1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đánh giá tác động của các hồ chứa thượng nguồn đến chế độ thủy văn thủy lực vùng hạ lưu sông mã

137 661 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 4,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích đánh giá các kịch bản vận hành hồ chứa thượng nguồn đến chế độ thủy văn thủy lực vùng hạ lưu sông Mã .... Tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Mã đang được khai thác, sử dụng

Trang 1

Học viên: Vũ Kim Thắng 3

MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 9

CH ƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KINH TẾ- XÃ HỘI LƯU VỰC NGHIÊN CỨU 12

I.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 12

I.1.1 Vị trí địa lý 12

I.1.2 Đặc điểm địa hình 13

I.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng 14

I.1.4 Đặc điểm thảm phủ thực vật 17

I.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI 17

I.2.1 Về sản xuất nông nghiêp- lâm nghiệp- thủy sản- công nghiệp 17

I.2.2 Về văn hóa- xã hội 20

I.3 ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ NGUỒN NƯỚC 21

I.3.1 Hệ thống trạm quan trắc khí tượng, thủy văn trên lưu vực 21

I.3.2 Đặc điểm về khí tượng 25

I.3.3 Đặc điểm về thủy văn 32

I.3.4 Tiềm năng nguồn nước và nhu cầu sử dụng nguồn nước 38

I.4 Hiện trạng và Quy hoạch hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Mã 42

I.4.1 Hiện trạng hệ thống hồ trên lưu vực 42

I.4.2 Thông tin về các hồ chứa đưa vào nghiên cứu 44

CH ƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50

CH ƯƠNG III: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC KỊCH BẢN VẬN HÀNH HỒ CHỨA ĐẾN CHẾ ĐỘ THỦY VĂN THỦY LỰC VÙNG HẠ L ƯU SÔNG MÃ 64

III.1 Chế độ thủy văn thủy lực qua các tài liệu quan trắc 64

III.1.1 Hiện trạng tài liệu quan trắc sử dụng trong nghiên cứu 64

III.1.2 Phân tích chế độ thủy văn trên lưu vực qua tài liệu quan trắc 64

III.2 Xây dựng bộ công cụ mô phỏng chế độ thủy văn thủy lực trên lưu vực sông Mã 67

Trang 2

Học viên: Vũ Kim Thắng 4

III.2.1 Phân tích lựa chọn mô hình mô phỏng 67

III.2.2 Xây dựng mô hình thủy văn tính toán dòng chảy nhập lưu 68

III.2.3 Xây dựng mô hình thủy lực một chiều sông Mã 77

III.3 Xây dựng các kịch bản vận hành hồ chứa thượng nguồn trên lưu vực sông Mã 86

III.3.1 Xây dựng các kịch bản vận hành hồ chứa trong mùa kiệt 86

III.3.3 Tính toán và mô phỏng thủy lực theo các kịch bản 95

III.4 Phân tích đánh giá các kịch bản vận hành hồ chứa thượng nguồn đến chế độ thủy văn thủy lực vùng hạ lưu sông Mã 112

III.4.1 Đánh giá sự thay đổi chế độ thủy văn thủy lực mùa kiệt theo các kịch bản 112

III.4.2 Đánh giá sự thay đổi chế độ thủy văn thủy lực mùa lũ theo các kịch bản 116

Kết Luận 119

Tài Liệu Tham Khảo 120

Trang 3

Học viên: Vũ Kim Thắng 5

MỤC LỤC BẢNG Bảng 2: Lưới trạm khí hậu và đo mưa trên lưu vực sông Mã 22

Bảng 3: Lưới trạm thủy văn trên lưu vực sông Mã 24

Bảng 5: Chỉ tiêu khí hậu lưu vực sông Mã 27

Bảng 6: Lượng mưa tháng năm trung bình nhiều năm tại một số vị trí 30

Bảng 7: Dòng chảy năm trung bình nhiều năm ở một số vị trí 32

Bảng 8: Phân phối dòng chảy tháng, năm thiết kế 34

Bảng 9: Khả năng xảy ra lũ lớn nhất năm vào các tháng trong năm 34

Bảng 10: Đặc trưng lưu lượng lũ thiết kế ở một số vị trí 36

Bảng 11: Tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất 37

Bảng 12: Nhu cầu nước tại kênh Bái Thượng 39

Bảng 13: Nhu cầu nước tưới cho các trạm bơm trên sông Mã theo thời đoạn 41

Bảng 14: Thông số hồ chứa nước Cửa Đạt 45

Bảng 15: Các thông số chính của công trình hồ chứa nước Hủa Na 46

Bảng 16: Các thông số chính của công trình hồ chứa nước Trung Sơn 47

Bảng 17: Các thông số chính công trình thủy điện Bá Thước 2 49

Bảng 19: Thời đoạn đối với dòng chảy tại các trạm quan trắc 69

Bảng 20: Liệt tài liệu mưa sử dụng cho mô hình thủy văn 69

Bảng 21: Liệt tài liệu bốc hơi sử dụng cho mô hình thủy văn 69

Bảng 22: Thời đoạn hiệu chỉnh cho mô hình mưa dòng chảy năm 70

Bảng 28: Chỉ tiêu cơ bản của các lưu vực gia nhập khu giữa 79

Bảng 31: Năm điển hình đưa vào tính toán trên sông Chu 87

Bảng 32: Tần suất dòng chảy mùa cạn đến hồ Bá Thước 2 87

Bảng 34: Yêu cầu cấp nước thực tế từ hồ Cửa Đạt cho vùng Bắc sông Chu – Nam sông Mã trong mùa cạn 89

Bảng 35: Yêu cầu cấp nước thực tế từ hồ Cửa Đạt cho hạ du sông Chu 91

Bảng 36: Tổng yêu cầu cấp nước thực tế từ hồ Cửa Đạt 92

Bảng 37: Kết quả tính toán các đặc trưng dòng chảy lũ tại các nút sông Âm, sông Đằng, sông Đạt tần suất P = 0.5% 93

Bảng 38: Lưu lượng đỉnh lũ thiết kế tại tuyến đập Trung Sơn 95

Bảng 39: Kết quả tính toán điều tiết lũ P=0,5% hồ Hủa Na 109

Bảng 43: Kết quả lưu lượng, mực nước, vận tốc trung bình trong các tháng tại trạm thủy văn Xuân Khánh năm 1964-1965 Error! Bookmark not defined. Bảng 44: Kết quả lưu lượng, mực nước, vận tốc max, min trong các tháng tại trạm thủy văn Giàng năm 1964-1965 Error! Bookmark not defined. Bảng 45: Kết quả lưu lượng, mực nước, vận tốc trung bình trong các tháng tại trạm thủy văn Giàng năm 1964-1965 Error! Bookmark not defined. Bảng 46: Kết quả lưu lượng, mực nước, vận tốc max, min trong các tháng tại trạm thủy văn Xuân Khánh năm 1994-1995 99

Bảng 47: Kết quả lưu lượng, mực nước, vận tốc trung bình trong các tháng tại trạm thủy văn Xuân Khánh năm 1994-1995 99

Bảng 48: Kết quả lưu lượng, mực nước, vận tốc max, min trong các tháng tại trạm thủy văn Giàng năm 1994-1995 99

Trang 4

Học viên: Vũ Kim Thắng 6

Bảng 49: Kết quả lưu lượng, mực nước, vận tốc trung bình trong các tháng tại trạm thủy văn Giàng năm 1994-1995 99Bảng 50: Kết quả lưu lượng, mực nước, vận tốc max, min trong các tháng tại trạm thủy văn Xuân Khánh năm 2004-2005 101Bảng 51: Kết quả lưu lượng, mực nước, vận tốc trung bình trong các tháng tại trạm thủy văn Xuân Khánh năm 2004-2005 101Bảng 52: Kết quả lưu lượng, mực nước, vận tốc max, min trong các tháng tại trạm thủy văn Giàng năm 2004-2005 102Bảng 53: Kết quả lưu lượng, mực nước, vận tốc trung bình trong các tháng tại trạm thủy văn Giàng năm 2004-2005 102Bảng 54: Mực nước, lưu lượng, vận tốc dòng chảy tại trạm thủy văn Lý Nhân trong thời đoạn 21/1-10/2 và 21/4-30/4 năm 2002-2003 104Bảng 55: Mực nước, lưu lượng, vận tốc dòng chảy tại trạm thủy văn Giàng trong thời đoạn 21/1-10/2 và 21/4-30/4 năm 2002-2003 104Bảng 56: Mực nước, lưu lượng, vận tốc dòng chảy tại trạm thủy văn Lý Nhân trong thời đoạn 21/1-10/2 và 21/4-30/4 năm 1979-1980 106Bảng 57: Mực nước, lưu lượng, vận tốc dòng chảy tại trạm thủy văn Giàng trong thời đoạn 21/1-10/2 và 21/4-30/4 năm 1979-1980 106Bảng 58: Mực nước, lưu lượng, vận tốc dòng chảy tại trạm thủy văn Lý Nhân trong thời đoạn 21/1-10/2 và 21/4-30/4 năm 1998-1999 108Bảng 59: Mực nước, lưu lượng, vận tốc dòng chảy tại trạm thủy văn Giàng trong thời đoạn 21/1-10/2 và 21/4-30/4 năm 1998-1999 108Bảng 60: Mực nước lớn nhất tại trạm thủy văn Xuân Khánh trên lưu vực sông Mã ứng với lũ P=0,5% theo các phương án 117

Trang 5

Học viên: Vũ Kim Thắng 7

MỤC LỤC HÌNH Hình 2: Mạng lưới trạm thủy văn trên lưu vực sông Mã 25

Hình 3: Biểu đồ phân phối nhu cầu dùng nước các trạm bơm trên sông Mã theo thời đoạn 41

Hình 4: Mực nước, lưu lượng tại trạm thủy văn Cẩm Thủy và Cửa Đạt 65

Hình 6: Phân loại mô hình toán thủy văn 67

Hình 7: Sơ đồ mô phỏng cấu trúc mô hình NAM 68

Hình 14: Sơ đồ tính toán thủy lực mạng sông Mã 79

Hình 15: Mực nước thực đo – tính toán trạm Xuân Khánh X/2007 81

Hình 16: Mực nước thực đo – tính toán trạm Lý Nhân X/2007 81

Hình 17: Mực nước thực đo – tính toán trạm Xuân Khánh VIII/1996 82

Hình 18: Mực nước thực đo – tính toán trạm Lý Nhân VIII/1996 82

Hình 19: Kết quả hiệu chỉnh mực nước tại trạm thủy văn Lý Nhân 83

Hình 20: Kết quả hiệu chỉnh mực nước tại trạm thủy văn Xuân Khánh 84

Hình 21: Kết quả kiểm định mực nước tại trạm thủy văn Lý Nhân 84

Hình 22: Kết quả kiểm định mực nước tại trạm thủy văn Xuân Khánh 85

Hình 23: Sơ đồ trắc dọc các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mã 89

Hình 24: Quá trình lũ thiết kế công trình thủy điện Trung Sơn 95

Hình 25: Lưu lượng- Mực nước tại trạm thủy văn Xuân Khánh năm 1964-1965 95

Hình 26: Lưu lượng- Mực nước tại trạm thủy văn Giàng năm 1964-1965 96

Hình 27: Vận tốc dòng chảy tại trạm thủy văn Xuân Khánh và Giàng năm 1964-1965 96

Hình 28: Lưu lượng và Mực nước tại trạm thủy văn Xuân Khánh năm 1994-1995 98

Hình 29: Lưu lượng và Mực nước tại trạm thủy văn Giàng năm 1994-1995 98

Hình 30: Vận tốc dòng chảy tại trạm thủy văn Xuân Khánh và Giàng năm 1994-1995 98

Hình 31: Lưu lượng- Mực nước tại trạm thủy văn Xuân Khánh năm 2004-2005 100

Hình 32: Lưu lượng- Mực nước tại trạm thủy văn Giàng năm 2004-2005 100

Hình 33: Vận tốc dòng chảy tại trạm thủy văn Xuân Khánh và Giàng năm 2004-2005 101

Hình 34: Lưu lượng và mực nước tại trạm thủy văn Lý Nhân năm 2002-2003 103

Hình 35: Lưu lượng và mực nước tại trạm thủy văn Giàng năm 2002-2003 103

Hình 36: Vận tốc tại trạm thủy văn Lý Nhân và Giàng năm 2002-2003 104

Hình 37: Lưu lượng- mực nước tại trạm thủy văn Lý Nhân năm 1979-1980 105

Hình 38: Lưu lượng- mực nước tại trạm thủy văn Giàng năm 1979-1980 105

Hình 39: Vận tốc tại trạm thủy văn Lý Nhân và Giàng năm 1979-1980 106

Hình 40: Lưu lượng và mực nước tại trạm thủy văn Lý Nhân năm 1998-1999 107

Hình 41: Lưu lượng và mực nước tại trạm thủy văn Giàng năm 1998-1999 107

Hình 42: Vận tốc tại trạm thủy văn Lý Nhân và Giàng năm 1998-1999 108

Hình 43: Điều tiết hồ chứa Hủa Na trận lũ P=0,5% (theo các dạng lũ điển hình) 109

Hình 44: Điều tiết hồ chứa Cửa Đạt trận lũ P=0,5% theo các năm điển hình 110

Hình 45: Quá trình mực nước tại Xuân Khánh ứng với các trận lũ thiết kế (P=0,5%) 111

Trang 6

Học viên: Vũ Kim Thắng 8

Hình 46: Mô phỏng hiệu quả cắt lũ tại trạm thủy văn Cẩm Thủy- 1963 112

Hình 47: Mô phỏng hiệu quả cắt lũ tại trạm thủy văn Cẩm Thủy- 1996 112

Hình 48: Chênh lệch lưu lượng tại Xuân Khánh và Giàng trước và sau khi có hồ 113

Hình 49: Mực nước tự nhiên và khi có hồ tại Xuân Khánh 114

Hình 49: Mực nước tự nhiên và khi có hồ tại Giàng 114

Hình 50: Chêch lệch vận tốc dòng chảy tại Xuân Khánh và Giàng 115

Trang 7

Học viên: Vũ Kim Thắng 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài:

Lưu vực sông Mã với tổng diện tích 28.400 km2 nằm trên địa bàn của 2 nước: Việt Nam và Lào Tổng lượng nước hàng năm toàn bộ lưu vực sông Mã khoảng 18 tỷ m3chiếm khoảng 2,4% tổng lượng nước mặt toàn quốc và có đến 30% lượng nước từ Lào chảy vào Mùa khô trên lưu vực kéo dài 6 tháng (XII – V) nhưng tổng lượng nước mùa khô chỉ chiếm khoảng 30% tổng lượng nước cả năm

Tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Mã đang được khai thác, sử dụng phục

vụ cho nhu cầu nước của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, thủy điện, và cấp nước sinh hoạt Hiện tại, trên lưu vực có gần 80 hồ chứa nằm trên địa bàn 4 tỉnh: Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An với tổng dung tích khoảng 2.590 triệu m3; trong đó có gần 70 hồ đang vận hành với tổng dung tích 1.639 triệu m3

, 5 hồ đang xây dựng với tổng dung tích 888 triệu m3 và 4 hồ dự kiến xây Trên lưu vực có 3

hồ chứa lớn là Trung Sơn (W = 348,5 triệu m3, Nlm= 260MW đang xây dựng, dự kiến năm 2013 sẽ đi vào vận hành), hồ Cửa Đạt (W = 1.364 triệu m3, Nlm = 97MW đang vận hành) và hồ Hủa Na (W = 533 triệu m3

, Nlm= 180MW đang vận hành) Hồ chứa nước Hủa Na trên sông Chu có dung tích toàn bộ 533 triệu m3 với nhiệm vụ chính là phát điện, ngoài ra còn có nhiệm vụ chống lũ cho hạ du và cấp nước tưới Hồ chứa nước Cửa Đạt trên sông Chu có dung tích lớn nhất trên hệ thống sông Mã, dung tích toàn bộ là 1.364 triệu m3 với nhiệm vụ: cắt giảm lũ bảo vệ hạ lưu, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, kết hợp phát điện và bổ sung nước mùa kiệt cho hạ lưu sông Mã

Như vậy, rõ ràng các hồ chứa phía thượng nguồn đang vận hành như hồ Hủa

Na, Cửa Đạt và hồ Trung Sơn sắp đưa vào vận hành đều có ảnh hưởng lớn tới an toàn

và việc cấp nước tới hạ du Nên việc đánh giá các tác động của việc viện hành hồ chứa thượng nguồn tới chế độ thủy văn thủy lực trên sông là rất cần thiết Từ đó đưa ra được các phương án vận hành hồ hợp lý, phục vụ cấp nước cho hạ du và đảm bảo nhiệm vụ chống lũ hiệu quả

Trang 8

Học viên: Vũ Kim Thắng 10

Những năm gần đây qua theo dõi tại các trạm thủy văn, mức nước trên hệ thống sông Mã vào mùa kiệt xuống rất thấp so với trung bình nhiều năm Điển hình như năm

2009, 2010, 2011 mực nước xuống thấp dưới mức lịch sử Mặt khác hiện tượng sạt lở

bờ sông, vùng cửa sông bờ biển diễn ra mạnh điển hình là những điểm sạt lở tại Xuân Khánh, Thọ Nguyên huyện Thọ Xuân trên sông Chu Thiệu Quang (Thiệu Hóa), Quảng Tiến, Quảng Cư (Quảng Xương) trên sông Mã Bãi sông lở nhanh, dòng chảy ngày càng áp sát chân đê Ảnh hưởng của việc giữa lại bùn cát trong lòng hồ và việc vận hành thủy điện thượng nguồn đến biến động hình thái sông hạ du, các vấn đề về biến hình lòng dẫn xem xét trên các khía cạnh sự thay đổi các yếu tố thủy văn, thủy lực ở hạ du các hồ chứa (mực nước, đặc trưng với các tần suất khác nhau, quan hệ Q-

H, tỷ lệ phân chia lưu lượng giữa các nhánh sông Mã, Chu, Lèn Hiện tượng xói phổ biến lòng sông hạ du công trình hồ chứa sẽ làm cho hình thái mặt cắt và độ dốc lòng sông có những điều chỉnh rõ rệt Tất cả những điều này đều ảnh hưởng đến hoạt động công trình lấy nước hạ du, an toàn đê kè ven sông, ảnh hưởng đến tài sản, đời sống của dân sinh khu vực ven sông… Cho nên việc đánh giá các tác động của việc viện hành

hồ chứa thượng nguồn tới chế độ thủy văn thủy lực trên sông là rất cần thiết Từ đó đưa ra được các phương án vận hành hồ hợp lý, phục vụ cấp nước cho hạ du và đảm bảo nhiệm vụ chống lũ hiệu quả

2 M ục đích của đề tài

- Phân tích chế độ thủy văn thủy lực qua các tài liệu quan trắc

- Xây dựng bộ mô hình thủy văn thủy lực hệ thống sông Mã nhằm mô phỏng các phương án vận hành hồ chứa

- Phân tích tác động của việc vận hành hồ chứa đến chế độ thủy văn thủy lực hạ

du hồ chứa trên sông Mã, sông Chu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đặc trưng thủy văn thủy lực hạ du hệ thống hồ chứa hệ thống sông Mã

- Phạm vi nghiên cứu: Hạ du hồ chứa thượng nguồn hệ thống sông Mã

4 C ấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn gồm:

Chương 1: Tổng quan về đặc điểm tự nhiên kinh tế- xã hội lưu vực nghiên cứu

Trang 9

Học viên: Vũ Kim Thắng 11

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Phân tích, đánh giá kết quả tác động của các kịch bản vận hành hồ chứa đến chố độ thủy văn thủy lực vùng hạ lưu sông mã

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 10

Học viên: Vũ Kim Thắng 12

CH ƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN- KINH TẾ XÃ HỘI

LƯU VỰC NGHIÊN CỨU I.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN

Hình 1: Bản đồ lưu vực sông Mã (địa phận tỉnh Thanh Hóa)

Trang 11

I.1.2 Đặc điểm địa hình

Lưu vđiểsông Mã trải rộng trên nhiều tỉnh thuộc hai nước Việt Nam, Lào và chạy dài từ đỉnh Trường Sơn đến Vịnh Bắc Bộ nên địa hình trên lưu vực rất đa dạng Hướng dốc chính của địa hình theo hưo hưểsông Mã trải rộng trên nhiều tỉnh thuộc hai nước V,0 m Có ththg Ma địa hình sông Mã thành 3 dạng chính:

a Địa hình núi cao

Dạng địa hình này nằm ở thượng nguồn lưu vực sông: Phần sông Mã từ Bá Thước trở lên thượng nguồn, phần sông Chu từ Cửa Đạt trở lên thượng nguồn, diện tích khoảng 23.228 km2 chiếm tới 80% diện tích toàn lưu vực Đỉnh cao nhất là núi Phu Lan 2.275 m, độ cao giảm dần theo hướng Bắc - Nam Trên địa hình này chủ yếu

là cây lâm nghiệp, đất nông nghiệp chỉ khoảng 75.968 ha chiếm 3,26% (diện tích hiện đang canh tác 51.466 ha) Trong vùng này có nhiều thung lũng sông có khả năng xây dựng các kho nước lợi dụng tổng hợp phục vụ cho phát triển kinh tế hạ du

b Địa hình gò đồi

Tập trung chủ yếu ở các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lạc, Triệu Sơn, Thọ Xuân thuộc tỉnh Thanh Hoá, Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thuỷ (tỉnh Hoà Bình) Dạng địa hình này có cao độ từ 150m đến 20m, diện tích mặt bằng khoảng 3.305 km2 chiếm 11,75% diện tích lưu vực Đây là vùng có tiềm năng lớn để phát triển cây công nghiệp, cây đặc sản với diện tích đất nông nghiệp 85.100 ha, diện tích hiện đang canh tác 58.100 ha Vùng gò đồi có nhiều sông suối nhỏ có khả năng xây dựng các hồ chứa tưới

và cấp nước tại chỗ

c Địa hình đồng bằng và đồng bằng ven biển

Dạng địa hình này nằm trọn vẹn trong tỉnh Thanh Hoá có cao độ từ +20 ÷ +1.0

m Do sự chia cắt của các sông suối mà tạo nên các vùng đồng bằng như Vĩnh Lộc( hạ

du sông Bưởi), Nam sông Mã - Bắc sông Chu, Bắc sông Lèn, Nam sông Lèn và đặc biệt khu hưởng lợi Nam sông Chu

Trang 12

Thuộc dạng địa hình

II CHXHC Việt Nam 1.750.249 287.828 1.299.987

núi III Khu hưởng lợi 185.466 81.125 55.639 Đồng bằng - đồi

thấp Tổng 3.034.466 401.915 2.179.689

I.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng

a Đặc điểm chung

Đới kiến tạo sông Mã là một miền cổ trước kỷ ĐêVon bị các đứt gãy rìa tạo khối các đới Mường Tè và Điện Biên Ở phía Tây và Đông, Sơn La - Thanh Hoá ở phía Đông Đặc điểm chủ yếu là sự phát triển rộng rãi của những trầm tích cổ Proteozoi bị tầng Patezoi hạ phủ không chỉnh hợp lên trên Đường phương của các lớp phủ gần nhau nhưng không trùng nhau Các bậc của đưói có các tàn dư của trầm tích ĐêVôn Trung nằm không chỉnh hợp rõ rệt Đới kiến tạo Thanh Hoá là một nếp lồi rộng không đối xứng Thành tạo Proteozoi mà đới sông Mã nằm rất ổn định và yên tĩnh tạo nên những nếp uốn đơn giản Phần trung tâm của đới sông Mã, các trầm tích Proteozoi tạo nên một đứt gãy và các phá huỷ bổ sung nằm ở trục của đới Ở phía nam của đới các hệ thống Proteozoi chiều sâu đứt gãy rìa xuống dưới các thành tạo Pateozoi - Merozoi của đới Thanh Hoá Sau đó lại trồi lên bề mặt ở ven biển Sầm Sơn

Đới Thanh Hoá có dạng một tam giác châu và ở giữa đới lắng đọng chủ yếu là

Trang 13

Học viên: Vũ Kim Thắng 15

trầm tích Merozoi Sơn La và Sầm Nứa Nhóm của nếp lồi Thanh Hoá được tạo thành bởi tầng Proteozoi và hệ tầng Paleozoi sớm Đông Sơn phát triển rộng rãi ở thị xã Thanh Hoá Tàn tích Paleozoi Hạ thành những nếp uốn nhỏ và dốc Đới sông Mã phát triển nhiều đứt gãy theo một hệ thống Tây Bắc - Đông nam kéo dài dọc theo dòng chảy sông Mã

b Địa chất công trình

Từ thượng nguồn tới Bá Thước, thượng sông Chu tới Cửa Đạt, thượng sông Bưởi tới Vụ Bản Phân bố nham thạch trong các đoạn này chủ yếu là trầm tích lục nguyên Macma xen kẽ đá vôi

Đoạn từ Bá Thước tới cửa sông Mã, từ Vụ Bản tới Vĩnh Khang (sông Bưởi), từ Cửa Đạt tới Bái Thượng (sông Chu) sông có nhiều bãi bồi, tầng đá gốc nằm sâu Đoạn này có thể xem là sự kéo dài của các đoạn trên nhưng đã chìm xuống dưới nếp phủ Tầng phủ ở đây dày 15 - 20m

c Địa chất thuỷ văn

Nước chứa trong khe nứt vỉa và trầm tích lục nguyên Nguồn cấp chủ yếu là nước mưa, lưu lượng từ 0,1 - 1,3 l/s,km2 Độ sâu nước ngầm phụ thuộc vào tầng phong hoá, trầm tích bề mặt Thành phần hoá học chủ yếu là HydroCacbonNatri hay có Sulfas, Natri

Nước chứa trong khe nứt của đá biến chất chủ yếu là đới chứa nước phong hoá

và khe nứt kiến tạo, lưu lượng từ 0,1 - 0,5 l/s,km2 Thành phần hoá học nước thuộc loại HydroCacbonat - Natri - Kali Nguồn cung cấp chủ yếu là nước mưa

d Thổ nhưỡng

Đất đai trên lưu vực sông Mã gồm 40 loại đất (trong số 60 loại đất của cả nước)

và phân bố theo 11 nhóm như sau:

- Đất cát và cồn cát ven biển: Nhóm đất này khoảng 15.000ha chủ yếu là phân

bố ở các huyện như Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoàng Hoá, Quảng Xương Đất này được sử

dụng để trồng cây chắn gió Đất cát vùng màu Nga Sơn, ven kênh De thuộc Hậu Lộc,

đuôi kênh tưới của hệ thống Hoàng Khánh kết cấu mùn yếu, nghèo đạm, Kali, thích

hợp cây trồng cạn

Trang 14

Học viên: Vũ Kim Thắng 16

- Nhóm đất mặn: Nằm ở ven biển nơi khai hoang, lấn biển sông Mã, sông Lèn,

sông Lạch Trường, kênh De, sông Cùng Đất nhiều mùn màu đen xám nhạt, đạm cao

Đất thích hợp nuôi trồng thuỷ sản, trồng cói và các hải sản biển

- Đất phèn: Đất vừa bị mặn, chua có diện tích 6.700ha Kết cấu rắn do phù sa

lắng đọng Đất tập trung chủ yếu ở sông Mã, sông Lèn Tỷ lệ muối 0,2 - 0,4%o Đất

sử dụng để cấy lúa nhưng năng suất thấp

- Nhóm đất phù sa: Nhóm này chiếm 79% tổng lượng đất sử dụng trong nông

nghiệp Đất phân bố chủ yếu ở hạ du sông Bưởi: Thiệu Yên, Thọ Xuân, Đông Sơn,

Triệu Sơn, Nông Cống, Hà Trung, Nga Sơn, Hoàng Hoá, Hậu Lộc, Cẩm Thuỷ Nguồn

gốc thành tạo là do sự bồi đắp của phù sa các sông Mã, Bưởi, Chu, sông Đáy và sông

Yên Loại đất này phân thành từng nhóm Đất phù sa được bồi đắp hàng năm có độ phì

khá Đất phù sa không được bồi đắp thường xuyên, không Glây hoặc có Glây kém

+ Loại đất phù sa có Glay từ trung bình tới mạnh có diện tích 60.800ha nằm ở

chân ruộng trung khó tiêu

+ Đất phù sa úng nước nằm ở khu lòng chảo thấp thường bị ngập khi mưa

F = 13.240ha

+ Đất phù sa loang lổ đỏ vàng có F = 24.233ha Nguồn gốc là đất phù sa sông

nhưng ở thềm cao Do chế độ canh tác lạc hậu, đất bị bạc màu Loại đất này nằm ở

vùng giáp gianh giữa miền núi và đồng bằng

- Nhóm đất lầy và than bùn: Diện tích khoảng 10.000 ha, phân bố chủ yếu ở

trung du và miền núi có địa hình dạng thung lũng dốc tụ tạo thành Đất phần lớn bị

hoang hoá

- Nhóm đất xám bạc màu: Diện tích khoảng 32.000ha phân bố tập trung ở sườn

dốc của các huyện Tân Lạc, Lạch Sơn, Thạch Thành, Vinh Lộc, Thuỷ Yên Đất bị bạc

màu, độ phì kém, sử dụng trồng lúa hoặc mía (cây công nghiệp ngắn ngày)

- Nhóm đất đen: Diện tích khoảng 17.000ha, tập trung ở các huyện sông Mã,

Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lạc chủ yếu ở miền núi Đất có hàm lượng

Magiê, Canxi cao và thích hợp trồng cỏ chăn thả gia súc

- Nhóm đất đỏ vàng: Loại đất này chiếm 80% đất đồi núi có nhiều nguồn gốc

tạo thành Đất màu đỏ trên đá Macma trung tính phân bố ở đồi trọc, bát úp Đất màu

đỏ trên đá vôi chiếm 1% diện tích Kết cấu rời rạc, hút nước mạnh dễ hạn, phân bố ở

Trang 15

Học viên: Vũ Kim Thắng 17

các huyện miền núi như Tân Lạc, Lạc Sơn, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Quan Hoá, Bá

Thước, Lang Chánh Đất này thích hợp cho trồng luồng Đất đỏ vàng trên đá sét và

biến chất chiếm 40% diện tích đồi núi thấp, tầng rất dày, tính chất cơ lý, hoá học tốt, thích hợp với cây công nghiệp và ăn quả Phần lớn loại đất này sử dụng cho lâm

nghiệp

- Nhóm đất vàng đỏ trên núi: Loại đất này phân bố chủ yếu ở độ cao 700 -

1.500m chủ yếu là ở thượng nguồn sông Mã, sông Chu, sông Bưởi Độ đốc địa hình

lớn, đất có rừng che phủ thích hợp cho trồng rừng phòng hộ

- Nhóm đất thung lũng: Đất chiếm tỷ lệ nhỏ phân bố hầu hết ở các huyện miền

núi thượng nguồn sông Đất thường xuyên bị ngấm hoặc sình lày, độ phì cao và bị

chua

- Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá: Đất hình thành do đá cát bị rửa trôi, xói mòn

mạnh, tầng canh tác khoảng 0,3m Phần lớn bị trơ đá trên mặt, đất tập trung chủ yếu ở các chỏm đồi Hà Trung, Thạch Thành, Tân Lạc, Lạc Sơn, sông Mã, Cẩm Thuỷ, Triệu

Sơn Loại đất này cần được phủ xanh đồi trọc bằng cây lâm nghiêp

I.1.4 Đặc điểm thảm phủ thực vật

Lưu vực sông Mã nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, rừng trong lưu vực chủ yếu là rừng lá rộng, có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng về họ và loài Cụ thể có trên 60 họ và trên 200 loài cây thân gỗ phân bố theo độ cao như sau: Ở độ cao 700m trở xuống thì họ tre nứa chiếm ưu thế, gồm tre luồng, nứa vầu và giang … Do các vùng rừng này bị khai thác nhiều nên hiện nay trở nên nghèo và thưa hơn Ở độ cao trên 700m là vùng có diện tích rừng nhiều, chủ yếu là các loại gỗ, tỷ lệ che phủ đạt

65 – 70%

I.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI

I.2 1 Về sản xuất nông nghiêp- lâm nghiệp- thủy sản- công nghiệp

Tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2013 ước đạt 12,2%, tương đương

so với cùng kỳ và cao gấp hơn 2 lần so với tốc độ tăng trưởng của cả nước (5,6%), trong đó: nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,3%, công nghiệp - xây dựng tăng 18%, dịch vụ tăng 11,5%

Trang 16

Học viên: Vũ Kim Thắng 18

Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP chiếm 26,5%, giảm 0,3%; công nghiệp - xây dựng chiếm 37,8%, tăng 0,9%; ngành dịch vụ chiếm 35,7%, giảm 0,6% so với cùng kỳ

1.1 Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản phát triển ổn định và tương đối toàn diện Mặc dù gặp khó khăn do thời tiết đầu vụ không thuận lợi, nhưng diện tích gieo trồng vụ đông và vụ chiêm xuân đều tăng so với cùng kỳ; cơ cấu cây trồng vụ đông chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn; năng suất lúa chiêm xuân ước đạt 60,5 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha so với cùng kỳ Tổng sản lượng

lương thực vụ đông xuân ước đạt 890 nghìn tấn, vượt 1,9% so với kế hoạch và tăng 0,8% so với cùng kỳ

Chăn nuôi phát triển theo hướng trang trại, gia trại; đàn gia cầm tăng 1,5%; sản

lượng thịt hơi tăng 1,6% so với cùng kỳ Công tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm được tập trung chỉ đạo quyết liệt, hoàn thành công tác tiêm phòng đợt 1; trên địa bàn tỉnh không có dịch lớn xảy ra

Kết quả khoanh nuôi tái sinh, chăm sóc, bảo vệ rừng đạt khá; diện tích khoanh nuôi tái sinh đạt 30.000 ha, bảo vệ rừng đạt 532.460 ha, đạt kế hoạch Trồng rừng ước đạt 3.950 ha, bằng 49% kế hoạch Công tác phòng chống cháy rừng được triển khai quyết liệt, nhất là các địa bàn có nguy cơ cháy rừng cao

Sản xuất thuỷ sản tuy gặp khó khăn do chi phí xăng dầu tăng cao, nhưng nhờ thời tiết thuận lợi, ngư dân tích cực chuyển đổi cơ cấu ngư trường, cơ cấu nghề và đầu

tư đóng mới, cải hoán tàu thuyền, nên kết quả sản xuất đạt khá so với cùng kỳ; giá trị sản xuất đạt 47% kế hoạch, tăng 5,2% so với cùng kỳ; sản lượng đạt 49% kế hoạch,

tăng 4,8% so với cùng kỳ

Công tác quản lý nhà nước về đất đai, khoáng sản được tăng cường, đã cơ bản hoàn chỉnh các quy định về quản lý đất đai, khoáng sản; công tác đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất, khai thác tài nguyên khoáng sản được tập trung chỉ đạo chấn chỉnh và đạt được một số kết quả quan trọng; công tác lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã được thực hiện theo kế hoạch; kiểm tra, kiểm soát ô nhiễm môi trường được chú trọng, 6 tháng đầu năm đã tiến hành giám sát môi trường ở 42 cơ sở sản xuất kinh doanh

Trang 17

Học viên: Vũ Kim Thắng 19

1.2 Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng do giá cả đầu vào tăng cao, nhưng nhiều sản phẩm công nghiệp vẫn giữ được thị trường tiêu thụ và sản xuất ổn định; giá trị sản xuất ước đạt 9.608 tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ, trong đó doanh nghiệp nhà nước

tăng 4,8%, doanh nghiệp dân doanh tăng 18%, doanh nghiệp FDI tăng 37,6% Các sản phẩm chủ yếu như xi măng, clinker, đường, giầy thể thao, quần áo, gạch ceramic, đá

ốp lát, ô tô tăng khá so với cùng kỳ

Trong sáu tháng đầu năm đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 18 dự án với tổng vốn đầu tư 6.500 tỷ đồng, trong đó có 4 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 40 triệu USD;

đã thành lập mới 629 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 2.650 tỷ đồng, so với cùng

kỳ tăng 8,5% về số doanh nghiệp và 6% về vốn đăng ký; toàn tỉnh có khoảng 6.500 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm trên 85% số doanh nghiệp được thành lập

1.3 Các ngành dịch vụ duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ ước đạt 14.339 tỷ đồng, bằng 49% kế hoạch, tăng 29,5% so cùng kỳ Do giá các mặt hàng trên thế giới, giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào trong nước tăng, cộng với tăng lương tối thiểu, tăng tỷ giá ngoại tệ đã đẩy giá cả trong nước tăng cao; so với tháng 12/2012, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 tăng 11,4%, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 18,8%, các nhóm hàng khác tăng từ 1,5% - 16,8%, bưu chính viễn thông giảm 2,2%

Hoạt động xuất khẩu tuy gặp khó khăn do biến động của thị trường thế giới

nhưng vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ Giá trị xuất khẩu 6 tháng đầu

năm ước đạt 217 triệu USD, bằng 47% kế hoạch, tăng 36% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu chính ngạch tăng 55% Nhập khẩu ước đạt 95 triệu USD, tăng 68% so với cùng kỳ, chủ yếu là nguyên phụ liệu may mặc, giầy dép, máy móc thiết bị và thuốc tân

dược

Hoạt động du lịch, lễ hội diễn ra sôi động; lượng khách du lịch 6 tháng đầu năm ước đạt 2 triệu lượt khách, tăng 19% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế tăng 23%; doanh thu du lịch ước đạt 790 tỷ đồng, bằng 54% kế hoạch năm, tăng 29% so với cùng

kỳ

Dịch vụ vận tải tăng cao so với nhiều năm trước: vận tải hàng hoá ước đạt 15,4 triệu tấn, tăng 20%; vận tải hành khách ước đạt 7,7 triệu lượt khách, tăng 22% so với cùng kỳ; hàng hoá thông qua cảng đạt 1,28 triệu tấn, tăng 39% so với cùng kỳ Bưu

Trang 18

so với thể xem là sg cói và các hải sản biểnên nhưn

I.2.2 Về văn hóa- xã hội

2.1 Hoạt động khoa học công nghệ tập trung vào chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống; 6 tháng đầu năm đã triển khai 86 nhiệm vụ khoa học công nghệ, tổ chức nghiệm thu 17 nhiệm vụ khoa học công nghệ Công tác thanh tra, kiểm tra tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng được tăng cường; đã tổ chức kiểm tra 336 cơ sở, phát hiện và xử lý 74 cơ sở vi phạm

2.2 Ngành giáo dục - đào tạo tiếp tục củng cố, duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS ; tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT đảm bảo an toàn, đúng quy chế; tích cực chuẩn bị các điều kiện để tổ chức tuyển sinh vào đại học, cao đẳng Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2011, học sinh tỉnh ta đạt 68 giải, trong đó có 1 giải nhất và một học sinh được chọn tham dự kỳ thi Olimpic quốc tế môn vật lý Sáu tháng đầu năm, có thêm 30 trường đạt chuẩn quốc gia, nâng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 713 trường

2.3 Lĩnh vực văn hoá, thông tin đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh, nhất là tuyên truyền về Nghị quyết XI của Đảng, về bầu cử đại biểu Quốc hội

và HĐND các cấp, về kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và tổ chức thành công

"Tuần văn hóa - du lịch Sầm Sơn năm 2011"; công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ

sở tiếp tục được duy trì; 6 tháng đầu năm, đã tổ chức khai trương xây dựng 122 làng, bản và 6 xã văn hóa, đưa số làng, bản khai trương xây dựng đơn vị văn hóa lên 6.228 làng và 159 xã Công tác quản lý lễ hội được tăng cường, hạn chế việc lợi dụng lễ hội

để hoạt động mê tín dị đoan

2.4 Các bệnh viện, cơ sở y tế có nhiều cố gắng trong khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân; công tác y tế dự phòng tiếp tục được quan tâm, trên địa bàn

Trang 19

Học viên: Vũ Kim Thắng 21

tỉnh chưa có dịch lớn xảy ra; công tác tuyên truyền về dân số, kế hoạch hóa gia đình và

chăm sóc sức khỏe sinh sản tiếp tục được duy trì; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh

dưỡng giảm 2,4% so với cùng kỳ

2.5 Công tác giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội tiếp tục được coi trọng Trong 6 tháng đã đào tạo nghề cho 31.620 người, đạt 54% kế hoạch; tạo việc làm cho 28.800 lao động, đạt 51% kế hoạch, trong đó có 4.450 lao động đi làm việc ở nước ngoài Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện kịp thời;

đã hỗ trợ 6.349 tấn gạo cho các hộ thiếu đói trong dịp Tết nguyên đán và kỳ giáp hạt

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới là 23,19%, giảm 1,67% so với cuối năm 2010

I.3 ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ NGUỒN NƯỚC

I.3.1 Hệ thống trạm quan trắc khí tượng, thủy văn trên lưu vực

a Lưới trạm khí tượng

Phần lớn các trạm khí tượng thuỷ văn trên lưu vực sông Mã được xây dựng từ sau năm 1954, phổ biến từ 1960 tới nay Tuy nhiên một số trạm đo mưa, khí hậu được thành lập từ trước năm 1954 như trạm Như Xuân (1928), Bái Thượng (1921), Thanh Hoá (1899), Hồi Xuân (1923) Số liệu này đo đạc không được liên tục do chiến tranh gián đoạn từ những năm 1944, 1945 tới 1954 Sau ngày hoà bình lập lại lưới trạm khí tượng thuỷ văn được phát triển rộng tuy nhiên do chiến tranh và khó khăn về kinh tế nên những năm 1979 - 1980 nhiều trạm khí tượng thuỷ văn đã bị hạ cấp hoặc ngừng

đo

Trạm khí hậu trên lưu vực sông Mã và vùng lân cận có 12 trạm khí hậu quan trắc các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi, nắng, gió, mưa và các đặc trưng khí tượng khác Ngoài ra còn có 51 trạm đo mưa được đặt ở các trạm thuỷ văn, bưu điện, thị trấn Hầu hết các trạm có số liệu dài như Thanh Hoá từ 1899 - 1948, 1955- 2001 hoặc Hồi Xuân 1923 - 1944, 1960 - 2001, Bái Thượng 1921 - 1946, 1955 - 1990 v.v Tới nay, trên lưu vực còn 6 trạm khí tượng, 42 trạm đo mưa

Các số liệu khí hậu, đo mưa do Trung tâm khí tượng thủy văn Quốc gia cung cấp đã chỉnh lý nên chất lượng đảm bảo, tin cậy

Vùng thượng nguồn sông Mã có 2 trạm khí tượng: Tuần Giáo, trạm Sông Mã Còn các trạm Sơn La, Cò Nòi, Yên Châu, Mộc Châu nằm ở khu vực lân cận

Trang 20

Học viên: Vũ Kim Thắng 22

Trên lãnh thổ Lào không có tài liệu khí tượng hoặc đo mưa nào được thu thập Phần lãnh thổ Thanh Hoá, Nghệ An có mạng lưới trạm khí tượng, đo mưa khá dày, chủ yếu là đo mưa Trạm đo các yếu tố khí hậu như Hồi Xuân, Yên định, Bái Thượng, Thanh Hoá, Như Xuân nằm trong lưu vực nghiên cứu Ngoài ra còn các trạm như Tĩnh Gia, Bỉm Sơn nằm ngoài lưu vực nghiên cứu Vùng ven biển có lưới trạm đo mưa dày hơn nhưng các huyện đều có trạm đo mưa

Bảng 2: Lưới trạm khí hậu và đo mưa trên lưu vực sông Mã

Trang 21

I.3.1.2 Mạng lưới trạm thủy văn

Trên lưu vực có 31 trạm thuỷ văn trong đó có 14 trạm đo dòng chảy, 17 trạm đo mực nước vùng triều và không ảnh hưởng triều Cho tới nay hầu hết các trạm do dòng chảy trên sông nhánh đã ngừng hoạt động hoặc hạ cấp Tổng số trạm thuỷ văn còn hoạt động là 12 trạm trong đó có 3 trạm đo lưu lượng là Xã Là, Cẩm Thuỷ trên dòng chính sông Mã, Cửa Đạt trên dòng sông Chu, 6 trạm mực nước vùng triều và không ảnh hưởng triều

Phân bố lưới trạm thuỷ văn không đều, tập trung chủ yếu ở hạ du, trung lưu sông

Mã Vùng thượng nguồn hoặc vùng núi cao rất ít trạm đo Riêng địa phận Lào không

có tài liệu đo đạc nào về dòng chảy

Trang 22

Học viên: Vũ Kim Thắng 24

Vùng sông ảnh hưởng triều trong tổng số 6 trạm đo mực nước triều là Hoàng Tân, Lạch Sung, Cự Thôn, Tứ Thôn, Giàng, Ngọc Trà thì hiện nay chỉ còn 4 trạm đo là Hoàng Tân (thay bằng Quảng Châu), Cự Thôn, Giàng, Ngọc Trà

Hầu hết các trạm thuỷ văn đều do Tổng Cục Khí Tượng Thuỷ Văn quản lý, chất lượng tài liệu tin cậy Mực nước ở các trạm cơ bản từ 1995 trở lại đây đã được đưa về

hệ cao độ quốc gia

Một số trạm có diện tích nhỏ như Xuân Cao (12 km2), Xuân Thượng (53,6 km2)

có số liệu dài năm rất thuận lợi cho việc tính toán thuỷ văn thiết kế cho lưu vực nhỏ

Bảng 3: Lưới trạm thủy văn trên lưu vực sông Mã

Ghi chú

1 Xã Là Mã 6430 103o55' 20o56' II 1961-nay

2 Mường Lát Mã 104o34 20o32' III 1960-nay

3 Hồi Xuân Mã 15500 105o05' 20o22' II 1964-nay 1965 chỉ đo H

4 Cẩm Thuỷ Mã 17500 105o28' 20o12' I 1956-nay 90-95 ngừng đo Q

5 Lý Nhân Mã 105o35' 20o01' III 1957-nay

6 Giàng Mã 105o45' 19o52' III 1962-nay

7 Hoàng Tân Mã 105o51' 19o46' III 1965-nay

8 Nậm Ty Nậm Ty 744 103o36' 21o10' I 1961-1974 1975 ngừng đo

9 Nậm Công Nậm Công 868 103o41' 21o02' II 1960-1981 1982 ngừng đo

10 Trung Hạ Lò 870 105o02' 20o17' II 1970-1981 1982 ngừng đo

11 Vụ Bản Bưởi 886 105o27' 20o26' II 1961-1971 1972 ngừng đo

12 Sòi Bưởi 105o37' 20o02' III 58-82 1983 ngừng đo

13 Thạch Lâm Bưởi 105o31' 20o20' III 1976-1990 1991 ngừng đo

15 Mường Hinh Chu 5330 105o07' 19o53' I 1959-1975 Ngùng đo 1976

16 Bái Thượng Chu 105o22' 19o54' III 1956-nay

17 Xuân Khánh Chu 7460 105o34' 19o55' I 1963-nay 1982 hạ cấp chỉ đo H

18 Cửa Đạt Chu 6170 105o17' 19o52' II 1976-nay

21 Xuân Khao Khao 343 II 1963-1972 1973 Ngừng đo

22 Xuân thượng Lèn 53.6 105o26' 19o43' I 1968-1990 1991 ngừng đo

23 Xuân Cao Hoá Lù 12 105o23' 19o51' I 1968-1989 1990 ngừng đo

24 Lang Chánh Âm 105o15' 20o06' I 1961-nay 1990 Ha cấp chỉ đo H

25 Tứ Thôn Tống 105o54' 20o02' III 1964-1982 1983 ngừng đo

53' 19o56' III 1965-nay

Trang 23

Học viên: Vũ Kim Thắng 25

Ghi chú

28 Lạch Sung Lèn 105o58' 19o57' III 1965-1990 1991 ngừng đo

31 Lương Ngọc Cầu Chày 175 II 1982-1990 1991 ngừng đo

Ghi chú:

- Trạm cấp I đo H, Q, R; Trạm cấp II đo H, Q; Trạm cấp III đo H

- H: Mực nước; Q: Lưu lượng; R: Bùn cát lơ lửng

Hình 2: Mạng lưới trạm thủy văn trên lưu vực sông Mã

I.3.2 Đặc điểm về khí tượng

Trang 24

Học viên: Vũ Kim Thắng 26

- Vùng đồng bằng hạ du sông Mã: Nhiệt độ bình quân năm cao hơn miền núi Mùa đông kết thúc sớm hơn Bắc Bộ từ 15 -20 ngày Nhiệt độ tối cao tuyệt đối trung bình năm lại cao hơn ở vùng miền núi

Bảng 4: Nhiệt độ tháng, năm trung bình nhiều năm tại các trạm

Đơn vị: o

C

Tuần Giáo 14.6 16.3 19.5 22.6 24.6 25.1 25.2 24.8 23.9 21.6 18.3 15.0 21.0 Pha Đin 12.3 14.1 17.6 19.9 20.5 20.6 20.5 20.4 19.8 17.9 14.6 12.1 17.5 Điện Biên 15.7 17.6 20.7 23.6 25.3 25.9 25.7 25.4 24.6 22.4 19.1 15.8 21.8 Sơn La 14.6 16.5 20.0 22.8 24.7 25.1 25.0 24.6 23.7 21.7 18.2 15.0 21.0 Sông Mã 16.1 18.5 21.2 24.3 26.1 26.4 26.3 25.9 25.1 22.8 19.6 16.3 22.4 Yên Châu 15.9 17.9 21.7 24.8 26.8 27.0 26.9 26.3 25.2 22.8 19.4 16.4 22.6 Mộc Châu 11.8 13.3 16.8 20.2 22.5 23.0 23.1 22.4 21.2 18.9 15.7 12.8 18.5 Hồi Xuân 16.6 18.0 20.7 24.5 26.9 27.6 27.6 27.0 25.6 23.5 20.5 17.6 23.0 Lạc Sơn 15.9 17.3 20.2 24.0 27.2 28.0 28.3 27.6 26.3 23.7 20.4 17.3 23.0 Bái Thượng 16.5 17.5 20.1 23.9 27.0 28.2 28.4 27.6 26.6 24.3 21.2 18.0 23.3 Thanh Hoá 17.0 17.3 19.8 23.5 27.2 28.9 29.0 28.2 26.4 24.5 22.4 18.6 23.6

Như Xuan 16.5 11.3 20.0 23.6 27.3 28.6 28.9 27.8 26.5 24.2 20.8 17.9 23.3 Yên Định 16.7 17.6 20.2 23.6 27.2 28.5 28.9 28.0 26.8 24.4 21.2 18.1 23.4 Tĩnh Gia 16.8 17.1 19.6 23.2 27.2 28.9 29.5 28.3 26.8 24.5 21.2 18.1 23.4

b Độ ẩm:

Độ ẩm không khí trên lưu vực dao động từ 82% - 86% Độ ẩm tối cao thường vào tháng III tháng IV hàng năm (89 - 94%) Độ ẩm tối thấp vào tháng V tháng VI hoặc tháng VII chỉ đạt 6 ÷ 12%

c Bốc hơi:

Tổng lượng bốc hơi năm trên lưu vực từ 872 mm đến 925 mm Bốc hơi bình quân ngày nhỏ nhất 1,3mm/ngày, lớn nhất 4,6 mm/ngày Lượng bốc hơi trên lưu vực lớn nhất vào tháng V, VI, VII Chênh lệch bốc hơi mặt đất và mặt nước ∆Z = 250 –

230 mm/năm

d Gió -bão:

Mùa Đông do hoàn lưu phương Bắc mạnh nên có gió mùa Đông Bắc, tốc độ gió trung bình 3- 4 m/s Gió này xuất hiện từ tháng XI đến tháng II năm sau, có năm xuất hiện sớm và cũng có năm kết thúc muộn

Trang 25

vùng Quảng Trị Bão ở lưu vực sông Mã thường xuất hiện chậm hơn Bắc Bộ từ 15 -

20 ngày Theo số liệu thống kê từ 1954 đến 2000 trong số 140 cơn bão đổ bộ vào Khu

4 có tới 67 cơn bão đổ bộ vào lưu vực sông Mã chiếm 47,8% Phần lớn khi bão đổ bộ

vào lưu vực sông Mã có gió từ cấp VIII đến cấp XII khi gió giật trên cấp XII (Vmax >

40 m/s) Bão thường kèm theo mưa lớn ở khu vực đồng bằng và trung du của lưu vực

Lượng mưa trận do bão gây ra có thể lên tới (700 - 1.100 mm) tại trạm Thanh Hoá

Bảng 5: Chỉ tiêu khí hậu lưu vực sông Mã

Nhiệt độ Miền núi 16,6 18,0 26,7 24,8 26,9 27,6 27,6 27,0 25,6 23,5 20,5 17,6 23

Ghi chú: Nhiệt độ tính theo T0C

Số giờ nắng tính theo giờ/tháng Bốc hơi tính theo mm/tháng

e Chế độ mưa:

Trên lưu vực sông Mã, mùa mưa lấy theo tiêu chuẩn vượt trung bình thì ở phần phía Bắc của lưu vực mùa mưa bắt đầu từ tháng IV và kết thúc vào tháng 9, còn ở

phía Nam, hạ lưu của lưu vực, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng X có

năm vào tháng XI

Lượng mưa năm trung bình nhiều năm trên lưu vực biến đổi từ 1.100 ÷ 1.400

mm ở vùng ít mưa, 1.800 ÷ 2.400 mm ở những vùng mưa lớn Trên lưu vực xuất hiện

những trung tâm mưa lớn như Lang Chánh, Bất Mọt, Vạn Xuân, Thường Xuân ở

thượng nguồn sông Âm, Sông Chu lượng mưa năm lớn 2.000 ÷ 2.200 mm Vùng

Trang 26

Học viên: Vũ Kim Thắng 28

thượng nguồn sông Chu, sông Mã thuộc địa phận Lào không có tài liệu Phần lưu vực năm giữa những dãy núi cao khuất gió, lượng mưa ít, tại trạm sông Mã lượng mưa năm trung bình chỉ là 1.152 mm, Sơn La là 1.444 mm Vùng trung lưu sông Mã lượng mưa năm tăng lên rõ rệt đạt 1.700 ÷ 1.800 mm tại Bá Thước, Cẩm Thủy, Hồi Xuân, Mường Hinh Vùng trung lưu sông Chu tại Thường Xuân – Bất Mọt, lượng mưa năm đạt 1.900 ÷ 2.100mm Do điều kiện địa hình sông Chu, Sông Âm các dãy núi bao bọc bên tả, hữu rất thuận lợi cho việc đón gió, nhất là khi có bão

Trong năm phân bố mưa tháng không đều Mùa mưa đạt từ 80 – 85% lượng mưa năm, còn lại là mùa khô Biến động của mưa năm khá lớn, những vùng ít mưa như Mường Lát, Sốp Cộp, lượng mưa năm chỉ đạt 700 ÷ 800 mm với những năm mưa nhỏ Vùng mưa lớn, lượng mưa năm lớn nhất đạt 2.800 ÷ 3.100 mm, lượng mưa năm lớn nhất đạt 2.884 mm năm 1963 tại Bá Thước, 2.881 mm năm 1980 tại Thường Xuân, 3.020 mm năm 1963 tại Thanh Hoá, 2.854 mm năm 1973 tại Nam Động Hệ số biến đối Cv của lượng mưa năm 0,20 ÷ 0,3, năm mưa lớn nhất gấp 2 ÷ 3 lần năm có lượng mưa nhỏ nhất, một số nơi đạt tới 4 ÷ 4,5 lần như Thống Nhất, Như Xuân, Ngọc Trà

Tháng 5, 6 lượng mưa trung bình tháng tăng lên rõ rệt do sự hội tụ của gió mùa Tây Nam và gió tín phong gây ra, lượng mưa tháng đạt 10 ÷ 20% lượng mưa năm, có năm gây ra lũ tiểu mãn

Phần thượng nguồn của lưu vực sông Mã mùa mưa đến sớm ngay từ tháng 4 đã

có lượng mưa trung bình trên 100 mm và lượng mưa tháng tăng dần đạt cực trị vào tháng 7, tháng 8 và giảm dần từ tháng IX Lũ ở thượng nguồn sông Mã và các lưu vực

sông nhánh ở phía Bắc xảy ra lớn nhất vào tháng 8, gần trùng với thời kỳ xuất hiện lũ

ở Bắc Bộ Trong khi đó ở phần trung, hạ du và phía Nam của lưu vực, mùa mưa dịch chuyển dần, lượng mưa tháng IV dưới 100 mm, tại đồng bằng hạ du chỉ là 50 ÷ 65

mm, sang tháng V lượng mưa mới đạt trên 100mm và đạt cực đại vào tháng IX với lượng mưa trung bình tháng từ 300 ÷ 450mm, chiếm 20 ÷ 22% lượng mưa năm

Sang tháng X, do ảnh hưởng của mưa bão nên lượng mưa ở đồng bằng và phía Nam của lưu vực còn rất lớn đạt trên 200mm, ở Ngọc Lạc là 293mm, 278mm ở Thanh Hoá, 250mm ở Cụ Thôn, 348mm ở Ngọc Trà, 271mm ở Nông Cống, 260mm ở Giàng Những năm mưa lớn thường trùng với những năm có ảnh hưởng của mưa bão, như năm 1962, 1963, 1973, 1975, 1980, 1996 Đây là những năm gây nên những trận lũ

Trang 27

Học viên: Vũ Kim Thắng 29

lớn trên diện rộng trên lưu vực sông Mã

Lượng mưa tháng nhó nhất ở thượng nguồn sông Mã xảy ra vào tháng XII hoặc tháng I chỉ chiếm 1,2 – 1,5% lượng mưa năm, vùng trung du hạ lưu sông Mã xuất hiện vào tháng I, lượng mưa 3 tháng nhỏ nhất XII, I, II hoặc I, II, III chỉ chiếm 3 – 5% lượng mưa năm

Lượng mưa tháng, năm trung bình nhiều năm được trình bày ở bảng dưới

Trang 30

Học viên: Vũ Kim Thắng 32

I.3.3 Đặc điểm về thủy văn

I.3.3.1 D òng chảy năm

Dòng chảy năm trung bình nhiều năm trên lưu vực sông Mã 18.109

m3 nước tương ứng với lưu lượng trung bình nhiều năm là 570 m3/s, mô số dòng chảy năm trung bình là 20 l/s.km2, trong đó phần dòng chảy sản sinh tại Việt Nam là 14,1.109

m3với mô số 25,3 l/s.km2 và tại Lào 3,9.109

m3 với mô số trung bình 11,4 l/s.km2

Dòng chảy năm phân phối không đều theo không gian và thời gian Hệ số biến đổi Cv sông Mã đạt 0,2 tại Cẩm Thuỷ, 0,28 tại Cửa Đạt trên sông Chu

Thượng nguồn sông Mã tại Xã Là khống chế diện tích lưu vực là 6.430 km2chiếm 22,6 % diện tích toàn lưu vực có tổng lượng dòng chảy là 3,82 tỷ m3 Tại Cẩm Thuỷ, có diện tích 17.500 km2, tổng lượng dòng chảy đạt 10,41 tỷ m3, tại Hồi Xuân Flv= 15.500 km2, tổng lượng dòng chảy 8,01 tỷ m3 Khu giữa từ Xã Là tới Hồi Xuân

có Flv = 9.070 km2, chiếm 31,9% diện tích toàn lưu vực nhưng tổng lượng dòng chảy chỉ chiếm 23,2% tổng lượng dòng chảy trên toàn lưu vực Từ Hồi Xuân tới Cẩm Thủy Flv = 2.000 km2 chiếm 10,8 % diện tích toàn lưu vực nhưng tổng lượng dòng chảy năm chiếm 2,4 tỷ đạt 13,3 % tổng lượng dòng chảy toàn lưu vực Điều này cho thấy phần dòng chảy phát sinh ở khu giữa trung lưu dòng chính có mô số lớn, đóng góp nhiều vào dòng chảy sông Mã ở hạ lưu

Trên sông Chu tại Xuân Khánh có diện tích lưu vực 7.460 km2 chiếm 26,2 % diện tích toàn lưu vực tổng lượng dòng chảy năm 4,42 tỷ m3 chiếm 24,5 % tổng lượng dòng chảy và tại Cửa Đạt Flv = 6.170 km2 chiếm 21,7% diện tích lưu vực tổng lượng dòng chảy năm 4,03 tỷ m3

chiếm 22,3% tổng lượng dòng chảy trên toàn lưu vực Bảng 7: Dòng chảy năm trung bình nhiều năm ở một số vị trí

(km 2 )

F/ Flưu vực

L ưu vực

Qo (m 3 /s)

,;Mo (l/s.km 2 )

Trang 31

Học viên: Vũ Kim Thắng 33

Phân phối dòng chảy năm

Cũng như chế độ mưa, dòng chảy trong năm phân thành hai mùa rõ rệt, mùa lũ

và mùa kiệt

- Thượng nguồn sông Mã: Mùa lũ từ tháng VI tới tháng X với tổng lượng dòng

chảy mùa lũ chiếm 70% - 74% lượng dòng chảy năm Tháng VII có tổng lượng dòng chảy lớn nhất chiếm 22 – 24% tổng lượng dòng chảy năm Tháng III có lượng dòng chảy nhỏ nhất có tỷ lệ so với dòng chảy năm là 2,7% tại Xã Là, 2,4% tại Nâm Cống, 2,9% tại Nâm Ty Ba tháng có dòng chảy nhỏ nhất tháng II, III, IV chỉ chiếm 8,5% lượng dòng chảy năm tại Xã Là, 8% tại Nậm Công, 9,5% tại Nậm Ty Mô số dòng chảy tháng nhỏ nhất tháng III đạt 6,0 l/s.km2 tại Xã Là, 5,53 l/s.km2 tại Nâm Công, 4,54 l/s.km2tại Nâm Ty

- Trung lưu sông Mã: Mùa lũ bắt đầu từ tháng VII tới tháng XI với tổng lượng

dòng chảy chiếm 74,2% dòng chảy năm Dòng chảy tháng VIII lớn nhất trong năm chiếm 20% dong chảy năm Tháng IX, X tỷ lệ dòng chảy chiếm 19,3% và 11,3% tại Cẩm Thuỷ, trong khi đó chỉ đạt 16,6% vào tháng IX, 8,6% vào tháng X tại Xã Là Tháng III có lượng dòng chảy nhỏ nhất đạt mô số trung bình tháng 5,92 l/s.km2 Ba tháng kiệt nhất II, III, IV, có dòng chảy nhỏ nhất chỉ đạt 8,0% dòng chảy năm

- Lưu vực sông Chu và Nam sông Mã: Mùa lũ từ tháng VII tới tháng XI với

lượng dòng chảy chiếm 74,3% tại Cửa Đạt, trong đó tháng IX có lượng dòng chảy lớn nhất đạt 19 ÷ 20% lượng dòng chảy năm Tháng III có lượng dòng chảy nhỏ nhất chỉ chiếm 2,5% lượng dòng chảy năm và mô số dòng chảy trung bình 6,5 l/s.km2 Sông Chu có mô số dòng chảy các tháng kiệt lớn hơn dòng chính sông Mã

Nhóm năm ít nước từ tần suất 75 ÷ 95% dòng chảy năm biến đổi trong phạm vi

102 ÷ 80,4 m3/s tại Xã Là, 285 ÷ 224 m3/s tại Cẩm Thuỷ, 103 ÷ 70,9 m3/s tại Cửa Đạt Tháng III có dòng chảy nhỏ nhất trong phạm vi của nhóm năm ít nước với tần suất từ

75 ÷ 95% dòng chảy tháng dao động từ 30,8 ÷ 27,3 m3/s tại Xã Là, 88,7 ÷ 74,5 m3/s tại Cẩm Thủy và 31,2 ÷ 26,4 m3/s tại Cửa Đạt

Trang 32

từ tháng VII và kết thúc vào tháng X, XI Bốn tháng có lượng mưa lớn nhất là các tháng VII, VIII, IX, X, tại Cửa Đạt tháng IX là tháng có lượng dòng chảy lớn nhất, tổng lượng của 3 tháng lũ lớn nhất trên sông Chu tại Cửa Đạt là 54% Ảnh hưởng của mưa bão tới phần trung lưu sông Mã thể hiện rõ rệt, sông Chu tại Xuân Khánh lũ lớn nhất năm xuất hiện vào tháng IX chiếm 38,7%, tháng X là 25,2% trong khi đó tháng VIII chỉ chiếm 22,6 %

Bảng 9: Khả năng xảy ra lũ lớn nhất năm vào các tháng trong năm

Đơn vị : %

Trang 33

Học viên: Vũ Kim Thắng 35

a Lưu lượng nước lũ:

Trên sông Mã, lưu lượng lớn nhất trung bình nhiều năm là 1.485 m3/s ứng với

MTB = 0,23 m3/s.km2 tại Xã Là; 3.115 m3/s ứng với MTB = 0,18 m3/s.km2 tại Cẩm Thuỷ Trên sông Chu tại Cửa Đạt Qmax TB = 2420 m3/s ứng với MTB = 0,39 m3/s.km2; tại Xuân Khánh Qmax TB = 2570 m3/s ứng với MTB = 0,34 m3/s.km2

Lưu lượng lũ lớn nhất trên sông Mã thực đo tại trạm Xã Là là 6.930 m3/s ngày 1/9/1975 với Mmax= 1,08 m3/s.km2, các trận lũ lớn tiếp theo vào các năm 1996 với

Qmax= 2.890 m3/s ngày 3/9/1975 với Mmax= 0,46 m3/s.km2 tiếp theo đó là đến các trận

lũ lớn các năm 1976, 1943, 1976 Tại Cẩm Thuỷ, lưu lượng lũ lớn đạt 7.900 m3/s ngày 3/9/1975, tiếp đó trận lũ năm 1996 với Qmax= 6.020 m3/s ngày 25/8/1996, các trận lũ lớn khác là trận lũ ngày 11/9/1963 với Qmax= 5.410 m3/s, trận lũ ngày 27/8/1973 với

Qmax= 5.380 m3/s, trận lũ ngày 14/8/1960 với Qmax= 4.740 m3/s, trận lũ ngày 17/9/1980 với Qmax= 4.230 m3/s Mô số dòng chảy lũ trung bình tại Cẩm Thuỷ là 0,178 l/s.km2

,

mô số đỉnh lũ lớn nhất đạt 0,451 l/s.km2 trong trận lũ 9/1975

Bên sông Chu tại Cửa Đạt, lưu lượng lũ lớn nhất xảy ra vào ngày 29/9/1962 với

Qmax= 6.530 m3/s với Mmax= 2,06 m3/s.km2, tiếp theo đó là đến các trận lũ lớn năm

1980, 1963, 1992, 1972

Các sông suối nhỏ, dòng chảy lũ biến động khá lớn, vùng thượng nguồn sông

Mã tại Nậm Ty trên sông Nậm Ty, mô số dòng chảy lũ trung bình là 0,146 m3/s.km2, tại Nậm Công là 0,435m3/s.km2, tại trung hạ du sông Lò là 1,13m3/s.km2, tại Lang Chánh là 1,78m3/s.km2, tại Vụ bản trên sông Bưởi là 1,11m3

/s.km2 Đánh giá tần suất xuất hiện Qmax của các trận lũ lớn nhất:

- Trên sông Mã tại Cẩm Thuỷ: lưu lượng lớn nhất năm 1996 là 6.020 m3/s ứng với tần suất P= 2,5%; năm 1963 Qmax= 5.410 m3/s với P= 3,5%; năm 1962 Qmax= 4.040 m3/s với P= 20%; năm 2007 Qmax= 6.720 m3/s ứng với tần suất P= 2%

- Trên sông Chu tại Cửa Đạt, lưu lượng lớn nhất năm 1962 là 6.530 m3/s ứng với tần suất P= 2,1%; năm 1973 Qmax= 4.329 m3/s với P= 8,5%; năm 1975 Qmax= 3.043 m3/s với P= 21%; năm 1980 Qmax = 6.173 m3/s với P= 4,3%;

Trang 34

Lũ năm 1980: lưu lượng lũ tại Cẩm Thuỷ ở mức tần suất P = 18% nhưng lũ sông Chu tại Cửa Đạt rất lớn chỉ thấp thua lũ năm 1962 và đạt mức tần suất 4,3% nên mực nước lũ tại Giàng đạt cao nhất là 7,51m ở mức tần suất 4,5%

Năm 1962: lũ sông Chu lớn nhưng sông Mã tại Cẩm Thuỷ, lưu lượng lũ lớn nhất chỉ đạt 4.040 m3/s, tần suất tương ứng là 20% và tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất chỉ đạt 0,975 tỷ m3tương ứng với P = 39%

Bảng 10: Đặc trưng lưu lượng lũ thiết kế ở một số vị trí

879 triệu m3, tiếp theo là các năm 1996, 1994, 1976 Năm 1980 tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất là 451 triệu m3 ở mức tần suất 30%, năm 1973 tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất

là 340 triệu m3

Tại Cẩm thuỷ: Lượng lũ 7 ngày lớn nhất trung bình nhiều năm đạt 952 triệu m3

Năm 1996 có tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất đạt 2,12 tỷ m3, năm 1973 đạt 1,981tỷ m3tương ứng với tần suất P= 2,4%; năm 1975 Qmax= 7.900 m3/s với P= 1,5% nhưng tổng lượng lũ 7 ngày đạt 1,952 tỷ m3

, P = 2,5%., Lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất tại Cẩm Thuỷ xuất hiện ở trận lũ tháng IX/1975,

Trang 35

Học viên: Vũ Kim Thắng 37

tiếp theo đó là trận lũ năm 1996 với Qmax= 6.020 m3/s; và các năm 1963, 1973, 1968,

1980, nhưng tổng lượng lũ 7 ngày lớn nhất lại ở trận lũ năm 1996 tiếp đó là lũ các năm

1973 Hmax= 7,26 m, năm 1962 Hmax= 7,06 m, năm 1985 Hmax= 6,81 m, năm 1975

Hmax= 6,54 m Những trận lũ có mực nước lớn hơn mức báo động III Giàng là 6,28 m đều do ảnh hưởng của bão đổ bộ trực tiếp hoặc ảnh hưởng đến trung hạ lưu lưu vực sông Mã Mực nước lũ cao nhất trung bình nhiều năm trên sông Mã đạt 17,73 m tại Cẩm Thuỷ; 10,04 m tại Lý Nhân; 4,8 m tại Giàng; 1,99 m tại Hoàng Tân; trên sông Chu tại Xuân Khánh 9,27 m ; trên sông Lèn 3,76 m tại Cụ Thôn; 1,54 m tại Lạch Sung

; trên sông Bưởi 10,98 m tại Kim Tân

d Tốc độ và thời gian truyền lũ:

Sông Mã: Từ Mường Lát tới Hồi Xuân có độ dài 81 km, tốc độ truyền lũ 10km/h, thời gian truyền lũ 8 giờ Đoạn Hồi Xuân tới Cẩm Thuỷ, chiều dài sông 73

km, thời gian truyền lũ 10 giờ, tốc độ truyền lũ 7,3 km/h Cẩm Thuỷ - Lý Nhân, chiều dài sông 36 km thời gian truyền lũ 7 giờ tốc độ truyền lũ 5,54 km/h Lý Nhân - Giàng chiều dài sông 28 km, thời gian truyền lũ 6 giờ, Vlũ = 4,67 km/h

Trang 36

Học viên: Vũ Kim Thắng 38

Sông Chu: Cửa Đạt tới Bái Thượng 16 km tốc độ truyền lũ 5,33 km/h, thời gian truyền lũ 3 giờ Bái Thượng tới Xuân Khánh là 31 km, thời gian truyền lũ 9 giờ, tốc độ truyền lũ 3,44 km/h

I.3.3.2 Dòn g chảy kiệt

Mùa kiệt trên sông dòng chính sông Mã tại Cẩm Thuỷ từ tháng XII tới tháng V

lượng dòng chảy chiếm 25% tổng lượng năm Ba tháng có dòng chảy kiệt nhất là tháng II, III, IV Tháng III có dòng chảy tháng kiệt nhất, đạt trung bình 102 m3/s với

mô đun trung bình tháng 5.8l/s/km2 Dòng chảy 30 ngày liên tục nhỏ nhất trung bình đạt 91.1 m3

/s với mô đun 5.36 l/s/km2

, dòng chảy nhỏ nhất có mô đun 2.0 l/s/km2

Trên sông Chu tại Cửa Đạt, dòng chảy mùa kiệt từ tháng XII tới tháng VI với

ba tháng kiệt nhất là II, III, IV và tháng kiệt nhất là tháng III với lưu lượng trung bình

40 m3/s, mô đun trung bình 6.48 l/s/km2, dòng chảy tháng IV trung bình đạt 42 m3

/s không cao hơn nhiều so với tháng III, xu thế kiệt dần về tháng IV là khá rõ Dòng chảy nhỏ nhất tại Cửa Đạt đo được là 18.4 m3

/s ngày 6/IV/1993 với mô đun là 2.98 l/s/km2

I.3.4 Tiềm năng nguồn nước và nhu cầu sử dụng nguồn nước

I.3.4.1 Nhu cầu sử dụng nước trên sông Chu

a Nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp

Hạ du sông Chu tính từ sau hồ chứa Cửa Đạt đến nhập lưu sông Mã có chiều dài hơn 60 km Các công trình khai thác nước chủ yếu là các công trình khai thác phục

vụ nước cho nông nghiệp và sinh hoạt Bao gồm một đập dâng Bái Thượng, 19 trạm

bơm và một công trình cấp nước sinh hoạt Trong đó, công trình đập dâng Bái Thượng

là công trình quan trọng nhất, chi phối thời kỳ vận hành cấp nước của hạ du

Theo tài liệu thu thập các vùng tưới tại đây được chia thành 2 vùng:

- Vùng Nam Sông Chu: Đây là vùng hưởng lợi hệ thống Bái Thượng bao gồm các huyện Đông Sơn, Tp Thanh Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương , Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống với diện tích tự nhiên toàn vùng 92.129,8 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp hơn 50.000 ha Hiện nay được cấp nước chủ yếu bằng hệ thống Bái Thượng Ngoài ra còn có một số các hồ chứa và đập dâng nhỏ cung cấp

Trang 37

bơm với diện tích đất nông nghiệp hơn 36.000 ha và đất canh tác 32.000 ha Theo thiết

kế của hồ Cửa Đạt, hồ còn có nhiệm vụ cấp nước tưới cho hơn 30.000 ha vùng này thông qua hệ thống kênh Dốc Cáy Hiện nay, công trình tuynen Dốc Cáy đã hoàn thiện

nhưng hệ thống kênh dẫn cấp nước phía sau đang được thi công, dự kiến sau năm 2015

sẽ đưa vào sử dụng

Bảng 12: Nhu cầu nước tại kênh Bái Thượng

Tháng

Lưu lượng (m 3 /s) Tổng lượng nước

(triệu m 3 ) Lưu lượng (m 3 /s) Tổng lượng nước

Nhu cầu nước các trạm bơm tưới trên sông Chu (hạ lưu đập Bái Thượng)

Hạ lưu Bái Thượng có 19 trạm bơm khai thác nước trực tiếp trên sông Chu, nằm trên địa bàn 2 huyện là Thọ Xuân và Thiệu Hóa (9 trạm thuộc huyện Thọ Xuân,

10 trạm thuộc huyện Thiệu Hóa) Phần lớn các trạm bơm đã đi vào khai thác từ những năm 70-80 nên công suất không đạt được theo thiết kế

Các trạm bơm này phải đảm bảo cung cấp đủ nước cho sản xuất vào các vụ:

- Vụ Đông Xuân : Từ 1/12 đến 15/5

- Vụ Hè Thu: Từ 16/6 đến 15/9

Do có kênh Bái Thượng cung cấp nước phần lớn cho diện tích đất nông nghiệp cho các xã nằm bên bờ phải sông Chu nên nhiệm vụ bơm tưới của các trạm bơm bờ phải sông Chu là không nhiều Qua quá trình điều tra khảo sát, hiện nay các trạm bơm đều lấy đủ nước, không xảy ra tình trạng thiếu hụt Lưu lượng khai thác lớn nhất từ 10-

14 m3/s

Trang 38

Học viên: Vũ Kim Thắng 40

b Nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt

Dọc sông Chu hiện nay có một công trình khai thác nước phục vụ cho sinh hoạt

là công ty cấp nước Thanh Hóa, đặt tai xã Thiệu Khánh- Thành phố Thanh Hóa Nhà máy có 4 máy bơm với công suất khai thác là 2.000 m3/h Phần lớn nhà máy hoạt động hết công suất, khai thác nước 24/24h mới đủ nước cung cấp cho các hộ sử dụng Trong thời gian bắt đầu vận hành tới nay, nhà máy gần như không gặp khó khăn trong việc lấy nước từ sông Chu

I 3.4.2 Nhu cầu sử dụng nước trên sông Mã

a Nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp

Hiện nay, dọc sông Mã có 58 trạm bơm đang khai thác nước trên dòng chính, Các công trình này nằm hoàn toàn phía hạ lưu nhà máy thủy điện Bá Thước 1, tập trung vào các huyện: Cẩm Thủy, Vĩnh Lộc, Yên Định và Hoằng Hóa Trong đó có 2 trạm bơm đóng vai trò quan trong nhất là trạm bơm Kiển tưới cho vùng Nam Sông Mã- Bắc sông Chu và trạm bơm Hoằng Khánh tưới cho toàn bộ huyện Hoằng Hóa

- Trạm bơm Kiển: Trạm thuộc xã Yên Phong, huyện Yên Định, là công trình

đầu mối cấp nước cho hệ thống thủy nông Nam Sông Mã do công ty KTCTTL Nam sông Mã quản lý Công trình dược xây dựng năm 1960 với công suất máy 5x7.100 m3/h, lấy nước từ sông Mã, tưới và tạo nguồn cho 11.300 ha, thực tế những năm gần đây chỉ tưới được cho khoảng 6.000 ha Trong những năm gần đây, huyện đã phải đắp đập đá ngăn nước trên sông Mã vào mùa kiệt để tạo đầu nước cho trạm bơm hoạt động Trạm cung cấp nước tưới cho vùng Nam sông Mã thông qua 3 kênh: Kênh Nam, Kênh Bắc và kênh Tây Việc lấy nước tưới cho 3 kênh này thường gối lên nhau, trạm

sẽ cấp nước lần lượt cho từng kênh

- Trạm bơm Hoằng Khánh: trạm thuộc xã Hoằng Khánh, huyện Hoằng Hóa, là

công trình đầu mối quan trọng của công ty TNHH MTV thủy lợi Bắc Sông Mã Cung cấp nước tưới cho toàn bộ diện tích huyện Hoằng Hóa Trạm được xây dựng năm 1964

và đưa vào sử dụng năm 1967 với quy mô 7 máy x 8.000 m3/h, thiết kế tưới và tạo nguồn hơn 18.000 ha cho 2 huyện Hoằng Hóa và Hậu Lộc, thực tế hiện nay tưới được hơn 7.700 ha

Do tình hình xâm nhập mặn vào sâu trong sông nên các trạm bơm trên sông Mã nằm dưới nhập lưu sông Chu hoạt động không hiệu quả, có một số trạm vận hành cấp nước được rất ít thời gian trong mùa như trạm bơm Nguyệt Viên, trạm bơm Hoằng Long Lưu lượng khai thác lớn nhất của các trạm bơm trên dòng chính sông Mã đạt 63

m3/s

Trang 39

Học viên: Vũ Kim Thắng 41

Dựa vào tài liệu có được về hiện trạng vận hành các trạm bơm lớn và thời gian mùa vụ tại các huyện, ta có thể chia nhu cầu dùng nước của các trạm bơm trên sông

Mã theo thời đoạn 10 ngày như sau:

Bảng 13: Nhu cầu nước tưới cho các trạm bơm trên sông Mã theo thời đoạn

Ngày tháng

Lượng nước yêu cầu triệu m 3

Q yêu cầu

m 3 /s

Ngày tháng

Lượng nước yêu cầu triệu m 3

b Nhu cầu sử dụng nước cho công nghiệp- sinh hoạt

Các hộ dân sống dọc sông Mã chủ yếu lấy nguồn nước giếng đào, giếng khoan cho sinh hoạt nên công trình cấp nước sạch lấy nước trên sông Mã chỉ có một công ty

Trang 40

Học viên: Vũ Kim Thắng 42

cấp nước Cẩm Thủy Công ty được đặt tại thị trấn Cẩm Thủy huyện Cẩm Thủy, khai thác nước 22h trong ngày với 2 máy bơm công suất 30 m3/s Nguồn nước trên sông

Mã khá đảm bảo nên việc lấy nước luôn thuận lợi

Trên dòng chính sông Mã, phía hạ lưu đập thủy điện Trung Sơn hiện nay có một số công ty khai thác nước nhưng với lưu lượng nhỏ, không đáng kể

I.4 Hiện trạng và Quy hoạch hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Mã

I.4.1 Hiện trạng hệ thống hồ trên lưu vực

Các công trình nằm trên dòng chính sông Mã theo Quy hoạch gồm:

- Công trình Pa Ma, mực nước dâng bình thường (MNDBT) 455 m, công suất lắp máy 80 MW; nhiệm vụ cấp nước và chống lũ là chính kết hợp phát điện

- Công trình thủy điện Bản Uôn (thủy điện Trung Sơn) MNDBT 160 m, công suất lắp máy 260 MW; nhiệm vụ phát điện và chống lũ là chính

- Công trình thủy điện Thành Sơn, mực nước dâng bình thường 89 m, công suất lắp máy là 37 MW; nhiệm vụ phát điện

- Công trình thủy điện Hồi Xuân MNDBT 80 m, công suất lắp máy 92 MW; nhiệm vụ phát điện

- Công trình thủy điện Cam Ngọc MNDBT 50 m, công suất lắp máy 145 MW; nhiệm vụ phát điện

Tuy nhiên, thủy điện Cam Ngọc đã được xem xét, điều chỉnh loại ra khỏi Quy hoạch và thay thế bởi 02 công trình thủy điện Bá Thước 1 và Bá Thước 2 Ngoài ra, bổ sung thêm bậc thang thủy điện Cẩm Thủy 1 vào trong sơ đồ Quy hoạch bậc thang thủy

Ngày đăng: 11/03/2017, 00:39

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w