Khái niệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi ho
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN VĂN VIÊN
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN VĂN VIÊN
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm
về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
NGUYỄN VĂN VIÊN
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu tại Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn, em đã nỗ lực, cố gắng vận dụng những kiến thức đã được học trong nhà
trường để hoàn thành luận văn với tên đề tài “Tăng cường quản lý nhà nước về
bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”
Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt những tri thức bổ ích, tạo điều kiện giúp đỡ trong thời gian
em học tập tại trường
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lãnh đạo và cán bộ nhân viên Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên em giúp em hoàn thành luận văn đúng thời hạn quy định của nhà trường
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai
người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Học viên
NGUYỄN VĂN VIÊN
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Đóng góp của đề tài 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM Y TẾ 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 5
1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 5
1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 8
1.1.3 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 8
1.1.4 Nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 11
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 16
1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 18
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế ở một số nước trên thế giới và bài học với Việt Nam 18
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về BHXH và BHYT ở một số địa phương trong nước và bài học đối với BHXH huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 24
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 30
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 31
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 31
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 32
2.3.1 Chỉ tiêu về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 32
2.3.2 Chỉ tiêu thu bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 33
2.3.3 Chỉ tiêu chi bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 33
2.3.4 Chỉ tiêu quản lý nợ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 33
2.3.5 Chỉ tiêu quản lý cấp sổ bảo hiểm xã hội và cấp thẻ bảo hiểm y tế 34
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN 35
3.1 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Giới thiệu chung về huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 35
3.1.2 Giới thiệu về Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 40
3.2 Thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 47
3.2.1 Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 48
3.2.2 Tổ chức và hoàn thiện bộ máy thực hiện bảo hiểm xã hội 49
3.2.3 Tổ chức quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 50
3.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 72
3.3.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 72
3.3.2 Những hạn chế 74
3.3.3 Nguyên nhân gây ra những hạn chế 75
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG
CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ BẢO
HIỂM Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN 77
4.1 Quan điểm và định hướng tăng cường quản lý nhà nước về BHXH, BHYT trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020 77
4.1.1 Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 77
4.1.2 Định hướng tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế của Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể 78
4.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 79
4.2.1 Tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 79
4.2.2 Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 82
4.2.3 Giải quyết kịp thời chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 84
4.2.4 Khuyến khích người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện 85
4.2.5 Hoàn thiện hệ thống tổ chức và nâng cao năng lực cán bộ BHXH 86
4.3 Một số kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 88
4.3.1 Đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 88
4.3.2 Đối với Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Kạn 88
4.3.3 Đối với đơn vị sử dụng lao động 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình lao động của BHXH huyện Ba Bể 46
Bảng 3.2 Tổng số người tham gia BHXH, BHYT huyện Ba Bể 50
Bảng 3.3 Cơ cấu đối tượng tham gia BHXH, BHYT huyện Ba Bể 52
Bảng 3.4 Tình hình thực hiện thu bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 54
Bảng 3.5 Tổng số tiền thu bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 55
Bảng 3.6 Cơ cấu thu BHXH, BHYT huyện Ba Bể 57
Bảng 3.7 Tổng số tiền chi bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 58
Bảng 3.8 Cơ cấu chi bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 59
Bảng 3.9 Tổng số tiền nợ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 62
Bảng 3.10 Cơ cấu nợ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế 63
Bảng 3.11 Tình hình cấp sổ bảo hiểm xã hội 64
Bảng 3.12 Tình hình cấp thẻ bảo hiểm y tế 65
Bảng 3.13 Tình hình giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội 67
Bảng 3.14 Tình hình giải quyết chế độ bảo hiểm y tế 68
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý BHXH huyện Ba Bể 44
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
An sinh xã hội có vai trò rất lớn trong kinh tế thị trường nói chung và trong những giai đoạn khủng hoảng kinh tế nói riêng, vừa là mục tiêu hướng tới của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa là những nội dung, những định hướng, những hoạt động cụ thể của các chính sách này
An sinh xã hội là chính sách cốt lõi quyết định sự phát triển ổn định và bền vững ở mọi quốc gia, góp phần giảm bất bình đẳng, hạn chế sự tổn thương của người dân, gia đình và cộng đồng trước những rủi ro, bất trắc trong cuộc sống Ở Việt Nam, an sinh xã hội là một trong những trụ cột cơ bản trong hệ thống chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước quan tâm xây dựng Trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, vấn đề cơ bản nhất là làm sao có thể kết hợp hài hòa các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, mà Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ Việt Nam đã đề ra
Bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội là hai vấn đề trụ cột của an sinh xã hội Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế ở Việt Nam còn thấp, mức độ sử dụng bảo hiểm không cao Người dân chưa thực sự quan tâm đến bảo hiểm y tế do chất lượng khám chữa bệnh bằng bảo hiểm còn nhiều hạn chế Mức độ tham gia bảo hiểm xã hội còn thấp, quỹ lương hưu bị mất cân bằng và đang đứng trước nguy cơ vỡ quỹ trong 10 năm tới, trong khi Việt Nam đã bước sang giai đoạn già hóa dân số Công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội
và bảo hiểm y tế nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội
Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Kạn Trong thời gian qua, cán bộ, viên chức Bảo hiểm xã hội huyện
Ba Bể đã thường xuyên chủ động, tích cực phối hợp với các phòng, ban liên quan, các đơn vị sử dụng lao động không ngừng phấn đấu thực hiện tốt các
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, với địa bàn quản lý rộng, đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số, chi trả thông qua đại lý nên công tác quản lý đối tượng còn gặp nhiều khó khăn Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chủ yếu là những người
đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa đủ năm để nghỉ hưu tiếp tục tham gia Nhận thức của một bộ phận đối tượng hưởng chế độ và đơn vị sử dụng lao động còn hạn chế về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Các văn bản hướng dẫn thực hiện về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế ban hành luôn sửa đổi, bổ sung nên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của viên chức Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể Số tiền nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế có xu hướng tăng qua các năm Năm
2014, tổng số nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là 706,68 triệu đồng, tăng 285,39 triệu đồng ứng với tăng 67,7% so với năm 2013 Sự phối hợp giữa Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể với các cơ quan liên quan trên địa bàn huyện chưa thực sự tốt dẫn đến bỏ sót hoặc không vận động được các đối tượng bắt buộc tham gia Do đó, tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể là quan trọng và cấp thiết Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên
địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về bảo
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm
y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn từ năm 2012 đến 2014
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước
về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn bao gồm các nội dung: Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; Quản lý thu - chi bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; Quản lý nợ bảo hiểm
xã hội và bảo hiểm y tế; Quản lý cấp sổ bảo hiểm xã hội và cấp thẻ bảo hiểm
y tế; Giải quyết chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
- Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu thực trạng trong 3 năm gần đây,
từ năm 2012 đến hết năm 2014 và đề xuất giải pháp, kiến nghị cho đến năm 2020
4 Đóng góp của đề tài
Kế thừa các công trình nghiên cứu trong nước, luận văn có những đóng góp sau: Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; Phân tích và đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trong những năm gần đây, chỉ
ra được những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân gây ra; Đồng thời, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Chương 4: Giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM Y TẾ
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
1.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội
Trong quá trình lao động, con người không ngừng nỗ lực, phấn đấu để đạt kết quả cao nhất Một trong những mục đích cuối cùng của con người là kinh tế Đó cũng là một trong những mục tiêu của sự phát triển Trong lao động, con người làm ra của cải cho chính bản thân mình và cho xã hội Tuy vậy không phải bất cứ lúc nào sự nỗ lực của con người cũng được đền đáp xứng đáng Có những sự nỗ lực đã gặp phải những khó khăn, trắc trở hoặc những rủi ro ngoài ý muốn do điều kiện tự nhiên, môi trường sống hoặc môi trường xã hội làm cho con người gặp khó khăn trong cuộc sống của mình, mà
ta gọi chung là rủi ro trong lao động Những rủi ro này có thể là: ốm đau, tai nạn, mất việc làm, già yếu, tử vong Những rủi ro này làm cho người lao động giảm khả năng lao động dẫn đến việc làm giảm hoặc mất thu nhập, nói một cách chung nhất là gặp khó khăn về kinh tế trong cuộc sống hiện tại Để khắc phục những rủi ro này thì chính sách bảo hiểm xã hội được coi là một chính sách mang tính chất xã hội có hiệu quả tốt, đáp ứng nhu cầu của phần lớn người lao động và được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp
do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội, do đó, đối tượng của BHXH chính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người lao động tham gia BHXH Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng lao động Tuy vậy, tuỳ theo sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó (Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam năm 2014)
1.1.1.2 Khái niệm bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là một nội dung của BHXH, một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội Cùng với các hệ thống cung cấp (hay còn gọi là chế độ ưu đãi xã hội, chế độ bao cấp) và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt động của BHXH nói chung đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự bình ổn xã hội Chính vì vai trò cực kỳ quan trọng của BHXH như vậy, cho nên ở mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH luôn do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH Đó cũng là một cơ sở quan trọng để phân biệt giữa BHXH về y tế và bảo hiểm tư nhân về y tế Trong các nước công nghiệp phát triển thì loại hình BHYT tư nhân cũng được phát triển và cùng tồn tại song song với BHXH về y tế Vì vậy, nói đến BHYT ở đây là chúng ta hiểu là đang
đề cập đến BHXH về y tế hay nói cách khác là BHYT theo luật pháp BHXH
ở nước ta hiện có các chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất thì cũng có thể hiểu BHYT là chế độ khám chữa bệnh
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm
sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế Như vậy, bảo hiểm y tế là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài lực từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm để hình
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
thành quỹ bảo hiểm và sử dụng quỹ để thanh toán các chi phí khám chữa bệnh cho người được bảo hiểm khi ốm đau (Luật Bảo hiểm Y tế Việt Nam sửa đổi,
bổ sung năm 2014)
1.1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Bản chất của quản lý nhà nước là quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và được thực hiện bởi bộ máy nhà nước với cơ sở vật chất - tài chính to lớn, bằng phương pháp thuyết phục và cưỡng chế (Đỗ Thị Hải Hà,
2010, Giáo trình Quản lý Nhà nước về kinh tế)
Hiện nay chưa có khái niệm cụ thể hoặc định nghĩa chính xác về quản
lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT Song từ việc làm rõ các khái niệm ở một số văn bản có đề cập đến quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT ta có thể đưa ra những đặc trưng cơ bản về quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT như sau:
Quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT là quá trình nhà nước sử dụng trong phạm vi quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh vào các quan hệ nảy sinh trong hoạt động BHXH, BHYT nhằm đảm bảo cho hoạt động BHXH, BHYT diễn ra theo đúng quy định của pháp luật và thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của BHXH, BHYT Quản
lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT là một quá trình từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về BHXH, BHYT; Tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật về BHXH, BHYT; Tổ chức
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách về BHXH, BHYT đến việc tổ chức bộ máy thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH
1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
- Nhà nước là chủ thể tổ chức và quản lý các hoạt động BHXH, BHYT trong nền kinh tế thị trường
Xuất phát từ tính phức tạp, năng động và nhạy cảm của nền kinh tế thị trường đòi hỏi mang tính quyền lực nhà nước để tổ chức và điều hành các hoạt động BHXH, BHYT Chủ thể ấy chính là nhà nước mà cụ thể hơn là các
cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền Để hoàn thành sứ mệnh của mình nhà nước phải xây dựng, tổ chức và quản lý các hoạt động BHXH, BHYT
- Pháp luật là cơ sở và là công cụ của quản lý nhà nước về BHXH, BHYT
Pháp luật là công cụ không thể thay thế do xuất phát từ nhu cầu khách quan trong nền kinh tế thị trường để nhà nước tổ chức và quản lý các hoạt động BHXH, BHYT nói riêng và hoạt động kinh tế - xã hội nói chung Trong nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế nói chung, các quan hệ BHXH, BHYT nói riêng diễn ra phức tạp và đa dạng đòi hỏi sự quản lý của nhà nước Để quản
lý được nhà nước phải sử dụng đến hệ thống các công cụ như: Luật, các văn bản luật, các công cụ cưỡng chế Luật và các văn bản luật nhà nước ban hành mang tính chuẩn mực Những quy tắc sử sự có tính bắt buộc chung được nhà nước sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhất và không thể thiếu trong việc quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội cũng như các hoạt động BHXH, BHYT
Sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT đòi hỏi có một bộ máy thực hiện các hoạt động BHXH, BHYT mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một hệ thống pháp luật về BHXH, BHYT đồng bộ hoàn chỉnh
1.1.3 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.1.3.1 Xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường định hướng
mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn Tuy nhiên, sự phát triển mạnh
mẽ, đa dạng và phức tạp của nền kinh tế thị trường đã đặt ra nhiều thách thức và thử thách như: sự lựa chọn, đào thải lao động của thị trường dẫn đến mất việc làm và thất nghiệp của người lao động, sự biến động phức tạp của thị trường và sản xuất kinh doanh đưa đến cho người lao động những rủi ro ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ngày một gia tăng Để bảo vệ lợi ích của người lao động đòi hỏi nhà nước ta cần tăng cường vai trò quản lý của mình hơn nữa đối với chính sách hỗ trợ cho các rủi ro trên người lao động khi họ gặp các rủi ro đó Trong đó, việc tăng cường quản lý nhà phải làm sao vừa quản lý, vừa kiểm soát được các hoạt động BHXH, BHYT nhưng không làm hạn chế sự phát triển của xã hội nói chung và phải tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội Trong đó, vấn đề quản lý hoạt động BHXH, BHYT phải được tiến hành gắn liền với sự phát triển kinh tế, hài hoà với tiến bộ và công bằng xã hội
Vì vậy, tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT
là một yêu cầu cấp bách, tất yếu, khách quan đặt ra từ chính đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.1.3.2 Xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân,
do dân và vì dân
Để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi phải tiến hành đồng
bộ nhiều biện pháp, trong đó cần phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức của các cơ quan nhà nước Vì vậy, tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT ở nước ta là một mục tiêu nhằm thực hiện yêu cầu xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân Việc tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT với mục đích tạo ra một cơ chế, chính sách công bằng, dân chủ đáp ứng nguyện vọng của đại đa số người lao động, đòi hỏi của xã hội, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động khi tham gia quan hệ BHXH, BHYT
Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT nhằm xác định rõ trách nhiệm của người sửa dụng lao động và người lao động trong việc đóng quỹ BHXH, BHYT và trách nhiệm của nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT Thông qua hệ thống Luật BHXH, Luật BHYT làm phương tiện để nhà nước quản lý, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát để mọi quan
hệ BHXH, BHYT hình thành, vận động và phát triển nhằm đạt mục tiêu vì lợi ích của nhân dân lao động, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động như đúng bản chất vốn có của Nhà nước Việt Nam
1.1.3.3 Xuất phát từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực Sắp tới, Việt Nam sẽ ký Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu, đặc biệt là tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) Trong trường hợp khi gia nhập AEC, các doanh nghiệp bảo hiểm từ các nước ASEAN có thể cung cấp dịch vụ bảo hiểm trực tiếp cho các cá nhân, tổ chức ở nước ASEAN khác; các cá nhân, tổ chức trong ASEAN có thể tự do
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
mua các dịch vụ bảo hiểm ở các nước ASEAN khác; các doanh nghiệp bảo hiểm ASEAN được mở công ty, chi nhánh hoạt động ở nước ASEAN khác; các chuyên gia bảo hiểm có thể tự do kiếm việc làm, cung cấp dịch vụ ở các nước ASEAN khác (căn cứ theo lộ trình cam kết của từng quốc gia ASEAN cụ thể, nhưng mục tiêu là sẽ tự do hóa toàn bộ ở tất cả các nước ASEAN vào năm 2020)
Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam sẽ có thêm cơ hội kinh doanh với một thị trường chung ASEAN có hơn 625 triệu dân, GDP trên 2.400 tỷ USD và tốc độ tăng trưởng trung bình trên 5%/năm Tuy nhiên, các doanh nghiệp sẽ gặp những thách thức mới từ sự cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm ASEAN khác ngay tại sân nhà, đặc biệt từ các nước có ngành bảo hiểm phát triển hơn như Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines thông qua việc thành lập công ty, mở chi nhánh tại Việt Nam; thúc đẩy bán bảo hiểm qua biên giới, các dịch vụ trung gian và phụ trợ bảo hiểm, tái bảo hiểm, tham gia các thị trường ngách mà các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam còn yếu như bảo hiểm rủi ro mạng, rủi ro đặc thù Với lý do như trên, Việt Nam cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước về BHXH, BHYT thông qua việc xây dựng và thực thi Luật BHXH, Luật BHYT phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế
1.1.4 Nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
Cũng giống như các nước khác trên thế giới, quản lý nhà nước về BHXH, BHYT đều trải qua các bước như ban hành luật BHXH, BHYT; Xây dựng hệ thống bộ máy BHXH, BHYT; Tổ chức quản lý nhà nước về BHXH, BHYT Ở nước ta, tại điều 7 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và điều 4 Luật Bảo hiểm Y tế năm 2008, để thực hiện quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, Nhà nước thực hiện các bước sau đây:
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.1.4.1 Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Trình tự của quá trình xây dựng thể chế về BHXH, BHYT: Cũng tương
tự như quá trình xây dựng thể chế về các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác, quá trình xây dựng thể chế chính sách BHXH, BHYT bao gồm các bước sau đây:
- Đảng ban hành chủ trương, đường lối, chính sách về BHXH, BHYT thông qua Nghị quyết, Chỉ thị của mình qua từng thời kỳ phát triển
- Nhà nước (Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước) thể chế hoá chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng về BHXH, BHYT bằng các văn bản quy phạm pháp luật Nhà nước quản lý hoạt động BHXH, BHYT thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các văn bản về luật
- Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản pháp quy (Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị) quy định cụ thể việc thi hành luật, pháp lệnh của Nhà nước về BHXH, BHYT
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, BHXH Việt Nam, chính quyền các cấp ở địa phương ban hành các Thông tư, Quyết định, Chỉ thị là những văn bản dùng để thi hành luật, pháp lệnh của Nhà nước, các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ
Ngoài ra, HĐND, UBND các cấp có thể ban hành các văn bản có hiệu lực pháp lý trên phạm vi lãnh thổ, thuộc thẩm quyền quản lý của cấp
đó, nhưng phải đảm bảo tuân thủ các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn của cấp trên
1.1.4.2 Tổ chức và hoàn thiện bộ máy thực hiện bảo hiểm xã hội
Hoạt động BHXH, BHYT cũng như bất kỳ một hoạt động nào khác đều cần có đội ngũ cán bộ (bộ máy tổ chức) trên cơ sở quyền hạn và nhiệm vụ của mình thực hiện hoạt động trong phạm vi được giao Bộ máy quản lý BHXH, BHYT được tổ chức từ Trung ương đến địa phương Cùng với sự phát triển
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
của xã hội thì bất kỳ bộ máy tổ chức ở một lĩnh vực nào cũng phải luôn được kiện toàn đáp ứng với sự phát triển đó Bộ máy quản lý BHXH, BHYT cũng không ngoại lệ, đây là một nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, BHYT
1.1.4.3 Nhà nước tổ chức quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Do điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị của mỗi nước khác nhau nên
hệ thống BHXH của các nước xây dựng khác nhau và vì vậy không có mô hình tổ chức BHXH chung cho tất cả các nước Có một số nước giao cho một
bộ nào đó vừa đảm nhận cả chức năng quản lý nhà nước về BHXH và vừa tổ chức thực hiện các nghiệp vụ BHXH Ở Việt Nam, Nhà nước giao cho Bộ Lao động, Thương binh và xã hội quản lý hoạt động của BHXH và BHYT Nội dung quản lý về BHXH, BHYT gồm các nội dung sau:
a Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
Đối tượng tham gia BHXH được quy định tại điều 2 - Đối tượng áp dụng của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 Đối tượng tham gia BHYT được quy định tại điều 1 - Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật Bảo hiểm Y tế năm 2008 Đối tượng tham gia BHXH, BHYT được quy định rất rõ đối với từng cá nhân, tổ chức là đối tượng điều chỉnh của Luật BHXH, BHYT Khi đã xác định được đối tượng tham gia BHXH, BHYT, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về BHXH, BHYT là phải đảm bảo được trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của các đối tượng tham gia
b Quản lý thu bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
Nguồn thu bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế từ các khoản phí đóng góp của từng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế Các khoản thu gồm hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, khoản đóng góp của chủ sử dụng lao động và khoản đóng góp của người lao động Đối tượng đóng góp, mức đóng góp, trách nhiệm đóng góp và cách tính các khoản đóng góp được quy định cụ thể trong Luật Bảo hiểm xã hội và Luật Bảo hiểm Y
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
tế Các khoản đóng góp của các đối tượng tham gia BHXH, BHYT có thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế Cơ quan quản lý nhà nước về BHXH, BHYT phải có trách nhiệm thu đúng, thu đủ các khoản đóng góp của các đối tượng tham gia
c Quản lý chi bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
- Chi bảo hiểm xã hội gồm chi từ nguồn ngân sách nhà nước (chi cho
các chế độ BHXH hàng tháng, các chế độ BHXH một lần) và chi từ nguồn quỹ BHXH
d Chi bảo hiểm y tế từ nguồn quỹ BHYT
Quỹ bảo hiểm y tế là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng bảo hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, chi phí quản lý bộ máy của tổ chức bảo hiểm y tế và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến bảo hiểm y tế
Cơ quan quản lý nhà nước về BHXH, BHYT phải có trách nhiệm chi đúng, thu đủ cho các đối tượng tham gia; sử dụng quỹ BHXH, BHYT theo đúng quy định của Luật BHXH, Luật BHYT và các quy định của pháp luật
có liên quan
e Quản lý nợ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
Nợ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế gồm nợ dưới 1 tháng, nợ từ 1 tháng đến dưới 6 tháng và nợ từ 6 tháng trở lên Tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH vẫn còn phổ biến ở tất cả các địa phương trong cả nước Do đó, quản lý nợ về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế của các cơ quan bảo hiểm xã hội là yêu cầu cần thiết và cấp bách
f Quản lý cấp sổ bảo hiểm xã hội và cấp thẻ bảo hiểm y tế
Sổ bảo hiểm xã hội là loại giấy tờ được cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp cho người lao động để quản lý quá trình làm việc và đóng bảo hiểm của người
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
lao động, sổ này là căn cứ tính hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật Khi người lao động có sự thay đổi nghề nghiệp, nơi làm việc, mức lương đóng bảo hiểm xã hội thì phải ghi vào Sổ Bảo hiểm xã hội
Thẻ bảo hiểm y tế được cấp cho người tham gia BHYT và làm căn cứ
để được hưởng các quyền lợi về BHYT theo quy định của Luật BHYT Mỗi người chỉ được cấp một thẻ BHYT Thẻ BHYT có giá trị sử dụng như sau:
+ Kể từ ngày đóng BHYT đối với người có trách nhiệm tham gia BHYT hoặc người tự nguyện tham gia BHYT liên tục từ lần thứ 2 trở đi
+ Sau 30 ngày đối với người tự nguyện tham gia BHYT lần đầu hoặc đóng BHYT không liên tục Riêng đối với quyền lợi về dịch vụ kỹ thuật cao thì thẻ BHYT có giá trị sử dụng sau 180 ngày kể từ ngày đóng BHYT
+ Đối với trẻ em dưới 6 tháng tuổi thì thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng đến ngày trẻ đủ 72 tháng tuổi
g Giải quyết chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
Khi tham gia BHXH, BHYT thì với mỗi loại hình bảo hiểm khác nhau
sẽ có các chế độ được hưởng khác nhau của người tham gia Để giảm tình trạng trốn đóng, nợ đọng đồng thời khuyến khích, mở rộng được đối tượng tham gia thì cần phải giải quyết tốt các chế độ, chính sách cho đối tượng tham gia BHXH, BHYT
h Công tác quản lý, sử dụng quỹ BHXH, quỹ BHYT
Quỹ BHXH, quỹ BHYT là quỹ tài chính độc lập, tập trung được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và các nguồn thu hợp pháp khác, được nhà nước bảo hộ Quản lý quỹ BHXH, quỹ BHYT là một yêu cầu bắt buộc
để thực hiện chức năng tài chính và chính sách BHXH, BHYT của Nhà nước
i Công tác quản lý, lưu trữ hồ sơ về BHXH, BHYT
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Quản lý, lưu trữ hồ sơ là cơ sở để giải quyết các chế độ chính sách và trả hồ sơ cho các đối tượng được hưởng chế độ BHXH, BHYT Do đó, quản
lý, lưu trữ hồ sơ phải đảm bảo đúng quy định, chính xác và an toàn
j Công tác thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện chế độ, chính sách
về BHXH, BHYT
Trong quá trình thực hiện công tác BHXH, BHYT đối tượng hưởng BHXH, BHYT không cố định luôn phát sinh, thay đổi vì vậy phải tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra để đảm bảo việc thực hiện các chế độ, chính sách theo đúng quy định của pháp luật Đồng thời nâng cao nhận thức cho chủ sử dụng lao động và người lao động về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của BHXH, BHYT cũng như quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm khi tham gia
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
Hoạt động BHXH, BHYT là hoạt động chịu sự tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Song khái quát lại thì hoạt động BXHH, BHYT chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản sau:
1.1.5.1 Sự phát triển của nền kinh tế
Sự phát triển của mỗi nền kinh tế là minh chứng cho trình độ văn minh của xã hội Xã hội càng văn minh thì cuộc sống của con người càng được đảm bảo vững chắc Trong bất cứ hoạt động nào, thì trình độ phát triển của xã hội cũng là một nhân tố quyết định tới việc chi phối các hoạt động của xã hội đó Hoạt động BHXH, BHYT cũng là một chính sách không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó Xã hội càng phát triển, thu nhập của người dân càng cao, đời sống người dân càng được cải thiện Khi mức sống đã tăng lên, người dân không chỉ quan tâm đến cái ăn, cái mặc mà còn quan tâm nhiều hơn đến chăm sóc sức khỏe và đời sống tinh thần Như vậy từ sự thay đổi về thu nhập, về mức sống sẽ dẫn đến sự thay đổi về ý thức, nhận thức của người dân Các hoạt
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
động thu, quản lý quỹ, chi trả các chế độ trợ cấp trở nên chuyên nghiệp hơn Vấn đề hình thành quỹ, công tác ban hành luật BHXH, BHYT, công tác tuyên truyền nhận thức về BHXH, BHYT và cuối cùng là công tác quản lý hoạt động BHXH, BHYT cũng trở nên chuyên môn hoá hơn
1.1.5.2 Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước
Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước nói chung và trong lĩnh vực bảo hiểm nói riêng có vai trò rất quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước về BHXH, BHYT Hệ thống chính sách pháp luật là công cụ để cơ quan quản lý BHXH, BHYT thực thi hữu hiệu các quy định về BHXH, BHYT Hệ thống chính sách càng rõ ràng, càng sát với điều kiện thực tế khách quan thì công tác quản lý nhà nước về BHXH, BHYT càng trở nên hiệu quả vì nó dễ triển khai trên thực tế Ngoài ra, hệ thống chính sách còn thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với đời sống người dân nói riêng và tới các phúc lợi của xã hội nói chung Hệ thống chính sách pháp luật nhà nước về BHXH, BHYT càng rõ ràng, chi tiết thì việc thực hiện các hoạt động BHXH, BHYT càng thiết thực, và BHXH, BHYT mới thực sự trở về với đúng bản chất của nó - đảm bảo cuộc sống cho người dân
1.1.5.3 Người sử dụng lao động
Người sử dụng lao động là một mắt xích quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động BHXH Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHXH theo quy định của pháp luật, bảo quản sổ, lập hồ sơ cho người lao động, trả trợ cấp BHXH cho người lao động, cung cấp tài liệu, thông tin về người lao động cho
cơ quan nhà nước có thẩm quyền Như vậy, người sử dụng lao động là một cầu nối giữa người lao động và các cơ quan thực hiện chức năng BHXH Việc người sử dụng lao động thực hiện đúng quyền hạn, trách nhiệm của mình sẽ làm cho hoạt động BHXH nhịp nhàng và liên tục
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.1.5.4 Nhận thức của người dân, người lao động
Người dân, người lao động là chủ thể quan trọng của hoạt động BHXH, BHYT Việc có mặt của người dân, người lao động mới làm cho hoạt động BHXH, BHYT trở thành một hoạt động trong xã hội Nhận thức của người dân, người lao động có ảnh hưởng tới việc thực hiện các văn bản luật về BHXH, BHYT việc thực thi các chính sách BHXH, BHYT Hoạt động BHXH, BHYT là hoạt động điều chỉnh các hành vi của các đối tượng BHXH, BHYT Người dân, người lao động là đối tượng hàng đầu trong hoạt động đó Việc nâng cao nhận thức của người dân, người lao động đối với hoạt động BHXH, BHYT một mặt giúp cho hoạt động BHXH, BHYT được thực hiện một cách chôi chảy, mặt khác giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân, người lao động
1.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế ở một số nước trên thế giới và bài học với Việt Nam
Luận văn nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước châu Á, đó là những nước có nhiều nét tương đồng trong quản lý nhà nước về BHXH, BHYT để rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
1.2.1.1 Singapore
Với diện tích đất rộng 710 km2, nằm ở khu vực Đông Nam Á, Singapore là một trong những đất nước nhỏ nhất thế giới Mặc dù diện tích khiêm tốn nhưng với nền kinh tế thương mại tự do, lực lượng lao động chất lượng cao và hệ thống an sinh xã hội tiên tiến, Singapore đã thực sự có được một vị thế rất vững chắc trên thế giới
Hệ thống an sinh xã hội dành cho tất cả công dân và người lao động thường trú được gọi là Quỹ Phòng xa Trung ương (Central Provident Fund -CPF) Đây là một trong những chương trình hưu trí dựa trên mức đóng lâu đời
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nhất của châu Á An sinh xã hội ở Singapore bắt đầu từ thập kỷ 50 của thế kỷ
XX Chương trình hiện nay đã được thực hiện từ năm 1955 và sửa đổi lần cuối cùng vào năm 2001 Chương trình này tập trung vào khái niệm trung tâm là một quỹ phòng xa, do người lao động đóng góp trong suốt cuộc đời và cung cấp sự đảm bảo về tài chính khi họ nghỉ hưu hay không thể tiếp tục làm việc
Hội đồng CPF là một cơ quan được thành lập theo luật định, thuộc phạm vi quản lý của Bộ trưởng Bộ Nhân lực và nằm dưới sự ủy thác của Quỹ CPF Hội đồng có một Chủ tịch do Bộ trưởng Bộ Nhân lực bổ nhiệm, bao gồm đại diện của Chính phủ, Liên đoàn Lao động và Liên đoàn Những người
sử dụng lao động Cấu trúc gồm ba thành phần này tạo điều kiện bảo đảm lợi ích cho tất cả các bên liên quan, được quy định trong nhiệm vụ của Hội đồng Hội đồng CPF chịu trách nhiệm giám hộ quỹ, quản lý các chương trình trong
hệ thống, bao gồm cả việc thu các khoản đóng góp và thanh toán trợ cấp, chi trả cho người tham gia Quỹ Phòng xa Trung ương quản lý tất cả các hình thức BHXH tại Singapore, ngoài ra còn chăm lo đến sức khỏe, quyền sở hữu nhà ở, bảo trợ gia đình và tăng giá trị tài sản cho người tham gia Hội đồng CPF hiện nay hoạt động với khoảng 1.600 nhân viên, được tổ chức thành 03 nhóm chính: nhóm Dịch vụ, nhóm Dịch vụ công nghệ thông tin và nhóm Phát triển Chính sách và Doanh nghiệp
Người lao động, doanh nghiệp đều phải đóng góp hàng tháng cho CPF (gồm cả lao động bán thời gian, lao động tạm thời và lao động tự kinh doanh) Tính cho đến ngày 31/12/2009, Quỹ CPF đã có 3,29 triệu người tham gia, với 1,64 triệu người thường xuyên đóng góp Khoảng 90% lực lượng lao động của Singapore được bảo hiểm bởi chương trình này Ngay cả người nước ngoài thường trú tại Singapore cũng phải đóng góp cho CPF dựa trên thời gian ở tại Singapore, tuổi và thu nhập của người lao động Nếu sau đó rời
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Singapore và định cư tại nước khác, họ có thể yêu cầu chi trả toàn bộ số tiền trong tài khoản của mình
Mức đóng của người lao động được quy định trong luật là 5% đến 20% tiền lương hàng tháng Người sử dụng lao động sẽ phải đóng từ 6,5% đến 16% tiền lương Tất cả các khoản đóng góp và chi trả đều được miễn thuế; và tại thời điểm hiện nay, chỉ có 4.500 đô-la đầu tiên trong toàn bộ tiền lương của người lao động là phải chịu tránh nhiệm đóng góp Từ 01/03/2011, những thành viên dưới 50 tuổi của CPF sẽ phải đóng 20% mức lương của họ cho các tài khoản CPF Cùng với 15% do doanh nghiệp đóng, tổng mức đóng của mỗi lao động cho CPF sẽ là 35,5% Mức đóng là thấp hơn cho các thành viên trên
50 tuổi và người có thu nhập dưới 1.500 đô-la Singapore/tháng Nếu người lao động muốn tự nguyện đóng thêm một khoản cao hơn mức bắt buộc, khoản tiền này sẽ được chuyển vào tài khoản hưu trí của họ Mọi đóng góp tổng thể không được lên quá 30.600 đô-la mỗi năm
Ngoài ra, Hội đồng Quỹ Phòng xa Trung ương Singapore - cơ quan quản lý chương trình bảo hiểm hưu trí quốc gia, quản lý và phát hiện các vụ
vi phạm về đóng góp hàng tháng của các thành viên Các chủ sử dụng lao động có 14 ngày để thực hiện việc đóng góp cho tháng trước đó Nếu không nộp, Hội đồng Quỹ Phòng xa Trung ương Singapore sẽ tiến hành các bước xử
lý như sau:
- Lập danh sách các trường hợp chậm nộp: Sau thời hạn trên, hệ thống công nghệ thông tin của CPFB tự động lập các danh sách chủ sử dụng lao động chưa nộp các khoản đóng góp hàng tháng
- Thông báo tới chủ sử dụng lao động chậm nộp: CPFB sẽ gửi cho doanh nghiệp thông báo chậm nộp đồng thời thông báo cho doanh nghiệp về khoảng thời gian được gia hạn thêm để nộp các khoản đóng góp và lãi Sau khoảng thời gian gia hạn trên, nếu chủ sử dụng lao động không nộp thì CPFB
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
sẽ tiến hành các hoạt động pháp lý Trong thời gian này, CPF cũng gửi thông báo cho người lao động về việc khoản đóng góp của họ chưa được chủ sử dụng lao động thực hiện
- Sự can thiệp của Tòa án: Sau thời gian gia hạn, chủ sử dụng lao động không nộp đầy đủ sẽ bị CPFB đưa ra tòa Tòa sẽ yêu cầu chủ sử dụng lao động thanh toán các khoản đóng góp, lãi xuất và lệ phí tòa án Quyết định cuối cùng tùy theo mức độ vi phạm của chủ sử dụng lao động là tịch thu và phát mại tài sản, truy tố chủ sử dụng lao động trước pháp luật hoặc xét lại bản
án xử phạt doanh nghiệp, mức cao nhất là buộc doanh nghiệp giải thể hoặc phải tuyên bố phá sản
Từ cuối thập niên 1980, hàng loạt các chính sách liên quan đến an sinh xã hội
ở Hàn Quốc đã được thực hiện, trong đó có việc mở rộng đối tượng tham gia BHYT và hỗ trợ y tế và năm 1988 và năm 1989; bắt đầu áp dụng Phúc lợi hưu trí toàn quốc vào năm 1988 và Bảo hiểm tuyển dụng vào năm 1995 Qua đó chính phủ Hàn Quốc đã đặt nền tảng đảm bảo an sinh xã hội cho mọi người dân Mục tiêu chính của hệ thống an sinh xã hội nói trên là nhằm cung cấp cho mọi người lao động, mọi người dân một sự đảm bảo tối thiểu phòng khi kinh tế khó khăn Một trong những thành công nhất của Hàn Quốc là thực hiện bao phủ BHYT toàn dân
Việc thực hiện BHYT ở Hàn Quốc được bắt đầu từ năm 1977, đi trước Việt Nam 15 năm và cũng phải mất 12 năm để Hàn Quốc đạt được mức bao phủ BHYT toàn dân Ở thời điểm năm 1977, khi bắt đầu thực hiện, nhóm dân
số mục tiêu mà Hàn Quốc hướng tới chỉ gồm người lao động trong các doanh
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nghiệp có sử dụng từ 500 lao động trở lên (độ bao phủ BHYT lúc này chỉ đạt 8,9%); năm 1979, mở ra nhóm cán bộ, viên chức và các trường tư nhân, các công ty sử dụng từ 300 lao động trở lên (độ bao phủ đạt 21,2%); năm 1981, người lao động tại các công ty sử dụng từ 100 lao động trở lên, thí điểm với nhóm phi chính quy tại 03 vùng nông thôn (độ bao phủ đạt 29,68%); năm
1982, các công ty sử dụng 16 lao động trở lên (bao phủ 35,1%); năm 1984,
mở rộng đối với người ăn theo (phụ thuộc) người lao động bao gồm vợ/chồng, cha mẹ, các con, anh chị em ruột (nhóm phụ thuộc thứ nhất), cha
mẹ vợ/chồng và anh, chị em bên vợ/chồng (nhóm phụ thuộc thứ hai) - độ bao phủ thời điểm này tăng lên 42,37%; năm 1988, mở rộng đến các công ty sử dụng từ 05 lao động trở lên, người dân khu vực nông thôn (độ bao phủ 68,87%); năm 1989, đạt được mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân với tỷ lệ 90,39% người dân tham gia BHYT và chia thành 02 nhóm đối tượng: (1) nhóm chính quy tham gia theo đơn vị sử dụng lao động với mức đóng là 3,7% mức thu nhập vào năm 2002 và tăng lên 5,8% mức thu nhập vào năm 2012 Người sử dụng lao động đóng 50%, người lao động tự đóng 50% (việc tăng tỷ
lệ đóng góp BHYT được thực hiện dựa trên chi phí khám, chữa bệnh BHYT của năm trước và tính toán cân đối quỹ, tốc độ tăng trưởng kinh tế, khả năng đóng góp của người dân do cơ quan BHYT quốc gia tính toán và Bộ Y tế và Phúc lợi xã hội Hàn Quốc quyết định; (2) nhóm phi chính quy tham gia BHYT theo hộ gia đình và được Nhà nước hỗ trợ 20% mức phí đóng BHYT Mức đóng của nhóm phi chính quy được tính toán trên cơ sở thu nhập do Ủy ban giám sát thu nhập và cơ quan thuế thu nhập tại các địa phương cung cấp Đơn giá của mỗi điểm phí bảo hiểm là 170 won, mức điểm sàn là 20 điểm tương ứng mức phí BHYT tối thiểu là 3.400 won và mức điểm trần là 12.680 điểm tương ứng mức phí BHYT tối đa là 2.155.600 won, như vậy mức đóng BHYT tối đa và tối thiểu lên tới 634 lần (ở Việt Nam là 20 lần) Riêng nhóm
dễ tổn thương (người nghèo) không phải đóng BHYT mà do Nhà nước đảm
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
bảo, tỷ lệ này ở Hàn Quốc là 3,7% Điều này đã tạo ra sự chia sẻ thực sự giữa những người tham gia BHYT
Quyền lợi của người tham gia BHYT ở Hàn Quốc khá toàn diện và được áp dụng như nhau với mọi thành viên, không phụ thuộc vào mức đóng, bao gồm 02 gói quyền lợi: chi trả bằng hiện vật (chi trả cho chăm sóc sức khỏe như khám, điều trị, xét nghiệm, thuốc, vật tư y tế, nằm viện…) và chi trả bằng tiền mặt (chi phí y tế, chế độ giảm tối đa chi phí nộp bảo hiểm…) Tỷ lệ cùng chi trả của Hàn Quốc không xác định theo đối tượng như ở Việt Nam
mà xác định theo hình thức điều trị, với điều trị nội trú, người tham gia BHYT cùng chi trả 20% chi phí khám, chữa bệnh; với điều trị ngoại trú, cùng chi trả
từ 30 đến 60% chi phí tùy theo từng cơ sở y tế Khác với Việt Nam đưa ra giới hạn trần thanh toán, Hàn Quốc đưa ra giới hạn trần cùng chi trả, những bệnh nhân có chi phí khám, chữa bệnh một năm lên tới 04 triệu won thì không phải cùng chi trả, điều này đã góp phần giảm gánh nặng chi phí y tế cho những người mắc bệnh nan y, điều trị chi phí lớn
Với hệ thống bệnh viện cung cấp dịch vụ đến 70% là y tế tư nhân và chia làm 02 tuyến khám chữa bệnh Cùng với việc phát triển hệ thống công nghệ thông tin vào quản lý khá hoàn hảo, ở tuyến khám, chữa bệnh ban đầu, người tham gia BHYT Hàn Quốc có thể đến bất cứ cơ sở y tế nào khám và điều trị đều được hưởng quyền lợi Điều này đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các
cơ sở, mỗi cơ sở y tế đều phải nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực phục vụ để không bị mất bệnh nhân
1.2.1.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
- Thứ nhất, đó là cam kết chính trị mạnh mẽ với mục tiêu chăm sóc sức
khỏe toàn dân Trước hết là việc hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện BHXH, BHYT Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện Đổi mới chính sách tài chính y tế, bảo đảm
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ngân sách đóng BHXH, BHYT cho nhóm đối tượng chính sách và những người yếu thế trong xã hội
- Thứ hai, thực hiện BHYT toàn dân phải tuân thủ chiến lược mở
rộng từng bước, xây dựng lộ trình cho từng nhóm đối tượng và mở rộng đối tượng bền vững
- Thứ ba, thay đổi nhận thức của người dân về BHXH, BHYT thông
qua chế tài và truyền thông Phải thực hiện BHXH, BHYT bắt buộc toàn diện
và có chế tài cưỡng chế đối với những hành vi trốn tránh tham gia Đồng thời tăng cường thông tin, truyền thông, vận động, giáo dục với nhiều hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện tiếp cận thông tin
- Thứ tư, xây dựng, triển khai chương trình đảm bảo chất lượng
khám, chữa bệnh; tiêu chuẩn chất lượng đối với cơ sở khám, chữa bệnh BHYT Tăng cường đầu tư và nâng cao hiệu quả khám, chữa bệnh tại tuyến
y tế cơ sở
- Thứ năm, phát triển công nghệ thông tin, ứng dụng sâu rộng trong
quản lý thu và chi trả BHXH, BHYT
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về BHXH và BHYT ở một số địa phương trong nước và bài học đối với BHXH huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Luận văn nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước về BHXH, BHYT của huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên và huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang vì hai địa bàn này có nhiều nét tương đồng về điều kiện tự nhiện, điều kiện phát triển kinh tế, đặc biệt trong những năm qua, hai địa bàn này đã đạt nhiều kết quả tốt trong công tác quản lý nhà nước về BHXH, BHYT
1.2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
Định Hoá là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 50 km về phía Tây - Bắc theo quốc lộ 3 và tỉnh lộ 248, có toạ độ địa lý: Từ 24005' đến 24040' độ vĩ Bắc; từ 185005' đến 185080' độ kinh Đông
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Phạm vi ranh giới: Phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn); phía Đông giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn); phía Nam giáp huyện Phú Lương và huyện Đại Từ; phía Tây giáp huyện Yên Sơn và huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) Huyện Định Hóa có diện tích tự nhiên 52.075,4 ha; dân số năm 2014 gần 100.000 người, chủ yếu là người dân tộc thiểu số Khu vực nông thôn chiếm 91,4% tổng số hộ và 93,6% nhân khẩu toàn huyện Tổng số lao động trong nông thôn toàn huyện chiếm 53,2% dân số nông thôn và 91,2% tổng số lao động toàn huyện, đây là một tỷ lệ khá cao Số lao động ngành nông nghiệp chiếm 90,5% tổng số lao động toàn huyện Dân số chủ yếu là người dân tộc thiểu số, lao động chủ yếu là ngành nông nghiệp ở nông thôn nên trong quá trình thực hiện BHXH, BHYT trên địa bàn, bảo hiểm xã hội huyện Định Hóa gặp không ít những khó khăn, vướng mắc
Năm 2014, trong điều kiện ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, doanh nghiệp khó tiếp cận được nguồn vốn dẫn đến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng lớn tới công tác vận động thực hiện các chế độ BHXH, BHYT và bảo hiểm thất nghiệp đối với chủ sử dụng lao động, người lao động Tuy nhiên, bảo hiểm xã hội huyện Định Hóa cũng đã đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận Số thu trong năm
2014 đạt hơn 29 tỷ đồng, đạt 103,61% so với kế hoạch đặt ra Số người tham
gia BHXH, BHYT tăng 8,3% so năm 2013 Tỷ lệ người lao động tham gia BHXH đạt khoảng 84% đối tượng bắt buộc tham gia BHXH Đạt được những thành công đó là do:
- Bảo hiểm xã hội huyện Định Hóa đã nhận được sự hướng dẫn chỉ đạo
về nghiệp vụ, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc từ BHXH tỉnh Thái Nguyên, sự quan tâm chỉ đạo của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện và sự phối hợp tích cực, hiệu quả cao của các Sở ngành, đoàn thể trên địa bàn huyện Nhờ vậy, Bảo hiểm xã hội huyện Định Hóa đã đảm bảo
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
hoàn thành nhiệm vụ trong việc quản lý và điều hành việc thu chi ngân sách BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp trong năm 2014
- Bảo hiểm xã hội huyện Định Hóa phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn trong việc quản lý, làm việc với các doanh nghiệp đóng trên địa bàn để yêu cầu tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động theo quy định, xác định thông tin, tình hình hoạt động của doanh nghiệp trú đóng trên địa bàn để tăng cường quản lý, kiểm tra, kiểm soát việc tham gia Năm 2014 đã phát triển thêm 08 đơn vị mới với 67 lao động tham gia BHXH bắt buộc
- Bảo hiểm xã hội huyện Định Hóa phối hợp với phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện gửi thông báo, biểu mẫu đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đến các doanh nghiệp, đơn
vị mới thành lập Tổ chức tập huấn nghiệp vụ về thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho các doanh nghiệp trên địa bàn huyện
Bên cạnh những điều đã đạt được, công tác quản lý nhà nước về BHXH, BHYT của bảo hiểm xã hội huyện Định Hóa còn có một số tồn tại đó là:
- Số tiền nợ BHXH, BHYT năm 2014 là hơn 410 triệu đồng, chiếm 1,45% so với kế hoạch thu năm 2014
- Số người tham gia BHXH tự nguyện còn thấp, chỉ chiếm chưa đến 0,6% tổng số người tham gia BHXH trên địa bàn huyện
1.2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế ở huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang
Chiêm Hóa là một huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm tỉnh 67 km về phía Bắc Huyện có diện tích tự nhiên 1.278,82km2; dân số năm 2014 là trên 126 nghìn người Huyện Chiêm Hóa có 25 xã, 01 thị trấn và
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
18 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 80% tổng dân số toàn huyện Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán, ngôn ngữ, trang phục, lễ hội, những làn điệu dân ca, dân vũ riêng biệt mang đậm nét văn hóa đặc trưng của miền sơn cuớc
Trong giai đoạn 2010-2014, kinh tế của huyện Chiêm Hóa đã có bước tăng trưởng khá; tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 14,8%/năm; văn hóa - xã hội có nhiều bước chuyển biến tích cực, tiếp tục khai thác, phát huy được tiềm năng, thế mạnh của huyện trong phát triển kinh tế, xã hội Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người đạt 18 triệu đồng/năm Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được đẩy mạnh bằng việc tập trung các giải pháp thu hút đầu tư, giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 400 tỷ đồng Huyện đã tập trung thực hiện tốt các
cơ chế chính sách, giải pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tập trung vào lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác khoáng sản, chế biến nông, lâm sản Công tác quy hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng được quan tâm thực hiện đồng bộ Số lượng doanh nghiệp không ngừng gia tăng qua các năm, mức sống của người dân ngày càng được cải thiện là những điều kiện thuận lợi để bảo hiểm xã hội huyện Chiêm Hóa triển khai thực hiện BHXH, BHYT trên địa bàn
Tháng 12 năm 2014, Bảo hiểm xã hội huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác Bảo hiểm năm 2014 Trong báo cáo tổng kết, Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang
đã chỉ ra những điểm đã đạt được và chưa đạt được trong công tác quản lý nhà nước về BHXH, BHYT tế là:
- Công tác triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT trên địa bàn huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực và đã đạt được những kết
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
quả quan trọng Số người tham gia BHXH, BHYT được duy trì, ổn định và tăng qua các năm Năm 2014, địa bàn huyện Chiêm Hóa có 7.348 người tham gia BHXH, BHYT, tăng 12,4% so với năm 2013
- Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, BHYT được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau như thông qua Đài truyền thanh, truyền hình của huyện, của xã; phát các tờ rơi để người dân hiểu biết về lợi ích của việc tham gia BHXH, BHYT; lồng ghép vào các nội dung sinh hoạt của các tổ chức đoàn thể như Hội nông dân, Hội phụ nữ, Y tế thôn bản…
- Hoạt động kiểm tra việc thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế được tăng cường nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp cho người lao động
- Tổ chức khảo sát cũng như tiếp nhận ý kiến góp ý, phản ánh của người lao động trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
- Trong các cuộc họp định kì, sơ kết và tổng kết năm tài khóa, Bảo hiểm xã hội huyện Chiêm Hóa nghiêm túc rút ra những điểm hạn chế trong thực hiện BHXH, BHYT để thực hiện tốt hơn trong các giai đoạn sau
Bên cạnh những điều đã đạt được, công tác quản lý nhà nước về BHXH, BHYT còn có một số tồn tại đó là:
- Q
huyện cho thấy các doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về BHXH, BHY Cụ thể, trong năm 2014, còn 6 doanh nghiệp không tham gia BHXH hoặc tham gia không đủ số lao động thuộc đối tượng bắt buộc phải tham gia
- Công tác vận động, tuyên truyền được tăng cường nhưng số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp so với số lao động thuộc đối tượng
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
bắt buộc phải tham gia Số người tham gia BHXH tự nguyện còn thấp, chỉ chiếm chưa đến 0,5% tổng số người tham gia BHXH
1.2.2.3 Bài học kinh nghiệm đối với BHXH huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo đảm việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế đúng quy định của pháp luật, khắc phục tình trạng trốn đóng, nợ đọng,
chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể,
tỉnh Bắc Kạn cần:
- Thống kê tình hình các đơn vị nợ bảo hiểm xã hội, số tiền nợ, thời gian
nợ hàng quý, báo cáo BHXH tỉnh, UBND tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội để kịp thời chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định
- Phối hợp với Bảo hiểm xã hội tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh tăng cường thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội,
xử phạt vi phạm hành chính về đóng bảo hiểm xã hội theo đúng quy định của pháp luật Đề xuất với người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý các đơn
vị sử dụng lao động có vi phạm
- Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh, phòng Thông tin và Truyền thông huyện để thông qua Đài Truyền hình và các cơ quan báo chí thực hiện tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của Đảng và Nhà nước
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Hiểu thế nào về khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế?
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế?
- Nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là gì?
- Cần sử dụng những chỉ tiêu nào để đánh giá kết quả công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế?
- Thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian qua như thế nào?
- Những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân gây ra trong quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian qua là gì?
- Cần phải có những giải pháp, kiến nghị nào để tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể là cơ quan thực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Kạn, có chức năng giúp giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện chế độ chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo phân cấp quản lý của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và quy định của pháp luật Theo sự phân công của Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể, hiện nay tác giả đang trực tiếp quản lý lĩnh vực này Trong thời gian qua, tác giả nhận thấy công tác quản lý nhà nước về BHXH, BHYT của đơn vị còn một số hạn chế xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan Do đó, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tăng cường quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” nhằm nâng cao năng lực quản lý cho bản thân,
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về BHXH, BHYT của Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Luận văn thu thập dữ liệu thứ cấp gồm các giáo trình, sách, báo, văn bản pháp luật của Nhà nước liên quan đến đề tài Ngoài ra, luận văn còn thu thập các tài liệu đã được công bố của cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn, đó là:
+ Báo cáo Tình hình kết quả thực hiện công tác năm 2012, phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2013; Báo cáo Tình hình kết quả thực hiện công tác năm 2013, phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2014; Báo cáo Tình hình kết quả thực hiện công tác năm 2014, phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2015 của Bảo hiểm xã hội huyện Ba Bể
+ Quyết định số 4857/QĐ-BHXH ngày 21 tháng 10 năm 2008 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội địa phương
+ Quyết định số 1215/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23/07/2013 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành BHXH Việt Nam đến năm 2020…
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin
- Phương pháp thống kê mô tả
Trong luận văn, phương pháp này được dùng để xử lý và phân tích các con số của các hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật của chúng trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể Các số liệu thu thập được sẽ được liệt kê theo thời gian theo từng chỉ tiêu cụ thể Phương pháp này