Mục tiêu nghiên cứu: Vấn đề nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu tìm hiểu và đánh giá thực trạng công tác kiểm soát nội bộ tại các trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai - đơn vị s
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Ở chương một, tác giả nêu lên những vấn đề chủ yếu gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và những đóng góp mà đề tài mang lại
có thể gặp phải khi thực hiện? Ít nhất thì cũng cần biết được tình trạng ban đầu để
có thể xác định khoảng cách phải đi để đạt mục tiêu?
Các đơn vị hành chính sự nghiệp là những đơn vị quản lý hành chính Nhà nước như đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, sự nghiệp khoa học- công nghệ, sự nghiệp kinh tế… hoạt động bằng nguồn kinh phí của Nhà nước cấp, hoặc các nguồn kinh phí khác như thu sự nghiệp, phí, lệ phí, thu từ kết quả hoạt động kinh doanh hay nhận viện trợ biếu tặng theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp để thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho
Các Nghị định của Chính phủ về việc giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập - trong đó có giáo dục - đã tạo hành lang pháp lý giúp cho các đơn
vị sự nghiệp công lập được chủ động hơn trong việc tổ chức, điều hành hoạt động tại đơn vị mình một cách có hiệu quả Hiện nay, các đơn vị sự nghiệp công lập đã được giao khoán kinh phí, biên chế để chủ động trong việc điều hành, thực hiện nhiệm vụ và khoản kinh phí tiết kiệm được sử dụng để tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức Đồng thời, nó cũng đòi hỏi các nhà quản lý không chỉ quan tâm làm nhiệm vụ chuyên môn mà phải chú trọng quản lý về tài chính, biên chế của đơn vị
Để giải quyết các vấn đề nêu trên, nhất thiết cần phải tăng cường công tác kiểm soát nội bộ( viết tắt là KSNB)
Giáo dục và đào tạo (viết tắt là GD&ĐT) là đơn vị hành chính sự nghiệp có đặc điểm là hoạt động bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp hoặc tự trang trải bằng nguồn thu sự nghiệp (thông qua thu học phí của học sinh) Đặc điểm này có
Trang 2ảnh hưởng rất lớn đến công tác kế toán của đơn vị như thanh quyết toán với ngân sách, các khoản thu chi hạch toán có phù hợp với chương, mục lục ngân sách hay không
Hiện nay, trên cả nước có hơn hai ngàn trường trung học phổ thông (viết tắt là THPT) công lập Sự đóng góp của các trường THPT đối với sự nghiệp giáo dục là
vô cùng quan trọng Mặc dù quy mô của trường THPT không phải là quá lớn, các hoạt động không quá nhiều lĩnh vực như ở các trường Đại học, Cao đẳng, nhưng nó cũng có nhiều lĩnh vực nhạy cảm dễ dẫn đến sai sót như: công tác tuyển dụng, tuyển sinh đầu cấp, kế toán thu, chi ngân sách, quản lý và sử dụng tài sản, quản lý điểm số Do đó, nếu không làm tốt công tác KSNB sẽ dẫn đến những sai phạm gây mất
uy tín, mất lòng tin đối với ngành giáo dục, thất thoát tài sản Nhà nước một cách đáng kể
Hoạt động KSNB ở các trường THPT là hoạt động bắt buộc, thường xuyên (được gọi là kiểm tra nội bộ) nhằm tự kiểm tra về tất cả các lĩnh vực hoạt động trong nhà trường như: tài chính, tuyển dụng, tuyển sinh, chuyên môn, quản lý tài sản, cải cách hành chính….Làm tốt công tác KSNB là biện pháp tốt nhất để thực hiện chủ trương tiết kiệm, phòng chống tham ô, lãng phí của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động này còn mang tính hình thức mà chưa được quan tâm thực hiện đúng mức nên hiệu quả đạt được là chưa cao
Để có thể đánh giá được thực trạng hoạt động KSNB ở các trường THPT công lập, qua đó khắc phục những tồn tại nêu trên, nhằm nâng cao vai trò của nhà quản lý trong việc quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nhà trường Tác giả
chọn đề tài “Đo lường các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ ở các trường THPT công lập tại địa bàn Tỉnh Đồng Nai” làm đề tài nghiên cứu là điều
thiết thực, có ý nghĩa đối với các trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Vấn đề nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu tìm hiểu và đánh giá thực trạng công tác kiểm soát nội bộ tại các trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai
- đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập - chỉ ra được những thuận lợi cũng như khó khăn trong quá trình tổ chức và hoạt động của hệ thống KSNB trong nhà trường Qua đó, tác giả phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
Trang 3hệ thống KSNB, nâng cao hiệu quả công tác KSNB, góp phần làm tốt công tác quản
lý các hoạt động tại các trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai
Để đạt mục tiêu cơ bản trên, đề tài sẽ hướng vào nghiên cứu cụ thể những vấn đề sau đây:
1.2.1 Mục tiêu tổng quát:
- Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về KSNB
- Đo lường các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB tại các trường THPT công lập trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2014 - 2016 Trên cơ sở đó, tìm ra những hạn chế, đề xuất những phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB, nâng cao hiệu quả công tác KSNB tại trường THPT công lập trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB, nâng cao hiệu quả công tác KSNB tại các trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu công tác KSNB khu vực công
Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: các trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai + Thời gian nghiên cứu: đề tài được giới hạn giai đoạn trong 03 năm 2014 -
2016
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để tìm hiểu thực trạng hoạt động KSNB trong nhà trường, tác giả đã sử dụng phương pháp định lượng thực hiện qua 2 giai đoạn như sau:
Nghiên cứu sơ bộ
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: áp dụng các lý luận cơ bản về KSNB
Trang 4- Thu thập các quy định liên quan đến các yếu tố thuộc hệ thống KSNB: chính sách đạo đức, những quy định chung của nhà trường, đề án vị trí việc làm (mô tả công việc từng vị trí), đề án chuyển đổi vị trí việc làm
- Sử dụng phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn: gửi bảng câu hỏi hoặc phỏng vấn trực tiếp đến các cá nhân gồm Ban Giám hiệu, giáo viên, nhân viên đã và đang công tác nhằm thu thập thông tin về nhận thức và sự đánh giá của họ đối với các yếu tố của hện thống KSNB Trên cơ sở đó, tác giả
sử dụng đồng bộ các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê, suy luận logic và đối chiếu với thực tế năm 2016, điều chỉnh thang đo và xây dựng bảng câu hỏi hoàn chỉnh cho phần nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu định lượng: nghiên cứu chính thức
Phiếu khảo sát chính thức được gửi cho các cá nhân là Ban Giám hiệu, giáo viên, kế toán, nhân viên đang công tác tại các trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đo lường các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB tại các trường THPT công lập trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai
Xử lý phiếu khảo sát bằng phần mềm SPSS 22.0, gồm các bước:
- Kiểm định thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: không đồng tình đến 5: rất đồng tình) để đo lường mức độ các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB
- Sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để kiểm định độ tin cậy của thang đo
- Phân tích nhân tố EFA để loại bỏ các nhân tố không phù hợp và tiến hành gom nhân tố
- Phân tích hồi qui
- Kiểm định mô hình và cho kết quả
1.5 Đóng góp của đề tài:
Đề tài dự kiến đạt được các kết quả sau:
- Đo lường được các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB tại các trường THPT công lập trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai
- Đề xuất được một số nội dung cải cách hoạt động KSNB nhằm hoàn thiện, nâng cao năng lực quản lý và sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn lực trong nhà trườngTHPT công lập Qua đó, tác giả hy vọng những nội dung được nêu ra
Trang 5trong đề tài này có thể được vận dụng đối với các trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung
1.6 Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm 05 chương với kết cấu như sau:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Giới thiệu chung những vấn đề chủ yếu gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và những đóng góp mà đề tài mang lại
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG TRƯỜNG HỌC
Tổng quan về hệ thống KSNB, các hoạt động KSNB trong trường THPT công lập
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này tập trung vào việc xây dựng các bước nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu định lượng
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Trình bày kết quả điều tra, khảo sát và phân tích số liệu
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Kết luận về vấn đề nghiên cứu và đề xuất một số nội dung nhằm hoàn thiện
hệ thống KSNB, nâng cao hiệu quả công tác KSNB tại các trường THPT trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương một, tác giả đã nêu lý do chọn đề tài nghiên cứu “Đo lường các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ ở các trường Trung học phổ thông công lập tại địa bàn Tỉnh Đồng Nai ” với mục đích đánh giá sự tác động của
các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ ở các trường Trung học phổ thông công lập trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai Qua đó, tác giả đề xuất một số nội dung nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các trường này Đây cũng là biện pháp cần thiết để thực nhiện chủ trương tiết kiệm, phòng chống tham ô, lãng phí của
Trang 6Đảng và Nhà nước ta đồng thời nhằm nâng cao vai trò của nhà quản lý trong việc quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nhà trường
Để thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành khảo sát hoạt động KSNB tại các trường THPT công lập trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai và sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
Kết cấu luận văn bao gồm 5 chương , sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để phân tích số liệu và đưa ra kết quả khảo sát
Trang 7CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ
HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG TRƯỜNG HỌC
2.1 Tổng quan về hệ thống KSNB
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống KSNB
KSNB là một hệ thống biện pháp, thủ tục, chương trình, quy trình, kế hoạch được thiết lập và tổ chức thực hiện tại cơ quan, tổ chức, đơn vị để xác nhận, đánh giá các hoạt động theo chuẩn mực, chế độ quy định, theo mục tiêu, yêu cầu; tư vấn
và có biện pháp tác động nâng cao hiệu quả của quản lý, sử dụng các nguồn lực, hệ thống kiểm soát để đạt được kết quả đã được xác định và phòng tránh rủi ro
Như vậy, KSNB là công cụ chủ yếu mà nhà quản lý thường sử dụng để thực hiện hoạt động kiểm soát nhằm đạt được mục tiêu
Khái niệm KSNB đã phát triển từ chỗ được xem là một phương pháp giúp cho kiểm toán viên độc lập xác định phương pháp hiệu quả nhất trong việc lập kế hoạch kiểm toán đến chỗ được coi là một bộ phận chủ yếu của hệ thống quản lý hữu hiệu trong hơn một thế kỷ qua
Đầu thế kỷ XX, khái niệm KSNB bắt đầu được sử dụng trong các tài liệu về
kiểm toán nhưng nó chỉ được nhắc đến như một “công cụ bảo vệ tiền” khỏi sự biển
thủ của nhân viên
Năm 1929, trong một công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin), thuật ngữ KSNB đã được đề cập chính thức, được định nghĩa là một công cụ bảo vệ tiền và các tài sản khác
Năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA – American Institule of Certified Public Accountants)( 1936) đã mở rộng khái niệm KSNB:
“KSNB…là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và tài sản khác cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách”
Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán
Đến thập niên 1970, KSNB được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết
kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống KSNB và vận dụng trong các cuộc kiểm toán
Trang 8Năm 1977, trong Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài và trong các báo cáo của Cohen Commission và FEI (Financial Executive Institute) đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và KSNB Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC – Securities and Exchange Commission) cũng đưa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống KSNB của tổ chức
Năm 1979, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã thành lập một Ủy ban tư vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ nhằm đưa ra các hướng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB Từ năm 1980 đến 1985, AICPA đã tiến hành sàng lọc, ban hành và sửa đổi các chuẩn mực về sự đánh giá của kiểm toán viên độc lập về KSNB và báo cáo về KSNB Hiệp hội kế toán nội bộ (IIA –Institute of Internal Auditor) cũng ban hành chuẩn mực và hướng dẫn kiểm toán viên nội bộ về bản chất của kiểm soát và vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy trì
và đánh giá hệ thống KSNB
Từ năm 1985 về sau, sự quan tâm tập trung vào KSNB càng mạnh mẽ hơn Năm 1985, Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (Ủy ban Treadway) được thành lập Hội đồng này đã đưa ra một loạt các vấn đề về KSNB, nhấn mạnh tầm quan trọng của mội trường kiểm soát, các quy tắc về đạo đức, các
Ủy ban kiểm toán và chức năng của kiểm toán nội bộ Treadway đã lưu ý rằng có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau liên quan đến KSNB Do vậy, Ủy ban tổ chức đồng bảo trợ (COSO – Committee of Sponsoring Organization) đã được thành lập vào năm 1985 nhằm: nghiên cứu và thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau; cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn nhằm giúp các đơn vị có thể đánh giá hệ thống KSNB để đưa ra giải pháp hoàn thiện Báo cáo COSO năm 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu
lý thuyết về KSNB đã tạo lập một nền tảng lý luận cơ bản về KSNB Đặc biệt, trong báo cáo này, KSNB không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà còn mở rộng ra cho tất cả các phương diện hoạt động và tuân thủ Sau đó, hàng loạt nghiên cứu, phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời như:
Phát triển theo hướng quản trị (2001): dựa trên COSO 1992, COSO nghiên
cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp
Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể
Phát triển theo hướng quốc gia
Trang 9 Phát triển theo hướng công nghệ thông tin
Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập
Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ
Năm 2004, hệ thống KSNB phát triển từ hệ thống KSNB 1992 nhưng đi sâu vào việc kiểm soát rủi ro phù hợp với hệ thống quản trị rủi ro
Năm 2013, INTOSAI tiếp tục được cập nhật và được công bố áp dụng vào năm 2014
Tháng 7/1996, Kiểm toán Nhà nước Việt Nam là thành viên chính thức của
tổ chức INTOSAI
2.1.2 Định nghĩa của KSNB
Báo cáo COSO 1992 định nghĩa “KSNB là một quá trình do người quản lý,
hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây:
Hoạt động có hiệu quả
Báo cáo tài chính Đáng tin cậy
Các luật lệ và quy định được tuân thủ”
Định nghĩa này được hiểu như sau:
KSNB là một quá trình: bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát ở tất cả
các bộ phận, lĩnh vực trong tổ chức, kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Nó luôn luôn tồn tại và phát triển cùng với tổ chức mà không bao giờ chấm dứt, KSNB luôn được thay đổi khi tổ chức thay đổi cho phù hợp với nhu cầu quản lý
KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: KSNB không chỉ là
những chính sách, thủ tục, biểu mẫu mà phải được vận hành bởi con người trong tổ chức: Ban lãnh đạo, các nhân viên là những người vạch ra mục tiêu, xây dựng kế hoạch, thiết lập cơ chế kiểm soát và vận hành chúng nhằm mang đến sự đảm bảo hợp lý rằng tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra
KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: KSNB giúp chống lại rủi ro
tiềm tàng vốn có của con người đang tham gia vào tổ chức Do đó, nhà quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro nhưng họ cần phải có sự lựa chọn phương pháp KSNB phù hợp, hiệu quả, không được để chi phí giảm thiểu vượt quá giá trị của rủi
ro
Trang 102.1.3 Sự cần thiết và lợi ích của KSNB
Một hệ thống KSNB hoàn thiện sẽ giúp cho tổ chức giải quyết mâu thuẫn giữa lao động với người sử dụng lao động một cách có hiệu quả; giảm thiểu nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động sản xuất; bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng mất mát, sử dụng tài sản đúng mục đích; đảm bảo tính chính xác của các báo cáo tài chính, của hoạt động kế toán; đảm bảo mọi thành viên tuân thủ đầy đủ các nội quy, quy định của tổ chức, chấp hành pháp luật của Nhà nước; đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, bảo mật thông tin, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đề ra
2.2 Định nghĩa và mục tiêu của KSNB trong khu vực công
KSNB rất được chú trọng trong khu vực công, nó là đối tượng được kiểm toán viên Nhà nước quan tâm đặc biệt Một số quốc gia như Hoa Kỳ, Canada đã có những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan hành chính sự nghiệp Trong chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO) năm
1999 có đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức hành chính sự nghiệp có năm yếu tố bao gồm: các quy định về môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát
Năm 1953, tại Havana, Cuba, Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI – International Organization of Superme Audit Institutions) được thành lập Năm 1992, bản hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình thành tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho việc thực hiện
và đánh giá KSNB Năm 2001, bản hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI
1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực KSNB cho phù hợp với tất cả các đối tượng, phù hợp với xu thế phát triển gần đây trong KSNB và được công bố năm
2004 (INTOSAI 2004) Điều cần lưu ý trong tài liệu này là đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO 1992 Năm 2013, INTOSAI tiếp tục được cập nhật và được công bố vào năm 2014 (INTOSAI 2013)
2.2.1 Theo INTOSAI năm 1992
Định nghĩa: Căn cứ theo chuẩn mực 9100 & 9140 của INTOSAI (1992) đã
đưa ra định nghĩa KSNB như sau: “KSNB là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận
thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm đảm bảo
sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức”
Mục tiêu: bao gồm
Trang 11- Thúc đẩy hoạt động hữu hiệu, hiệu quả và có kỷ cương cũng như chất lượng của sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhiệm vụ của tổ chức
- Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, lạm dụng, lãng phí, tham ô, vi phạm pháp luật
- Khuyến khích tuân thủ pháp luật, quy định của Nhà nước, của nội bộ
- Xây dựng và duy trì các dữ lệu tài chính và hoạt động, lập báo cáo chính xác, kịp thời
2.2.2 Theo INTOSAI năm 2004
Định nghĩa: Theo INTOSAI (2004): “KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ
được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong đơn vị, quá trình này được thiết lập để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ chung của tổ chức” So với định nghĩa của báo cáo COSO
và hướng dẫn năm 1992, khía cạnh giá trị đạo đức trong hoạt động được thêm vào Mục tiêu của KSNB được nhấn mạnh thêm, đó chính là tầm quan trọng của hành vi đạo đức cũng như ngăn chặn và phát hiện sự gian trá, tham nhũng trong khu vực công Do ở khu vực hành chính công hầu hết các tổ chức, đơn vị đều hoạt động bằng ngân sách Nhà nước Do đó, để đảm bảo ngân sách, tài sản Nhà nước được sử dụng đúng mục đích, tránh thất thoát, lãng phí cần thiết phải có một hệ thống quản
lý, kiểm soát chặt chẽ
Ở khái niệm trên có 5 vấn đề cần chú ý:
- KSNB là một quá trình
- KSNB không phải là từng hoạt động riêng lẻ mà là một chuỗi các hoạt
động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Chính quá trình này là phương tiện giúp các đơn vị đạt được mục đích của mình
- KSNB chịu sự chi phối của con người KSNB được thiết kế và vận hành
bởi con người, từ cấp lãnh đạo cao nhất đến tất cả các thành viên trong đơn vị Chính họ sẽ định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát và vận hành chúng Tuy nhiên, muốn hệ thống KSNB thực sự hữu hiệu thì mỗi thành viên phải hiểu rõ trách nhiệm, quyền hạn của mình
- KSNB được thiết lập để đối phó với rủi ro Việc thực hiện mục tiêu của
đơn vị sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro KSNB sẽ giúp đơn vị nhận diện
Trang 12và đối phó với rủi ro để tối đa hóa khả năng đạt được mục tiêu mà đơn vị
đã đề ra
Mục tiêu: Ở khu vực công, mục tiêu của một đơn vị/tổ chức thường liên
quan đến các dịch vụ công cộng và lợi ích cộng đồng Bao gồm các mục tiêu:
- Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh
tế, hiệu quả và thích hợp
- Thực hiện đúng trách nhiệm, cung cấp và báo cáo các thông tin tài chính
và phi tài chính phù hợp, kịp thời cho các đối tượng bên trong, bên ngoài đơn vị
- Tuân thủ theo luật pháp hiện hành và các nguyên tắc, quy định
- Bảo vệ các nguồn lực, chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất
Mục tiêu của tài liệu này là thiết lập và duy trì KSNB hữu hiệu trong khu vực công Vì vậy, các nhà lãnh đạo của Chính phủ rất quan tâm đến tài liệu này và xem tài liệu này là một nền tảng để thực hiện và giám sát KSNB trong tổ chức
So sánh INTOSAI (1992) với INTOSAI (2004):
Giống nhau: INTOSAI (1992) và INTOAI (2004) có những điểm chung là:
+ Xác định KSNB là một quá trình không thể thiếu của tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu về “tính hữu hiệu và hiệu quả các hoạt động trong đơn vị; tôn trọng pháp luật và các quy định có liên quan; thiết lập và báo cáo các thông tin quản lý, thông tin tái chính đáng tin cậy, kịp thời; bảo vệ
nguồn lực không thất thoát, hư hỏng, sử dụng sai mục đích
+ Xác định KSNB gồm 5 yếu tố: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro,
hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát
Khác nhau:
+ Đối với mục tiêu hoạt động: INTOSAI( 2004) đã đưa vào yếu tố đạo đức INTOSAI( 2004) cho rằng: đạo đức là khi các cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ của mình một cách công tâm, dùng pháp luật, phù hợp với sứ mệnh của tổ chức Đồng thời INTOSAI( 2004) cũng nhấn mạnh vai trò của giá trị đạo đức trong việc phòng chống, phát hiện gian
lận, tham nhũng trong khu vực công
+ Đối với mục tiêu báo cáo: INTOSAI( 2004) nhấn mạnh tầm quan trọng
của việc báo cáo các thông tin phi tài chính
Trang 132.2.3 Theo INTOSAI năm 2013
Trên cơ sở nội dung của INTOSAI ( 2004), INTOSAI( 2013) đã cập nhật và
bổ sung một số nội dung phù hợp với yêu cầu thực tế và tình hình phát triển của xã hội hiện nay
Các vấn đề không thay đổi trong INTOSAI (2013)
+ Vai trò quan trọng của sự xét đoán trong thiết kế, thực hiện, tiến hành KSNB và trong việc đánh giá tính hiệu quả của nó
Các vấn đề được INTOSAI (2013) bổ sung
+ Các nguyên tắc: nguyên tắc phân công, phân nhiệm; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn; KSNB theo quy định của khuôn mẫu (interated framework), nguyên tắc kết nối
+ Hướng dẫn cụ thể KSNB trong môi trường tin học
+ Các phương pháp KSNB: Sự phân chia nhiệm vụ, Lưu dữ liệu, Giám sát hoặc theo dõi, Xử lý thông tin, Xét duyệt giao dịch, Soát xét của ban lãnh đạo, An ninh điện tử, Bảo vệ vật chất
+ Mục tiêu báo cáo có thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, KSNB và biện pháp để giảm thiểu gian lận Từ đó, giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức
+ Biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối với rủi ro đã đánh giá (VSA 330)
2.2.4 Các yếu tố của hệ thống KSNB theo INTOSAI: gồm 5 yếu tố 2.2.4.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát tạo nên một sắc thái chung cho một tổ chức, ảnh hưởng đến ý thức kiểm soát của các thành viên trong tổ chức đó Môi trường kiểm soát là nền tảng cho tất cả các yếu tố khác trong hệ thống KSNB, tạo lập nề nếp kỷ cương, đạo đức, cơ cấu cho tổ chức Nếu thiếu vắng một Môi trường kiểm soát hiệu
Trang 14quả thì bốn thành phần còn lại dù có chất lượng cũng sẽ có tác động rất kém đến hiệu quả KSNB Các nhân tố trong môi trường kiểm soát gồm:
Sự liêm chính và giá trị đạo đức: sự liêm chính và giá trị đạo đức của lãnh
đạo và đội ngũ nhân viên xác định thái độ cư xử chuẩn mực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của họ được thể hiện qua việc tuân thủ các điều lệ, quy
định, đạo đức ứng xử của CB – CC Nhà nước
Năng lực nhân viên: là năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng
thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công Vì vậy, trong quá trình tuyển dụng, nhà quản lý cần phải xây dựng kế hoạch, trong đó xác định
rõ nhu cầu tuyển dụng: số lượng, vị trí, yêu cầu về năng lực chuyên môn, kiến thức, kỹ năng cần thiết cho mỗi vị trí việc làm Bên cạnh đó, đơn vị cũng phải thường xuyên kiểm tra, giám sát cũng như tạo điều kiện cho nhân viên được học tập nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn, học hỏi kinh
nghiệm…
Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo: là tính cách, bản lĩnh, thái độ của
nhà quản lý trong quá trình điều hành hoạt động của tổ chức, đơn vị Một nhà quản lý cần phải hội đủ những yếu tố: dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới và dám chịu trách nhiệm Điều này có ảnh hưởng lớn đến môi trường kiểm soát Nếu nhà quản lý cho rằng KSNB là quan trọng thì những thành viên trong đơn vị, tổ chức cũng sẽ nhận thấy được và toàn tâm xây dựng hệ thống KSNB Còn ngược lại, thì hoạt động KSNB chỉ là hình thức chứ không có ý
nghĩa thực sự
Cơ cấu tổ chức: là sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa các
bộ phận, cá nhân trong một tổ chức, đơn vị giúp cho mỗi thành viên hiểu được nhiệm vụ cụ thể của mình và từng hoạt động của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc hoàn thành mục tiêu chung của toàn đơn vị Một tổ chức, đơn vị có cơ cấu tổ chức phù hợp với năng lực của từng bộ phận, cá nhân sẽ đảm bảo cho hoạt động của toàn đơn vị được thông suốt, hiệu quả Bên cạnh
đó, có thể ngăn ngừa những hành vi vi phạm các quy chế KSNB, loại bỏ những hoạt động không phù hợp có thể gây mất tác dụng của các thủ tục kiểm soát, dẫn đến việc vi phạm, che giấu sai phạm và gian lận
Trang 15Để có thể giúp cho các thành viên trong đơn vị đề ra kế hoạch thực hiện nhiệm vụ và hoàn thành tốt nhiệm vụ, đơn vị cần phải xây dựng và ban hành bằng văn bản Bảng mô tả công việc cụ thể, quy định chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận,
cá nhân
Chính sách nhân sự: là toàn bộ các cách thức quản lý và chế độ của đơn vị
đối với đội ngũ nhân viên bao gồm các hoạt động: tuyển dụng, bồi dưỡng, huấn luyện, đánh giá, thi đua, khen thưởng, kỹ luật, bổ nhiệm, tiền lương, thôi việc … Nhà quản lý chọn những nhân viên có đủ năng lực, kinh nghiệm, đạo đức tốt có ảnh hưởng rất lớn đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm soát, góp phần đảm bảo phát triển năng lực đội ngũ, sự liêm chính và
Môi trường kiểm soát
Năng lực
nhân viên
Triết lý quản
lý và phong cách lãnh đạo
Sự liêm chính
và các giá trị đạo đức
Chính sách
nhân sự
Cơ cấu
tổ chức
Trang 16Nhận diện rủi ro: rủi ro có thể phát sinh từ chính bên trong đơn vị hoặc do
tác động từ bên ngoài, nó phát sinh suốt quá trình hoạt động của đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ của mình Ở khu vực công, việc nhận diện rủi ro là vô cùng cần thiết
để đề phòng những nguy cơ xấu ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao phó, đặc biệt rủi ro gian lận BCTC và tham nhũng đều là những rủi ro cao vì khả năng xuất hiện thường xuyên và gây tổn thất lớn
Đánh giá rủi ro: ước tính được khả năng và mức độ thiệt hại khi rủi ro xãy
ra Việc đánh giá rủi ro phải được thực hiện thường xuyên và phải được điều chỉnh kịp thời, phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh, yêu cầu thực tế như: điều kiện kinh
tế, chế độ, chính sách, luật lệ…Có nhiều phương pháp đánh giá rủi ro tùy theo mỗi loại rủi ro Tuy nhiên, phải đánh giá rủi ro một cách có hệ thống: xây dựng các tiêu chí đánh giá rủi ro, sắp xếp thứ tự các rủi ro, xây dựng và phát triển ma trận rủi ro, dựa vào đó phân bổ các nguồn lực đối phó với rủi ro Việc đánh giá rủi ro chính thức rất hao tốn thời gian
Đối phó với rủi ro:
Có bốn biện pháp đối phó với rủi ro là: phân tán rủi ro, chấp nhận rủi ro, tránh né rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro Trong đa số các trường hợp, rủi ro phải được
xử lý hạn chế, đồng thời đơn vị phải duy trì hoạt động KSNB để có biện pháp thích hợp để giải quyết rủi ro Nếu nhận dạng và đánh giá được rủi ro thì nhà quản lý sẽ
có sự chuẩn bị tốt hơn Các biện pháp xử lý hạn chế rủi ro cần hợp lý do mối liên hệ giữa lợi ích và chi phí
2.2.4.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách, quy định, thủ tục để đảm bảo những chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện nhằm đối phó với rủi ro và đạt được mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị Đó là những chính sách, thủ tục:
- Phân chia nhiệm vụ: mục đích là để các nhân viên kiểm soát lẫn nhau Giao việc kiểm soát, nắm giữ tài sản, ghi chép kế toán cho từng người khác nhau
sẽ giúp ngăn chặn, sai sót so với việc chỉ giao cho một người
- Lưu dữ liệu: việc lưu giữ các hồ sơ đấy đủ, khoa học giúp cho nhà lãnh đạo cung cấp tài liệu và chứng minh các giao dịch một cách đầy đủ, nhanh chóng
Trang 17- Giám sát hoặc theo dõi: giúp chúng ta quan sát, rà soát, xem xét quá trình diễn biến các hoạt động liên tục
- Kiểm soát quá trình xử lý thông tin: nhằm kiểm tra tính xác thực, đầy đủ, mức độ tin cậy và tính đúng đắn của việc phê chuẩn các nghiệp vụ: hệ thống chứng từ, sổ sách, phê duyệt Đồng thời chúng ta kiểm soát được việc truy cập vào dữ liệu, vào tập tin, các chương trình
- Xét duyệt giao dịch: nhằm đảm bảo rằng các giao dịch đã được xem xét và được cấp có thẩm quyền phê chuẩn
- Phân tích rà soát: xem xét lại những nhiệm vụ đã được thực hiện với những nhiệm vụ được đề ra trong kế hoạch, chiến lược của đơn vị Thực hiện rà soát thường giúp nhà quản lý phát hiện những vấn đề bất thường, từ đó có những thay đổi chiến lược, kế hoạch phù hợp, kịp thời
- An ninh điện tử: cung cấp mật khẩu và bản ghi truy cập để bảo vệ dữ liệu và các chương trình không bị truy cập trái phép
- Bảo vệ tài sản (kiểm soát vật chất): định kỳ bắt buộc tiến hành so sánh, đối chiếu giữa sổ sách kế toán và tài sản hiện có trên thực tế; qua đó phát hiện ra những hạn chế và tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó
2.2.4.4 Thông tin và truyền thông:
Trong mỗi đơn vị, thông tin cần phải được thực hiện nhằm phục vụ cho quá trình ra quyết định điều hành mọi hoạt động của đơn vị Thông tin cần phải được ghi chép kịp thời, chính xác, phân loại chuẩn xác các nghiệp vụ một cách có hệ thống và bảo mật Do đó, hệ thống KSNB đòi hỏi các tất cả các nghiệp vụ phải lập chứng từ đầy đủ Thông tin có thể thu thập từ nhiều nguồn: internet, báo đài, các báo cáo của các cơ quan chức năng, từ các nhân viên trong đơn vị, mạng lưới thu thập thông tin do đơn vị tự tổ chức…Thông tin được cung cấp qua hệ thống thông tin, trong đó hệ thống thông tin kế toán là một khâu quan trọng
Truyền thông là một phần của hệ thống thông tin nhưng được nêu ra để nhấn mạnh vai trò của truyền đạt thông tin Truyền thông hữu hiệu là việc truyền đạt thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới hoặc ngược lại, hoặc là sự cung cấp thông tin giữa các bộ phận ngang nhau một cách kịp thời, xuyên suốt quá trình hoạt động của đơn vị Ngoài ra, cũng cần có sự truyền thông hiệu quả từ bên ngoài tổ chức
Trang 182.2.4.5 Giám sát
Hệ thống KSNB cần được giám sát để đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống theo thời gian Đây là quá trình mà nhà quản lý phải xác định việc KSNB có được vận hành đúng quy trình, phát hiện sai sót trong quá trình thực hiện Qua đó, nhà quản lý có sự điều chỉnh phù hợp, kịp thời theo từng giai đoạn, yêu cầu cụ thể
Để hạt động giám sát đạt hiệu quả, cần thực hiện giám sát thường xuyên, giám sát định kỳ hoặc kết hợp cả hai
Giám sát thường xuyên đạt được thông qua việc tiếp nhận các ý kiến của khách hàng, nhà cung cấp, các biến động bất thường…Giám sát thường xuyên được thực hiện trên tất cả các yếu tố của KSNB, liên quan đến việc ngăn chặn và phát hiện tất cả những hiện tượng vi phạm pháp luật, lãng phí, không hiệu quả của hệ thống
Giám sát định kỳ được thực hiện thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ do các kiểm toán viên nội bộ hoặc kiểm toán viên độc lập thực hiện
2.2.5 Những hạn chế tiềm tàng trong hệ thống KSNB
Một hệ thống KSNB dù có được thiết kế và vận hành tốt thế nào đi nữa thì cũng chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý việc đạt được các mục tiêu mong đợi và cũng luôn tiềm tàng những hạn chế như sau:
- Quan hệ giữa lợi ích và chi phí: Yêu cầu thường xuyên và trên hết của nhà quản lý là chi phí bỏ ra cho hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại
do sai sót hay gian lận gây ra
- Sự thông đồng, lạm quyền: hoạt động KSNB được thực hiện bởi con người nên rất khó phát hiện và ngăn chặn sai sót, gian lận nếu nó xuất phát từ sự lạm quyền, sự thông đồng giữa lãnh đạo với nhân viên
- Gian lận trong quản lý: Sự thông đồng của một trong số các thành viên Ban lãnh đạo với nhân viên hay với người khác bên ngoài nhằm để vụ lợi cho cá nhân, gây tổn hại đến tài sản, uy tín của đơn vị
- Những tình huống ngoài dự kiến: thủ tục kiểm soát không còn phù hợp, chỉ chú trọng kiểm soát vào các nghiệp vụ thường xuyên phát sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên
- Vấn đề con người: sự vô ý, bất cẩn, lười biếng, cẩu thả trong ghi chép, nhập liệu, gây sai sót trên sổ sách, BCTC Sự ước tính, dự toán không chính xác
Trang 19trong chi tiêu tài chính, kế toán gây ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị Sự buông lỏng trong quản lý tài chính, tài sản
(Nguồn: INTOSAI (2013))
Hình 2.2: Các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB
Qua tìm hiểu các khái niệm, mục đích, các yếu tố về KSNB, tác giả lựa chọn
sử dụng khái niệm và các yếu tố của hệ thống KSNB theo INTOSAI (2013) làm cơ
sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu của mình là phù hợp với quy mô, tình hình thực
tế của đơn vị bởi vì trong nội dung của INTOSAI (2013) các chuẩn mực KSNB trong khu vực công tập trung hơn váo các chức năng và đặc điểm của các đơn vị Nhà nước, các quy định có tính quy chuẩn hơn là chỉ hướng dẫn
2.3 Đơn vị sự nghiệp giáo dục, hoạt động KSNB trong trường THPT công lập 2.3.1 Đơn vị sự nghiệp giáo dục
Đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân,
có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo được giao quyền tự chủ một phần về thực
hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo tự chủ), là đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo tự bảo đảm chi
thường xuyên ( Theo Nghị định 16/2915,NĐ –CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị
sự nghiệp công lập)
Môi trường kiểm soát
rủi ro
Hoạt động kiểm soát
Thông tin truyền thông
Hệ thống KSNB
Trang 202.3.2 Hoạt động KSNB trong trường THPT công lập
Trường THPT công lập là đơn vị sự nghiệp giáo dục do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các hoạt động chi thường xuyên có
nhiệm vụ thực hiện mục tiêu giáo dục học sinh từ lớp mười đến lớp mười hai( Theo
trường trung học phổ thông nhiều cấp học)
Hoạt động KSNB trong trường THPT chính là hoạt động kiểm tra nội bộ, giám sát, đánh giá trong trường học
Theo Điều 59, Luật Phòng chống tham nhũng quy định về tự kiểm tra nội bộ
“Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm thường xuyên tổ chức kiểm
tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình”
2.3.2.1 Kiểm tra nội bộ trường học:
Là hoạt động xem xét và đánh giá các hoạt động giáo dục, điều kiện dạy – học, giáo dục trong phạm vi nhà trường nhằm mục đích để mỗi cá nhân, bộ phận trong trường học nắm chắc tiến độ và kết quả cần đạt trong phạm vi trách nhiệm của
mình Kiểm tra nội bộ( viết tắt là KTNB) trong trường học là công cụ sắc bén góp
phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể trong nhà trường Công tác KTNB phải được thực hiện bởi từng cá nhân , bộ phận trong trường học dưới sự chỉ đạo của Hiệu trưởng
Hoạt động này được thực hiện theo 2 cấp độ:
+ Các bộ phận, cá nhân kể cả Hiệu trưởng tự kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm
vụ của mình
+ Hiệu trưởng tổng hợp kết quả kiểm tra của các bộ phận, tiến hành kiểm tra kết quả thực hiện các công việc chung, mối quan hệ phối hợp giữa các thành viên, bộ phận và những điều kiện, phương tiên phục vụ dạy học trong nhà trường
Nội dung KTNB trường học bao gồm: Kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo
viên (viết tắt là GV); Kiểm tra hoạt động của khối, tổ chuyên môn; Kiểm tra cơ sở vật chất (viết tắt là CSVC), tài sản trong nhà trường; Kiểm tra tài chính; Kiểm tra
Trang 21hoạt động của bộ phận thư viện, thiết bị; Kiểm tra bộ phận văn thư hành chính; Kiểm tra hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; Tự kiểm tra công tác quản lý của Hiệu trưởng
2.3.2.2 Giám sát trong giáo dục:
Là hoạt động theo dõi quá trình thực hiện các hoạt động giáo dục thông qua việc thường xuyên xem xét, rà soát sự tiến bộ, việc sử dụng các nguồn lực, so sánh với kết quả đầu ra, dựa trên các chỉ số hoạt động và đưa ra các ý kiến phản hồi cho các cấp quản lý và các bên liên quan Giám sát cần thiết cho việc xác định hiệu quả thực hiện các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu lâu dài Giám sát hỗ trợ cho đánh giá Ngoài ra, hoạt động giám sát không chỉ là nhiệm vụ của nhà quản lý mà còn bao gồm hoạt động giám sát ngược từ phía các thành viên trong nhà trường đối với công tác quản lý nhà trường của BGH
Nội dung giám sát trong trường học: Giám sát công tác tuyển dụng, Giám sát công tác tuyển sinh, Giám sát việc phối kết hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội
Với đặc thù trường THPT công lập chịu sự trực tiếp quản lý của Sở GD &
ĐT nên các trường này còn chịu sự giám sát của Sở GD & ĐT
2.3.2.3 Đánh giá trong giáo dục:
Là việc điều tra, xem xét, xác định chất lượng của đối tượng được đánh giá, trên cơ sở thu thập thông tin một cách có hệ thống nhằm hỗ trợ việc ra quyết định
và rút ra bài học kinh nghiệm
2.4 Những công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài:
Thời gian gần đây, cùng với quá trình hội nhập ở nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội đòi hỏi các đơn vị nhà nước, trong đó có các đơn vị sự nghiệp giáo dục, cần phải chú trọng hơn nữa công tác KSNB Vì vậy, trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về KSNB đã được quan tâm ở các đơn vị sự nghiệp công và giáo dục đã được công bố:
- Phan Nam Anh (2013), “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại trường Trung học
chuyên nghiệp Lương thực thực phẩm”, Luận văn thạc sĩ kinh tế Trường Đại học
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: Thông qua việc đánh giá thực trạng hoạt động KSNB tại trường Trung học chuyên nghiệp Lương thực thực phẩm, tác giả đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB ở trường này Đề tài đã nêu
Trang 22được vấn đề vận dụng hệ thống KSNB ở khu vực công, đánh giá và đưa ra nguyên nhân hạn chế của hệ thống KSNB ở đơn vị, có các biểu bảng chi tiết và cụ thể
- Nguyễn Thị Thu Hậu (2014), “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại Trường Đại
học Bạc Liêu”, Luận văn thạc sĩ kinh tế Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí
Minh: nghiên cứu khá kỹ phần lý luận về hệ thống KSNB, cung cấp thêm một số thông tin mới về INTOSAI 2013
- Trần Mạnh Chính (2015), “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại Trường CĐ nghề
LILAMA 2”, Luận văn thạc sĩ kế toán Trường Đại học Lạc Hồng: Nghiên cứu kỹ về
nội dung KSNB theo INTOSAI 2004 và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện
hệ thống KSNB đối với mô hình trường Trung cấp nghề
- Đặng Đình Hải (2015), “Hoàn thiện KSNB đối với quy trình thanh tra tại Sở
Tài Chính Tỉnh Đồng Nai”, Luận văn thạc sĩ kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng:
Vận dụng lý thuyết KSNB theo INTOSAI 2013 Nhận xét được nguyên nhân hạn chế của quy trình thanh tra và đề ra giải pháp hoàn thiện KSNB đối với quy trình thanh tra tại Sở Tài Chính Tỉnh Đồng Nai
- Nguyễn Đức Thọ (2015), “Đổi mới hoạt động KSNB về sử dụng Ngân sách,
tài sản Nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính”, Luận
án Tiến sĩ Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương: đề tài đã tập hợp những khái niệm, lý thuyết về hoạt động KSNB Đặc biệt là khái niệm về Kiểm tra nội bộ,
Tự kiểm tra nội bộ (một hoạt động bắt buộc phải thực hiện tại các trường THPT công lập), các khái niệm về đơn vị hành chính sự nghiệp, một số mô hình hóa dạng
sơ đồ, hình vẽ Những khái niệm mới mang tính tổng hợp, có thể vận dụng vào đề tài nghiên cứu
- Vũ Hữu Đức, “Tăng cường hệ thống KSNB trong các đơn vị thuộc khu vực
công – nhìn từ góc độ kiểm toán Nhà nước”, Báo cáo tại Trường Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh
-Các tác giả bao gồm: Trần Thị Giang Tân (chủ biên), Vũ Hữu Đức, Võ Anh Dũng, Mai Đức Nghĩa, Phạm Thị Ngọc Bích, Dương Minh Châu và Phí Thị Thu Hiền(2012), “Kiểm soát nội bộ”, Nhà xuất bản Phương Đông Sách trình bày về
các nội dung cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ theo khuôn mẫu của COSO, các loại gian lận và biện pháp phòng ngừa, cũng như kiểm soát nội bộ với một số chu trình nghiệp vụ hay tài sản chủ yếu
Trang 23Những công trình nghiên cứu trên đều kế thừa phần lý luận chung, nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB ở khu vực công phù hợp với yêu cầu thực tế của đơn vị Tuy nhiên, các luận văn nêu trên phần lớn chú trọng nghiên cứu vấn đề chủ yếu là KSNB công tác thu, chi ngân sách tại các trường Trung cấp, Cao Đẳng, Đại học, các Sở… nhưng chưa có đề tài nghiên cứu với đối tượng là trường THPT trong khi số lượng các trường THPT công lập trong
cả nước là rất lớn (hơn hai ngàn trường)
Những đề xuất về giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB còn mang tính chung chung, chưa thật sự thiết thực để giúp các đơn vị vận dụng vào việc ngăn ngừa rủi
ro, hạn chế sai sót đến mức thấp nhất, đem đến hiệu quả cao nhất cho các đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục mà Nhà nước đã giao phó Những tài liệu của tác giả nước ngoài chủ yếu là dành cho các hoạt động KSNB ở các doanh nghiệp mà chưa chú trọng đến các hoạt động KSNB ở các đơn vị, cơ quan Nhà nước
Bên cạnh đó, các luận văn cũng đưa ra được một số khái niệm mới về KSNB có thể vận dụng vào quá trình nghiên cứu
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Ở chương hai, tác giả đã trình bày lịch sử hình thành, phát triển của các lý thuyết về KSNB và lý luận về KSNB ở khu vực công theo INTOSAI 1992, INTOSAI 2004 và INTOSAI 2013 Theo đó, hệ thống KSNB được tạo thành bởi 5 yếu tố: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát;Thông tin và truyền thông; Giám sát
Đồng thời, tác giả cũng trình bày đặc thù của trường THPT công lập và hoạt động KSNB trong trường học bao gồm các hoạt động: kiểm tra nội bộ, giám sát, đánh giá trong trường học
Như vậy, việc hiểu rõ và nắm vững nội dung KSNB cũng như hoạt động KSNB trong trường học là nền tảng để nghiên cứu đo lường các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB và đề ra giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại các trường THPT trong Tỉnh Đồng Nai, góp phần làm tốt công tác quản lý và thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường
Trang 24CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương ba, tác giả trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu và các thang đo lường các yếu tố trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, giới hạn đề tài, phương pháp nghiên cứu đã được nêu trong chương một và phần cơ
sở lý luận, mô hình nghiên cứu được giới thiệu trong chương hai
3.1 Đề xuất mô hình và nội dung nghiên cứu ban đầu:
Từ việc nghiên cứu những cơ sở lý luận về INTOSAI 2013, lý luận về hoạt động kiểm tra nội bộ ở trường THPT cũng như những đề tài nghiên cứu có liên quan đã được công bố, tác giả đề xuất mô hình và nội dung nghiên cứu ban đầu gồm các biến như sau:
- Môi trường kiểm soát : BGH quan tâm tạo lập môi trường kiểm soát thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho hệ thống KSNB hoạt động hiệu quả
- Đánh giá rủi ro: là khả năng dự báo, nhận định, và cách thức giải quyết khi
có rủi ro tiềm ẩn Đây là yếu tố cần thiết làm tăng tính hiệu quả của hệ thống KSNB
- Hoạt động kiểm soát: sẽ góp phần cung cấp thông tin xác đáng giúp BGH có
cơ sở để giải quyết vấn đề nãy sinh trong quá trình quản lý nhà trường
- Thông tin & truyền thông: hoạt động tốt- đặc biệt là sự công khai, minh bạch trong tất cả các hoạt động trong nhà trường- sẽ làm nâng cao lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của BGH, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường, thể hiện tính tích cực của hệ thống KSNB
- Giám sát: thể hiện vai trò, trách nhiệm của tất cả các thành viên trong nhà trường Nó góp phần giúp cho hệ thống KSNB ngày càng hoàn thiện
Trên cơ sở sự phát triển của báo cáo COSO từ 1992 đến 2013, hoạt động KSNB phải triển khai đến từng đơn vị, phòng, ban, đảm bảo 3 mục tiêu và 5 bộ phận cấu thành hệ thống KSNB, trong đó bộ phận quan trọng nhất là Môi trường kiểm soát; cùng với nhiệm vụ kiểm tra và giám sát trong trường học theo quy định của ngành giáo dục; qua tìm hiểu hoạt động Kiểm tra nội bộ hàng năm ở một số trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai Tác giả đề xuất nội dung nghiên cứu bao gồm 5 yếu tố cấu thành hệ thống KSNB và yếu tố hiệu quả của hệ thống KSNB, mỗi yếu tố gồm nhiều biến độc lập được đánh giá trên thang đo Likert 5 mức độ lựa chọn (từ 1: không đồng tình đến 5: rất đồng tình)
Trang 25(Nguồn: Mô hình đề xuất của tác giả)
Hình 3.1: Mô hình đề xuất nghiên cứu ban đầu
Công cụ thu thập dữ liệu dùng cho đề tài này là Phiếu khảo sát gồm 23 biến độc lập và 03 biến quan sát được thiết kế và gửi đến các cá nhân là BGH, GV, kế toán, nhân viên đang công tác tại các trường THPT trong Tỉnh Đồng Nai( Phụ lục 2)
Bảng 3.1: Các biến đƣợc sử dụng cho nghiên cứu sơ bộ
1.1 Các giá trị đạo đức được quy định trong bảng Quy chuẩn đạo đức trong nhà trường
1.2 Các điều khoản được quy định cụ thể trong Tiêu chuẩn thi đua hàng năm của CB, GV, NV
Môi trường kiểm soát
Đánh giá rủi ro
Hoạt động kiểm soát
Thông tin truyền thông
Giám sát
Hiệu quả của Hệ thống
KSNB
Trang 261.3 Công khai, minh bạch công tác tuyển dụng nhân sự
1.4 Việc đánh giá năng lực CB, GV, NV hàng năm
1.5 Việc khuyến khích và tạo điều kiện cho CB, GV, NV học tập nâng cao trình
độ
2.1 Sự thận trọng của BGH trong việc xem xét và giải quyết những rủi ro tiềm
ẩn
2.2 Sự cảnh báo của BGH đối với các rủi ro ở các lĩnh vực hoạt động
2.3 Những biện pháp và cách thức ứng phó rủi ro mà BGH đã thực hiện
2.4 Tổ trưởng chuyên môn thường xuyên báo cáo cho BGH về tình hình GV để BGH đưa ra những chỉ đạo kịp thời
3.1 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, chương trình, chấm, trả bài của Tổ
chuyên môn
3.2 Ban Giám hiệu kiên quyết chống gian lận khi tuyển dụng
3.3 Các định mức chi được phổ biến và thống nhất, áp dụng trong nhà trường (Quy chế chi tiêu nội bộ hàng năm)
3.4 Việc mua sắm tài sản được đảm bảo đúng nguyên tắc tài chính, nguyên tắc bất kiêm nhiệm
3.5 Việc kiểm kê tài sản, đối chiếu sổ sách phải được thực hiện hàng năm
3.6 Việc đối chiếu giữa sổ sách với các văn bản quy định của Nhà nước và chứng từ chi tiêu thực tế
4.1 Hoạt động tài chính được công khai thường xuyên và đầy đủ
4.2 Các bộ phận, cá nhân trong trường nhận được thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác
4.3 Hoạt động trang web của trường rất hiệu quả
4.4 Sổ liên lạc điện tử của nhà trường đáp ứng được nhu cầu của PHHS về việc tìm hiểu về kết quả giáo dục của nhà trường
5.1 Kết quả tổ chức kiểm tra chéo giữa các tổ chuyên môn: chính xác, trung
Trang 27thực
5.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ của trường đã tạo điều kiện cho các bộ phận, các
cá nhân giám sát lẫn nhau
5.3 Ban Giám hiệu có thường xuyên thực hiện giám sát các hoạt động trong nhà trường
5.4 Các thành viên tham gia thực hiện kiểm tra, giám sát (Ban Thanh tra nhân dân) là những người có đủ uy tín do Hội đồng giáo dục nhà trường bầu ra
6.1 Các quy định của nhà trường đều hợp lý
6.2 Các quy định của nhà trường đều hiệu quả
6.3 Sự quan tâm của BGH đối việc thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ
Tổng cộng có 26 biến
(Nguồn: tác giả đề xuất)
3.2 Giới thiệu quy trình nghiên cứu:
Quy trình nghiên cứu được tiến hành theo trình tự như sau:
Xác định vấn đề nghiên cứu: “Đo lường các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB ở các trường THPT công lập tại địa bàn Tỉnh Đồng Nai”
Căn cứ vào cơ sở lý thuyết, tổng hợp các nhân tố-các biến quan sát- tác động đến hệ thống KSNB để thiết kế bảng câu hỏi sơ bộ
Trên cơ sở lý luận về KSNB theo INTOSAI 2013 và thực tế hoạt động Kiểm tra nội bộ trường học, tác giả thiết kế bản câu hỏi sơ bộ gồm 26 biến với thang điểm 1- không đồng tình – đến 5 - rất đồng tình - gửi cho
14 người là Hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên đã và đang công tác tại 11 trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai
Thu thập dữ liệu từ Bản câu hỏi sơ bộ Tiến hành xem xét, đánh giá lại
mức độ chính xác, hợp lý, và sự rõ ràng của các câu hỏi Loại bỏ những câu hỏi không hợp lý, không rõ ràng
Thiết kế bản câu hỏi chính thức (Phiếu khảo sát) gồm 22 câu hỏi với
thang điểm 1- không đồng tình – đến 5 - rất đồng tình( Phục lục 3)
Trang 28 Gửi Phiếu khảo sát cho 220 người là Hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên đã
và đang công tác tại 22 trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai.Thu thập dữ liệu
Mã hóa, nhập dữ liệu; làm sạch dữ liệu; thống kê mô tả; phân tích nhân tố
và xây dựng mô hình hồi quy; kiểm định mô hình
Đánh giá kết quả phân tích và đưa ra kết luận
(Nguồn: Quy trình nghiên cứu do tác giả đề xuất)
Hình 3.2: Sơ đồ quy trình nghiên cứu
Xác định vấn đề nghiên cứu
Mã hóa, nhập dữ liệu; làm sạch dữ liệu; thống kê mô tả; phân tích nhân tố và xây dựng mô hình hồi quy;
kiểm định mô hình
Đánh giá kết quả phân tích và đưa ra kết luận
Gửi Phiếu khảo sát cho 220 người là BGH, GV, kế toán đã và đang công tác tại 22 trường THPT công
lập trong Tỉnh Đồng Nai
Khảo sát thử để thu thập dữ liệu
Thiết kế bảng câu hỏi chính thức (Phiếu khảo sát)
Thiết kế bản câu hỏi sơ bộ gửi cho 14 người là Hiệu trưởng, GV, NV đã và đang công tác tại 11 trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai
BGH, GV, kế toán đã và đang công tác tại 11 Nghiên cứu các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB
Trang 293.3 Thiết kế nghiên cứu:
Quá trình nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn:
- Nghiên cứu sơ bộ: nhằm xây dựng bảng câu hỏi
- Nghiên cứu định lượng: nhằm thu thập, phân tích dữ liệu khảo sát, đánh giá
và kiểm định mô hình, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
3.3.1 Nghiên cứu sơ bộ:
Xây dựng bảng hỏi từ nguồn dữ liệu thứ cấp nhằm bước đầu đo lường được các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB tại các trường THPT
Số người tham gia cho nghiên cứu định tính là 14 người là Hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên đã và đang công tác tại 11 trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai với hình thức phỏng vấn trực tiếp, trả lời qua email và trả lời trực tiếp trên bảng hỏi
Từ kết quả nghiên cứu sơ bộ, tiến hành xem xét, đánh giá lại mức độ chính xác, hợp lý, và sự rõ ràng của các câu hỏi Loại bỏ những câu hỏi không hợp lý, không rõ ràng Xây dựng bảng câu hỏi chính thức ( Phiếu khảo sát)
Kết quả nghiên cứu sơ bộ:
Về môi trường kiểm soát:
- Sự liêm chính và giá trị đạo đức của BGH, GV và nhân viên
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy đa số GV có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống tốt, nhận thức đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của bản thân; không có ai không đồng tình hoặc ít đồng tình với việc thực hiện các chuẩn mực đạo đức cũng như các thức kiểm soát và việc xử lý của BGH đối với những hành vi vi phạm
- Đánh giá về năng lực và chính sách nhân sự
Việc tổ chức đánh giá, xếp loại trong thi đua là vô cùng cần thiết nhằm tránh
tư tưởng cào bằng, “bình quân chủ nghĩa” Tuy nhiên với Quy định cách đánh giá
như hiện nay đã tạo áp lực không nhỏ cho không chỉ GV mà còn cho cả BGH
Các tiêu chuẩn thi đua chưa đáp ứng đúng yêu cầu thực tế mà cần phải điều chỉnh, bổ sung kịp thời Ở một số trường, kết quả thi đua cuối năm chưa nhận được
sự đồng tình của tập thể Hội đồng sư phạm
Việc tuyển dụng giáo viên THPT theo hướng giao quyền tự chủ cho hiệu trưởng đã có một số tác động tích cực tới khả năng quản lý của hiệu trưởng và hiệu quả giáo dục của mỗi trường Tuy nhiên, vẫn còn một số Hiệu trưởng chưa thực
Trang 30hiện đúng trách nhiệm của mình: không công khai, minh bạch trong tuyển dụng, tuyển dụng người chưa đúng yêu cầu
- Triết lý quản lý và phong cách điều hành của BGH
Mọi người đều đồng tình với tiêu chí Nội dung và hình thức họp Ban chuyên môn Việc công khai, phổ biến nội dung và kết quả cuộc họp là điều cần thiết để mọi người thực hiện
Đánh giá rủi ro
Sự cảnh báo của BGH đối với các rủi ro ở các lĩnh vực hoạt động chưa đầy
đủ Mặc dù vậy, khi có sự việc xãy ra, BGH cũng đã có biện pháp và cách thức ứng phó rủi ro kịp thời, giải quyết được vấn đề
Về hoạt động kiểm soát
Cách thức quản lý điểm công khai, minh bạch ở hầu hết các trường được đánh giá cao nhất Đứng ở mức độ trung bình là việc kiểm tra giờ giấc lên lớp của
GV, HS và việc kiểm tra giờ dạy, chấm trả bài, tổ chức kiểm tra Đạt kết quả thấp nhất chính là hoạt động Hội giảng và kiểm tra hồ sơ chuyên môn của cá nhân: giáo
án, sổ điểm, sổ dự giờ, sổ chủ nhiệm, sổ họp, phối hợp với PHHS Việc tuyển dụng giáo viên THPT công lập tại tỉnh Đồng Nai trong nhiều năm qua đã theo hướng giao quyền cho Hiệu trưởng là một điều thuận lợi Tuy nhiên, vẫn còn một số Hiệu trưởng chưa thực hiện đúng trách nhiệm của mình: không công khai, minh bạch trong tuyển dụng, tuyển dụng người chưa đúng yêu cầu…dẫn đến dư luận xã hội không tốt
Về hoạt động tài chính: tất cả các trường đều xây dựng và thực hiện Quy chế chi tiêu nội bộ khá tốt Đảm bảo thực hiện đúng và đủ các khoản thu theo quy định
Kế toán thực hiện đầy đủ các báo cáo theo đúng biểu mẫu quy định, có tiến hành đối chiếu với Kho bạc Nhà nước hàng tháng Các khoản thu đều có biên lai, chứng
từ thu cho người nộp Quyết toán thu, số nộp đầy đủ, đối chiếu số thu nhập quỹ đúng với biên lai Hạn chế: Việc thực hiện các khoản thu đa số là do GV chủ nhiệm thu hộ Chưa đảm bảo nguyên tắc “ bất kiêm nhiệm” ở một số trường hợp Trong Quy chế chi tiêu nội bộ còn một số nội dung chi hiện nay vẫn chưa có định mức chi phù hợp, có những định mức cần được quy định chi tiết, cụ thể hơn, cũng có những định mức cần được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế Việc công khai tài chính chưa thực hiện thường xuyên, không đầy đủ
Trang 31 Thông tin và truyền thông
Nhiều người đồng ý cho rằng hoạt động thông tin và truyền thông trong nhà trường đã giúp các bộ phận, cá nhân trong trường nhận được thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác, bên cạnh đó BGH cũng được Tổ trưởng chuyên môn thường xuyên báo cáo về tình hình giáo viên Việc sử dụng các phần mềm cho công tác kế toán,
văn thư, lưu trữ là cần thiết
100% các trường THPT trong Tỉnh Đồng Nai đều có trang web, nhưng thực
tế trang web của nhiều trường còn đơn điệu, chưa cập nhật thông tin kịp thời, thiếu tính hấp dẫn
Thực trạng về giám sát
Việc kiểm tra chéo giữa các tổ chuyên môn vẫn còn tình trạng nể nang, làm qua loa, chưa đánh giá một cách chính xác Ở một số trường, hoạt động KSNB chưa thực sự hiệu quả, còn tình trạng thông đồng, lạm quyền Đạt kết quả đồng tình cao nhất (84,5%) là ý kiến: các thành viên tham gia thực hiện kiểm tra, giám sát (Ban Thanh tra nhân dân) phải là những người có đủ uy tín do Hội đồng giáo dục nhà trường bầu ra
Đóng góp ý kiến của các chuyên gia:
Qua kết quả nghiên cứu và trả lời phỏng vấn, nhiều chuyên gia đã góp ý nên
bỏ bớt một số câu hỏi có nội dung trùng lắp hoặc không cần thiết Do đó, tác giả đã xây dựng lại bảng hỏi gồm 22 câu (19 biến độc lập và 3 biến quan sát)
3.3.2 Nghiên cứu định lƣợng:
Nghiên cứu định lượng nhằm để lượng hóa, đo lường, phản ảnh và diễn giải các mối quan hệ giữa cá nhân tố (các biến) với nhau Trên cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu định tính, tác giả xây dựng Phiếu khảo sát và thang đo phù hợp với đề tài nghiên cứu Phiếu khảo sát được thiết kế gồm 02 phần:
Phần I : Thông tin cá nhân
Gồm những thông tin chung liên quan đến người trả lời câu hỏi Thang đo được sử dụng là thang đo định danh
Phần II: Thông tin cụ thể
Gồm những câu hỏi liên quan đến 05 yếu tố cấu thành hệ thống KSNB:
- Môi trường kiểm soát
- Đánh giá rủi ro
Trang 32- Hoạt động kiểm soát
- Thông tin và truyền thông
- Giám sát
và một số câu hỏi về hiệu quả của hệ thống KSNB
Thang đo được sử dụng là thang đo Likert 5 điểm : từ ít đồng tình đến rất đồng tình để đo lường các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB tại các trường THPT công lập
Phân tích dữ liệu:
Phiếu khảo sát được xây dựng chủ yếu trên thang đo Likert 5 điểm: từ ít đồng tình đến rất đồng tình để đo lường các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB tại các trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai Sau đó, sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để kiểm định độ tin cậy của thang đo Tiếp đến, phân tích nhân EFA nhằm loại bỏ các nhân tố rác và gom nhân tố, xây dựng mô hình hồi quy đa biến Cuối cùng, đánh giá độ mạnh của từng nhân tố và cho kết luận dựa trên số liệu thống kê
Chọn mẫu nghiên cứu:
Theo Nguyễn Đình Thọ (2011, Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, nhà xuất bản Lao động xã hội, trang 189): Trong nghiên cứu định lượng, mẫu thường có kích thước lớn và được chọn theo phương pháp xác suất để có thể đại diện được cho đám đông cần nghiên cứu
Theo Bollen (1989, trích dẫn Nguyễn Đình Thọ, 2008, trang 118), để kiểm định mô hình nghiên cứu, kích thước mẫu được chọn dựa theo quy luật năm mẫu cho một tham số cần ước lượng Như vậy, với 22 mẫu quan sát thì kích thước mẫu tối thiểu phải là 22 x 5 = 110
Do số lượng trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai khá nhiều và ở rải rác các huyện (42 trường), nên để có kết quả chính xác và khách quan nhất, tác giả quyết định số lượng mẫu phải từ 150 mẫu trở lên Để có thể đảm bảo số mẫu thu về đạt cả về số lượng lẫn chất lượng, tác giả phát ra 220 mẫu đến 22 trường (bình quân
10 mẫu một trường)
Thu thập dữ liệu:
Những mẫu đạt yêu cầu, hợp lệ là những mẫu trả lời đầy đủ các câu hỏi và đúng quy định có trong Phiếu khảo sát Với 220 mẫu đã phát ra, sau khi thu về và
Trang 33sàng lọc loại bỏ các phiếu không hợp lệ, số mẫu đạt yêu cầu là 173 mẫu (tỷ lệ 76,64%) Việc thu thập mẫu được tiến hành theo nhiều cách thức thuận lợi nhất
Phân tích dữ liệu sau khi thu thập mẫu:
Việc phân tích dữ liệu sau khi thu thập mẫu được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Phiếu khảo sát được phát cho các Hiệu trưởng, giáo viên, kế toán,
nhân viên đã và đang công tác tại 22/42 trường THPT công lập trong Tỉnh Đồng Nai Sau khi thu thập, các Phiếu khảo sát được kiểm tra lại và loại bỏ những phiếu không hợp lệ Kế tiếp, sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để tiến hành mã hóa các biến quan sát, nhập liệu và làm sạch dữ liệu, tiến hành thống kê, phân tích dữ liệu đã thu thập được
Bước 2: Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach alpha, các
biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại, tiêu chuẩn để chọn thang đo là khi giá trị Cronbach alpha lớn hơn hoặc bằng 0.6
Bước 3: Sử dụng phân tích nhân tố EFA nhằm xác định các nhân tố và biến
quan sát giải thích cho nhân tố và biến quan sát được chọn là biến có hệ số tải nhân
tố lớn hơn hoặc bằng 0.45; kiểm định KMO với 0.5 < KMO <1 với mức ý nghĩa 90%
Bước 4: Xây dựng mô hình hồi quy đa biến Trên cơ sở đó, đánh giá độ
mạnh của từng nhân tố và đưa ra kết luận dựa trên các số liệu thống kê
3.4 Xây dựng thang đo:
Thang Likert (Likert 1932) là loại thang đo trong đó một chuỗi các phát biểu liên quan đến thái độ trong câu hỏi được nêu ra và người trả lời sẽ chọn một trong các trả lời đó Thang đo Likert thường được dùng để đo lường mức độ đồng ý của đối tượng nghiên cứu Do đó, tác giả lựa chọn thang đo Likert 5 điểm (từ 1- không đồng tình - đến 5 - rất đồng tình) để xây dựng Phiếu khảo sát là phù hợp với đề tài
nghiên cứu “Đo lường các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB ở các trường THPT công lập tại địa bàn Tỉnh Đồng Nai”
Trang 34Bảng 3.2 : Ký hiệu các biến
Ký hiệu
biến
Các yếu tố
Môi trường kiểm soát
M1 1 Các giá trị đạo đức được quy định trong bảng Quy chuẩn đạo đức trong
nhà trường
M 2 2 Các điều khoản được quy định cụ thể trong Tiêu chuẩn thi đua hàng
năm của CB, GV, NV
M 3 3 Công khai, minh bạch công tác tuyển dụng nhân sự
M 4 4 Việc khuyến khích và tạo điều kiện cho CB, GV, NV học tập nâng cao
trình độ
Đánh giá rủi ro
D 1 5 Sự thận trọng của BGH trong việc xem xét và giải quyết những rủi ro
tiềm ẩn
D 2 6 Sự cảnh báo của BGH đối với các rủi ro ở các lĩnh vực hoạt động
D 3 7 Những biện pháp và cách thức ứng phó rủi ro mà BGH đã thực hiện
D 4 8 Tổ trưởng chuyên môn thường xuyên báo cáo cho BGH về tình hình
giáo viên để BGH đưa ra những chỉ đạo kịp thời
Hoạt động kiểm soát
H1 9 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, chương trình, chấm, trả bài của Tổ
chuyên môn
H2 10 Ban Giám hiệu kiên quyết chống gian lận khi tuyển dụng
H3 11 Các định mức chi được phổ biến và thống nhất, áp dụng trong nhà
trường (Quy chế chi tiêu nội bộ hàng năm)
H4 12 Việc mua sắm tài sản được đảm bảo đúng nguyên tắc tài chính,
nguyên tắc bất kiêm nhiệm
H5 13 Việc kiểm kê tài sản, đối chiếu sổ sách phải được thực hiện hàng năm
Thông tin và truyền thông
T1 14 Hoạt động tài chính được công khai thường xuyên và đầy đủ
T2 15 Các bộ phận, cá nhân trong trường nhận được thông tin cần thiết, kịp
thời, chính xác
T3 16 Hoạt động trang web của trường rất hiệu quả
Giám sát
G1 17 Hệ thống kiểm soát nội bộ của trường đã tạo điều kiện cho các bộ
phận, các cá nhân giám sát lẫn nhau
G2 18 Ban Giám hiệu có thường xuyên thực hiện giám sát các hoạt động
trong nhà trường
G3 19 Các thành viên tham gia thực hiện kiểm tra, giám sát (Ban Thanh tra
nhân dân) là những người có đủ uy tín do Hội đồng giáo dục nhà trường bầu ra
Trang 35Hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả
K1 20 Các quy định của nhà trường đều hợp lý
K2 21 Các quy định của nhà trường đều hiệu quả
K3 22 Sự quan tâm của BGH đối việc thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ
(Nguồn: Tác giả)
3.5 Sơ lƣợc lý thuyết về nghiên cứu định lƣợng
Theo tài liệu của Nguyễn Đình Thọ (2011, Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, nhà xuất bản Lao động xã hội) và tài liệu của Hoàng Trọng
lường có hệ số tương quan của biến – tổng lớn hơn hoặc bằng 0,3 thì biến đó đạt yêu cầu Nếu r = 1 thì hai biến đo này chỉ là một, chúng ta chỉ cần một trong hai biến là đủ Vì vậy, một thang đo có độ tin cậy tốt là khi nó biến thiên trong khoảng [0,7 – 0,8] Nếu Cronbach alpha lớn hơn hoặc bằng 0,6 là thang đo có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy được (Nunnally & Bernstein 1994)
3.5.2 Phân tích nhân tố EFA
Theo Nguyễn Đình Thọ (2011), phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) giúp chúng ta đánh giá hai loại giá trị quan
trọng của thang đo là giá trị hội tụ và giá trị phân biệt
Phương pháp phân tích EFA thuộc nhóm phân tích đa biến phụ thuộc lẫn nhau (interdependence techniques), nghĩa là không có biến phụ thuộc và biến độc lập mà nó dựa vào mối tương quan giữa các biến với nhau EFA dùng để rút gọn một tập k biến quan sát thành một tập F(F < k) các nhân tố có ý nghĩa hơn
Phân tích nhân tố được thực hiện theo phương pháp rút trích các thành phần chính – Principal Components, chỉ trích xuất các nhân tố theo tiêu chí eigenvalue là một tiêu chí sử dụng phổ biến trong xác định số lượng nhân tố trong phân tích EFA Với tiêu
Trang 36chí này, số lượng nhân tố được xác định ở nhân tố có eigenvalue tối thiểu bằng 1 (vì những nhân tố có eigenvalue nhỏ hơn 1 sẽ không có tác dụng tóm tắt thông tin tốt hơn một biến gốc, do sau khi chuẩn hóa mỗi biến gốc có phương sai là 1)
Để cho kết quả có ý nghĩa hơn, tác giả sử dụng phép xoay nguyên góc Varimax để tối thiểu hóa số lượng biến có hệ số lớn tại cùng một nhân tố nên sẽ tăng cường khả năng giải thích các nhân tố, biến quan sát được chọn là biến có hệ
số tải nhân tố (Loading factor) lớn hơn hoặc bằng 0,45 Hệ số này cho biết mỗi mục hỏi “ thuộc về ” nhân tố chủ yếu nào
Một số tiêu chí đánh giá mối quan hệ giữa các biến khi phân tích EFA:
Kiểm định Bartlett (Barlett’s test of sphericity): dùng để xem xét giả thuyết
các biến không có tương quan trong tổng thể (H0) Điều kiện cần để áp dụng phân tích nhân tố là các biến phải có tương quan với nhau Nếu giả thuyết H0 không được bác bỏ thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp
Kiểm định KMO (Kaiser – Meyer – Olkin measure of sampling adequacy):để
sử dụng EFA, KMO phải lớn hơn 0,5
0,5 < KMO < 1 và mức ý nghĩa 90%
Phân tích nhân tố được thực hiện lần lượt cho từng nhóm biến quan sát nhằm giúp cho việc nhận ra một tập hợp gồm một số ít các biến nổi trội từ một tập hợp
có nhiều biến để sử dụng trong phân tích hồi quy
3.5.3 Phân tích hồi quy:
Nội dung phần này là tóm tắt các bước thực hiện bài toán hồi quy Trong đó
có nhắc đến phần hồi quy đơn biến nhằm làm rõ quá trình phân tích
3.5.3.1 Hệ số tương quan:
Công cụ hữu ích có thể giúp cho chúng ta thấy nhiều loại liên hệ giữa hai biến ta đang khảo sát là đồ thị phân tán Một số dạng thường gặp giữa hai biến định lượng
Giá trị r = 0 khi hai biến không có liên hệ tuyến tính
Trị tuyệt đối của r = 1 khi tất cả các điểm phân tán xếp thành một đường thẳng
Giá trị r có thể âm hoặc dương, trị tuyệt đối của r tiến gần đến 1 khi hai biến
có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ
Trang 37Hệ số tương quan Pearson (ký hiệu là r) là hệ số thống kê dùng để lượng hóa mức độ chặt chẽ của mối liên hệ tuyến tính giữa hai biến định lượng Công thức tính hệ số tương quan mẫu như sau:
∑ ̅ ̅
√∑ ̅ ∑ ̅
Trong đó:
- r : hệ số tương quan ( 1≤ r ≤ 1)
- x : giá trị hệ số nguyên nhân
- y : giá trị hệ số kết quả
- ̅: giá trị trung bình biến nguyên nhân
- ̅: giá trị trung bình biến kết quả
- N : độ lớn mẫu
Giá trị r giữa hai biến có thể là rất thấp nhưng chưa hẳn hai biến đó hoàn toàn không có mối liên hệ mà có thể nó có dạng liên quan khác như liên hệ phi tuyến
Giá trị r có thể là rất cao, có khi gần bằng 1 Nhưng thực tế không có sự liên quan nào, người ta gọi đó là sự tương quan giả
Như vậy, hệ số tương quan chỉ được coi là một chỉ số nói lên sự liên hệ chặt chẽ giữa các biến
Phân tích hồi quy trước hết là đo mức độ tuyến tính giữa hai biến, nhằm ước lượng hay dự báo một biến trên cơ sở giá trị đã cho của một biến khác Về mặt kỹ thuật, trong phân tích hồi quy, các biến không có tính chất đối xứng Biến phụ thuộc
là đại lượng ngẫu nhiên, biến giải thích là phi ngẫu nhiên, giá trị của chúng đã được xác định
3.5.3.2 Hồi quy tuyến tính đơn
- Xây dựng mô hình của hồi quy tuyến tính đơn:
Mô hình hồi quy tuyến tính đơn giản (gọi tắt là hồi quy đơn hay SLR) là mô hình xem xét mối quan hệ giữa hai biến: biến độc lập X và biến phụ thuộc Y được biểu diễn ở dạng sau:
Yi = +
Trang 38Trong đó:
- Yi là giá trị của Y tại quan sát thứ i, i= 1,2, N (N là kích thước đám đông)
- : giá trị của biến độc lập X tại quan sát thứ i
- là sai số (error) tại quan sát thứ i, nghĩa là những giải thích khác cho Y ngoài X, trong đó bao gồm các biến độc lập khác (không hiện diện trong mô hình) và sai số, ví dụ như sai số đo lường
- là hằng số hồi quy
- là trọng số hồi quy
Mối quan hệ giữa X và Y là mối quan hệ thống kê Nếu = 0, mối quan hệ giữa X và Y là mối quan hệ hàm số hay quan hệ xác định và phần
Yi = được gọi là phần cấu trúc của mô hình
Xét mối liên hệ giữa một biến phụ thuộc và một biến độc lập Mô hình được xây dựng từ dữ liệu mẫu có dạng đường thẳng như sau:
̂ Trong đó:
- : giá trị của biến độc lập X tại quan sát thứ i
- ̂ : Giá trị dự đoán (giá trị lý thuyết) thứ I của biến phụ thuộc, dấu ^ đại diện cho giá trị dự đoán
- và : là hệ số hồi quy Phương pháp dùng để xác định (tung độ
của vị trí tại đó đường thẳng cắt trục tung) và (độ dốc) là phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS – Ordinary Least Square) Nghĩa là ta phải tìm ̂ sao chó nó càng gần với giá trị thực Yi càng tốt
- Đánh giá độ phù hợp của mô hình:
Đánh giá độ phù hợp của mô hình nhằm chứng minh sự phù hợp của mô hình Người ta dùng hệ số xác định (Coerricient or Determination) để biết mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp đến mức độ nào:
0 ≤ ≤ 1 Trong đó:
- (Sum of Squares explained by Regression) là tổng bình phương của tất cả các sai lệch giữa giá trị của biến Y tính theo hàm hồi quy mẫu với giá trị trung bình Phần này đo độ chính xác của hàm hồi quy
Trang 39- (Total Sum of Squares) là tổng bình phương của tất cả các sai lệch
giữa giá trị quan sát Yi với giá trị trung bình của chúng
= + ( : biến thiên sai số)
Nếu = 1: đường hồi quy hoàn toàn phù hợp, nghĩa là tất cả sai lệch của Y (so với giá trị trung bình) đều giải thích được bởi mô hình hồi quy
Nếu = 0: các biến X và Y không có quan hệ
càng lớn hơn : hàm hồi quy mẫu phù hợp tốt với các số liệu quan sát
Nếu tất cả các giá trị quan sát của Yi đều nằm trên đường hồi quy ̂ thì
= , do đó = 0 Ngược lại nếu càng lớn hơn thì hàm hồi quy mẫu kém phù hợp với các số liệu quan sát
- Kiểm định các giả thiết: được tiến hành theo hai bước
- Kiểm định các giả thiết về độ phù hợp của mô hình (phân tích phương sai): sau khi xây dựng xong mô hình hồi quy tuyến tính ta cần xem xét độ
phù hợp của mô hình đối với tập dữ liệu qua giá trị với giả thiết = 0 Nếu sau khi kiểm định, ta có đủ bằng chứng bác bỏ giả thiết H0: = 0
ta kết luận mô hình hồi quy tuyến tính được xây dựng phù hợp với tổng thể Đại lượng F được sử dụng cho kiểm định này Nếu xác suất F nhỏ thì giả thuyết bị bác bỏ Trong SPSS, số liệu F được lấy từ bảng phân tích phương sai ANOVA (a):
- Kiểm định các giả thiết về ý nghĩa của hệ số hồi quy:
Cho dù mô hình tuyến tính mẫu xây dựng được có giá trị độ dốc ≠ 0, nhưng ta chưa thể chắc chắn độ dốc của mô hình tổng thể khác 0 Vì vậy, ta phải làm kiểm định để có kết luận về β1 Giả thuyết dùng để kiểm định giả thiết này là
H0: β1 = 0, ta kỳ vọng giả thuyết này sẽ bị bác bỏ vì nếu β1 = 0, nghĩa là Y độc lập với X Do đó, mối quan hệ tương quan tuyến tính ta nhận thấy ở mẫu xãy ra là do ngẫu nhiên, mô hình hồi quy tuyến tính ta xây dựng được dựa trên một mối quan hệ
“giả ” giữa hai biến
Trị thống kê dùng để kiểm định giả thiết là: t =
Trang 40
3.5.3.3 Mô hình hồi quy tuyến tính bội
Mô hình hồi quy bội mở rộng mô hình hồi quy hai biến bằng cách thêm vào một số biến độc lập để giải thích tốt hơn cho biến phụ thuộc Mô hình này có dạng như sau:
= β 0 + β 1 X 1i + β 2 X 2i + β k X ki +……+β p X pi +
Trong đó :
- X pi: biểu hiện giá trị của biến độc lập thứ p tại quan sát thứ i
- Β k : hệ số hồi quy riêng phần, k = 1,2,3 ,p
Một giả định quan trọng đối với mô hình hồi quy tuyến tính là không có biến giải thích nào có thể được biểu thị dưới dạng tổ hợp tuyến tính với những biến giải thích còn lại Nếu tồn tại một quan hệ tuyến tính như vậy, khi đó xãy ra hiện tượng
đa cộng tuyến
- Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình:
Để đánh giá mức độ phù hợp của mô hình, chúng ta cũng dựa vào hệ số xác định Khi đưa vào mô hình càng nhiều biến nguyên nhân thì hệ số càng tăng Nhưng thực tế cho thấy, khi số biến nguyên nhân tăng chưa hẳn mô hình càng phù hợp Do đó, với mô hình hồi quy tuyến tính bội người ta xét độ phù hợp của mô hình thông qua giá trị Giá trị điều chỉnh này không nhất thiết tăng cao gần 1 khi ta thêm vào mô hình nhiều biến hơn vì nó không phụ thuộc vào
độ lệch phóng đại của điều chỉnh được tính như sau:
= - p(1- /( N-p-1)
N-p-1 : là bậc tự do
P: là biến số độc lập trong phương trình (trong mô hình hồi quy đơn, p=1) Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình chính là xem xét tất cả các biến nguyên nhân có liên hệ với biến kết quả hay không thông qua kiểm định giả thuyết H0: β0 =
β1 = β2 = 0, khi giả thuyết H0 bị bác bỏ thì ta kết luận độ phù hợp trong mô hình giải thích được biến khảo sát
- Xét hệ số beta riêng phần cho mô hình
Đây là kiểm định t với giả thuyết H0: Các độ dốc lần lượt bằng không
Hệ số này nói lên sự tác động riêng của một biến nguyên nhân nào đó vào biến kết quả khi các biến nguyên nhân còn lại không có sự thay đổi,