Về mặt thực ti n: Qua tìm hiểu thông tin từ dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp, đề tài đã phản ánh thực trạng công tác KTTN tại Công ty Cổ phần ô tô Trường Hải như đặc điểm tổ chức, phân
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
- -
NGUYỄN THỊ HỒNG
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ TRƯỜNG HẢI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đồng Nai, Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
- -
NGUYỄN THỊ HỒNG
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ TRƯỜNG HẢI
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.PHAN ĐỨC DŨNG
Đồng Nai, Năm 2016
Trang 3Để bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn, Tác giả xin kính gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy PGS.TS Phan Đức Dũng, giảng viên khoa kế toán – kiểm toán của Trường Đại học Kinh Tế - Luật đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả tìm ra hướng nghiên cứu, tiếp cận thực tế, xử lý và phân tích số liệu …để giải quyết vấn
đề Nhờ đó mà tác giả mới có thể hoàn thành đề tài này
Đồng thời tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, quý Thầy, Cô khoa sau Đại học – Trường Đại học Lạc Hồng đã hỗ trợ giúp đỡ tác giả trong suốt hai năm học vừa qua
Và tác giả xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo công ty cổ phần ô tô Trường Hải, cùng tất cả các anh, chị đồng nghiệp đã tận tình hợp tác, chia sẻ thông tin trong việc tham gia trả lời bảng câu hỏi khảo sát, cũng như giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu và tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài đang nghiên cứu
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành khóa học cũng như trong suốt quá trình làm luận văn
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng của quý Thầy, Cô và các anh chị học viên
Trân trọng Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài: “ Hoàn thiện tổ chức kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ phần Ô tô Trường Hải” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của Thầy PGS.TS Phan Đức Dũng
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Đồng Nai, tháng 07 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng
Trang 5Về mặt thực ti n: Qua tìm hiểu thông tin từ dữ liệu thứ cấp và dữ liệu
sơ cấp, đề tài đã phản ánh thực trạng công tác KTTN tại Công ty Cổ phần ô
tô Trường Hải như đặc điểm tổ chức, phân cấp quản lý, các chỉ tiêu sử dụng đánh giá trung tâm trách nhiệm, khảo sát đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu đến hệ thống KTTN Từ đó đánh giá những mặt đạt được và những mặt còn hạn chế trong công tác tổ chức KTTN
Căn cứ vào thực trạng công tác KTTN, đề tài đã đưa ra một số giải pháp, kiến nghị giúp hoàn thiện, tổ chức mô hình kế toán trách nhiệm phù hợp với đặc điểm kinh doanh của công ty Cổ phần ô tô Trường Hải, nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị đánh giá hiệu quả và trách nhiệm quản lý của các trung tâm trách nhiệm góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
Trang 6MỤC LỤC
Trang bìa phụ i
Lời cảm ơn ii
Lời cam đoan iii
Tóm tắt iv
Mục lục v
Danh mục các thuật ngữ viết tắt ix
Danh mục các bảng xi
Danh mục các biểu xii
Danh mục các sơ đồ xiii
Phần mở đầu 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan đề tài 2
2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 2
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Ý ngh a khoa học của luận văn 10
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 13
1.1 Bản chất, vai trò và nhiệm vụ của kế toán trách nhiệm 13
1.1.1 Bản chất của kế toán trách nhiệm 13
1.1.2 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp 16
1.2 Sự phân cấp quản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm 17
1.2.1 Sự phân cấp quản lý 17
1.2.2 Thuận lợi và khó khăn trong sự phân cấp quản lý 17
1.3 Hệ thống kế toán trách nhiệm trong mối quan hệ với cơ cấu tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh 18
1.3.1 Về phân cấp quản lý 18
Trang 71.3.2 Các trung tâm trách nhiệm 20
1.4 Đánh giá thành quả các trung tâm trách nhiệm 22
1.4.1 Đánh giá thành quả của trung tâm chi phí 22
1.4.2 Đánh giá trách nhiệm của trung tâm doanh thu 23
1.4.3 Đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận 25
1.4.4 Đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư 27
1.4.4.1 Chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI – Return on investment) 27
1.4.4.2 Chỉ tiêu lợi nhuận còn lại ( RI – Residual income) 27
1.5 Một số lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu kế toán trách nhiệm 28
1.5.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 28
1.5.2 Lý thuyết chủ sở hữu (Proprietary Theory) 29
1.5.3 Lý thuyết phân tích chi phí - lợi ích (Cost Benefit Analysis – CBA) 30
1.5.4 Lý thuyết công nghệ thông tin (Information Technology ) 31
1.5.5 Lý thuyết dự phòng 32
Kết luận chương 1 32
CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN Ô TÔ TRƯỜNG HẢI 34
2.1 Khái quát về Công ty cổ phần ô tô Trường Hải 34
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần ô tô Trường Hải 34
2.1.1.1 Thông tin chung về công ty cổ phần ô tô Trường Hải 34
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần ô tô Trường Hải 34
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Công ty 35
2.1.2.1 Chức năng của Công ty 35
2.1.2.2 Đặc điểm về bộ máy tổ chức quản lý của Công ty 36
2.1.3 Đặc điểm kinh doanh của công ty cổ phần ô tô Trường Hải 38
2.2 Thực trạng công tác kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần ô tô Trường Hải 40
2.2.1 Đặc điểm cơ cấu tổ chức và phân cấp quản lý tại công ty CP Ô tô
Trường Hải 40
2.2.2 Thực trạng công tác tổ chức kế toán tại công ty cổ phần ô tô Trường Hải 44
2.2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán tài chính tại tại công ty CP Ô tô Trường Hải 44
2.2.2.2 Chính sách kế toán áp dụng tại công ty 47
Trang 82.2.3 Thực trạng vận dụng các phương pháp kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ phần
Ô tô Trường Hải 48
2.2.3.1 Hệ thống định mức dự toán 48
2.2.3.2 Hệ thống chứng từ, sổ sách, báo cáo kế toán 48
2.2.4 Thực trạng kế toán trách nhiệm các trung tâm trách nhiệm tại công ty cổ phần ô tô Trường Hải 49
2.2.4.1 Trung tâm đầu tư 49
2.2.4.2 Trung tâm lợi nhuận 51
2.2.4.3 Trung tâm doanh thu 55
2.2.4.4 Trung tâm chi phí 57
2.3 Thực trạng mức độ ảnh hưởng của kế toán trách nhiệm đối với công ty Cổ phần Ô tô Trường Hải thông qua quá trình khảo sát thống kê mô tả 60
2.3.1 Kết quả khảo sát phần 1: Thông tin chung 60
2.3.2 Kết quả khảo sát phần 2: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại doanh nghiệp 65
2.3.2.1 Kiểm định Cronbach's Alpha 65
2.3.2.2 Phân tích kết quả khảo sát mức độ ảnh hưởng của các thông tin liên quan đến trung tâm trách nhiệm 65
2.4 Đánh giá thực trạng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty 67
2.4.1 Ưu điểm 67
2.4.2 Nhược điểm 68
Kết luận chương 2 71
CHƯƠNG 3 - CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN Ô TÔ TRƯỜNG HẢI 72
3.1 Quan điểm hoàn thiện kế toán trách nhiệm 72
3.1.1 Phù hợp với mô hình quản lý 72
3.1.2 Phù hợp với yêu cầu và trình độ quản lý của công ty 72
3.1.3 Phù hợp và hài hòa giữa chi phí và lợi ích 72
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần ô tô Trường Hải 733
3.2.1 Về việc phân cấp quản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm 73
3.2.2 Nâng cao năng lực hệ thống nhân sự 73
3.3 Giải pháp hoàn thiện các chỉ tiêu được sử dụng tại trung tâm 75
Trang 93.3.1 Về hệ thống dự toán 75
3.3.2 Giải pháp hoàn thiện các chỉ tiêu và báo cáo đánh giá thành quả tại các trung tâm trách nhiệm 75
3.3.2.1 Hoàn thiện các chỉ tiêu tại trung tâm chi phí 75
3.3.2.2 Hoàn thiện các chỉ tiêu tại trung tâm doanh thu 77
3.3.2.3 Hoàn thiện chỉ tiêu báo cáo đánh giá thành quả tại trung tâm lợi nhuận 80
3.3.2.4 Hoàn thiện chỉ tiêu báo cáo đánh giá thành quả trách nhiệm tại trung tâm đầu tư 81
3.4 Một số kiến nghị 82
3.4.1 Đối với Nhà nước 82
3.4.2 Đối với tổng công ty 82
3.4.3 Đối với các cơ sở đào tạo 83
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN 85 Tài liệu Tham khảo
Phụ lục
Trang 10DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
5 CPNCTT Chi phí nhân công trực tiếp
6 CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
15 ĐT - XDCB Đầu tư – xây dựng cơ bản
16 ĐT KD KCN Đầu tư kinh doanh khu công nghiệp
17 ĐT XD DV KCN Đầu tư xây dựng dịch vụ khu công nghiệp
Trang 1131 KTTC Kế toán tài chính
35 NM SX&LR Nhà máy sản xuất và lắp ráp
38 ROImm Tỉ lệ hoàn vốn đầu tư mong muốn
Trang 12DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng báo cáo thành quả của trung tâm chi phí 23
Bảng 1.2: Báo cáo thành quả doanh thu trong trường hợp nhà quản trị trung tâm doanh thu không được quyền định giá bán 24
Bảng 1.3: Báo cáo kết quả kinh doanh của trung tâm lợi nhuận 26
Bảng 2.1: Cơ cấu cổ đông mới sau khi thực hiện đầu tư 41
Bảng 2.2: Bảng tính EVA và ROI tại Thaco qua các năm 51
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu tài chính đánh giá trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận tại công ty cổ phần ô tô Trường Hải qua các năm 2011 - 2015 52
Bảng 2.4 Doanh số bán hàng năm 2014 56
Bảng 2.5: chi phí giá thành tại Thaco qua các năm 58
Bảng 2.6: Reliability Statistics 61
Bảng 2.7: Item-Total Statistics 61
Bảng 2.8: Vị trí hiện nay của anh (chị) trong công ty 62
Bảng 2.9: Nhóm tuổi của anh, chị 62
Bảng 2.10: Kinh nghiệm cuả anh (chị) trong kế toán - tài chính 63
Bảng 2.11: Trình độ đào tạo của anh chị 63
Bảng 2.12: L nh vực nào anh chị đang quản lý trong công ty 64
Bảng 2.13: Anh chị chịu trách nhiệm về bộ phận mình trước ai 64
Bảng 2.14: Trách nhiệm của anh, chị Về nội dung nào trong công ty 65
Bảng 3.1: Phân bổ chi phí sản xuất chung theo từng hoạt động 76
Trang 13DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1: Chi phí bán hàng qua các năm 2010 – 2015 58 Biểu 2.2: Chi phí quản lý tại Thaco qua các năm 2010 – 2015 58 Biểu 2.3: Chi phí tài chính tại Thaco qua các năm 2010 – 2015 59
Trang 14DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Kế toán trách nhiệm mối quan hệ với cơ cấu tổ chức quản lý 19
Sơ đồ 2.1: Bộ máy quản lý của công ty 37
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức phân cấp quản lý theo từng trung tâm của công ty 40
Sơ đồ 2.3: Cơ cấu tổ chức kế toán tại Thaco 44
Sơ đồ 3.1: Kế toán chi phí dựa trên hoạt động ABC 76
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị Kế toán trách nhiệm xuất phát từ sự phân quyền trách nhiệm của nhà quản trị Cơ sở của sự phân quyền phụ thuộc vào quyết định của nhà quản trị, thái độ, quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và các yếu tố khác Từ khi được hình thành đến nay,
kế toán trách nhiệm đã được vận dụng và có những đóng góp đáng kể vào sự thành công của nhiều doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế … trên khắp thế giới Càng ngày, kế toán trách nhiệm càng có vai trò và vị trí quan trọng trong quản lý ở các doanh nghiệp trên thế giới
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh để tồn tại và phát triển giữa các doanh nghiệp là một tất yếu khách quan Bởi vậy doanh nghiệp hoặc là phải hoàn thiện mình để tiến lên phía trước chiến thắng trong cạnh tranh hoặc là doanh nghiệp sẽ tụt hậu, trượt khỏi quỹ đạo chung của nền kinh tế, làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản nếu không biết phát huy những tiềm năng và nắm bắt kịp thời sự thay đổi trên thương trường Trong bối cảnh chung này các doanh nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam cũng không ngoại lệ, cần thiết phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề quản lý kinh tế đặc biệt là công tác kế toán trong doanh nghiệp
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, cơ sở hạ tầng giao thông được cải thiện, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng Nhu cầu
đi lại và vận chuyển hàng hóa bằng ô tô đang phát triển nhanh chóng Công nghiệp
ô tô đang là ngành tạo động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước Theo chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 mục tiêu phát triển là: xây dựng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trở thành ngành công nghiệp quan trọng của đất nước, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa về các loại xe có lợi thế cạnh tranh cao, tham gia xuất khẩu, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp khác và nâng cao năng lực cạnh tranh để trở thành nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng trong chuỗi sản xuất công nghiệp ô tô thế giới (Ngày 16 tháng 7 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1168/QĐ-TTg)
Trang 16Kế toán trách nhiệm là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong hệ thống
kế toán của doanh nghiệp, là khâu quan trọng trong công tác quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế để cạnh tranh và tạo lợi thế trong kinh doanh, chiếm l nh được thị trường thì việc tổ chức tốt công tác thu thập thông tin, hệ thống hóa và xử lý thông tin, phân tích và cung cấp thông tin để phục vụ yêu cầu quản lý doanh nghiệp để từ đó tổ chức tốt công tác quản lý hoạt động kinh doanh có ý ngh a to lớn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Trong các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ô tô tại Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam nói riêng, công tác kế toán đã được thực hiện theo quy định nhưng mới chỉ dừng lại ở KTTC Dưới góc độ KTQT chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ có hệ thống và khoa học, để từ đó có thể tổ chức tốt công tác quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ô tô Hơn nữa chưa có đề tài nào nghiên cứu về KTTN trong doanh nghiệp sản xuất Ô tô Xuất phát từ lý luận và thực ti n của hoạt động sản xuất và lắp ráp ô tô tại Việt Nam, trên cơ sở yêu cầu bức thiết đặt ra trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế của ngành công nghiệp ô tô, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện
tổ chức kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ phần Ô tô Trường Hải” Với những
phân tích trên cho thấy đề tài có tính cấp thiết cả về lý thuyết lẫn thực ti n
2 Tổng quan đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Đã có nghiều công trình nghiên cứu để quản trị công ty hiệu quả, cần có về thông tin để hoạch định và kiểm soát tài chính hoạt động sản xuất kinh doanh đã thúc đẩy sự hình thành kế toán trách nhiệm Thông qua các công trình nghiên cứu trước cho thấy, KTTN được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào năm 1950 trong tác phẩm
"Basic organizational planning to tie in with responsibility accounting" của Ailman, H.B.(1950) Từ đó đến nay, vấn đề KTQT được quan tâm nhiều với những quan điểm khác nhau bởi những tác giả khác nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới
Nhóm tác giả Anthony A.Atkinson, Rajiv D.Banker, Robert S.Kaplan and S.mark Young (2012) khẳng định: KTTN là một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng
Trang 17nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, cung cấp thông tin nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả mỗi nhà quản lý tạo ra các báo cáo chứa cả những đối tượng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát đối với một cấp quản lý
Nhóm tác giả Weygandt, Kieso và Kimmel (2010) cho rằng KTTN là một bộ phận của KTQT mà liên quan đến việc kiểm soát, báo cáo về thu nhập và chi phí trên cơ sở nhà quản lý có quyền đưa ra những quyết định trong hoạt động hằng ngày
về các vấn đề đó
Nhóm tác giả Clive Emmanuel, David Otley and Kenneth Mar-chant (1990) lại xác định: KTTN là sự thu thập tổng hợp và báo cáo những thông tin tài chính về những trung tâm khác nhau trong một tổ chức (những trung tâm trách nhiệm), cũng còn được gọi là kế toán hoạt động hay kế toán khả năng sinh lợi
Tác giả Martin (2007) đã trình bày về kế toán trách nhiệm trong mối quan hệ giữa kế toán trách nhiệm với cơ cấu tổ chức, kế toán trách nhiệm với kế toán chi phí, kế toán trách nhiệm với ngân sách, kế toán trách nhiệm với kiểm soát chi phí
Kế toán trách nhiệm có mối quan hệ chặt chẽ với phân cấp quản lý và với kế toán chi phí Nguyên tắc để thiết lập một hệ thống kế toán trách nhiệm là phải phân chia
tổ chức thành các bộ phận, đơn vị theo từng chức năng cụ thể; phân công trách nhiệm cho các bộ phận đã được phân chia; yêu cầu các bộ phận này phải lập các báo cáo và thực hiện giám sát từng cấp quản lý
Tác giả Shih, Michael SH (1997) đã thực hiện quá trình điều tra làm thế nào các công ty thiết kế hệ thống đánh giá hiệu năng cho các nhà quản lý cây trồng qua
công trình “Responsibility Accounting and Controllability: Determinants of Performance Evaluation Systems for Plant Managers in Canada” đã đi vào
nghiên cứu thực nghiệm về kế toán trách nhiệm
OECD phê chuẩn Bộ Nguyên tắc Quản trị Công ty (1999), lần đầu tiên trên thế giới có một bộ nguyên tắc quản trị công ty chung trở thành chuẩn mực quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, công ty và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới Bộ Nguyên tắc này tập trung vào các vấn đề quản trị bắt nguồn từ việc tách rời quyền sở hữu và quyền kiểm soát: Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả; Quyền của cổ đông và các chức năng sở
Trang 18hữu chính; Đối xử bình đẳng đối với cổ đông; Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan; Công bố thông tin và tính minh bạch; và Trách nhiệm của Hội đồng Quản trị Trong những năm gần đây các nghiên cứu lại tập trung vào kế toán trách
nhiệm xã hội, nghiên cứu của Sajad Gholami và các cộng sự (2012) “Social Responsibility Accounting: From Theory to Practice” được đăng trên tạp chí
“Journal of Basic and Applied Scientific Research” Nghiên cứu này đã chỉ ra bên
cạnh các mục tiêu về tài chính, các doanh nghiệp phải chú trọng đến trách nhiệm đối với xã hội vì những hành vi phi đạo đức sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của đơn vị
Như vậy, kế toán trách nhiệm là công cụ kiểm soát rất hiệu quả đã được các tác giả ngoài nước nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Đây là những nội dung rất bổ ích cho việc kế thừa để vận dụng tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm trong điều kiện thực ti n ở Việt Nam Tuy nhiên, có thể nói các công trình nghiên cứu được giới thiệu, trình bày trên đây tập trung chủ yếu ở tầm v mô, hoặc có tính khái quát mà chưa đưa ra cụ thể về tổ chức kế toán trách nhiệm trong loại hình công ty ô
tô, trong xu thế hội nhập, phát triển bền vững
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam kế toán trách nhiệm là vấn đề được các nhà nghiên cứu, các doanh nghiệp cũng rất quân tâm, đã có nhiều công trình nghiên cứu về KTTN
Do trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu và để có tính thời sự của vấn đề nghiên cứu nên nhóm tác giả chỉ đi vào nghiên cứu và trình bày các kết quả nghiên cứu về
kế toán trách nhiệm của những năm gần đây ở Việt Nam
Kiểm soát chi phí luôn là vấn đề hàng đầu của các nhà quản trị, chính vì vậy
có nhiều tác giả đã nghiên cứu mô hình kế toán quản trị chi phí như: Tác giả Phạm
Thị Thủy (2007), nghiên cứu “ Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam” tác giả đã xây dựng mô hình kế toán
quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam, trong đó tăng cường kiểm soát chi phí thông qua việc phân loại chi phí, lập dự toán chi phí, phân tích biến động của chi phí Đồng thời tác giả cũng đề cập đến giá chuyển nhượng giữa các bộ phận, đặc biệt là tác giả đã đề xuất coi các chi nhánh là trung tâm lợi nhuận chứ không phải là trung tâm doanh thu Tuy nhiên lại gộp trung tâm
Trang 19doanh thu là trung tâm LN như vậy sẽ khó khăn trong việc kiểm soát và đánh giá trách nhiệm của từng bộ phận
Đề tài quản trị chi phí cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều
khía cạnh khác nhau Tác giả Nguy n Quốc Thắng (2010) nghiên cứu về “ Tổ chức
kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt Nam” và tác giả Nguy n Hoản nghiên cứu về “ Tổ chức kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo của Việt Nam” các tác giả đã
nghiên cứu về các nội dung của kế toán quản trị, cụ thể là chi phí, giá thành, định mức sản xuất… Tuy nhiên, Chi phí mới chỉ là một phần trong kế toán quản trị, Các vấn đề về vốn đầu tư, doanh thu, lợi nhuận chưa được các tác giả nghiên cứu sâu
Đề tài của tác giả Hoàng Văn Tưởng (2010) “Tổ chức kế toán quản trị với việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam” đã nghiên cứu đến việc tổ chức các trung tâm trách nhiệm trong các doanh
nghiệp xây lắp Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp nhỏ và chỉ được trình bày ở góc độ phân công, phân nhiệm chứ chưa đi vào cụ thể, chi tiết và đầy đủ mà một hệ thống
kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp xây lắp cần phải xây dựng
Bài viết của tác giả Phạm Văn Đăng (2011), “Một số vấn đề kế toán trách nhiệm ở công ty niêm yết” , đăng trên tạp chí “nghiên cứu khoa học kiểm toán”
Tác giả cho rằng, giám sát, đánh giá trách nhiệm quản trị của các cấp dưới đối với công việc được giao, để có những hành động điều chỉnh kịp thời, nhằm cải tiến những hoạt động chưa đạt hiệu quả, đó là vấn đề cấp thiết đối với các doanh nghiệp niêm yết Từ đó, tác giả đã trình bày những nghiên cứu về mặt lý luận của hệ thống báo cáo kế toán trách nhiệm nói chung, đặc điểm, vai trò ứng dụng cho từng cấp quản trị (quản trị cấp cao, cấp trung, cấp thấp) Nhưng để đánh giá trách nhiệm quản trị của các cấp cần phải có các báo cáo thành quả trách nhiệm của từng cấp quản lý thí tác giả lại chưa đề cập tới
Đề tài của tác giả Nguy n Linh Giang (2011), “Tổ chức kế toán trách nhiệm tại công ty sản xuất Việt - Hàn”, đề tài của tác giả Trần Thị Tuyết Mai (2012), “ Kế toán trách nhiệm tại công ty dược và trang thiết bị y tế Bình Định”, tác giả Tôn Nữ Xuân Hương (2012), “Tổ chức kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần dược Danapha”, tác giả Huỳnh Thị Kim Hồng (2013) cũng đã nghiên cứu “ Kế toán
Trang 20trách nhiệm tại công ty cổ phần thủy sản Hoài Nhơn”, tác giả Võ Thị Thức (2011)“ Hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội” tại Trường ĐH kinh tế Tp Hồ Chí Minh Tác giả Nguy n Văn Phượng (2011)
“ Hoàn thiện tổ chức kế toán trách nhiệm tại tổng công ty điện lực miền trung”, tác giả Nguy n Trung Ngh a (2012), “ Tổ chức kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần
du lịch Đà Nẵng” Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu đến việc tổ chức, phân cấp
quản lý, xây dựng các trung tâm trách nhiệm trong các doanh nghiệp sản xuất Tuy nhiên, các bài luận văn mới chỉ được trình bày ở góc độ phân công, phân nhiệm chứ chưa đi vào cụ thể, chi tiết và đầy đủ mà một hệ thống kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp sản xuất cần phải xây dựng
Đề tài của tác giả Nguy n Thị Minh Phương (2013) “Xây dựng mô hình kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp sản xuất Sữa Việt Nam” đã nghiên cứu
việc tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm nhằm cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà quản trị đánh giá hiệu quả kinh doanh và trách nhiệm quản lý của từng bộ phận trong đặc thù loại hình doanh nghiệp sản xuất Sữa tại Việt Nam Đây là một trong những tài liệu có giá trị về nghiên cứu và tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp đặc thù Tuy nhiên, tác giả chủ yếu nghiên cứu theo phương pháp định tính nên chưa chỉ rõ được mức độ áp dụng kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
Tầm quan trọng của KTTN cũng được tác giả Nguy n Xuân Trường (2014) đề
cập “Kế toán trách nhiệm – vũ khí của công ty lớn” đăng trên “Doanh nhân
360.com.vn” Tác giả đã nêu được sự quan trọng của việc thiết lập các trung tâm trách nhiệm trong một tổ chức, vận dụng vào thực tế Từ đó cho chúng ta thấy được
sự cần thiết của kế toán trách nhiệm đối với các công ty lớn, nó giúp phát huy tối đa nguồn lực trong doanh nghiệp Song tác giả cũng chưa đưa ra được cách thực hiện
cụ thể vào các doanh nghiệp
Tác giả Nguy n Hữu Phú (2014) nghiên cứu “ Tổ chức kế toán trách nhiệm trong các tổng công ty xây dựng thuộc bộ giao thông vận tải” đã đề xuất các định
hướng, xác lập và vận hành mô hình kế toán trách nhiệm và đề xuất sử dụng mô hình KM – star để đánh giá thành quả trong các tổng công ty xây dựng Tuy nhiên,
Trang 21đề tài cũng mới chỉ dừng lại ở góc độ đề xuất, chưa đưa công cụ thống kê hiện đại
để đánh giá mức độ các yếu tố của KTTN trong các Tổng công ty xây dựng
Bài viết của tác giả Đàm Phương Lan (2014) “ Kế toán trách nhiệm và ứng dụng kế toán trách nhiệm trong công ty cổ phần đầu tư và thương mại Thái Nguyên” đăng trên tạp chí “ Khoa học và công nghệ” cho rằng, kế toán trách nhiệm
là một công cụ được các nhà quản trị đánh giá cao và không thể thiếu trong nền kinh tế hiện đại Việc vận dụng kế toán trách nhiệm thực tế vào công ty được coi như một vũ khí giúp phát huy tối đa nguồn lực, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Tác giả tập trung vào ba khía cạnh: Một là tổ chức các trung tâm trách nhiệm và phân quyền quản lý theo nhóm trách nhiệm Hai là tổ chức lập dự toán tại các trung tâm trách nhiệm Ba là tổ chức hệ thống báo cáo, đánh giá thành quả tại các trung tâm trách nhiệm Tuy nhiên trong các khía cạnh mà tác giả đưa ra chưa đi sâu, cụ thể đến các chỉ tiêu đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm
Bài viết của tác giả Thái Anh Tuấn (2014) “ Vận dụng kế toán trách nhiệm trong trường Đại học” đăng trên tạp chí “Tài chính” Tác giả đã đưa ra nhiều các
quan điểm khác nhau về kế toán trách nhiệm Từ đó tác giả cho rằng Kế toán trách nhiệm là một công cụ hữu hiệu cần được vận dụng trong quá trình kiểm soát chi phí
và tác giả cũng nêu được cách thức vận dụng như thế nào? Tuy nhiên tác giả chủ yếu chú trọng đến kiểm soát chi phí mà chưa đề cập sâu đến các trung tâm khác Trong khi đó, nhà nước thực hiện chính sách cổ phần hóa một số Trường Đại học tự thu, tự chi, nguồn vốn chủ yếu là tư nhân nên trung tâm đầu tư , trung tâm doanh thu cũng tương đối quan trọng đối với các Trường Đại học
Tác giả Lưu Đức Tuyên (2014), “ Bàn về kế toán trách nhiệm”, đăng trên
“trang thông tin điện tử, hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam” tác giả đã trình bày mối liên hệ chặt chẽ giữa kế toán trách nhiệm với cơ cấu tổ chức theo các cấp quản lý, với các trung tâm trách nhiệm và mối liên hệ với các chỉ tiêu đánh giá như: CTR (Capital Turnover Ratio - tỷ lệ vốn trên doanh thu), ROS (Rate of Return on Sales- tỷ lệ hoàn vốn trên doanh thu), ROI (Return on Investment- tỷ lệ hoàn vốn đầu tư), NIBT (Net Income Before taxes): Thu nhập thuần trước thuế, NIAT (Net Income After taxes): Thu nhập thuần sau thuế, NI (Net income): Thu nhập thuần Sự chuyển giá, RI (Residual Income-phần thu nhập còn lại) Tuy nhiên, tác giả mới đưa
Trang 22ra được mối liên hệ giữa các chỉ tiêu với các bộ phận trách nhiệm Còn vận dụng như thế nào? Chi tiết, cụ thể việc vận dụng các chỉ tiêu cho các đơn vị, bộ phận thì tác giả lại chưa đề cập tới
Tác giả Hồ Thị Mỹ Hạnh (2015) “Kế toán trách nhiệm và mối quan hệ với cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp”, đăng trên tạp chí “ Tài chính” Tác giả đã nêu lên
mối quan hệ giữa vấn đề phân cấp quản lý trong hệ thống kế toán trách nhiệm với
cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Tác giả cũng đưa ra 2 mô hình, 1 mô hình cho công ty xăng dầu Nghệ An ( mô hình vừa và nhỏ), 1 mô hình cho tập đoàn xăng dầu ( Doanh nghiệp lớn) Song cơ cấu tổ chức và phân cấp quản lý đó chỉ là một phần trong hệ thống kế toán trách nhiệm Mối quan hệ giữa tổ chức quản lý doanh nghiệp với các trung tâm trách nhiệm chưa được tác giả đề cập
Tác giả Trần Trung Tuấn (2015), “Nghiên cứu kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam” tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu ảnh
hưởng mức độ áp dụng kế toán trách nhiệm tới thành quả trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam Đồng thời, đưa ra mối quan hệ đồng biến của kế toán trách nhiệm (RA) với thành quả trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Từ đó, tác giả đưa phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC) và thẻ điểm cân bằng (BSC) áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam Tuy nhiên, bài viết vẫn còn có những hạn chế như: Tập trung vào phân tích chi phí là chủ yếu Trong khi đó, một hệ thống KTTN thường có các trung tâm như: Trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Mỗi trung tâm đều là mắt xích quan trọng và có mối liên hệ với nhau Nếu chỉ chú trọng đến trung tâm chi phí là chưa đủ
Tác giả Hoàng Thị Hương (2016) “ Kế toán trách nhiệm và thực tiễn vận dụng vào Việt Nam” đăng trên tạp chí “ Tài chính” Tác giả cho rằng: Kế toán trách nhiệm
được coi là một trong những công cụ tài chính hữu ích cho việc kiểm soát và điều hành hoạt động kinh doanh của các nhà quản trị trong doanh nghiệp Từ đó, tác giả đưa ra mô hình kế toán trách nhiệm theo các trung tâm trách nhiệm áp dụng cho Công ty Cổ phần Bia Hà Nội – Hải Phòng Nhưng tác giả cũng chỉ nêu lên trách nhiệm của các bộ phận, chưa đề cập đến các chỉ tiêu đánh giá các trung tâm trách nhiệm, đồng thời cũng chưa đưa ra các báo cáo thành quả trách nhiệm
Trang 23Nhìn chung các nghiên cứu trong nước về tổ chức kế toán trách nhiệm trong những năm gần đây bắt đầu đã đi vào cụ thể một số loại hình doanh nghiệp Đã hệ thống hóa được những lý luận cơ bản về tổ chức kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp và đã đề cập đến các mô hình tổ chức kế toán trách nhiệm phù hợp với loại hình doanh nghiệp như tổng công ty, công ty cổ phần Đây cũng chính là những nội dung mà đề tài kế thừa và tham khảo trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các doanh nghiệp, các l nh vực khác nhau nhưng chưa đề cập nhiều đến ngành công nghiệp ô
tô ở Việt Nam Ngành sản xuất, lắp ráp ô tô là ngành Công nghiệp quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay và Công ty cổ phần ôtô Trường Hải hiện là công ty đứng đầu tại thị trường Việt Nam về sản xuất, lắp ráp và phân phối ôtô Việc nghiên cứu về tổ chức KTTN trong loại hình này là vấn đề hết sức cần thiết đang đặt ra
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Hoàn thiện tổ chức KTTN tại công ty Cổ phần Ô tô Trường
Hải, từ đó cung cấp thông tin giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác và hiệu quả
Mục tiêu cụ thể:
- Đề tài dựa trên nền tảng kiến thức về kế toán quản trị đã được đào tạo ở bậc cao học và tìm hiểu từ các công trình nghiên cứu trước để: Hệ thống hóa lý luận về
kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
- Tìm hiểu thực trạng của kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần ô tô Trường Hải, tìm ra những ưu điểm và nhược điểm còn tồn tại trong công tác đánh giá trách nhiệm tại công ty
- Đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện kế toán trách nhiệm theo đặc thù của công ty, giúp bộ máy quản trị tại công ty đánh giá được một cách đúng đắn thành quả của các bộ phận trong việc hướng tới mục tiêu chung của tổ chức
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài chủ yếu đi sâu vào những vấn đề lý luận về tổ chức kế toán trách nhiệm trong DN từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện tổ chức
kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần ô tô Trường Hải Phạm vi nghiên cứu: Đề
Trang 24tài chỉ đi sâu nghiên cứu trong hệ thống kế toán trách nhiệm của một DN cụ thể đó
là công ty CP Ô tô Trường Hải
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài chủ yếu là phương pháp định tính kết hợp với định lượng Vận dụng cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm, từ đó nghiên cứu thực trạng về KTTN tại công ty cổ phần ô tô Trường Hải Đề tài sử dụng các phương pháp như: Phương pháp so sánh, thống kê, tổng hợp, phân tích …
Về các phương pháp cụ thể, đề tài sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu là chủ yếu với cách thức phỏng vấn để thực hiện việc nghiên cứu kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần ô tô Trường Hải Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp khác như: thu thập thông tin, phân tích số liệu, phương pháp thống kê định lượng, định tính, nhằm mục đích phục vụ công tác nghiên cứu đạt kết quả tốt
Phương pháp thu thập số liệu: Gồm phương pháp quan sát và phương pháp nghiên cứu đề tài
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Về mặt lý luận: Đề tài trình bày mô hình KTTN về mặt lý thuyết như: Lý thuyết về các trung tâm trách nhiệm như: Trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư Nội dung các trung tâm trách nhiệm, hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá của từng trung tâm đến xây dựng hệ thống báo cáo KTTN cho từng trung tâm Đồng thời, luận văn trình bày hệ thống dự toán,
hệ thống phương pháp cung cấp các thông tin thực hiện, hệ thống các phương pháp kiểm soát và đánh giá kết quả, hiệu quả của các trung tâm trách nhiệm, đánh giá trách nhiệm quản lý của từng trung tâm trách nhiệm Bên cạnh đó luận văn cũng trình bày hệ thống lý thuyết tổ chức quản lý, mối quan hệ giữa phân cấp quản lý và KTTN làm căn cứ và cơ sở lý thuyết cho việc hoàn thiện tổ chức KTTN cho các doanh nghiệp cụ thể
Về mặt thực ti n: Những nội dung được trình bày trong đề tài là sự tổng kết các quan điểm của nhiều tác giả, tìm hiểu thực trạng KTTN tại các doanh nghiệp, tìm các nhân tố ảnh hưởng đến mô hình KTTN, mức độ quan tâm của các nhà quản trị đến hệ thống KTTN Qua đó hoàn thiện, tổ chức mô hình kế toán trách nhiệm phù hợp với đặc điểm kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh ô tô ở Việt
Trang 25nam, nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị đánh giá hiệu quả và trách nhiệm quản lý của các trung tâm trách nhiệm góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh Hoàn thiện mô hình KTTN ở doanh nghiệp ô tô từ việc xác định các trung tâm trách nhiệm, xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá đến thiết lập
hệ thống báo cáo trách nhiệm cho phù hợp đảm bảo tính kiểm soát và hiệu quả trong quản lý
Trang 26Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần ô tô Trường Hải
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần ô tô Trường
Trang 27CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
1.1 Bản chất, vai trò và nhiệm vụ của kế toán trách nhiệm
1.1.1 Bản chất của kế toán trách nhiệm
Kế toán quản trị (KTQT) doanh nghiệp (DN) là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ công cụ quản lý kinh tế, tài chính và có vai trò quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế, tài chính trong DN, đồng thời cung cấp thông tin
để thực hiện mục tiêu quản trị DN nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, KTQT sử dụng
hệ thống kế toán trách nhiệm (KTTN) để phân loại cấu trúc tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm, trên cơ sở đó đánh giá kết quả của từng bộ phận dựa trên trách nhiệm được giao cho bộ phận đó
KTTN là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị, do vậy quá trình hình thành và phát triển của kế toán trách nhiệm gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của kế toán quản trị KTTN được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào năm 1950 trong tác phẩm "Basic organizational planning to tie in with responsibility accounting" của Ailman, H.B.(1950) Từ đó đến nay, vấn đề KTQT được quan tâm nhiều với những quan điểm khác nhau bởi những tác giả khác nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới Theo nhóm tác giả Anthony A.Atkinson, Rajiv D.Banker, Robert S.Kaplan
and S.mark Young (2012), “KTTN là một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm đến từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức Nhằm cung cấp thông tin về chi phí, thu nhập
và các số liệu hoạt động của từng khu vực trách nhiệm hoặc đơn vị trong tổ chức” Nhóm tác giả Weygandt, Kieso và Kimmel (2010) cho rằng: “KTTN là một bộ phận của KTQT mà liên quan đến việc kiểm soát, báo cáo về thu nhập và chi phí trên cơ sở nhà quản lý có quyền đưa ra những quyết định trong hoạt động hàng ngày về các vấn đề đó”
Nhóm tác giả Clive Emmanuel, David Otley and Kenneth Mar-chant (1990):
“Kế toán trách nhiệm là sự thu thập tổng hợp và báo cáo những thông tin tài chính
về những trung tâm khác nhau trong một tổ chức (những trung tâm trách nhiệm), cũng còn được gọi là kế toán hoạt động hay kế toán khả năng sinh lợi”
James R.Martin (2007), “KTTN là một hệ thống kế toán cung cấp các thông tin về kết quả và hiệu quả hoạt động của các bộ phận bên trong một doanh nghiệp
Trang 28Đồng thời cũng là công cụ đo lường, đánh giá hoạt động đầu tư, doanh thu, chi phí
và lợi nhuận mà mỗi bộ phận có quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm tương ứng”
Ở Việt Nam, KTQT cũng đã xuất hiện, phát triển gắn liền chính sách, chế độ
kế toán áp dụng ở các doanh nghiệp; tuy nhiên, KTQT chỉ mới được đề cập một cách hệ thống vào đầu những năm 1990 trở về đây và trở thành yêu cầu cấp bách trong xây dựng hệ thống thông tin kế toán vào đầu những năm 2000 khi các DN cần nâng cao chất lượng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh trong môi trường cạnh tranh không những ở phạm vị thị trường Việt Nam mà còn mở rộng ra thị trường khu vực, thị trường thế giới Về mặt luật pháp, thuật ngữ kế KTQT cũng chỉ vừa được ghi nhận chính thức trong luật kế toán Việt Nam ban hành ngày (17.5.2003)
Từ đó đến nay, vấn đề kế toán quản trị cũng như KTTN trong nước cũng được quan tâm nhiều với những quan điểm khác nhau bởi những tác giả khác nhau:
Theo tác giả Phan Đức Dũng (2014), “Kế toán trách nhiệm là một hệ thống báo cáo thông tin mà phân loại dữ liệu tài chính theo từng trung tâm trách nhiệm trong mỗi tổ chức, báo cáo các hoạt động bao gồm doanh thu và chi phí mà các nhà quản trị có thể kiểm soát được Cũng có thể gọi là kế toán lợi nhuận, một hệ thống
kế toán trách nhiệm cá nhân hóa các báo cáo kế toán, như một trung tâm nhấn mạnh đến trách nhiệm cá nhân”
Cũng như tác giả Phan Đức Dũng, tác giả Huỳnh Lợi (2009) đã có quan điểm
về KTTN như sau: “Kế toán trách nhiệm là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận (thành viên, con người) trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc về phạm vi quản lý của mình, họ phải xác định, đánh giá và báo cáo cho tổ chức, thông qua đó cấp quản lý cao hơn sử dụng các thông tin này để đánh giá thành quả của các bộ phận trong tổ chức”
Nói đến tính kiểm soát, nhóm tác giả bộ môn Kế toán quản trị - Phân tích hoạt động kinh doanh của trường đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Chủ biên tác
giả Đoàn Ngọc Quế cùng cộng sự (2011) đưa ra nhận định: “Kế toán trách nhiệm là
hệ thống thu thập xử lý, và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức”
Trang 29Nhóm tác giả Trần Đình Phụng, Phạm Ngọc Toàn, Trần Văn Tùng (2009) thì
“KTTN là một hệ thống thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho việc đo lường và đánh giá trách nhiệm quản lý của các cấp quản trị trung gian và cấp cơ sở”
- Thông tin có thể kiểm soát được là những thông tin về doanh thu, chi phí, vốn đầu tư… mà nhà quản trị của bộ phận đó có thể đưa ra các quyết định tác động lên nó
- Thông tin có thể kiểm soát cụ thể đối với từng nhà quản trị phụ thuộc vào trách nhiệm quản lý của nhà quản trị đó
KTTN không chỉ được đề cập đến các trung tâm trách nhiệm ở góc độ về chi phí, thu nhập, lợi nhuận hay tính kiểm soát mà KTTN còn được tác giả Phạm Văn Đăng (2011) đưa ra những vấn đề thuộc bản chất của KTTN như sau:
Thứ nhất, KTTN là một nội dung cơ bản của KTQT và là một quá trình tập hợp và báo cáo các thông tin được dùng để kiểm tra các quá trình hoạt động và đánh giá thực hiện nhiệm vụ ở từng bộ phận trong một tổ chức Hệ thống KTTN là một
hệ thống thông tin chính thức về mặt tài chính Các hệ thống này sử dụng cả các thông tin tài chính và cả thông tin phi tài chính
Thứ hai, KTTN chỉ có thể được thực hiện trong đơn vị có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải có sự phân quyền rõ ràng Hệ thống KTTN ở các tổ chức khác nhau là rất đa dạng, bao gồm các thủ tục được thể chế hóa cao với cách hoạt động theo lịch trình đều đặn, có những nhà quản lý bộ phận được giao quyền hạn quyết định, song cũng có những nhà quản lý bộ phận hầu như không có quyền hạn về sử dụng các nguồn lực thuộc bộ phận họ quản lý
Thứ ba, một hệ thống KTTN hữu ích phải thỏa mãn lý thuyết phù hợp, ngh a
là có một cấu trúc tổ chức thích hợp nhất với môi trường tổ chức hoạt động, với chiến lược tổng hợp của tổ chức, và với các giá trị và sự khích lệ của quản trị cấp cao
Như vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về KTTN, tuy nhiên, có thể thấy rằng
sự khác nhau giữa các quan điểm trên được thể hiện ở cách thức nhìn nhận của mỗi tác giả về đặc điểm, ý ngh a và cơ chế tổ chức kế toán trách nhiệm ở doanh nghiệp
mà thôi Đặc biệt, sự khác nhau đó không mang tính đối nghịch mà chúng cùng bổ sung cho nhau nhằm giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về KTTN
Trang 301.1.2 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
KTTN thực hiện việc phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lường biểu hiện của chúng Nói cách khác, nó là một công cụ để đo lường về kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát, đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau Do đó, vai trò của KTTN được thể hiện ở những nội dung sau: KTTN cung cấp thông tin cho nhà quản trị từ cấp cao, cấp trung và cấp cơ sở
- Đối với nhà quản trị cấp cao:
KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành của DN KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó các nhà quản trị có thể
hệ thống hóa từng công việc ở các trung tâm trách nhiệm để thiết lập các chỉ tiêu đánh giá KTTN giúp nhà quản trị đánh giá, điều chỉnh các bộ phận cho thích hợp
- Đối với nhà quản trị cấp trung:
Kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát tài chính và kiểm soát quản lý Thông qua KTTN, nhà quản trị có thể phân tích, đánh giá chi phí, doanh thu và lợi nhuận thực hiện của từng bộ phận Đây có thể xem là nguồn thông tin quan trọng để nhà quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng doanh thu, giảm chi phí một cách hợp lý, và cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận
- Đối với nhà quản trị cấp thấp:
KTTN khuyến khích nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức Mục tiêu chiến lược của DN được gắn với các trung tâm trách nhiệm Khi KTTN có thể kiểm soát được công tác tài chính và công tác quản lý sẽ điều chỉnh hoạt động hướng đến các mục tiêu chung của doanh nghiệp Đồng thời, bản thân các giám đốc trung tâm trách nhiệm được khích lệ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu cơ bản của toàn DN
KTTN có vai trò quan trọng trong công tác kiểm soát và đánh giá hiệu quả của từng bộ phận trong tổ chức
KTTN có vai trò giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn bộ tổ chức
Kế toán trách nhiệm cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng về kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận
Trang 31KTTN được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do
đó, nó ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này
Kế toán trách nhiệm thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức
1.2 Sự phân cấp quản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm
1.2.1 Sự phân cấp quản lý
Hệ thống KTTN gắn liền với sự phân cấp về quản lý Nếu không có sự phân cấp quản lý thì sẽ không tồn tại hệ thống KTTN hay hệ thống KTTN sẽ không có ý ngh a gì Hệ thống KTTN chỉ tồn tại, hoạt động có hiệu quả nhất trong các tổ chức phân quyền, ở đó quyền ra quyết định và trách nhiệm được trải rộng trong toàn tổ chức Các cấp quản lý khác nhau được quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm với phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của họ Hoạt động của tổ chức gắn liền với hệ thống quyền hạn, trách nhiệm của tất cả các bộ phận, thành viên (Huỳnh Lợi,2009)
Do quy mô, phạm vi, trình độ của các tổ chức, doanh nghiệp khác nhau Nên khi tiến hành phân cấp quản lý, nếu DN nhỏ mà chia ra quá nhiều cấp sẽ dẫn đến bộ máy của đơn vị rối ren và cồng kềnh Còn với doanh nghiệp có quy mô lớn nếu tập trung quyền quyết định một nơi sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Chính vì vậy việc phân cấp quản lý có những thuận lợi và khó khăn như sau:
1.2.2 Thuận lợi và khó khăn trong sự phân cấp quản lý
Thuận lợi:
Thứ nhất, sự phân cấp quản lý giúp Ban lãnh đạo cấp cao hơn không phải giải quyết các vấn đề xảy ra hàng ngày, họ tập trung vào những công việc chiến lược, việc lập các kế hoạch dài hạn và điều phối các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, đảm bảo việc thực hiện mục tiêu chung
Thứ hai, các nhà quản trị cấp thấp hơn sẽ chủ động hơn trong kinh doanh Khi các nhà quản trị cấp thấp được phân quyền thì những vấn đề phát sinh tại cấp
cơ sở có thể được giải quyết nhanh chóng, phù hợp với tình hình thay đổi của môi trường xung quanh Đồng thời, sự phân cấp quản lý giúp cho nhà quản lý các cấp có
sự độc lập tương đối trong điều hành công việc của mình, phát triển k năng, nâng cao kiến thức chuyên môn, tăng khả năng ứng xử các tình huống và tập dượt về kỹ năng quản lý khi được thăng tiến trong tổ chức
Trang 32Thứ ba, phân quyền sẽ giúp cho DN phản ứng kịp thời hơn với những thay đổi trong môi trường kinh doanh phức tạp Sự phân cấp quản lý giúp cho nhà quản
lý các cấp có sự hài lòng trong công việc Từ đó, động viên được năng lực, đóng góp tích cực của người quản lý trong việc nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ của mình
Khó khăn:
Sự phân cấp tạo nên sự độc lập tương đối ở các bộ phận, nên các nhà quản lý ở từng bộ phận thường không biết được các quyết định của họ ảnh hưởng như thế nào đến các bộ phận trong tổ chức, họ quan tâm tới hiệu quả của bộ phận mình hơn là tính hiệu quả chung của cả tổ chức Đây là thách thức lớn nhất để đạt được sự hướng đến mục tiêu chung
Ngoài ra việc phân cấp, phân chia cấp bậc và mức độ phân quyền càng nhiều
và không đồng đều, hợp lý có thể sẽ dẫn đến các bộ phận cạnh tranh nhau gay gắt, dẫn đến bất hòa trong nội bộ Điều này, là nguyên nhân chính dẫn đến việc khó điều hành và phối hợp giữa các trung tâm để hướng đến đạt mục tiêu chung của toàn DN
1.3 Hệ thống kế toán trách nhiệm trong mối quan hệ với cơ cấu tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh
1.3.1 Về phân cấp quản lý
Hệ thống KTTN gắn liền với sự tồn tại và phát triển của sự phân cấp về quản
lý Một tổ chức có sự phân quyền, khi có quyền ra quyết định và trách nhiệm được trải rộng trong toàn tổ chức Các cấp quản lý khác nhau được quyền ra quyết định
và chịu trách nhiệm với phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của họ Hoạt động của tổ chức gắn liền với hệ thống quyền hạn, trách nhiệm của tất cả các bộ phận thành viên ( Phạm Văn Đăng, 2011)
Hơn nữa, kiểm soát chi phí luôn là vấn đề hàng đầu của các nhà quản trị, để kiểm soát được chi phí đòi hỏi nhà quản trị phải có những công cụ quản lý tài chính phù hợp, KTTN chính là công cụ hữu ích để quản lý Hơn nữa một nhà quản trị không thể thâu tóm và phát huy được năng lực ở tất cả các l nh vực, bộ phận trong doanh nghiệp, mà cần phải có sự phân quyền để quản lý có hiệu quả
Sự phân cấp quản lý gắn liền với việc xác định nhiệm vụ và trách nhiệm của từng bộ phận Việc phân cấp quản lý sẽ là cơ sở giúp cho hệ thống KTTN đánh giá được thành quả của các cấp quản lý ở các bộ phận Ngoài ra, khi hệ thống KTTN
Trang 33thiết lập được hệ thống các chỉ tiêu, công cụ báo cáo thành quả hữu hiệu ở từng bộ phận đó chính là góp phần hoàn thiện việc phân cấp quản lý trong tổ chức
Trong một tổ chức phân quyền dẫn đến hình thành các trung tâm trách nhiệm Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận phụ thuộc cơ cấu tổ chức quản lý của một tổ chức mà người quản lý ở đó có quyền và chịu trách nhiệm đối với kết quả tài chính của các hoạt động thuộc phạm vi mình quản lý
Một hệ thống KTTN được ghi nhận bởi một vài trung tâm trách nhiệm Có những trung tâm trách nhiệm cho mỗi vùng hoặc mỗi cấp độ thuộc l nh vực quản lý
và có những báo cáo được thực hiện cho mỗi trung tâm Báo cáo về trung tâm trách nhiệm chỉ bao gồm chi phí và doanh thu mà người quản lý của trung tâm có thể kiểm soát được Nếu người quản lý không thể kiểm soát được doanh thu và chi phí
sẽ không có báo cáo quản trị riêng biệt
(Nguồn: Kế toán quản trị, Huỳnh Lợi, 2009 )
Sơ đồ 1.1 Kế toán trách nhiệm mối quan hệ với cơ cấu tổ chức quản lý
Cơ cấu tổ chức
quản lý
Hệ thống kế toán trách nhiệm
Trung tâm đầu tư
Trung tâm lợi nhuận ( trung tâm kinh doanh)
Trung tâm doanh thu
Trung tâm chi phí
Trang 34Sơ đồ 1.1 cho thấy trung tâm trách nhiệm là một bộ phận phụ thuộc cơ cấu tổ chức quản lý của một tổ chức mà người quản lý ở đó có quyền và chịu trách nhiệm đối với kết quả tài chính của các hoạt động thuộc phạm vi mình quản lý Đồng thời
cơ cấu tổ chức của một công ty cho thấy quyền hạn của các nhà quản trị ở công ty
đó, nó phản ánh sinh động cấp bậc trách nhiệm đối với mục đích kiểm soát thành quả quản lý của một tổ chức
Trong hệ thống KTTN, một mạng lưới thông tin được thiết lập trong một tổ chức nhằm thu thập và báo cáo các thông tin về hoạt động của từng trung tâm trách nhiệm Hệ KTTN được sử dụng để lập các dự toán theo từng trung tâm trách nhiệm
và các báo cáo về kết quả thực hiện theo từng trung tâm trách nhiệm Các báo cáo này được thiết kế để đáp ứng nhu cầu thông tin riêng biệt của từng nhà quản trị
1.3.2 Các trung tâm trách nhiệm
Hệ thống KTTN có 4 trung tâm trách nhiệm gồm: Trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận, trung tâm đầu tư
Trung tâm chi phí (Cost Center):
Là cấp quản lý chỉ có thể kiểm soát sự phát sinh chi phí Trung tâm chi phí là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ có quyền điều hành quản lý các chi phí phát sinh thuộc bộ phận mình quản lý Trung tâm chi phí có thể là bộ phận (phân xưởng, đội, tổ…) hoặc từng giai đoạn hoạt động ( giai đoạn làm thô, giai đoạn cắt gọt, giai đoạn đánh bóng,…)
Bất kỳ nhà quản lý trung tâm chi phí nào cũng đều mong muốn bộ phận mình hoạt động ở mức chi phí thấp nhất để tối đa hóa lợi nhuận Để đạt được điều
đó nhà quản trị cần tìm hiểu được nguồn gốc phát sinh chi phí từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp để kiểm soát chi phí Theo tính chất của chi phí và để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của trung tâm chi phí, người ta chia trung tâm chi phí thành hai loại: Trung tâm chi phí định mức (hay còn gọi là trung tâm chi phí tiêu chuẩn) và trung tâm chi phí tùy ý (hay còn gọi là trung tâm chi phí dự toán)
- Trung tâm chi phí định mức (Standard Cost Center): Là trung tâm có chi phí đầu vào được xác định tương ứng với đầu ra là các sản phẩm, dịch vụ Thông thường chi phí định mức được xác định để tính mức hiệu quả của công việc, tức bằng cách xác định tỷ số giữa đầu ra và đầu vào
Trang 35- Trung tâm chi phí tùy ý (Discretionary Expense Center): Là trung tâm có chi phí không xác định được mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, hay không thể tính được đầu ra một cách rõ ràng Chẳng hạn như trung tâm chi phí là khối hành chính
sự nghiệp, bộ phận nghiên cứu phát triển, hoạt động tiếp thị và khuyến mãi, kho bãi… Công ty thường kiểm soát các bộ phận này bằng cách giám sát nguồn lực cung cấp như: con người, thiết bị, chi phí vật dụng…
Trung tâm doanh thu (Revenue center):
Trung tâm doanh thu là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ có trách nhiệm với doanh thu cần tạo ra, không chịu trách nhiệm với lợi nhuận và vốn đầu
tư Trung tâm doanh thu có quyền quyết định công việc bán hàng trong khung giá
cả cho phép để tạo ra doanh thu cho DN
Trung tâm này thường được gắn với bậc quản lý cấp trung hoặc cấp cơ sở, đó
là bộ phận kinh doanh trong đơn vị như các chi nhánh tiêu thụ, khu vực tiêu thụ, cửa hàng tiêu thụ, nhóm sản phẩm
Trung tâm này phải có chính sách bán hàng, không chỉ dựa trên tình hình thị trường mà còn dựa trên giá thành, chi phí và các mục tiêu lâu dài của công ty
Trung tâm lợi nhuận ( Profit center) :
Cấp quản lý có thể kiểm soát được cả doanh thu, chi phí và tất nhiên cả lợi nhuận
Trung tâm trách nhiệm này thường là ở bậc quản lý cấp trung, đó là giám đốc điều hành trong công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng công ty như các công ty phụ thuộc, các chi nhánh, Nếu nhà quản lý không có quyền quyết định mức độ đầu tư tại trung tâm của họ thì tiêu chí lợi nhuận được xem là tiêu chí thích hợp nhất
để đánh giá kết quả thực hiện của trung tâm này
Trung tâm đầu tƣ ( Invertment center)
Cấp quản lý có thể kiểm soát được, doanh thu, chi phí và cả vốn đầu tư
Trung tâm này là một bộ phận trách nhiệm có quyền lực cao nhất trong tổ chức như: Hội đồng quản trị, tổng công ty, các công ty…Trong một doanh nghiệp, trung tâm đầu tư thường được tổ chức gắn liền với bộ phận đại diện chủ sở hữu vốn
Trang 361.4 Đánh giá thành quả các trung tâm trách nhiệm
Để đo lường đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm căn cứ vào hai chỉ tiêu: Chỉ tiêu kết quả (effectiveness) và chỉ tiêu hiệu quả (efficiency)
Chỉ tiêu kết quả là mức độ trung tâm trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ đề
ra, có thể là số tuyệt đối hay số tương đối Ví dụ như: Mức doanh thu cần đạt được tại trung tâm doanh thu, mức tỷ lệ lợi nhuận tại trung tâm lợi nhuận hoặc kết quả thực hiện thực tế so với kế hoạch của các bộ phận
Còn đối với chỉ tiêu hiệu quả, là tỷ lệ so sánh giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào của một trung tâm trách nhiệm Thể hiện kết quả thực tế đạt được so với các nguồn lực được sử dụng để tạo ra kết quả đó, có ngh a là trung bình kết quả mang lại trên mỗi đơn vị đầu vào, như chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn, trên tài sản
1.4.1 Đánh giá thành quả của trung tâm chi phí
Quyền hạn và trách nhiệm của trung tâm chi phí được thể hiện cơ bản qua hai chỉ tiêu:
Tổng chi phí: Chỉ tiêu này cho thấy quy mô tài chính trong hoạt động và phạm
vi trách nhiệm của trung tâm chi phí Có thực hiện dduocj mức chi phí theo mục tiêu chung trong kỳ kế hoạch hay không
Tỷ lệ chi phí trên doanh thu: Chỉ tiêu này cho thấy hiệu suất tài chính của trung tâm chi phí
Chênh lệch chi phí = Chi phí thực tế - Chi phí dự toán Chênh lệch tỷ
Như vậy, trách nhiệm của trung tâm chi phí đối với mục tiêu chung được thể hiện qua những khía cạnh sau:
Hoàn thành kế hoạch sản xuất đáp ứng sản phẩm đầy đủ cho nhu cầu tiêu thụ, đảm bảo thực hiện kế hoạch sản xuất trong mối quan hệ với kế hoạch tiêu thụ và kiểm soát được định mức, dự toán chi phí
Kiểm soát chi phí trong mối quan hệ với doanh thu ước tính, góp phần giảm tỷ
lệ chi phí trên doanh thu để gia tăng lợi nhuận cho toàn tổ chức
Trang 37Xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan tác động đến tình hình thực hiện các định mức và dự toán chi phí
Bảng 1.1: Báo cáo đánh giá thành quả của trung tâm chi phí
Chênh lệch phản ánh kết quả hoạt động
Chênh lệch
1.4.2 Đánh giá trách nhiệm của trung tâm doanh thu
Quyền hạn và trách nhiệm của trung tâm doanh thu được thể hiện cơ bản qua hai chỉ tiêu:
Tổng doanh thu: Chỉ tiêu này cho thấy quy mô tài chính trong hoạt động và phạm vi trách nhiệm của trung tâm doanh thu
Tỷ lệ lợi nhuận trên doan thu: Chỉ tiêu này cho thấy hiệu suất tài chính của trung tâm doanh thu
Qua các chỉ tiêu này nhằm đánh giá xem DT của trung tâm có đạt được mức doanh thu như dự toán hay không? Tìm hiểu các nguyên nhân tác động đến việc thực hiện mục tiêu
Chênh lệch doanh thu = Doanh thu thực tế - Doanh thu dự toán
Trang 38Ngoài ra, đối với trung tâm doanh thu còn có thể khảo sát thêm chỉ tiêu tỷ lệ chi phí của bộ phận trên doanh thu bộ phận để đánh giá tốt hơn thành quả tài chính của trung tâm doanh thu
Như vậy, trách nhiệm của trung tâm doanh thu đối với mục tiêu chung được thể hiện như sau:
Hoàn thành dự toán về tiêu thụ sản phẩm
Kiểm soát sự gia tăng chi phí trong mối quan hệ với doanh thu, đảm bảo tốc
độ của doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí nhằm đảm bảo một hiệu suất lợi nhuận trên doanh thu
Xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến việc thực hiện dự toán tiêu thụ và phát sinh của chi phí của các bộ phận trong kỳ kế hoạch
Nếu trung tâm doanh thu được toàn quyền định giá bán, số lượng sản phẩm tiêu thụ thì trách nhiệm sẽ được đánh giá trên doanh thu tạo ra (Phụ lục 3)
Nếu chính sách giá bán được xác định bên ngoài trung tâm doanh thu ( cấp công ty), khi đó, các nhà quản trị trung tâm doanh thu sẽ chịu trách nhiệm về số lượng và kết cấu mặt hàng bán ra
Bảng 1.2: Báo cáo thành quả doanh thu trong trường hợp nhà quản trị trung tâm doanh thu không được quyền định giá bán
(Nguồn : Kế toán quản trị, Đoàn Ngọc Quế cùng cộng sự, 2011)
thụ (sp)
Đơn giá bán (ngđ/sp)
DT (ngđ)
SL SP tiêu thụ (sp)
Đơn giá bán (ngđ/sp)
DT (ngđ)
SL SP tiêu thụ (sp)
Đơn giá bán (ngđ/sp)
DT (ngđ)
SP A ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( )
SP B ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) Tổng
cộng ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( )
Trang 391.4.3 Đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận
Mục tiêu của trung tâm LN là tối đa hóa lợi nhuận, để tối đa hóa lợi nhuận thì vừa phải tăng doanh thu đồng thời giảm chi phí Do vậy, trách nhiệm của trung tâm LN không chỉ dừng ở doanh thu mà có trách nhiệm cả về chi phí Đồng thời ngoài các chỉ tiêu sử dụng ở hai trung tâm trên còn sử dụng các chỉ tiêu như sau:
Tổng lợi nhuận: Chỉ tiêu này đo lường quy mô và phạm vi trách nhiệm trung tâm kinh doanh So sánh mức lợi nhuận thực hiện với kế hoạch về số tương đối và
Tỷ lệ lợi
Lợi nhuận góp Doanh thu Lợi nhuận bộ phận = Lợi nhuận góp - Định phí bộ phận
Tỷ lệ lợi nhuận
Lợi nhuận bộ phận Doanh thu Các chỉ tiêu này, thể hiện mức đóng góp của từng bộ phận vào lợi nhuận của doanh nghiệp Qua chỉ tiêu này, các nhà quản trị có thể đánh giá hiệu quả hoạt động cũng như khả năng sinh lời của từng bộ phận vào doanh nghiệp, từ đó có những chính sách, quyết định kinh doanh phù hợp
Bảng báo cáo đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận, bằng cách so sánh kết quả thực hiện với dự toán Từ đó căn cứ vào kết quả chênh lệch đó để đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động
Trang 40Bảng 1.3: Báo cáo đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận
Chênh lệch phản ánh kết quả hoạt động
Chênh lệch phản ánh hiệu quả hoạt động
Như vậy, trách nhiệm ở trung tâm LN cần phải hoàn thành các vấn đề sau: Đảm bảo mức lợi nhuận
Đảm bảo được sự gia tăng tốc độ lợi nhuận cao hơn sự gia tăng tốc độ về vốn