Mục đích Làm rõ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam, đồng thời nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật cũng như thự
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ––––––
NGUYỄN THỊ HẠNH QUYÊN
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: T.S Trịnh Tiến Việt
Hà Nội - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Hạnh Quyên
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 9
1.1 NHẬN THỨC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 9
1.1.1 Khái niệm quyền con người 9
1.1.2 Một số quyền con người cơ bản 12
1.2 KHÁI NIỆM VÀ CÁC BẢO ĐẢM CỦA VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 15
1.2.1 Khái niệm, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự 15
1.2.2 Khái niệm, sự cần thiết và các bảo đảm của việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 18
1.3 CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 27
1.3.1 Quyền được suy đoán vô tội 30
1.3.2 Quyền tự do 30
1.3.3 Quyền được thông tin 31
1.3.4 Quyền được bảo vệ bởi luật sư 32
1.3.5 Quyền được tiếp cận với thế giới bên ngoài 33
1.3.6 Quyền được kịp thời đưa ra trước một thẩm phán hoặc một quan chức có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và được xét xử trong thời hạn hợp lý 34
Trang 41.3.7 Quyền được xem xét về tính hợp pháp của việc giam giữ 34 1.3.8 Quyền trong khi thẩm vấn 35 1.3.9 Quyền về điều kiện sống 36
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH
SỰ Ở VIỆT NAM 39
HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 39
2.1.1 Khái quát các quy định pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam
trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự 39 2.1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo vệ quyền
con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam 45
ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 63
2.2.1 Khái quát tình hình tội phạm 63 2.2.2 Đánh giá thực tiễn thi hành bảo vệ quyền con người trong giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam 66
QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
2.3.1 Về hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người trong giai đoạn
điều tra các vụ án hình sự 88 2.3.2 Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các bộ trong giai đoạn
điều tra còn hạn chế và thiếu hụt về biên chế 89 2.3.3 Về cơ sở vật chất, kỹ thuật điều kiện làm việc của các cơ
quan tư pháp 90
Trang 52.3.4 Về cơ chế phối hợp trong hoạt động của các cơ quan trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự 91 2.3.5 Ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật trong nhân dân
còn thấp kém 92
Chương 3 HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 94
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH
SỰ Ở VIỆT NAM 94
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 NHẰM BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC
đoạn điều tra 109 3.2.5 Kịp thời bổ sung quy định BLTTHS năm 2003 về quyền
được im lặng 110 3.2.6 Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS năm 2003 cụ thể hóa
chủ trương gắn công tố với hoạt động điều tra 111
QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 112
Trang 63.3.1 Tăng cường hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của
BLTTHS 113
3.3.2 Nâng cao hiệu quả của việc thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra 114
3.3.3 Nâng cao năng lực kiểm sát viên và điều tra viên - thước đo chuẩn mực bảo vệ quyền con người 116
3.3.4 Nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, đặc biệt là pháp luật về quyền con người 118
3.3.5 Nâng cao văn hóa tố tụng trong giai đoạn điều tra 120
KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 PHỤ LỤC
Trang 7TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS Bộ Luật Tố tụng hình sự
CQCSĐT Cơ quan cảnh sát điều tra
HRC Hội đồng quyền con người của Liên hợp quốc ICCPR Công ước về các quyền dân sự, chính trị ICCSCR Công ước về các quyền kinh tế, xã hội văn hóa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm trên phạm vi toàn
quốc từ năm 2008 đến năm 2013 63 Bảng 2.2: Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định tạm giữ và không phê chuẩn
quyết định gia hạn tạm giam từ năm 2008 đến năm 2013 78 Bảng 2.3: Số người bị tạm giữ được cơ quan bắt giữ trả tự do từ năm 2009
đến năm 2013 79 Bảng 2.4: Số lệnh tạm giữ Viện kiểm sát không phê chuẩn và hủy bỏ biện
pháp tạm giam từ năm 2009 đến năm 2013 82 Bảng 2.5: Số trường hợp quá hạn tạm giữ, tạm giam trên phạm vi cả nước từ
năm 2007 đến năm 2013 83 Bảng 2.6: Số người bị tạm giữ chết trong nhà tạm giữ từ năm 2010
đến năm 2013 83 Bảng 2.7: Cơ quan điều tra tạo điều kiện để người bào chữa chỉ định tham
gia vào các hoạt động điều tra liên quan đến người mà mình nhận bào chữa 87 Bảng 3.1: Thời hạn điều tra và thời hạn gia hạn điều tra vụ án hình sự 100 Bảng 3.2: Thời hạn tạm giam và thời hạn gia hạn tạm giam để điều tra vụ
án hình sự 101 Bảng 3.3: Thời hạn tối đa điều tra và tạm giam để điều tra vụ án hình sự 102
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ buổi sơ khai của bình minh loài người, ở xã hội cộng sản nguyên thủy, con người đã luôn được coi là chủ thể của xã hội và cùng với sự phát triển, khi lựa chọn định hướng phát triển theo xu hướng tiến bộ, các quốc gia đều cố gắng phấn đấu vì hạnh phúc của con người, vì thế bảo vệ các quyền của con người là một tất yếu khách quan Quyền con người là khát vọng và là thành quả đấu tranh của nhân loại, qua các giai đoạn phát triển nó đã trở thành giá trị chung
Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán khẳng định sự quan tâm, chăm lo, bảo vệ quyền con người; luôn đề cao sự tôn vinh, tôn trọng quyền con người;
đã, đang và sẽ làm hết sức mình để thực hiện quyền con người thông qua việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thông qua việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, làm cho “dân no, dân yên, dân tin” Điều đó thể hiện rất rõ ở sự quyết tâm phấn đấu đến năm 2020, nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thực hiện tốt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; tạo cơ sở vững chắc để thực hiện đầy đủ quyền con người trên đất nước Việt Nam Ở nước ta, quyền con người được bảo đảm và thực hiện bằng Hiến pháp và pháp luật, đó
là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình đấu tranh cách mạng, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đảng, Nhà nước ta luôn đề cao tính nghiêm minh của pháp luật, song pháp luật của nước ta không phải là cứng nhắc, áp đặt mà nó luôn được kết hợp chặt chẽ với đạo đức, với tình yêu thương con người và sự khoan dung, nhân đạo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã nhấn mạnh những yêu cầu của công
Trang 10dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm
Bảo đảm tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh pháp chế xã hội chủ nghĩa
là nguyên tắc chung trong các ngành luật Trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS), hoạt động điều tra là giai đoạn đầu tiên và giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án Thực tiễn đã chỉ
ra rằng: “Những kết quả khả quan cũng như những sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội…thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra” [46, tr.45] Giai đoạn điều tra nhận đảm đương công việc thực chất về điều tra sự thật phạm tội Thành công hay thất bại của việc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở một mức độ nào đó là do việc điều tra quyết định Chỉ có qua điều tra mới có thể biết rõ tình hình vụ án, xác định có tội phạm hay không
Trong quá trình điều tra xác lập cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự
và thực hiện nội dung quyền công tố Trong quá trình này, cơ quan điều tra (CQĐT) có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế tự do hay một số biện pháp liên quan, ảnh hưởng đến quyền con người Nếu hoạt động điều tra đúng pháp luật, sẽ bảo vệ được quyền con người, nếu hoạt động này có bất kỳ sai lầm nào dù to hay nhỏ, nhiều hay ít đều dẫn tới hệ quả tiêu cực xâm phạm quyền con người
Thực tiễn những năm qua ở Việt Nam cho thấy, trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự vẫn còn xảy ra hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân như: vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, “Kỳ án Vườn Điều” và còn nhiều vụ án khác thẫm đẫm nước mắt vẫn còn được nhắc đến như là một bài học đắt giá trong ngành tư pháp của nước ta Những vi phạm đó xảy ra là do
Trang 11nhiều nguyên nhân, trong đó có bất cập, hạn chế của pháp luật, cơ chế, nhận thức, thái độ của người tiến hành tố tụng (THTT), các quy định về chế độ trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, người THTT đối với công dân Vì vậy,
có thể nói nghiên cứu việc bảo vệ quyền con người trong các giai đoạn THTT nói chung, bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra nói riêng trong TTHS từ góc độ lập pháp cũng như áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và trong công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta
Xuất phát từ những vấn đề như vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam”
làm đề tài luận văn thạc sĩ, là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta, bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp nói riêng là vấn đề đã được Đảng, Nhà nước cùng các nhà khoa học xã hội hết sức quan tâm nghiên cứu, nhất là trong thời
kỳ đổi mới Bên cạnh việc thành lập Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, hiện nay các công
trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài: “Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam” chưa được công bố
nhiều Có thể chia các công trình thành ba nhóm chính sau đây:
- Nhóm thứ nhất - những công trình đề cập đến vấn đề quyền con
người nói chung có một số công trình khoa học tiêu biểu sau: a) "Quyền con người trong thế giới hiện đại" do PGS Phạm Khiêm Ích và GS TS Hoàng
Văn Hảo chủ biên, Viện Thông tin Khoa học Xã hội xuất bản năm 1995 ; b)
“Tìm hiểu vấn đề nhân quyền trong thế giới hiện đại” do TS Chu Hồng
Thanh chủ biên, Nxb Lao động, Hà Nội, 1996; c) Trung tâm Nghiên cứu
Trang 12Quyền con người biên tập hai tập chuyên khảo: “Quyền con người, quyền công dân” của nhiều tác giả, xuất bản năm 1995; d) Báo cáo tổng thuật Đề tài KX.07- 16 nghiên cứu về “Các điều kiện đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước” do GS.TS Hoàng Văn Hảo chủ nhiệm…Đặc biệt, đáng chú ý là cuốn sách: “Giáo trình lý luận và pháp luật
về quyền con người” của tập thể tác giả do GS.TS Nguyễn Đăng Dung, T.S
Vũ Công Giao, ThS Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) và cuốn sách nhiều tập
“Quyền con người” tiếp cận đa ngành, liên ngành của GS.TS Võ Khánh Vinh
chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2010; v.v…
Trong các công trình này, các tác giả đã nghiên cứu khái niệm và các đặc điểm Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng; nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân; nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền
- Nhóm thứ hai - các công trình nghiên cứu là các sách chuyên khảo,
các bài viết liên quan đến bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các
vụ án hình sự như: a) “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong xây dựng Nhà nước pháp quyền”, do TSKH Lê Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên), Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2004; b) “Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân theo luật hình sự Việt Nam” của T.S Trịnh Tiến Việt (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2010; c) “Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự” của T.S Trần Quang Tiệp, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2005; d) “Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2000; đ)
“Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam” của T.S Trần Quang Tiệp, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2004; e) “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự” của PGS TS Nguyễn Ngọc Chí, Tạp
chí Khoa học, chuyên san Luật học, số 23(2)/2009; v.v…
Trang 13- Nhóm thứ ba - các công trình nghiên cứu là các đề tài nghiên cứu
khoa học, luận văn, luận án liên quan đến bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự như: a) Đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia
“ Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình
sự trong giai đọan xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” do GS.TSKH
Lê Văn Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí, Ths Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì),
Hà Nội, 2004; b) Đề tài trọng điểm cấp Đại học Quốc gia Hà Nội: “Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự: Lý luận, thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật” do GS.TSKH Lê Văn Cảm (chủ trì), Hà Nội, 2013; c) Luận
án tiến sĩ luật học “Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự” của tác giả Hoàng Thị Sơn, bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội, 2003; d) Luận án tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Lại Văn Trình, bảo vệ
tại Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, 2011; v.v…
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác đã được đăng trong các tập san, tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Toà án nhân dân, Tạp chí Lập pháp…
Mặc dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực quyền con người, nhưng nhìn chung, những công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu
đề cập đến những vấn đề lý luận chung về quyền con người, từng lĩnh vực hoạt động cụ thể về quyền con người, về tổ chức và hoạt động của các bộ máy Nhà nước, về việc xây dựng pháp luật về bảo đảm quyền con người nói chung Trong đó, chỉ có một vài khía cạnh đề cập cụ thể về quyền con người trong hoạt động tư pháp Vấn đề bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và trực tiếp về cả lý luận và thực tiễn Tuy vậy, các công trình nêu trên vẫn là những tài liệu tham khảo quan trọng đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Trang 143 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Làm rõ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam, đồng thời nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng, làm sáng tỏ những bất cập hạn chế, để đưa ra những kiến nghị và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con người và bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
- Phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình (BLTTHS) năm 2003 liên quan đến bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự; tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của bất cập trong thực tiễn thi hành
- Nghiên cứu kinh nghiệm của pháp luật quốc tế về việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
- Kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLTTHS và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các
vụ án hình sự ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận quyền con người và việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn
áp dụng để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
Trang 154.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn trên những phạm vi sau đây:
- Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
- Quy định của BLTTHS hiện hành và thực tiễn bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
- Hoàn thiện các quy định của BLTTHS và những giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-LêNin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp luật, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về bảo vệ quyền con người
Việc nghiên cứu được thực hiện từ góc độ lý luận về quyền con người nói chung và từ góc độ TTHS nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê, khảo sát…Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu hồ sơ một số vụ án cụ thể để có cơ sở thực tiễn
6 Những điểm mới về mặt khoa học của luận văn
Đề tài là một trong những công trình nghiên cứu có tính hệ thống về lý luận và thực tiễn bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam và có những điểm nổi bật như sau:
- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, đặc điểm và nội dung của quyền con người được bảo vệ trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
Trang 16- Xác định rõ vai trò trách nhiệm của CQĐT trong việc bảo vệ quyền con người
- Nhận diện việc vi phạm quyền con người trong giai đoạn điều tra các
vụ án hình sự, đánh giá thực trạng quyền con người được bảo vệ trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
- Đề ra giải pháp trong việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
7 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Đề tài là một đóng góp khiêm tốn trong việc giải quyết về mặt khoa học một trong những nội dung cấp thiết hiện nay ở nước ta là bảo vệ quyền con người Luận văn sẽ đóng góp một phần lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho việc thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ quyền con người trong quá trình điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan THTT nói chung và CQĐT nói riêng trong việc thi hành pháp luật Kết quả của luận văn có giá trị tham khảo cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục từ ngữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung của luận văn kết cấu gồm 3 chương, như sau:
- Chương 1: Những vấn đề chung về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
- Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
- Chương 3: Hoàn thiện các quy định pháp luật tố tụng hình sự và những giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
Trang 17Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM
1.1 NHẬN THỨC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1.1 Khái niệm quyền con người
“ Sâu thẳm trong tư duy và tâm hồn của nhân loại là niềm tin chắc chắn rằng mỗi người và tất cả mọi người đều có các quyền, trong đó có quyền tự
do không bị áp bức, quyền tự do lựa chọn và không phải chịu những hành vi tàn bạo” [55, tr.1] Theo bản năng, hầu hết mọi người đều cảm nhận như vậy, ngay cả khi họ không tin là có thể dễ dàng giành được những quyền đó
Khái niệm quyền con người có nguồn gốc từ thời Hy Lạp dưới dạng các quyền tự nhiên của con người Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, người nô lệ không được coi là con người, họ không có và không được xã hội thừa nhận các quyền con người Chế độ phong kiến đã tiến một bước tiến so với chế độ chiếm hữu nô lệ, bước đầu trong việc giành lại quyền tự do và giải phóng con người Đến giai cấp tư sản, quyền con người được đề cập tới một cách trực tiếp, giai cấp này lần đầu tiên biết nêu cao ngọn cờ nhân quyền, biết lợi dụng các tư tưởng tự do, bình đẳng, công lý…vốn là yêu cầu cấp thiết của tầng lớp nhân dân lao động, tuyệt đối hóa tự do cá nhân, đặc biệt nhấn mạnh yếu tố cá nhân trong khái niệm quyền con người Theo đó lần đầu tiên các quyền con người được đề cập từ cuộc Cách mạng tư sản Anh với Luật về các quyền năm
1689, sau đó chính thức ghi nhận trong các văn kiện quan trọng như Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [16, tr.555] Đến Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp 1789
Trang 18tiếp tục khẳng định: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” [16, tr.555] Có thể khẳng định đây là sự kiện đánh dấu “Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, quyền con người chuyển từ phạm vi thỉnh cầu, yêu sách sang phạm vi thực hiện, từ lĩnh vực triết học sang lĩnh vực pháp lý thực tiễn” [24, tr.27]
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Liên hợp quốc tuyên bố chính thức
về các quyền và tự do của con người bằng Hiến chương Liên hợp quốc 1945
và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 Cụ thể hoá quyền con người trong các văn bản trên, năm 1966, Liên hợp quốc thông qua Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế, xã hội, văn hóa
Các học giả quốc tế thường viện dẫn khái niệm quyền con người của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc, Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do của con người [56]
Lịch sử tiến hóa loài người chỉ ra rằng con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên và của sự tiến hóa giống loài Sự xuất hiện loài người với đặc trưng cơ bản là lao động và có tư duy đã xác định vị trí, vai trò, những quyền năng của con người trước tự nhiên và muôn loài Con người tự tạo ra quyền của mình và đương nhiên được hưởng, sử dụng những quyền ấy, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và phát triển là bản chất tự nhiên của quyền con người
Con người từ khi xuất hiện đã là sản phẩm xã hội, lịch sử, bản chất của con người trong tính hiện thực của nó là toàn bộ các quan hệ xã hội Con người là sản phẩm của xã hội, chịu sự tác động của các quy luật xã hội khách quan nhưng con người là chủ thể của các quá trình vận động và phát triển của
Trang 19lịch sử, xã hội Quyền con người, một giá trị lịch sử, xã hội đương nhiên phải mang tính xã hội, lịch sử… Học thuyết Mác-Lênin là một chỉnh thể thống nhất thể hiện những tư tưởng nhân văn chân chính nhất của loài người, là sự
kế thừa một cách biện chứng những giá trị tinh hoa của nhân loại về con người và quyền con người C.Mác đã xuất phát từ con người là một thực thể thống nhất, một: “sinh vật – xã hội” Do đó quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” (như một đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có) và “quyền xã hội” - sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
Do đó, về bản chất quyền con người không chỉ thuần túy là những quyền tự nhiên mà nó đặt vào tổng hòa các mối quan hệ xã hội, chịu sự ràng buộc của xã hội, gắn với quá trình chinh phục tự nhiên và phát triển xã hội Nói khác đi: “Quyền con người tuy mang đặc tính tự nhiên nhưng có nội dung
xã hội, bị chế ước bởi từng hoàn cảnh lịch sử, từng chế độ xã hội, từng Nhà nước" [19, tr.28] và được mở rộng và cụ thể hoá cùng với sự phát triển của xã hội loài người, quyền con người là những vấn đề thuộc về con người, chỉ được đặt ra đối với con người xuất phát từ chính bản chất xã hội của con người, không có xã hội con người thì không có khái niệm quyền con người
Vì thế, có thể đưa ra khái niệm quyền con người như sau: Quyền con người là những đặc lợi vốn có của tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định
Quyền con người vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội; mang tính phổ biến, nhưng lại mang tính đặc thù; mang tính giai cấp, đồng thời mang tính nhân loại và thống nhất với quyền dân tộc cơ bản Quyền con người là giá trị có ý nghĩa phổ biến, được cộng đồng quốc tế và pháp luật quốc tế công nhận, bảo hộ Quyền công dân với nội dung chính trị, pháp lý hẹp hơn là khái niệm nói lên mối quan hệ giữa cá nhân con người với một
Trang 20Nhà nước cụ thể, phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh và đặc điểm lịch sử, địa lý, tôn giáo, chủng tộc và trình độ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, chế độ chính trị
ở từng quốc gia, dân tộc, ở từng thời kỳ và giai đoạn lịch sử nhất định
1.1.2 Một số quyền con người cơ bản
Quyền con người là một phạm trù lớn, bao trùm lên rất nhiều các vấn
đề, lĩnh vực khác nhau trong xã hội Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn
đề này, khoa học pháp lý đã chia quyền con người theo các lĩnh vực hoạt động của đời sống con người thành các nhóm: Các quyền dân sự; chính trị và các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội là hai nhóm quyền cấu thành các quyền
tự do cơ bản của con người Các quyền này lần đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (UDHR) năm 1948 sau đó được cụ thể hóa trong hai Công ước về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội văn hóa (ICCPR và ICCSCR) năm 1966
- Nhóm các quyền tự do dân chủ về chính trị, bao gồm: Quyền bầu cử,
ứng cử; quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; quyền bình đẳng nam nữ; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền được thông tin; quyền tự
do tín ngưỡng
- Nhóm quyền về dân sự (quyền tự do cá nhân), bao gồm: Quyền tự do
đi lại và cư trú trong nước; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được an toàn và bí mật về thư tín, điện thoại, điện báo, quyền khiếu nại, tố cáo
- Nhóm các quyền về kinh tế - xã hội, bao gồm: Quyền lao động; quyền
tự do kinh doanh; quyền sở hữu hợp pháp về thừa kế; quyền học tập; quyền
Trang 21nghiên cứu, phát minh, sáng chế; quyền được bảo vệ sức khoẻ; quyền được bảo vệ hôn nhân và gia đình; quyền trẻ em; quyền người già
Thế giới hiện đại với sự thay đổi thường xuyên và nhanh chóng trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, quyền con người được phát triển không ngừng, phong phú hơn cả về nội dung và hình thức Cho nên, trong quá trình phát triển của nhân loại, một số quyền con người mới được xuất hiện như:
- Quyền phát triển: Đó là quyền của các quốc gia, dân tộc đối với chủ
quyền trên lãnh thổ của mình như: Quyền tự do lựa chọn các thể chế chính trị, kinh tế, quyền được trợ giúp về kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế và các quốc gia khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Quyền phát triển là sự hiện thực hoá quyền con người ở thế hệ thứ ba, khi
mà nhiều quốc gia từng phải gánh chịu các hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh và đang gặp phải những khó khăn trầm trọng về kinh tế như đói nghèo, dốt nát, bệnh tật vì vậy họ có quyền được giúp đỡ về kinh tế, tài chính từ các quốc gia, tổ chức khác
Ở những mức độ khác nhau, các nước phương Tây đặc biệt là Mỹ, ngần ngại thừa nhận quyền phát triển của các dân tộc như một quyền con người cơ bản vì điều này dẫn đến trách nhiệm của họ với tư cách là những nước giàu, nước phát triển đã từng vơ vét tài nguyên và bóc lột của cải vật chất, sức lao động của các nước thuộc địa trước kia, nay phải đóng góp, hỗ trợ nỗ lực cho
sự phát triển của các nước đang phát triển và các nước nghèo Thậm chí một
số nước phương Tây vẫn chủ trương đặt tiến bộ về nhân quyền tại một nước (theo giác độ của họ) thành điều kiện cho việc cung cấp hay duy trì viện trợ cho phát triển hoặc những điều kiện thuận lợi cho buôn bán, xuất khẩu… Các nước đang phát triển khẳng định quyền phát triển là quyền phổ biến, một
Trang 22trong những quyền cơ bản của con người Họ bác bỏ gắn điều kiện nhân quyền cho phát triển, đấu tranh chống lại phương Tây lẩn tránh trách nhiệm, Hội nghị nhân quyền thế giới (Viên - 93) đã khẳng định lại nội dung tích cực của quyền phát triển và chống việc đặt điều kiện cho viện trợ phát triển
- Quyền được sống trong hoà bình: Ngày nay nhân loại đang đứng
trước nhiều hiểm hoạ mang tính toàn cầu như: hiểm hoạ chiến tranh hạt nhân, nạn khủng bố mang tính quốc tế, khủng hoảng nghiêm trọng về lương thực, thực phẩm, những cuộc xung đột về tôn giáo, chủng tộc, Thực trạng đó đã
và đang đe doạ đến sự tồn tại và phát triển của loài người Do đó yêu cầu về quyền được sống trong một thế giới hoà bình, bền vững đang là vấn đề cấp bách thật sự của các quốc gia, khu vực và cộng đồng trên thế giới Chính vì thế, pháp luật quốc tế ngày càng quan tâm đến các vấn đề liên quan đến cuộc sống trong hoà bình của con người như vấn đề giải trừ quân bị, loại trừ vũ khí hạt nhân, ngăn chặn khủng bố, ngăn chặn các cuộc xung đột
- Quyền sống trong môi trường trong sạch: Sự phát triển bền vững của
đất nước, chất lượng cuộc sống, sức khỏe của dân cư và an ninh quốc gia chỉ
có thể được đảm bảo trong điều kiện bảo tồn và gìn giữ được tình trạng môi trường trong sạch Sống trong môi trường trong lành được coi là một quyền con người cơ bản Sự ô nhiễm, suy thoái, phá hủy môi trường không chỉ gây tổn thất cho phát triển kinh tế, có thể phá hủy thành tựu tăng trưởng kinh tế, dẫn tới sự gia tăng đói nghèo, sự phân hóa và bất bình đẳng xã hội, mà còn gây ra nhiều bệnh tật nguy hiểm, làm tổn hại đến sức khỏe, đe dọa sinh mệnh con người, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của xã hội Do
đó, tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt công bằng và tiến bộ xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ, nâng cao chất lượng môi trường sống
Trang 231.2 KHÁI NIỆM VÀ CÁC BẢO ĐẢM CỦA VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM
1.2.1 Khái niệm, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.2.1.1 Khái niệm điều tra vụ án hình sự
Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan phục
vụ nhu cầu của con người Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm Hoạt động điều tra được nhìn nhận
và quy định khác nhau ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào quan điểm chính trị, chính sách hình sự, trình độ và cách thức tổ chức bộ máy phòng, chống tội phạm ở từng nước
Ở Việt Nam, theo các từ điển luật học giải thích rằng: “Điều tra là công tác tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện hay đầy đủ” [45, tr.32] hay “điều tra là tìm hiểu, xét hỏi
để biết rõ sự việc” [29, tr.526] Trong khoa học pháp lý Việt Nam, có nhiều quan điểm về vấn đề này như: “Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong giai đoạn này cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do
Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người phạm tội” [25, tr.34] hoặc “Điều tra là hoạt động tố tụng ở những giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng với nhiệm vụ chủ yếu là khôi phục lại vụ án, thu thập chứng
cứ, chứng minh có hay không tội phạm xảy ra” [13, tr.52]
Trong đời sống xã hội, yêu cầu bảo đảm pháp chế, tôn trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm đến lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội, của cơ quan, tổ chức và công dân
là một đòi hỏi khách quan trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của bất kỳ Nhà nước nào Tuy nhiên, khi có bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến các lợi ích nêu trên, để xử lý nhanh chóng, kịp thời, Nhà nước sử dụng các thiết
Trang 24chế tiến hành xử lý theo đúng quy định của pháp luật Trong quá trình này, bắt buộc phải tuân thủ theo đúng các trình tự, thủ tục giải quyết vụ án đã được pháp luật quy định
Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn và có nhiều hoạt động khác nhau, đồng thời có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức và của công dân Điều tra, với tư cách là một giai đoạn trong quá trình tố tụng, nhìn chung, pháp luật TTHS các nước đều khẳng định đây là hoạt động có mục đích khám phá và tìm ra sự thật khách quan, phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội
Có thể hiểu, điều tra vụ án hình sự là hoạt động tố tụng, đồng thời là
hoạt động nghiệp vụ do Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra và điều tra viên hoặc những người khác có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS tiến hành bằng cách áp dụng các biện pháp điều tra và các biện pháp ngăn chặn cần thiết để phát hiện, thu thập, củng cố chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội một cách khách quan, toàn diện và chính xác, đảm bảo cho việc xử lý vụ án được đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật
Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tiến hành TTHS, được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi CQĐT
ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra Sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, CQĐT có quyền tiến hành các hoạt động điều tra và áp dụng các biện pháp ngăn chặn
mà BLTTHS đã quy định để phát hiện, thu thập và củng cố chứng cứ chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội BLTTHS cũng quy định trong những trường hợp và điều kiện nhất định, một số hoạt động điều tra và một số biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng trước khi ra quyết định khởi
tố vụ án hình sự
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, VKS có quyền thực hành quyền
Trang 25công tố và kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong quá trình tiến hành các hoạt động điều tra và áp dụng các biện pháp ngăn chặn Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, VKS có những nhiệm vụ, quyền hạn
cụ thể được quy định trong BLTTHS
1.2.1.2 Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra
“Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nhiệm vụ chung của CQĐT là phát hiện, thu thập được đầy đủ hệ thống chứng cứ để chứng minh làm rõ được những vấn đề cần phải chứng minh” [21, tr.76] Hoạt động điều tra đảm bảo cho việc kết luận điều tra vụ án được khách quan, toàn diện và chính xác, đúng nội dung sự thật, đúng quy định của pháp luật Trường hợp chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì phải đề nghị truy tố bị can Kết quả công tác điều tra là cơ sở để VKS truy tố bị can trước pháp luật Trường hợp qua điều tra chứng minh được không có hành vi phạm tội xảy ra, hành vi không cấu thành tội phạm hoặc có căn cứ khác để đình chỉ điều tra theo quy định của pháp luật thì phải ra quyết định đình chỉ điều tra, tránh làm oan người vô tội Để hoàn thành tốt nhiệm vụ chung, CQĐT cần:
- Kịp thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết khi có đủ căn cứ theo luật định để kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc tiêu hủy chứng
cứ hoặc thông đồng giữa những người phạm tội và với người khác, gây khó khăn cản trở cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ Thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đã áp dụng khi không còn cần thiết; thực hiện tốt việc thông báo về áp dụng biện pháp ngăn chặn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan theo quy định của BLTTHS
- Áp dụng và tiến hành có hiệu quả các hoạt động điều tra cần thiết theo các tình huống điều tra cụ thể, vận dụng tốt các chiến thuật điều tra, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng nghiệp vụ có liên quan, sử dụng tốt các phương tiện kỹ thuật để phát hiện kịp thời, thu thập đầy đủ các chứng cứ cần thiết,
Trang 26chứng minh làm rõ nội dung, tính chất của vụ án đã khởi tố Nếu xác định có tội phạm xảy ra thì phải chứng minh làm rõ được các dấu hiệu tội phạm và cả bốn yếu tố cấu thành tội phạm, nếu xác định có căn cứ đình chỉ điều tra thì việc đình chỉ phải đúng trình tự, thủ tục và nêu rõ căn cứ đình chỉ theo đúng quy định của BLTTHS
- Tiến hành các biện pháp điều tra và các hoạt động tố tụng cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ các thông tin cần thiết liên quan đến hành vi phạm tội của bị can, giúp cho việc xác định tính chất và mức độ phạm tội của
bị can và quyết định việc xử lý được khách quan, toàn diện, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật Những thông tin cần thiết phải làm rõ đó là: Những tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can; lý lịch bị can và những đặc điểm về nhân thân của bị can (tiền án, tiền sự, ý thức chấp hành pháp luật ở nơi công tác, nơi cư trú…); mục đích, động cơ thủ đoạn phạm tội hoặc bối cảnh dẫn đến việc phạm tội; tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; mức độ thành khẩn khai báo và thái độ nhận thức của bị can về hành vi phạm tội của mình
1.2.2 Khái niệm, sự cần thiết và các bảo đảm của việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.2.2.1 Khái niệm bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
Bảo vệ có thể được hiểu là chống lại sự xâm hại để giữ gìn được hoặc đầy đủ những gì cần thiết Bảo vệ quyền con người là chống lại sự xâm hại
đến những đặc lợi vốn có của con người được hưởng trong những điều kiện
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định Nhận thức chung cho rằng, chủ thể cơ bản của quyền con người là các cá nhân, ngoài ra trong một số trường hợp, chủ thể của quyền con người còn là các nhóm người Chủ thể cơ bản có nghĩa vụ bảo vệ quyền con người là các nhà nước mà cụ thể là các chính phủ,
Trang 27các cơ quan nhà nước khác cùng các viên chức hay những người làm việc cho các cơ quan nhà nước Ngoài các chủ thể nhà nước, các chủ thể phi nhà nước như: các đảng phái chính, các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, các doanh nghiệp, tùy theo vị thế của mình, cũng có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ quyền con người
Bảo vệ quyền con người là việc Nhà nước bằng sức mạnh và ý chí của mình để các quyền của con người không bị xâm phạm và được thực thi trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội Thông qua các bảo đảm chính trị, kinh tế, tư tưởng, tổ chức, pháp luật, Nhà nước tạo cho con người được thực thi các quyền cơ bản của mình, đồng thời loại bỏ những rào cản làm hạn chế, hoặc không được thực thi các quyền đó
Trong khoa học pháp lý tồn tại các quan điểm khác nhau về diện chủ thể mà quyền con người cần được bảo vệ trong TTHS Một số nhà luật học cho rằng “bảo vệ quyền con người trong TTHS là bảo vệ quyền của người bị buộc tội” [22, tr.43], có quan khác lại cho rằng “bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự là bảo vệ quyền của những người tham gia tố tụng và của những người tiến hành tố tụng hình sự” [27, tr.99]
Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một
bộ phận của bảo vệ quyền con người nói chung được ghi nhận trong các đạo luật của hệ thống pháp luật Việt Nam và phạm trù trong hoạt động thực tiễn điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật
Trước hết phải khẳng định quan điểm của tác giả về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự chính là bảo vệ quyền của ba nhóm chủ thể:
Nhóm thứ nhất gồm: người bị tạm giữ, bị can;
Nhóm thứ hai gồm: người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Trang 28Nhóm thứ ba gồm: những người THTT như điều tra viên, kiểm sát viên…
Giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là lĩnh vực hoạt động phức tạp bởi trình tự, thủ tục cũng như sự tham gia vào lĩnh vực hoạt động này của nhiều loại chủ thể có quyền và nghĩa vụ khác nhau Căn cứ vào tính chất, nội dung quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, có thể chia thành ba nhóm Một nhóm chủ thể tham gia tố tụng vì có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến hoạt động điều tra của các cơ quan THTT, nhóm chủ thể này gồm: một loại với tư cách pháp lý là người bị bắt, người bị tạm giam, tạm giữ, bị can do đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự Đối với loại chủ thể này, quyền và nghĩa
vụ của họ được giải quyết theo trình tự thủ tục TTHS Còn loại chủ thể khác TGTT với tư cách là các bên đương sự như: người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Đối với loại chủ thể này, các quyền và nghĩa vụ của họ được giải quyết theo trình trình tự thủ tục TTHS và các văn bản pháp luật có liên quan Liên quan đến bảo vệ quyền con người nhóm thứ ba, đối với người THTT là ĐTV, KSV, hiện nay pháp luật thực định có quy định các quyền, nghĩa vụ để tiến hành để làm rõ tội phạm và người phạm tội, còn thiếu hẳn các quy định về bảo vệ quyền con người đối với nhóm chủ thể này Rõ ràng luật không có quy định bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe cho ĐTV, KSV khi họ thực hiện công vụ ngoài quy định chung về quyền được phòng vệ chính đáng; quyền của ĐTV được sử dụng vũ khí trong trường hợp cần thiết Do vậy trong trường hợp tính mạng, sức khỏe, tài sản của họ hoặc của thân nhân họ bị đe dọa thì việc bảo vệ các quyền hiến định này như thế nào? Trên thực tế cho thấy có nhiều ĐTV, KSV và đã bị thân nhân của bị can, của bị đơn hành hung, xâm phạm đến sức khỏe, nhắn tin gọi điện đe dọa, khủng bố tinh thần liên quan đến việc thừa hành công vụ của họ vẫn còn tồn tại Đây cũng chính
là vấn đề mang tính nhận thức khách quan hiện nay mà pháp luật cần bổ sung
Trang 29Tóm lại, bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án
hình sự là việc bảo đảm các yếu tố cần và đủ cho quá trình thực hiện quyền con người trong giai đoạn điều tra nhằm làm cho hoạt động này có hiệu lực, hiệu quả cao nhất Các yếu tố cơ bản bao gồm: Có hệ thống quy phạm pháp luật về lĩnh vực này đầy đủ, hệ thống các CQĐT có chất lượng; có cơ sở vật chất - kỹ thuật, nguồn lực cán bộ đáp ứng tốt mọi yêu cầu trong hoạt động điều tra, có cơ chế giám sát chặt chẽ và thông suốt
1.2.2.2 Sự cần thiết của việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam
Bản chất của của giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là việc xác định chân lý khách quan, tìm ra sự thật của vụ án, trong quá trình này cơ quan THTT phải thực hiện thẩm quyền của mình theo nguyên tắc “được làm những
gì mà pháp luật cho phép” còn người TGTT “được làm những gì mà pháp luật không cấm” Theo quy định của pháp luật, các chủ thể được tiến hành thực hiện các quan hệ tố tụng một cách công khai, trực tiếp, dân chủ nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật, các tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và các yêu cầu khác của những người TGTT
Dưới góc độ nhân quyền ta nhận thấy sự cần thiết phải bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra được thể hiện:
Thứ nhất, xét về vị trí của người tiến hành TTHS là người nhân danh
Nhà nước thực hiện các hoạt động TTHS theo quy định của pháp luật Khi thực hiện nhiệm vụ chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật
và được pháp luật bảo vệ Người tiến hành TTHS là người giữ vị trí trung tâm trong hoạt động TTHS Người tiến hành TTHS có vị trí mang tính độc lập về nhiệm vụ, quyền hạn trong khi thực hiện các hoạt động tố tụng được giao Khi
họ thực thi nhiệm vụ, không cá nhân, tổ chức hay cơ quan nào được can thiệp, tác động để có thể buộc họ làm trái pháp luật; không cá nhân, tổ chức hay cơ
Trang 30quan nào được lấy thẩm quyền hành chính để thay thế, chỉ đạo hoạt động tố tụng của họ, trừ khi người đó cố tình vi phạm pháp luật Các hoạt động tố tụng của người tiến hành TTHS là việc áp dụng pháp luật để xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật, được trực tiếp sử dụng quyền lực Nhà nước trong khi thi hành công vụ; có ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân
Những người TGTT là đối tượng chịu sự tác động của những hoạt động
tố tụng của người THTT ở mức độ ít hay nhiều Do đó việc bảo vệ quyền con người trong TTHS nói chung và bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra nói riêng là vấn đề được đặt lên hàng đầu
Thứ hai, giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là một quá trình làm sáng
tỏ sự thật khách quan của vụ án, đòi hỏi các cơ quan THTT, đặc biệt là CQĐT phải áp dụng nhiều biện pháp tố tụng được quy định trong BLTTHS, trong đó
có cả các biện pháp ngăn chặn để bảo đảm việc phát hiện và xử lý tội phạm, tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm, ngăn chặn tội phạm có khả năng bỏ trốn, tiếp tục phạm tội Đây là vấn đề nhạy cảm liên quan trực tiếp đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, đến nhiều mặt của đời sống xã hội Vì vậy đòi hỏi công tác khởi tố, điều tra phải hết sức chính xác, thận trọng khách quan đúng pháp luật Ví dụ, xuất phát từ bản chất pháp lý của hoạt động tố tụng mà căn cứ khởi tố vụ án hình sự, khởi
tố bị can khác nhau Quyết định khởi tố vụ án hình sự chưa hướng sự buộc tội vào con người cụ thể nào, mà chỉ tạo cơ sở pháp lý để tiến hành các biện pháp điều tra theo luật tố tụng hình sự Còn căn cứ khởi tố bị can phải là “có đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm” Bởi vì, khi người THTT ra quyết định khởi tố
bị can là đã thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người cụ thể; quyết định đó ảnh hưởng rất lớn đến quyền, lợi ích của người bị khởi tố
Thứ ba, để đạt được mục đích phát hiện, điều tra, xử lý chính xác,
Trang 31khách quan tội phạm và người phạm tội, Nhà nước bất đắc dĩ phải ban hành một số quy định hạn chế quyền con người của công dân nói chung, người TGTT nói riêng Quyền con người trong giai đoạn điều tra gắn rất chặt chẽ với các quy định về các biện pháp điều tra và quy định các biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong TTHS Tuy nhiên, do sự thiếu hợp tác của người TGTT với người THTT trong việc đi tìm, xác định sự thật khách quan của các chứng cứ liên quan đến vụ án, nên các quyết định của người THTT không phản ánh được chính xác, toàn diện nội dung sự việc, hoặc do sự tác động chi phối từ bên ngoài vào hoạt động điều tra, sự chi phối, tác động này có thể là
do lãnh đạo của cấp trên đối với cấp dưới, của cơ quan THTT đối với người THTT, cũng có thể do quen biết, người thân của người TGTT… nên các quyết định trong hoạt động dễ thiếu sự khách quan, trung thực, đầy đủ… hay
do một bộ phận những người THTT bị hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tha hóa về đạo đức lối sống trong việc thực hiện các chức năng thẩm quyền của mình làm cho quyết định của họ trong vụ án thiếu khách quan, toàn diện, đầy đủ và không đúng pháp luật Hơn nữa, các hạn chế, các biện pháp cưỡng chế được quy định và thực hiện chỉ ở mức độ cần và đủ để phát hiện, xử lý tội phạm, người phạm tội mà không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người
Vì vậy, trong hoạt động điều tra nhiệm vụ không bỏ lọt tội phạm phải
đi liền với không làm oan người vô tội; nhiệm vụ phát hiện xử lý tội phạm phải đi liền với việc bảo vệ quyền con người Hoạt động TTHS nói chung và hoạt động điều tra nói riêng phải được thực hiện trên cơ sở coi trọng các yếu
tố đó; bỏ qua hoặc coi nhẹ yếu tố này hay yếu tố khác nói trên đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc đạt được mục đích tố tụng Nếu muốn chứng minh tội phạm, xử lý tội phạm bằng bất cứ giá nào thì dễ dẫn đến vi phạm quyền con người; ngược lại nếu quá chú ý đến việc bảo đảm quyền con người thì sẽ làm
Trang 32cho hoạt động điều tra thiếu hiệu quả, không thể phát hiện, xử lý kịp thời người phạm tội, thậm chí bỏ lọt tội phạm
Các hoạt động trong giai đoạn điều tra có ý nghĩa xác lập cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự, thực hiện quyền công tố Nếu hoạt động điều tra đúng pháp luật, sẽ bảo vệ được quyền con người, tuy nhiên “điều tra quá lớn
mà không bị hạn chế thì sẽ dễ xâm hại đến quyền con người, mà trong giai đoạn điều tra quá coi trọng sự bảo vệ quyền con người thì không đạt được mục đích điều tra” [31, tr.44] Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, một mặt phải bảo đảm đầy đủ các yêu cầu là thu thập chứng cứ phạm tội, truy bắt tội phạm, chứng minh sự thật vụ án, mặt khác phải bảo đảm quyền lợi cơ bản cho những đối tượng liên quan, đặc biệt là bị can, đồng thời không ngừng cải biến, điều chỉnh sao cho phù hợp với trình độ phát triển của xã hội, nỗ lực thực hiện những động thái bình ổn và cân bằng của mối quan hệ giữa hoạt động điều tra và bảo đảm tôn trọng quyền con người
Do đó, trong giai đoạn điều tra, việc tuân thủ nguyên tắc pháp chế phải được thực thi một cách triệt để từ các phía các chủ thể THTT Đối với CQĐT càng có tính cấp thiết “mọi vi phạm pháp luật, dù nhỏ, từ phía CQĐT đều tạo ra khả năng lớn khiến hoạt động điều tra đi chệch khỏi quỹ đạo của mình, gây tổn hại trái pháp luật cho quyền và lợi ích của những người tham gia tố tụng” [4, tr.405]
Thứ tư, thông qua hoạt động điều tra làm rõ sự thật khách quan của vụ
án, CQĐT đã giữ vững và bảo đảm pháp chế, ổn định trật tự xã hội, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Về phía mình, Nhà nước pháp quyền lại tiếp tục làm cho pháp luật về tổ chức và điều tra của CQĐT, về các nguyên tắc của hoạt động điều tra được hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn, tôn trọng và bảo vệ quyền con người hơn, cũng như bảo đảm giải quyết vụ án hình sự được khách quan, công bằng, dân chủ và đúng pháp luật hơn Bởi lẽ, Nhà nước mà trong
đó pháp luật được đề cao, pháp chế được ngự trị thì các quyền tự do của con
Trang 33người được bảo đảm, đồng thời tất cả các hành vi phạm tội và hành vi vi phạm trong quá trình tiến hành TTHS đều bị xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng pháp luật
1.2.2.3 Các bảo đảm quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ
án hình sự
Bảo vệ quyền con người là một quá trình phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau như chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và pháp luật; trong đó pháp luật có vai trò, vị trí tầm quan trọng hàng đầu Theo Jonh P.Frank- chuyên gia
về Luật Hiến pháp chỉ ra rằng “tại bất kỳ xã hội nào trong lịch sử thì những người nắm quyền quản lý hệ thống tư pháp hình sự đều có khả năng dẫn đến
sự lạm dụng và dễ có hành động bất công” [48, tr.222]
Các hoạt động điều tra nhằm xác lập chân lý khách quan của hành vi phạm tội đã xảy ra trong quá khứ, tạo cơ sở quan trọng cho việc đạt được mục đích chung của TTHS Như đã nói, những kết quả khả quan cũng như sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội… thường bắt nguồn
từ giai đoạn điều tra Vị trí của hoạt động điều tra đối với công tác xét xử không chỉ giới hạn ở số lượng và chất lượng chứng cứ mà CQĐT có thể cung cấp cho
TA mà thậm chí “trong nhiều trường hợp sự nhận định, đánh giá tội phạm của CQĐT và của VKS còn quy định cả giới hạn xét xử” [46, tr.30]
Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra là một lĩnh vực bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp Để bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự bên cạnh việc củng cố và tăng cường các đảm bảo quyền con người nói chung, còn phải đảm bảo các yếu tố mang tính đặc trưng riêng có của quyền con người trong hoạt động điều tra Các bảo đảm quyền con người trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự bao gồm:
- Đối với hệ thống các quy phạm pháp luật về quyền con người trong hoạt động điều tra, phải được quy định đầy đủ, cụ thể, trong đó có các quyền
Trang 34quan trọng như: Quyền yêu cầu CQĐT bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Đảm bảo tính hợp pháp của các biện pháp cưỡng chế, chống lại sự tùy tiện, loại trừ những sai lầm trong hoạt động điều tra của mình
Người TGTT có quyền đưa ra chứng cứ buộc tội, gỡ tội nhằm đảm bảo tính nghiêm minh công bằng của pháp luật, của chế độ xã hội Giữa hai mặt đối lập của người THTT như: ĐTV, người bị hại và người TGTT như: người
bị tạm giữ, bị can, bị đơn dân sự, người bào chữa trong quá trình điều tra vụ
án luôn tồn tại khách quan, do vậy, bên có quyền buộc tội không thể lấy quyền của mình để áp đặt buộc bên kia phải nhận tội trong điều kiện thiếu tồn tại khách quan Mỗi bên sử dụng quyền của mình được pháp luật quy định và
tự mình thực thi quyền đó để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ tố tụng chính là bảo vệ quyền con người
- Để bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự, yếu tố quyết định vẫn là con người trong việc tổ chức và tiến hành các hoạt động Họ là những người tham gia vào các quy trình hoạt động tư pháp, quyết định các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những người TGTT như: tính mạng, tự do, tài sản của người phạm tội, danh dự, uy tín, tài sản của các bên đương sự và những người tham gia tố tụng khác liên quan Vì vậy, những người tiến hành các hoạt động tư pháp phải là người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác, đồng thời phải là người có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng, có bản lĩnh vững vàng
Đó là yếu tố cần và đủ để trong hoạt động tư pháp nói chung, và hoạt điều tra hình sự nói riêng, bảo đảm được tính khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích của công dân, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội
- Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
Trang 35còn phụ thuộc một phần không nhỏ vào cơ sở vật chất, điều kiện sinh hoạt của các chủ thể khi TGTT Nhà nước quan tâm đến các điều kiện sinh hoạt, ăn ở của người bị tạm giữ, tạm giam, tạo điều kiện thuận lợi trong việc đi lại, bảo
vệ an toàn tính mạng, sức khỏe đối với người làm chứng, người bảo vệ lợi ích công cộng; quan tâm nhiều hơn đến điều kiện làm việc, chế độ sinh hoạt và an toàn của ĐTV, KSV chính là thước đo ưu việt về khả năng bảo vệ quyền con người trong giải quyết vụ án hình sự
Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là việc bảo đảm các điều kiện, yếu tố cần và đủ cho quá trình thực hiện quyền con người trong lĩnh vực điều tra nhằm làm cho hoạt động này có hiệu lực, hiệu quả cao nhất Các yếu tố cơ bản như: Có hệ thống các quy phạm pháp luật về lĩnh vực này đầy đủ, không ngừng được hoàn thiện; có hệ thống các cơ quan
tư pháp hoàn chỉnh, có chất lượng, hoạt động có hiệu quả; có cơ sở vật chất,
kỹ thuật đáp ứng với yêu cầu của hoạt động, có cơ chế giám sát chặt chẽ, thông suốt, có sự tham gia đông đảo của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và công dân
Đối với bất kỳ vụ án hình sự nào thì giai đoạn điều tra cũng là hết sức cần thiết và quan trọng Có thể khẳng định rằng nếu thiếu các hoạt động điều tra thì TA không có cơ sở để xét xử vụ án Kết quả giải quyết vụ án hình sự phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn điều tra, chỉ khi điều tra vụ án được nhanh chóng, kịp thời, chính xác thì mới đẩy nhanh và mạnh tiến độ tố tụng để giải quyết vụ án
1.3 CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
Mục đích hoạt động của cơ quan THTT và người THTT trong lĩnh vực hình sự là nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý hành vi phạm tội, đảm bảo mọi tội phạm được phát hiện kịp thời, không để lọt tội phạm và không xử lý oan
Trang 36người vô tội Tính chất hoạt động của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền này là hoạt động nhân danh Nhà nước và mang quyền lực Nhà nước Trong khi đó, quyền con người trong TTHS, là quyền pháp lý của cá nhân, công dân hay nói chính xác hơn là quyền của bị can, bị cáo, do đang ở vào tình thế bất lợi vì có hành vi vi phạm pháp luật hình sự hoặc đang bị tình nghi phạm tội, nên thông qua pháp luật, Nhà nước trao cho họ những quyền pháp lý nhất định Những quyền pháp lý, thường được quy định trong Hiến pháp và Luật
để giúp họ có công cụ tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, tránh các nguy cơ xâm phạm không đúng pháp luật từ phía các
cơ quan hoặc cá nhân đang thực thi pháp luật
Vì tính chất hoạt động của cơ quan THTT, người THTT là nhân danh nhà nước và mang quyền lực nhà nước, nên trong quan hệ của họ với bị can,
bị cáo thì đây là quan hệ bất bình đẳng Vì vậy, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, giảm thiểu các nguy cơ xâm phạm bất hợp pháp là mối quan tâm hàng đầu của pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền con người trong hoạt động TTHS
Pháp luật quốc tế về quyền con người có những chuẩn mực tối thiểu đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong TTHS được áp dụng trong phạm vi toàn cầu, không kể hệ thống chính trị, trình độ phát triển kinh tế, xã hội Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quyền con người trong TTHS được quy định trong nhiều văn kiện, đáng chú ý nhất là Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; bên cạnh các văn kiện mang tính ràng buộc pháp lý, nhiều văn kiện không mang tính ràng buộc pháp lý như: Hướng dẫn, Nguyên tắc, Quy tắc chẳng hạn như: Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp luật (1979), Hướng dẫn về vai trò của Công tố viên (1990)… Liên quan đến người TGTT có: Các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam giữ hay tù dưới bất
Trang 37cứ hình thức nào (1988), Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) (1985), Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (1990), Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của Luật sư (1990)… Những văn kiện này dù không mang tính ràng buộc pháp lý, nhưng lại là những tiêu chuẩn chung đã được cộng đồng quốc tế nhất trí nhằm hướng đến bảo vệ nhân quyền và nhân phẩm của con người - những giá trị mang tính phổ quát Đối chiếu các quy định ở các văn kiện nêu trên với Công ước về nhân quyền của một số khu vực ( Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi) cũng có nhiều điểm tương đồng Các điều ước khu vực hiển nhiên chỉ có giá trị bắt buộc đối với các quốc gia tham gia điều ước, nhưng rõ ràng quyền con người trong TTHS mang tính phổ quát và được quan tâm bảo vệ trên khắp thế giới
Các quy định trong các văn kiện trên tạo thành hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quy tắc ứng xử của cơ quan và nhân viên thực thi pháp luật cũng như đảm bảo cho bị can, bị cáo có các quyền pháp lý nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giảm thiểu các nguy cơ xâm hại bất hợp pháp từ các cơ quan thực thi pháp luật
Các chuẩn mực pháp lý tối thiểu đảm bảo quyền con người trong hoạt động tố tụng được quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế đều dựa trên các nguyên tắc có tính chất nền tảng, xuyên suốt quá trình tố tụng như:
“nguyên tắc suy đoán vô tội; nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc bình đẳng; nguyên tắc không bị tra tấn, nhục hình; nguyên tắc đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm” [54, tr.1]
Ta có thể nhận thấy rằng, các quyền cơ bản nếu bị xâm hại từ giai đoạn điều tra sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến các quyền ở giai đoạn sau Chẳng hạn ở giai đoạn điều tra, những người đang bị tạm giam là những người đang bị tình nghi có hành vi phạm tội vì thế cơ quan có thẩm quyền áp dụng những biện
Trang 38pháp nghiệp vụ để chứng minh hành vi phạm tội, và vì vậy, tuỳ trường hợp cụ thể họ có thể bị áp dụng những biện pháp ngăn chặn nhất định Tuy nhiên ở giai đoạn này, dù có đủ chứng cứ để chứng minh họ phạm tội hay chưa, thì bị
họ vẫn là người vô tội Các quyền không bị tra tấn, bức cung hay nhục hình nếu bị xâm hại, rất dễ dẫn đến những lời khai không khách quan, từ đó nội dung vụ án bị sai lệch Theo các quy chuẩn quốc tế ở giai đoạn trước khi xét
xử, người bị giam giữ chờ xét xử có các quyền pháp lý sau đây:
1.3.1 Quyền được suy đoán vô tội
Đây là quyền pháp lý rất quan trọng, xuyên suốt quá trình tố tụng từ khi khởi tố đến khi xét xử và bản án chưa có hiệu lực pháp luật Nhận thức đầy đủ quyền này có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động điều tra, nắm được tinh thần của các các quy định và áp dụng các hình thức đối xử thích hợp với người bị giam giữ chờ xét xử Theo Nguyên tắc 8 Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất
cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào quy định: “Những người đang bị giam phải được đối xử đúng với địa vị chưa bị kết án của họ
Do vậy bất cứ khi nào có thể, họ phải được tách riêng khỏi những người đang
bị tù” [50, tr.152] Điều 2 - Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp luật nêu rõ: “Trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình, các cán bộ thi hành pháp luật phải tôn trọng, bảo vệ nhân phẩm và duy trì, nêu cao quyền con người của tất cả mọi người” [39, tr.3]
1.3.2 Quyền tự do
Được Điều 9 ICCPR ghi nhận và bảo vệ thường được gọi là “quyền tự
do và an toàn cá nhân” hoặc hẹp hơn là “quyền không bị giam giữ một cách tùy tiện” Quyền này được quy định ngắn gọn tại Điều 9 UDHR, Điều 6 của Hiến chương Châu Phi về quyền con người và quyền dân tộc, Điều 7 (2), (3) của Công ước Châu Mỹ về quyền con người, Điều 5 (1) của Công ước châu
Âu về bảo vệ quyền con người và Tự do cơ bản
Trang 39Tinh thần điều luật không coi quyền tự do là tuyệt đối bảo vệ các cá nhân khỏi bị bắt hoặc giam giữ trong mọi trường hợp Trong thực tế, việc các nhà nước tước tự do của cá nhân vi phạm pháp luật nghiêm trọng đã luôn tồn tại trong lịch sử và sẽ còn tiếp tục là một phương thức chính đáng để nhà nước kiểm soát các cá nhân trong thẩm quyền tài phán của mình, tuy nhiên nhấn mạnh yếu tố “không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện”
Ủy ban Nhân quyền đã giải thích thuật ngữ "tùy tiện" tại Điều 9 (1) của ICCPR được hiểu việc tước tự do của một cá nhân phải phù hợp với thủ tục tố tụng pháp luật quy định, bản thân pháp luật và việc thực thi pháp luật không được mang tính tùy tiện, bởi sự tùy tiện là điều có ý nghĩa rộng hơn bao gồm các yếu tố của sự không phù hợp, bất công và thiếu khả năng dự báo chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi quy định pháp luật Việc quyết định có giam giữ hay không giam giữ ở giai đoạn này, các quy định quốc tế đều xác định tránh áp dụng biện pháp giam giữ Và nếu có áp dụng việc giam giữ trước khi xét xử phải được sử dụng như là biện pháp cuối cùng trong tố tụng hình sự, quy tắc của 6.1 của Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên hợp quốc
về những biện pháp không giam giữ (Các quy tắc Tokyo, 1990) chỉ rõ: “Giam giữ trước khi xét xử được sử dụng như phương án cuối cùng trong quá trình tố tụng hình sự, khi xét thấy cần thiết cho việc điều tra hành vi bị coi là phạm tội
và cần thiết để bảo vệ xã hội và các nạn nhân” [42, tr.13]
1.3.3 Quyền được thông tin
Được quy định tại Điều 9 (2) ICCPR, Nguyên tắc 10, 11(2), 13, 14 của Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù bất kỳ hình thức nào, Điều 7 (4), Điều 8 (2) (B) Công ước Châu Mỹ về quyền con người, Điều 5 (2) Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và Tự do cơ bản Theo đó bất cứ ai bị bắt đều có quyền biết được chính xác lý do khiến mình bị bắt và được thông báo kịp thời về bất cứ cáo buộc nào chống lại mình
Trang 40Yêu cầu thông tin về lý do bắt giữ, tạm giam là cho phép người bị tạm giam nhận biết được tính hợp pháp của việc bị giam giữ, do đó họ phải nhận được sự thông báo rõ ràng về cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc bắt giữ, tạm giam
Nguyên tắc 5 của Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư, Nguyên tắc 17 của Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay
tù bất kỳ hình thức nào cho thấy một trong những quyền quan trọng nhất mà người bị bắt giữ hay giam giữ cần biết đó là họ được quyền tư vấn pháp lý (có luật sư trợ giúp theo lựa chọn của mình) do đó thông tin này cần được cung cấp ngay lập tức khi bị bắt hay giam giữ hoặc khi bị buộc là đã phạm một tội hình sự
Để có hiệu quả, thông tin phải được truyền đạt bằng ngôn ngữ có thể hiểu được, do đó theo Nguyên tắc 14, Nguyên tắc 16 (2) Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào, Điều 36 Công ước Viên về quan hệ lãnh sự thì một người bị bắt, giam giữ hay
bị tù có quyền được được hiểu đầy đủ các thông tin qua ngôn ngữ mình hiểu thông qua sự giúp đỡ miễn phí của phiên dịch
Quyền này đặc biệt có ý nghĩa với người nước ngoài hoặc người thuộc các dân tộc thiểu số “Việc được thông báo không chậm trễ vì lý do buộc tội
và được sử dụng, hỗ trợ ngôn ngữ của cộng đồng mình trong tố tụng là những điều kiện quan trọng để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo và người
bị bắt” [47, tr.36]
1.3.4 Quyền được bảo vệ bởi luật sư
Được quy định tại Điều 14 (3) (b) của ICCPR, Điều 8 (2) (c) và 8 (2) (d) của Công ước Châu Mỹ về quyền con người, Nguyên tắc 1, 6 Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư, Nguyên tắc 17 (2), 18 Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào
Theo đó những người bị bắt hoặc bị giam giữ có hoặc không có tội hình