1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

phân tích tình hình tài chính công ty cổ phần thủy điện điện lực đắk lắk

56 374 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 159,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thường xuyên tiến hành và tiến hành có hiệu quả hoạt động phân tíchtài chính doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp thấy được thực trạng tài chính củadoanh nghiệp mình, xác định đúng

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới:

Tập thể giảng viên Khoa Kinh Tế cũng như toàn thể giảng viên trường ĐạiHọc Tây Nguyên đã truyền đạt cho em các kến thức chuyên môn trong suốt quátrình học tập và rèn luyện tại trường

Cô Bùi Thị Thu Hằng giảng viên khoa Kinh Tế, trường Đại Học Tây Nguyên

đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình em trong suốt quá trình thực tập và viết báocáo thực tập

Ban Giám đốc và tập thể cán bộ nhân viên Công ty cổ phần Thủy điện Điệnlực Đăk Lăk, đặc biệt là các anh, chị đang làm việc tại phòng kế toán đã tạo điềukiện thuận lợi, giúp đỡ em làm quen với thực tế công việc, giải đáp các thắc mắc vàcung cấp các số liệu cần thiết để em hoàn thành bài chuyên đề tốt nghiệp này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức và thời gian có hạn chế nên

đề tài không tránh được những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được ý kiến đónggóp của Quý Thầy Cô và độc giả để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU iv

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG v

THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp 3

2.1.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp 3

2.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính 4

2.1.4 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp 4

2.1.5 Các chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp 9

2.2 Cơ sở thực tiễn 17

PHẦN THỨ BA: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19

3.2 Nội dung nghiên cứu 19

3.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 19

3.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tiềm năng phát triền địa bàn Đăk Lăk 19

3.3.2 Khái quát về công ty cổ phần Thủy điện Điện lực Đắk Lắk 22

3.3.3 Quá trình hình thành và phát triển 22

3.3.4 Lĩnh vực hoạt động 23

3.3.5 Sơ đồ tổ chức 23

3.3.6 Tình hình nhân sự 23

3.4 Phương pháp nghiên cứu 24

3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 24

3.4.2 Phương pháp xử lý thông tin 24

3.4.3 Phương pháp phân tích thông tin 25

Trang 3

3.4.4 Phương pháp chuyên gia 25

PHẦN THỨ TƯ: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

4.1 Thực trạng phân tích tình hình tài chính của công ty 26

4.1.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính của công ty 26

4.1.1.1 Phân tích tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán 28

4.1.1.2 Phân tích tình hình tài chính của công ty thông qua báo cáo kết quả kinh doanh 34

4.1.2 Phân tích các hệ số tài chính 37

4.1.2.1 Hệ số khả năng thanh toán 37

4.1.2.2 Tỷ lệ về khả năng cân đối vốn 38

4.1.2.3 Các tỷ lệ về khả năng hoạt động 39

4.1.2.4 Các tỷ lệ về khả năng sinh lời 41

4.2 Đánh giá về tình hình tài chính của công ty 42

4.2.1 Kết quả đạt được 42

4.2.2 Những hạn chế cần khắc phục 42

4.2.3 Nguyên nhân của các hạn chế 44

4.3 Một số giải pháp và kiến nghị về hoạt động tài chính của công ty 45

4.3.1 Định hướng phát triển của công ty 45

4.3.2 Một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính của công ty 45

4.4 Kiến nghị 47

4.4.1 Kiến nghị về phương hướng sản xuất kinh doanh của công ty 47

4.4.2 Kiến nghị về nâng cao hiệu quả phân tích tài chính cho công ty 47

4.4.2.1 Xác định chính sách tài trợ, xây dựng cơ cấu vốn hợp lý 47

4.4.2.2 Đào tạo đội ngũ cán bộ 47

4.4.2.3 Tổ chức quản lý 48

PHẦN THỨ NĂM: KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG

Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức của Công ty cổ phần 23

Bảng 4.1: Cơ cấu và biến động của tài sản và nguồn vốn 27

Bảng 4.2: Các chỉ tiêu về cơ cấu tài chính 28

Bảng 4.3: Phân tích tình hình phân bổ tài sản 30

Bảng 4.4: Phân tích kết cấu nguồn vốn của công ty 32

Bảng 4.5: Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh qua các năm 35

Bảng 4.6: Các hệ số về khả năng thanh toán 37

Bảng 4.7: Các tỷ lệ về khả năng cân đối vốn 38

Bảng 4.8: Các tỷ lệ về khả năng hoạt động 39

Bảng 4.9: Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời 42

Trang 6

THỨ NHẤT ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Lý do chọn đề tài

Nền kinh tế Việt Nam 2015 đã đạt được những thành tựu nổi bật như đã ngănchặn được sự suy giảm kinh tế, tăng trưởng khá và làm tăng nguồn lực cho đầu tưphát triển, giảm tỉ lệ thất nghiệp Tuy nhiên, vẫn còn đó một số khó khăn thách thứcnhư vấn đề giải quyết việc làm, tình trạng nhập siêu cao và đặc biệt là tỉ lệ lạm phátqua các năm Bên cạnh đó, trước sự cạnh tranh quyết liệt của các thành phần trongnền kinh tế thị trường hiện nay, có một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phải giải thểhoạt động kinh doanh của mình nhưng cũng có một số doanh nghiệp trụ vững được

và hoạt động bình thường mặc dù các doanh nghiệp này cũng chịu không ít ảnhhưởng từ cuộc khùng hoảng kinh tế toàn cầu Vậy thì câu hỏi được đặt ra là tại saolại có sự khác biệt giữa những doanh nghiệp đó? Câu trả lời có liên quan đến nhiệm

vụ phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty, doanh nghiệp đó

Việc thường xuyên tiến hành và tiến hành có hiệu quả hoạt động phân tíchtài chính doanh nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp thấy được thực trạng tài chính củadoanh nghiệp mình, xác định đúng đắn và đầy đủ nguyên nhân cũng như mức độảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính, từ đó có các kế hoạch quản lý và

tổ chức sản xuất kinh doanh, đề ra các chiến lược phù hợp với tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp hiện tại và trong tương lai thông qua công việc tiến hành dự báo,

dự đoán các điều kiện kinh doanh Mặt khác phân tích tài chính doanh nghiệp làcông việc được quan tâm và yêu cầu thường xuyên bởi nhiều đối tượng như nhàquản lý, nhà đầu tư, ngân hàng Các đối tượng sẽ nhờ đó mà đưa ra các quyết định

để phục vụ cho lĩnh vực quản lý của họ Qua đó, từ các tác nhân chủ quan và kháchquan, từ các nhân tố bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Đó cũng là một trong những mục tiêu lớnnhất của tất cả các doanh nghiệp Nhờ vậy doanh nghiệp mới tạo được uy tín cũngnhư thương hiệu của mình, ổn định tình hình tài chính, hạn chế những rủi ro luôntiềm ẩn và có thể đứng vững và phát triển

Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc phân tích tài chínhtrên kết hợp với những kiến thức đã được học tại trường trong những năm học trước

Trang 7

mà em đã chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần Thủy điện Điện lực Đắk Lắk” để làm chuyên đề thực tập.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp

- Phân tích thực trạng tài chính tại Công ty cổ phần Thủy điện Điện lực ĐắkLắk

- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác phân tích tài chính củaCông ty cổ phần Thủy điện Điện lực Đắk Lắk

Trang 8

PHẦN THỨ HAI

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công

cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lýnhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ vàchất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực củadoanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyếtđịnh quản lý phù hợp[1]

Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phásản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánhgiá khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanhnghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra

Trang 9

những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng củadoanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoántài chính - một trong các hướng dự đoán doanh nghiệp Phân tích tài chính có thểđược ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị cácquyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phântích (trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp).

2.1.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp

Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp hay cụ thể hoá là việc phântích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp là quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánhcác số liệu, tài liệu về tình hình tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mụcđích đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tươnglai Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn vàcông nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanhnghiệp Báo cáo tài chính rất hữu ích đối việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời lànguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người bên ngoài doanh nghiệp Do

đó, phân tích báo cáo tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhaunhư nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các kháchhàng, các nhà cho vay tín dụng, các cơ quan chính phủ, người lao động Mỗi nhómngười này có những nhu cầu thông tin khác nhau[1]

Phân tích tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tàichính doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bìnhđẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy

sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như : chủdoanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng kể cả các cơ quan Nhà nước

và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanhnghiệp trên các góc độ khác nhau

2.1.3 Nhiệm vụ của phân tích tài chính

Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tàichính là việc cung cấp những thông tin chính xác về moị mặt tài chính của doanhnghiệp, bao gồm:

Trang 10

- Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt đảm bảo vốncho sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối vốn, tình hình nguồn vốn

- Đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình kinh doanh và kếtquả tài chính của hoạt động kinh doanh, tình hình thanh toán

- Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hoá của các nhân tố ảnh hưởngđến tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những biện pháp có hiệuquả để khắc phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực tiềm tàng củadoanh nghiệp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

2.1.4 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp

2.1.4.1 Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính củamột doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đấy là một báo cáo tài chínhphản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định,dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản Xét về bảnchất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sởhữu và công nợ phải trả( nguồn vốn)

Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là bảncân đối kế toán.Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quáttình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và nhữngtriển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp

Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày:

- Hình thức cân đối hai bên: Bên trái là phần tài sản, bên phải là phần nguồnvốn

- Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản, phần dưới

là phần nguồn vốn

Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần luôn luôn bằngnhau

Tài sản = Nguồn vốn

Trang 11

Hay Tài sản = Vốn chủ sở hữu+ Nợ phải trả

 Phần tài sản : Bao gồm có tài sản lưu động và tài sản cố định.

Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có quyềnquản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tươnglai

Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần tài sản cho phép đánh giá tổng quát về quy môvốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sử dụng vốn của doanhnghiệp

 Phần nguồn vốn: Bao gồm công nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, phản ánhcác nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp

Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vậtchất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn( Nhà nước, ngân hàng, cổđông, các bên liên doanh ) Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bên phần nguồn vốnthể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh, về sốtài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ( với người lao động,với nhà cung cấp, với Nhà nước )

Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sản hiện

có, căn cứ vào đó có thể biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồng thời phầnnguồn vốn cũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp

Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán[2]:

+ Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông quacác chỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn

+ Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp : tài sảnlưu động, tài sản cố định

+ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và cáckhoản phải trả

+ Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp.

Trang 12

2.1.4.2 Báo cáo kết quả kinh doanh

Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tíchtài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Khác vớibảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cho biết sự dịch chuyểncủa vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó cho phép dự tínhkhả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai

Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp cho nhà phân tích

so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ với tổng chiphí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở đó, cóthể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh : lãi hay lỗ trong năm Như vậy, báocáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánhtình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Nó cung cấpnhững thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, laođộng, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Biểu mẫu “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” có 3 phần:

+ Phần I: Lãi, lỗ

+ Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước

+ Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được miễngiảm

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được lập trên cơ sở các tàiliệu:

+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước

+ Sổ kế toán trong kỳ của các tài khoản từ loại 5 đến loại 9

+ Sổ kế toán các tài khoản 133 “Thuế GTGT được khấu trừ” và tài khoản

333 “Thuế GTGT phải nộp”

Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh[2]:

Trang 13

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh thu,lợi nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp.

Do đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng cho ta đánh giá kháiquát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong kỳ doanh nghiệp kinh doanh

có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vốn là bao nhiêu Từ đó tínhđược tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trongtương lai

Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước,

ta biết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không Nếu số thuế cònphải nộp lớn chứng tỏ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là khôngkhả quan

Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta có những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp.

2.1.4.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh nghiệp Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của cải (tài sản)

và nguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập

và chi phí phát sinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp Những luồng vào

ra của tiền và các khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm : lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính

và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động bất thường.

2.1.4.4 Thuyết minh báo cáo tài chính

Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về tìnhhình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồng thời giảithích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày nhằmgiúp cho người đọc và phân tích các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính có một cái nhìn

cụ thể và chi tiết hơn về sự thay đổi những khoản mục trong bảng cân đối kế toán vàkết quả hoạt động kinh doanh

Trang 14

“Thuyết minh báo cáo tài chính” được lập căn cứ vào những số liệu và những tàiliệu sau:

+ Các sổ kế toán kỳ báo cáo

+ Bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo

+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo

+ Thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trước, năm trước

Tác dụng của việc phân tích” Thuyết minh báo cáo tài chính”[2]:

Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính sẽ cung cấp bổ sung những thông tinchi tiết, cụ thể hơn về một số tình hình liên quan đến hoạt động kinh doanh trong kỳcủa doanh nghiệp Cụ thể:

+ Phân tích chỉ tiêu “Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố” sẽ cho tabiết tình hình biến động của chi phí trong kỳ theo từng yếu tố chi phí: nguyên vậtliệu, nhân công, khấu hao

+ Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình tăng giảm tài sản cố định” sẽ cho ta biếtđược tình hình biến động của tài sản cố định trong kỳ theo từng loại Qua đó, đánhgiá được tình hình đầu tư, trang bị tài sản cố định của doanh nghiệp và xây dựngđược kế hoạch đầu tư

+ Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình thu nhập của công nhân viên” sẽ giúp ta

có những đánh giá chính xác hơn về sự phát triển của doanh nghiệp bởi vì khôngthể nói một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả nếu thu nhập của người lao đông

có xu hướng giảm theo thời gian và thấp so với mặt bằng chung được Thu nhập củacông nhân viên phải gắn liền với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

+ Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình tăng giảm nguồn vốn chủ sở hữu” để thấyđược tình hình biến động của tổng số nguồn vốn chủ sở hữu cũng như từng loạinguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Qua đó, đánh giá được tính hợp lý củaviệc hình thành và sử dụng từng nguồn vốn chủ sở hữu

Trang 15

+ Phân tích “Tình hình tăng giảm các khoản đầu tư vào các đơn vị khác”

để nắm được tình hình đầu tư và hiệu quả đầu tư vào các đơn vị khác

+ Phân tích chỉ tiêu “Các khoản phải thu và nợ phải trả” sẽ nắm được tìnhhình thanh toán các khoản phải thu và các khoản nợ phải trả trong kỳ của doanhnghiệp

Tình hình thanh toán các khoản phải thu và các khoản phải trả là một trongnhững chỉ tiêu phản ánh khá sát thực chất lượng hoạt động tài chính Nếu hoạt độngtài chính tốt, lành mạnh doanh nghiệp sẽ thanh toán kịp thời các khoản nợ phải trảcũng như thu kịp thời các khoản nợ phải thu, tránh được tình trạng chiếm dụng vốnlẫn nhau cũng như tình trạng công nợ dây dưa kéo dài, tình trạng tranh chấp, mấtkhả năng thanh toán

Phân tích các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận sẽ phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các tỷ suất lợi nhuận càng lớn so với trước thì chứng

tỏ hiệu quả kinh doanh càng tăng

2.1.5 Các chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp

Trong phân tích tài chính, các tỷ lệ tài chính chủ yếu thường được phânthành 4 nhóm chính Đó là : nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về khảnăng cân đối vốn, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động, nhóm tỷ lệ về khả năng sinhlãi[3]

Nhìn chung, mối quan tâm trước hết của các nhà phân tích tài chính là tìnhhình tài chính của doanh nghiệp có lành mạnh không? Liệu doanh nghiệp có khảnăng đáp ứng được những khoản nợ đến hạn không? Nhưng tuỳ theo mục đích phântích tài chính mà nhà phân tích tài chính chú trọng nhiều hơn đến nhóm tỷ lệ nàyhay nhóm tỷ lệ khác Chẳng hạn, các chủ nợ ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến tìnhhình khả năng thanh toán của người vay Trong khi đó, các nhà đầu tư dài hạn quantâm nhiều hơn đến khả năng hoạt động có lãi và hiệu quả sản xuất kinh doanh Họcũng cần nghiên cứu tình hình về khả năng thanh toán để đánh giá khả năng củadoanh nghiệp đáp ứng nhu cầu chi trả hiện tại và xem xét lợi nhuận để dự tính khảnăng trả nợ cuối cùng của doanh nghiệp Bên cạnh đó, họ cũng chú trọng tới tỷ lệcân đối vốn vì sự thay đổi tỷ lệ này sẽ ảnh hưởng đáng kể tới lợi ích của họ

Trang 16

Các tỷ lệ tài chính cung cấp cho người phân tích khá đầy đủ các thông tin vềtừng vấn đề cụ thể liên quan tới tài chính doanh nghiệp Nhiệm vụ của người phântích là phải tìm hiểu mối liên hệ giữa các nhóm tỷ lệ để từ đó đưa ra kết luận kháiquát về toàn bộ tình hình tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quá trình phântích nên lưu ý rằng một tỷ lệ tài chính riêng rẽ thì tự nó không nói lên điều gì Nócần phải được so sánh với tỷ lệ ở các năm khác nhau của chính doanh nghiệp đó và

so sánh với tỷ lệ tương ứng của các doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành

Mỗi nhóm tỷ lệ trên bao gồm nhiều tỷ lệ và trong từng trường hợp các tỷ lệ đượclựa chọn sẽ phụ thuộc vào bản chất, quy mô của hoạt động phân tích

Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét cả bốn nhóm tỷ lệ thường dùng đểphân tích và đánh giá hoạt động tài chính doanh nghiệp

a Các tỷ lệ về khả năng thanh toán

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để tài trợ cho các tài sản củamình các doanh nghiệp không chỉ dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu mà còn cần đếnnguồn tài trợ khác là vay nợ Việc vay nợ này được thực hiện với nhiều đối tượng

và dưới nhiều hình thức khác nhau Cho dù là đối tượng nào đi chăng nữa thì để điđến quyết định có cho doanh nghiệp vay nợ hay không thì họ đều quan tâm đền khảnăng thanh toán của doanh nghiệp

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữacác khoản phải có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong

kỳ Việc phân tích các tỷ lệ về khả năng thanh toán không những giúp cho các chủ

nợ giảm được rủi ro trong quan hệ tín dụng và bảo toàn được vốn của mình mà còngiúp cho bản thân doanh nghiệp thấy được khả năng chi trả thực tế để từ đó có biệnpháp kịp thời trong việc điều chỉnh các khoản mục tài sản cho hợp lý nhằm nângcao khả năng thanh toán

*Các tỷ lệ về thanh toán bao gồm :

Hệ số thanh toán hiện hành

Là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu động cho nợ ngắn hạn Tài sảnlưu động thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhượng, các khoản phảithu và dự trữ (tồn kho); còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạnngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phảitrả khác Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định - tới một

Trang 17

năm Tỷ lệ khả năng thanh toán chung là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạncủa doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn đượctrang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương ứngvới thời hạn của các khoản nợ đó.

Công thức của khả năng thanh toán chung như sau :

Hệ số thanh toán hiện

mà việc đầu tư đó sẽ kém hiệu quả Vấn đề này đòi hỏi nhà doanh nghiệp phải phân

bổ vốn như thế nào cho hợp lý

Hệ số thanh toán nhanh

Một tỷ lệ thanh toán chung cao chưa phản ánh chính xác việc doanh nghiệp

có thể đáp ứng nhanh chóng được các khoản nợ ngắn hạn trong thời gian ngắn vớichi phí thấp hay không vì nó còn phụ thuộc vào tính thanh khoản của các khoảnmục trong tài sản lưu động và kết cấu của các khoản mục này Vì vậy, chúng ta cầnphải xét đến hệ số thanh toán nhanh của doanh nghiệp

Hệ số thanh toán nhanh được tính bằng cách chia tài sản quay vòng nhanhcho nợ ngắn hạn Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóngchuyển đổi thành tiền, bao gồm : tiền, chứng khoán ngắn hạn và các khoản phải thu.Hàng tồn kho là tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ

bị lỗ khi đem bán Do vậy, tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàntrả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán dự trữ (tồn kho)

Hệ số thanh toán nhanh

(thanh toán tức thời) =

Tiền + Đầu tư ngắn hạn + Khoản phải thu

Nợ ngắn hạn

Trang 18

Nói chung tỷ lệ này thường biến động từ 0,5 đến 1 Tuy nhiên, cũng giống

như trường hợp của hệ số thanh toán ngắn hạn để kết luận giá trị của hệ số thanh toán tức thời là tốt hay xấu cần xét đến đặc điểm và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc

thanh toán nợ

b Các tỷ lệ về khả năng cân đối vốn

Tỷ lệ này được dùng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanhnghiệp so với phần tài trợ của chủ nợ cho doanh nghiệp Nó còn được coi là tỷ lệđòn bẩy tài chính và có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tài chính Bởi lẽ, các chủ

nợ nhìn vào số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp để thể hiện mức độ tin tưởng vào

sự bảo đảm an toàn cho các món nợ Nếu chủ sở hữu chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏtrong tổng nguồn vốn thì rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh là do các chủ

nợ gánh chịu Mặt khác, bằng cách tăng vốn thông qua vay nợ, các chủ doanhnghiệp vẫn nắm được quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp Ngoài ra, cáckhoản vay cũng tạo ra những khoản tiết kiệm nhờ thuế do chi phí cho vốn vay là chiphí trước thuế

Những doanh nghiệp có tỷ lệ này thấp phải chịu rủi ro lỗ ít hơn khi nền kinh

tế suy thoái đồng thời có lợi nhuận kỳ vọng thấp hơn so với doanh nghiệp có tỷ lệnày cao trong nền kinh tế bùng nổ Hay nói cách khác, những doanh nghiệp có tỷ lệ

nợ cao có nguy cơ lỗ lớn nhưng lại có cơ hội nhận được lợi nhuận cao Tuy lợinhuận kỳ vọng cao nhưng phần lớn các nhà đầu tư đều rõ´t so? rủi ro Vì thế quyếtđịnh về sử dụng nợ phải được cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro

Trên cơ sở phân tích kết cấu nguồn vốn, doanh nghiệp sẽ nắm được khả năng

tự tài trợ về mặt tài chính, mức độ chủ động trong sản xuất kinh doanh hay nhữngkhó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong việc khai thác nguồn vốn

Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản

Hệ số nợ = Tổng nợ

Tổng tài sản

Tỷ số này (thường tính bằng %) được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm

cả nợ ngắn hạn lẫn nợ dài hạn) của doanh nghiệp trong một thời kỳ nào đó chia cho

Trang 19

giá trị tổng tài sản trong cùng kỳ Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kếtoán của doanh nghiệp.

Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đivay Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp Tỷ số này màquá nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay ít Điều này có thể hàm ý doanh nghiệp có khảnăng tự chủ tài chính cao Song nó cũng có thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biếtkhai thác đòn bẩy tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức đivay Ngược lại, tỷ số này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực lực tàichính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi

ro của doanh nghiệp cao hơn

Khả năng thanh toán lãi vay hay số lần có thể trả lãi

Tỷ lệ này được xác định bằng cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi vay cho lãi tiền vay

Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãiChi phí lãi vay

Khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo cho khảnăng trả lãi hàng năm Việc không trả được các khoản nợ này có thể làm cho doanhnghiệp bị phá sản Cùng với tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ này giúp ta thấy đượctình trạng thanh toán công nợ của doanh nghiệp tốt hay xấu Một tỷ lệ nợ trên tổngtài sản cao cộng với khả năng thanh toán lãi thấp so với mức trung bình của ngành

sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc muốn gia tăng nợ

c Các tỷ lệ về khả năng hoạt động

Trang 20

Các tỷ lệ về khả năng hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụngnguồn vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiệp được đầu tư cho cácloại tài sản khác nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động Do đó, các nhà phântích không chỉ quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sử dụng của tổng nguồn vốn

mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn củadoanh nghiệp

Chỉ tiêu doanh thu thuần được sử dụng chủ yếu trong các tỷ lệ này nhằm tínhtốc độ quay vòng của một số đại lượng rất cần cho quản lý tài chính ngắn hạn Các

tỷ lệ này cho ta những thông tin hữu ích để đánh giá mức độ cân bằng tài chính vàkhả năng thanh khoản của doanh nghiệp

Vòng quay hàng tồn kho

Dự trữ và tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động củadoanh nghiệp Vì vậy, một mặt ta phải giới hạn mức dự trữ này ở mức tối ưu, mặtkhác tăng vòng quay của chúng Dự trữ là một khoản đầu tư cần thiết để đảm bảotính liên tục của sản xuất và không bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh Khoản đầu tư nàyđược giải phóng sau khi sản phẩm được tiêu thụ

Vòng quay hàng tồn kho là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó được xác định bằng công thức dướiđây

Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần

Hàng tồn kho

Kỳ thu tiền bình quân

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tồn tại các khoản phải thu là điềukhó tránh khỏi Nhờ bán chịu, doanh nghiệp có thể thu hút thêm khách hàng, mởrộng thị trường và duy trì thị trường truyền thống, do đó có thể giảm hàng tồn kho,duy trì được mức sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị Hơn nữa,

nó còn có thể mang lại lợi nhuận tiềm năng cao hơn nhờ việc tăng giá do kháchhàng mua chịu

Song việc bán hàng chịu cũng đẩy doanh nghiệp vào tình trạng phải đối mặtkhông ít với các rủi ro Đó là giá trị hàng hoá lâu được thực hiện dẫn đến giảm tốc

Trang 21

độ chu chuyển của vốn, đặc biệt trong tình trạng thiếu vốn doanh nghiệp phải huyđộng nguồn tài trợ cho việc bán chịu; một điều đáng lo ngại hơn là rủi ro về khảnăng thu nợ, chi phí đòi nợ Vì vậy, nhiệm vụ của người quản lý doanh nghiệp làphải quan tâm đến kỳ thu tiền bình quân và có biện pháp rút ngắn thời gian này.

Kỳ thu tiền bình quân được tính theo công thức sau (đơn vị của công thứcnày là ngày) :

Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thuDoanh thu thuần x 360

Vòng quay vốn lưu động

Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần

Vốn lưu độngChỉ tiêu này phản ánh trong kỳ TSLĐ quay được bao nhiêu vòng và cho tabiết tương ứng với một đồng TSLĐ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu

Ngoài ra chỉ tiêu này nói lên trong một năm (quý), vốn lưu động quay đượcbao nhiêu vòng Số vòng quay càng nhiều thì hiệu quả đồng vốn đem lại càng cao

Số nghịch đảo của chỉ tiêu trên gọi là hệ số bảo đảm Hệ số bảo đảm cho thấymuốn có một đơn vị khối lượng sản phẩm thực hiện cần thiết phải có bao nhiêuđơn vị vốn lưu động, hoặc một đồng giá trị sản phẩm thực hiện phải có bao nhiêuđồng vốn lưu động

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định

Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần

TSCĐ bình quân

Chỉ tiêu chất lượng được thể hiện dưới hình thức giá trị về tình hình và kếtquả sử dụng tài sản cố định trong một thời gian nhất định Trong sản xuất - kinhdoanh, chỉ tiêu này là quan hệ so sánh giữa giá trị sản lượng đã được tạo ra với giátrị tài sản cố định sử dụng bình quân trong kì; hoặc là quan hệ so sánh giữa lợinhuận thực hiện với giá trị tài sản cố định sử dụng bình quân Nó chỉ ra một đồnggiá trị tài sản cố định làm ra được bao nhiêu đồng giá trị sản lượng hoặc lợi nhuận.Được dùng để đánh giá tình hình sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp trongcác thời kì khác nhau, hoặc trong quan hệ so sánh với các doanh nghiệp cùng loại

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Trang 22

Tỷ lệ này cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Nócũng thể hiện số vòng quay trung bình của toàn bộ vốn của doanh nghiệp trong kỳbáo cáo Hệ số này làm rõ khả năng tận dụng vốn triệt để vào sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Việc tăng vòng quay vốn kinh doanh này là yếu tố quan trọnglàm tăng lợi nhận cho doanh nghiệp đồng thời làm tăng khả năng cạnh tranh, tăng

uy tín của doanh nghiệp trên thị trường

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần

Tổng tài sản

d Các tỷ lệ về khả năng sinh lời

Khả năng sinh lời là kết quả tổng hợp chịu tác động của nhiều nhân tố vì thếkhác với các tỷ lệ tài chính phân tích ở trên chỉ phán ánh hiệu quả từng hoạt độngriêng biệt của doanh nghiệp, tỷ lệ về khả năng sinh lời phản ánh tổng hợp nhất hiệuquả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp Mục đích chungcủa các doanh nghiệp là làm sao để một đồng vốn bỏ ra mang lại hiệu quả cao nhất

và khả năng sinh lời nhiều nhất Để đánh giá khả năng sinh lời người ta dùng cácchỉ tiêu sau:

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

Tỷ suất lợi nhuận

Lợi nhuận sau thuếDoanh thu thuần

Chỉ tiêu trên phản ánh số lợi nhuận sau thuế có trong một đồng doanh thu.Chỉ tiêu này có thể tăng giảm giữa các kỳ tuỳ theo sự thay đổi của doanh thu thuần

và chi phí Nếu doanh thu thuần giảm hoặc tăng không đáng kể trong khi đó chi phítăng lên với tốc độ lớn hơn sẽ dẫn đến lợi nhuận sau thuế giảm và kết quả là doanhlợi tiêu thụ sản phẩm thấp Khi đó, doanh nghiệp vẫn cần xác định rõ nguyên nhâncủa tình hình để có giải pháp khắc phục

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng cho các chủnhân của doanh nghiệp đó Hế số doanh lợi vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức

độ thực hiện mục tiêu này

Trang 23

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu

Hệ số này cho ta biết với một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thì chủ doanhnghiệp thu được về bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng nguồn vốn (ROA)

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng

Lợi nhuận sau thuếTổng nguồn vốnChỉ tiêu này phản ảnh khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư

2.2 Cơ sở thực tiễn.

Theo Quyết định số 219/2000/QĐ - BTC ngày 29/12/2000 của Bộ trưởng BộTài chính về việc ban hành và công bố sáu (06) Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam(đợt 2), quy trình phân tích qui định rõ kiểm toán viên phải tiến hành so sánh cácthông tin tài chính tương ứng trong kỳ này với các kỳ trước; giữa thực tế với kếhoạch của đơn vị; giữa thực tế với ước tính của kiểm toán viên; giữa thực tế của đơn

vị với các đơn vị trong cùng ngành có cùng quy mô hoạt động, hoặc với số liệuthống kê, định mức cùng ngành; giữa các thông tin tài chính với nhau hoặc giữa cácthông tin tài chính với các thông tin phi tài chính Quyết định trên cũng chỉ rõ:Trong quá trình thực hiện quy trình phân tích, kiểm toán viên được phép sử dụngnhiều phương pháp khác nhau, từ việc so sánh đơn giản đến những phân tích phứctạp đòi hỏi phải sử dụng các kỹ thuật thống kê tiên tiến và kiểm toán viên có quyềnlựa chọn quy trình phân tích, phương pháp và mức độ áp dụng tuỳ thuộc vào sự xétđoán chuyên môn của mình

Với qui định trên, khi tiến hành kiểm toán báo cáo tài chính, việc phân tíchbáo cáo tài chính mặc dầu được đặt ra trong kế hoạch kiểm toán nhưng hầu như chỉ

là phân tích chiếu lệ Các kiểm toán viên và các công ty kiểm toán độc lập vẫn chưaxây dựng được cho mình một nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chínhdoanh nghiệp một cách khoa học cùng với hệ thống chỉ tiêu phân tích hợp lý, phảnánh đúng thực trạng tài chính doanh nghiệp Chính vì thế, kết quả phân tích báo cáotài chính của các kiểm toán viên không thể sử dụng để phục vụ cho việc giảm bớtrủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính chứ chưa nói đến đánh giá thực trạng tài

Trang 24

chính và an ninh tài chính doanh nghiệp Kết quả này lại càng không thể thỏa mãnkhách hàng một khi phân tích báo cáo tài chính trở thành một dịch vụ chính thứctrong hoạt động của các công ty kiểm toán độc lập.

Qua khảo sát thực tế, nội dung phân tích báo cáo tài chính trong hoạt độngkiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập còn khá đơn giản, chủ yếu phân tíchtrên một số chỉ tiêu tài chính phản ánh trên báo cáo tài chính mà doanh nghiệp đãlập Đây là những chỉ tiêu tài chính cơ bản trước đây phản ánh trên Thuyết minhbáo cáo tài chính (Mẫu B09 - DN) còn hiện nay các chỉ tiêu này được phản ánh trênBáo cáo của Ban Giám đốc hoặc phản ánh trên Báo cáo thường niên hay Bản cáobạch của công ty Theo đó, các chỉ tiêu tài chính cơ bản thường được sử dụng đểphân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp bao gồm 4 nhóm: nhóm chỉ tiêu phản ánhcân đối vốn, nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu phản ánhkhả năng sinh lợi và nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động

Trang 25

PHẦN THỨ BA NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Phân tích tình hình tài chính tại Công Ty cổ phần Thủy điện Điện lực ĐắkLắk

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Công ty cổ phân Thủyđiện Điện lực Đắk Lăk, số 02 Hùng Vương, Phường Tự An, Thành phố Buôn MaThuột, Tỉnh Đắk Lắk

- Phạm vi về thời gian: Số liệu nghiên cứu được thu thập qua 3 năm: 2013,

2014, 2015

- Phạm vi về nội dung: Phân tích tình hình tài chính của công ty thông quacác bản báo cáo tài chính, nhằm tìm ra các mặt mạnh và cả mặt bất ổn Từ đó đềxuất những biện pháp quản trị tài chính đúng đắn và kịp thời để phát huy ở mức caonhất hiệu quả sử dụng vốn

3.2 Nội dung nghiên cứu

+ Tìm hiểu về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về việc phân tích tình hình tàichính của công ty

+ Đánh giá khái quát tình hình tài chính

+ Phân tích kết cấu tài chính và tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinhdoanh

+ Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của công ty

+ Phân tích hiệu quả kinh doanh

Trang 26

+ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn, khả năng sinh lời của vốn và nguồn vốn.

3.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tiềm năng phát triền địa bàn Đăk Lăk

Đắk Lắk nằm ở vị trí trung tâm của vùng Tây Nguyên (Đắk Lắk, Gia Lai,Kon Tum, Lâm Đồng và Đăk Nông), diện tích tự nhiên 13,125km2, trong đó chủyếu là đất Bazan phù hợp với các loại cây công nghiệp như: cà phê, cao su, tiêu,điều… Dân số khoảng 1,8 triệu người Phía bắc giáp tỉnh Gia Lai qua quốc lộ 14 sẽđến trung tâm kinh tế Đà Nẵng và khu công nghiệp Dung Quất, khu kinh tế mở ChuLai (Quảng Nam, Quảng Ngãi) Phía đông giáp tỉnh Khánh Hoà qua quốc lộ 26, đây

là trung tâm du lịch lớn của cả nước, đồng thời có cảng biển giao thương hàng hoávới nước ngoài Phía nam là các tỉnh Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương và Thànhphố Hồ Chí Minh qua quốc lộ 14 Đây là trung tâm kinh tế trọng điểm của phíaNam Phía tây là vương quốc Campuchia thông qua cửa khẩu kinh tế Đăk Ruê

Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung sẽ hình thành mạch giao thôngrất thuận lợi để phát triển thương mai - dịch vụ Cùng với việc Chính phủ đầu tưtuyến đường Hồ Chí Minh, hàng loạt các công trình đầu tư nhằm khai thác lợi thếcủa tuyến giao thông này Điển hình là việc đầu tư xây dựng cửa khẩu quốc tế Bờ Y(Kon Tum) và các trục giao thông sẽ hình thành nhánh của con dường xuyên Á bắtđầu từ Côn Minh (Trung Quốc) - Myanmar - Lào - Thái Lan qua cửa khẩu Bờ Y tạomối quan hệ thương mại quốc tế giữa các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, Nam Lào vớicác tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ Đây cũng là điềukiện khá lý tưởng để thu hút khách du lịch các nước theo tuyến đường bộ này vàoTây Nguyên - Đắk Lắk cũng như khuyến khích du khách Đắk Lắk nói riêng và khuvực Tây Nguyên nói chung đi du lịch nước ngoài

Đường giao thông nội tỉnh được đầu tư mở mới và nâng cấp thuận lợi có thểthông thương đến biên giới Campuchia Với một vị trí thuận lợi như vậy, Đắk Lắk

sẽ là trung tâm giao lưu hàng hoá giữa các vùng và tạo điều kiện cho phát triển dulịch, dịch vụ trong những năm tới đây

Đường hàng không: Hàng ngày có các chuyến bay từ Buôn Ma Thuột đi HàNội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và ngược lại bằng máy bay cỡ trung A320.Cụm cảng Hàng không Buôn Ma Thuột đang tiếp tục được đầu tư xây dựng hệthống sân bãi và cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông trong tương lai

Trang 27

Đến năm 2020, quy hoạch mạng lưới giao thông đường bộ tỉnh Đắk Lắk được dự kiến nhưsau:

- Nâng cấp 4 tuyến quốc lộ, các tuyến tỉnh lộ hiện có

- Qui hoạch thêm tuyến quốc lộ mới (Đắk Lắk - Phú Yên), đường TrườngSơn Đông và nâng cấp từ các tuyến huyện lộ lên tỉnh lộ

- Cải tạo nâng cấp hệ thống huyện lộ, đường đô thị, đường xã, hệ thốngđường thôn, buôn và các đường chuyên dùng nông, lâm nghiệp

- Tạo thành mạng lưới giao thông tương đối hoàn chỉnh nối với mạng lướiđường quốc gia và nối với các tuyến đường trong Tam giác phát triển 3 nước ViệtNam - Lào - Cămpuchia

- Quy hoạch, xây dựng điểm dừng, điểm nghỉ tại đèo Hà Lan - Krông Buktrên tuyến đường Hồ Chí Minh

- Dự kiến quy hoạch xây dựng trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột có 3bến xe khách, 1 bến xe buýt ở trung tâm thành phố, hình thành mạng lưới các điểm

đỗ xe buýt nội thị và đến các điểm ven đô, các huyện lân cận, 3 bãi đỗ xe tải các bãi

đỗ xe con, xe du lịch ở những nơi tham quan, du lịch, khu vui chơi giải trí, trungtâm thương mại, chợ Tại ở mỗi thị xã, mỗi huyện có từ 1- 2 bến xe khách

- Xây dựng một trung tâm sát hạch lái xe của tỉnh và mạng lưới Trung tâmđăng kiểm xe cơ giới tại thành phố Buôn Ma Thuột và khu vực các huyện lân cậnthành phố

Giao thông hàng không: Cảng hàng không Buôn Ma Thuột hiện tại là cấp 4Echo loại máy bay A 321 lên xuống, trong khi đó công suất nhà ga 150.000 hànhkhách/năm Đến năm 2010 phục vụ 300.000 hành khách/năm (năm 2020 là800.000) và 3.000 tấn hàng hóa/năm

Giao thông đường sắt: Qui hoạch tuyến đường sắt Tuy Hòa - Buôn Ma Thuột

có tổng chiều dài 160 km, trong đó đoạn nằm trên địa phận tỉnh Đắk Lắk dàikhoảng 85 km; tổng số ga trên toàn tuyến là 8 ga, trong đó trên địa phận tỉnhĐắkLắk có 5 ga

Toàn bộ hệ thống viễn thông đã được số hóa, nhiều thiết bị hiện đại đã đượcđưa vào sử dụng Hệ thống điện thoại cố định đến trung tâm tất cả các xã trong tỉnh,

tỷ lệ điện thoại cố định đạt 5,2 máy/ 100 dân Hiện tại tất cả các huyện trong tỉnh đã

có sóng di động, với các nhà cung cấp dịch vụ: Mobifone, Vinaphone, Viettel,

Trang 28

S-Fone, EVN Telecom, HT Mobile.Dịch vụ internet ADSL hiện tại đã có ở hầu hết tất

cả các huyện trong tỉnh, với 2 nhà cung cấp dịch vụ VDC và Viettel

Quy hoạch đến 2010 và 2015

Năm 2010 mạng thông tin quốc gia nối tới tất cả các huyện và nhiều xã trongtỉnh bằng cáp quang và các phương thức truyền dẫn băng rộng khác; ít nhất 30% sốthuê bao có khả năng truy cập viễn thông và internet băng rộng Tất cả các cơ quanhành chính nhà nước, chính quyền cấp huyện và thành phố được kết nối internetbăng thông rộng và kết nối mạng diện rộng của Chính phủ 100% số xã trong tỉnh

có điện thoại; 100% các điểm bưu điện văn hóa xã và các trung tâm giáo dục cộngđồng được kết nối internet

Đẩy mạnh phát triển dịch vụ di động, internet, thương mại điện tử, dịch vụphục vụ Chính phủ điện tử, dịch vụ công, dịch vụ công cộng và các dịch vụ giá trịgia tăng khác trên địa bàn tỉnh

3.3.2 Khái quát về công ty cổ phần Thủy điện Điện lực Đắk Lắk

- Tên tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN THUỶ ĐIỆN ĐIỆN LỰC ĐẮK

Ngày đăng: 10/03/2017, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. GS.TS Ngô Thế Chi, PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ (2009). Giáo trình phân tích Tài chính doanh nghiệp, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phân tíchTài chính doanh nghiệp
Tác giả: GS.TS Ngô Thế Chi, PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2009
[2]. PGS.TS Nguyễn Hữu Tài (2012). Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ, NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Tài
Nhà XB: NXBĐại Học Kinh Tế Quốc Dân
Năm: 2012
[3]. TS Nguyễn Minh Kiều (2009). Tài chính doanh nghiệp căn bản, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp căn bản
Tác giả: TS Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: NXB ThốngKê
Năm: 2009
[4]. PGS.TS Hoàng Văn Quỳnh, PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Lê (2015). Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhphân tích tài chính doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS Hoàng Văn Quỳnh, PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Lê
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2015
[5] Tạp chí Tài chính, Ngân hàng, Nghiên cứu kinh tế- Các báo cáo tài chính của công ty Cổ phần Thủy điện Điện lực Đắk Lắk các năm 2013, 2014, 2015 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w