Tuy nhiên, vùng cam sành Hàm Yên, Tuyên Quang những năm gần đây có nhiều diễn biến cần quan tâm, đó là: diện tích cam tăng, chủ yếu là sử dụng đất rừng, trong đó phần lớn là rừng nguyên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN VĂN VÕ
TUYỂN CHỌN CÂY ĐẦU DÒNG VÀ NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NÂNG CAO NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG CAM SÀNH TẠI HÀM YÊN
TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
NGUYỄN VĂN VÕ
TUYỂN CHỌN CÂY ĐẦU DÒNG VÀ NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NÂNG CAO NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG CAM SÀNH TẠI HÀM YÊN
TUYÊN QUANG
Ngành : Khoa học cây trồng
Mã số : 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thanh Vân
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Văn Võ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Thanh Vân
là người giúp đỡ, hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Nông học, phòng Đào tạo, các thầy cô đã tham gia giảng dạy chương trình cao học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi xin chân thành cảm ơn sở Khoa học và Công nghệ Tuyên Quang, Trung tâm cây ăn quả huyện Hàm Yên, Ủy ban nhân dân, khuyến nông viên của các xã và các hộ gia đình mà tôi tiến hành điều tra, nghiên cứu trên địa bàn huyện Hàm Yên, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình và bạn bè, đồng nghiệp
đã động viên, hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu trên
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Võ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Yêu cầu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Nguồn gốc cam quýt và phân loại 5
1.3 Đặc điểm thực vật cơ bản của cây cam Sành 6
1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt 7
1.4.1 Trên thế giới 7
1.4.2 Ở Việt Nam 9
1.4.3 Ở huyện Hàm Yên 12
1.5 Nhũng nghiên cứu về cây cam quýt 13
1.5.1 Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây ăn quả có múi 13
1.5.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cây cam quýt 17
Trang 61.5.3 Nghiên cứu về tuyển chọn giống, vật liệu gen và cây ưu tú đầu dòng 19
1.5.4 Nghiên cứu về sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng trên cam quýt 24
1.5.5 Những nghiên cứu chọn tạo cam quýt không hạt 27
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 30
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng 31
2.3.1 Nội dung 1: Điều tra đánh giá tuyển chọn giống trong quần thể cam tại các vùng trồng cam huyện Hàm Yên 31
2.3.1.1 Điều tra tuyển chọn cây ưu tú 31
2.3.1.2 Phương pháp 33
2.3.1.3 Đánh giá cây ưu tú 33
2.3.2 Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của Gibbrelline và NAA đến số hạt/quả và chất lượng cam sành tại Hàm Yên, Tuyên Quang 33
2.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý kết quả nghiên cứu 35
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Kết quả điều tra tuyển chọn cây cam không hạt, ít hạt 36
3.1.1 Kết quả điều tra tổng thể 36
3.1.2 Đặc điểm về nguồn gốc, sinh trưởng, hình dạng kích thước quả và các chỉ tiêu khác của cây cam tuyển chọn 37
3.1.2.1 Nguồn gốc, đặc điểm, vị trí, đất đai của cây cam được tuyển chọn 37
3.1.2.2 Đặc điểm hình thái của các cây cam được tuyển chọn 39
3.1.2.3 Số quả và năng suất quả của các cây cam tốt tuyển chọn 40
3.1.2.4 Đặc điểm hình thái quả, tỷ lệ ăn được và độ ngọt của quả 42
Trang 73.1.2.5 Đặc điểm quả của các cây được tuyển chọn 44
3.1.2.6 Một số chỉ tiêu lý tính quả của các cây cam được tuyển chọn 46
3.1.2.7 Tình hình sâu, bệnh hại đối với các cây cam được tuyển chọn 48
3.1.2.8 Thang điểm đạt được của các cây cam tuyển chọn 50
3.1.3 Tổng hợp kết quả tuyển chọn cây cam ít hạt 52
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất và chất lượng cam sành tại Hàm Yên, Tuyên Quang 56
3.2.1 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian ra hoa, tỷ lệ đậu hoa và quả của cam sành 56
3.2.2 Ảnh hưởng của một số chế phẩm chất điều hòa sinh trưởng đến động thái tăng trưởng kích thước quả 59
3.2.3 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến số hạt trên quả của
cam sành 61
3.2.4 Ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của cam sành 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng Việt
II Tài liệu nước ngoài
PHỤ LỤC
Trang 8KLTT : Khối lượng tăng thêm
NSTB : Năng suất trung bình
STT : Số thứ tự
TB : Trung bình
TG : Thời gian
TT : Thứ tự
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới 8
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cây có múi ở một số nước vùng châu Á 9
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam 10
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất cam quýt ở các vùng năm 2013 11
Bảng 3.1 Tình hình sản xuất 1 số xã trồng cam tại huyện Hàm Yên,
Tuyên Quang năm 2014 12
Bảng 3.2 Nguồn gốc độ dốc và loại đất 38
Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các cây cam được tuyển chọn 39
Bảng 3.4 Số quả và năng suất quả của các cây cam tốt tuyển chọn 41
Bảng 3.5 Đặc điểm hình thái quả, tỷ lệ ăn được và độ ngọt của quả 43
Bảng 3.6 Đặc điểm quả của các cây được tuyển chọn 45
Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu lý tính của các cây cam 46
Bảng 3.8 Tình hình sâu bệnh hại trên các cây được tuyển chọn 49
Bảng 3.9 Điểm đạt được của các cây cam điều tra, tuyển chọn 51
Bảng 3.10 Tổng hợp các đặc điểm của 3 cây cam ít hạt nhất được tuyển chọn 52
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian ra hoa 57
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng đến tỷ lệ đậu quả cam Sành huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang 59
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của chế phẩm chất điều hòa sinh trưởng đến động thái tăng trưởng kích thước quả cam Sành tại huyện Hàm Yên 60
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng đến số hạt trên quả của cam sành Hàm Yên 61
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất của cam 63
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Hình ảnh mẫu quả cây mã số PLNN02 được tuyển chọnnăm 2014 54 Hình 3.2 Hình ảnh mẫu quả cây mã số PL02 được tuyển chọn năm 2014 55 Hình 3.3 Hình ảnh mẫu quả cây mã số PL02 được tuyển chọn năm 2014 55 Hình 3.4 Biểu đồ năng suất quả/cây của các công thức sử dụng chất điều hòa
sinh trưởng 64
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam được xác định là quê hương của cam quít Hiện nay chúng ta còn tìm thấy nhiều loài hoang dại thuộc họ cam quít ngoài những giống cam quít của địa phương và nhập nội Cam quít trở thành một trong những cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam và được trồng từ Bắc vào Nam với bộ giống gồm khoảng gần 200 giống khác nhau
Những năm qua các vùng trồng cam quít của nước ta diện tích đã ngày được mở rộng, năng suất của các vùng trồng đã được nâng cao, nhưng chất lượng và các sản phẩm của cam quít hiện nay còn ở mức khiêm tốn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển cũng như tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế Nguyên nhân, do Việt Nam còn thiếu bộ giống tốt, công tác giống đã được chú trọng và quản lý tốt nhưng thành quả chọn giống chưa cao, điều kiện kinh
tế còn hạn hẹp, trình độ dân trí còn thấp, tập quán sản xuất còn mang nặng tính quảng canh
Vùng Trung du miền núi phía Bắc có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu
và nguồn gen phong phú cho phép phát triển tốt về cây ăn quả Cam quít, trên thực tế đã là cây trồng phổ biến, nhiều nơi trồng thành những vùng tập trung từ vài trăm đến vài nghìn hec ta như ở Bắc Sơn (Lạng Sơn), Bắc Quang, Vị Xuyên (Hà Giang), Hàm Yên, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Bạch Thông (Bắc Kạn) vv Trong tập đoàn giống cam quít ở vùng Trung du - miền núi phía Bắc, cam sành
(Citrus nobilis Lour) là một giống lai giữa cam và quít (C.reticulata x C.sinensis)
(Do Dinh Ca (2009)) [2] được người dân trồng trọt lâu năm và hiện nay đang
có diện tích trồng trọt lớn nhất so với các giống khác
Huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang), nổi tiếng có vùng cam sành rộng lớn, thương hiệu cam sành Hàm Yên chính thức xuất hiện và được công bố
Trang 12rộng rãi từ tháng 12/2007 Tới năm 2015 Huyện Hàm Yên đã tổ chức được hội chợ cam đầu tiên để đưa thương hiệu cam sành Hàm Yên giới thiệu ra thị trường rộng lớn Cây cam hiện đang chiếm vị trí quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân nơi đây
Tuy nhiên, vùng cam sành Hàm Yên, Tuyên Quang những năm gần đây có nhiều diễn biến cần quan tâm, đó là: diện tích cam tăng, chủ yếu là sử dụng đất rừng, trong đó phần lớn là rừng nguyên sinh, giống bị thoái hoá, cây không cho thu hoạch, nhất là các vườn trồng bằng cành chiết trên đất trồng cam chu kỳ 2, đặc biệt chất lượng cam sành chưa cao do vị quả chua, hạt nhiều, đồng thời công nghệ sau thu hoạch chưa được đầu tư thích đáng nên giá cả bấp bênh, tổn thất sau thu hoạch lớn (20-30%) dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao
Với thực tế nêu trên, đề tài “Tuyển chọn cây đầu dòng và nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất chất lượng cam sành tại Hàm Yên, Tuyên Quang” là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn
2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
Trang 133 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về nguồn vật liệu ban đầu cho công tác chọn tạo giống cam sành mới có chất lượng cao hơn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng, sự đậu hoa, đậu quả, số hạt trên quả, năng suất và chất lượng của cam Sành
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu
khoa học phục vụ cho công tác nghiên cứu trên cây cam ở nước ta
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần lai tạo nhân giống, xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất, chất lượng cũng như nâng cao giá trị kinh tế cho cây cam
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Số hạt trong một quả cao là một trong những đặc tính quan trọng làm giới hạn tiêu thụ quả tươi ở cây có múi cả thị trường trong và ngoài nước Một trong những mục tiêu chính của chương trình chọn tạo giống cây có múi ở nước ta và trên thế giới hiện nay là: giống không hạt, hình dạng đẹp, phẩm chất ngon, không mẫn cảm với các loại sâu, bệnh hại nguy hiểm Xu hướng chọn giống cam quýt trên thế giới ngoài việc chọn tạo các giống có năng suất, chất lượng cao, ổn định, chống chịu với điều kiện môi trường, sâu bệnh thì mục tiêu còn hướng tới chọn tạo ra các giống ít hạt hoặc không hạt
Chọn giống có thể từ các đột biến tự nhiên trong quần thể cây có múi,
do 1 lý do nào đó từ tự nhiên đã tạo ra giống cây có múi không hạt hoặc ít hạt
Ta có thể điều tra, phát hiện, thu thập, theo dõi và xác định tính ổn định của đặc tính không hạt của các cây có múi này Nếu là các cá thể tốt, có thể sử dụng phương pháp nhân giống vô tính để tạo ra hàng loạt các cây không hạt hoặc ít hạt Trường hợp này đã xẩy ra khi Washington Navel còn được gọi là Cam có rốn, đây là giống được phát hiện từ cây đột biến tự nhiên ở Brazil (Citrus sinensis (L.) Osbeck), nó đã được nhập khẩu vào Hoa Kỳ vào năm
1870 và đến nay là giống nổi tiếng trên thế giới [34]
Cây trồng nói chung và cam quýt nói riêng luôn tồn tại các cơ chế điều khiển các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Các chất điều hòa sinh trưởng chính là các chất điều tiết các cơ chế này và thông qua tác động của các chất điều hòa sinh trưởng phôi có thể hình thành phát triển thành quả không qua quá trình thụ phấn thụ tinh do vậy quả được tạo thành do tác động của các chất này thường
Trang 15không hạt hoặc ít hạt Các chất này được tổng hợp với một lượng rất nhỏ ở các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ phận khác để điều tiết hoạt động sinh lý của cây Trong số các chất điều hòa sinh trưởng có Gibberellin (GA3) và Naphthaleneaceticd NAA được tổng hợp
ở tất cả các bộ phận còn non của cây và được vận chuyển không phân cực Tác dụng sinh lý của GA3 là ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, sự lớn lên của quả, tạo quả không hạt, ngăn cản sự rụng của các cơ quan như lá, hoa, quả, làm chậm quá trình già hóa của toàn cây và sự chín của quả, kích thích kéo dài thân, dóng, kích thích sự nảy mầm của hạt, củ NAA có tác dụng kích thích cây trồng ra rễ, ra hoa đồng loạt, kết nhiều trái, trái có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng trái non, cho sản lượng tốt
1.2 Nguồn gốc cam quýt và phân loại
Hiện nay ý kiến của các tác giả có khác nhau song về cơ bản đều thống nhất là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn
Độ và Miến Điện Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát sinh của một số loài và giống cam, quýt tồn tại cho đến nay
Như Nobumasa Nito (2004) [33] đã viết “Nguồn gốc cây có múi được ghi nhận là ở Đông Nam Á bao gồm cả Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ, trong
đó có cả vùng nam Nepal, nơi có những thung lũng và sườn đồi được bảo vệ khỏi những cơn gió lạnh khô và mưa vào mùa hè Tuy nhiên sự thuần hoá và trồng trọt cây ăn quả có múi lại bắt đầu ở Trung Quốc” Theo Trần Thế Tục (1980) [17] nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3.000 - 4.000 năm
trước Một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt Kinh (Citrus nobilis Osbeck)
và quất là ở miền Nam Việt Nam, xứ Đông Dương
Các hệ thống phân loại cam quýt đầu tiên chủ yếu dựa trên các đặc điểm giải phẫu hoa, đặc điểm hình thái, phân bố địa lý và cả lịch sử phát triển
Trang 16của một số chi quan trọng Hệ thống phân loại được thừa nhận nhiều nhất hiện nay là của của Swingle và Reece (1967) [38] Theo khoá phân loại của Swingle (1967) có 16 loài, phần lớn các loài cây cam, quýt, chanh, bưởi…
thuộc chi Citrus (gồm 2 chi phụ là Eucitrus và Papeda), tộc Citreae, họ phụ
Aurantoideae, họ Rutaceae, bộ Geranial
Theo Võ Văn Chi (1997) [3], ở Việt Nam chi Citrus có 11 loài Theo Phạm Hoàng Hộ (1999) [8] chi Citrus ở Việt Nam có 25 loài cả trồng trọt và
hoang dại (có 4 loài có tên quýt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng rộng rãi ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam từ vùng núi cao Sa Pa, Đà Lạt tới các vùng thấp đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… đến đồng bằng Nam Bộ
1.3 Đặc điểm thực vật cơ bản của cây cam Sành
Ngoài những đặc điểm thực vật chung của họ cam quýt, cây cam Sành
có đặc điểm thực vật mang đặc tính của giống Theo Đỗ Đình Ca, 1996, [1] đặc điểm thực vật của cam Sành cơ bản như sau:
- Thân cây: Thân gỗ, dạng thưa, mọc thẳng, tán cây hình chổi xể, thưa, màu xanh đậm Thân tròn, nhẵn không có gai, vỏ thân màu nâu mốc, phân cành nhiều, góc độ phân cành hẹp từ 25 - 300, cành sinh trưởng có gai nhỏ, cành quả không có gai
- Lá cam Sành: Lá cam Sành có hình dạng ô van, màu xanh đậm, nút lá hơi nhọn, mép lá gợn sóng, cành lá nhỏ
- Hoa cam Sành: Nụ hoa tròn hơi bầu dục, màu trắng, đường kính khoảng 5 mm, cánh hoa lớn hơn cuống Đài hoa màu xanh, cánh đài cân đối,
có lông tơ
- Quả cam Sành: Hình cầu dẹt, vỏ quả khi chín màu vàng thẫm, sần sùi, giòn, dễ tách Túi tinh dầu ít, không hiện rõ, đỉnh quả và đáy quả bằng, hơi lõm Thịt quả màu vàng đậm, vách múi quả dễ tách, lõi đặc
Trang 17- Hạt cam Sành: Hình trứng dài, màu trắng ngà, đỉnh hạt tròn, gốc hạt nhọn, vỏ lụa màu nâu sáng, đáy hạt màu nâu đậm, màu sắc phôi xám ngà
1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt
1.4.1 Trên thế giới
Hiện nay cam quýt được phát triển khắp các lục địa, sự phát triển của các vùng cam quýt trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp ở các vùng Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề cam quýt cũng sớm phát triển và ngược lại
Năm 2009 diện tích cam quýt của toàn thế giới là 4003,4 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 17,0 tấn/ha, sản lượng đạt 67995,3 nghìn tấn Đến năm 2013, các chỉ tiêu đều tăng và đạt: diện tích là 4080,0 nghìn ha, năng suất 17,5 tấn/ha và sản lượng là 71445,4 nghìn tấn
So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2013, châu Á có tổng diện tích lớn nhất (1712,9 nghìn ha) sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng
có diện tích nhỏ nhất là châu Đại Dương 24,2 nghìn ha
- Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây phát triển rất mạnh Về năng suất được ổn định từ năm 2009 đến năm 2013 năng suất đạt từ 19,9 đến 21,2 tấn/ha
Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất cam, quýt gồm các nước (Trung Quốc,
Ấn Độ, Inđônêia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng có diện tích lớn nhất năm 2013 là 1712,9 nghìn ha, chiếm 41,98% tổng diện tích toàn thế giới So với châu Mỹ sản lượng châu Á các năm từ 2009 đến 2013 sản lượng châu Á thấp hơn châu Mỹ Nguyên nhân là do tổng diện tích châu Á lớn nhưng năng suất lại thấp hơn so với chau Mỹ Tuy châu Á có tổng diện tích trồng cam đến
Trang 18năm 2013 là cao nhất thế giới (chiếm 41,98%) nhưng lại có năng suất trung bình thấp nhất
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cam quýt trên thế giới
Chỉ
Các châu lục trên thế giới
Thế giới Châu
Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2015.[29]
- Vùng châu Á được khẳng định là quê hương của cam quýt, hầu hết các nước châu Á đều sản xuất cam quýt Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của FAO về tình hình sản xuất cam quýt ở một số nước châu Á năm 2015 như sau:
Trang 19Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cây có múi ở một số nước vùng châu Á
Vùng
Lãnh thổ
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Trung Quốc 545,90 12,58 565,60 12,83 576,00 12,97
Ấn Độ 481,00 9,50 490,80 8,88 634,40 10,13 Pa-ki-xtan 136,15 10,19 136,00 11,05 136,80 11,00 I-ran 61,23 23,07 93,50 13,74 69,24 17,22 Thổ nhĩ kì 43,16 40,09 45,73 36,32 54,76 32,53 Thái Lan 22,00 19,32 22,00 20,45 22,00 20,91 Việt Nam 43,70 12,16 42,76 12,18 43,38 12,26 Nhật Bản 4,12 13,11 4,00 13,25 3,82 12,48 Inđônêxia 51,69 35,19 51,79 31,12 45,00 31,36
Nguồn: FAO STAT/FAO Statistics - năm 2015.[29]
Diện tích lớn nhất ở vùng này là Trung Quốc năm 2011 có 545,90 nghìn ha năng suất đạt 12,58 tấn/ha, năm 2013 diện tích là 576,00 nghìn ha, năng suất đạt 12,97 tấn/ha Năm 2011 đứng thứ 2 là Ấn Độ có 481,00 nghìn
ha, năng suất đạt 9,50 tấn/ha, tuy nhiên dến năm 2013 Ấn Độ lại có diện tích cao nhất là 634,40 nhìn ha năng xuất đạt 12,97 tấn/ha Về năng suất bình quân
ở Thổ Nhĩ Kì đạt cao nhất năm 2011 là 40,09 tấn/ha
1.4.2 Ở Việt Nam
Cam quýt được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, cho đến nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước
Từ những năm hoà bình lập lại đến những năm 60 của thế kỷ 20 cam quýt ở Việt Nam còn rất hiếm, cây cam mới chỉ tập trung ở một số vùng chuyên canh như Xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùng chuyên canh cam lớn của Việt Nam mà nhiều người biết đến
Trang 20Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cam quýt như Sông
Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Sông Con đã hình thành một số vùng trồng cam chính ở nước ta
Vùng Nghệ An khoảng 1.000ha, vùng tây Thanh Hoá 500 ha, vùng Xuân Mai (Hoà Bình) 500 ha, vùng Việt Bắc 500 ha và các vùng còn lại khác 500ha [7]
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất cam quýt ở Việt Nam
1 Diện tích (ha) 63,900 60,900 68,900 67,500 70,400
2 Diện tích cho thu hoạch (ha) 63,900 60,900 56,300 55,600 57,000
3 Năng suất (tạ/ha) 105,00 118,00 118,60 126,64 124,46
4 Sản lượng (tấn) 683,500 720,100 702,100 704,100 709,400
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2015) [13]
Với số liệu thống kê ở bảng 1.4 thì diện tích sản xuất cam quýt giảm nhẹ từ năm 2009 là 63.900 ha đến năm 2010 là 60.900 ha Từ năm 2010 đến năm 2011 tăng vọt lên từ 60.800 ha lên 68.900 ha Sau đó ổn định qua các năm từ 2011 đến 2013 Diện tích cao nhất đạt 70.400 ha (năm 2013) Cùng với tổng diện tích thì diện tích cho thu hoạch sản phẩm cũng thay đổi qua các năm,từ năm 2009 đến năm 2012 diện tích cho thu hoạch giảm liên tục từ 63.900 ha xuống 55.600 ha, tuy nhiên đến năm 2013 diện tích cho thu hoạch tăng lên 57.000 ha Năng suất trung bình tăng dần qua các năm 2009 từ 105.00 tạ/ha lên 124.46tạ/ha năm 2013 Tổng sản lượng cam quýt đạt cao nhất vào năm 2010 đạt 720.100 tấn, từ năm 2010 đến năm 2013 giảm xuống còn 709.400 tấn do diện tích cho thu hoạch giảm dần theo các năm từ 60.900 (năm 2010) xuống còn 57.000 (năm 2013)
Trang 21Ở nước ta hiện nay, có nhiều vùng trồng cam quýt, song những vùng cho năng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Yên Bái, cam Bắc Quang, quýt Bắc Sơn, cam Sành Hàm Yên với tổng diện tích của cả nước năm 2013 là 70.400 ha Phân bố ở 8 vùng sản xuất bao gồm Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long Các vùng trồng cam có diện tích lớn là Đồng bằng sông Cửu Long 36.800 ha, vùng Trung du và miền núi phía bắc 13.800 ha và vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 7.700 ha
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất cam quýt ở các vùng năm 2013
Tình hình sản xuất Tổng diện
tích (nghìn ha)
Diện tích cho thu hoạch (nghìn ha)
Tổng sản lƣợng (nghìn tấn)
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2015) [13]
Tổng diện tích cây cam cao nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 36,85 nghìn ha chiếm 52,4 % toàn quốc, thấp nhất là vùng cam Tây Nguyên diện tích cho thu hoạch sản phẩm là 730 ha chiếm 1,3% diện tích toàn quốc
Trang 22Tổng sản lượng cam năm 2013 đạt 709.235 nghìn tấn, riêng vùng cam của Đồng bằng sông Cửu Long đạt 471,98 nghìn tấn chiếm 66,5 % tổng sản lượng, cao nhất trong 8 vùng trồng cam trên cả nước Thấp nhất là vùng Tây nguyên đạt 3,95 nghìn tấn chiếm 0,6% tổng sản lượng
1.4.3 Ở huyện Hàm Yên
Toàn huyện hiện có 4.037,9 ha đất trồng cam, trong đó diện tích cam đã trồng và cho thu hoạch là 2.381,8 ha với tổng số 2.786 hộ tham gia trồng; tập trung nhiều ở 9 xã: Yên Thuận, Bạch Xa, Minh Khương, Minh Dân, Phù Lưu, Tân Thành, Yên Lâm, Yên Phú và thị trấn Tân Yên Qua tổng hợp, thu nhập
từ trồng cam đạt giá trị từ 100 triệu đồng trở lên có gần 670 hộ, trong đó số có thu nhập từ 700 triệu đồng trở lên là gần 50 hộ
Bảng 1.5 Tình hình sản xuất 1 số xã trồng cam tại huyện Hàm Yên,
Tuyên Quang năm 2014
Tình hình sản xuất Diện tích
(ha)
Diện tích cho sản phẩm (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn)
Trang 23+ Diện tích trồng cam tại huyện Hàm Yên tập trung chủ yếu tại xã Phù Lưu là 1.619,0 ha chiếm 40,1% toàn huyện, diện tích cho thu hoạch là 1.097,9
ha, năng suất đạt bình quân 143 tạ/ha, sản lượng là 15.700,0 tấn
+ Đứng thứ 2 là xã Yên thuận có tổng diện tích trồng cam là 541,9 ha chiếm 13,4% toàn huyện, diện tích cho thu hoạch là 293,0 ha, năng suất trung bình đạt 100 tạ/ha, tổng sản lượng là 31.075,2 tấn thấp nhất là xã Bạch xa có tổng diện tích là 77,4 ha, chiếm 1,9% toàn huyện, diện tích cho thu hoạch là 5ha, năng suất trung bình đạt 128 tạ/ha, tổng sản lượng là 64 tấn/ha
1.5 Nhũng nghiên cứu về cây cam quýt
1.5.1 Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây ăn quả có múi
Cam quýt là cây kém chịu hạn và không chịu được ngập úng do có bộ
rễ cộng sinh với nấm Vì vậy đất trồng cam quýt cần đủ ẩm, thoáng khí, mực nước ngầm sâu dưới 1m là những điều kiện tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ cam quýt Về mặt dinh dưỡng, bên cạnh các nguyên tố đa lượng như N, P, K cam quýt còn cần các nguyên tố trung lượng, vi lượng như:
Ca, S, Zn, B, Mo, Mn, Mg, Fe, Cu v.v Nếu thiếu hụt một trong các nguyên
tố dinh dưỡng trên đều làm cho cam quýt sinh trưởng và phát triển kém, khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh kém, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm
- Nhiệt độ
Theo Trần Thế Tục (1980) [17] và nhiều tác giả khác cho rằng cây cam, quýt, chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ 12 - 39o
C, nhiệt độ thích hợp nhất từ 23-27oC Tại nhiệt độ thấp -5oC có một số giống có thể chịu được trong thời gian rất ngắn Khi nhiệt độ cao 400
C kéo dài trong thời gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài là lá rụng, cành khô héo Tuy nhiên cũng có giống chỉ bị hại khi nhiệt
độ không khí lên đến 50 - 570
C
Trang 24Nhìn chung nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cam quýt như: Sự phát lộc, quá trình quang hợp, sự hoạt động của bộ rễ, sự lớn lên của quả.v.v Bằng những nghiên cứu của mình Vũ Công Hậu (1996) [7] cho rằng rễ cam quýt hoạt động tốt khi nhiệt độ tăng dần từ 9 -
23oC Khi nhiệt độ tới 26oC cây hút đạm mạnh Ngoài ra sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn làm quả phát triển mạnh, đồng thời có ảnh hưởng đến khả năng tích luỹ, vận chuyển đường bột và axit trong cây vào quả Tuy nhiên, khi nhiệt độ ban đêm quá thấp làm cho hoạt động này kém đi Những giống có khả năng thích ứng với nhiệt độ thấp thường có phẩm vị ngon, mã quả đẹp, hấp dẫn, ngược lại những giống chịu nhiệt có phẩm chất kém hơn
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2002)[16], ở các vùng đất tốt, có nhiệt độ mùa hè không quá nóng, mùa đông không quá lạnh với nhiệt độ bình quân năm >150C, tổng tích ôn từ 2.500 - 3.500 cũng có thể trồng cam quýt Ở các vùng lục địa xa biển không nên trồng cam quýt ở độ cao từ 1.700 - 1.800m so với mực nước biển vì những vùng này mùa đông thường có tuyết rơi và nhiệt
độ xuống tới âm 40C Về phương diện nhiệt độ, cam quýt có thể phát triển khắp các miền sinh thái ở Việt Nam nhưng lý tưởng nhất là khí hậu ở vùng núi cao phía Bắc
- Ánh sáng
Theo Vũ Công Hậu và một số tác giả thì cam quýt là cây ưa ánh sáng tán xạ, nơi có cường độ ánh sáng từ 10.000 - 15.000 lux, tương ứng với 0,6 cal/cm2, ứng với ánh sáng lúc 8 - 9h sáng và 4 - 5h chiều hoặc những ngày trời quang mây mùa hè Tuy nhiên để có được lượng ánh sáng như vậy chúng
ta cần bố trí mật độ hợp lý như không quá dày cũng không quá thưa, vườn cam quýt nhất thiết phải bố trí nơi thoáng, có thể trồng cây chắn gió đồng thời
có tác dụng che bớt ánh sáng để có ánh sáng trực xạ vào những ngày trời nắng gắt, khi đủ ánh sáng cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh [7]
Trang 25- Ẩm độ và lượng mưa
Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ ẩm này không những đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt mà còn cho năng suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vỏ mỏng Nếu độ ẩm không khí quá cao hoặc quá thấp đều có hại cho cam quýt, ẩm độ không khí quá cao
và kèm theo nắng to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thường gây hiện tượng rám nắng và nứt quả
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2002)[16], lượng mưa thích hợp cho các vùng trồng cam quýt trên dưới 2.000mm, Cam cần 1.200 - 1.500, quýt cần nhiều hơn từ 1.500 - 2.000, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trong đất
có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủ khi nước tự do bằng 1% và độ ẩm đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng
Nhìn chung lượng mưa ở các vùng sản xuất nông nghiệp Việt Nam đủ thoả mãn cho nhu cầu sinh trưởng, phát triển của cây cam quýt (1.400 mm - 2.500 mm), nhưng lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm,
do đó ảnh hưởng không tốt đến năng suất, phẩm chất quả
- Gió
Quy luật hoạt động của gió là một vấn đề cần lưu ý trong việc bố trí các vùng trồng cam quýt Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt đến việc lưu thông không khí, điều hòa độ ẩm, giảm sâu bệnh hại, cây sinh trưởng tốt Tuy nhiên tốc độ gió có ảnh hưởng đến khả năng đồng hóa của cây, đặc biệt là gió lớn
Ở nước ta, đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung về mùa mưa thường có gió bão gây đổ cây, gẫy cành, rụng quả làm cho khả năng sinh trưởng và năng suất của cây giảm rõ rệt Do vậy cần chú ý đến việc trồng các đai rừng chắn gió cho các vườn trồng cam quýt ở những vùng hay có bão lớn
- Đất đai
Ở nước ta, theo Trần Thế Tục (1980)[17] và một số tác giả cho rằng
Trang 26cây cam quýt có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất thịt nặng ở đồng bằng, đất phù sa châu thổ, đất đồi núi, đất phù sa cổ, đất thịt nhẹ, đất cát pha, đất bạc màu Tuy nhiên nếu trồng cam quýt trên đất xấu, nghèo dinh dưỡng cần phải đầu tư thâm canh cao, hiệu quả kinh tế sẽ tốt hơn
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2002)[16], cây cam quýt có thể trồng được trên đa số các loại đất trồng trọt ở Việt Nam: Đất thịt nặng, đất pha cát, đất bạc màu Tuy nhiên ở những vùng đất xấu phải đầu tư nhiều, thâm canh cao, hiệu quả kinh tế sẽ thấp hơn Không nên trồng cam quýt ở đất sét nặng, đất cát già hoặc có lớp đất mặt nông, đất ong, đất có mực nước ngầm cao mà khó thoát nước Cũng theo tác giả này, đất trồng cam quýt tốt là đất bằng phẳng,
có cấu tượng, nhiều mùn, thoáng khí, giữ ẩm tốt, khi cần dễ tháo nước và có tầng đất dày (hơn 1 m càng tốt), mực nước ngầm thấp (tối thiểu phải sâu hơn 80cm) Như vậy, phần lớn đất đai vùng đồi núi phía Bắc, phía Tây Nghệ An,
Hà Tĩnh, miền Đông Nam Bộ đều thoả mãn các yêu cầu của cây cam quýt Cây cam quýt có thể trồng được trên đất có độ pH từ 4 - 8 nhưng thích hợp nhất là từ 5,5 - 6, điện thế oxy hóa khử Eh > 300mV Ở độ pH này các nguyên tố khoáng cần thiết cho cây cam quýt phần lớn ở dạng dễ tiêu, nếu là đất chua nhất thiết phải bón vôi để nâng cao độ pH cho đất Đất trồng cam quýt cần có độ thoáng cao, nồng độ oxy phải lớn hơn 4% cây mới sinh trưởng và phát triển bình thường, nếu hàm lượng oxy nhỏ hơn 2% cây sẽ ngừng sinh trưởng Nếu chúng ta đánh giá mức độ thích nghi của đất đối với cam quýt thì đất phù sa cổ là tốt nhất, sau đó đến đất phù sa mới bồi hàng năm, đất Bazan, đất dốc tụ và đất đá phiến sét Không nên trồng cam quýt trên đất thịt nặng, đất
có tầng canh tác mỏng, đất đá ong và đá lộ đầu hoặc những nơi có mực nước ngầm cao mà không thể thoát được nước [10]
Tóm lại, cam quýt có thể sinh trưởng, phát triển tốt ở khắp các miền sinh thái ở Việt Nam, nhưng lý tưởng nhất là khí hậu các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam
Trang 271.5.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cây cam quýt
Thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, muốn sinh trưởng và phát triển tốt cần phải được cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đa lượng cũng như vi lượng
+ Đạm (Nitơ): là nguyên tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu được trong quá trình sinh trưởng đặc biệt trong sự hình thành bộ lá và có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của quả Nitơ tham gia vào quá trình hình thành và phát triển cành, lá, xúc tiến hình thành các đợt lộc mới trong năm, có tác dụng giữ cho bộ lá xanh lâu Nhiều nghiên cứu cho thấy một quả cam Washington Navel muốn phát triển bình thường cần có 45 lá, cam Chanh cần 50 lá, bưởi Chùm cần 60 lá cho một quả [17]
Tuy nhiên nếu thừa đạm sẽ làm cho lá và lộc sinh trưởng quá tốt, quả lớn nhanh nhưng vỏ dày, quả bị nứt và phẩm chất quả kém, màu sắc quả đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm Nhưng nếu thiếu đạm lộc non không phát sinh đúng lúc hoặc ra ít, lá nhỏ, lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành quả nhỏ, mảnh và bị rụng lá, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất giảm
Ở điều kiện thời tiết nước ta cam quýt hấp thu đạm quanh năm, nhưng cây hút đạm mạnh nhất vào các tháng có thời tiết ấm, đồng thời cũng là thời điểm cây cam quýt trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng đến khi thu hoạch Ngoài ra khả năng hút đạm chịu sự tác động của độ pH đất, nếu pH từ 4 - 4,5 cây hấp thu mạnh dạng NO3, pH từ 6-6,5 cây hấp thu mạnh dạng NH4+,
+ Phân lân (Phospho):
Là nguyên tố dinh dưỡng rất cần cho cây sinh trưởng và phát triển đặc biệt là giai đoạn phân hóa mầm hoa
Phân lân có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quả, đủ lân lượng axit trong quả giảm, tỷ lệ đường/axit cao, hàm lượng Vitamin C giảm, vỏ quả mỏng, mã đẹp, lõi quả chặt, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển màu nhanh
Trang 28+ Kali:
Theo Vũ Công Hậu (1996)[7] kali rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt, đặc biệt là thời kỳ ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh Kali ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất quả cam quýt, vì kali tham gia vào quá trình vận chuyển các sản phẩm quang hợp về các cơ quan tích lũy trên cây Nếu cây được cung cấp đầy đủ kali quả to, ngọt, nhanh chín, có khả năng chịu được lâu dài khi vận chuyển đi xa hoặc cất giữ lâu ngày Tuy nhiên nếu thừa kali cây sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây còi cọc, đặc biệt nếu quá nhiều kali sẽ gây nên hiện tượng hấp thu caxi, magie kém, quả to nhưng xấu mã, vỏ quả dày, lâu chín
Ngoài các nguyên tố đa lượng N,P,K, các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển, năng suất
+ Canxi (Ca): được ví như xi măng gắn kết các tế bào lại với nhau, Hàm lượng Ca trong cây cao sẽ ngăn cản sự rụng ngược lại khi hàm lượng Ca trong cây thấp sẽ tăng sự rụng
+ Kẽm (Zn): rất cần cho sự tổng hợp Triptophan - tiền thân của auxin Khi thiếu Zn sẽ thiếu auxin và sẽ làm tăng sự rụng
+ Bore: là nguyên tố dùng cho cây ăn quả khá tốt Nó có vai trò quan trọng trong việc hình thành màng sinh học Đặc biệt khi Bore kết hợp với Ca làm ổn định thành tế bào Thiếu Bore ảnh hưởng lớn đến mô phân sinh và sự nảy mầm của hạt phấn Chính vì vậy, Bore có tác dụng hạn chế rụng quả trên
Trang 29nhiều đối tượng cây trồng trong đó có cây cam Khi thiếu Bore làm cho hàm lượng nước trong quả ít, hình dạng quả không bình thường Để khắc phục có thể phun dung dịch axit boric nồng độ 300g/100l nước
Khi cây thiếu Cu quả dễ bị nứt, nhất là khi còn xanh Để khắc phục thì cần giữ ẩm cho đất, phun 0,2-0,5% CuSO4 lên lá kết hợp với phun boocdo càng tốt
Khi cây thiếu Fe làm cho lá chồi non bị vàng đi dẫn đến rụng quả khi còn xanh Để khắc phục thì cần cải tạo đất, bón phân hữu cơ, phun phân vi lượng 0,5% FeSO4
Khi thiếu Mo làm cho lá lốm đốm vàng Để khắc phục có thể phun dung dịch chứa 100-150g molybdate natri trong 1.000l nước
Để nâng cao năng suất, chất lượng cam quýt, bón phân như thế nào và để đạt hiệu quả kinh tế cao, cần phải căn cứ vào những cơ sở khoa học đã được các nhà nghiên cứu khoa học đúc kết Đa phần khi bón phân cần căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng của cây ở các thời kỳ sinh trưởng và phát triển cụ thể
1.5.3 Nghiên cứu về tuyển chọn giống, vật liệu gen và cây ưu tú đầu dòng
+ Trên thế giới
Những thập kỷ qua, bằng các phương pháp chọn giống khác nhau (lai tạo, đột biến, công nghệ sinh học nuôi cấy mô, nuôi cấy tế bào, chuyển gen di truyền ADN ) các nhà khoa học nghiên cứu cây ăn quả có múi trên thế giới đã chọn tạo được nhiều giống tốt, trên cơ sở sử dụng hiệu quả các vật liệu, nguồn gen khởi đầu Càng ở những nước có ngành sản xuất cây có múi phát triển thì việc thu thập, lưu giữ và đánh giá, sử dụng các nguồn gen càng được quan tâm (singh, et.al., 1980; Zhusheng, C., 2000; Anderson, 2000) [35] [39] [25]
Ở Trung Quốc tập đoàn cây ăn quả có múi đang được lưu giữ, khai thác
có tới 1041 mẫu giống, Ấn Độ tập đoàn cây ăn quả có múi khoảng 667 mẫu giống, Malaysia có khoảng 236 mẫu giống Tại Thái Lan và Philippine tập
Trang 30đoàn cây ăn quả có múi cũng khá đa dạng với hơn 100 mẫu giống nhưng đa phần là các giống nhập nội (IPGRI, 2004)[31]
Giai đoạn 2000 - 2003, được sự tài trợ của Ngân hàng châu Á (ATY), trong khuôn khổ Dự án “Bảo tồn và sử dụng bền vững cây ăn quả bản địa ở châu Á”, một số nước châu Á đã thu thập bổ sung thêm 555 mẫu giống cây ăn quả có múi, trong đó Bangladesh thu thập mới 59 mẫu giống, Trung Quốc thu thập mới 115 mẫu giống, Ấn Độ thu thập mới 68 mẫu giống, Nepal thu thập mới 32 mẫu giống, Philippine thu thập mới 93 mẫu giống và Việt Nam thu thập mới 188 mẫu giống Trong giai đoạn này 983 mẫu giống cây ăn quả có múi đã được mô tả đánh giá và tư liệu hoá Từ các nguồn gen thu thập được,
51 dòng ưu trội đã được chọn lọc giới thiệu vào sản xuất (IPGRI, 2004) [31] Những năm gần đây, ngoài phương pháp phân tích các đặc điểm hình thái, các phương pháp phân tích đẳng gen (Isozyme analysic) và đánh giá bằng chỉ thị ADN (RFLP, RAPD, SSR) đã được phát triển và sử dụng trong công tác phân loại, đánh giá đa dạng di truyền và xác định nguồn gốc các loài thuộc chi
Citrus (Durham, et.al.,1992; Chadha and Singh, 1996; Guangming, et.al.,
2002) [28] [26] [30] Các chỉ thị ADN và chỉ thị đẳng gen đã có những thông
tin giá trị về mối quan hệ di truyền giữa các giống và loài của chi Citrus, cho phép thiết lập các bản đồ gen của chi Citrus (Singh and Shyam Sing, 2003)
[36] Việc thiết lập được các gen chỉ thị cho những đặc tính mong muốn sẽ làm tăng hiệu quả của công tác chọn tạo giống cũng như tạo cây chuyển nạp gen của cây có múi (Liou, et.al., 1996; Nobumasa Nito, 2004) [32] [33]
+ Ở Việt Nam
Hoạt động thu thập bảo tồn, đánh giá và sử dụng nguồn gen cây ăn quả
có múi nói chung và cây cam nói riêng ở nước ta bắt đầu từ rất sớm, nhiều nguồn gen cam quýt đã được thu thập và nhập nội (Bùi Huy Đáp, 1960) [5] Tuy nhiên công việc này thực sự được quan tâm và tiến hành bài bản từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX (Đỗ Đình Ca, 1996) [1]
Trang 31Năm 1992, Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả Phú Hộ đã tiến hành điều tra thu thập nguồn gen cây ăn quả có múi ở các tỉnh miền Bắc, đã thu thập mô
tả được 185 mẫu giống thuộc 11 loài Tuy nhiên đến năm 2000, tập đoàn quỹ gen cây ăn quả có múi chỉ còn lại 24 giống
Trong 2 năm từ 1996 - 1997, Viện nghiên cứu rau quả hợp tác với Viện nghiên cứu cây ăn quả quốc gia Nhật Bản tiến hành điều tra nghiên cứu thu thập nguồn gen cây ăn quả có múi ở những vùng trọng điểm trên lãnh thổ Việt Nam, đã thu thập được 267 mẫu giống Trên cơ sở đánh giá đa dạng di truyền và dựa theo khoá phân loại của Swingle đã xác định được 68 giống và một số dạng lai thuộc 6 loài riêng biệt:
Cam ngọt : Citrus sinensis Osbeck
Bưởi : Citrus grandis Osbeck
Quýt : Citrus reticulata Blanco
Chanh : Citruslimon Burn (Swingle)
Cam chua, cam đắng : Citrus aurantium Linn
Bòng/chanh yên/ phật thủ: Citrus medica
Và một số dòng lai như cam bù, cam Sành, cam voi, chấp, cam Đồng Đình (A report of exploration in Việt Nam, 1996 NIAR/DSTPQ/IPGRI, 1977)
Từ năm 1994 - 2000 Trung tâm cây ăn quả Long Định, nay là Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã tiến hành điều tra thu thập, bảo tồn và đánh giá giống cây ăn quả ở hầu hết các tỉnh miền Nam, kết hợp với nhập nội
đã thu thập được 155 mẫu giống cây ăn quả có múi Đã đánh giá và đưa vào
sử dụng 17 giống (chủ yếu là nhập nội)
Trong giai đoạn 2001 - 2003 trong khuôn khổ dự án IPGRI - ATY - TFT project, Trung tâm Tài nguyên thực vật kết hợp với Viện nghiên cứu cây
ăn quả miền Nam đã thu thập được 188 nguồn gen cây có múi
Việc tiếp cận kỹ thuật mới, hiện đại đặc biệt là áp dụng kỹ thuật chỉ thị ADN (AFLP, SSR) vào việc nhận diện một số giống cây ăn quả đặc sản, xác
Trang 32định đa dạng và quan hệ di truyền, tìm ra bộ chỉ thị phân tử đặc hiệu cho các giống cây ăn quả có múi đặc sản cũng đã được tiến hành ở một số viện, trường Đại học và trung tâm tài nguyên thực vật Năm 2004, Trịnh Hồng Kiên
và cộng sự [9] đã sử dụng kỹ thuật SSR để nghiên cứu đa dạng di truyền 285 mẫu giống cây ăn quả có múi đã thu thập được tại Việt Nam, hiện đang được bảo tồn trên đồng ruộng hoặc trong nhà lưới của các trung tâm và Viện nghiên cứu trong nước bằng phương pháp SSR (Simple Sequence Repeat) Kết quả cho thấy nguồn gen chi Citrus ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú có đủ 3
nhóm loài của chi Citrus đó là: nhóm C.medica (Citron), nhóm C.reticulata (Mandarin) và nhóm C.maxima (pomelo) hay còn gọi là nhóm C.grandis
(bưởi) Trần Thị Oanh Yến và cộng sự (Viện Cây ăn quả miền Nam), năm
2003 cũng đã sử dụng maker SSR để xác định tính đa dạng di truyền của một
số giống cam quýt ở các tỉnh phía Nam [22] Tác giả Trần Phúc Đường, Đại học Cần Thơ năm 2005 đã tiến hành đề tài “Phân loại, đánh giá và in dấu ADN các giống cây ăn quả có múi ở Việt Nam” [4]
Năm 2009, Đỗ Đình Ca đã sử dụng kỹ thuật RAP để đánh giá đa dạng
di truyền 30 mẫu giống cây đầu dòng tuyển chọn thuộc bưởi Thanh Trà và Phúc Trạch Kết quả cho thấy giữa các dòng của từng giống bưởi Thanh Trà hay bưởi Phúc Trạch tại các vùng nguyên sản tuy có sự khác nhau ít nhiều về đặc điểm hình thái nhưng đều có mối quan hệ di truyền khá gần gũi với hệ số đồng dạng của bưởi Thanh Trà trong khoảng 0,75 - 1 và bưởi Phúc Trạch là 0,89 -1 [2]
Công tác nghiên cứu chọn tạo cây ăn quả có múi đạt được trong thời gian qua tập trung chủ yếu theo hướng tuyển chọn cây ưu tú của các giống đang trồng trong sản xuất, tuyển chọn từ nguồn qũy gen trong tự nhiên và khảo nghiệm các giống nhập nội Các tài liệu đã công bố, tập trung khá nhiều vào kết quả điều tra, đánh giá tuyển chọn các dòng, giống bưởi địa phương,
Trang 33trong đó tập trung chủ yếu vào các giống bưởi nổi tiếng của Việt Nam như: bưởi Năm Roi, bưởi Thanh Trà, bưởi Phúc Trạch, bưởi Da Xanh, bưởi Đường
Lá Cam (Vũ Công Hậu, 1996; Trịnh Xuân Vũ, 1996; Trần Thế Tục, 1980; Đào Thanh Vân, 1997; Phạm Ngọc Liễu và Nguyễn Ngọc Thi, 1999; Trần Thị Oanh Yến và CS, 2010) [7] [21] [11] [18] [20] [22] Riêng viện Nghiên cứu rau quả Hà Nội, thời gian vừa qua đã chọn được 30 dòng bưởi Phúc Trạch, 20 dòng bưởi Diễn, 25 cây đầu dòng bưởi Đoan Hùng, 12 cây đầu dòng cam Sành, và 5 cây đầu dòng cam Xã Đoài từ các nghiên cứu và các hội thi bình tuyển
Trong quá trình điều tra đánh giá, tuyển chọn cây đầu dòng giống cam quýt tại Hàm Yên, Tuyên Quang năm 1988 - 1999, Nguyễn Duy Lâm, Lương Thị Kim Oanh, Lê Hồng Sơn đã kết luận: “Trong các loại cam Sành, quýt Đỏ, quýt Vàng, quýt Chum, quýt Sen thì cam Sành có khối lượng quả cao nhất, vỏ dày, thô, múi tinh dầu to, tỷ lệ ăn được thấp hơn các giống khác” Các tác giả
đã tuyển chọn được 8 cây cam Sành, 6 cây quýt các loại ở lứa tuổi từ 7 - 15 tuổi sau trồng có một số đặc điểm tốt về hình thái, năng suất và phẩm chất, đủ tiêu chuẩn làm cây đầu dòng để tiếp tục nghiên cứu đánh giá, làm cơ sở cho việc nhân và sản xuất giống phục vụ sản xuất
Trần Thế Tục, Hoàng Ngọc Thuận, Trịnh Duy Tiến (2001) đã tuyển chọn được 16 cây đầu dòng thuộc các giống cam Sành, quýt Đỏ, quýt vỏ Vàng và quýt Chum ở lứa tuổi 8 năm và trên 30 năm sau trồng
Tuyển chọn các cây ưu tú có khả năng sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, phầm chất tốt từ những giống tốt ở địa phương, xác định gốc ghép thích hợp cho các giống, các dòng đã tuyển chọn Liên tục kiểm tra sâu bệnh hại đặc biệt là bệnh Greening và tristeza bằng phương pháp phân tích, giám định mẫu
Tiêu chuẩn để trồng được cam, quýt trước tiên phải đảm bảo không có nguồn bệnh greening, không có rầy chổng cánh, sâu vẽ bùa, rệp muội và các
Trang 34đối tượng sâu ăn lá khác Do đó việc ứng dụng công nghệ sinh học vi ghép đỉnh sinh trưởng để nhân giống tạo ra các cây ưu tú sạch bệnh là biện pháp hữu hiệu nhất [24]
Việc sử dụng các nguồn vật liệu là các giống nhập nội cũng rất cần thiết trong chọn giống cam quýt Các giống nhập nội có thể sử dụng làm vật liệu để lai tạo các dạng hình phôi tâm mới, hoặc nghiên cứu thử nghiệm và khu vực hoá ngay cùng với các gốc ghép thích hợp
Theo sổ tay hướng dẫn tiêu chuẩn vườn ươm và kỹ thuật nhân giống cây ăn quả miên Nam, các Trung tâm cây ăn quả trên cả nước cần có một hệ thống sản xuất và bảo tồn giống cây ăn quả có múi sạch bệnh để làm cây ưu
tú cho địa phương
1.5.4 Nghiên cứu về sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng trên cam quýt
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật, sự hình thành hoa là dấu hiệu cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh sản, chuyển hướng từ hình thành mầm lá sang hình thành mầm hoa Sau thụ phấn thụ tinh là quá trình đậu quả, tuy nhiên sự đậu quả còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố nội tại và ngoại cảnh Hàm lượng auxin
và các chất kích thích sinh trưởng thấp là nguyên nhân dẫn đến sự rụng sau khi hoa nở Để tăng cường sự đậu quả người ta bổ sung thêm auxin và gibbrellin ngoại sinh cho hoa và quả non, hai chất này có tác dụng bổ sung thêm cho nguồn phytohoocmon có trong phôi hạt vốn không đủ cho quá trình nảy mầm Vì vậy mà sự sinh trưởng của quả được kích thích và quả khó có thể rụng ngay được
+ Au xin
Auxin có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây đặc biệt là quá trình đậu quả và sự sinh trưởng của quả Nó được sử dụng khá rộng rãi trong sản xuất nhất là với ngành trồng cây ăn quả
Trang 35Ở Hawai nhiều cánh đồng dứa được phun dung dịch muối natri của α NAA ở nồng độ 25ppm thì dứa ra hoa sớm hơn 2-3 tuần Auxin kìm hãm sự rụng của lá, hoa và quả, nồng độ sử dụng tuỳ thuộc vào từng loại quả ví dụ:
-Cà chua, bầu, bí, cam, chanh nồng độ α -NAA 10-20ppm, 2,4D nồng độ 5-10ppm
Theo Skoong, F (1940) [37] có thể dùng chất kích thích sinh trưởng với liều lượng cao để phun cho cam làm hoa rụng bớt đi để tránh hiện tượng ra quả cách năm Chẳng hạn như NAA nồng độ từ 100ppm, 200ppm 500ppm thấy kết quả như sau:
Nồng độ 500ppm: số hoa rụng đi 50%, nồng độ 250ppm: số hoa rụng đi 23%, nồng độ 200ppm: số hoa rụng đi 20% Số lượng quả tuy giảm, nhưng do trọng lượng quả tăng lên cho nên sản lượng ổn định và tránh hiện tượng cách năm Cũng theo Skoong, F (1940) [37] đã bổ xung thêm α -NAA với nồng
độ 10-20ppm để làm giảm sự rụng trái táo Sử dụng α -NAA ở nồng độ 40ppm hay phun kết hợp với GA3 nồng độ 40ppm đã làm giảm sự rụng quả, gia tăng số quả có ý nghĩa khi thu hoạch so với đối chứng, làm cho năng suất của giống xoài Tommy atkins ở Nam Phi Đối với giống xoài Langra và Ewais, phun α -NAA ở nồng độ 40ppm vào tháng 4 có ý nghĩa làm giảm sự rụng quả so với đối chứng
Ở Trung Quốc phun 2,4D ở nồng độ 5-10ppm vào mùa hoa cam đang
nở rộ thấy tỷ lệ đậu quả tăng so với đối chứng, đường kính quả tăng 9%, sản lượng tăng 34,2% [37]
+ GA3 (Gibberllin)
Lịch sử phát hiện ra gibberellin gắn liền với những nghiên cứu bệnh lúa von mà các nhà nghiên cứu người Nhật đã quan tâm từ lâu Triệu chứng điển hình là cây lúa tăng trưởng chiều cao quá mức, làm cây yếu, giảm năng suất trên 40% Các nhà bệnh cây Nhật bản cho rằng bệnh von là do loại nấm ký
Trang 36sinh ở cây lúa có tên là gibberela fujikuroi gây nên, loại nấm này đã tiết ra một chất nào đó kích thích sự sinh trưởng chiều cao của cây lúa và gây nên bệnh lý
Trong nhiều trường hợp GA3 kích thích sự ra hoa rõ rệt, ảnh hưởng đặc trưng của GA3 đến sự ra hoa là kích thích sự sinh trưởng và phát triển của trụ nằm dưới hoa (ngồng), nó được coi là thành phần hoocmon ra hoa, có thể xử
lý GA3 để có hoa quả trái vụ
GA3 cũng có tác dụng trong việc phân hóa các cơ quan sinh sản đặc biệt là sự phân hóa giới tính đực và cái, kích thích sự hình thành hoa đực và
ức chế quá trình hình thành hoa cái, chính vì vậy mà người ta đã sử dụng GA3
để điều khiển số lượng hoa đực của các cây họ bầu bí
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000) [15], phun chất kích thích sinh trưởng thực vật cho cam, quýt để nhằm: Nâng cao tỷ lệ đậu quả, làm quả to hơn, làm cho quả ít hạt hay không có hạt, làm rụng bớt hoa những năm cây ra quả nhiều, tránh hiện tượng ra quả cách năm, hạn chế rụng quả
Theo Bàn Thúy Nga (2013) [12], trong thí nghiệm về sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng: chế phẩm Antonik, kích phát tố thiên nông và GA3 trên cây cam sành tại Bắc Quang Hà Giang cho thấy việc sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng làm tăng tỷ lệ đậu hoa đậu quả lên cao so với đối chứng, chất lượng của quả cũng được cải thiện
Cũng tương tự trong thí nghiệm về sử dụng chất điều hòa sinh trưởng trên cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc Giang (Nguyễn Danh Đức, 2014) làm giảm tỷ lệ rụng quả, làm tăng năng suất thu hoạch từ 36,4 - 47,6 % và giúp tăng thu nhập trên đơn vị diện tích Trong đó, chế phẩm phân bón lá Rong biển và chất điều hòa sinh trưởng Atonik làm tăng năng suất đến 47,6% so với đối chứng [6]
Trang 371.5.5 Những nghiên cứu chọn tạo cam quýt không hạt
Số hạt trong một quả cao là một trong những đặc tính quan trọng làm giới hạn tiêu thụ quả tươi ở cây có múi cả thị trường trong và ngoài nước Một trong những mục tiêu chính của chương trình chọn tạo giống cây có múi ở nước ta và trên thế giới hiện nay là: giống không hạt, hình dạng đẹp, phẩm chất ngon, không mẫn cảm với các loại sâu, bệnh hại nguy hiểm
Thông qua phương pháp chọn lọc từ các đột biến tự nhiên, Trần Thị Oanh Yến, Nguyễn Ngọc Thi và CS (2006) [23] đã tuyển chọn được 3 dòng cam Mật không hạt: CMKH - 01, CMKH - 02, CMKH - 03 Hiện các dòng này đang được trồng khảo nghiệm, đánh giá tính ổn định, năng suất
và chất lượng tại các tỉnh phía Nam
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng các nghiên cứu chọn tạo giống Cam quýt không hạt đã đạt được một số kết quả quan trọng Xu hướng chọn tạo giống cam ngoài việc chọn tạo ra các giống có năng suất, chất lượng cao, ổn định, chống chịu với điều kiện môi trường, sâu bệnh mà mục tiêu còn hướng tới chọn tạo các giống ít hạt hoặc không hạt
Các nghiên cứu cho thấy đặc tính không hạt của các giống cây có múi
do các nguyên nhân chủ yếu sau:
Tam bội thể (3x): Cây mất khả năng tạo ra tế bào sinh dục do vậy quả
sẽ hoàn toàn không hạt trong mọi trường hợp canh tác
Hiện tượng trinh sản hay hiện tưởng quả điếc
Tính trạng bất dục đực hoàn toàn hoặc từng phần, bất dục cái hoàn toàn hoặc từng phần
Tính trạng tự bất hòa hợp (self-incompatibility) làm tế bào trứng không được thụ tinh dẫn đến không hạt
Trang 38Ngoài ra các nghiên cứu gần đây cho biết đặc tính không hạt có thể do đột biến gen hoặc do một gen nào đó điều khiển, do vậy một hướng nghiên cứu làm bất hoạt gen cũng đã được mở ra
Những kết quả nghiên cứu về đặc tính không hạt của cam quýt trên đây
đã tạo ra cơ sở cho việc xác định và xây dựng các phương pháp về chọn tạo giống không hạt Một số phương pháp chọn tạo giống cam không hạt chủ yếu như sau:
- Chọn cây tam bội không hạt hình thành tự phát khi lai nhị bội với nhị bội
- Chọn giống cam bất dục đực và bất dục cái
- Chọn giống thể đa bội và dị bội cho quả không hạt
Ngoài ra còn có các phương pháp tạo giống không hạt bằng đột biến và biến dị tế bào soma, tạo giống không hạt thong qua di truyền tính trạng tự bất hòa hợp, hay chọn tạo bằng dung hợp tế bào trần
Ở Việt Nam, các phương pháp chọn tạo giống cam không hạt vẫn chủ yếu là chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính, gây đột biến và ứng dụng công nghệ sinh học Đây là những phương pháp chọn tạo cơ bản mang tính hiện đại mới chỉ thực hiện mấy năm gần đây ở các Viện nghiên cứu, Trường Đại học do vậy một số kết quả thu được mới chỉ là tiền đề hoặc vật liệu khởi đầu cho những chọn tạo tiếp theo
Nhìn chung hạn chế lớn nhất đối với cây ăn quả có múi nói chung và cam nói riêng ở nước ta vẫn là chất lượng kém trong đó vấn đề nhiều hạt luôn được xem là yếu tố quyết định đến chất lượng hàng hóa Chính vì vậy mục tiêu chọn các giống năng suất chất lượng và ít hạt hoặc không hạt luôn là mục tiêu xuyên suốt trong công tác chọn tạo giống cam quýt
Cam quýt với sự đa dạng về chủng loại, giống là một trong những cây
ăn quả quan trọng có giá trị dinh dưỡng và kinh tế ở Việt Nam Diện tích và sản lượng cam quýt không ngừng tăng trong những năm trở lại đây, mặc dù
Trang 39có một số hạn chế về sinh thái, cam quýt vẫn được quan tâm phát triển ở Việt Nam Những năm qua ở nước ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển cây ăn quả có múi, bao gồm các lĩnh vực thu thập bảo tồn, đánh giá và khai thác sử dụng nguồn gen, cải tiến giống (phục tráng và chọn tạo), nhân giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh hại cũng như xử lý và bảo quản sau thu hoạch Mặc dù đã có nhiều kết quả đáng kích lệ nhưng cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung trên cây bưởi, cây quýt chưa có nhiều nghiên cứu hệ thống cho cây cam, đặc biệt là cây cam Sành Hàm Yên Do vậy việc nghiên cứu đánh giá tuyển chon cây cam Sành ưu tú ít hạt, không hạt và việc áp dụng một số biện pháp khoa học
kỹ thuật nhằm giảm số hạt/quả, nâng cao năng suất chất lượng cam sành tại huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang là những vấn đề chính trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi
Trang 40Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cam Sành Hàm Yên
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
Phân bón qua lá, chất điều hòa sinh trường GA3, NAA
- NAA:Chất điều hòa sinh trưởng Naphthalene Acetic Acid NAA (90%)
có Công thức hóa học là C12H9O2 có tác dụng kích thích cây trồng ra rễ, ra hoa đồng loạt Nguyên liệu sản xuất phân bón điều hoà sinh trưởng thực vật, kết nhiều trái, trái có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng trái non, cho sản lượng tốt, cây đâm rễ nhanh mộng sớm và dài hơn, thúc đẩy sự phân bào và hình thành rễ nhánh, rễ lá, dùng để tăng nhanh tốc độ giâm trồng Kích thích quả
to, thân, rễ củ lớn to
- Gibberellin (GA 3 ): công thức hóa học là C13H22O6, là chất có hoạt tính mạnh trong 103 gibberelin khác nhau, ký hiệu từ GA1 → GA103 Tác dụng sinh
lý của GA3 là ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, sự lớn lên của quả, tạo quả không hạt, ngăn cản sự rụng của các cơ quan như lá, hoa, quả, làm chậm quá trình già hóa của toàn cây và sự chín của quả, kích thích kéo dài thân, dóng, kích thích sự nảy mầm của hạt, củ, căn hành, tỷ lệ hoạt chất chiếm 70%
- Kích phát tố hoa trái Thiên Nông(GA 3 Thiên Nông): Dạng bột, dễ tan
trong nước, hàm lượng gồm: Alpha-Naphthalene Acetic Acid 2%, Naphtoxy Acetic Acid 0.5%, Gibberrellic Acid GA3 0.1%
Beta-2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Điều tra tại các xã trồng cam thuộc huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang
- Thí nghiệm được bố trí tại xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
- Thời gian nghiên cứu: 2014 - 2015