1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận

103 405 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tính cấp thiết trên, học viên chọn đề tài: “Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cậ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

*******

Nguyễn Thị Bích Đào

NGHIÊN CỨU XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐẠI HỌC QUỐC

GIA HÀ NỘI TẠI HÒA LẠC VÀ CÁC XÃ LÂN CẬN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

*******

Nguyễn Thị Bích Đào

NGHIÊN CỨU XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC ĐẠI HỌC QUỐC

GIA HÀ NỘI TẠI HÒA LẠC VÀ CÁC XÃ LÂN CẬN

Chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ Tài nguyên Môi trường

Mã số: 60 85 15

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG VĂN BÀO

HÀ NỘI – 2010

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong vài thập niên gần đây, thế giới phải đối mặt với nhiều thách thức như gia tăng dân số, công nghiệp hóa, đô thị hóa, khủng hoảng về kinh tế, chính trị và xã hội, đặc biệt là sự suy thoái nghiêm trọng về môi trường Là một quốc gia đang phát triển, những thách thức đó đối với Việt Nam càng to lớn hơn Vậy nguyên nhân do đâu và làm thế nào để giải quyết những vấn đề trên? Hiện nay, phát triển bền vững

là mục tiêu mà toàn nhân loại hướng tới để giải quyết những thách thức đó Nhưng làm thế nào để phát triển bền vững đang là câu hỏi còn gây nhiều tranh cãi Tuy nhiên, phát triển bền vững luôn gắn liền với khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Vì vậy, việc đánh giá đúng hiện trạng sử dụng các nguồn tài nguyên cho các loại hình sản xuất nhằm xác lập cơ sở để định hướng bảo vệ môi trường sinh thái theo đơn vị lãnh thổ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu cần có sự vào cuộc của các nhà Địa lý

Thạch Thất là một huyện có diện tích tự nhiên tương đối rộng 202,5 km2, với nhiều trục đường giao thông lớn chạy qua, đây là khu vực có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội Trong những năm gần đây, chính phủ đang triển khai nhiều dự án cấp quốc gia như mở rộng và nâng cấp tuyến đường cao tốc Láng – Hòa Lạc, khu công nghệ cao Láng – Hòa Lạc, khu Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc, tuyến đường vành đai 4 của Hà Nội, khu công nghiệp Phú Cát, cụm công nghiệp Bình Phú, hệ thống khu đô thị Liên Quan, Ngọc Liệp…khiến Thạch Thất trở thành nơi có tốc độ phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa sôi động nhất trong các huyện ngoại thành Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của khu vực

có nhiều biến động, việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên bộc lộ nhiều hạn chế, môi trường dân sinh và cảnh quan huyện bị tác động mạnh mẽ Nguy cơ gây suy thoái tài nguyên đang trở nên đáng lo ngại Và khu vực xây dựng trường Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc là một trong những khu vực điển hình như vậy Với đặc trưng địa hình là khu vực bán sơn địa, nơi hội tụ của các nhánh sông bắt

Trang 4

nguồn từ núi Viên Nam trước khi đổ vào sông Tích Vì vậy, môi trường ở đây có liên quan chặt chẽ tới môi trường của các khu vực phía nguồn của các nhánh sông này Trong khi đó, nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông, nhận thức bảo vệ môi trường còn yếu kém, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế của địa phương chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có Các dự án, đề tài quy hoạch của khu vực còn mang tính đơn ngành, đơn vùng, chưa thực sự đáp ứng phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và bảo vệ môi trường một cách hiệu quả theo mục tiêu đã được Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ IX thông qua: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững,

tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”

Với tính cấp thiết trên, học viên chọn đề tài: “Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa

học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận” nhằm đưa ra cái nhìn toàn cảnh về điều kiện địa

lý khu vực là bước đi quan trọng để sử dụng hợp lý lãnh thổ, bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững

2 Mục tiêu, nhiệm vụ

- Mục Tiêu: Xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi

trường dựa trên kết quả đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận

- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu trên, nội dung và nhiệm vụ cần nghiên

Trang 5

3) Nghiên cứu đặc điểm phân hóa cảnh quan khu vực, các mâu thuẫn và thành lập bộ bản đồ chuyên đề phục vụ cho mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

4) Đề xuất định hướng, giải pháp khả thi để phát triển, khai thác và sử dụng tài nguyên để bảo vệ môi trường hiệu quả theo các tiểu vùng cảnh quan

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Lãnh thổ nghiên cứu được giới hạn trong vị trí địa lý

và ranh giới hành chính các xã Thạch Hòa, Tiến Xuân và Yên Bình thuộc huyện Thạch Thất thành phố Hà Nội

Phạm vi khoa học: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề đánh giá tổng hợp các

điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội bao gồm phân tích hiện trạng, diễn biến các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, các vấn đề môi trường nảy sinh làm cơ

sở cho đề xuất các định hướng và giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên bảo vệ môi trường khu vực nghiên cứu trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

4 Cơ sở tài liệu

Cơ sở dữ liệu của đề tài gồm:

- Các tài liệu, công trình nghiên cứu mang tính lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài

- Số liệu thống kê của huyện Thạch Thất về điều kiện tư nhiên và tài nguyên thiên nhiên của 3 xã thuộc khu vực nghiên cứu

- Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Thạch Thất đến năm 2010 và định hướng đến 2020; Báo cáo tổng hợp quy hoạch ĐHQG Hà Nội tại Hòa Lạc đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050; Bản

đồ địa hình 1: 25.000

- Các kết quả khảo sát thực địa

5 Kết quả và ý nghĩa

- Kết quả

Trang 6

+ Tập bản đồ chuyên đề và tổng hợp: bản đồ địa chất, bản đồ địa mạo, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ cảnh quan

+ Phân tích các mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng tài nguyên và các hệ quả môi trường

+ Xác lập được các định hướng tổ chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên quan điểm liên kết các tiểu vùng cảnh quan

- Ý nghĩa

i) Ý nghĩa khoa học: Phát triển tiếp cận liên ngành trong đánh giá tổng

hợp điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, và liên vùng trong nghiên cứu địa lý ứng dụng cho vùng đồi núi thấp chuyển tiếp

ii) Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả đề tài là tài liệu tham khảo cho công tác

định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường đối với các xã thuộc khu vực nghiên cứu

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn

gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường

Chương 3: Định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Các vấn đề lý luận quy hoạch bảo vệ môi trường trên cơ sở tiếp cận địa lý tổng hợp

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về quy hoạch bảo vệ môi trường

a – Khái niệm chung

Từ những thập kỉ 40 – 60 của thế kỉ XX, yếu tố BVMT đã được đưa vào trong các quy hoạch phát triển kinh tế, để đề xuất các kế hoạch cải thiện tình trạng lộn xộn của xã hội, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, đó có thể coi là tiền thân của QHBVMT

Nhưng thuật ngữ QHBVMT thực sự xuất hiện vào những năm 70 và được phổ biến rộng rãi trong những năm 90 của thế kỷ XX Quy hoạch bảo vệ môi trường

là một khái niệm tương đối mới không chỉ với Việt Nam mà còn với nhiều nước trên thế giới, do đó tồn tại nhiều quan niệm phương pháp khác nhau về vấn đề này Xuất phát từ thực tế của từng quốc gia mà QHBVMT có thể chỉ là quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch sử dụng tài nguyên hoặc là một quy hoạch tổng hợp kinh tế –

xã hội và tài nguyên – môi trường Cụ thể như: tại Hà Lan, QHBVMT là cầu nối giữa qui hoạch không gian và việc lập chính sách môi trường, trong khi đó ở Bắc

Mỹ, QHBVMT lại là phương pháp qui hoạch tổng hợp (kinh tế – xã hội, quản lý môi trường tổng hợp, quản lý hệ sinh thái và quản lý tổng hợp các nguồn tài nguyên)

Tương tự như sự khác biệt về quan điểm của từng quốc gia riêng biệt, các nhà khoa học, các tổ chức kinh tế trên thế giới cũng có những quan điểm chưa thống nhất về QHBVMT, cụ thể như:

 Theo Susan Buckingham – Hatfiel & Bob Evams (1962), QHBVMT

có thể hiểu rất rộng là quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện chính sách môi trường;

 Ortolanto (1984) quan niệm rằng: QHBVMT là một công việc hết sức phức tạp và để thực hiện QHBVMT phải sử dụng kiến thức liên ngành Cũng theo

Trang 8

Ortolanto, nội dung của QHBVMT bao gồm qui hoạch sử dụng đất, quản lý chất tồn

dư và kỹ thuật ĐTM;

 Baldwin (1984) cho rằng: QHBVMT là việc khởi thảo và điều hành các hoạt động nhằm hướng dẫn, kiểm soát thu nhập, biến đổi, phân bổ và đổ thải một cách phù hợp với các hoạt động của con người sao cho các quá trình tự nhiên, sinh thái và xã hội tổn thất một cách ít nhất;

 Anne Beer (1990) cho rằng QHBVMT phải là cơ sở cho tất cả các quyết định để phát triển có tính địa phương;

 Toner (1996) cho rằng QHBVMT là việc ứng dụng các kiến thức về khoa học tự nhiên và sức khỏe trong các quyết định về sử dụng đất;

 Malone – Lee Lao Choo (1997) cho rằng để giải quyết những xung đột về môi trường và phát triển cần thiết phải xây dựng hệ thống qui hoạch trên cơ

sở những vấn đề môi trường;

 Alan Gilpin (1996) cho rằng QHBVMT là “việc xác định các mục tiêu mong muốn về kinh tế xã hội đối với môi trường tự nhiên và tạo ra các chương trình, qui trình quản lý để đạt được mục tiêu đó” Những vấn đề trong QHBVMT thành phố và qui hoạch môi trường vùng bao gồm: sử dụng đất, giao thông vận tải, lao động, sức khỏe, các trung tâm, thị xã, dân số, chính sách của nhà nước về định

cư, các vấn đề nhà ở, công nghiệp, phát triển đô thị, chính sách môi trường đối với quốc gia, vùng và đô thị, các vấn đề về ô nhiễm và ĐTM;

 Theo ADB (1991): trong qui hoạch nhằm phát triển vùng, các thông

số môi trường cần được đưa vào qui hoạch ngay từ đầu và sản phẩm cuối cùng là qui hoạch phát triển kinh tế – xã hội vùng với những cân nhắc cần thiết tới nhu cầu phát triển bền vững bằng cách nhất thể hóa với quản lý tài nguyên và môi trường

Và tại Việt Nam:

 Trong cuốn ĐTM của Lê Thạc Cán (1994) [3] sử dụng thuật ngữ “Lập

kế hoạch hóa môi trường” để chỉ việc lập kế hoạch, trong đó các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội được xem xét một cách tổng hợp với các mục tiêu về môi trường, nhằm đảm bảo khả năng thực tế cho việc thực hiện phát triển bền vững;

Trang 9

 Trịnh Thị Thanh trong “Nghiên cứu về phương pháp luận Quy hoạch môi trường” (1998) [23] cho rằng: “QHBVMT là quá trình sử dụng có hệ thống các kiến thức khoa học để xây dựng các chính sách và biện pháp trong khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm định hướng các hoạt động phát triển trong khu vực, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững”

 Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban bố năm 1994 có ghi: “Nhà nước thống nhất quản lý, bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước, lập quy hoạch bảo vệ môi trường” (Điều 3, chương I) Vậy quy hoạch bảo vệ môi trường đã được nhà nước Việt Nam ghi thành luật; là công việc phải làm trong công tác quản lý, bảo vệ môi trường

Như vậy QHBVMT có thể hiểu là việc xác lập các mục tiêu môi trường

mong muốn, đề xuất và lựa chọn phương án, giải pháp để bảo vệ, cải thiện và phát triển những môi trường thành phần hay tài nguyên của môi trường nhằm tăng cường một cách tốt nhất năng lực, chất lượng của chúng theo mục tiêu đã đề ra

Nhiệm vụ cơ bản của QHBVMT là giải quyết những mâu thuẫn giữa tăng

trưởng kinh tế và chất lượng môi trường, giữa tăng trưởng kinh tế và việc bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên; duy trì sự cân đối hài hòa các hoạt động phát triển

mà con người vì lợi ích của mình đã áp đặt quá mức lên các hệ tự nhiên Có thể xem quy hoạch bảo vệ môi trường là giải pháp nhằm thống nhất giữa phát triển kinh tế -

xã hội và bảo vệ tài nguyên - môi trường Nó giúp tạo ra cơ chế để giải quyết sự mâu thuẫn vốn có giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường – tài nguyên

Bản chất của QHBVMT nhằm phục vụ cho quá trình xây dựng chính sách,

hoạch định mục tiêu bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, phân vùng không gian lãnh thổ theo yếu tố môi trường, điều hòa sự phát triển kinh

tế - xã hội theo khả năng chịu tải của môi trường, phục vụ phát triển bền vững [25]

Mục tiêu cơ bản của QHBVMT là hướng tới sự phát triển bền vững của một

vùng lãnh thổ Đó chính là sự điều tiết mối quan hệ hữu cơ giữa phát triển kinh tế,

xã hội với tài nguyên môi trường Một mặt bảo đảm sự phát triển của hệ thống kinh

tế - xã hội không vượt quá mức tải của hệ thống tự nhiên Từ góc độ bảo vệ tài nguyên mà ra các kế hoạch phát triển sử dụng hợp lý tài nguyên không hủy hoại

Trang 10

môi trường Mặt khác, bảo đảm bản thân việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo

vệ môi trường hài hòa với sự phát triển kinh tế của hệ thống kinh tế - xã hội Quản

lý và quy hoạch tài nguyên – môi trường tăng khả năng tái sinh của các tài nguyên

có thể tái sinh và khả năng chịu đựng của môi trường làm cho nó không gây hạn chế cho sự phát triển của kinh tế - xã hội [25]

Nội dung cơ bản trong QHBVMT: Phân tích, đánh giá các điều kiện tự

nhiên, hiện trạng tài nguyên, môi trường và tình hình kinh tế - xã hội của vùng quy hoạch; dự báo xu thế phát triển kinh tế - xã hội và xu thế diễn biến tài nguyên, môi trường tại vùng quy hoạch; phân vùng đơn vị chức năng môi trường và dự báo những vấn đề môi trường nổi cộm; đề xuất ý tưởng, giải pháp quy hoạch môi trường; xây dựng bản đồ QHBVMT [25]

b – Tổng quan tình hình nghiên cứu QHBVMT

* Tình hình nghiên cứu QHBVMT ở ngoài nước

Năm 1977 John M.Edington và M Anh Edington xuất bản cuốn sách “Sinh thái học trong và QHBVMT ” phân tích rõ nhưng vấn đề sinh thái trong QHMT, sử dụng đất nông thôn, phát triển đô thị, công nghiệp Sau đó năm 1985, Walter E Westman cũng nhấn mạnh về ảnh hưởng sinh thái và mối quan hệ khăng khít giữa sinh thái và ĐTM, trong cuốn “Sinh thái , ĐTM, QHBVMT” [19]

Trong cuốn sách “QHBVMT và ra quyết định” của Leonard Ortolano (1984)

đã cho rằng, QHBVMT sử dụng kiến thức liên ngành về địa chất, cảnh quan, sinh học, thẩm mỹ môi trường, luật và chính sách môi trường, giải quyết các vấn đề về chất thải, ĐTM, sử dụng đất

Cuốn “QHBVMT cho các cộng đồng nhỏ”của hãng Bảo vệ môi trường Mỹ (1994) đã hướng dẫn QHBVMT cần tôn trọng quyền của nhân dân, của cộng đồng, nhu cầu của cộng đồng, giải quyết các nhu cầu đó cho cộng đồng Ở Anh, đáng chú

ý có công trình “ QHBVMT cho phát triển vùng” của Anne R Beer (1990) trong đó

đã trình bày mỗi quan hệ giữa QHBVMT và quy hoạch vùng

Cuốn “QHBVMT bền vững” được biên tập bởi Andrew Blower xuất bản lần đầu ở Luân Đôn vào năm 1993, sau đó tái bản nhiều lần, đã đưa ra 10 vấn đề cho

Trang 11

QHBVMT: (1) sự thay đổi theo thời gian, (2) quy hoạch nền, quy hoạch thành phố, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch bền vững cấp địa phương, dự báo tương lai cho quy hoạch, (3) các hệ sinh thái TNTN, (4) chính sách năng lượng bền vững, (5) ô nhiễm và rác thải gánh nặng của bền vững, (6) xây dựng một môi trường bền vững, (7) lợi ích giữa giao thông vận tải công cộng và tư nhân, (8) kinh tế bền vững, (9) quy hoạch khu vực thành phố bền vững, (10) thực hiện và quy hoạch

Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) trong báo cáo môi trường số 3 năm

1991 đã nhấn mạnh có môi liên hệ giữ phát triển kinh tế và sử dụng nguồn lực, sự tác động của kế hoạch phát triển và môi trường khu vực; QHBVMT không tách rời quy hoạch phát triển kinh tế

Trong một bài viết “Triển vọng của địa học môi trường Trung Quốc”, tác giả Chen Jingsheng (1986) đã nêu lên các tiến bộ của địa học môi trường ở Trung Quốc, điều tra tổng hợp chất lượng môi trường, nghiên cứu phân vùng môi trường

và QHBVMT

Ở Singapore, Malone – Leo Lai Cho (1997) đã trình bày quan điểm: QHBVMT đáp ứng nhu cầu về nhà ở, việc làm và nghỉ ngơi, giải quyết xung đột về môi trường và phát triển, cần thiết phải quy hạoch trên cơ sở những vấn đề về môi trường [30]

* Tình hình nghiên cứu trong nước

Có thể nói, nhưng nghiên cứu QHBVMT ở Việt Nam được bắt đầu khá sớm

và không chính thức trong các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các địa phương, cũng như các quy hoạch ngành nông – lâm nghiệp khác

Và nó chỉ được đặt ra một cách rõ ràng từ sau Luật Bảo vệ môi trường Một số công trình nghiên cứu lý thuyết về QHBVMT có thể kể đến như: “nghiên cứu về Phương pháp luận QHBVMT” - “nghiên cứu xây dựng hướng dẫn QHBVMT và xây dựng QHBVMT”, do TS Trịnh Thị Thanh, khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học

Tự nhiên – ĐHQG Hà Nội chủ trì thực hiện năm 1998,1999 Một số nghiên cứu định hướng QHBVMT cho các vùng kinh tế có thể kể đến như: “Nghiên cứu xây dựng QHBVMT phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng” do

Trang 12

GS Lê Quí An làm chủ nhiệm; “ Nghiên cứu xây dựng QHBVMT vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” do Phân viện Nhiệt đới Môi trường Quân sự chủ trì;

“Nghiên cứu mẫu QHBVMT thị xã Bắc Ninh” dự án hợp tác giữa Việt Nam – Canada 2002-2003, do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Bảo vệ TNTN

và Môi trường Việt nam thực hiện

Ngoài ra, đóng góp tích cực về mặt phương pháp luận QHBVMT phải kể đến còn có các tham luận tại các cuộc hội thảo liên quan đến QHBVMT: Hội thảo QHBVMT do Cục Môi trường – Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) tổ chức tại Hà Nội (tháng 5-2001); hội thảo khoa học

“Phương pháp luận QHBVMT và các vấn đề môi trường ưu tiên tại vùng Đông Nam Bộ” do viện Môi trường và Tài nguyên tổ chức tại Vũng Tàu (tháng 10-2002); hội thảo “BVMT và phát triển bễn vững ở Việt Nam” do Ban khoa giáo Trung ương

tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh (tháng 4-2004)

QHBVMT là một trong những vấn đề đang nổi lên ở Việt Nam, được sự quan tâm và khuyến khích của chính phủ, các bộ ngành, thu hút được sự tham gia nghiên cứu của nhiều tổ chức, cá nhân QHBVMT có mục tiêu rõ ràng và là một bộ phận của quy hoạch phát triển KT-XH

1.1.2 Lý luận về xác lập cơ sở cho định hướng QHBVMT khu vực xây dựng ĐHQG tại Láng Hòa Lạc và các xã lân cận

Xuất phát từ nhiệm vụ, nội dung cơ bản của QHBVMT và đặc điểm địa hình, dòng vận chuyển vật chất năng lượng khu vực xây dựng ĐHQG tại Láng Hòa Lạc

và các xã lân cận (các sông, suối trong khu vực đóng vai trò là dòng vận chuyển vật chất từ lưu vực xuống vùng thung lũng, đồng bằng vùng lưu vực thấp hơn), để xác lập cơ sở cho QHBVMT, cần nghiên cứu trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các đơn

vị cảnh quan của khu vực này Bởi lẽ, theo quan điểm nghiên cứu cảnh quan, các điều kiện tự nhiên cùng với dạng khai thác, sử dụng đất tạo thành một địa hệ Cảnh quan lưu vực được coi như một hệ thống tự nhiên với những đặc trưng riêng về điều kiện tự nhiên, được phân biệt với những dạng cảnh quan khác nhờ vào đặc trưng của cán cân nước và chế độ nước, mực nước ngầm, mạng lưới thủy văn, dòng chảy

Trang 13

và các quá trình địa mạo Các hoạt động kinh tế - xã hội của con người tác động đến cảnh quan lưu vực theo hai hướng: một mặt các hoạt động như khai hoang mở rộng diện tích rừng, khai thác khoáng sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, san lấp mặt bằng vồ hình lấp đi mạng lưới sông suối, thay đổi dòng chảy, thúc đẩy các quá trình di chuyển vật chất trên sườn; nhưng mặt khác các công trình thủy lợi như hồ đập, kênh mương dẫn nước, dòng chảy nhân tạo lại góp phần làm điều hòa dòng chảy cho vùng hạ lưu Hiệu ứng của các tác động này phụ thuộc cấu trúc cảnh quan và thông

số thủy văn của lưu vực Với lãnh thổ tập trung đồi, núi thấp như ở khu vực các xã Tiến Xuân và Yên Bình, hoạt động kinh tế - xã hội thông qua khai thác, sử dụng tài nguyên và xả thải gây ảnh hưởng trực tiếp tới tầng đất, suy giảm lớp phủ rừng, xói mòn và bồi lắng lòng sông, hồ chứa, ô nhiễm môi trường nước không chỉ của khu vực mà còn liên quan tới môi trường nước của các vùng phụ lưu thấp hơn, trong đó

có khu vực xây dựng ĐHQG Hà Nội Vì vậy, vấn đề khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa rất to lớn đối với việc bảo đảm tính bền vững của cảnh quan lưu vực Việc nghiên cứu phân tích các điều kiện phân bố và đặc điểm địa mạo, đặc điểm thủy văn, lớp phủ thổ nhưỡng trong khu vực xây dựng ĐHQG

Hà Nội và các xã lân cận sẽ cung cấp những thông tin quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

* Khái niệm cảnh quan

Lịch sử phát triển của Cảnh quan học gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà khoa học Xô Viết như: B.N Xukatror, V.A Nhicolaev, B.B Polunov, Có thể nói nền tảng cơ sở của khoa học cảnh quan có từ rất sớm và đi sâu vào đời sống của nhân loại Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX V.V.Docutraev (1846-1903) - người được coi là nhà khoa học đặt nền móng cho học thuyết cảnh quan và là người đầu tiên thực hiện nguyên tắc tổng hợp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên tại các địa phương cụ thể Ông cho rằng thổ nhưỡng là hàm số của tất cả các yếu tố địa lý khác: kiểu nham, khí hậu, sinh vật… Theo ông: “phải nghiên cứu thiên nhiên thống nhất, toàn vẹn và không tách rời từng phần” Tư tưởng này là tiếp nối quan điểm của Alecxăng Humbol (1765-1859), khi đề ra nguyên tắc nghiên cứu tổng hợp các hiện tượng tự nhiên, theo ông: “Địa lý học cung cấp lối nhìn chung về những hiện

Trang 14

tượng trên mặt đất vói sự liên kết phụ thuộc của chúng” Sau chiến tranh thế giới thứ II, cảnh quan học thực sự phát triển và được xác định như một “đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hoá địa đới và phi địa đới” (A.G Ixatrenco, 1953) Đây là giai đoạn nghiên cứu cấu trúc không gian của cảnh quan và xem các cảnh quan là những hệ thống cấu trúc không gian phức tạp có tính chất phân bậc logic theo những trật tự xác định [9]

Từ khi phát triển đến nay, cảnh quan học luôn tiếp cận đến cơ chế trao đổi vật chất và năng lượng cũng như trao đổi các thông tin giữa các hợp phần trong cảnh quan Sự trao đổi đó thể hiện ở các đơn vị cảnh quan cùng bậc, từ đơn vị bậc cao xuống các đơn vị bậc thấp hơn và ngược lại Cùng với sự phát triển của cảnh quan thì nhiều khoa học liên ngành cũng như các quan điểm đã được sử dụng đểnghiên cứu nó Đặc biệt là việc sử dụng các tiếp cận hệ thống, tiếp cận sinh thái… Với đặc điểm của khu vực nghiên cứu là dải ven biển nằm trong dải chuyển tiếp giữa đất liền và biển thì quan điểm và cách tiếp cận hệ thống là rất quan trọng Có thể coi khu vực nghiên cứu là một vùng lãnh thổ tự nhiên đặc biệt do tác động tương hỗ của các thành phần tự nhiên hay đó chính là các yếu tố thành tạo cảnh quan Ngoài ra các hoạt động nhân sinh cũng đóng vai trò rất quan trọng

Trong các hợp phần tự nhiên, nhân tố khí hậu ảnh hưởng tới dòng chảy của dòng sông, sóng, tới các hoạt động sản xuất… Nhân tố địa chất có vai trò trong việc thành tạo các vùng tài nguyên khoáng sản và các dạng địa hình Địa hình lại ảnh hưởng tới quá trình di chuyển vật chất từ sông ra biển và từ biển vào Nguồn phù sa

và các loại dinh dưỡng từ các sông cũng như lượng nước ngọt còn tạo độ muối thích hợp trong nuôi trông thủy hải sản…

Nhân tố con người đã tác động lên vùng cửa sông ở trên bằng các hoạt động phát triển kinh tế Trước tiên họ phải tận dụng những điều kiện thuận lợi và hạn chế những bất lợi của lãnh thổ cư trú và sản xuất Sự tác động này làm thay đổi các đặc trưng của cảnh quan như độ cao, độ chia cắt của địa hình, thành phần và chất lượng các sinh vật…hay nói cách khác con người đã là thay đổi chu trình vật chất và năng lượng của cảnh quan

Từ đó cho thấy, mối liên hệ giữa tự nhiên với các hợp phần đã tạo nên cấu trúc các đơn vị cảnh quan thể hiện sự tương đồng giữa các yếu tố tự nhiên và con người thông qua các hoạt động phát triển kinh tế xã hội Mỗi một đơn vị cảnh quan

Trang 15

có những đặc thù riêng, những tiềm năng tự nhiên và các hoạt động khai thác của con người

Như vậy, có thể nói việc nghiên cứu cảnh quan rất cần thiết trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về cảnh quan, nhưng nhìn chung các tác giả đều theo một trong ba quan niệm sau:

- Quan niệm chung: Cảnh quan biểu thị tổng hợp thể địa lý của một cấp bất

kỳ, đồng nghĩa với tổng thể tự nhiên - lãnh thổ, địa tổng thể tự nhiên hay địa hệ tự nhiên

Các tác giả đại diện cho quan điểm này gồm: F.N.Minkov, N.A.Gvozdetxki, P.X.Kuznhexov, V.P.Prokave, D.L.Aramand- 1983 viết “…tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên là một phần lãnh thổ hay khu vực được phân chia một cách ước lệ bằng các ranh giới nằm ngang theo nguyên tắc mất dần ảnh hưởng của nhân tố theo đó tổng thể được định ra” Nhược điểm của quan điểm này là không phản ánh giới hạn về mặt lãnh thổ vì thế theo đánh giá của TSKH Phạm Hoàng Hải

và nnk chỉ thích hợp cho việc nghiên cứu môi trường tự nhiên, cho một loại hình sử dụng rất cụ thể như cho các vườn bảo vệ tự nhiên, cho phát triển một số giống, loài nào đó [6]

- Quan niệm về kiểu loại: Cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ thống

phân vị tổng thể tự nhiên trong đó cảnh quan là đơn vị chủ yếu được xem xét đến những biến đổi do tác động của con người

Theo quan niệm này thì cảnh quan được phân loại theo các cấp phân vị:

Hệ cảnh quan => phụ hệ cảnh quan => kiểu cảnh quan => phụ kiểu cảnh quan => loại cảnh quan => hạng cảnh quan…

Quan niệm này thể hiện trong các công trình nghiên cứu của Polưnov, Markov, Pereman, N.A Gvozdexki… và có lợi thế trong nghiên cứu thành lập bản

đồ cảnh quan phục vụ mục đích thực tiễn ở tỷ lệ lớn và trung bình, đối với các cảnh quan bị biến đổi bởi các hoạt động của con người, khi nhiều yếu tố chưa định lượng một cách chắc chắn và cần phải công nhận tính đồng nhất tương đối để có thể gộp chúng vào một nhóm Tính đồng nhất tương đối và tính lặp lại được thể hiện rõ trong hệ thống đơn vị phân loại khi thành lập bản đồ cảnh quan Quan niệm này sử dụng cho cả cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân sinh

Trang 16

- Quan niệm cá thể: Cảnh quan để chỉ một phần lãnh thổ nào đó riêng biệt

của lớp vỏ địa lý, trong đó có những đặc tính chung nhất, tức chỉ các đơn vị phân hóa trên những lãnh thổ cụ thể Quan niệm này khá phổ biến và theo tác giả quan niệm này lại được chia thành hai trường phái:

Trường phái thứ nhất: Coi cảnh quan là cấp dưới cùng của địa lý tự nhiên Trường phái thứ hai: Cho rằng cảnh quan đồng nghĩa với vùng địa lý tự nhiên Đại

diện cho trường phái này là A.G.Ixatsenko, Vũ Tự Lập,… Trong cuốn “cảnh quan

địa lý miền Bắc Việt Nam” [14] Vũ Tự Lập đã đưa ra định nghĩa “Cảnh quan là

một tổng thể được phân hóa trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thủy văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng, đại tổ hợp thực vật mà bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác nhau theo một cấu trúc ngang đồng nhất” Dựa trên định nghĩa đó Vũ Tự Lập

đã chia toàn bộ miền Bắc Việt Nam thành 577 cảnh địa lý và mô tả đặc trưng của các cảnh đó Quan niệm cảnh quan là một đơn vị phân hóa chung như một địa hệ tự nhiên bất kỳ nào đó được sử dụng nhiều không phải trong lĩnh vực cảnh quan học thuần túy, mà ở các lĩnh vực khác, các ngành khác khi có động đến sự phân dị lãnh thổ Vì vậy, nhiều người cho cảnh quan đồng nghĩa với các quan điểm phân vùng khác

Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, quan niệm về cảnh quan theo quan niệm chung không có một giới hạn rõ rệt về lãnh thổ, không theo sự phân cấp (phân hóa nào) vì sử dụng như một danh từ chung Do vậy, thường được dùng cho các công trình chung nghiên cứu môi trường tự nhiên hoặc nghiên cứu cho một dạng sử dụng rất cụ thể nào đó

Đối với các nhà nghiên cứu chuyên ngành cảnh quan thì sử dụng hai quan niệm: kiểu loại và cá thể Trong đó, quan niệm kiểu loại được dùng phổ biến trong các nghiên cứu cảnh quan Vì theo quan niệm này, cảnh quan là đơn vị cơ sở, là cấp phân vị - đơn vị phân loại thể hiện rõ nét nhất cả hai quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới (A.G Ixatsenko, 1965), đồng thời là địa hệ tự nhiên cấp cơ sở có cấu trúc hình thái riêng Điều này thể hiện một trong những đặc tính của tập hợp, là đặc

Trang 17

tính “nổi bật” chỉ có trong hệ thống các cấp, mà mỗi cấp có tính chất riêng cho sự liên kết tương hỗ của các yếu tố hợp thành

Nghiên cứu Cảnh quan còn có nhiều quan niệm khác nhau nhưng các quan niệm này đều thống nhất ở một số điểm:

- Các Cảnh quan được cấu thành từ các thể tổng hợp tự nhiên mang tính hình thái, như các dạng địa lý và diện địa lý

- Có thể nghiên cứu Cảnh quan ở cả hai phương diện “Vùng” và “Kiểu loại” Cảnh quan là không gian địa lý có tính đồng nhất về các hợp phần, thể hiện các mối quan hệ nhân quả giữa chúng, có ranh giới xác định

- Cảnh quan như một hệ thống nên có các tính chất: Tự điều chỉnh và tự phục hồi liên tục

- Sự phát triển của Cảnh quan trải qua các giai đoạn từ “trẻ ” đến “già ” và

“chết”, nghĩa là nó bị biến đổi nhưng vẫn giữ lại một số đặc tính ban đầu Do đó các Cảnh quan còn có đặc tính quan trọng nữa là tính “tàn dư ” và tính “tức thời ”

Xu thế hiện nay trong nghiên cứu cảnh quan trên thế giới cũng như ở Việt Nam là dựa trên các kết quả nghiên cứu ở phạm vi toàn cầu đã được chấp nhận, các nhà khoa học sẽ tiếp tục đi sâu vào những hướng tiếp cận khoa học tổng hợp trong nghiên cứu cảnh quan vùng và đồng thời tiến thêm một bước quan trọng là ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó cho các mục đích thực tiễn cụ thể, đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển sản xuất, kinh tế, bảo vệ và phát triển môi trường lãnh thổ trên quan điểm phát triển bền vững

1.2 Các quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu

1.2.1 Các quan điểm nghiên cứu

a - Quan điểm hệ thống

Theo L Bertalanf thì: “ Hệ thống là tổng thể các thành phần nằm trong sự tác động tương hỗ” [6] Hệ thống có những tính năng mà tất cả các tổng thể khác không có: nó có khả năng phân chia thành các hệ thống con và khả năng nhập vào các hệ thống phân bậc cao hơn Hay nói cách khác, mỗi hệ thống được xem là một bộ phận của hệ thống lớn hơn, nhưng lại bao gồm nhiều hệ thống cấp nhỏ hơn Quan điểm

hệ thống giúp nhà nghiên cứu nghiên cứu một cách khách quan bản chất và diễn

Trang 18

biến phức tạp của một sự vật, hiện tượng Đây là một trong những quan điểm được

sử dụng rộng rãi trong QHBVMT, vì đối tượng của QHBVMT chính là các đơn vị

hệ thống lãnh thổ với các mối quan hệ nội tại giữa xã hội, kinh tế với các yếu tố môi trường

Hình 1.1 Mô hình hệ thống (Nguồn: Indiactors for Sustainable Development:

Theory, Methods and Applications, IISD, 1990)

Khu vực ĐHQG tại Láng Hòa Lạc và các xã lân cận như là một hệ thống hoàn chỉnh về cấu trúc và thống nhất về chức năng Hệ thống này được tạo thành từ các hợp phần tự nhiên (địa chất, khí hậu, địa hình, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật), các hợp phần kinh tế - xã hội mang tính chất nhân sinh (nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, thủy sản…) và các mối liên hệ giữa các hợp phần đó, làm biến đổi dòng vật chất, năng lượng và tiền tệ của hệ thống Khi có yếu tố tự nhiên hay xã hội trong hệ thống đó bị mất cân bằng thì dẫn tới sự thay đổi của toàn hệ thống Khu vực ĐHQG tại Láng Hòa Lạc và các xã lân cận cũng là bộ phận của hệ thống cấp cao hơn Không chỉ có các nhân tố trong hệ thống làm hệ thống thay đổi mà các tác nhân bên ngoài cũng dẫn đến sự thay đổi

Mục đích của nghiên cứu hệ thống thể hiện ở 3 đặc điểm chính sau: xem xét các mối tương quan của các yếu tố môi trường, kinh tế - xã hội; áp dụng vào trong tất cả các khâu của lĩnh vực nghiên cứu của luận văn; sử dụng trong xác lập cơ sở

Hệ thống

Cấu thành hệ thống:

- Yếu tố tự nhiên:

ĐC-ĐH, KH_TV, đất, sinh vật

- Yếu tố kinh tế - xã hội: Công nghiệp, nông nghiệp…

Đầu vào:

(Vốn, khoa học – công nghệ, sức lao động)

Ranh giới hệ thống

Đầu ra: ( chất thải, các sản phẩm hàng hóa, khác, lợi nhuận) Mối quan hệ giữa các

yếu tố hệ thống Môi trường hệ

thống

Trang 19

cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường đề ra giải pháp sử dụng tài nguyên hợp lý

b - Quan điểm tổng hợp

Mỗi hệ thống là một phức hợp các yếu tố và các mối quan hệ qua lại phức tạp, chính vì thế, cần phải nghiên cứu hệ thống trên quan điểm tổng hợp Đây là một trong những quan điểm quan trọng nhất trong quy hoạch lãnh thổ, bảo vệ tài nguyên môi trường Do tính chất mở của các địa hệ và tính liên tục của tự nhiên qua dòng vật chất năng lượng, dẫn đến những thay đổi trong cấu trúc chức năng không chỉ giới hạn trong địa hệ chịu tác động đó mà còn ảnh hưởng lan truyền đến các địa hệ khác không trực tiếp chịu tác động Quan điểm tổng hợp đòi hỏi nghiên cứu không phải một thành phần riêng lẻ mà là toàn bộ các hợp phần của hệ thống, môi trường trong mối quan hệ tương hỗ

Với quan điểm tổng hợp, tác giả đã xem xét khu vực ĐHQG tại Láng Hòa Lạc và các xã lân cận trong một hệ thống tương đối toàn diện với đầy đủ các yếu tố

tự nhiên, kinh tế - xã hội, các loại hình phát triển, các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, phong tục tập quán của dân cư bản địa, các quy định mang tính pháp lý

về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Điều này cho ta cái nhìn đa chiều khi xem xét một vấn đề hoặc một yếu tố phát sinh trong hệ thống trước khi đưa ra một

giải pháp hoặc một quyết định đúng đắn

c - Quan điểm bền vững

Theo Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (1987): “Phát triển bền

vững là sự phát triển sử dụng tài nguyên thiên nhiên, điều kiện môi trường hiện có

để thoả mãn nhu cầu của các thế hệ con người đang sống, nhưng lại phải đảm bảo cho thế hệ tương lai những điều kiện tài nguyên và môi trường cần thiết để họ có thể sống tốt hơn ngày hôm nay”

Trang 20

Quan điểm phát triển bền vững xuất hiện đầu những năm 1980, trong phong trào bảo vệ môi trường Sau đó, quan điểm này được áp dụng cho nhiều loại hình phát triển, các hoạt động và được xem là quan điểm mang tính chỉ đạo cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường

Quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đạt được sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, cụ thể phải đồng thời thực hiện mục tiêu: phát triển có hiệu quả về kinh tế, phát triển hài hòa các mặt xã hội, nâng cao mức sống, trình độ sống của các tầng lớp dân cư và cải thiện môi trường môi sinh, bảo đảm phát triển lâu dài, vững chắc cho hệ thống hôm nay và mai sau

d - Quan điểm lịch sử

Quan điểm lịch sử là xem xét các sự vật, hiện tượng phát triển trong một quá trình tiến hóa lâu dài nhất định theo thời gian Vì vậy, việc xem xét lãnh thổ đó trên quan điểm lịch sử giúp ta có được một cách hồi quy quá khứ để từ đó có thể dự báo

xu hướng biến đổi của lãnh thổ đó trong tương lai Nhất là đối với các hệ sinh thái

bị suy thoái, quan điểm lích sử giúp đánh giá được khả năng phục hồi, để từ đó có các giải pháp phù hợp cho mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo

vệ môi trường Quan điểm này càng có ý nghĩa hơn đối với nghiên cứu xác lập cơ

sở cho QHBVMT

1.2.2 Quy trình nghiên cứu

Bền vững kinh tế

Phát triển bền vững

Bền vững

xã hội

Bền vững môi trường

Hình 1.2 Mô hình phát triển bền vững (Nguồn IISD, 1995)

Trang 21

Quy trỡnh nghiờn cứu đỏnh giỏ tổng hợp điều kiện địa lý phục vụ định hướng quy hoạch bảo vệ khu vực trường Đại học Quốc gia tại Lỏng Hũa Lạc và cỏc xó lõn cận gồm 4 bước như sau:

Hỡnh 1.3 Quy trỡnh nghiờn cứu

Bước 1: Xỏc định mục tiờu, nhiờm vụ, phạm vi nghiờn cứu và xỏc định nhu cầu thụng tin, nhu cầu cập nhật dữ liệu

Bước 2: Phõn tớch cỏc điều kiện địa lý thành tạo cảnh quan và cỏc mặt tỏc động của hoạt động sử dụng cảnh quan, từ đú xõy dựng bản đồ cảnh quan Phõn

Mục tiờu, nhiệm vụ, phạm vi nghiờn cứu Xỏc định nhu cầu thụng tin và thu thập, cập nhật dữ liệu

Phõn tớch cỏc điều kiện địa lý thành tạo lónh thổ

Phõn tớch cỏc mặt tỏc động của hoạt động sử dụng lónh thổ

Bước 1

Bước 2

Bước 3

Bước 4

Trang 22

tích đặc điểm và quy luật phân hóa cảnh quan cũng như đặc điểm các tiểu vùng cảnh quan

Bước 3: Phân tích hiện trạng môi trường khu vực nghiên cứu

Bước 4: Đề xuất các giải pháp và các kế hoạch thực hiện

1.2.3 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng

a Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Công tác chuẩn bị đầu tiên là phải thu nhập phân tích các tài liệu có liên quan

đã được công bố để có cái nhìn tổng quan về khu vực nghiên cứu, cũng như có được những kiến thức cơ sở vững chắc về mặt lý thuyết đối với hướng nghiên cứu của mình

Việc xác định được mục tiêu, nội dung và nhiệm vụ sẽ giúp lựa chọn được những tài liệu cần thiết phục vụ quá trình nghiên cứu, từ đó tổng hợp các kết quả đã đạt được cũng như bổ sung thêm những vấn đề cần nghiên cứu thêm

Để phục vụ cho đề tài, trong công tác phân tích thống kê tài liệu, tác giả đã

sử dụng các tài liệu như:

- Niên giám thống kê huyện Thạch Thất 2008;

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa hình, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa chất huyện Thạch Thất

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội huyện Thạch Thất đến năm 2010, định hướng đến năm 2020

- Quy hoạch chi tiết trường ĐHQG Hà Nội tại Hòa Lạc, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội

b Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

Đây là phương pháp truyền thống, hết sức quan trọng đối với các ngành nghiên cứu thiên nhiên, trong đó có ngành địa lý

Trang 23

Quá trình khảo sát thực địa giúp thu thập những thông tin cần thiết cũng như điều chỉnh những thông tin sai lệch mà giai đoạn thống kê tổng hợp tài liệu có sẵn còn thiếu sót cũng như sai lệch với thực tế

Công tác này đòi hỏi phải xác định rõ quy trình và nội dung khảo sát, chọn những điểm khảo sát đặc trưng sao cho mang lại hiệu quả cao nhất

Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa bao gồm bốn giai đoạn:

+ Giai đoạn 1 (giai đoạn chuẩn bị): thu thập tài liệu, bản đồ chuyên đề, quy hoạch vùng và địa phương Thêm nữa cần thu thập các tài liệu, số liệu, bản đồ của các ngành khoa học liên quan như địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, rừng Dựa vào chúng để lựa chọn tuyến khảo sá sao cho ít nhất, ngắn nhất mà vẫn đảm bảo cắt qua các đơn vị địa lý tự nhiên đặc trưng, đồng thời phù hợp với điều kiện đi lại của người khảo sát

+ Giai đoạn 2 (giai đoạn khải sát sơ bộ): trên cơ sở các tài liệu và bản đồ thu thập được, sơ thẩm để làm quen với khu vực tự nhiên trên lãnh thổ, từ đó xác định

sơ bộ ranh giới các đơn vị hình thái, tiến đến chính thức vạch ra nội dung kế hoạch chi tiết về nội dung nghiên cứu, những tài liệu, số liệu phải thu thập quyết định tuyến khảo sát thực địa chi tiết và trang bị cần thiết

+ Giai đoạn 3 (giai đoạn khảo sát thực địa chi tiết): áp dụng phương pháp khảo sát theo tuyến và theo điểm

Khảo sát theo lát cắt cảnh quan: thu thập và mô tả các thành phần tự nhiên theo cấu trúc ngang, xác định các đơn vị hình thái để đưa lên lát cắt địa hình Thu thập tài liệu KT – XH, các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

Khảo sát theo điểm chìa khóa: trắc đạc các yếu tố địa hình (độ dốc, chiều dài sườn, mương xói ); Nền địa chất; Thực vật (loại cây trồng, tốc độ sinh trưởng) Đây là cơ sở đánh giá đặc trưng định lượng của đơn vị tự nhiên trên lát cắt

+ Giai đoạn 4 (giai đoạn tổng kết): tập hợp để phân tích, đánh giá tài liệu, thành lập lát cắt địa hình và viết báo cáo thuyết minh

Trang 24

c Phương pháp bản đồ

- Phương pháp bản đồ: Là một trong những phương pháp cơ bản của khoa

học địa lý Theo quan điểm toán học thì phương pháp bản đồ chính là sắp đặt các nhân tố thu được lên giấy theo tọa độ địa lý Ngày nay, cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, khoa học bản đồ cũng nằm trong quy luật phát triển đó Khi nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của hai xã Thái Đô và Thái Thượng, đề tài đã được thừa kế các bản đồ đã có về khu vực bao gồm: Bản đồ địa mạo, bản đồ đất, bản đồ hiện trạng sử dụng đất Đồng thời dựa vào kết quả thu thập được trên thực địa, tiến hành phân tích, chỉnh sửa và phát triển thành bản đồ độc lập, phù hợp với đối tượng, mục tiêu nghiên cứu Từ các bản đồ này thực hiện các phép phân tích tổng hợp và thành lập bản đồ cảnh quan

Cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin đã đưa tin học thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống, mở ra một giai đoạn mới trong ngành địa lý, điều tra cơ bản, quy hoạch đô thị và cảnh báo môi trường

Việc thành lập các loại bản đồ được bắt đầu từ quá trình thu thập thông tin, phân loại và đánh giá các bản đồ chuyên đề, sau đó là các thao tác kỹ thuật (số hóa, chồng ghép…), kết hợp với kết quả khảo sát ngoài thực địa dưới sự trợ giúp của phần mềm xử lý ảnh và phần mềm MAPINFO, các loại bản đồ được hình thành

d Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

Trong những năm gần đây, phương pháp này được sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng Cơ sở của phương pháp là kết hợp giữa nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và người dân địa phương thực hiện trực tiếp để thu thập thông tin nhanh chóng, phân tích nhanh và đề ra các giải pháp khả thi phục vụ mục đích nghiên cứu Hai hình thức đánh giá nhanh nông thôn được sử dụng trong

đề tài:

+ Dùng phiếu điều tra: Phiếu điều tra là bảng hỏi có in sẵn các thông tin để thu thập số liệu phù hợp với nội dung của luận văn như: thông tin về mức đầu tư và nguồn lợi thu được từ các loại hình sử dụng đất trồng cây nông, lâm nghiêp, phân bón, năng suất, sản lượng, công lao động,

+ Phương pháp phỏng vấn: Đây là phương pháp để người nghiên cứu hiểu được đặc điểm của vùng nghiên cứu thông qua trao đổi với người dân địa phương Ngoài ra còn thực hiện lấy ý kiến của cán bộ lãnh đạo huyện, xã và các sở, phòng ban có liên quan

Trang 25

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN, KINH TẾ - XÃ

HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG 2.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Khu vực nghiên cứu nằm phía Tây huyện Thạch Thất, cách thủ đô Hà Nội chừng hơn 35 km, trong giới hạn tọa độ địa lý từ 20°56'45 đến 21°02'20 vĩ độ Bắc

và từ 105°26'10 đến 105°33'57 kinh độ Đông:

Phía Bắc giáp huyện Ba Vì, thành phố Sơn Tây của thủ đô Hà Nội

Tây giáp Tỉnh Hòa Bình

Nam giáp huyện Quốc Oai

Đông giáp các xã Bình Yên, Tân Xã, Hạ Bằng của huyện Thạch Thất

Tổng diện tích đất tự nhiên là 8822,2 ha, nằm trong ranh giới hành chính của

ba xã: Thạch Hòa, Tiến Xuân và Yên Bình (đã bao gồm toàn bộ diện tích đất quy hoạch ĐHQG tại Hòa Lạc là 1000 ha và 110 ha đất thuộc Nông trường 1A cũ nằm dọc trục đường 21 Hòa Lạc - Sơn Tây và đường Láng – Hòa Lạc kéo dài)

Khu vực này nằm ở trung tâm của mạng lưới các khu đô thị vùng ngoại thành Hà Nội với cương vị là cực hút, các khu đô thị khác là các khu đô thị vệ tinh: khu đô thị Sơn Tây ở phía Bắc (16km), khu đô thị Xuân Mai ở phía Nam (16km), các khu đô thị Phúc Thọ - Quốc Oai – Chúc Sơn tạo một cánh cung ở phía Đông Cộng thêm có đường quốc lộ 21, cao tốc Hòa Lạc – Hòa Bình, đường Hồ Chí Minh

và Đại lộ Thăng Long kết nối với trung tâm thủ đô Hà Nội dễ dàng, tỉnh lộ 80 đang được nâng cấp và trú trọng phát triển các hành lang kinh tế, cụm công nghiệp dọc theo tuyến đường huyết mạch này đã tạo cho khu vực một vị trí rất thuận lợi thông thương hàng hóa, giao lưu xã hội, cũng như tiếp thu các công nghệ mới và phần mình cũng là một cực sinh trưởng, một trung tâm văn hóa công nghệ kéo các đô thị

vệ tinh cùng phát triển theo

Trang 26

2.1.2 Địa chất, địa mạo và tài nguyên khoáng sản

a - Đặc điểm địa chất

Đây là hợp phần quan trọng của lãnh thổ, quyết định đến sự hình thành nền địa hình và là nguồn cung cấp vật chất ban đầu cho sự hình thành thổ nhưỡng Khu vực nghiên cứu nằm ở phía Tây Nam của đứt gãy sông Hồng là bộ phận thuộc đới kiến trúc, với lớp vỏ lục địa được hình thành vào Triat muộn (T3), Đại trung sinh tiếp tục vận động nâng tạo núi trong Kainozoi và giai đoạn tân kiến tạo – kiến tạo hiện đại Do đó khu vực nghiên cứu có cấu trúc thẳng đứng từ cổ đến trẻ có thể bắt

gặp các tầng cấu trúc Mesozoi (MZ) đến Kainozoi Các thành tạo Kainozoi chủ yếu

là các trầm tích Đệ tứ (Q) và thường gặp chủ yếu dưới dạng các sản phẩm phong hóa Như vậy, khu vực nghiên cứu trong diện tích không rộng nhưng có mặt các loại đá khá đa dạng về thành phần thạch học và tuổi địa chất

* Các đá tuổi Mesozoi

Đá này lộ ra phần lớn trên lãnh thổ hai xã Tiến Xuân và xã Yên Bình, nằm rải rác ở xã Thạch Hòa gồm những đá sau:

- Đá thuộc hệ tầng Viên Nam (T1 vn) có thành phần chủ yếu là các sản phẩm

của hoạt động núi lửa gồm 2 tướng: tướng phun nổ là tuf aglomerat, trachyt porphyr, riolit, dacit porphyr; và tướng phun trào: đá bazan porphyr, tuf bazan, andesitobazan Từ đó, tạo hai thành tạo là thành tạo phun trào bazơ với diện tích

Hình 2.1 Lát cắt địa chất,địa hình khu vực nghiên cứu

Trang 27

1281,7 ha (chiếm 14,55 % lãnh thổ) và phun trào axit với diện tích 584,5 ha (chiếm 6,63% lãnh thổ)

- Đá thuộc điệp Cò Nòi (T1 cn) gồm 3 phụ điệp là: phụ điệp dưới phân bố ở

hai xã Yên Bình và Thạch Hòa, với các trầm tích nguồn gốc núi lửa, cát kết tuf, bột kết tuf chiếm diện tích 916,44 ha (chiếm 10,39% lãnh thổ); phụ điệp giữa phân bố

ở xã Yên Bình gồm sét vôi, vôi sét phân lớp mỏng, có cầu tạo dạng giun với diện tích rất nhỏ; phụ điệp trên gồm bột kết, đá phiến sét, cát kết tuf mày tím gụ phân bố

ở xã Yên Bình và Tiến Xuân Cả hai phụ điệp giữa và trên chỉ chiếm diện tích 312.13 ha (3,55 % lãnh thổ)

- Đá thuộc hệ tầng Sông Bôi (T2-3 sb): Hệ tầng Sông Bôi chủ yếu lộ ra ở phía

đông nam của xã Yên Bình và ở Đông Bắc xã Tiến Xuân với diện tích 1593,8 ha (chiếm 18% lãnh thổ) Hệ tầng Sông Bôi bao gồm các thành tạo lục nguyên với chiều dày mỏng khác nhau Các thành tạo này bị vò uốn và bị các đứt gãy theo phương Tây Bắc – Đông Nam chia cắt Thành tạo này được phân thành hai tập: Tập 1:cuội kết, cát kết, cát bột kết tuf, đá vôi, đá phiến đen, đá phiến sét than, tập này có

bề dày từ 230m – 300m; Tập 2: cát kết, cát bột kết, đá phiến sét đen, bột kết màu tím có ít lớp đá vôi, tập này có bề dày từ 250m – 300m

* Các trầm tích tuổi Kainozoi

Địa chất Đệ Tứ gồm có trầm tích sông Holocen cách nay khoảng 4000 –

6000 năm phân bố ở dọc các dải trũng ở phía đông Hòa Lạc Chúng gồm các nguồn gốc đa dạng: tàn tích, sườn tích, sông, sông lũ… có tuổi từ Pleistocen muộn đến hiện đại:

- Hệ tầng Hà Nội (Q12-3 hn) có diện tích lớn nhất khu vực 2335,2 ha (chiếm

26,47% lãnh thổ), gồm có phần đáy là lớp cuội, cuội tảng, bột cát sét màu vàng; phần giữa và trên là cuội sỏi, cát sét bị laterit hóa

- Hệ tầng Hải Hưng (Q21-2 hh): Các trầm tích biển vũng vịnh, sông biển và

bãi bồi cao của sông hình thành trong thời kỳ biển tiến phân bố ở phía đông Hòa Lạc, thành phần có sét bột xám đen Hệ tầng này có diệnt tích 421,75 ha (chiếm 4,79% lãnh thổ)

- Hệ tầng Thái Bình (Q23 tb): Các trầm tích sông phân bố dọc dòng chảy cổ

Trang 28

và hiện đại Trầm tích thuộc tướng sông (a) gồm cát, bột, sét màu xám nâu; tướng sông – hồ - đầm lầy (alb) gồm bột, sét, tàn tích thực vật Chiếm diện tích 750,49 ha (8,52 % lãnh thổ)

- Trầm tích đệ tứ không phân chia (apQ) thành phần cuội, sỏi, cát, bột xám vàng, chiếm diện tích là 626,19 ha (7,1%)

* Tài nguyên khoáng sản: Khu vực nghiên cứu có khoáng sản đặc trưng là đá

ong ở những vùng gò đồi có địa chất, địa mạo thuận lợi cho việc phát triển quá trình laterit hóa Trên kiểu địa hình các bề mặt san bằng chân núi đã bị chia cắt thành các dãy đồi và núi sót Phân bố dọc các thung lũng trước núi thuộc xã Tiến Xuân và xã Yên Bình Thành phần thạch học chủ yếu là các đá tuổi T2-3 sb và các trầm tích Đệ

Tứ bao gồm cát kết, cuội kết Là nơi có địa hình tương đối dốc thoải 3 – 100 , kết hợp với các dòng chảy sông suối xâm thực chia cắt địa hình, gương nước ngầm nông tạo điều kiện cho quá trình laterit phát triển Kiểu địa hình này xảy ra quá trình bóc mòn, rửa trôi tầng đất mặt, đất luôn được trẻ hóa làm lộ trơ đá ong, hoặc nếu có thì lớp đất rất mỏng, xói mòn xảy ra rất mạnh và ở khắp nơi Nghĩa là ở đây quá trình tạo hình thái diễn ra mạnh vì vậy thổ nhưỡng được hình thành đều bị rửa trôi

và chủ yếu là loại đất feralit vàng đỏ bị laterit hóa, đá ong bị lộ ra hoặc nằm rất nông Nơi có trữ lượng lớn, có diện tích phân bố khá rộng, chất lượng tốt, tầng đá ong dày 1,5 – 3,7m Nơi có diện phân bố hẹp thì chất lượng và kém và bề dày nhỏ hơn Đá ong khi nằm ở dưới lớp vỏ phong hóa một vài mét, còn ngấm nước thì mềm màu nâu đỏ, vàng loang lổ có thể dùng mai cắt ra tùy ý, dễ khai thác Nhưng khi đưa lên mặt đất, dưới sự tác động của quá trình ngoại sinh bị mất nước chuyển dần sang màu đen, khô, rắn chắc Đá này được nhân dân trong vùng khai thác làm vật liệu xây dựng

b - Đặc điểm địa mạo

Khu vực nghiên cứu có địa hình khá đa dạng, từ núi trung bình, núi thấp, đồi, đồng bằng gò đồi, thung lũng,…địa hình đồi núi chiếm 41,84% diện tích đất tự nhiên, thấp dần từ Tây Nam sang Đông Bắc và mang tính chất phân bậc khá rõ nét Theo đặc điểm hình thái và nguồn gốc, địa hình khu vực nghiên cứu được chia ra 4

Trang 29

kiểu địa hình chính:

(1) Địa hình núi trung bình và núi thấp có độ cao tuyệt đối 600 – 1000m, sườn dốc 8 – 250, gồm các dạng địa hình:

- Bề mặt san bằng cao 800 - 1000m, tuổi Miocen muộn (N13)

Bề mặt này trong khu vực nghiên cứu có diện tích rất nhỏ hẹp, chúng tồn tại

ở trên đường phân thủy của núi Viên Nam trên đá phun trào Riađaxit Sự tồn tại của

bề mặt này minh chứng cho quá trình nâng cao địa hình ở vùng nghiên cứu (kí hiệu trên bản đồ địa mạo là 1)

- Bề mặt san bằng cao 400 - 600m, tuổi Pliocen sớm (N21)

Bề mặt này là sự liên kết các di tích ở dạng các vai núi ở sườn núi Viên Nam Các bề mặt này thường khá bằng phẳng, ở độ dốc khoảng 3 – 120, lớp vỏ phong hóa mỏng (kí hiệu 2)

Hai dạng bề mặt này thích hợp với phát triển du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái như leo núi

- Sườn trọng lực với quá trình trượt lở, dốc > 300Loại sườn này chỉ phát triển thành một dải hẹp ở sườn sát đường chia nước của núi Viên Nam Sự phát triển trên đá phun trào riodaxit thuộc hệ tầng Viên Nam với độ dốc trên 450 Sự thành tạo sườn liên quan đến các hoạt động xâm thực giật lùi, cắt ngược vào mặt ép đá phun trào của các suối nhánh tác động vào đá cứng Sự xuất hiện của loại sườn này liên quan đến hoạt động nâng cao địa hình ở núi Viên Nam (kí hiệu 5)

- Sườn xâm thực – bóc mòn, dốc 20 – 300Loại sườn này khá rộng ở sườn Đông núi Viên Nam và xung quanh các núi sót Trắc diện sườn thẳng hoặc lồi, độ dốc thay đổi từ 20 – 300 Bề mặt sườn có lớp

vỏ phong hóa mỏng, thực vật phát triển Thung lũng suối cắt vào sườn này có đáy

mở rộng dạng chữ U Đặc điểm kiểu sườn này cho thấy sườn này đã trải qua thời kỳ xâm thực mạnh, đến nay đã yếu dần đi (kí hiệu 6)

- Sườn xâm thực dọc khe suối, dốc 20-300Sườn này phát triển ở sườn Đông núi Viên Nam, sườn xâm thực nơi đây có trắc diện lõm, độ dốc phổ biến 30 – 350 có nơi lên đến 450 Trên bề mặt này phát triển nhiều mương và rãnh xói (kí hiệu 8)

Trang 30

Các suối ở đây có dạng cành cây cắt sâu vào đá gốc, tạo thung lũng hẹp dạng chữ “V” Đáy các thung lũng này hầu như không có tích tụ, chỉ có các tảng kích thước khác nhau, có khi đến vài trăm mét khối sắp xếp hỗn độn Do chịu ảnh hưởng của đứt gãy theo phương Tây Bắc – Đông Nam cắt dọc núi song song với đường phân thủy, sườn xâm thực ở đây bị chia thành các đoạn sườn có độ dốc khác nhau,

có nhiều thác ở nơi chuyển tiếp

Các dạng địa hình này thích hợp với phát triển lâm nghiệp

(2) Địa hình núi sót có dạng vách dốc, dạng bát úp, dạng dải, độ cao từ 100 – 300m nằm xen giữa các thung lũng sông suối có dạng những máng trũng thấp chạy dài, mức độ chia cắt lãnh thổ lớn

- Bề mặt san bằng cao 200 - 300m, tuổi Pliocen muộn (N22)

Bề mặt này tồn tại ở dạng bề mặt đỉnh của các núi sót nhô lên ở vùng thung lũng xen núi sót trong khu vực nghiên cứu Các bề mặt này có diện tích rất hẹp, khá phẳng, phát triển chủ yếu trên các đá phiến sét, cát kết, bột kết màu xám phong hóa cho màu loang lổ (kí hiệu 3)

- Sườn bóc mòn trên các khối núi sót, dốc 12 – 200Loại sườn này phân bố ở một số nơi trên các núi sót, đồi sót nằm độc lập rải rác trên diện tích vùng đồi thềm của khu vực nghiên cứu Đặc điểm có độ dốc thay đổi từ 8 – 200, lồi và thẳng phát triển trên đá phun trào của hệ tầng Viên Nam (T1vn), đá phiến sét, cát bột kết màu tím gụ của điệp Cò Nòi (T1 cn)

Quá trình thành tạo sườn bóc mòn là sự tham gia đồng thời của quá trình bóc mòn, xâm thực (xâm thực giật lùi của suối) và trọng lực trên cùng một diện tích của sườn (kí hiệu 7)

(3) Địa hình đồi gò sườn thoải dạng bát úp hoặc dạng dải

- Bề mặt pediment cao 60 -120m, tuổi Pleistocen sớm (Q11) Đây là bề mặt phát triển rộng trên diện tích các gò đồi, là nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, phần lớn thuộc xã Tiến Xuân Quá trình hình thành bề mặt chủ yếu do hoạt động rửa trôi bề mặt do nước mưa khí quyển và xâm thực yếu (giai đoạn tạo máng xói) Quá trình này tạo ra trong bề mặt chỗ bị rửa trôi, chỗ được tích tụ tạo cho bề mặt càng ngày càng mềm mại Bề mặt này dân cư tập trung đông đúc, các loại hình nông nghiệp trồng màu, lúa nước (kí hiệu 4)

Trang 31

- Bề mặt pediment phát triển trên đá cát bột kết, đá phiến sét của hệ tầng Sông Bôi (T2 – 3 sb) và đá phun trào riodaxit của hệ tầng Viên Nam (T1 vn) Hiện nay bề mặt này bị phong hóa mạnh mẽ, độ dốc của bề mặt này khoảng 3 – 80 (kí hiệu 4a)

- Đập chắn và hồ chứa nước Địa hình hồ khá phổ biến ở vùng gò đồi phía tây huyện Thạch Thất Hầu hết

hồ thường phát triển trong các thung lũng, suối, trong các bãi bồi, hoặc là tàn tích của các lòng sông, suối cũ Hồ có thể chia làm hai loại: hồ tự nhiên và hồ nhân tạo:

hồ tự nhiên là các hồ sót vốn trước kia là khúc uốn của lòng sông cổ do sự thay đổi gốc xâm thực có thể là nâng lên ở các vùng xung quanh hoặc lòng sông bị hạ lún

mà tạo thành những hồ sót như hồ Đồng Lụa, hồ này đang bị đầm lầy hóa hoặc cạn dần, trên mặt là rác và cành cây khô, cỏ hoang xâm lấn dần Hồ nhân tạo là những

hồ chứa nước, các hồ này đều được xây dựng trên cơ sở là thung lũng sông, suối được con người đắp đập ngăn nước tạo thành các hồ như hồ Suối Ngọc xã Tiến Xuân, hồ Đình xã Yên Bình (kí hiệu 17)

(4) Địa hình thung lũng có độ cao từ 8 – 12m, độ dốc nhỏ hơn 30, địa hình bị chia cắt bởi các máng trũng vốn trước kia là lòng sông cổ, những dải trũng thường

có nước vào mùa mưa và cạn kiệt, nứt nẻ vào mùa khô Gồm các bậc thềm sau:

- Thềm xâm thực - tích tụ bậc I, tuổi cuối Pleistocen muộn

Có độ nghiêng nhỏ hơn 30 cao từ 8 – 12m, phân bố ở rìa đông xã Thạch Hòa

và vùng ven sông Tích Do quá trình hoạt động xói mòn của dòng chảy, dải thềm này bị chia cắt thành nhiều mảnh nhỏ, nhiều mảnh tồn tại dưới dạng gò sót và các máng trũng là lòng sông cổ, mặt thềm không còn giữ được hình dạng ban đầu là bằng phẳng mà trở nên hơi lồi lõm phức tạp, bị rửa trôi, xói mòn bởi nhiều khe rãnh Đây là khu vực có nguồn nước mặt phong phú thích hợp trồng lúa nước (kí hiệu 9)

- Bãi bồi cao tuổi Holocen giữa (Q22) Bãi bồi được coi là một bộ phận của lòng sông, được hình thành do quá trình bồi đắp của sông, chủ yếu vào thời kỳ nước lũ Dạng địa hình này phân bố ở các gờ cao ven lòng của sông Tích Trong khu vực nghiên cứu dạng địa hình này thường

Trang 32

bằng phẳng, độ cao khoẳng 5 – 10m Thành phần chủ yếu là các vật liệu bột, sét, cát

có lẫn ít cuội, sỏi, thích hợp với trồng lúa xen lẫn vụ trồng màu tận dụng đất (kí hiệu 10)

- Lòng sông và bãi bồi không phân chia Phân bố dọc theo các dòng chảy sông suối nhỏ trong vùng Thành phần vật chất bao gồm cát, bột, sỏi, cuội thuộc hệ tầng Thái Bình (aQ23 tb) với độ cao thay đổi từ 4 – 8m Hiện nay có một số hộ dân quây lưới nuôi vịt ở một số đoạn sông (kí hiệu 11)

- Bề mặt tích tụ sông – lũ tích tuổi Pleistocen giữa - muộn (ap Q12 – 3)

Là những bề mặt bậc thềm 2 bao gồm những gò thoải có độ cao 15 – 30m phân bố ở xã Thạch Hòa với thành phần vật liệu ở dưới là cuội sỏi và trên là cát, bột, sét Sự thành tạo bề mặt tích tụ này liên quan với quá trình xâm thực bóc mòn mạnh vào Pleistocen giữa Quá trình này đã giải phóng vật liệu hạt thô (cuội, tảng, sỏi, cát với chủ yếu cuội là thạch anh) mang đọn lại ven các sông suối, tạo nên tích

tụ thềm với nguồn gốc hỗn hợp sông lũ Hiện nay bề mặt tích tụ này bị quá trình xâm thực chia cắt bởi các suối nhánh, khe xói và quá trình rửa trôi do nước mưa trên mặt Chính quá trình chia cắt về sau này đã tạo cho bề mặt này có dạng gò lượn sóng hoặc gò riêng biệt Nhiều chỗ phần hạt mịn của bề mặt bị bóc đi để lộ ra phần hạt thô ở đáy ngay trển mặt địa hình hiện tại, rồi bề mặt này bị laterit hóa mạnh tạo thành tầng đá ong non Khu vực này trồng rừng, cây ăn quả và cây công nghiệp như sắn, chè Ở đây còn là khu vực nền móng khá rắn chắc thích hợp cho quân cư, xây dựng đô thị (Kí hiệu 12)

- Bề mặt tích tụ sông - hồ tuổi Pleistocen muộn - Holocen (al Q13 - Q2):

Bề mặt này có diện tích khá rộng phân bố chủ yếu ở xã Thạch Hòa trên địa hình vùng đồi thềm 2 và thềm 1 của sông Hồng Thành phần vật chất bao gồm tầng trên cùng là sét nâu, tiếp đến là cao lanh và đáy là lớp dăm thạch anh Bề mặt tích tụ sông – hồ tuổi Pleistocen nằm ở đáy các thung lũng, hiện nay được người dân sử dụng cấy lúa (Kí hiệu 13)

- Bề mặt tích tụ sông – lũ tích tuổi Holocen (ap Q2):

Trang 33

Bề mặt tích tụ này là các nón phóng vật cổ ở sát chân sườn núi thấp Chúng phân bố ở phía Tây khu vực nghiên cứu (dưới chân núi ở Đồng Vao, Xóm Cò xã Yên Bình, gò Chè xã Tiến Xuân) Thành phần cấu tạo của bề mặt này là các vật liệu của sườn tích (dăm, sạn) lẫn với cuội, cuội tảng, sỏi, cát sét cảu sông – lũ tích và có

xu hướng càng lên phía trên của bề mặt thì thành phần hạt mịn tăng lên, hạt thô giảm dần (Kí hiệu 14)

- Bề mặt tích tụ sông - sườn tích tuổi Holocen (ad Q2):

Bề mặt tích tụ chân núi proluvi phân bố rất hạn chế, thành phần cát, sỏi, sạn

có lẫn cả các tảng có kích thước đường kính 30 – 50cm; bề mặt nằm nghiêng thoải 8 – 150 theo địa hình Phân bố ở vùng hồ Đồng Lụa phía chân núi Voi xã Yên Bình,

và chân núi Cột Cờ xã Tiến Xuân Khu vực này thích hợp phát triển nông nghiệp với các loại vườn đồi, vườn rừng, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày (Kí hiệu 15)

- Bề mặt tích tụ sông - đầm lầy tuổi Holocen (ab Q2): Bề mặt tích tụ sông – đầm lầy phân bố trùng với các dải địa hình trũng, là di tích của các khúc sông chết

bị lầy hóa Các khúc uốn sông rộng khoảng 30 – 40m uốn lượn quanh các đồi sót, tạo nên các hồ sót vào mùa mưa Một số nơi trũng thấp qunh năm ngập nước bị đầm lầy hóa với các vật liệu sét, bột, cát lẫn nhiều mùn thực vật và có cả than bùn trẻ thuộc hệ tầng Thái Bình (aQ2 - 3 tb) Hiện nay, do có hệ thống thủy lợi tiêu nước nên diện tích bề mặt này được canh tác trồng lúa nước (Kí hiệu 16)

Phân loại theo đặc điểm nguồn gốc địa hình, khu vực nghiên cứu chia 4 nhóm nguồn gốc: Địa hình do bóc mòn tổng hợp, địa hình do dòng chảy, địa hình

do tích tụ đa nguồn gốc, địa hình tự nhiên – nhân sinh Trong đó diện tích của địa hình do nguồn gốc tích tụ chiếm diện tích lớn nhất (45,73%), sau đó là địa hình do bóc mòn (41,84%), phần địa hình do dòng chảy chỉ chiếm 11,67% Như vậy, phần lãnh thổ của khu vực nghiên cứu ở thế cân bằng động, quá trình tích tụ và quá trình bóc mòn gần ngang nhau

Trang 34

Bảng 2.1 Diện tích các dạng địa hình khu vực nghiên cứu

Nguồn gốc

1 Bề mặt san bằng cao 800 - 1000m, tuổi

9 Thềm xâm thực - tích tụ bậc I, tuổi cuối

11 Lòng sông và bãi bồi không phân chia 500,17 5,67

Các bề mặt tích tụ đa nguồn gốc

12 Bề mặt tích tụ sông – lũ tích tuổi Pleistocen

15 Bề mặt tích tụ sông - sườn tích tuổi Holocen 240,23 2,72

16 Bề mặt tích tụ sông - đầm lầy tuổi Holocen 229,45 2,6

Trang 35

nhiều; mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3, mưa ít, thời tiết lạnh, khô, cuối mùa ẩm ướt với hiện tượng mưa phùn

- Khu vực có lượng bức xạ tương đối lớn, số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1600-1700 giờ/năm Tháng có số giờ nắng thấp nhất thay đổi theo từng năm

và thường diễn ra trong khoảng từ tháng XII tới tháng III năm sau (khoảng 30-40 giờ/tháng, tháng có số giờ nắng cao nhất thường là tháng VII – tháng IX (khoảng

(Nguồn: Viện khí tượng Thủy văn,2008)

- Gió: Do đặc điểm địa hình nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi thấp xuống đồng bằng, phía Tây Bắc bị chắn bởi núi Ba Vì, phía Tây Nam bị chắn bởi

o

C

Hình 2.2 Biểu đồ nhiệt độ trung bình tháng (2002-2006)

Trang 36

núi Viên Nam mà khí hậu vùng này chịu ảnh hưởng nhiều của vùng núi Hòa Bình, Phú Thọ ở phía Tây Vùng núi Hòa Bình – Phú Thọ có tác dụng làm biến đổi ít nhiều hướng gió và tính chất của gió trên lãnh thổ Hà Tây Về mùa đông, hướng gió chung là Đông Bắc của luồng gió mùa mùa đông bị lệch về phía Tây Bắc Về mùa

hạ, trong những trường hợp có gió Tây thổi, vùng núi phía Tây đã gây ra tác dụng

“phơn”, tốc độ cực đại khoảng 30-40 m/s

- Mưa: Các tháng có lượng mưa thấp thường xảy ra trong khoảng từ tháng XI năm trước đến tháng III năm sau Tháng có lượng mưa cao thường là các tháng V đến VIII Nhìn chung, lượng mưa ở khu vực nghiên cứu khá lớn so với nhiều tỉnh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Mỗi năm có từ 130-152 ngày có mưa Vào các tháng mùa mưa, số ngày có mưa xảy ra nhiều, có tháng tới 17-19 ngày xảy ra mưa Ngày có lượng mưa lớn nhất xác định được trong giai đoạn này lên tới 144,1mm Tổng lượng mưa vào các tháng mùa mưa (từ tháng IV đến tháng IX) chiếm khoảng 85-90% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa có sự phân hóa rõ rệt theo mùa và theo vùng lãnh thổ Lượng mưa trung bình năm tăng từ 1800mm lên đến trên 2000mm tương đương với lượng mưa thông thường của đồng bằng Bắc Bộ Mưa có xu hướng tăng nhanh khi càng gần núi, ở miền núi với lượng mưa trung bình 2300 – 2400mm/năm còn ở đồng bằng

là 1700 – 1800mm/năm Đó là do ảnh hưởng của dãy núi phía Tây có tác dụng chắn gió đối với các luồng gió mùa Tuy nhiên mưa ở đây không dải đều trong năm mà tập trung vào một mùa trung bình kéo dài 6 – 7 tháng

Bảng 2.3 Đặc trưng lượng mưa tại khu vực Hòa Lạc (mm)

Năm

Đặc trưng

Trang 37

- Độ ẩm không khí trung bình năm giai đoạn 2002-2006 tại khu vực dao

động trong khoảng 83-85% Tháng có độ ẩm không khí trung bình thấp nhất thường

là các tháng XII và tháng I Tháng có độ ẩm không khí trung bình cao nhất thường

(Nguồn: Viện Khí tượng thủy văn,2008)

Hình 2.3 Biểu đồ lượng mưa trung bình tháng (2002-2006)

Trang 38

- Mây: lượng mây trung bình năm chiếm 75% bầu trời Tháng 3, có lượng mây cực đại lên đến 90% bầu trời Tháng 10 trời quang đãng nhất, lượng mây khoảng 60% bầu trời

Nhìn chung, khí hậu khu vực nghiên cứu có sự phân hóa theo mùa, đây là điều kiện thuận lợi cho khu vực phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi Số giờ nắng trung bình tương đối cao, tạo điều kiện cho các loài cây trồng tăng trưởng Tuy nhiên, nền nhiệt cao, độ ẩm lớn tạo điều kiện cho các quá trình phong hóa, bóc tách vật liệu, kết hợp với lượng mưa tập trung 80-90% vào mùa mưa, địa hình dốc là nguyên nhân chủ yếu gây xói mòn, úng lụt, ảnh hưởng xấu đến phát triển nông, lâm nghiệp và kinh tế xã hội

b – Thủy văn

- Nước mặt: Khu vực nghiên cứu nằm trong lưu vực sông Tích, một nhánh của sông Hồng Bốn nhánh của sông chạy qua khu vực nghiên cứu đều có nước quanh năm, nhưng mực nước thay đổi khá nhiều giữa hai mùa lũ và mùa cạn Nên

có thể dẫn đến ngập lụt cục bộ tại các vùng trũng xung quanh, do thiếu công trình chống lũ và lũ lên nhanh vì lòng sông qua khu vực tương đối dốc

+ Sông Cò, có ba nhánh chính, và hai hồ (hồ Đồng Lụa, hồ Đình) thuộc khu vực xã Yên Bình, lưu lượng 0,3 m3/giây, Suối Cò chảy theo hướng Tây Nam xuống Đông Bắc đổ vào hồ Đồng Mô

+ Sông Vai Cả là nhánh lớn nhất của sông Tích Giang với lưu vực khoảng 34,4 km2 Sông này bắt nguồn từ núi Viên Nam chảy qua khu vực dự án ĐHQG Hà Nội và phía Bắc của phần Khu Công Nghệ Cao nằm trong khu Đô Thị Hòa Lạc Có

3 con suối chính: suối Nà Mương, suối Ngang, suối Đồng Vênh Suối Ngang chảy qua xóm Gò Mè, qua ĐHQGHN dài 7 km, lưu lượng nước 0,1 m3/giây Suối Nà Mương chảy theo hướng Bắc Nam, chiều dài 15 km Suối Đồng Vênh chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, lưu lượng 0,1 m3/giây Khu vực nghiên cứu còn rất nhiều hồ như hồ Suối Ngọc, hồ Đồng Mô và hàng loạt các hệ thống dòng chảy tạm thời vốn là các máng xói, khe rãnh xói mòn Các hồ không chỉ là nguồn cung cấp nước tưới cho sản xuất mà còn là điểm du lịch hấp dẫn như hồ suối Ngọc

+Cuối cùng là sông Vườn Rào, sông Nhà Trạ ở phía Đông Nam khu vực nghiên cứu

Trang 39

- Nước ngầm: thường ở độ sâu từ 7-10m có các mạch nước nông, độ sâu 70m

có nước mạch sâu, chất lượng tốt Do địa hình dốc, nguồn nước ngầm bị hạn chế, chất lượng bị thay đổi nhiều Hiện nay nước ngầm là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chính của khu vực nghiên cứu

có độ dốc 15-200, thành phần cơ giới thịt nặng, đất chua (pH kcl từ 4-4,5)

2 Đất vàng đỏ trên đá mácma bazơ và mácma trung tính (Fk): phân bố chủ yếu ở các khu vực núi trung bình, độ dốc lớn (>250), thành phần cơ giới trung bình,

có diện tích 162,14 ha (1,84%)

3 Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs): Được hình thành trên các đá mẹ nghèo kiềm, có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ, đất xốp, tầng dày 50-100, khả năng thoát nước tốt, hình thành trên nhiều địa hình khác nhau, từ dạng đồi thấp thoải đến địa hình dốc cao, ít chua thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp và cây

ăn quả Loại đất này chiếm diện tích tương đối lớn 3066,87 ha (34,76%)

4 Đất dốc tụ (D): được hình thành do sự rửa trôi các sản phẩn ở đỉnh, sườn đồi, núi Loại đất này nhìn chung có độ tơi xốp và độ phì nhiêu cao, thích hợp sản xuất nông nghiêp, phân bố ở xã Yên Bình với một diện tích nhỏ

* Nhóm đất thung lũng

5 Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fq): Phân bố chủ yếu ở các bậc thềm cao ven sông, tương đối bằng phẳng, thành phân cơ giới từ nhẹ đến trung bình, càng xuống sâu càng nặng, tầng dày 50 – 70cm, khả năng giữ nước tốt là nhân tố quyết định tính thích nghi của loại đất này cho loại hình trồng cây công nghiệp, có diện tích 2645,93 ha (29,99%)

6 Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa (Fl): được hình thành từ các khu vực trồng lúa nước, do bị ngập nước trong thời gian dài, đất bị biến đổi mất cấu trúc,

Trang 40

mùn giảm, độ phì tự nhiên thấp, đất bị bạc màu nếu không có biện pháp chăm sóc thích hợp Loại đất này chiếm hơn 20 % diện tích đất khu vực nghiên cứu

7 Đất lầy (J): phân bố vùng trũng thấp, do tích tụ sông hồ

2.1.6 Thảm thực vật

* Thảm thực vật

- Thảm thực vật tự nhiên

+ Trảng cây bụi thứ sinh nhiệt đới ẩm: tập trung thành từng cụm phân bố ở

xã Yên Bình, hình thành trên tầng đất dốc, mỏng, sau khi khai thác hết cây gỗ, tạo thành cây bụi, xen kẽ với khu vực rừng trồng keo, bạch đàn Nơi tầng đất hơi dày thì hình thành trảng cỏ cao, tầng đất mỏng, sỏi sạn hình thành trảng có thấp, che phủ thưa

+ Thực vật thủy sinh: hình thành rải rác dọc sông, suối

- Thảm thực vật nhân tác

+ Lúa, hoa màu, phân bố vùng thung lũng, phần trũng thấp dọc theo trục đường kéo dài của Đại Lộ Thăng Long và các sông Hệ thống kênh mương dầy đặc, cung cấp nguồn nước tưới phong phú từ các hồ thích hợp cho phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do quá trình đô thị hoá diễn ra, diện tích đất cho trồng lúa đang bị thu hẹp

+Cây ăn quả, cây công nghiệp trồng chủ yếu phần gò đồi Hòa Lạc, hay trong khu dân cư như cây chè, sắn, vải, nhãn, bưởi

+ Rừng trồng: Chủ yếu là cây keo, có xen kẽ cây bạch đàn, tầng tán 20-30m, phần lớn do chính sách và sự quản lý tốt của nông trường 1A Phía dưới là tầng cỏ quyết, cây bụi, tre tái sinh, lau, sim…

+ Cây trồng trong khu dân cư: Cây trồng chính là nhãn (Thạch Hòa), mít, chuối (chồng nhiều ở xã yên Bình), xoài, mít…trồng xẽn kẽ trong khu dân cư

Nhìn chung thảm thực vật của khu vực nghèo nàn, ít cây có giá trị kinh tế, sinh thái cao, không có cây thuộc loài quý hiếm nào

Ngày đăng: 11/03/2017, 02:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đ. L. Armand, Khoa học về cảnh quan. NXB. KHKT. H. 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học về cảnh quan
Nhà XB: NXB. KHKT. H. 1983
2. Đặng Văn Bào (chủ trì), Xác Lập cơ sở khoa học cho xây dựng mô hình quản lý và bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng khu vực đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận. 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác Lập cơ sở khoa học cho xây dựng mô hình quản lý "và bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng khu vực đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và "các xã lân cận
4. Trương Minh Chuẩn, Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên môi trường và cảnh quan địa lý trong việc phát triển bền vững DLST trên đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, luận án TS Môi trường, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên môi trường và cảnh quan "địa lý trong việc phát triển bền vững DLST trên đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang
6. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh, Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường lãnh thổ VN.NXB Giáo dục 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Khánh, Cơ sở cảnh quan "học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường lãnh thổ VN
Nhà XB: NXB Giáo dục 1997
7. Trương Quang Hải, Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững vùng núi đá vôi tỉnh Ninh Bình. Đề tài khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp "lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững vùng núi đá vôi tỉnh Ninh Bình
8. Phạn Thị Thanh Hải, Nghiên cứu địa mạo phục vụ hợp lý lãnh thổ khu vực phía tây huyện Thạch Thất, Hà Nội. Khóa luận. 2010.học trọng điểm cấp ĐHQGHN 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa mạo phục vụ hợp lý lãnh thổ khu vực phía "tây huyện Thạch Thất
9. Nguyễn Cao Huần, Đánh giá cảnh quan theo tiếp cận kinh tế sinh thái. NXB ĐHQGHN 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá cảnh quan theo tiếp cận kinh tế sinh thái
Nhà XB: NXB ĐHQGHN 2005
10. Nguyễn Cao Huần (chủ biên), Quy hoạch bảo vệ môi trường thị xã Uông Bí đến 2010 và định hướng đến 2020. UBND tỉnh Quảng Ninh, 20064. Vũ Quyết Thắng, Quy hoạch môi trường, NXB ĐHQGHN 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch bảo vệ môi trường thị xã Uông Bí đến "2010 và định hướng đến 2020". UBND tỉnh Quảng Ninh, 20064. Vũ Quyết Thắng, "Quy "hoạch môi trường
Nhà XB: NXB ĐHQGHN 2005
11. Ixatsenko A.G (1969), Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên, NXB khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên, NXB "khoa học
Tác giả: Ixatsenko A.G
Nhà XB: NXB "khoa học"
Năm: 1969
14. Vũ Tự Lập, Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
15. Vũ Tự Lập, Trịnh Sanh, Nguyễn Phi Hạnh, Lê Trọng Túc, Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên, NXB Khoa học, Hà Nội, 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh quan "học và phân vùng địa lý tự nhiên
Nhà XB: NXB Khoa học
16. Nguyễn Minh Nguyệt, Đánh giá các điều kiện địa lý phục vụ phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường huyện Hưng Nguyên, Tỉnh Nghệ An. Luận văn Th.S 2008.17. Niên giám thống kê 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các điều kiện địa lý phục vụ phát triển kinh tế "và bảo vệ môi trường huyện Hưng Nguyên, Tỉnh Nghệ An
18. Trần Thị Ninh, Nghiên cứu cơ sở khoa học cho quy hoạch môi trường làng nghề đúc đồng, nhôm Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Luận văn Th.S 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học cho quy hoạch môi trường làng "nghề đúc đồng, nhôm Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
19. Nguyễn Thế Thôn, Quy hoạch môi trường Phát triển bền vững, NXB Khoa học và Kỹ Thuật 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch môi trường Phát triển bền vững
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ Thuật 2004
23. Trịnh Thị Thanh, (1998) “Nghiên cứu về phương pháp luận Quy hoạch môi trường” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về phương pháp luận Quy hoạch môi trường
24. Nguyễn Tiến Thành, Nghiên cứu và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường nước mặt các khu đô thị mới ở Hà Nội (Lấy ví dụ khu đô thị mới Việt Hưng). Luận văn Th.S 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường nước "mặt các khu đô thị mới ở Hà Nội (Lấy ví dụ khu đô thị mới Việt Hưng)
25. Vũ Quyết Thắng, Quy hoạch môi trường, NXB ĐHQGHN 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch môi trường
Nhà XB: NXB ĐHQGHN 2005
26. Vũ Quyết Thắng (1999), “Quy hoạch môi trường vùng ven đô Hà Nội trên cơ sở tiếp cận sinh thái”, Luận án Tiến sĩ Sinh học, Trường ĐHKHTN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy hoạch môi trường vùng ven đô Hà Nội trên cơ "sở tiếp cận sinh thái”
Tác giả: Vũ Quyết Thắng
Năm: 1999
28. Nguyễn Quang Toàn, Trần Công Tuyết (chủ biên) và nnk, Báo cáo đo vẽ địa chất nhóm tờ Hà Nội, Liên đoàn bản đồ địa chất Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đo vẽ địa "chất nhóm tờ Hà Nội
29. Trần Huyền Trang, Xác lập cơ sở địa lý tài nguyên và môi trường phục vụ định hướng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường bền vững thị xã Uông Bí, luận văn Th.S 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác lập cơ sở địa lý tài nguyên và môi trường phục vụ định "hướng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường bền vững thị xã Uông Bí

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô hình hệ thống (Nguồn: Indiactors for Sustainable Development: - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Hình 1.1. Mô hình hệ thống (Nguồn: Indiactors for Sustainable Development: (Trang 18)
Hình 1.2. Mô hình phát triển bền vững (Nguồn IISD, 1995) - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Hình 1.2. Mô hình phát triển bền vững (Nguồn IISD, 1995) (Trang 20)
Hình 1.3. Quy trình nghiên cứu - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Hình 1.3. Quy trình nghiên cứu (Trang 21)
Bảng 2.3. Đặc trưng lượng mưa tại khu vực Hòa Lạc (mm) - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Bảng 2.3. Đặc trưng lượng mưa tại khu vực Hòa Lạc (mm) (Trang 36)
Bảng 2.4. Đặc trưng độ ẩm không khí (%) - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Bảng 2.4. Đặc trưng độ ẩm không khí (%) (Trang 37)
Bảng 2.5. Dân số trung bình của ba xã Thạch Hòa, Tiến Xuân, Yên Bình (2008) - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Bảng 2.5. Dân số trung bình của ba xã Thạch Hòa, Tiến Xuân, Yên Bình (2008) (Trang 41)
Hình 2.6. Biểu đồ phần trăm theo giới tính của - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Hình 2.6. Biểu đồ phần trăm theo giới tính của (Trang 42)
Bảng 2.6. Tỷ trọng kinh tế giữa các ngành năm 2008 - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Bảng 2.6. Tỷ trọng kinh tế giữa các ngành năm 2008 (Trang 43)
Bảng 2.7. Diện tích và sản lượng lương thực các xã năm 2008 - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Bảng 2.7. Diện tích và sản lượng lương thực các xã năm 2008 (Trang 44)
Hình 2.9. Biểu đồ biến động sử dụng đất khu vực nghiên cứu năm 2000-2007 - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Hình 2.9. Biểu đồ biến động sử dụng đất khu vực nghiên cứu năm 2000-2007 (Trang 47)
Hình 2.11. Sơ đồ xói mòn đất khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Hình 2.11. Sơ đồ xói mòn đất khu vực nghiên cứu (Trang 52)
Hình 2.13.Cơ cấu xử lý nước thải sinh hoạt của các xã - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Hình 2.13. Cơ cấu xử lý nước thải sinh hoạt của các xã (Trang 56)
Bảng 2.11. Hệ thống phân loại của Nikolaev - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Bảng 2.11. Hệ thống phân loại của Nikolaev (Trang 62)
Hình 2.13. Hệ thống phân vị của Vũ Tự Lập (1974) - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Hình 2.13. Hệ thống phân vị của Vũ Tự Lập (1974) (Trang 63)
Bảng 3.1. Dự báo dân số khu vực nghiên cứu đến năm 2020 - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường khu vực Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc và các xã lân cận
Bảng 3.1. Dự báo dân số khu vực nghiên cứu đến năm 2020 (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w