Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng tái sinh tự nhiên của một số thảm thực vật tại xã Hoàng Hoa Thám- thị xã Chí Linh và vùng phụ cận, làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin cảm ơn TS Nguyễn Thế Cường – người đã hướng dẫn
trực tiếp và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS.Hà Minh Tâm (hiện đang làm việc tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội II) đã giúp đỡ tôi thực hiện các chuyến điều tra thực địa
và định loại mẫu vật
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn chân thành đến chính quyền địa phương thị xã Chí Linh – Hải Dương, phòng Sau đại học (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II); đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2016
Tác giả
Vũ Thị Hồng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của Luận văn, tôi xin cam đoan:
Luận văn “Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh của thảm thực vật rừng tại
xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương” là công trình nghiên cứu
của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thế Cường
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi c ng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Các kết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Tác giả
Vũ Thị Hồng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1
4 Đóng góp mới 2
NỘI DUNG 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm về thảm thực vật, tái sinh và phục hồi 3
1.2 Lược sử nghiên cứu về tái sinh rừng 7
1.2.1 Trên thế giới 7
1.2.2 Ở Việt Nam 11
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN 18
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Phạm vi nghiên cứu 18
2.2.1 Vị trí địa lý, địa hình 18
2.2.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn 19
2.2.3 Điều kiện xã hội 20
2.3 Thời gian nghiên cứu 21
2.4 Nội dung nghiên cứu 21
2.5 Phương pháp nghiên cứu 21
Chương 3 27
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Đặc điểm của thảm thực vật trong vùng nghiên cứu 27
3.1.1 Đặc điểm thành phần loài thực vật 27
3.1.2 Các loài thực vật có giá trị bảo tồn nguồn gen và giá trị kinh tế 28
Trang 53.1.3 Các kiểu thảm thực vật ở xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải
Dương 32
3.2 Đặc điểm lớp cây tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng Dẻ thuần loài. 35
3.2.1 Đặc điểm thành phần loài cây tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng dẻ thuần loài 35
3.2.2 Mật độ cá thể tái sinh của thảm thực vật rừng dẻ thuần loài 38
3.2.3 Chất lượng của cây tái sinh của thảm thực vật rừng Dẻ thuần loài 39
3.2.4 Quy luật phân bố cây tái sinh 39
3.3 Đặc điểm lớp cây tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng hỗn giao lá rộng 41 3.3.1 Đặc điểm thành phần loài cây tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng hỗn giao lá rộng 41
3.3.2 Mật độ cá thể tái sinh của thảm thực vật rừng hỗn giao 56
3.2.3 Chất lượng của cây tái sinh của thảm thực vật rừng hỗn giao 58
3.3.4 Đặc điểm phân bố cây gỗ tái sinh theo cấp chiều cao 59
3.4 Đặc điểm lớp cây tái sinh tự nhiên của thảm cây bụi thứ sinh 61
3.4.1 Đặc điểm thành phần loài cây tái sinh tự nhiên của thảm cây bụi thứ sinh 61
3.4.2 Mật độ cá thể tái sinh của thảm cây bụi thứ sinh 71
3.4.3 Chất lượng của cây tái sinh của thảm cây bụi thứ sinh 73
3.4.4 Đặc điểm phân bố cây gỗ tái sinh theo cấp chiều cao của thảm cây bụi 74
3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên 75
3.5.1 Con người 75
3.5.2 Vai trò của động vật và ảnh hưởng của sự chăn thả 76
3.5.3 Ảnh hưởng của sự thoái hoá đất 77
3.5.4 Khí hậu 78
3.6 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển thảm thực vật 78
3.6.1 Nhóm giải pháp kinh tế 78
3.6.2 Nhóm giải pháp xã hội 79
Trang 63.6.3 Nhóm giải pháp công nghệ 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
KẾT LUẬN 80
KIẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7Danh mục bảng
Bảng 3.1: Đa dạng thành phần loài trong các ngành thực vật 27
Bảng 3.2: Các họ thực vật giàu loài nhất 27
Bảng 3.3 : Các loài thực vật có giá trị bảo tồn nguồn gen và giá trị kinh tế 29
Bảng 3.4: Công dụng của các loài cây trong vùng nghiên cứu 30
Bảng 3.5: Tổ thành loài cây tái sinh trong rừng Dẻ thuần loài 35
Bảng 3.6: Sự phân bố số cây cấp chiều cao của rừng Dẻ thuần loài 40
Bảng 3.7: Tổ thành loài cây tái sinh của thảm thực vật rừng hỗn giao lá rộng xã Hoàng Hoa Thám 42
Bảng 3.8: 10 loài cây tái sinh cao nhất của rừng hỗn giao tại của 4 thôn Đá Bạc, Đồng Châu, Thanh Mai, Hố Đình 57
Bảng 3.9: Chất lượng cây tái sinh của thảm thực vật rừng hỗn giao 59
Bảng 3.10: Sự phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao của rừng hỗn giao 60
Bảng 3.11: Tổ thành cây gỗ tái sinh thảm cây bụi xã Hoàng Hoa Thám 61
Bảng 3.12: 10 loài cây tái sinh cao nhất của thảm cây bụi tại của 4 thôn Đá Bạc, Đồng Châu, Thanh Mai, Hố Đình 72
Bảng 3.13: Chất lượng cây tái sinh của thảm cây bụi thứ sinh 74
Bảng 3.14: Sự phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao của thảm cây bụi 74
Danh mục đồ thị Đồ thị 3.1: Phân bố số cây theo cấp chiều cao của rừng dẻ thuần loài 40
Đồ thị 3.2: Phân bố số cây theo cấp chiều cao của rừng hỗn giao 60
Đồ thị 3.3: Phân bố số cây theo cấp chiều cao của thảm cây bụi 75
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, việc nghiên cứu bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái rừng đã và đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn nhân loại Mất rừng, làm suy giảm đa dạng sinh học, độ che phủ giảm, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán l lụt gia tăng… ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt trong đời sống
xã hội, đặc biệt là những vùng dân cư sống ven rừng Các thảm họa thiên tai gần đây đã là sự cảnh tỉnh đối với công chúng nói chung và các nhà quản lý nói riêng
về hậu quả nghiêm trọng của việc mất phá rừng và suy giảm đa dạng sinh học Vì vậy, việc phục hồi tài nguyên rừng đã và đang là vấn đề được toàn xã hội quan tâm
Ở Việt Nam đã có nhiều giải pháp cụ thể trong việc bảo tồn và phục hồi rừng, nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần bảo đảm an ninh môi trường và phát triển kinh tế Tuy nhiên, các hệ sinh thái rừng nước ta rất đa dạng và phức tạp, trong khi các nghiên cứu thường mới chỉ tập trung tại một vùng hay một khu vực nhất định nào đó, việc nghiên cứu chưa thật sự đồng bộ và thiếu vền vững Cho nên, tái sinh rừng tự nhiên vẫn đang là nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu
Xã Hoàng Hoa Thám thuộc thị xã Chí Linh- tỉnh Hải Dương mặc dù có diện tích không lớn, nhưng do đa dạng về địa hình và thổ nhưỡng, cho nên có nhiều kiểu rừng khác nhau với hệ thực vật rất đa dạng Đây được xem là địa điểm thuận lợi cho việc nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên, xây dựng các mô hình phục hồi rừng Với
những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh của
thảm thực vật rừng tại xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương”
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng tái sinh tự nhiên của một số thảm thực vật tại xã Hoàng
Hoa Thám- thị xã Chí Linh và vùng phụ cận, làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất
giải pháp lâm sinh nhằm thúc đẩy nhanh quá trình diễn thế và nâng cao chất lượng
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Góp phần bổ sung vốn kiến thức cho chuyên ngành Sinh
thái học và là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu về tài nguyên thực vật, đa dạng sinh học và trong nông - lâm nghiệp,
Trang 9Ý nghĩa khoa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp việc bảo tồn các
hệ sinh thái và xây dựng các mô hình phục hồi rừng tại khu vực nghiên cứu
4 Đóng góp mới
Một số dẫn liệu cập nhật về về cấu trúc rừng tái sinh phục hồi từ nhiên tại khu vực nghiên cứu
Trang 10cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn…
Thái Văn Trừng (1978) [37] đã căn cứ vào quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thực vật để phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Tư tưởng học thuật của quan điểm này là trong một môi trường sinh thái cụ thể chỉ có thể xuất hiện một kiểu thảm thực vật nguyên sinh nhất định Trong môi trường sinh thái đó, có 5 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh ảnh hưởng quyết định đến tổ thành loài cây rừng, hình thái, cấu trúc và hình thành nên những kiểu thảm thực vật rừng tương ứng Căn
cứ vào cơ sở lí luận trên, Thái Văn Trừng đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật có trên đất lâm nghiệp như sau:
Các kiểu rừng, rừng kín vùng thấp:
I Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới
II Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới III Kiểu rừng kín rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới
IV Kiểu rừng kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới
Các kiểu rừng thƣa:
V Kiểu rừng thưa cây lá rộng, hơi khô nhiệt đới
Trang 11VI Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô nhiệt đới VII Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô á nhiệt đới núi thấp
Các kiểu trảng truông:
VIII Kiểu trảng cây to, cây bụi, cỏ cao khô nhiệt đới
IX Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới
Các kiểu rừng kín vùng cao:
X Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
XI Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp XII Kiểu rừng kín cây lá kim, ẩm ôn đới ấm
Các kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao:
XIII Kiểu quần hệ khô vùng cao XIV Kiểu quần hệ lạnh vùng cao Trong mỗi kiểu thảm thực vật lại chia thành các kiểu phụ miền (phụ thuộc vào
tổ thành thực vật), kiểu phụ thổ nhưỡng (phụ thuộc vào điều kiện đất), kiểu phụ nhân tác (phụ thuộc vào tác động của con người) và trong mỗi kiểu phụ đó tuỳ theo độ
ưu thế của loài cây mà hình thành nên những phức hợp, ưu hợp và quần hợp tự nhiên khác nhau Như vậy, bức tranh hệ sinh thái rừng nước ta rất đa dạng và phong phú Năm 1970, Trần Ng Phương [21] c ng đề xuất bảng phân loại rừng miền bắc Việt Nam Ông phân loại rừng miền bắc thành 3 đai rừng:
A Đai rừng nhiệt đới mƣa mùa:
1 Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn
2 Kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh
3 Kiểu rừng nhi ệt đới ẩm lá rộng thường xanh
4 Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thung l ng
5 Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi
B Đai rừng á nhiệt đới mƣa mùa:
1 Kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh
2 Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi
3 Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đất
Trang 12C Đai rừng á nhiệt đới mƣa mùa núi cao
Đai này có 3 loại hình: Pơ mu (Fokienia hodginsii), Sa mộc (Cunninghamia
lanceolata), Đỗ quyên (Rhododendron simsii)
Theo thang phân loại của UNESCO (1973) [ 41], thảm thực vật nước ta có 4 lớp quần hệ, trong đó có 2 lớp quần hệ có liên quan đến rừng là: rừng rậm và rừng thưa Mỗi lớp quần hệ lại chia thành các phân lớp, mỗi phân lớp lại chia thành các nhóm quần hệ và sau đó mới đến các quần hệ Mỗi quần hệ lại được chia thành các phân quần hệ và dưới đó là quần hợp Căn cứ vào nguyên tắc phân loại như trên, thảm thực vật rừng Việt Nam được phân loại như sau:
I Lớp quần hệ 1: Rừng rậm Lớp quần hệ này gồm 3 phân lớp quần hệ chính là: rừng thường xanh, rừng rụng lá và rừng khô
1 Phân lớp quần hệ rừng thường xanh nhiệt đới:
a) Nhóm quần hệ rừng mưa thường xanh b) Nhóm quần hệ rừng mưa mùa thường xanh:
Rừng đất thấp Rừng núi thấp Rừng núi vừa Rừng núi cao Rừng núi đá vôi thấp Rừng núi đá vôi trung bình Rừng bãi cát ven biển Rừng trên đất phù sa Rừng ngập nước Rừng sú vẹt Rừng thông trên núi thấp Rừng tre nứa trên núi thấp c) Nhóm quần hệ rừng nửa rụng lá nhiệt đới:
Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên đất thấp
Trang 13Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên núi thấp Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên núi đá vôi Rừng nửa rụng lá nhiệt đới trên núi cao trung bình Phân lớp quần hệ rừngrụng lá nhiệt đới
1 Phân lớp quần hệ rừng khô nhiệt đới a) Nhóm quần hệ rừng lá cứng khô b) Nhóm quần hệ rừng gai:
Rừng gai nửa rụng lá Rừng gai rụng lá
II Lớp quần hệ 2: Rừng thưa Lớp quần hệ này có 3 phân lớp quần hệ:
1 Phân lớp quần hệ rừng thưa thường xanh:
a) Nhóm quần hệ rừng thưa lá rộng:
Rừng trên đất thấp Rừng trên núi thấp b) Nhóm quần hệ rừng lá kim
2 Phân lớp quần hệ lá rộng rụng lá vùng núi và vùng đất thấp
3 Phân lớp quần hệ rừng thưa khô:
a) Nhóm quần hệ rừng thưa lá cứng khô b) Nhóm quần hệ rừng thưa có gai:
Rừng gai nửa rụng lá Rừng gai thường xanh Phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng, Trần Ng Phương và UNESCO đã khẳng định tính đa dạng của hệ sinh thái rừng Việt Nam
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng tự tái tạo, hay
tự hồi sinh từ mức độ tế bào đến mức độ mô, cơ quan, cá thể và thậm chí cả một quần lạc sinh vật trong tự nhiên Cùng với thuật ngữ này, còn có nhiều thuật ngữ khác đang đươc sử dụng rộng rãi hiện nay Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ “ Restoration” để diễn tả sự hoàn trả, sự lặp lại của toàn bộ quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên Schereckenbeg, Hadley và Dyer
Trang 14(1990) sử dụng thuật ngữ: “Rehabitilatic”để chỉ sự phục hồi lại bằng biộn pháp quản lý, điều chế rừng đã bị suy thoái
Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ được nhiều nhà khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng
Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia 3 mức độ tái sinh như sau:
- Tái sinh nhân tạo: nguồn giống do con người tạo ra bằng cách gieo giống
trực tiếp
- Tái sinh bán nhân tạo : nguồn giống được con người tạo ra bằng cách ồng bổ
sung các cây giống, sau đó chính cây giống sẽ tạo ra nguồn hạt cho quá trình tái sinh tiếp theo
- Tái sinh tự nhiên: nguồn hạt (nguồn giống) hoàn toàn tự nhiên
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [16] tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng
Phục hồi rừng: Theo Trần Đình Lý (1995) [18] phục hồi rừng là quá trình sinh địa phức tạp, gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ (tre nứa) bắt đầu khép tán Nói cách khác phục hồi rừng là quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu, nó chi phối các quá trình biến đổi tiếp theo
Theo Trần Đình Lý (1995) [18] rừng non thứ sinh phục hồi đối với rừng gỗ phải có chiều cao từ 3m trở lên và độ tàn che đạt 0,3
1.2 Lƣợc sử nghiên cứu về tái sinh rừng
1.2.1 Trên thế giới
Tái sinh rừng trên thế giới đã được nhiều nhà khoa học các nước nghiên cứu
từ lâu Nhưng với rừng nhiệt đới chỉ được nghiên cứu vào khoảng những năm 30 của thế kỷ 20 trở lại đây
Vấn đề tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả của các phương thức xử lý lâm sinh đến tái sinh rừng của các loài cây có mục đích trong các kiểu rừng Các tác giả bàn đến như Kennedy (1935), Lancaster (1953), Taylor (1854)
Trang 15Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt, cần thiết bổ xung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới Châu Á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy phải
đề ra các biện pháp lâm sinh cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [8]
Nghiên cứu về phân bố cây tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới, đáng chú ý là công trình của P.Wrichards (1952) đã nhận xét ở rừng nhiệt đới sự phân bố số lượng
cá thể của các loài cây trong các lớp là rất khác nhau Phần lớn các loài cây ưu thế
ở tầng trên trong rừng nguyên sinh thường có rất ít thậm chí vắng mặt ở những tầng thấp hay cấp thể tích nhỏ Ngược lại ở những rừng đơn ưu như rừng Mora gonggijpii ở Guana, rừng Mora exelsa ở Guana và Trinidat, rừng Eusdezoxylon ở Borneo…lại có đầy đủ các lớp kích thước Theo tác giả thì sự phân bố này là do đặc tính di truyền của các loài cây được thể hiện ở khả năng sinh sản và tập tính của chúng trong các giai đoạn phát triển Ở Châu phi trên cơ sở các số liệu thu thập được Taylor (1954), Barnard (1955), đã xác định ở rừng nhiệt đới ẩm Châu Phi có
số lượng cây là thiếu hụt Ngược lại Bava (1954), Budowski (1956), Antinot (1965), lại cho rằng dưới tán rừng nhiệt đới, nhìn chung có đủ số lượng cây có giá trị kinh
tế (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995 [8] )
Căn cứ vào đặc điểm tái sinh của rừng mưa nhiệt đới Van Stenis (1956) đã phân biệt hai kiểu tái sinh phổ biến đó là tái sinh phân tán, liên tục của các loài cây chịu bóng và đặc điểm tái sinh khá phổ biến ở rừng mưa thích hợp với loài cây ưa sáng là kiểu tái sinh theo vệt trên các lỗ trống
Kết cấu của quần tụ lâm phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng.D.Yurkevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6-0,7 (dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2003 [33] )
G,N Baur (1976) [4] khi nghiên cứu tái sinh rừng đã nhận định thảm cây cỏ và cây bụi đã ảnh hưởng đến tái sinh của cây gỗ Ông đã tổng kết các biện pháp lâm
Trang 16sinh tác động vào rừng nhằm đem lại rừng căn bản đều tuổi khi nghiên cứu sinh thái rừng mưa Trong “cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa” ông đã tổng kết chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức tái sinh
A.W Ghent (1969) cho rằng thảm mục, chế độ thuỷ nhiệt, tầng đất mặt quan
hệ với tái sinh rừng c ng cần được làm rõ V.G.Karpov (1969), trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây non và quần tụ đã chỉ ra rằng đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm
và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các thực vật tuỳ thuộc vào đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật I.N.Nakhteenko (1973) cho rằng sự trùng hợp cao của sự hấp thụ dinh dưỡng giữa hai loài có thể gây cho nhau sự kìm hãm sinh trưởng và làm tăng áp lực cạnh tranh giữa hai loài
Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta đều nhận thấy rằng: tầng cỏ và tầng cây bụi qua thu nhận ánh sáng, ẩm độ và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần tụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng, do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên nó có ảnh hưởng đến các cây gỗ tái sinh Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại lớn nhất cho tái sinh rừng (Xannicov, 1967: Vipper, 1973)
H.Lamprecht (1989) căn cứ nhu cầu sử dụng ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống đã phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng (dẫn theo Lê Ngọc Công, 2004 [11] ) Mibbre-ad (1930), Richards (1933; 193), Aubréville (1938), Beard (1946), Lebrun và Gilbert (1954), Joné (1955-1956), Rollet (1969) đều có chung quan điểm thống nhất là: hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con đặc điểm phân bô và độ dài của thời kì tái sinh rừng (dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2003 [33] )
Trang 17Để xác định mật độ cây tái sinh người ta đã sử dụng các phương pháp khác nhau như: ô dạng bản theo hệ thống do Lowdermilk (1927) đề xuất (diện tích 1-4m2), ô có kích thước lớn (10-100m2), điều tra theo dải hẹp ô có kích thước từ 10-100m2 Phổ biến nhất là ô bố trí theo hệ thống trong các diện tích nghiên cứu từ 0,25-1,0 ha (Povarnixbun, 1934; Yurkevich, 1938) Để giảm sai số trong khi thống
kê, Barnard (1950) đã đề nghị một phương pháp “điều tra chẩn đoán” mà theo ông kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo thời gian phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau V.G.Nexterov (1954, 1960) đề nghị dùng 15-26 ô kích thước từ 1-2m2 thống kê cây con tuổi nhỏ hơn 5 năm, 10-15 ô kích thước từ 4-5m2 thống kê cây con từ 5-10 năm A.V.Pobedinxki (1961) đề nghị dùng 25 ô dạng bản 1×1m cho một khu tiêu chuẩn 0,5-1,0ha, XV.Belov (1983) nhấn mạnh phải áp dụng thống kê toán học để điều tra và đánh giá tái sinh Việc phân tích chi tiết lí luận các phương pháp thống kê toán học trong điều tra và đánh giá tái sinh rừng đã dược trình bày rõ trong các công trình của G.Smith (1976) và V.I.Vasilevich (dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2003[33] )
Phân bố số cây theo đường kính là cấu trúc cơ bản của lâm phần và được nhiều nhà lâm học quan tâm nghiên cứu Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Meyer (1952) Ông mô tả phân bố số cây theo đường kính bằng phương pháp toán học, mà dạng của nó là đường cong giảm liên tục Phương trình này được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer Tiếp đó nhiều tác giả đã dùng phương pháp giải tích để tìm phương trình của đường cong phân bố N/D của lâm phần thuần loài đều tuổi M.Prodan và A.Ipatatscase (1964), Bill và K.Aremken (1964)
đã tiếp cận phân bố này bằng phương trình logarit.Đặc biệt để tăng tính mềm dẻo, một số tác giả hay dùng các hàm khác nhau Loetsch (1973) dùng hàm Beta để nắn các phân bố thực nghiệm J.LF Batista và H.T.Z Docouto (1992) trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài của rừng nhiệt đới ở Maranhoo-Brazil đã dùng hàm Weibull mô phỏng phân bố N/D (dẫn theo Nguyễn Thanh Bình, 2003 [5] )
Trang 18Tóm lại: Những kết quả nghiên vẻ thảm thực vật tái sinh đều cho thấy tiềm nâng tái sinh tự nhiên trên đất rừng nhiệt đới là rất lớn và khả nâng phục hổi tự nhiên thảm thực vật là hiện thực
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới đã được tiến hành nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỉ XX Với chuyên đề “ Tái sinh tự nhiên” do Viện Điều tra Quy hoạch rừng thực hiện tại một số khu rừng trọng điểm thuộc các tỉnh: Quảng Ninh, Yên Bái, Nghệ An (lưu vực sông Hiếu ), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê)
và Quảng Bình (lưu vực sông Long Đại) Trên cơ sở các nguồn tài liệu và số liệu
của các đoàn, đội điêu tra tài nguyên thu thập (nhận trong các báo cáo tài nguyên
rừng hoặc báo cáo lâm học các khi điều tra thuộc miền Bắc Việt Nam đã được Nguyễn Vạn Thường tổng kết và bước đầu đưa ra kết luận hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ Sự phân
bổ cây tái sinh rất không đổng đều, số cây mạ (cấp H < 20cm) chiếm ưu thế rõ rệt
so với số cây ở các cấp tuổi khác Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng mọc nhanh khuynh hướng lan tràn và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Trong các loài cây gỗ cứng, sinh trưởng chậm chỉ chiếm một tỷ lộ rất thấp và phân bố tản mạn Thậm chí một số loài hoàn toàn vắng bóng ở thế hệ sau những trạng thái tự nhiên Trong thành phần cộng tác tái sinh, tác giả cho rằng bất kỳ ở đâu có hiện tượng tái sinh tự nhiên thì ở đó có sự sống chung của những cá thể khác loài, khác chi, thậm chí cả khác họ Dựa vào thành phần loài cây mục đích chất lượng cây con, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới theo tiêu chuẩn 5 cấp dựa theo
số cây non/ha: rất tốt (>12.000 cây/ha), tốt (8.000-12.000 cây/ha), trung bình (4.000- 8.000 cây/ha), xấu (2.000-4.000 cây/ha), rất xấu (<2.000 cây/ha)
Ở miền bắc nước ta từ 1962 ÷ 1969 viện điều tra qui hoạch rừng đã điều tra tình hình tái sinh tự nhiên theo các “loại hình thực vật ưu thế”, rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là công trình điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962÷1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Kết quả điều tra đã được V Đình Huề (1975) tổng kết
Trang 19trong báo cáo khoa học “Khái quát về tình hình tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam” theo báo cáo đó, tái sinh tự nhiên ở rừng miền Bắc Việt Nam c ng mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới
Nguyễn Trọng Đạo (1969) [9] đã đưa ra các biện pháp kỹ thuật xúc tiến tái sinh tự nhiên dựa vào tiêu chuẩn phân loại rừng, theo ông rừng loại một thì không
tu bổ và xúc tiến tái sinh
Đồng Sỹ Hiền (1974) đã dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng rừng Việt Nam Khi nghiên cứu rừng tự nhiên, ông cho rằng phân bố số cây theo chiều cao N/H ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài cây thường có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu tầng phức tạp của rừng chặt chọn Các tác giả đã sử dụng nhiều phương trình toán học khác nhau để biểu diễn tương quan này Với rừng tự nhiên nước ta, ông đề nghị sử dụng phương trình Logarit hai chiều hoặc hàm m Đồng thời tác giả c ng chỉ ra khả năng sử dụng một phương trình chung cho nhóm loài cây có tương quan H/D thuần nhất với nhau Thái Văn Trừng (1978) [37] trong “thảm thực vật rừng Việt Nam” đã nhấn mạnh một số nhân tố sinh thái trong nhóm nhân tố khí hậu đã khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên của các xã hợp trong thảm thực vật rừng, đó là ánh sáng
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Trương (1983) [36] đã đề cập đến mối quan hệ giữa cấu trúc rừng với tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn loài Hiện tượng tái sinh lỗ trống ở các rừng thứ sinh vùng Hương Sơn- Hà Tĩnh đã được Phạm Đình Tam (1987) làm sáng tỏ
Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1994), đánh giá quá trình TSTN phục thuộc vào 3 yếu tố chính sau đây: 1 Nguồn hạt giống, khả năng phát tán hạt giống trên một đơn vị diện tích; 2 Điều kiện để hạt nảy mầm bén rễ (nhiệt độ, độ ẩm ); 3 Điều kiện để cây mạ và cây con sinh trưởng và phát triển (đất, nước, ánh sáng ) Thái Văn Trừng (1978) [37], cho rằng: quá trình TSTN phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ánh sáng chiếu xuống trái đất; Đặc biệt giai đoạn cây mạ, cây con trong
Trang 20các trạng thái thảm thực vật Những cây mạ, cây non chịu được bóng trong giai đoạn còn nhỏ dưới tán rừng thì mới có đủ các cấp tuổi của loài đó
V Tiến Hinh (1999) [10], nghiên cứu đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên cho thấy quá trình tái là liên tục và tuổi rừng càng nhỏ thì số cây càng tăng
Nguyễn Văn Trương (1983) [36] trong “Quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loại”
đã cho rằng cần phải thay đổi cách khai thác rừng cho hợp lý, vừa cung cấp được
gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng Muốn đảm bảo cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên hoạt động thì số lượng lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp cây kế tiếp nó ở phía trên Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [23], tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện của tái sinh là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng Các cây con này dần dần sẽ thay thế vị trí của cây già cỗi (theo thời gian) hay đây chính là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Đồng thời, trong quá trình TSTN các kiểu phụ, kiểu trái không
có nhiều biến đổi cụ thể trong hình thái cấu trúc nhưng lại có biến đổi về tỷ lệ và thành phần cá thể các loài cây trong quần xã thực vật do mỗi loài cây có chu kỳ phát dục riêng biệt, có thời gian ra hoa, kết quả, có tập tính truyền giống và lan truyền khác nhau
Trần Ng Phương (1987) [22] đã khẳng định giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực của cây rừng tự nhiên Việt Nam tồn tại mối quan hệ mật thiết theo dạng đường thẳng Tác giả đã thiết lập phương trình cho một số loài cây lá rộng như: Ràng ràng, Vạng, Lim xanh, chò chỉ trong lâm phần hỗn giao khác tuổi để phục vụ công tác điều chể rừng
Nguyễn Hải Tuất (1981) [38] sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ đờng kính bắt đầu đo Lê Minh Trung (1991) đã thử nghiệm một số phân bố xác suất mô tả phân bố N/D1.3 và nhận xét là, phân bố Weibull là thích hợp nhất cho rừng tự nhiên ở Đắc Lắc Gần đây nhất, Trần Xuân Thiệp (1996) [34], Lê Sáu (1995) [24] c ng khẳng định sự hơn hẳn của phân
Trang 21bố Weibull trong việc mô tả phân bố N/D cho tất cả các trạng thái rừng tự nhiên, cho dù phân bố thực nghiệm có dạng giảm liên tục hay một đỉnh
Qua tham khảo các tài liệu có liên quan cho thấy, việc nghiên cứu phân bố N/D trong thời gian gần đây không chỉ dừng ở mục đích phục vụ công tác điều tra như xác định tổng diện tích ngang, trữ lượng, mà chủ yếu là xây dựng cơ sở khoa học cho giải pháp lâm sinh trong nuôi dưỡng rừng Bảo Huy (1993), Đào Công Khanh (1996) [14], Lê Sáu (1995) [24], đã nghiên cứu phân bố N/H để tìm tầng tích
tụ tán cây
Đào Công Khanh (1996) [14] đã chọn phương trình Logarit hai chiều để biểu diễn quan hệ H/D1.3 cho rừng tự nhiên hỗn loài ở Hương Sơn-Hà Tĩnh Thống kê các công trình nghiên cứu về rừng tự nhiên ở Việt Nam cho thấy, phân bố N/D1.3của tầng cây cao (D≥6 cm) có 2 dạng chính như sau: Dạng giảm liên tục và có nhiều đỉnh phụ hình răng cưa, dạng một đỉnh hình chữ J Với mỗi dạng cụ thể, các tác giả chọn lọc những mô hình toán học thích hợp để mô phỏng Các tác giả đều đi đến nhận xét chung là, phân bố N/D có dạng một đỉnh chính và nhiều đỉnh phụ hình răng cưa và mô tả thích hợp bằng hàm Weibull V Tiến Hinh (1991) [10] đã thử nghiệm một số phân bố lý thuyết và khẳng định phân bố Weibull là phân bố lý thuyết phù hợp nhất V Nhâm(1988), Phạm Ngọc Giao (1989), Trần Văn Côn (1991) đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính ở các kiểu rừng khác nhau
Lê Mộng Chân (1994) [6] khi điều tra tổ thành loài cây ở vùng núi cao vườn quốc gia Ba Vì, ông cho rằng tình hình tái sinh tốt là 4100-7440 cây/ha Cây có triển vọng chiếm trên 60%, thành phần cây tái sinh phần lớn là những cây chịu bóng
Khi nghiên cứu vai trò của tái sinh rừng ở các vùng Tây Bắc, vùng Đông Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng trung tâm, Trần Xuân Thiệp (1996) [34] đã nhận định rằng vùng Đông Bắc có năng lực tái sinh khá tốt với số lượng từ 8000-12000 cây/ha, tỷ lệ cây có triển vọng cao đáp ứng được cho việc phục hồi rừng
Theo Nguyễn Văn Thêm (2002) [32] tái sinh rừng được hiểu là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng
Trang 22Việc phân chia các giai đoạn trong quá trình tái sinh rừng, nhiều nhà khoa học cho rằng cần phải nghiên cứu quá trình tái sinh rừng từ khi hình thành cơ quan sinh sản cho đến khi cây con phát triển ổn định Một số tác giả khác lại đề nghị nên nghiên cứu từ giai đoạn ra hoa, mùa vụ hạt giống, sự phù hợp của mùa vụ hạt giống với điều kiện khí hậu
Lê Ngọc Công (2003) trong nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuồi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên cho rằng ở đoạn đầu của quá trình diễn thế phục hổi rừng (giai đoạn 1-6 năm) mật độ cây tăng lên, sau đó giảm Quá trình này bị chi phối bởi quy luật tái sinh tự nhiên, quá trình nhập cư và quá trình đào thải của các loài cây Nhận xét được rút ra từ kết quả nghiên cứu c ng phù hợp với các kết quả nghiên cứu của các tác giã Lê Đồng Tấn [28], Phạm Ngọc Thường [33]
Trần Xuân Thiệp (1996) [34] căn cứ vào số lượng cây tái sinh đã xây dựng bảng đánh giá tái sinh cho các trạng thái rừng (theo hệ thống phân loại của Loschau 1961-1966): tốt, trung bình, xấu Phân cấp chiều cao cây tái sinh để điều tra gồm 8 cấp: vế phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao có sự tương đồng giữa các trạng thái rừng, phân bố giảm theo hàm Mayer từ cấp I-V (< 300cm), cấp VI có chiều cao > 300cm do tính cộng dồn đến các cây có chiều cao tương ứng với đường
kính dưới 10cm nên không thể hiện quy luật này nữa Đỗ Hữu Thư và cộng sự
(1995) c ng đã đưa ra kết luận tương tự vể quy luật phân bố này đối với lớp cây tái
sinh tự nhiên ở vùng núi cao Phan Si Pan
Lê Đồng Tấn (2000) [28] nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy tại Sơn La, tác giả kết luận: số lượng cây/ô tiêu chuẩn, mật độ cây giảm dần từ chân đồi lên sườn và đỉnh đồi Mật độ cây giảm khi độ dốc tăng Tổ hợp loài cây ưu thế trên cả 3 vị trí đị hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau, sự khác nhau chính
là hệ số tổ thành của các loài trong tổ hợp đó, tính chất này càng thể hiện rõ trên cùng một địa điểm (một khu đồi) Độ cao có ảnh hưởng lên sự phân bố của các loài cây và sự hình thành thảm thực vật Thoái hoá đất có ảnh hưởng đến: mật độ cây, số
lượng loài cây và tổ thành loài cây
Trang 23Lê Đồng Tấn và cộng sự (2005) [27], nghiên cứu về TSTN dưới tán rừng thứ sinh ở Quân Boong- VQG Tam Đảo, đã thống kê được 53 loài cây tái sinh, trong đó
có 26 loài là cây gỗ, đạt chiều cao sinh trưởng 6cm trở lên; 17 loài cây bụi và gỗ
nhỏ Thành phần loài chủ yếu gồm: Trọng đ a (Ardisia crenata), Lấu (Psychotria rubra), Ba chạc (Euodia lepta), Trám (Canarium album), Re (Phoebe ), Chẹo (Engelhartia roxburghiana), Bời lời (Litsea umbellata) Mật độ cây tái sinh khá
cao, dao động trong khoảng từ 16230 - 21030 cây/ha, trung bình 18165 cây/ha Tỷ
lệ cây chồi dao động trong khoảng 17,39-46,15% thấp hơn so với tỷ lệ cây hạt 53,85-82,61% Đồng thời c ng chỉ ra rằng, do thành phần chủ yếu là cây bụi và cây tiên phong ưa sáng, nhưng lại bị sinh trưởng trong điều kiện bị che bóng nên chất lượng tái sinh không cao Tỷ lệ cây tốt 32,11%, cây trung bình 26,58% và cây xấu 43,31%
Tóm lại, trong quá trình tái sinh tự nhiên của các xã hợp tự nhiên nguyên sinh
hay thứ sinh có hai phương thức:
+Thứ nhất, đó là phương thức tái sinh liên tục dưới tán rừng kín rậm của
những loài cây chịu bóng mọc chậm Phương thức tái sinh này thường thưa thớt và yếu ớt vì thiếu ánh sáng Chỉ một số ít cây thoát khỏi giai đoạn đầu còn lại đa số phải qua giai đoạn ức chế kéo dài chờ cơ hội vươn lên tầng cao khi có điều kiện
sinh thái thích hợp
+ Thứ hai là phương thức tái sinh theo vệt để hàn gắn những lỗ trống trong tán
rừng của các loài cây ưa sáng mọc nhanh Dưới tán kín hay thưa của chúng, những loài cây định vị trong thành phần xã hợp c thường đòi hỏi bóng trong 1-2 năm đầu,
sẽ mọc sau và dần dần vươn lên thay thế những loài cây tiên phong tạm thời có tuổi thọ ngắn Những cây tiên phong sẽ tự tiêu vong, hoặc sẽ bị tiêu diệt bởi tán kín rậm của các loài cây đinh vị mọc sau, chỉ trừ một số ít loài cây tiên phong đinh cư có
tuổi thọ dài có thể tồn tại trong thành phần của các xã hợp đã tái sinh tự nhiên
Yếu tố chủ đạo đối với quá trình tái sinh dưới tán rừng là ánh sáng, còn đối
với quá trình tái sinh trên các lỗ trống là mức độ thoái hoá của đất
Trang 24Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hổi rừng, quản lý rừng
bển vững theo mục tiêu đề ra, tiết kiệm được thời gian, tiền của chi khi có sự hiểu
biết đầy đủ về bản chất qui luật của hệ sinh thái rừng, trước hết là quá trình tái sinh
tự nhiên
Qua tổng quan nghiên cứu được trích dẫn ở trên cho thấy:
Hầu hết các công trình tập trung nghiên cứu tình hình tái sinh dưới các trạng thái rừng tự nhiên (số lượng, mật độ cây tái sinh, đặc điểm lớp cây tái sinh và vai trò của ánh sáng đối với quá trình tái sinh tự nhiên) mà chưa đề cập đến tái sinh ở các trạng thái thực bì khác nhau như: thảm cỏ, thảm cây bụi, rừng thứ sinh nhân tác (rừng
sau nương rẫy, sau khai thác kiệt) Đây là vấn đề cẩn được tiếp tục nghiên cứu
Những kết quả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số vùng Đặc biệt là sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh tự nhiên để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững Tuy thiên, thảm thực vật rừng nhiệt đới rất đa dạng và phức tạp, đời sống của nó gắn liền vói điều kiện tự nhiên ở từng vùng địa lý Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu quy luật tái sinh tự nhiên của các hệ sinh thái rừng ở các vùng địa lý khác nhau là cần thiết
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số thảm thực vật rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên tại xã Hoàng Hoa
Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
2.2.1 Vị trí địa lý, địa hình
2.2.1.1 Vị trí địa lý
Thị xã Chí Linh nằm ở phía đông bắc tỉnh Hải Dương, cách trung tâm tỉnh 40
km Phía đông giáp huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Phía tây giáp tỉnh Bắc Ninh Phía nam giáp huyện Nam Sách Phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang Phía bắc và đông bắc của thị xã là vùng đồi núi thuộc cánh cung Đông Triều, ba mặt còn lại được bao bọc bởi sông Kinh Thày, sông Thái Bình và sông Đông Mai
Thị xã được chia thành 8 phường (Bến Tắm, Phả Lại, Sao Đỏ, Chí Minh, Cộng Hòa, Hoàng Tân, Thái Học, Văn An) và 12 xã (An Lạc, Bắc An, Cổ Thành, Đồng Lạc, Hoàng Hoa Thám, Hoàng Tiến, Hưng Đạo, Kênh Giang, Lê Lợi, Nhân Huệ, Tân Dân, Văn Đức), trong đó có 13 xã, phường là miền núi, chiếm 76% diện tích và 56% dân số của toàn thị xã
Xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương là một xã miền núi bao gồm bốn thôn : Đá Bạc, Thanh Mai, Đồng Châu, Hố Đình
2.2.1.2 Địa hình
Chí Linh là một huyện miền núi nhưng địa hình không phức tạp Nơi địa hình thấp cách mặt nước biển từ 5-15 m có nơi chỉ cách mặt nước biển 1-2m Nơi địa hình cao nhất cách mặt nước biển trên 600 m Địa hình ở đây được chia làm 3 khu vực sau:
- Địa hình đồi núi thấp: Tập trung ở phía bắc, bao gồm các xã Hoàng Hoa Thám, Bắc An, Lê Lợi, Hưng Đạo và phía Bắc xã Cộng Hòa Vùng này tiếp với
Trang 26vòng cung Đông Triều, có hai đỉnh cao: đỉnh Dây Điền (616m) và đỉnh Đèo Trê (536m)
- Địa hình đồi gò lượn sóng: Tập trung chủ yếu ở các xã Cộng Hòa, Hoàng Tân, Hoàng Tiến, Văn Đức, Thái Học, An Lạc Địa hình này có độ cao từ 50 đến 60m, phần lớn là đồi trọc bị xói mòn
- Địa hình đồng bằng phù sa: Tập trung chủ yếu ở phía Nam đường 18
2.2.1.3 Đất đai thổ nhưỡng
Thị xã chí Linh, tỉnh Hải Dương có
- Đất lâm nghiệp – đồi rừng 11.551 ha (chiếm gần 39%) trong đó rừng tự nhiên khoảng 2389 ha
- Đất nông nghiệp 9541 ha (chiếm 32,2%)
- Đất đồi núi trọc 3000 ha (chiếm 10,1%)
- Đất vườn đồi 700ha (chiếm 2,4%)
- Ao hồ đầm 500ha (chiếm 1,7%)
- Đất chuyên dùng, đất khác 4326ha (chiếm 14,6%) Thổ nhưỡng của Chí Linh được hình thành từ hai nhóm chính:
+ Nhóm được hình thành tại chỗ do quá trình phong hóa từ đồi núi
+ Nhóm được hình thành từ phù sa bồi đắp của các con sông lớn
2.2.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn.
2.2.2.1 Khí hậu
Chí Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: mùa khô hanh lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Nhiệt độ trung bình năm là 23°C Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 và tháng 2 (khoảng 10-12°C); tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6 và tháng 7 (khoảng 37-38°C) Lượng mưa trung bình hàng năm 1018 mm; độ ẩm trung bình là 81,6% Do đặc điểm của địa hình, địa mạo nên khí hậu Chí Linh được chia làm 2 vùng:
- Vùng khí hậu đồng bằng phía Nam
Trang 27- Vùng khí hậu bán sơn địa, chiếm diện tích phần lớn trong vùng Do vị trí địa lí và địa hình phân hoá nên mùa đông ở đây lạnh hơn vùng khí hậu đồng bằng
Xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Số liệu quan sát từ năm 2010 – 2014 tại trạm khí tượng thủy văn (độ cao 50m)
- Nhiệt độ bình quân năm: 24,1°C; tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 và tháng 2 (khoảng 10-12°C); tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6 và tháng 7 (khoảng 37-38°C)
- Lượng mưa bình quân năm: 1018 mm Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm 90% lượng mưa cả năm Mưa tập trung vào các tháng 6-9 (cao nhất
là vào tháng 8)
- Số ngày mưa: 142,5 ngày/năm
- Lượng mưa cực đại trong ngày: 499 mm
2.2.3 Điều kiện xã hội
Chí Linh nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh,
có đường giao thông thuận lợi Đường bộ có Quốc lộ 18 chạy dọc theo hướng tây qua trung tâm thị xã nối liền Hà Nội - Quảng Ninh, đường Quốc lộ 37 nối Quốc
đông-lộ 5 và đường 18, đường 37 là đường vành đai chiến lược quốc gia từ trung tâm thị
Trang 28xã đi tỉnh Bắc Giang Đường thủy có chiều dài 40 km đường sông bao bọc phía Đông, Tây, Nam của thị xã thông thương với Hải Phòng, Bắc Giang, Đáp Cầu (Bắc Ninh)
2.3 Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài từ tháng 5/ 2015 đến tháng 8/ 2016
2.4 Nội dung nghiên cứu
Đặc điểm của thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu Đặc điểm lớp cây tái sinh tự nhiên: Đặc điểm thành phần loài; số lượng loài cây gỗ tái sinh; đặc điểm phân bố cây gỗ tái sinh theo cấp chiều cao; đặc điểm chất lượng lớp cây gỗ tái sinh
Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên
Đề xuất giải pháp lâm sinh nhằm phục hồi rừng
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Để Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh của thảm thực vật rừng tại xã
Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương chúng tôi sử dụng các
phương pháp phổ biến đã và đang được áp dụng hiện nay Các bước tiến hành cụ
thể như sau:
Phương pháp Kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề
tài ở trong và ngoài nước được công bố từ trước đến này
Phương pháp Điều tra thực địa: Để làm tốt công tác điều tra thực địa, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu theo phương pháp của Thái Văn Trừng (1978), Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) để điều tra theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn (OTC) Nghiên cứu phân bố cây theo công thức của Nguyễn Hải Tuất (1990); đo chiều cao cây tái sinh theo 8 cấp chiều cao theo Trần Đình Lý (2003)
Lập tuyến điều tra (TĐT) và thu thập dữ liệu: Điều tra theo tuyến để xác định
sự phân bố của các đối tượng nghiên cứu, dự kiến địa điểm bố trí ô tiêu chuẩn Tuyến điều tra được thiết lập dựa trên các thông tin về thảm thực vật (bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ qui hoạch các phân khu chức năng), các thông tin từ ban quản lý, cán bộ chuyên môn của khu vực nghiên cứu Các tuyến điều tra đi qua tất cả các
Trang 29trạng thái rừng, các dạng địa hình, đai độ cao, các trạng thái rừng bị phá huỷ hay suy thoái do tác động của con người Tuyến điều tra được xác định theo 2 hướng: song song và vuông góc với đường đồng mức; chiều rộng tuyến là 10 m; chiều dài tuyến tùy thuộc vào địa hình cho phép nhưng ít nhất là 100 m; số lượng tuyến điều tra cho mỗi đối tượng ít nhất là 3 tuyến; khoảng cách giữa các tuyến là 50-100 m tùy vào loại hình cụ thể của từng quần xã Dọc theo TĐT bố trí các ô tiêu chuẩn và
ô dạng bản để thu thập số liệu
Trên tuyến điều tra thực hiện thống kê tất cả cây gỗ có đường kính < 5 cm Số liệu được ghi chép theo mẫu sau (Biểu 1)
Biểu 1 Điều tra thực vật theo tuyến
Số hiệu tuyến……… Người điều tra……… Bắt đầu từ……… đến……… Ngày điều tra……… Chiều dài tuyến………
Lập ô tiêu chuẩn (OTC) và thu thập dữ liệu: Tại mỗi trạng thái thảm thực vật
(TTV) đặt ngẫu nhiên một số OTC; mỗi OTC có diện tích 400 m2 (20m x 20m) được áp dụng để xác định sự phân bố cây theo chiều cao và theo đường kính; trong mỗi OTC, chúng tôi thiết lập các ô dạng bản có diện tích 1 m2
(1 m x 1 m), 4 m2 (2
m x 2 m), 9 m2 (3 m x 3 m), 16 m2 (4 m x 4 m) và 25 m2 (4 m x 4 m)
Trang 30Hình 1 Ô tiêu chuẩn, ô dạng bản và sơ đồ thu mẫu
Trong mỗi ô dạng bản, đo đếm các chỉ tiêu ở tất cả các cá thể có đường kính ngang thân từ 5 cm trở xuống và đánh giá chất lượng cây tái sinh được đánh giá theo hình thái và sinh lực phát triển và phân chia theo 3 cấp: tốt, trung bình và xấu theo mẫu sau (Biểu 2)
Biểu 2 Các chỉ số đo đếm cho cây tái sinh
H VN (m)
Chất lƣợng
Tốt TB Xấu
01
02 Trong đó: HVN - chiều cao vút ngọn Những loài cây chưa biết tên khoa học thu thập tiêu bản để giám định tên Phương pháp thu thập tiêu bản và xử lý mẫu theo các phương pháp thông thường đang được áp dụng hiện nay
Xác định loài: Các loài được định loại bằng phương pháp hình thái so sánh
Một số tài liệu được ưu tiên sử dụng:
- Abubreville A., J Leroy & Ph Morat (Redacteur), 1960-2000 Flore de Cambodge, du Laos et du Vietnam Paris
Trang 31- Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007 Sách đỏ Việt Nam - Phần Thực vật Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
- Lecomte, H (Redacteur), 1907-1937 Flore Generale de L’Indo-Chine
Phương pháp nghiên cứu đa dạng thảm thực vật: Chúng tôi áp dụng bảng
phân loại của UNESCO (1973) để phân loại thảm thực vật Bảng phân loại này cho phép phân loại thảm thực vật tự nhiên hiện tại, không phụ thuộc chúng là thảm nguyên sinh hay thảm thứ sinh tương đối ổn định, hay tạm thời Hệ thống phân loại
Trang 32Trong các bậc nói trên thì từ bậc quần hệ trở lên đều có tiêu chuẩn phân loại
cụ thể, riêng ở bậc dưới quần hệ, chúng tôi áp dụng các chỉ tiêu về độ ưu thế của các loài cây (tỷ lệ tổ thành loài) theo Thái Văn Trừng (1978)
Trong đó: n là số lượng cây, S là diện tích ô điều tra
* Tổ thành loài cây tái sinh
- Xác định tỉ lệ tổ thành của từng loài được tính theo công thức
%
i i
n n
* Xác định chất lượng cây tái sinh
Khi điều tra loài cây tái sinh đồng thời xác định chất lượng cây tái sinh theo cấp độ tốt, trung bình, xấu Từ đó xác định tỉ lệ cây tái sinh có triển vọng để đề xuất giải pháp lâm sinh phù hợp
Tính tỉ lệ % cây tái sinh tốt, trung bình, xấu theo công thức :
Trong đó :
N% : Tỉ lệ phần trăm cây tốt hoặc trung bình hoặc xấu
n : Tổng số cây tốt hoặc trung bình hoặc xấu
Trang 33N : Tổng số cây tái sinh
* Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học chúng tôi sử dụng chỉ số Shannon để đánh
giá tính đa dạng của các quần hợp cây gỗ đã nghiên cứu vì chỉ số này đánh giá tổng hợp cả độ đa dạng loài (số loài) và độ đa dạng trong loài (số cá thể của từng loài), theo công thức
- s là số loài trong quần hợp
- ni là số cá thể loài thứ i trong quần hợp
- N là tổng số cá thể trong quần hợp
* Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao
Cấp I (chiều cao 20 cm); cấp II (21-50 cm); cấp III (51-100 cm); cấp IV (101-150 cm); cấp V (151-200 cm), cấp VI (201-250 cm), cấp VII (251-300 cm), cấp VIII (chiều cao > 300 cm) Kết quả được thể hiện bằng đồ thị
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm của thảm thực vật trong vùng nghiên cứu
(Cyperaceae) 30, loài họ Đậu (Fabaceae) là 28 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) 24 loài,
họ Cúc (Asteraceae) 21 loài Các họ giàu loài là bộ mặt của hệ thực vật, nên chúng tôi đưa ra danh sách các họ có số lượng loài nhiều (từ 10 trở lên) ở bảng sau
Bảng 3.2 Các họ thực vật giàu loài nhất
POACEAE HỌ LÖA 36 6.74 EUPHORBIACEAE HỌ THẦU DẦU 32 5.99 CYPERACEAE HỌ CÓI 30 5.62 FABACEAE HỌ ĐẬU 28 5.24 RUBIACEAE HỌ CÀ PHÊ 24 4.49
Trang 35ASTERACEAE HỌ CÖC 21 3.93 CAESALPINIACEAE HỌ VANG 14 2.62 APOCYNACEAE HỌ TRÖC ĐÀO 12 2.25 MORACEAE HỌ DÂU TẰM 12 2.25 CONVOLVULACEAE HỌ KHOAI LANG 11 2.06 SOLANACEAE HỌ CÀ 11 2.06 VERBENACEAE HỌ CỎ ROI NGỰA 10 1.87
3.1.2 Các loài thực vật có giá trị bảo tồn nguồn gen và giá trị kinh tế
* Giá trị bảo tồn nguồn gen
Ngoài việc đánh giá tính ĐDSH nói chung, việc đánh giá các loài có nguy cơ
bị tiêu diệt để bảo tồn nguồn gen trong hệ thực vật vùng nghiên cứu là hết sức quan trọng nhằm góp phần định hướng cho chính sách ưu tiên trong công tác bảo tồn Mặc dù tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương sức ép dân số chưa cao nhưng những hậu quả trực tiếp và gián tiếp đến hệ thực vật do hiện tượng chặt phá rừng là vẫn có
Đó là nạn phá rừng, chặt gỗ làm nguyên liệu sản xuất, khai thác dược liệu, làm củi,
Đặc biệt ở đây là việc trồng rừng đơn loài như trồng rừng keo, rừng thông, rừng bạch đàn nhằm mục đích tăng diện tích che phủ, phục vụ kinh tế Hậu quả của
nó là làm diện tích rừng c ng như chất lượng rừng bị giảm đi nhanh chóng, suy giảm nhanh sự đa dạng sinh học, đi kèm với các nguy cơ sinh thái Cuối cùng làm cho số loài có nguy cơ bị tiêu diệt ngày càng cao
Chúng tôi đã thống kê được ở các hệ sinh thái tự nhiên của 4 địa điểm khảo sát, thuộc xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương có tới 17 loài thực vật thuộc diện cần được bảo vệ theo tiêu chí của SĐVN năm 2007, Danh lục đỏ các loài có nguy cơ bị đe doạ của hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế viết tắt là IUCN,
2010 ; Nghị định số 32/CP-2006 của Chính phủ năm 2006 về việc cấm và hạn chế
sử dụng buôn bán động, thực vật rừng Kết quả cụ thể được chỉ ra ở bảng sau
Trang 36Bảng 3.3 Các loài thực vật có giá trị bảo tồn nguồn gen và giá trị kinh tế
Becc
Song mật
VU
& S Larsen,
Gụ lau
Trang 37là Gụ lau Sindora tonkinensis và Trầm hương Aquilaria crassna, 7 loài ở mức Sẽ nguy cấp VU như Lát xoan Chukrasia tabularis, Tắc kè đá bon Drynaria bonii, Rau sắng Melientha suavis,…
+ 9 loài ghi trong Danh mục các loài có nguy cơ bị đe doạ của hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN, 2010), đáng chú ý có 1 loài ở mức Rất nguy cấp CR là
Trầm hương Aquilaria crassna; 1 loài ở mức Nguy cấp EN là Lim xanh Erythrophleum fordii cùng một số loài thuộc mức Sẽ nguy cấp, Thiếu thông tin,…
+ 7 loài có trong Nghị định số 32 của chính phủ năm 2006 Trong đó có 1 loài
thuộc nhóm IA- cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại là Sưa Dalbergia tonkinensis, 6 loài thuộc mục IIA: hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại như Bình vôi Stephania rotunda, Hoàng đằng Fibraurea tinctoria, Củ dòm Stephania dielsiana,…
* Giá trị kinh tế
Trong tổng số 532 loài thống kê công dụng được trình bày ở bảng sau:
Bảng 3.4 - Công dụng của các loài cây trong vùng nghiên cứu
Trang 38Theo thống kê ban đầu, ở hệ sinh thái tự nhiên vùng đồi núi 4 địa điểm khảo sát, điều tra ở xã Hoàng Hoa Thám,thị xã Chí Linh, Hải Dương cho thấy:
- Số loài cây được dùng làm thuốc là 316, chiếm 42,7% tổng số loài toàn hệ Còn các giá trị khác chiếm tỷ lệ thấp hơn
- Các loài cho sản phẩm ăn được có 147 loài, chiếm tới 19,9%, bao gồm cho rau ăn, cây cho quả ăn được; cây cho hạt ăn được; cây làm gia vị; cây cho củ ăn được
- Các loài cây cho gỗ: 104 loài chiếm 14,1%; làm cảnh: 40 loài chiếm 5,4%;tạo thảm : 57 loài chiếm 7,8%, và các nhóm chiếm tỷ lệ thấp hơn như nhóm cây làm thức ăn gia súc, nhóm cây cho dầu ăn hay dầu sử dụng trong công nghiệp, nhóm cây làm phân xanh Bên cạnh đó phải kể đến nhóm cây cho công dụng khác như nguyên liệu làm giấy, chỉ thị đất, làm sơn Nhóm này tuy số lượng loài ít nhưng được
sử dụng rất độc đáo, nhiều loài có vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Trong các nhóm cây, đáng lưu ý là Nhóm cây cho quả ăn được với loài Dẻ gai
yên thế (Castanopsis boisii) là một trong những loài ưu thế nhất của vùng sinh thái
tự nhiên vùng đồi núi thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương Đây là cây ăn hạt có giá trị thương mại Đặc biệt loài này là loài đặc hữu của Việt Nam, phân bố ở hầu hết các tỉnh phía Bắc Việt Nam từ Hà Giang, Tuyên Quang đến Quảng Bình, Quảng Trị nhưng tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Dương, Nghệ
Trang 393.1.3 Các kiểu thảm thực vật ở xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Trong quá trình điều tra tài nguyên thực vật tại xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương về các kiểu thảm thực vật, chúng tôi đã ghi nhận sự có mặt của các kiểu thảm thực vật sau:
* Rừng hỗn giao cây lá rộng:
Đây là những diện tích rừng tự nhiên còn sót lại thuộc tỉnh Hải Dương chỉ có
ở thị xã Chí Linh, tập trung chủ yếu ở xã Hoàng Hoa Thám, phân bố đến độ cao 500
m so với mực nước biển Phần tiếp giáp với các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh Thảm thực vật rừng vốn là phần tiếp giáp với các khu rừng già nguyên sinh của Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang, phần rừng thứ sinh đã bị tác động mạnh và đang tái sinh Mật độ cá thể cây gỗ khá lớn, thanh phần loài khá đa dạng, tuy nhiên số lượng các loài cây gỗ có tầm vóc to lớn, những loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao khộng nhiều Các loài cây gỗ tạp, ưa sáng, mọc nhanh, những loài cây
gỗ có giá trị sử dụng tương đối thấp xâm lấn mạnh, chiếm ưu thế rõ rệt trong các quần xã thực vật rừng (khu vực Thanh Mai xã Hoàng Hoa Thám) Khu vực Chùa
Thanh Mai (xã Hoàng Hoa Thám) có Sau sau (Liquidambar formosana Hance) chiếm ưu thế, Sau sau (Liquidambar formosana Hance) có chiều cao chủ yếu là 25-
30 m, đường kính 30-45 cm Bên cạnh đó, còn có các loài cây gỗ như Bời lời
(Litsea glutinosa (Lour.) C B Robins.), Thành ngạnh (Cratoxylon cochinchinensis (Lour.) Blume)…; một số loài cây bụi như Chân chim (Schefflera pes-avis R Vig.), Sảng (Sterculia lanceolata Cav), Thầu dầu (Ricinus comunis L.); do tầng dưới tán
thưa nên rất ít loài cây leo; một số loài thân cỏ thuộc họ Cỏ, Dương xỉ, Bên cạnh
đó, còn có một số loài cây trồng trong khu di tích được di thực từ nơi khác về, không phải cây bản địa của vùng nghiên cứu
Bên cạnh đó trong các loài chiếm ưu thế của rừng này còn có một số loài là các loài còn sót lại của rừng nguyên sinh có khả năng tái sinh, phục hồi tốt dưới tán
rừng như loài Gụ lau (Sindora tonkinensis A Chev ex K & S Larsen), Dẻ trái tròn (Lithocarpus sphaerocarpus (Hickel & A Camus) A Camus), Cà ổi bắc bộ -
Trang 40(Castanopsis tonkinensis Seemen), Sung vả - Ficus.spp, có nhiều ở khu vực Khe Đá
sập, thôn Đồng Châu, xã Hoàng Hoa Thám
Trong các hệ sinh thái rừng loại này, tầng vượt tán thường không tồn tại, tầng
ưu thế sinh thái và tầng dưới tán phân biệt không rõ và thường hợp thành một tầng, các cây gỗ thường có đường kính nhỏ, vào khoảng 10-20 cm, cong queo, phân cành sớm Toàn bộ cấu trúc rừng thường chỉ gồm 2-3 tầng
- Tầng cây gỗ chiếm ưu thế thường ở độ cao 10-12(15)m, các loài cây gỗ
chiếm ưu thế thường gặp trong kiểu hình rừng này là Vàng anh ( Saraca dives), Re (Cinnamomum sp), Ngát (Giromiera subaequalis), Ràng ràng (Ormosia balasnae), Muối (Rhus chinensis), Thừng mức(Wrightia pubescens ), Thành ngạnh (Cratoxylum polyanthum), Đỏ ngọn (C prumifolium), Ba bét (Mallotus cochinchinensis), Ba soi (Macaranga denticulata),
- Tầng cây bụi thường gặp các loài như me rừng (Phyllanthus embica), Phèn đen (P reticulatus), Đơn (Ixora chinensis Lamk.), Ngọc nữ (Clerodendrum spp.), Cơm nguội (Ardisia spp.), Một số nơi còn có các quần xã tre nứa mọc thành đốm
nhỏ, xen lẫn
- Tầng cỏ quyết phát triển mạnh bởi các loài xâm nhập, ưa sáng và chịu khô hạn Chủ yếu là các đại diện thuộc ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), họ Cỏ (Poaceae), họ Cói (Cyperaceae), họ Cúc (Asteraceae), hay các loài thuộc các họ
khác thân thảo như An điền (Hedyotis spp.), Cà (Solanum spp.),
- Bên cạnh 3 tầng chính này, còn có các loài cây thuộc tầng phụ là các loài dây
leo thuộc họ nho (Vitaceae) như Song nho dị diệp (Ampelopsis heterophylla), Tứ thư thân dẹp (Tetrastigma erubescens); họ Tiết dê (Menispermaceae) như Dây sâm nam (Cissampelos pareira), Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria); hay các loài phụ sinh trên cây khác như một số loài thuộc ngành Dương xỉ: Tổ chim (Asplenium nidus) hay các loài thuộc họ Lan (Orchidaceae); loài bán kí sinh thuộc họ tầm gửi
(Loranthaceae),
Tuy nhiên, c ng cần nhấn mạnh là, trong các hệ sinh thái vùng nghiên cứu, đây là những diện tích rừng đang có xu hướng phục hồi lại những đặc trưng của