1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Định canh định cư và biến đổi kinh tế xã hội ở người Khmu Việt Nam

23 925 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 223,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

. Có thể nói rằng nông nghiệp du canh là một đề tài khoa học truyền thống trong các nghiên cứu nhân học. Lúc đầu, du canh du cư được xem như một loại hình canh tác nguyên thuỷ, chủ yếu còn tồn tại ở các cư dân lạc hậu sinh sống trong các vùng núi xa xôi biệt lập. Vào khoảng những năm 1960 trở đi, kinh tế du canh bắt đầu thu hút sự chú ý mạnh mẽ của các nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, không chỉ nhân học, nông nghiệp và lâm nghiệp mà cả thổ nhưỡng, địa chất, môi trường, ngôn ngữ, lịch sử, v.v..

Trang 1

Định canh định cư

và biến đổi kinh tế xã hội ở người Khmu Việt Nam

Nguyễn Văn Chính

Bộ môn Dân tộc học ( 1 )

1 Nông nghiệp du canh và vấn đề định canh định cư

1.1 Có thể nói rằng nông nghiệp du canh là một đề tài khoa học truyền thống trong các nghiên cứu nhân học Lúc đầu, du canh du cư được xem như một loại hình canh tác nguyên thuỷ, chủ yếu còn tồn tại ở các cư dân lạc hậu sinh sống trong các vùng núi xa xôi biệt lập Vào khoảng những năm 1960 trở đi, kinh tế du canh bắt đầu thu hút sự chú ý mạnh mẽ của các nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, không chỉ nhân học, nông nghiệp

và lâm nghiệp mà cả thổ nhưỡng, địa chất, môi trường, ngôn ngữ, lịch sử, v.v Đặc biệt, các nhà hoạch định chính sách của các chính phủ bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến tình trạng suy thoái môi trường và tài nguyên rừng Các nghiên cứu định hướng chính sách và hoạt động thực tiễn đã dược khuyến khích ngày càng nhiều Hậu quả là đã có nhiều công trình nghiên cứu và xuất bản phẩm về chủ đề này Tuy nhiên, có những quan điểm khác nhau, thậm chí đốilập, về phương thức canh tác đặc biệt này Các nhà quản lý thường có khuynh hướng xem kinh tế du canh chỉ là một hình thức canh tác, một hoạ động kinh tế thuần tuý Trên cơ sở quan điểm này, người ta có khuynh hướng nhấn mạnh các khía cạnh “tàn phá môi trường” củaphương pháp phát đốt, và tính lạc hậu của cư dân sống về du canh với một ngụ ý rõ ràng rằng giúp cho các cư dân này hiện đại hoá cuộc sống và cải thiện chất lượng môi trường là việc làm cần thiết Ngược lại, các nhà nhân học lại xem xét kinh tế nương rẫy như một loại hình văn hoá trong đó lối sống và phương thức sản xuất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một cấu trúc xã hội đặc thù và nó hoàn toàn thích ứng với môi trường sống trong điều kiện lịch sử và xã hội riêng Quan điểm kinh tế nương rẫy như một nền văn hoá thường dẫn các nhà nhân học đến tranh luận rằng cần phải bảo vệ các nền văn hoá có bản sắc riêng của các nhóm dân tộc sống biệt lập, và rằng “quyết định thay đổi lối sống của cư dân sống bằng kinh

tế nương rẫy là vội vàng và thiếu cơ sở” (UNESCO 1983, vol.1: tr.5)

Ở Việt Nam, vấn đề nương rẫy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển miền núi của chính phủ, và là lĩnh vực nghiên cứu được ưu tiên của các viện dân tộc học,nông nghiệp, lâm nghiệp và môi trường Đã có hàng trăm bài viết và kỷ yếu hội thảo khoa học

về kinh tế nương rẫy được công bố trong khoảng vài thập kỷ qua Tuy nhiên, đáng lưu ý là phần lớn các nghiên cứu này thường đi đến những nhận xét khá giống nhau, rằng nông nghiệp

du canh là một hình thức canh tác nguyên thuỷ , và không thể chấp nhận một hình thức canh tác lạc hậu và đời sống thấp kém như vậy tồn tại ở một đất nước đang đi lên chủ nghĩa xã hội Trong một nghiên cứu khá sớm về kinh tế nương rẫy, nhà nhân học hàng đầu Việt Nam, GS Đặng Nghiêm Vạn, trên cơ sở khảo sát kỹ thuật du canh trên đất dốc của nhiều nhóm tộc người ở miền núi Việt Nam, đã phê phán ý kiến của các nhà nghiên cứu C Sauer (1938) và G.Condominas (1960) cho rằng canh tác nương rẫy là “một hình thức thích hợp trong những điều kiện nhất định về dân số mà không phá hoại sự cân bằng đời sống của rừng” (Đặng Nghiêm Vạn, 1975:11-12) Theo ông, nền kinh tế nương rẫy du canh có 5 đặc điểm chính: 1) Sản xuất cá thể, phân tán, công cụ thô sơ, năng suất thấp và đời sống bấp bênh, phụ thuộc vào thiên nhiên; 2) Phá hoại môi trường sống, trái với quy luật tự nhiên (phá rừng nuôi người); 3) Nền kinh tế nhỏ bé, tự cấp tự túc; 4) Không cần học vấn, lao động nặng nhọc với sử dụng sức người là chính; 5) Đời sống nghèo nàn lạc hâu, phong tục tập quán lỗi thời, đầy mê tín dị

1 TG xin chân thành cảm ơn các cộng sự Lê Mạnh Hùng, Vi Thị Lan Phương và Nguyễn Văn Toàn đã giúp đỡ trong quá trình thu thập và phân tích thông tin để hoàn thành bài viết

1

Trang 2

đoan Kết luận rút ra từ những phân tích này là: Không có sự lựa chọn nào khác là phải từ bỏ nền kinh tế nương rẫy nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu để đi vào sản xuất tập thể và hiện đại của chủ nghĩa xã hội

Tiếp sau Đặng Nghiêm Vạn, nhiều mô tả dân tộc học về nông nghiệp du canh ở Việt Nam đã được công bố (Xem, chẳng hạn Nguyễn Anh Ngọc 1981, 1989; Lê Duy Đại 1989; BếViết Đẳng 1989; Bùi Minh Đạo 2000) Tuy nhiên, ngoài việc góp thêm những mô tả từng trường hợp cụ thể, không thấy có nhận xét nào mới hơn được đưa ra Quan điểm của Đặng Nghiêm Vạn về kinh tế nương rẫy ở miền núi Việt Nam được xem như một định hướng cho các phân tích khoa học về công tác định canh định cư Bên cạnh các mô tả dân tộc học về kinh tế nương rẫy, cũng đã có một số bài viết phân tích tác động của chính sách định canh định cư lên đời sống các dân tộc (Trần Mạnh Cát 1975; Nguyễn Trúc Bình 1975; Nguyễn Anh Ngọc 1983, 1986 & 1990; Trịnh Bá Bảo 1986; Cư Hoà Vần 1988) Tuy nhiên, các bài viết này chủ yếu nhằm chứng minh cho sự đúng đắn và cần thiết phải thay đổi lối sống du canh du cư Còn thiếu những nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng và hậu quả của sự can thiệp của nhà nước đối với đời sống và bản sắc văn hoá – xã hội ở các nhóm dân tộc

1.2 Đối lập với quan điểm nhấn mạnh tầm quan trọng phải thay đổi lối sống của cư dân nương rẫy phổ biến trong các học giả Việt Nam, các nhà nghiên cứu nước ngoài lại tiếp cận chính sách phát triển ở vùng dân tộc thiểu số như là một cố gắng đồng hoá văn hoá tộc người của nhà nước Chẳng hạn, nhà nhân học Mỹ C Keyes, sau khi xem xét chính sách phát triển ởvùng các dân tộc thiểu số của các nước Đông Nam Á, đã đưa ra nhận xét rằng:

“Các tộc người thiểu số đã trở thành mục tiêu của những chính sách khá giống nhau là tiêu diệt sự khác biệt trong bản sắc và lối sống riêng của họ”; và rằng:

“Chính sách của Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đối với các dân tộc thiểu số nói chung là chính sách đồng hoá dân tộc, giống như ở các nước Đông Nam Á khác”.Theo tác giả này thì chính bản chất của nhà nước chứ không phải là sự khác biệt về tư tưởng kinh tế và chính trị là cơ sở tạo ra chính sách đối với các dân tộc thiểu số mà các nhà nước ở Đông Nam Á đang thực thi (Keyes, 1987:19)

Phương thức tiếp cận chính sách đối với các nhóm dân tộc thông qua mối quan hệ nhà nước - tộc người của Keyes đã được Salemink cụ thể hoá và vận dụng triệt để vào nghiên cứu chương trình định canh định cư ở Việt Nam Nhà nghiên cứu này đã phân tích như sau:

Một nhà nước như Việt Nam, do lịch sử can thiệp của thực dân, lúc nào cũng bị ám ảnh bới vấn đề chủ quyền, an ninh và thống nhất lãnh thổ, thì còn có thể làm được gì hơn ngoài việc nhận thức vấn đề thông qua lăng kính quản lý, đồng thời dùng việc “cải thiện” phúc lợi của công dân để đưa họ vào khuôn phép thông qua các sách lược khác nhau Đối với những người Thượng ở cao nguyên thì cũng vậy thôi Họ phải được rèn dạy để trở thành những công dân văn minh của nước Việt Nam, cần thiết phải làm cho họ quy phục sự giám sát và các phép tắc của nhà nước Chương trình để đạt được mục đích này ở vùng Tây Nguyên được gọi là Định Canh Định Cư để thông qua đó, quản lý lối sống của người Thượng” (Salemink 2000:129)

1.3 Gần đây, một nỗ lực tìm kiếm giải pháp thay thế nông nghiệp du canh truyền thống ở miền núi Việt Nam đã được tiến hành bởi nhóm nghiên cứu của Trung tâm Đông Tây (ĐH Hawai) và Trung tâm NC Môi trường (ĐHQG Hà Nội) Nghiên cứu của họ tập trung vào các

hệ thống canh tác cổ truyền và sự thích ứng với môi trường sống của các nhóm cư dân miền núi (T Rambo 1995; D Donovan, T Rambo, Lê Trọng Cúc et al., 1997; Trần Đức Viên 2003) Phát hiện của họ về khả năng thích ứng cao với môi trường sống của các nhóm cư dân bản địa ở vùng núi Việt Nam đã dẫn đến ngụ ý chính sách trong đó có thể kết hợp giữa phương thức canh tác nương rẫy cổ truyền với các phương thức sản xuất mới như lúa nước, làm vườn, v.v., để tạo ra một mô hình phù hợp cho phát triển bền vững ở miền núi Tuy nhiên,bằng cách nhấn mạnh vào các hệ thống canh tác và mối liên hệ với môi trường, các nghiên

2

Trang 3

cứu của nhóm này thường bỏ qua bối cảnh văn hoá – chính trị cụ thể của mỗi tộc người và quan hệ giữa các nhóm tộc người trong lịch sử, vốn được xem là một rào cản đáng kể có ảnh hưởng đến quá trình phát triển ở khu vực này.2

Mặc dù nông nghiệp nương rẫy cổ truyền ở miền núi Việt Nam và chương trình định canh định cư của chính phủ đã được quan tâm nghiên cứu nhiều trong thời gian qua Tuy nhiên, những nghiên cứu như vậy thường nặng về mô tả, có tính minh hoạ chính sách hoặc chỉtập trung vào những trường hợp đơn lẻ Những nghiên cứu này đã không cố gắng đặt loại hìnhcanh tác nương rẫy vào trong một bối cảnh lịch sử và xã hội riêng biệt của các tộc người và của khu vực để xem xét Chưa có những nghiên cứu liên ngành trên một phạm vi rộng lớn hơn nhằm giải quyết các vấn đề định hướng chính sách và mang lại nhận thức mới có tính lý luận Hơn nữa, cũng chưa có nhiều nỗ lực thực sự nhằm tìm hiểu một cách có hệ thống tác động của chính sách định canh định cư và hệ thống canh tác nương rẫy vốn là một bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế - xã hội truyền thống của nhiều tộc người ở miền núi Việt Nam

Trong bài viết nhỏ này, tôi sẽ cố gắng nhìn lại quá trình mấy thập kỷ thực hiện định canh định cư ở người Kmhmu, một dân tộc nhỏ bé nói ngôn ngữ Môn – Khmer ở miền núi Bắc Việt Nam Tôi sẽ thử đối chiếu những duy lý của chính sách định canh định cư mà các nhà hoạch định chính sách chờ đợi và những gì đã thực sự xảy ra ở cộng đồng cư dân này Những tài liệu thu thập được từ nghiên cứu của tôi cho thấy chương trình định canh định cư của chính phủ ở người Kmhmu đã không diễn ra như mong đợi Tuy nhiên, khác với một vài nghiên cứu có khuynh hướng nghi ngờ chính sách định canh định cư như một nỗ lực đồng hoávăn hoá các dân tộc thiểu số của chính phủ, tôi cho rằng mục đích chính của định canh định

cư trên thực tế chỉ là một nỗ lực nhằm cải thiện điều kiện sống của con người và chất lượng môi trường để đạt được phát triển bền vững ở miền núi Chia sẻ quan điểm với J Scott

(1998), tôi thường xuyên đặt ra câu hỏi tại sao nhiều chương trình của nhà nước có mục đích tốt đẹp là nhằm cải thiện điều kiện sống của con người lại chưa đạt được kết quả như mong muốn? Bằng cách tập trung vào xem xét quá trình thực hiện định canh định cư và những đáp ứng của người Kmhmu với chính sách này, tôi hy vọng sẽ góp thêm vào cuộc thảo luận về kinh tế nương rẫy và chương trình định canh định cư một cách nhìn, từ đó có thể hiểu rõ hơn

về những khía cạnh còn ít được mô tả trong các nghiên cứu dân tộc học

2 Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu

Tổng điều tra dân số năm 1999 cho biết có khoảng 56,542 người Kmhmu đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm 28,542 nam và 28,136 nữ (GSO, 2001: 21) Địa bàn cưtrú của tộc người Kmhmu tập trung ở 6 tỉnh miền núi Tây Bắc của Việt Nam, chủ yếu là các tỉnh có chung đường biên giới với các tỉnh Yunnan của Trung Quốc, Phongsaly, Hua Phan, Xam Nua, Xieng Khuang và Buly Kham Xay của Lào Ở Việt nam, có vẻ như lịch sử đã gắn chặt người Kmhmu với người Thái vì hầu hết các bản làng của người Kmhmu thường xen kẽ với các bản người Thái

Bảng 2 Dân số Kmhmu phân theo tỉnh năm 1999

2 Chẳng hạn, nghiên cứu của Trần Đức Viên (2003) chỉ tập trung mô tả hệ thống canh tác ở của các cộng đồng được lựa chọn (Tày Đà Bắc, Dao Đỏ Yên Bái và H’Mông Hà Giang) là những phân nhóm nhỏ của các dân tộc Thái, Dao và H’Mông nhưng không xem xét quan hệ tộc người trong khu vực có ảnh hưởng thế nào đến khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng và đất đai trong khu vực Cần lưu ý một đặc điểm quan trọng trong lịch sử quan hệ dân tộc ở miền núi Việt Nam là các nhóm dân tộc nhỏ thường bị đối xử phân biệt, bị xem là có thân phận thấp kém và lệ thuộc vào các nhóm lớn hơn Ví dụ, các nhóm Kmhmu, Khang, Xinh mun, La Ha, Cống, Mảng, v.v thường bị người Thái gọi là Xá (ngụ ý miệt thị) và họ không có quyền kiểm soát nguồn tài nguyên

mà phải xin phép chúa đất Thái và cống lao dịch cho họ

3

Trang 4

Địa bàn cư trú

(Tỉnh) (người)Dân số (người)Nữ Tỷ lệ giới (%)

Tỷ lệ dân sốKhmu (%) Lào Cai 2,822 1,380 104 0.4

xã là hiện tượng phổ biến

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu 5 bản Kmhmu thuộc hai tỉnh

có dân số Kmhmu đông nhất Việt Nam là Nghệ An và Điện Biên (Lai Châu cũ) Ngoài các điểm nghiên cứu ở hai tỉnh này, chúng tôi cũng đã đến thăm các bản Kmhmu ở xã Dồm Cang huyện Sông Mã và xã Tà Hộc huyện Mai Sơn (Tỉnh Sơn La) để có một cái nhìn khái quát hơn

về tình hình hiện nay của người Kmhmu trên một địa bàn rộng lớn hơn

Người Kmhmu ở Nghệ An chiếm 48% tổng dân số Kmhmu cả nước trong khi tỷ lệ này ở Lai Châu là 26%.(4) Để điều tra sâu hơn về tác động của chương trình định canh định

cư và phát triển của nhà nước trong mấy thập kỷ qua ở người Kmhmu, chúng tôi đã chọn lànglàm đơn vị phân tích cơ bản Tại Nghệ An, 3 làng Kmhmu được chọn nghiên cứu sâu là Huổi Cụt ở xã Yên Na huyện Tương Dương, bản Bình Sơn và Huổi Nhu ở xã Tà Ka huyện Kỳ Sơn

Ở Lai Châu (cũ), chúng tôi đã chọn bản Co Pục xã Thanh Nưa và bản Pú Tỉu xã Thanh Xương thuộc huyện Điện Biên để khảo sát

Ở Nghệ An, người Kmhmu chủ yếu tụ cư ở 2 huyện Kỳ Sơn và Tương Dương Một bộphận nhỏ người Kmhmu (1,883 người) cư trú ở huyện Quế Phong Dưới đây (Bảng 3) là số liệu về dân số Kmhmu ở 3 huyện được nghiên cứu

Bảng 3 Dân số Kmhmu ở Kỳ Sơn, Tương Dương (Nghệ An) và Điện Biên (Lai Châu)

(người)

Tỷ lệ dân số của huyện (%)

Tương Dương 6,464 5

Điện Biên 5,524 5

Nguồn: 1) Kỳ Sơn và Tương Dương: Ban Định canh Định cư tỉnh Nghệ An, 2000

2) Điện Biên: Phòng Thống kê huyện Điện Biên, 2003.

3 Năm 2004 tỉnh Lai Châu cũ đã tách ra thành hai tỉnh Lai Châu (mới) và Điện Biên Số liệu thống kê dùng trong bảng này vẫn là của tỉnh Lai Châu (cũ), tức bao gồm cả 2 tỉnh Điện Biên và Lai Châu (mới)

4 Theo một báo cáo của tỉnh Nghệ An năm 2000 thì dân số Kmhmu ở Nghệ An là 29,273 người, chiếm 10,24% dân số của tỉnh và 55% dân số Kmhmu cả nước (Ban Định canh Định cư tỉnh Nghệ An, 6/2000) Con số sử dụng ở đây được trích từ Tổng cục Thống kê, 2001

4

Trang 5

Số liệu ở bảng 3 cho thấy người Kmhmu ở huyện Kỳ Sơn chiếm khoảng 37% dân số Kmhmu trong cả nước và 70% dân số Kmhmu của tỉnh Nghệ An Về thành phần tộc người của dân cư trong huyện, người Hmong có dân số đông nhất, chiếm khoảng 38%, tiếp theo là người Kmhmu có mặt ở 12 xã trong huyện với tỷ lệ dân số là 32% Người Thái chiếm tỷ lệ 28% dân số của huyện trong khi chỉ có khoảng 2% dân số người Kinh và người Hoa (UBND

Kỳ Sơn, 2003) Ngược lại, ở huyện Tương Dương, người Kmhmu có mặt ở 9 xã nhưng chỉ chiếm khoảng 10% dân số toàn huyện Tương tự như 2 huyện của Nghệ An nói trên, huyện Điện Biên (tỉnh Lai Châu cũ) cũng là nơi cư trú của nhiều tộc người, trong đó người Thái chiếm đa số với khoảng 54%, sau đó là người Kinh 28% Người Kmhmu chỉ chiếm khoảng 5% dân số toàn huyện

Các huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) và Điện Biên đều có cửa khẩu đi sang Lào Cửa khẩu Nậm Cắn ở huyện Kỳ Sơn có chợ đường biên hoạt động tấp nập, là nơi giao lưu hàng hoá giữa Noọng Hét (Lào) và Kỳ Sơn Người Hmong và Kmhmu ở hai bên đường biên vẫn thường qua lại thăm họ hàng, trao đổi hàng hoá, và thăm thú người thân Quan hệ hôn nhân giữa những người đồng tộc ở các làng biên giới của Lào và Việt Nam cũng là một hiện tượng khá phổ biến Ngược lại, ở Điện Biên, các hoạt động trao đổi thường ít diễn ra tại vùng cửa khẩu Tây Trang nhưng những người Kmhmu ở Việt Nam vẫn thường xuyên vượt biên giới sang Lào để thu hái lâm thổ sản và thăm người thân

Cả 5 bản Kmhmu được nghiên cứu ở Nghệ An và Lai Châu đều là kết quả của quá trình vận động định canh định cư lâu dài của chính phủ ở khu vực miền núi Các bản này đều được lập ra từ những năm 1970 đến 1980 Trong số các bản nói trên, bản Pú Tỉu huyện Điện Biên không phải là một bản mới thành lập nhưng nó đã trải qua nhiều cuộc chuyển cư và chỉ thực sự ổn định từ năm 1990 sau khi bản cũ được chia tách thành 2 bản mới Ở các bản này, nương rẫy vẫn là nguồn sống chính của cư dân

Bảng 4 Đặc điểm kinh tế - xã hội các làng Khmu được nghiên cứu

Tên bản

Năm lập bản

Tổng số

hộ gia đình

Diện tích lúa nước (ha)

Diện tích lúa nương (ha)

Sản lượng lúa bình quân (kg/người/năm)

3 Quan điểm duy lý về định canh định cư

“Nếu chúng ta cứ để tình trạng như lâu nay, và cứ tiếp tục chặt rừng trồng sắn, lúa đồi, thì độ vài chục năm nữa, hầu hết miền núi của chúng ta sẽ trở thành đồi trọc hết Đó là một bức tranh rất đáng sợ Chẳng những đất đai miền núi sẽ bị xói mòn, kiệt quệ, lâm thổ sản không còn gì

5

Trang 6

nữa, mà khí hậu toàn miền Bắc nước ta sẽ thay đổi hẳn theo chiều hướng tai hại không biết đâu mà lường” (Lê Duẩn, 1965:361)

Phát biểu trên đây của người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam lúc đó cho thấy định canh định cư có ý nghĩa quan trọng thế nào trong chính sách dân tộc và miền núi của nhà nước Việt nam Tư tưởng này đã được cụ thể hoá bằng một hệ thống các chính sách và biện pháp nhằm thay đổi phương thức sản xuất truyền thống của cư dân thực hành nông nghiệp du canh ở miền núi phía Bắc Việt Nam Tính duy lý của chính sách này lần đầu tiên được phân tích và trình bầy cụ thể trong Nghị quyết 38/CP của Hội đồng Chính phủ năm

1968 (Hội đồng Dân tộc, 2000:318-348), trong đó nhấn mạnh:

1 Du canh du cư là một phương thức sản xuất lạc hậu kìm giữ con người lệ thuộc vào thiên nhiên và cuộc sống đói nghèo Chấm dứt du canh du cư do đó là cách duy nhất chấm dứt đói nghèo và lạc hậu ở miền núi

2 Du canh du cư sẽ tàn phá rừng gây ra những tác hại tiêu cực lên môi trường Để bảo vệ rừng và môi trường, cần phải tổ chức lại sản xuất sản xuất nông nghiệp bằng cách ổn định chỗ ở và sản xuất

3 Định canh định cư ở miền núi phải kết hợp với hợp tác hoá nông nghiệp và bảo vệ

an ninh của đất nước

Nghị quyết 38/CP của Chính phủ đã mang lại một cơ sở pháp lý và phương hướng hành động cho một phong trào định canh định cư rầm rộ ở miền Bắc Việt Nam, và từ sau năm

1975, lại tiếp tục được mở rộng ra vùng Tây Nguyên ở phía Nam của đất nước Trong khoảnghơn ba thập kỷ qua, hàng trăm nghị quyết và thông tư của chính phủ trung ương, các bộ ngànhliên quan và của lãnh đạo các tỉnh đã được phát hành nhằm đẩy mạnh công tác định canh định

cư Mặc dù nhiều nghị quyết và thông tư đã được các cấp lãnh đạo khác nhau làm ra nhưng về

cơ bản, các chính sách này đều nhấn mạnh định canh định cư phải đi liền với xây dựng lối sống mới và nâng cao mức sống của người dân

Trong những năm 1960 và 80, chương trình định canh định cư tập trung vào việc vận động người dân gia nhập hợp tác xã nông nghiệp và làm ăn tập thể hoặc vào làm trong các lâm nông trường của nhà nước Mối quan tâm lớn nhất của chính phủ là làm thế nào để kiểm soát được những người làm nương du canh vào trong hệ thống sản xuất định canh và định cư Người ta tin rằng chỉ có thông qua làm ăn tập thể dưới sự lãnh đạo của các hợp tác xã nông nghiệp thì chương trình định canh định cư mới thành công, vì chỉ có sức mạnh của tập thể mới xây dựng được hệ thống thuỷ lợi cung cấp nước tưới cho nông nghiệp, khai phá thêm diện tích ruộng nước và ruộng bậc thang, và tạo ra cơ sở vật chất cho một cuộc sống mới

Từ năm 1990 trở đi, sau khi chế độ kinh tế tập thể bị thay thế bởi kinh tế định hướng thị trường, các chương trình định canh định cư vẫn được tiếp tục nhưng không nặng về tuyên truyền vận động như trước mà dựa vào các dự án đầu tư Chính sách định canh định cư từ sau

1990 nhấn mạnh sự kết hợp với các chương trình trồng rừng (NQ 327/TTg/1992), phân bố lại dân cư (NQ số 393/TTg/1992), phát triển kinh tế thị trường ở miền núi (NQ số 20/CP/1998), xây dựng cơ sở hạ tầng ở các xã vùng sâu (CT 135/TTg/1998, và các chương trình xoá đói giảm nghèo (NQ số 133/CP/1998) Trên cơ sở này, Bộ Nông nghiệp (NQ số 140) đã nêu rõ những yêu cầu mới đối với một dự án định canh định cư trong đó nhấn mạnh các yếu tố sau:

1 Sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành trên diện tích canh tác cố định

2 Người dân phải định cư lâu dài ở một nơi chốn nhất định

3 Đời sống của người định cư phải được đảm bảo chăm sóc y tế, giáo dục và có đủ lương thực

4 Phần lớn thu nhập của hộ gia đình (80% hoặc cao hơn) có được từ nông nghiệp định canh

Dẫu vậy, có một vấn đề gần như không thay đổi, đó là chính sách định canh định cư được xây dựng trên cơ sở áp đặt quan điểm của người làm chính sách, chủ yếu là suy kinh nghiệm của những người sống ở đồng bằng, cho các nhóm cư dân du canh sống trên vùng núi

6

Trang 7

cao Mô hình định canh định cư cũng được áp dụng cho mọi nhóm dân tộc, mọi hoàn cảnh và điều kiện sống của họ bất chấp một thực tế là văn hoá và lối sống của các nhóm này rất đa dạng và do đó, lờ đi một hệ thống kiến thức về sản xuất và sinh tồn ở miền núi mà các cư dân này đã tích luỹ được từ đời này qua đời khác.5 Nhìn chung, mô hình định canh định cư trong

cả nước đều tập trung vào 5 lĩnh vực chủ yếu như sau:

1 Lập làng định cư và vận động các hộ gia đình hoặc các xóm nhỏ sống biệt lập trên núi xuống định cư tập trung ở làng;

2 Khai phá ruộng nước, xây dựng hệ thống thuỷ lợi và các hồ chứa nước để cung cấpnước tưới cho sản xuất nông nghiệp;

3 Giới thiệu các kỹ thuật và giống mới trong nông nghiệp kết hợp với các chương trình trồng và bảo vệ rừng;

4 Cung cấp dịch vụ tín dụng trực tiếp đến các hợp tác xã và hộ nông dân;

5 Đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng như làm đường, trạm xá, trường học, chợ và hệ thống cung cấp điện sinh hoạt

Cùng với việc định canh định cư các nhóm dân tộc bản địa miền núi, nhiều kế hoạch đầy tham vọng cũng được xây dựng nhằm phân bố lại dân cư và khai thác mọi tiềm năng của miền núi trong đó di dân xây dựng vùng kinh tế mới ở miền núi là một trong những quyết sách đó Nghị quyết số 8/NQ/TW ban hành tháng 4 năm 1963 đã mở đầu cho dòng di dân khổng lồ này Giữa năm 1960 và 1975, khoảng 400,000 người dân từ các tỉnh đồng bằng phía Bắc đã được di chuyển lên miền núi để xây dựng cuộc sống mới Sau năm 1975, một dòng di dân hàng triệu người từ các vùng đồng bằng và ven biển miền Bắc và miền Trung đã được khuyến khích di chuyển lên Tây Nguyên, tạo ra một bức tranh tộc người mới ở miền núi Việt Nam trong đó mức độ xen kẽ giữa người đa số và các nhóm dân thiểu số bản địa đã tăng lên nhanh hơn bao giờ hết (Khổng Diễn 1995) Các nhà làm chính sách đã mong đợi chương trìnhđịnh canh định cư và di dân xây dựng vùng kinh tế mới sẽ mang lại một bộ mặt mới cho miền núi Việt Nam

4 Nông nghiệp du canh truyền thống

Cũng như nhiều nhóm cư dân nói ngôn ngữ Môn Khmer khác ở Việt Nam như Xinh Mun, Kháng, Mảng, v.v., người Kmhmu được biết đến như là một cư dân sống về nương rẫy

(hre) Ở Nghệ An, người Thái gọi người Kmhmu là “Tày hạy” tức “người làm rẫy” trong khi

ở vùng núi Tây bắc, nhãn hiệu “Kha toong lưa”, nghĩa là người “Xá lá vàng”, được dùng để

chỉ người Kmhmu với ngụ ý rằng nhóm dân tộc này thường không định cư lâu dài ở một nơi

Cho đến trước khi chương trình định canh định cư được chính thức phát động năm

1968, hầu hết các bản của người Kmhmu chưa biết đến kỹ thuật canh tác lúa nước Thậm chí sau khi định canh hàng chục năm, nhiều hộ gia đình Kmhmu vẫn sẵn sàng bỏ làng định cư có nhiều ruộng nước để đến những nơi khác vẫn còn nhiều diện tích nương rẫy Nỗi nhớ về nền kinh tế cổ truyền dường như vẫn khắc khoải trong tâm hồn người Kmhmu đến mức nếu có thời cơ là họ ngay lập tức quay trở lại phương thức sản xuất nương rẫy truyền thống Hiện tượng này cho thấy định canh định cư chưa có sức hấp dẫn đến mức có thể làm thay đổi lối

Khmer, H’Mong – Dao, và Tạng Miến Một bộ phận cư dân Tày – Thái cũng làm rẫy nhưng quan tâm của họ trước hết là ruộng nước Phương thức làm rẫy của 3 nhóm cư dân nói trên cũng khác nhau: nhóm Môn – Khmer chủ yếu dùng gậy chọc lỗ trong khi nhóm H’Mong – Dao dùng cày - cuốc còn nhóm Tạng Miến có khuynh hướng chuyển rẫy chờ mưa sang các loại ruộng bậc thang dùng cày Một vài nhà nghiên cứu (McElwee 1999; Bass & Morrison 1994) đã cố gắng phân loại các hình thức du canh ở miền núi Việt Nam nhưng không gắn với nhóm tộc ngư ời

7

Trang 8

sống cổ truyền của nhóm cư dân này, nhưng từ đây ta cũng có thể hiểu được sức sống mãnh liệt của tập quán và của hệ thống tri thức gắn liền với nền kinh tế truyền thống

Các nghiên cứu đã có về nền kinh tế cổ truyền của người Kmhmu đã góp phần làm sáng tỏ hệ thống kiến thức đặc biệt của họ trong canh tác trên nương rẫy Hầu như tất cả những người đàn ông Kmhmu đều thành thạo những kinh nghiệm được truyền từ nhiều thế hệ

đi trước về kỹ thuật chọn đất làm nương, phát đốt, tra hạt, chăm sóc và bảo vệ nương như thế nào Người Kmhmu đã tạo ra một nông lịch đặc biệt thích hợp với hệ thống canh tác nương rẫy vốn đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt về thời vụ (Đặng Nghiêm Vạn 1972:10) Lối canh tác nương rẫy của người Kmhmu và các cư dân Mon-Khmer khác ở Tây Bắc Việt nam cũng khác biệt rất căn bản với các cư dân làm rẫy thuộc nhóm Hmong-Dao Sự khác biệt là ở chỗ

cư dân Môn-Khmer cố gắng dùng các công cụ đơn giản nhất có thể để tránh tác động nhiều lên lớp đất bề mặt của rẫy đã phát trong khi người Hmong lại dùng cày để làm đất trên nương dốc So sánh hai phương pháp này, người ta thấy nương của người Hmông thường bị xói mòn hoàn toàn chỉ sau vài vụ canh tác Bên cạnh kỹ thuật phát đốt, tra hạt và thu hoạch theo hướngduy trì sự bền vững của lớp đất bề mặt, trình độ làm rẫy của người Kmhmu còn được thể hiện

ở hai lĩnh vực sau đây: 1) Khả năng am hiểu đến tường tận tính chất của từng loại rừng, độ dốc của rẫy, độ mầu mỡ của lớp mùn bề mặt để quyết định về thời gian canh tác và thời gian

bỏ hoá trong bao lâu thì thích hợp Vì vậy người ta thường thấy rằng có những mảnh nương người Kmhmu chỉ canh tác một đến hai vụ là bỏ hoá trong khi những mảnh nương khác thời gian canh tác có thể kéo dài hơn Tuỳ vào từng loại đất mà người ta có thể bỏ hoá từ 8 đến 10 năm hay lâu hơn nữa mới quay trở lại 2) Trải qua hàng thế kỷ sống bằng nương rẫy, người Kmhmu đã hiểu được rằng vấn đề tối quan trọng trong kỹ thuật canh tác trên nền đất dốc là việc giữ cho lớp đất màu trên bề mặt không bị xói mòn nhanh Vì vậy, họ luôn tính toán để trồng những loại cây gì trên loại đất nào nào để một mặt thu được năng suất cao, tận dụng được tối đa diện tích của rẫy nhưng không làm trôi lớp đất màu Quan sát một mảnh nương của người Kmhmu, chúng ta thường thấy trên cùng một diện tích nương, ngoài cây lúa còn trồng xen các loại rau, cây cho củ hoặc cây ăn quả ngắn hoặc dài ngày Một số nhà nghiên cứu cho rằng cách làm này là biểu hiện của một nền kinh tế tự cấp trong đó một mảnh nương

có thể cung cấp mọi nhu cầu về lương thực và thực phẩm cho một hộ gia đình, đồng thời giúp

họ vớt vát được phần nào thu hoạch từ các loại cây trồng khác nếu vụ lúa bị thất bát (Đặng Nghiêm Vạn 1975:10; Nguyễn Ngọc Thanh 1996: 78; Khổng Diễn 1999:91-92) Nhận xét này là có cơ sở nhưng có lẽ lý do căn bản để người Kmhmu làm như vậy là có mục đích chống lại sự xói mòn nhanh chóng của lớp đất mầu trên nương dốc trong suốt thời gian canh tác Nhiều người Kmhmu cũng không giải thích được cặn kẽ tại sao họ lại trồng xen canh nhiều loại cây trên cùng một đám rẫy nhưng kinh nghiệm cho họ thấy cần phải làm như vậy đám nương mới tốt.(6)

Các nhà làm chính sách định canh định cư có khuynh hướng cho rằng người trồng trọt

du canh thường không có ý niệm rõ ràng về sở hữu đất đai Họ chỉ khai thác một mảnh đất trong một khoảng thời gian vài vụ sau đó bỏ đi tìm một mảnh nương khác Thực ra, quan niệm như vậy không hẳn đúng trong trường hợp người Kmhmu.(7) Trên thực tế, các cư dân

6 Bao giờ trên nương của người Kmhmu cũng trồng thêm khoai sọ, củ mài, ngô, cây họ đậu, và các loại bầu bí, cây đu đủ, chuối, mít, v.v Khoai sọ thường được trồng ở khu vực ở giữa rẫy, bí đỏ và các loại rau, đậu được trồng ở xung quanh Giống lúa cẩm thường được trồng trên đỉnh nương còn ngô và vừng thường trồng xen lẫn với lúa Người Kmhmu tin rằng lúa muốn sinh sôi nẩy nở tốt phải được tiếp sức bằng những tinh linh của khoai

sọ và bầu bí, vì thế trong nghi lễ cúng hồn lúa và rước lúa về nhà, người ta cũng rước cả khoai sọ và bầu bí (Nguyễn Thị Thanh Nga, 1998: 68-77).

7 Cho đến trước cuộc cải cách dân chủ ở miền núi sau 1954, người Kmhmu không có quyền sở hữu với đất đai

mà họ canh tác Ở địa vực sinh sống của họ, quyền sở hữu danh nghĩa thuộc về người Thái Người Kmhmu có nghĩa vụ cống nạp và làm lao dịch cho các chúa đất Thái ở địa phương để được làm rẫy trên đất rừng mà người Thái cai quản Thậm chí chủ đất người Thái còn có quyền sang nhượng cả bản Khmu cho chủ khác (Đặng Nghiêm Vạn 1972: 83; Viện Dân tộc học 1999: 33)

8

Trang 9

làm rẫy Môn – Khmer trong đó có người Kmhmu thường không khai thác đến cạn kiệt một mảnh nương mà họ thường bỏ hoá trước khi bị xói mòn hoàn toàn với hy vọng sau một thời gian đủ lâu cho đất và rừng hồi phục, họ sẽ quay trở lại Vì thế, Đặng Nghiêm Vạn (1975: 7-

20) cho rằng nương rẫy thực chất là một mảnh đất được canh tác không liên tục nhưng đó

không phải là một mảnh đất trồng trọt vĩnh viễn Hình thức canh tác theo lối quảng canh của

cư dân nương rẫy rõ ràng đòi hỏi một không gian sinh tồn rộng lớn để có thể quay vòng một chu kỳ sử dụng nương tái sinh.(8) Có thể coi đây như một dạng kiến thức bản địa đặc biệt có ýnghĩa nhằm duy trì sự ổn định của môi trường sống và tính bền vững của nền nông nghiệp trong điều kiện mật độ dân số ở mức cho phép Phát hiện này là bằng chứng phản bác lại quanđiểm cho rằng phương pháp phát đốt là một hình thức tàn phá rừng và làm cạn kiệt môi trường sống vẫn tồn tại lâu nay trong giới làm chính sách định canh định cư

Cùng với kỹ thuật xen canh, gối vụ và quay vòng đất để bảo tồn môi trường sống, người Kmhmu còn có một tập quán khác thường được nhắc đến trong các nghiên cứu về kinh

tế nương rẫy của người Kmhmu là luật tục ngăn cấm việc phát rẫy ở các khu vực rừng đầu nguồn hoặc rừng cấm (Khổng Diễn 1998:17) Người ta tin rằng nếu phát rẫy ở những khu vựcnày, họ sẽ bị thần linh trừng phạt Kiến thức cổ truyền này có mầu sắc của niềm tin tôn giáo nhưng rõ ràng họ đã biết một cách chắc chắn phá rừng đầu nguồn đồng nghĩa với việc triệt tiêu nguồn sống của chính mình

Nền kinh tế nương rẫy cổ truyền của người Kmhmu có những mối quan hệ chặt chẽ

với hệ thống tổ chức xã hội của họ Làng (cung) là đơn vị xã hội tự quản của người Kmhmu dưới sự lãnh đạo của một người trưởng làng gọi là khun cung Không thấy bộ máy lãnh đạo của làng được tổ chức thành một Hội đồng như làng của các nhóm dân tộc định cư trồng lúa nước Cũng không thấy có các tổ chức xã hội cao hơn đơn vị cung, chẳng hạn như mường của

người Thái Tuy nhiên, do đặc điểm kinh tế nương rẫy nên làng của người Kmhmu thường rấtnhỏ Một làng quy mô trung bình thường bao gồm khoảng 30 đến 50 nóc nhà Nếu số hộ tăng lên nhiều hơn nữa thì việc tách làng là khó tránh khỏi

Mặc dù cung là một đơn vị cư trú được xây dựng trên cơ sở quan hệ láng giềng trong

đó một số dòng họ khác nhau cùng cư trú trong một cung nhưng nói chung, những người anh

em thân thích thường có khuynh hướng thích được tụ cư cùng nhau Đặc điểm này có lẽ xuất phát từ một thực tế cần sự giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất Phát nương làm rẫy đượcxem là một loại hình lao động đặc biệt nặng nhọc nhưng lại phải tuân thủ nghiêm ngặt về thời

vụ Vào mùa vụ phát - đốt, dọn rẫy và thu hoạch, các hộ gia đình cần nhiều lao động tập trung Chính vì vậy mà người ta thấy hình thức đổi công của các hộ trong làm nương rất phổ biến ở người Kmhmu.(9) Mặt khác, do đặc điểm du canh, người ta phải bỏ hoá các mảnh rẫy sau vài vụ canh tác để tìm mảnh rẫy mới nên việc di chuyển chỗ ở khi mảnh rẫy mới ở quá xa làng là điều khó tránh khỏi Trong trường hợp rẫy chưa quá xa làng, người ta làm các lều tạm ngay trên rẫy và ở lại đây trong một khoảng thời gian nhất định trong năm để sản xuất và bảo

vệ mùa màng khỏi phá hoại của chim chóc và thú rừng Khi rẫy đã quá xa thì người ta sẽ chuyển nhà đến gần nơi làm rẫy Tính chất của hệ thống sản xuất này làm cho cái làng của người Kmhmu không được tổ chức chặt chẽ và có quy mô lớn như ở các cư dân nông nghiệp định cư khác

4 Làng định cư

8 Các nhà nghiên cứu cho biết nền kinh tế nương rẫy du canh truyền thống chỉ có thể duy trì ở mật độ dân số dưới 40 người/km2 (Donovan, D., T Rambo et al 1997:25) Không có tỉnh miền núi nào ở Việt Nam hiện này

có mật độ dân số thấp hơn 50 người/km2.

9 Đặng Nghiêm Vạn (1975) ước lượng một hộ gia đình có quy mô trung bình (5 – 7 người) chỉ có thể đảm bảo sản xuất được một diện tích rẫy khoảng 1 hecta/năm với năng suất lúa bấp bênh từ 600 đến 1,200 kg/ha/năm Với thu nhập bình quân trên 100 kg thóc/người/năm thì cùng lắm cũng chỉ đủ lương thực cho hộ gia đình trong vài tháng

9

Trang 10

Theo truyền thống, người Kmhmu làm nương rẫy sống phân tán theo những khe suối hoặc sườn đồi khá biệt lập với bên ngoài, và nơi cư trú của họ chỉ có tính tạm thời trong một thời gian nhất định Khi nương rẫy đã quá xa nơi cư trú thì họ lại chuyển nhà Vì vậy, trọng tâm của chính sách định canh định cư ở vùng người Kmhmu là vận động các hộ gia đình sốngphân tán chuyển về các địa điểm đã quy hoạch để lập các làng tập trung có quy mô từ 30 đến

70 hộ gia đình (10) Trên thực tế, đây là cuộc vận động lâu dài và kiên trì nhất mà chính quyền các địa phương đã và vẫn đang làm ở miền núi Việt Nam đối với các nhóm tộc người du canh

cư trú phân tán và biệt lập Mục đích của việc lập làng định cư là để tổ chức lại sản xuất và thay đổi phong tục tập quán, cách suy nghĩ, lề lối sinh hoạt được coi là “lạc hậu” của người ducanh Đây cũng được xem là biện pháp có hiệu quả nhất của để kiểm soát tình trạng phát rừnglàm rẫy

Kết quả điều tra tại năm bản Kmhmu ở hai tỉnh Nghệ An và Lai Châu cho thấy hình thức các làng định cư được hình thành vào khoảng những năm 1970, chỉ hai năm sau khi chính sách định canh định cư được phát động Chẳng hạn, làng Co Pục ở Điện Biên và làng Huổi Cụt ở Tương Dương đã được thành lập sớm nhất vào năm 1970 Tiếp theo là các làng Bình Sơn (1974) và Huổi Nhu (1982) Trường hợp bản Pú Tỉu ở Điện Biên dường như là một ngoại lệ Bản này đã phải di chuyển quá nhiều trong thời gian Pháp chiếm đóng Điện Biên nên ngay sau khi vùng đất này được giải phóng, bộ đội địa phương đã vận động người

Kmhmu trở về làng cũ và chuyển làng xuống vùng thấp từ năm 1957

Cả năm làng Kmhmu nói trên đều được lập ra trên cơ sở một bộ phận cư dân của một lànggốc, sau đó các hộ nhỏ lẻ được vận động để về làng định cư vào các thời gian khác nhau Quá trình hình thành các làng định cư này tóm tắt như sau:

 Bản Pú Tỉu (Điện Biên) vốn là một bản nhỏ định cư ở trên núi, cách địa điểm hiện nay khoảng

5 km Trước khi xuống núi định cư, bản này có hai cụm dân cư: Cụm thứ nhất có 2 hộ và cụm thứ hai gồm 8 hộ gia đình Hai cụm ở cách xa nhau khoảng 4 km Sau khi làm chủ Điện Biên Phủ, chính quyền địa phương và bộ đội đã vận động các hộ này di chuyển xuống địa điểm ở dưới chân núi bên lòng chảo Điện Biên để làm ruộng nước Trong khoảng thời gian từ 1958 đến 1979, một số hộ ở rải rác trên núi cao cũng được vận động chuyển xuống định cư ở Pú Tỉu Vào năm 1990, bản Pú Tỉu đã có tới 90 hộ gia đình Khmu cùng chung sống Cũng trong năm này, sau một trận hoả hoạn thiêu rụi cả bản, dân bản đề nghị tách bản lớn thành 2 bản nhỏ

để tiện quản lý Bản mới cũng ở liền kề bản cũ và cho đến nay đã có 30 hộ gia đình chuyển đến

 Bản Cò Pục (Điện Biên) được hình thành trên cơ sở nhiều nhóm hộ gia đình rải rác ở các địa điểm khác nhau Cốt lõi của bản này là bảy hộ gia đình sinh sống ở khu vực Nặm Khảu Hú Năm 1970, chính quyền huyện Điện Biên đã vận động 7 hộ này xuống núi lập bản định cư ở địa điểm được quy hoạch là bản Co Pục hiện nay Vì muốn quay trở lại làm rẫy nên 7 hộ này chỉ làm nhà tạm ở Co Pục và không rời hẳn khỏi bản cũ Năm 1971, lại thêm mười một hộ gia đình từ các bản Nà Lơi và Hua Pe cũng được vận động đến định cư ở Co Pục Năm 1980 một

số hộ khác từ bản Long Gia tự động xin chuyển đến Co Pục định cư với nguyện vọng được kết hợp ruộng nước với làm nương vì ở Long Gia chỉ có ruộng nước Quy mô của bản Co Pục đã lên đến trên 60 hộ vào năm 1980 Tuy nhiên vào năm 1986, mười hộ ở bản Co Pục đã tự động

bỏ lại nhà cửa để di chuyển sang Huổi Lai ở Lào Một năm sau lại thêm một số hộ khác chuyển cư sang Huổi Lai Cái tên Huổi Lái không xa lạ với nhiều người ở Co Pục vì một số hộ

ở đây đã từng sang làm rẫy ở Huổi Lai trong những năm 1952-55 Đến tận năm 1990, vẫn có bốn hộ khác lại chuyển từ Co Pục sang Huổi Lái với lý do họ không có đất làm rẫy Hiện nay những người dân ở Co Pục vẫn thỉnh thoảng sang Huổi Lái bên Lào để thăm bà con của mình

 Bản Huồi Cụt ở Tương Dương trước 1945 là một bản nhỏ gồm 14 hộ gia đình thuộc về 4 dòng

họ khác nhau sinh sống ở đầu Khe Cụt Năm 1970, chính quyền địa phương vận động các hộ

10 Phỏng vấn với ông Moong Văn Nghệ, một người Kmhmu ở Kỳ Sơn Ông đã từng kinh qua các cương vị lãnh đạo từ xã đến huyện và tỉnh từ những năm vận động định canh định cư ở làng 1970 đến nay Ông trở thành huyện uỷ viên năm 1982 và chủ tịch huyện Kỳ Sơn năm 1991 Hiện nay là Phó Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An

10

Trang 11

này xuống định cư ở gần đường giao thông để tiện đi lại và quản lý Đây vốn là một địa bàn

cư trú cũ của người Thái, địa hình thấp, có thể mở rộng diện tích ruộng nước Sau mười năm vận động định cư ở Huổi Cụt, bản này mới chỉ có 20 hộ gia đình vào năm 1980 Sau này một

số hộ khác ở nhiều bản Kmhmu khác nhau lần lượt đến định cư ở Huổi Cụt Một số trong các

hộ này tự nguyện đến Huồi Cụt để được ở gần anh em họ hàng, số còn lại đến đây theo sự vận động của chính quyền địa phương Hiện nay (2005), bản Huổi Cụt đã có 59 hộ gia đình Kmhmu cùng sinh sống

 Bản Huổi Nhu (Na Nhu) được lập ra vào năm 1982 bao gồm 14 hộ gia đình tập hợp từ nhiều bản khác như Cò Mỳ, Huổi Hiên, Mường Típ và Tà Cạ Người trưởng làng đầu tiên là Pha Phò Thò Ông là một người Kmhmu sớm giác ngộ cách mạng và có uy tín trong cộng đồng Kmhmu ở Nghệ An.( 11 ) Đến nay bản Na Nhu đã có 43 hộ gia đình Từ tháng 2/2005, UBND tỉnh Nghệ An đã phê duyệt quy hoạch mới cho phép bản Huổi Nhu được di chuyển ra định cư ven đường 7B để gần đường giao thông Hai mươi ba hộ đã chuyển đến nơi ở mới nhưng vẫn sản xuất trên những mảnh ruộng và rẫy ở bản cũ

 Bản Bình Sơn được hình thành trên cơ sở hợp nhất các hộ gia đình của 3 bản cũ là Cà Nhăn lớn, Cà Nhăn bé và Huổi Phôi Sau năm 1985, số hộ gia đình tăng lên nhanh chóng và nó lại được chia ra thành 3 bản nhỏ là Bình Sơn 1, Bình Sơn 2 và Nhãn Cù Năm 1996 chính quyền huyện Kỳ Sơn đã lập quy hoạch khu dân cư mới và chuyển bản Bình Sơn 1 ra khu vực ven đường 7 để mở rộng diện tích đất canh tác và tiện đi lại Có vẻ như cả hai bản Huổi Nhu và Bình Sơn đều chưa tìm được nơi định cư ổn định cuối cùng vì chính quyền địa phương vẫn còn đang quy hoạch các địa điểm định cư mới theo hướng đưa các bản ra gần đường giao thông Một khi các bản này quá xa rẫy thì việc ổn định cư dân ở nơi ở mới không hề dễ dàng.

Những thông tin tóm tắt trình bày ở trên cho thấy tất cả các làng định cư của người Kmhmu đều được hình thành trên cơ sở tập hợp các hộ gia đình cá thể hay nhóm hộ biệt lập Mô hình

cư trú truyền thống nhỏ lẻ phân tán đã hoàn toàn bị bãi bỏ Sau ba bốn thập kỷ sống trong các làng định cư, một số hộ gia đình Kmhmu đã và đang dần thích ứng với lối sống mới Các ngôinhà dựng trên nền đất thay cho nhà sàn truyền thống, và những mảnh vườn trồng rau và cây

ăn quả giống như ở nhiều làng vùng đồng bằng xuất hiện ngày một nhiều Tuy nhiên, những người già vẫn luôn trăn trở với ý nghĩ rằng tổ tiên sẽ không thể trở về với con cháu vì ngôi nhà trên nền đất không có chỗ cho những chiếc bếp lửa cổ truyền là nơi linh thiêng dành cho các vị tổ tiên Rõ ràng những ngôi làng định cư một đã phá vỡ các cộng đồng cư trú truyền thống cùng với những ràng buộc của tập quán, nghi lễ, đạo đức, lịch sử, và cả những truyền thuyết về cội nguònm của tộc người

5 Tập thể hoá, hợp tác xã và kinh tế lúa nước

Cuộc cải cách dân chủ ở miền núi Nghệ An được phát động vào đầu năm 1956 nhằm đánh đổ tầng lớp địa chủ và mang lại ruộng đất cho nông dân Tuy nhiên, mục đích kêu gọi nhân dân hạ bệ những người đứng đầu các bản Kmhmu và H’Mông không gặt hái được thành công Những người này do hoảng sợ bị trừng trị đã bỏ làng chạy trốn vào rừng, dẫn đến việc chính phủ trung ương phải cử cán bộ đến xem xét tình hình và sửa sai (Huyện uỷ Kỳ Sơn 1995) Đoàn cải cách sửa sai đã xác định rằng phần lớn những người đứng đầu các bản Kmhmu chỉ là những tay sai của các chủ đất người Thái, bản thân họ cũng bị bóc lột Chính

sự thay đổi quan điểm này đã giành được sự ủng hộ của người dân và những người đứng đầu các làng, tạo điều kiện cho sự can thiệp ngày càng sâu hơn của nhà nước vào đời sống của cộng đồng các dân tộc địa phương

Tháng 10 năm 1959, huyện Tương Dương thành lập các chi bộ để lãnh đạo các xã vùng cao gồm Mỹ Lý, Keng Đu, Na Ngoi, Tà Kạ, Bảo Nam và Mường Lống Hội nghị các

11 Pha Phò Thò là huyện uỷ viên và một trong những lãnh đạo quân sự của huyện Kỳ Sơn trong những năm từ

1982 đến 1988 Ông là đại biểu của người Kmhmu tại Quốc hội khoá 7

11

Ngày đăng: 09/03/2017, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Dân số Kmhmu ở Kỳ Sơn, Tương Dương (Nghệ An) và Điện Biên (Lai Châu) - Định canh định cư  và biến đổi kinh tế xã hội ở người Khmu Việt Nam
Bảng 3. Dân số Kmhmu ở Kỳ Sơn, Tương Dương (Nghệ An) và Điện Biên (Lai Châu) (Trang 4)
Bảng 4. Đặc điểm kinh tế - xã hội các làng Khmu được nghiên cứu - Định canh định cư  và biến đổi kinh tế xã hội ở người Khmu Việt Nam
Bảng 4. Đặc điểm kinh tế - xã hội các làng Khmu được nghiên cứu (Trang 5)
Bảng 6. Tình trạng đói nghèo ở người Kmhmu, Kháng, Xinh Mun và La Ha (phần  trăm %) - Định canh định cư  và biến đổi kinh tế xã hội ở người Khmu Việt Nam
Bảng 6. Tình trạng đói nghèo ở người Kmhmu, Kháng, Xinh Mun và La Ha (phần trăm %) (Trang 16)
Bảng 7. Tỷ lệ hộ đói nghèo của người Kmhmu ở Nghệ An (phần trăm%) - Định canh định cư  và biến đổi kinh tế xã hội ở người Khmu Việt Nam
Bảng 7. Tỷ lệ hộ đói nghèo của người Kmhmu ở Nghệ An (phần trăm%) (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w