của khuvực chế biến trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung ngày càng tăng lên Sựchuyển dịch này xuất hiện ở các nước có mức thu nhập bình quân đầu người caohơn hay thấp hơn phụ thuộc vào yếu tố nguồn tài nguyên sẵn có cũng như chínhsách ngoại thương của nước đó Do có sự gia tăng mạnh của tỷ lệ đầu tư nên sự
Trang 35đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tích lũy tư bản được giữ ở mức cao trong hầuhết giai đoạn này.
Giai đoạn 3 là giai đoạn của một nền kinh tế phát triển Nếu xét về mặt cầu,
thì trong giai đoạn này có độ co giãn theo thu nhập của hàng công nghiệp chế biến
đã giảm đi; và ở một thời điểm nào đó, tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong cơcấu nhu cầu nội địa bắt đầu giảm xuống Mặc dù xu hướng này có thể bị lấn át ởmột giai đoạn nào đó bởi xuất khẩu vẫn tiếp tục gia tăng ở mức độ cao, nhưng cuốicùng nó được phản ánh qua việc giảm sút tỷ trọng trong khu vực công nghiệp trong
cơ cấu GDP hay trong cơ cấu lực lượng lao động Khu vực dịch vụ trở thành khuvực quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP cũng như cơ cấulao động Sự thay đổi này xuất hiện rất rõ ràng ở tất cả các nước công nghiệp pháttriển trong suốt 20 năm qua Ở mặt cung, sự khác biệt chủ yếu giữa giai đoạn 2 vàgiai đoạn 3 là sự suy giảm trong đóng góp vào tăng trưởng của cả hai nhân tố sảnxuất tư bản và lao động theo cách tính qui ước Đóng góp vào tăng trưởng của nhân
tố tư bản (vốn) giảm xuống bởi cả hai yếu tố: tốc độ tăng trưởng chậm hơn và tỷtrọng ngày càng thấp hơn Hơn nữa, vì có sự suy giảm trong tốc độ gia tăng dân số,chỉ có một vài nước phát triển là có sự gia tăng đáng kể trong lực lượng lao động.Như vậy, trong giai đoạn này, nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng là nhân tốtổng năng suất nhân tố Ở những nước phát triển hơn, tăng trưởng TFP có tác độnglan tỏa đến toàn nền kinh tế rộng lớn hơn so với giai đoạn 2 Thay đổi dễ nhận thấynhất là trong khu vực nông nghiệp, từ khu vực có tăng trưởng năng xuất thấp trởthành khu vực có năng suất lao động cao nhất trong hầu hết cả nền kinh tế phát triển.Nguyên nhân nội tại là do sự tiếp tục dịch chuyển của lao động từ nông nghiệp sangcác khu vực và chênh lệch về tiền lương giữa khu vực nông nghiệp và các khu vựckhác ngày càng được thu hẹp lại, do đó đã thúc đẩy sự thay thể của tư bản cho laođộng cũng như đẩy mạnh những cải tiến về công nghệ
1.1.3.7 Lý thuyết của Justin Lin
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây đã thách thức các chuyên giakinh tế xem xét lại sự phù hợp của các lý thuyết kinh tế hiện có, trong đó có cả tư
Trang 36duy về phát triển Tiếp nối những nỗ lực, cố gắng để lấp đầy các khoảng trống trithức trong quá trình phát triển, đúc kết từ những kinh nghiệm trong quá khứ và từcác lý thuyết kinh tế trước đây, lý thuyết CCKT mới của Justin Lin (2007) là một cơ
sở để xem xét lại sự phát triển và chuyển dịch CCKT Lý thuyết này được đề xuấtdựa trên ba giả định chính:
Thứ nhất, cấu trúc kinh tế tối ưu là khác nhau ở các giai đoạn phát triển khác nhau Thứ hai, phát triển kinh tế là một quá trình liên tục, không nhất thiết có thể
chia thành các giai đoạn cứng nhắc (như mô hình của Rostow) và cũng không phải
là sự lưỡng phân giữa hai nhóm (các nước thu nhập thấp và các nước thu nhập cao).Quy mô của phát triển kinh tế trong thực tế mở rộng từ giai đoạn nông nghiệp thấp,truyền thống, qua các giai đoạn thu nhập trung bình tới giai đoạn hậu công nghiệphóa cao, giai đoạn hiện đại, thu nhập cao
Thứ ba, tại bất kỳ giai đoạn phát triển nhất định nào, thị trường là cơ chế cơ
bản để phân bổ nguồn lực hiệu quả nhưng nhà nước lại cần đóng vai trò chủ độngtạo thuận lợi trong chuyển đổi từ giai đoạn thấp hơn sang giai đoạn cao hơn
Áp dụng phương pháp tiếp cận tân cổ điển, Lin (2007) cho rằng các nguồnlực cung cấp cho một nền kinh tế bao gồm: đất đai (hay tài nguyên thiên nhiên), vốn(cả vật chất và con người), lao động và cơ sở hạ tầng cứng và mềm (vật thể và phivật thể) Các nước, ở các giai đoạn khác nhau của phát triển, có xu hướng áp dụngcác cấu trúc kinh tế khác nhau do sự khác biệt trong các nguồn vốn cung cấp của họ.Các nguồn vốn nhân tố của các nước ở giai đoạn đầu phát triển có đặc điểm là khákhan hiếm, nhưng lao động hoặc tài nguyên khá phong phú Ở các nước đang pháttriển, khi mà lao động thô sơ và tài nguyên dồi dào nhưng vốn vật chất và con ngườikhan hiếm thì chỉ những ngành sử dụng nhiều lao động và tài nguyên (phần lớn lànông nghiệp và khai thác mỏ) là có lợi thế cạnh tranh ở các thị trường mở và cạnhtranh Ở các nước phát triển, cơ cấu nguồn vốn hoàn toàn khác: yếu tố tương đối dồidào của họ thường là vốn, không phải tài nguyên thiên nhiên hay lao động và họthường có lợi thế cạnh tranh ở các ngành sử dụng nhiều vốn có tính kinh tế theo quy
Trang 37mô; các cơ sở hạ tầng cứng và mềm cần thiết phải tuân theo các nhu cầu của thịtrường trong nước và thế giới Đối với một nước đang phát triển có nền sản xuấtdựa trên công nghệ toàn cầu và công nghiệp của các nước đi trước, cấu trúc nguồnvốn nhân tố có khuynh hướng quyết định giá các nhân tố liên quan và cấu trúc côngnghiệp tối ưu Sự di chuyển nguồn vốn từ các khu vực có năng suất thấp tới các khuvực có năng suất cao sẽ đồng thời làm tăng tổng thu nhập của nền kinh tế và thayđổi giá các nhân tố liên quan, đó cũng là hai thông số quan trọng nhất cho lựa chọnsản xuất của các doanh nghiệp.
Phát triển kinh tế đòi hỏi không ngừng áp dụng công nghệ mới và tốt hơncho các ngành công nghiệp hiện tại và nâng cấp các ngành công nghiệp hiện tại từviệc sản xuất dùng nhiều lao động sang các ngành mới dùng nhiều vốn hơn Cácnước đang phát triển có lợi thế đi sau và đã sẵn các ngành công nghiệp với mức độkhác nhau về cường độ vốn Đối với họ để nâng cấp từ các ngành có hàm lượng vốnthấp nên các ngành có hàm lượng vốn cao trước tiên họ cần phải nâng cấp cácnguồn vốn nhân tố của mình, điều này đòi hỏi nguồn dự trữ vốn phải phát triểnnhanh hơn lực lượng lao động Việc di chuyển lên bậc thang công nghiệp của cácnước đang phát triển trong quá trình phát triển kinh tế sẽ làm tăng quy mô sản xuất.Quá trình nâng cấp làm nền kinh tế của nó tiến gần với biên giới công nghiệp toàncầu hơn Khi các doanh nghiệp tiếp cận gần hơn với ranh giới công nghiệp toàn cầu,
họ càng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm kiếm những công nghệ hoàn chỉnh
từ các nước tiên tiến, điều này thôi thúc họ tự thân phát minh cho ra đời những sảnphẩm mới Quá trình đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm này biến thiên mạnh mẽ
từ ngành này sang ngành khác cũng như từ giai đoạn phát triển kinh tế này sang giaiđoạn phát triển kinh tế khác Quá trình đổi mới các ngành đặt ra yêu cầu thay đổitương ứng đối với cơ sở hạ tầng cứng và cơ sở hạ tầng mềm Do cấu trúc ngànhtrong một nền kinh tế tại một thời điểm nhất định thường phát sinh dựa trên mức độsẵn có tương ứng của quá trình đổi mới ngành phụ thuộc vào tốc độ cải thiện nănglực cũng như việc nâng cao cơ sở hạ tầng tương ứng theo yêu cầu
Trang 38Cùng với quá trình tích lũy vốn và tăng trưởng dân số, mức độ sẵn có nguồnvốn nhân tố của nền kinh tế cũng thay đổi thúc đẩy cấu trúc ngành và cơ sở hạ tầng
xa rời mức độ tối ưu do các điều kiện ban đầu quy định, và để chuyển sang mức độtối ưu mới, cấu trúc ngành và cơ sở hạ tầng cần phải được đổi mới một cách đồngthời Cách nhanh nhất để tích lũy vốn và cải thiện cơ cấu ngành ở các nước đangphát triển là dựa vào sự sẵn có của công nghệ và các ngành đã được phát triển ở cácngành hiện có phù hợp với lợi thế so sánh của nền kinh tế và tham gia vào cácngành hiện có phù hợp với cơ cấu tài trợ của họ
Để đạt hiệu quả kinh tế của quá trình nâng cấp cơ cấu ngành, Nhà nước cầnđóng vai trò chủ động trong quá trình phát triển kinh tế để kịp thời tạo điều kiện cảithiện cơ sở hạ tầng cứng và mềm để đáp ứng nhu cầu thay đổi phát sinh từ việcnâng cấp công nghiệp, nếu không, cơ sở hạ tầng sẽ trở thành một nút thắt quantrọng trong quá trình phát triển kinh tế Vai trò của Nhà nước không chỉ là thiết kếcác chính sách để tạo điều kiện nâng cấp công nghiệp mà còn còn phải vạch rachiến lược thoát khỏi tình trạng biến dạng gây ra bởi mức độ can thiệp không phùhợp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế Các nước đang phát triển thường phảiđối mặt với nhiều loại biến dạng kép, khi việc can thiệp không phù hợp gây biếndạng lần hai, lần ba… Do đó, để tạo điều kiện cải cách, giúp đỡ các quá trìnhchuyển đổi thoát khói tình trạng biến dạng, các nước phải áp dụng phương pháp tiếpcận thực tế lối thoát từng bước, cung cấp khả năng bảo vệ tạm thời các ngành ưutiên cũ để duy trì sự ổn định, và giải phóng ngành phù hợp với lợi thế so sánh củanền kinh tế để đạt được tính năng động cùng lúc
1.2 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Khái niệm công nghiệp hoá mang tính lịch sử và luôn có sự thay đổi cùngvới sự phát triển của nền sản xuất xã hội và khoa học - công nghệ
Petit (1992) cho rằng “Công nghiệp hoá là đưa đặc tính công nghiệp cho mộthoạt động; trang bị (cho một vùng, một nước) các nhà máy, các loại công nghiệp ”
Trang 39[79, tr 520] Đây là một khái niệm giản đơn nhất về CNH và khái niệm này đượchình thành trên cơ sở khái quát quá trình CNH ở các nước Tây Âu và Hoa Kỳ tiếnhành vào thế kỷ 18 và 19.
Ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, quan niệm phổ biến chorằng: “Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khảnăng cải tạo cả nông nghiệp Đó là quá trình phát triển công nghiệp nặng với ngànhtrung tâm là cơ khí chế tạo máy” [47, tr 1] Quan niệm này xuất phát từ thực tiễncủa Liên Xô thực hiện CNH sau khi giành được chính quyền và chiến thắng trongcuộc nội chiến: công nghiệp đã phát triển đến mức độ nhất định; bị các nước đếquốc bao vây toàn diện, không có sự trợ giúp từ bên ngoài
Năm 1963, Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) đãđưa ra định nghĩa: “Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế, trong quátrình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên
để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểmcủa cơ cấu này là có bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sảnxuất và hàng tiêu dùng, có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển vớinhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội” [47, tr 10] Quan niệmnày cho thấy, CNH bao trùm toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mộtquốc gia nhằm đạt tới không phải chỉ sự tiến bộ về kỹ thuật và kinh tế, mà còn cảnhững tiến bộ về mặt xã hội nữa Tuy nhiên, định nghĩa này lại thể hiện khá rõ sựdung hoà nhiều ý kiến khác nhau và như nhiều học giả đánh giá, mang tính chất mộtphương hướng tác chiến hơn là một định nghĩa khoa học
Ngày nay, với sự tác động ngày càng mạnh mẽ và trực tiếp của cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ, của toàn cầu hoá và của xu hướng chuyển sang pháttriển nền kinh tế tri thức, quan niệm về CNH được mở rộng hơn Theo đó, CNH làquá trình cải biến nền kinh tế nông nghiệp dựa trên nền tảng kỹ thuật thủ công, sảnxuất hàng hoá nhỏ mang nặng tính chất tự cung tự cấp thành nền kinh tế côngnghiệp dựa trên nền tảng kỹ thuật hiện đại, năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, là
Trang 40quá trình phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập ngày càng sâu hơn vào đờisống kinh tế quốc tế.
Ngày nay, CNH luôn gắn chặt với HĐH tất cả các mặt của đời sống kinh tế
-xã hội của một quốc gia Đảng ta đã xác định “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổicăn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xãhội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức laođộng cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên
sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học và công nghệ, tạo ra năng suất laođộng xã hội cao” [61, tr 43]
Như vậy, một cách tổng quát, CNH, HĐH là quá trình chuyển đất nước từtrạng thái của nền kinh tế nông nghiệp và văn minh nông nghiệp thành nền kinh tếcông nghiệp và văn minh công nghiệp có chứa đựng những yếu tố nhất định của nềnkinh tế tri thức và văn minh trí tuệ
Quá trình CNH, HĐH ở từng nước có những nét riêng biệt, nhưng nếu xét mộtcách tổng quát quá trình này có những đặc trưng chung mang tính phổ biến sau đây:
- CNH, HĐH là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ cho tất cả cáchoạt động, chuyển từ chỗ sử dụng các công cụ thủ công sang sử dụng máy móc thiết
bị ngày càng hiện đại Đó là quá trình tạo nên sự chuyển biến căn bản về lực lượngsản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh củanền kinh tế
- CNH, HĐH là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và cơ cấu nộitại mỗi ngành kinh tế CNH, HĐH không chỉ liên quan đến phát triển công nghiệp,
mà là quá trình bao trùm tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hộimột nước Đó là lẽ tất yếu vì nền kinh tế mỗi nước là một hệ thống, các ngành, cáclĩnh vực hoạt động có quan hệ tương hỗ, sự thay đổi ở ngành, lĩnh vực này sẽ kéotheo hoặc đòi hỏi sự thay đổi thích ứng ở các ngành, các lĩnh vực hoạt động khác.Bởi vậy, quá trình CNH cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và
cơ cấu nội tại mỗi ngành, mỗi lĩnh vực hoạt động