hát lượn Cọi đề cập tới mọi lĩnh vực sinh hoạt của dân tộc, ca ngợi cảnh giàu đẹp của thiên nhiên, của quê hương xứ sở. Thông qua những bài hát ấy, thanh niên nam nữ Tày bắt đầu làm quen với nhau, mượn các tích truyện, cảnh vật của thiên nhiên để bày tỏ niềm tâm sự, gửi gắm trong đó những ước mơ và nguyện vọng của mình.
Trang 1CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH, TỒN TẠI, PHÁT TRIỂN VÀ GIÁ TRỊ CỦA LÀN ĐIỆU HÁT THEN, CỌI
Ở HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG.
Phạm Thị Thu Hà
Mở đầu
Chiêm Hoá là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Tuyên Quang, cách thị xã Tuyên Quang 67km về phía Bắc, nơi có hơn 80% là dân tộc thiểu số
Vị trí địa lý của huyện như sau:
Phía Bắc giáp huyện Na Hang
Phía Nam giáp huyện Yên Sơn
Phía Đông giáp huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Phía Tây giáp huyện Hàm Yên (Tuyên Quang) và tỉnh Hà Giang
Chiêm Hoá có nhiều dãy núi cao như Khau Bươn, núi quạt Phia Gioòng, Chạm Chu… Đất đai ở các xã vùng cao của huyện Chiêm Hoá phù hợp với việc khoanh nuôi rừng tự nhiên và rừng trồng, phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp, còn các xã phía Nam của huyện Chiêm Hoá có độ dốc phổ biến 10 - 250, thích hợp trồng cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực
và một số cây ngắn ngày khác
Về đơn vị hành chính, huyện Chiêm Hoá có 25 xã và 1 thị trấn, là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc như Kinh, Tày, Nùng, Dao, Thủy Huyện có nhiều thắng cảnh đẹp, là điều kiện thuận lợi phát triển các loại hình du lịch sinh thái, du lịch lịch sử - văn hoá như: Rừng nguyên sinh Cham Chu; thác Bản Ba, hang Thẳm Hốc, Thẳm Vài, Bó Ngoặng; thác Lung Chiêng, thác Lụa, Núi Chùa, Mỏ Bài; động Bản Pài rừng sinh thái trên núi
Trang 2đá Tầng cùng các khu di tích lịch sử Kim Bình, Kiên Đài, Yên Nguyên, Vinh Quang, Linh Phú, Xuân Quang…
Xét về giá trị văn hóa cổ truyền của đồng bào các dân tộc ở huyện Chiêm Hóa thì người Tày là một trong những tộc người còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa đặc sắc như các làn điệu hát Then, Cọi và lễ hội Lồng tông Từ nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn đã cho thấy văn hóa nghệ thuật
là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong đời sống tộc người Cũng như các dân tộc khác, trong quá trình tồn tại và phát triển, dân tộc Tày đã sáng tạo ra một di sản văn hóa quý báu, xây dựng được một nền văn hóa nghệ thuật với nội dung phong phú, đa dạng Nền văn hóa nghệ thuật ấy được xây dựng trên cơ sở “vật lộn” với tự nhiên, đấu tranh xã hội để sinh tồn và phát triển trên cơ sở của nền kinh tế nông nghiệp Trong đó, Then
là một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lâu đời của người Tày Trong kho tàng văn nghệ cổ truyền các dân tộc Việt Bắc, Then là một loại hình nghệ thuật được quần chúng ưa thích Then được hát lên vào những dịp trọng đại của bản làng (hội làng cầu đảo) hay từng gia đình như dịp năm mới, nhà mới, sinh con đầu lòng hay với mục đích giải hạn, trừ tà, chữa bệnh Về mặt nghi lễ, Then chứa đựng trong mình những tôn giáo nguyên thủy và thiết thân với con người như lễ cầu an, cầu mùa, chữa bệnh Về mặt nghệ thuật dân gian, Then được thể hiện sinh động bằng lời
ca, tiếng hát, trang phục dân gian hết sức phong phú
Hát Then - đàn tính là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần, tâm linh của người Tày Dân gian đã có những câu thành ngữ về giá trị nghệ thuật của hát Then như:
“Cần ké pây tàng đầy tỉnh hát then
Mà thâng rườn táng piến pền báo ơn”
Trang 3đó, việc tìm hiểu, sưu tầm và giới thiệu về Then là việc làm rất có ý nghĩa.
I Các yếu tố liên quan đến sự hình thành và phát triển của làn điệu Then, Cọi của người Tày ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Qua khảo sát tại thôn Khuôn Khoai (xã Yên Nguyên); thôn An Thịnh, thôn
Tân Cường (xã Tân An); và xã Xuân Quang)
1.1 Nguồn gốc của Then và cây đàn tính
Trước hết cần phải nhận định rằng, Then trong đời sống người Tày ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang tồn tại ở 2 dạng khác nhau, đó là loại hát Then mang tính văn nghệ và hát Then dùng trong lễ cúng gia đình Như vậy, Then
là một thành tố quan trọng trong văn hóa của người Tày, nó được sử dụng như một thể loại văn nghệ dân gian và cũng có thể được sử dụng như một loại hình tín ngưỡng dân gian Then từ lâu đã gắn với cuộc sống tinh thần của dân tộc Tày, có vị trí quan trọng trong đời sống thường ngày và đời sống tâm linh Đây là một loại hình nghệ thuật tổng hợp có văn học, âm nhạc,
Trang 4múa, mỹ thuật được lưu truyền rộng rãi trong quần chúng Nhiều người rất thích nghe hát Then, đón Then về đàn hát để giải sầu, chữa bệnh, giải hạn, cầu yên và ngay cả khi có những việc vui trong gia đình.
Khái niệm về Then cho đến nay cũng chưa có một định nghĩa thật rõ ràng nhưng tất cả mọi cách giải thích đều đi đến một quan niệm chung gần thống nhất Then là “tiên”, có nơi gọi là “Sliên”, là con của trời Nó còn có nghĩa là sạch sẽ, có đời sống đẹp trường sinh như tiên trong thần thoại Đó là những khúc hát, điệu múa thuộc thể loại dân ca nghi lễ, phong tục từ lâu đời của người Tày Do xuất phát từ chữ “Sliên” như vậy nên điệu hát Then vẫn được người Tày tỉnh Tuyên Quang coi là điệu hát thần tiên Theo chữ nôm Tày, Nùng thì từ “Sliên” được ghép từ hai chữ sinh (sống) và linh (linh thiêng), có nghĩa là người tinh anh, nhìn thấu cõi âm, có lời đoán linh ứng, linh thiêng Then chính là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc Hoàng và Long Vương Khi họ làm Then là họ đại diện cho người trời giúp cho người trần gian cầu mong sự tốt lành, được tai qua nạn khỏi Then
đã khoác lên mình một màu sắc huyền bí, linh thiêng để thực hiện sứ mệnh cao cả ấy Với nhiều người không biết về Then, thường chỉ nghĩ rằng Then giống như một làn điệu dân ca Tày hoặc là người hành nghề tôn giáo nhưng Then còn có khả năng siêu phàm là liên hệ được với thế giới thần linh Vì quan niệm là “người của trời” nên trước kia, người làm Then phải kiêng kỵ nhiều, giữ mình cho thanh khiết, tránh những điều tạp uế như không được ăn các loại thịt trâu, bò, chó Bàn thờ của Then được đặt trong nhà nhưng không để ở gian giữa cùng với bàn thờ tổ tiên mà để ở gian cạnh và được che kín bằng các bức màu thổ cầm, bức trướng Tùy theo từng địa phương
mà Then có nhiều tên gọi khác như như pụt, vựt, giàng nhưng Then là tên
gọi chung và phổ biến hơn cả
Trang 5Theo tác giả Nguyễn Thị Yên (Viện nghiên cứu Văn hóa) cho rằng trong tín ngưỡng dân gian của người Tày, các trò chơi mang yếu tố saman giáo được tồn tại dưới các hình thức nhập đồng của trẻ em và của các nam
nữ thanh niên với mục đích bói vui, bói duyên số Những siêu linh mà họ nhập đồng thường là các nàng tiên - linh hồn của các vật vô tri, vô giác như nàng Trứng, nàng Trăng Trong số những người tham gia các trò chơi nhập đồng sẽ có những người hợp căn với một nàng tiên nào đó, được nàng tiên
hộ mệnh để cứu giúp người đời, trước tiên là ở việc bói toán Về sau, do nhu cầu của xã hội mà phát triền thành hình thức cầu cúng, phổ biến trong
xã hội người Tày Đây là một hình thức cúng bái dân gian thời kỳ đầu của người Tày, tạm gọi là tín ngưỡng sliên (tiên) - khởi đầu của tín ngưỡng Then Một trong những đặc điểm của hình thức cúng bái này là ngoài niệm, hát ra còn có sự tham gia của khí cụ hoặc nhạc cụ nào đó Để bổ trợ cho việc hành nghề, họ đã lựa chọn nhiều dạng khí cụ khác nhau như phách, thẻn gỗ (2 mảnh gỗ dùng để xin âm dương), chuông, chùm nhạc xóc và cả cây đàn tính vốn có sẵn trong dân gian Dự đoán, đây là Then của thời kỳ đầu, mang đậm màu sắc bản địa mà chưa bị pha tạp bởi các tôn giáo, tín ngưỡng bên ngoài
Theo từ điển Tày - Nùng - Việt thì Then còn có 2 nghĩa:
Thứ nhất: Then có nghĩa là loài ong không sinh ra mật
Thứ hai: Then có nghĩa là Pụt Nhiều người nghĩ Pụt tương đương với Bụt nhưng không hẳn là vậy Bụt là từ của người Ấn Độ, được du nhập vào thế
kỷ thứ VI trước Công nguyên, dùng để chỉ vị sáng lập ra Phật giáo (Bouddha) Phật giáo là một tôn giáo kiêng sát sinh còn Pụt là tín ngưỡng dân gian Tày - Nùng Như vậy, Pụt là từ dùng chung chỉ tất cả những người
có khả năng xuất nhập hồn để giao tiếp với thần linh, bất kể là nam hay nữ
Trang 6Họ dùng các hình thức nghệ thuật như nhạc cụ, hát, múa, nhảy cùng tham gia vào quá trình hành lễ
Then được coi là “thầy thuốc chữa bệnh”, là những “nghệ sĩ dân gian” của bản làng Với tư cách là “thầy thuốc chữa bệnh”, Then đem đến cho người bệnh liều thuốc tinh thần và giải tỏa về mặt tâm lý nào đó của người bệnh còn với tư cách là “nghệ sĩ dân gian”, Then thực sự là một nghệ sĩ đa tài được nhiều người hâm mộ và yêu mến Then không những là người giỏi văn, thơ mà còn biết múa những điệu dân vũ của dân tộc Trong những lễ làm Then, với không khí linh thiêng, huyền hoặc, người nghệ sĩ ấy cuốn hút người nghe, người xem bằng chính tài năng và nghệ thuật của mình
Qua phỏng vấn nhiều cụ già tại các xã Yên Nguyên, Tân An, Xuân Quang, thuộc huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang thì mọi người đều trả lời rằng hát Then không rõ có từ bao giờ và nguồn gốc của nó từ đâu đến, chỉ biết rằng khi sinh ra là đã có Then Tuy nhiên, qua làm việc với nghệ nhân Then Hà Thuấn (thôn An Thịnh, xã Tân An, huyện Chiêm Hóa) cũng như tham khảo nhiều tư liệu thư tịch thì được biết tích truyện về nguồn gốc của Then như sau: Theo các giai thoại ở Cao Bằng thì nhiều ý kiến tập trung cho rằng Then có từ thời Lê, Mạc, tức là cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, khi Mạc Kính Cung lên chiếm cứ đất Cao Bằng đánh lại nhà Lê (1598 - 1625) Tuy Cao Bằng là tỉnh miền núi nhưng hồi đó Cao Bằng có rất nhiều nhân tài Trong thời gian dài 82 năm nhà Mạc ở Cao Bằng thì Then là hình thức mua vui cho vua nhà Mạc Nếu chỉ hát tiếng Tày thì vua quan nhà Mạc không hiểu nổi, bởi vậy buộc nghệ nhân phải hát 2 thứ tiếng, cho nên các bài hát Then hiện nay có đến một nửa là tiếng Kinh Cũng có ý kiến cho rằng, Then
là một loại hình văn học dân gian do một số tầng lớp trí thức bình dân, nho
sĩ nghèo và một số thầy đồ miền xuôi lên dạy chữ, sáng tác ra, chắp nối lại nên trong ngôn ngữ Then có pha lẫn tiếng Kinh
Trang 7Trong sách “Địa chí Cao Bằng”, có nói thủy tổ của phường hát Then
là ông Tư Thiên quản nhạc, tên là Bế Văn Phùng, người Bản Vạn, xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng và ông Nông Quỳnh Văn ở xã Nga Ổ (nay là xã Trí Viễn), huyện Trùng Khánh, mỗi người lập ra một phường hát (Phường hội Then nữ ở Hòa An và hội Giàng nam ở Trùng Khánh) Hai ông đều là người Tày, sống vào thời kỳ nhà Mạc rút lên Cao Bằng, đều làm quan cho nhà Mạc Hai ông đều hay chữ, giỏi thơ, rất có thể là tác giả của nhiều bài “lượn” và bài “Then” Sau đó, các ông tuyển trai xinh, gái đẹp làm diễn viên tập luyện, khi thuần thục được vua nhà Mạc mời vào chầu múa hát, họ đàn ngọt, hát hay nên đã mau chóng thành lập được các đội hát trong cung đình
Nguyên là lúc Mạc Kính Cung vương
Ngày vắng ở trong cung buồn rầu
Triệu hai quan vào chầu hội cung
Lấy cung nữ hát mừng chúc Chúa
Bế Phùng thì đặt ra Pụt Tày
Tay gẩy tính chân rung xóc nhạc
Dập dìu theo tiếng hát ngọt đưa
Càng xem lâu càng vừa ý thích
Chọn giai nhân trong tỉnh đẹp xinh
Tập thành thạo được vào trình tiến
Châu Kính Cung trong điện đế đô
Được Kính Cung hoan hô khen ngợi
Vua thấy các tốp Then múa hát làm cho vua được vui vẻ, khỏe mạnh hơn Nhiều khi quan quân vua ốm do không chịu được thủy thổ, thời tiết khắc nghiệt mà sau khi làm Then xong tự nhiên thấy khỏi bệnh Vua thấy hiệu quả do Then đem lại thật lớn nên lệnh cho truyền bá rộng ra ngoài Dần
Trang 8dần, nó biến thành thứ cúng lễ cầu khấn cho được khỏi bệnh, đạt được những ước vọng tốt lành Khi triều đình Mạc tan rã, các ca sĩ, nhạc công trở
về quê hương bản quán, mang theo nhiều khúc hát Then và từ đó Then được tỏa đi các địa phương khác nhau như Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang Dưới hình thức trao truyền bằng phương thức truyền miệng, trải qua nhiều thế hệ mà Then đã có sự cải biến, bổ sung tùy vào từng khu vực cư trú cụ thể Tóm lại, từ “sliên” đến “pụt” rồi Then, đó là con đường hình thành và biến đổi lâu dài trong lòng dân tộc với sự tham gia, góp mặt của nhiều tầng, nhiều lớp tín ngưỡng đến từ nhiều phía để cuối cùng hình thành nên Then - một hình thức Đạo giáo dân gian độc đáo của người Tày như ngày nay
Một cuộc tiếp xúc văn hóa đáng chú ý khác là tiếp xúc văn hóa Tày, Nùng được diễn ra ở Cao Bằng thông qua các cuộc di cư của các nhóm Nùng từ vùng nam Choang Quảng Tây đến Cao Bằng Nùng là một chi của Choang, cư trú chủ yếu ở Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây và một số địa phương thuộc Vân Nam Theo một số tài liệu thì Cao Bằng là một trong những địa phương có các nhóm Nùng di cư đến sớm nhất, khoảng thế kỷ XVI Cũng có ý kiến cho rằng, với mục đích tăng cường sức dân, mở mang lực lượng mà trong thời gian cát cứ ở Cao Bằng, nhà Mạc đã khuyến khích
và lôi kéo nhiều dòng người di cư từ bên kia biên giới đến Cao Bằng Thế kỷ
XV, XVI, đất nước Trung Quốc nội chiến liên miên, mang lại hậu họa cho dân bởi đói kém, sưu cao thuế nặng, cướp bóc, thổ phỉ Khu vực biên giới Việt - Trung là nơi mà các nhóm cư dân thuộc Quảng Tây thường qua lại làm ăn Trong khoảng thời gian này, có khá nhiều nhóm Nùng khác nhau từ các huyện thuộc biên giới Quảng Tây, Trung Quốc di cư đến Cao Bằng, hình thành nên khu vực cư trú rộng lớn của người Nùng ở Cao Bằng Điểm đáng chú ý là sự di cư của người Nùng vào Cao Bằng còn mang theo cả những yếu tố văn hóa Hán mà họ tiếp thu được khi còn ở Trung Quốc, thể hiện qua
Trang 9các nghi lễ phong tục được thực hiện bởi những ông thầy Tào hành nghề cúng bái theo sách chữ Hán Các cuộc di cư này còn góp phần tạo nên mối quan hệ gần gũi giữa những người họ hàng đồng tộc ở hai bên biên giới, dẫn đến có sự giao lưu về văn hóa giữa hai bên, trong đó có sự giao lưu với văn hóa Hán từ chính nước bản địa Như vậy, với vị thế riêng của mình, Cao Bằng đã trở thành điểm đến của nhiều cuộc di cư để từ đó hình thành nên một vùng giao lưu và hội nhập văn hóa Kinh - Tày - Nùng Trong đó, văn hóa Tày bản địa đã trở thành trung tâm dung nạp và điều chỉnh các dòng văn hóa du nhập, trong đó có Then.
Trong cuốn Lời hát Then của tác giả Dương Kim Bội, xuất bản năm
1975, có nói đến nhiều giai thoại trong dân gian, chủ yếu là những nghệ nhân già trên dưới 70 - 80 tuổi giải thích Then bằng một số giai thoại khác nhau nhưng một điều thống nhất trong cả các tỉnh Việt Bắc cho rằng Then
có từ Cao Bằng
Cũng trong cuốn Lời hát Then, có nói đến một số chương đoạn, lời ca
có nhiều chi tiết nhất quán và phổ biến trong Then như đi sứ, khảm hải, bắt phu phen nghĩa là đã có việc đi sứ sang Tàu Ngoài ra, các chương đoạn lời
hát Then, đoạn “lập cầu hào quang” có nói đến đúc đồng, đúc gang rèn sắt
để bắc cầu, đoạn “thấu quang thấu nạn” có nói đến quân Then dùng súng
ống đi săn hươu nai Nhiều chỗ nói đến quân binh của Then được tổ chức thành đội, có câu nói đến việc đốt hỏa tiễn thăng thiên dùng làm pháo lệnh Đoạn miêu tả chợ Tam Quang mua bán nhộn nhịp đông vui, có đủ hàng lụa
là gấm vóc Tất cả những chi tiết đó trong lời hát Then phần nào cho phép
ta nghĩ rằng Then xuất hiện trong một xã hội đã có sự phân chia đẳng cấp rõ rệt, có sự phân công lao động xã hội và đã có hàng hóa, có nghề thủ công phát triển Tuy nhiên, nếu nói Then xuất hiện từ niên đại nào thì tới nay cũng chưa có tài liệu nào khẳng định một cách chính xác Dẫu chưa có sự thống
Trang 10nhất về nguồn gốc nhưng trong nhiều thế kỷ qua, hát Then là món ăn tinh thần không thể thiếu của người Tày nói chung và người Tày ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang nói riêng Then ra đời trong quá trình lao động sản xuất, từ nhu cầu đời sống tinh thần và tín ngưỡng, phản ánh trí tuệ, nhận thức, tâm tư, nguyện vọng, tình cảm, phong tục tập quán, là tiếng nói của nhân dân lao động, chứa đựng nhiều nội dung tư tưởng, tình yêu lứa đôi.
Do Then gắn với cây đàn tính “như hình với bóng” nên khi tìm hiểu nguồn gốc của Then, tất yếu phải tìm hiểu nguồn gốc, xuất xứ của cây đàn tính Đàn tính là nhạc cụ tiêu biểu, có mặt nhiều hơn cả trong sinh hoạt âm nhạc của người Tày Trong dân gian người Tày ở huyện Chiêm Hóa cũng như một số tài liệu khác còn lưu truyền những truyện
cổ về sự tích của cây đàn như sau: Truyền thuyết kể rằng: “Ngày xưa có chàng Xiên Cân, đã 30 tuổi mà chưa lấy được vợ, hàng ngày ra suối lấy nước, soi mặt xuống mặt nước, Xiên Cân thấy mình đã già, anh lấy làm
lo lắng, bèn lên núi cầu khẩn Tiên Nàng Dâu cho Xiên Cân mấy hạt bầu
và nhánh dâu và dặn đem về trồng, lại còn dạy cách làm đàn tính bằng các nguyên liệu đó Có đàn, Xiên Cân sẽ lấy được vợ Thấm thoát ngày tháng, cây dâu đã lớn, cành là tươi tốt và đám tằm của anh cũng đã miệt mài nhả tơ:
Tằm liền đan thành kén
Xiên Cân tìm cây đóng guồng sợi
Quay guồng tiếng suốt kêu
Chỉ tơ kéo không đứt
Trang 11Ba hôm sau nảy mầm
Sáu hôm sau nảy lá
Tháng 7 nở đầy hoa
Cây nào cũng đầy quả
Khi đã có dây tơ và bầu, Xiên Cân lên nương kiếm cây “khảo hương” làm cần đàn và sừng đàn Anh mắc vào cây đàn của mình 12 dây
tơ Mỗi khi buồn phiền, anh lại lấy đàn ra gẩy Nghe tiếng đàn của anh, muôn loài đều say mê, nhiều con vật héo hon, đau khổ vì tiếng đàn Tiếng đàn của chàng cũng làm các cô gái ngẩn ngơ Bụt liền sai sứ xuống hỏi tội Xiên Cân, anh không đắn đo trả lời rằng: “Tôi đã nhiều tuổi nhưng vẫn chưa lấy được vợ nên tôi chỉ biết lấy cây đàn này làm bạn Tôi yêu nó như yêu vợ và thỉnh thoảng gẩy đàn giải buồn” Nhưng rồi cuối cùng Bụt xét thấy rằng nếu cứ để cây đàn của Xiên Cân 12 dây như vậy thì mỗi khi nghe tiếng đàn của anh cất lên, muôn loài ở trần sẽ quên ăn mà chết nên đã bắt Xiên Cân cắt đi 9 dây, chỉ cho phép để 3 dây Cây đàn 3 dây tơ này chính là cây đàn tính của người Tày bây giờ Từ
đó, cây đàn tính làm bằng cây dâu, quả bầu và dây tơ được phổ biến rộng rãi ở vùng dân tộc Tày Việt Bắc, là tiếng đàn ca ngợi cuộc sống, ca ngợi tình yêu
Tuy nhiên, ở vùng Chiêm Hóa, Tuyên Quang thì cây đàn tính chỉ
có 2 dây, không cần dùng đến dây thứ 3 Trong đó, 1 dây biểu tượng của trời và đất còn dây kia tượng trưng cho cha và mẹ Theo nghệ nhân Hà Thuấn, xã Tân An, huyện Chiêm Hóa - người dân tộc Tày đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang được Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam phong tặng nghệ nhân văn hóa dân gian cho biết: Then Tuyên Quang có đặc trưng là giai điệu mượt
mà, đằm thắm và mở đầu câu hát bao giờ cũng có từ ới la còn Then ở các tỉnh khác không xuất hiện từ ới la trước bài hát Then như vậy Từ ới la
Trang 12có nghĩa là khát vọng giao đãi của con người với trời đất, thiên nhiên, vạn vật Cấu trúc âm nhạc của Then Tuyên Quang là các quãng âm nhạc gần nhau hơn, tạo âm hưởng đầm ấm của con người xứ Tuyên
Theo lời kể của một số thầy Then ở huyện Chiêm Hóa thì ngày xưa, hát Then chỉ dùng để cúng bái, giao tiếp với thần linh trong các cuộc lễ như
lễ khẩu mẩu (lễ cốm), lễ cấp sắc, lễ cầu mùa, cầu mưa người ta có thể hát
cả giờ đồng hồ, đôi khi là thâu đêm Còn hiện nay, ngoài những làn điệu Then cổ giữ lại thì còn xuất hiện những các bài hát Then mới, chủ yếu là những bài hát ca ngợi quê hương, tình yêu đôi lứa, tình yêu lao động
Truyền thuyết về cây đàn tính không biết đã được lưu truyền từ bao giờ nhưng đến ngày nay, nó vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong tình cảm, trong tâm hồn người Tày Tuy đã bị Bụt cắt mất 9 dây song sức mạnh chinh phục lòng người của nó vẫn còn hết sức lớn Giữa huyền thoại và sự thực, khả năng diễn cảm của nó không cách xa bao nhiêu Có thể không ít người cho rằng, tiếng đàn, tiếng hát dân ca của mỗi vùng chỉ làm say mê, rung động với riêng những ai sinh ra ở vùng đất ấy Điều
đó, với tiếng đàn tính, tiếng hát Then chẳng có gì sai song cũng chưa
hoàn toàn đầy đủ Tục ngữ Việt Nam đã có câu “người ta là hoa đất”
Người Tày là hoa đất Tày nhưng âm nhạc Then - sắc hương của hoa ấy, của đất ấy đâu chỉ khoe sắc hương với riêng miền đất Tày?
Một truyền thuyết khác lại cho rằng: “Thời xưa, có 3 người làm nghề cúng bái rủ nhau đi tìm trời, xin trời phán dạy Dọc đường, gặp sông lớn, trời tối, họ ngủ qua đêm ven sông Gần sáng, mọi người rón rén dậy đi trước gặp trời, trời ban cho một đống sách, trở về thành thầy Tào Người thứ hai thức giấc vội vàng chạy sau, trời thấy sách chỉ còn sót lại 1 quyển, bèn cho nốt, vì được ít chữ nên ông này trở thành thầy Mo Còn người thứ ba, sáng bạch mới tới, trời bèn gom nhặt những thứ trong nhà như quạt, chùm nhạc, bầu
Trang 13gáo, cây đảo cám lợn trao cho Nhưng người này sáng trí, khéo tay, sửa sang những thứ đó thành đạo cụ, nhạc xóc, đàn tính để đệm những bài ca dân dã
đi cứu nhân độ thế, sau này trở thành Then
Truyền thuyết dân gian được dựa trên sự tưởng tượng hoang đường nhưng cũng có thể gợi cho ta suy ra cốt lõi câu chuyện Sự tích trên cho ta biết cây đàn tính được sáng chế ra nhằm để người lao động giải trí, sau mới được sử dụng trong tín ngưỡng dân gian Rõ ràng rằng, cây đàn tính được ra đời đầu tiên bởi bàn tay sáng tạo của người đàn ông với mục đích giải sầu,
đó là nhu cầu có trước nhu cầu làm hành nghề tín ngưỡng Đến nay, còn thấy
rõ có Then được dùng trong văn nghệ hàng ngày, có Then lại được hát trước bàn thờ thắp hương, lễ bái nhưng vẫn xen lời giao duyên với người phục vụ, với khách đến dự rất tự nhiên
Hiện nay, ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, dòng Then cổ tồn
tại ở hai dạng là Then tàng bốc (đường cạn) và Then tàng nặm (đường
nước) Loại Then nào cất lên cũng có từ “ới la” chứ không hát thẳng, điều này làm cho Then Tuyên Quang khác hẳn với làn điệu Then của các tỉnh khác như Cao Bằng, Lạng Sơn
Điệu tàng bốc (đi đường bộ, đi đường trên cạn): Thường là làn điệu
hát ngay từ phần mở đầu của cuộc Then và là làn điệu được sử dụng nhiều nhất trong một cuộc Then bởi lẽ nếu theo nội dung lời hát thì đường đi của Then lên thiên giới phải đi qua rất nhiều cửa như cửa đẳm, cửa thổ công, cửa vua, cửa tướng rồi sau mỗi chặng nghỉ chân, khi đã phải vượt qua bao nhiêu chặng đường gian khổ như rừng ve sầu, rừng vắt, rừng sương tuyết Mỗi chặng đi tiếp đó thường là làn điệu “pây tàng” được hát lặp đi lặp lại Điệu tàng bốc của mỗi địa phương đều mang đậm bản sắc riêng nhưng nhìn ching về tính âm nhạc thường nhẹ nhàng, tâm tình và ít xáo trộn
Trang 14Điệu tàng nặm (đi đường dưới nước): Đây là điệu hát được quân
Then dùng để đi đường dưới nước nhưng không phải là qua sông, qua suối nhỏ mà là đường nước lên thiên giới, phải qua đoạn “khảm hải” (vượt biển
cả mệnh mông) đầy nguy hiểm nhưng không kém phần lý thú Bởi thế, tính chất âm nhạc của làn điệu “tàng nặm” có phần linh hoạt, khẩn trương, đa dạng và phức tạp hơn điệu “tàng bốc” Đặc điểm của điệu hát “tàng nặm” vùng người Tày ở huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang có phẩn uyển chuyển, tinh tế nhưng dứt khoát Đặc biệt, sử dụng nhiều từ đệm như ơ ới la ứng với nhiều nốt nhạc tạo cho giai điệu phong phú và cá tính riêng biệt Sự xuất hiện những nốt ngân dài trong lời ca Then Tuyên Quang tạo nên sự mềm mại và tình cảm trong âm nhạc Điệu tàng nặm cũng là điệu được sử dụng lặp đi lặp lại cho nhiều chương đoạn mang tính chất giãi bày, tâm tình trong suốt cuộc Then như những đoạn hát liên quan tới số phận mỗi con người, con vật mà họ phải gánh chịu
Qua phỏng vấn cô Ma Thị Lụa, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Đàn Then xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hóa thì được biết hiện nay bên cạnh làn điệu Then cổ, hát Cọi và hát văn quan làng, hát phong slư thì còn có lối hát mới, nghĩa là không hát theo làn điệu của Then mà dùng đàn tính hát lời mới, điển hình là bài hát “Rừng Tuyên Quang in bóng Tân Trào”
Theo hình thức thể hiện, Then ở huyện Chiêm Hóa được chia thành Then tính và Then quạt Then quạt cùng nhóm với Pụt, ra đời sớm hơn Then tính, khi hát thầy Then sử dụng quạt Then quạt được sử dụng trong các nghi
lễ cầu yên như cúng mụ, cúng giải hạn, cúng chữa bệnh, cúng cấp sắc Then tính ra đời và phát triển trên cơ sở Then quạt, có nhạc đệm là đàn tính và chùm xóc, quả nhạc Khi thể hiện, thầy Then vừa đàn vừa hát, nhịp đi lúc nhanh, lúc chậm Nếu cùng thể hiện một khúc hát trong cùng một khoảng thời gian thì Then tính hát nhanh gấp 3 lần Then quạt Then tính rút gọn hơn
Trang 15về số câu và nhịp phách Ở Then quạt âm điệu chủ yếu là “ừ ừ”, còn Then tính là “ới la ới là”, nghĩa là khát vọng giao đãi của con người với trời đất, thiên nhiên, vạn vật.
Sự khác biết giữa Then nghi lễ (dùng trong cúng bái) và Then văn nghệ
* Đối với Then nghi lễ: Then có nhiều hình thức sinh hoạt phong
phú Qua khảo sát ở huyện Chiêm Hóa thì có những hình thức Then phổ biến như sau:
- Lễ cúng mát nhà
Lễ này thường được diễn ra vào tháng Chạp, tháng 2 và tháng 3 (âm lịch) Đồng bào Tày ở xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hóa giải thích rằng 3 tháng đầu là tháng mùa xuân, hoa nở, làm Then cúng mát nhà để dâng hoa cho các cụ, cho bàn thờ tổ tiên với mục đích thay quần áo cho các cụ, gửi vàng bạc, cầu sức khỏe cho mình, mong cho người già khỏe mạnh, cho con trẻ mau ăn chóng lớn, giải những điều không tốt đẹp hay những sai lầm của năm cũ để chuẩn bị đón năm mới thanh tịnh hơn, cầu mong gia đình được hưởng lộc mới Từ tháng 4 trở đi, đồng bào không cúng mát nhà vì đây là vào mùa nóng
- Lễ giải hạn, ốm đau
Lễ này được tổ chức vào bất kỳ thời gian nào mà gia chủ thấy cần thiết
Có thể chỉ do một giấc mộng không lành hoặc do một hiện tượng thiên nhiên nào đó gây nên như rắn, rết chạy qua nhà, gầm sàn nhà Họ cho đó là hiện tượng không lành sẽ đến với gia đình nên phải đón thầy Mo hoặc Then đến làm lễ cầu an giải hạn, mong mọi điều may mắn sẽ đến với gia đình Trước đây, người Tày cũng như nhiều dân tộc khác cho rằng người ốm, người chết
do nhiều nguyên nhận đưa đến Nhiều người bị ốm do không hiểu nguyên nhân sinh bệnh, họ cho là do thần linh, ma quỷ làm hại Có thể do hồn bị xúc phạm bỏ đi hoặc khi ngủ, hồn rời khỏi xác để đi lang thang trong thế giới vô
Trang 16hình Khi đó, muốn biết người ốm do nguyên nhân gì, họ phải đến nhờ Then xem cho và quyết định sẽ đón ông, bà Then nào có khả năng thương lượng với thần linh hoặc có thể dùng sức mạnh trấn áp quỷ thần, có khả năng sai khiến âm binh và đi tìm “vía” về nhập vào thể xác làm cho người ốm khỏi bệnh Then chữa bệnh bằng sức truyền cảm của âm nhạc, thơ ca, an ủi nỗi đau của người bệnh, làm cho mọi người thấy tâm hồn thanh thản hơn sau mỗi buổi làm Then Đây là cốt cách chữa bệnh bằng phương pháp tinh thần đối với người Tày xưa.
- Lễ cầu bjoóc, cầu va (cầu tự):
Người Tày ví con cái là những bông hoa, bởi thế những đôi vợ chồng mới cưới, những gia đình hiếm hoi về đường con cái hoặc muốn con cái luôn khỏe mạnh, họ thường đón Then, Mo về làm lễ cầu tự Họ hy vọng rằng Then hoặc mo đàn hát, cầu xin với Hoa vương thánh Mẫu - nữ thần trông coi về tình yêu, hạnh phúc, con cái của thiên hạ Họ cho rằng bà là bà mụ luôn che chở, dạy dỗ những đứa trẻ mới sinh cách ăn, cách chơi, dạy cười, dạy khôn Nhưng ngược lại, nếu có người làm cho bà phật ý, bà có thể thu vía làm cho đứa trẻ biếng ăn, bệnh tật Bà còn là một vườn hoa vàng, một vườn hoa bạc Hoa vàng là con trai, hoa bạc là con gái Những đôi vợ chồng nào chưa được ban cho hoa vàng, hoa bạc thì nhờ bà Then cầu xin với bà sớm ban phước lành cho họ có con cái Những gia đình nào đã được bà ban cho hoa vàng, hoa bạc thì cầu xin bà giúp cho đứa trẻ hay ăn, chóng lớn, khỏe mạnh, nên người Lễ vật cúng trong nghi lễ Then này của người Tày ở huyện Chiêm Hóa bao gồm có 1 bông hoa chuối rừng đỏ, 2 bó hoa, 1 con gà đặt lễ cho Then cúng Theo quan niệm của người Tày ở đây thì hoa chuối mang ý nghĩa tâm linh (nếu nhà không có gà thì lấy hoa chuối luộc cúng bà mụ thay gà)
Trang 17- Loại then vui mừng, chúc tụng ca ngợi:
Những nhà khá giả, những người được thăng cấp, có địa vị trong xã hội hoặc làm được nhà mới, sinh con đầu lòng, mừng thọ tuổi già nghĩa là có những việc vui trong gia đình thì mời Then đến đàn hát, chúc tụng ca ngợi Những cuộc làm Then này không phải theo trình tự như các đám cúng lễ mà lời ca phần lớn là ứng tác cho phù hợp với yêu cầu hoàn cảnh gia chủ Nghiên cứu ở xã Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa cho thấy hiện nay, người Tày mời Then về hát chúc mừng trong nghi lễ đám cưới còn tồn tại phổ biến Lễ vật phải có nhà mụ, tiền vàng bạc (làm bằng giấy), 2 cây mía ở 2 đầu bàn thờ tổ, hương, gương soi (để tổ tiên chứng giám) và nhiều lễ vật khác Mục đích của buổi lễ nhằm giả lễ cho bà mụ đã có công sinh thành ra mình, cầu mong cho hai vợ chồng được trăm năm hạnh phúc
Qúa trình vào nghề của Then
Trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong công việc của mình, những ông Then, bà Then luôn tự mình cảm thấy mình phải thực hiện theo một quy tắc không thành văn, những kiêng kỵ, chuẩn mực và những nghi thức, nghi lễ riêng Điều đó tạo cho họ dường như có một thế giới đời sống khác hẳn với những người xung quanh Những người làm Then cho thấy,
họ thường không tự nguyện trở thành tín đồ của đạo Then mà ngược lại, họ thường bị buộc phải đi theo tiếng gọi của thánh thần thông qua các giấc
mơ, những biểu hiện khác biệt trong tâm thức và những đổ vỡ phải chịu đựng trong đời sống gia đình hoặc các sức ép tinh thần khác Qúa trình trở thành tín đồ đạo Then của họ là quá trình thức tỉnh bổn phận thiêng liêng
mà thần thánh trao cho họ Do vậy, không phải ai cũng có thể trở thành Then, một người chỉ có thể trở thành Then khi người đó là con cháu trong các dòng họ có người làm Then lâu đời (được gọi là dòng họ có “tẩn Then”) hoặc nếu là phụ nữ thì sẽ có thể phải nối nghiệp làm Then nhà