1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng vùng nuôi cá tra sinh thái nhằm phát triển bền vững, giảm ô nhiễm môi trường, đề xuất hướng quy hoạch nâng cao giá trị kinh tế , chất lượng sản phẩm cho nông dân vùng ĐBSCL

30 323 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 626,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề trên cho thấy, việc điều chỉnh quy hoạch vùng nuôi cá Tra trong thời gian tới phải đuợc thực hiện theo nguyên tắc phát triển bền vững, phát triển sản xuất kết hợp chặt ch

Trang 1

Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 TÍNH CÀN THIẾT

Ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), ngành nghề nuôi trồng thủy sản đã nhanh chóng phát triển suốt hơn 2 thập kỷ qua và có những đóng góp lớn cho nên kinh tế quốc gia, diện tích nuôi trồng thủy sản không ngừng tăng lên, số nguời nuôi ngày càng nhiều Trong vòng 10 năm từ 1995 đến 2005, diện tích nuôi trồng thủy sản vùng Đồng bằng đã tăng hơn 2,37 lần và sản luợng tăng vọt hơn 3,68 lần Năm 2007, diện tích nuôi cá Tra thâm canh tăng 5.600 ha với sản luợng khoảng 1,5 tấn (http://www.stp.gov.vn) Năm 2008, khoảng 1,2 triệu tấn, tăng trên 120% so với năm 2007 Nghề nuôi cá Tra ở ĐBSCL đang phát triển mạnh cả về diện tích lẫn mức độ thâm canh

Tuy nhiên, cũng chính vì lợi nhuận của con cá Tra mà nhiều nguời nuôi tự phát dẫn đến ô nhiễm môi truờng ao nuôi đặc biệt là môi truờng nuớc.Ước tính mỗi năm, quá trình nuôi 1 tấn cá Tra thải ra môi truờng nuớc 3 tấn chất thải của cá, mức độ bề nuôi cá dày đặc, nguồn nuớc các vùng nuôi

cá bị ô nhiễm nặng, phát sinh dịch bệnh cho cá, tỉ lệ cá nuôi hao hụt rất cao Việc nuôi trồng thủy sản

đã thải ra môi truờng nuớc xấp xỉ 3 triệu tấn bùn ở dạng chất thải hữu cơ gần nhu chua đuợc xử lý Mầm bệnh từ các ao nuôi cũng đã đi theo nguồn thải này ra hệ thống sông rạch làm chất luợng nhiều vùng nuớc suy giảm nặng nề Một điều đặc biệt quan trọng nữa là vấn đề xử lý bùn thải, chất thải trong quá trình nuôi trồng thủy sản chua đuợc nguời dân chú trọng và quan tâm

Mặc dù có thị trường tiêu thụ khá lớn, nhưng giá cả thị trường lên xuống bấp bênh, hầu hết người nuôi bị động về giá bán (năm cao, năm thấp thất thường), chua yên tâm đầu tu vào sản xuất Với tốc độ tăng truởng đó tạo ra sức ép thị truờng tiêu thụ, dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa cung

và cầu, giá cá Tra xuất khẩu tiếp tục giảm, gây bất lợi cho nguời nuôi

Với mục đích khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tiềm năng, bố trí sản xuất họp lý dựa ừên

cơ sở khoa học và điều kiện tự nhiên kinh tế-xã hội của từng vùng, khu vục; giảm các rủi ro về môi truờng, dịch bệnh và thị truờng trong sản xuất; hạn chế xung đột giữa hoạt động của các ngành kinh

tế; huớng tới sản xuất ổn đinh, bền vững; ngày 03 tháng 11 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Thủy sản đã

ký Quyết định số: 1269/QĐ-BTS, phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí lập dự án Bồ sung, hoàn chỉnh Quy hoạch sản xuất và tiêu thụ cá Tra, cá Ba sa vùng ĐBSCL (13 tỉnh) đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Đơn vị tư vấn là Phân viện Quy hoạch thủy sản phía Nam (Điều 1, khoản 4 của QĐ 1269) Đây là cơ sở pháp lý để tiến hành rà soát, điều chỉnh lại các vùng quy hoạch,

diện tích và sản luợng cá Tra nuôi của tỉnh theo huớng sản xuất cân đối với nhu cầu thị truờng tiêu thụ trong và ngoài nuớc

Từ những vấn đề trên cho thấy, việc điều chỉnh quy hoạch vùng nuôi cá Tra trong thời gian tới phải đuợc thực hiện theo nguyên tắc phát triển bền vững, phát triển sản xuất kết hợp chặt chẽ với

an sinh xã hội, phát triển sản xuất đi đôi với bảo vệ môi truờng

Trang 2

Để góp phần xây dựng mô hình nuôi cá Tra sinh thái nhằm làm giảm bớt mức độ ô nhiễm môi trường nước, một phần mang lại thêm lợi nhuận trong việc nuôi trồng thủy sản, được sự cho phép của trường Đại Học Hồng Bàng chúng em thực hiện đề tài “XÂY DỰNG VÙNG NUÔI CÁ TRA SINH THÁI NHẰM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, GIẢM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐỀ XUẤT HƯỚNG QUY HOẠCH NÂNG CAO GIÁ TRỊ KINH TẾ, CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM CHO NÔNG DÂN VÙNG ĐBSCL.”

1.2 NỘI DUNG THựC HIỆN

Thu thập số liệu về các điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội tại địa phương nơi đặt

mô hình thí nghiệm

Khảo sát thực địa và đánh giá hiện trạng môi trường nước của vùng

Đánh giá các nguồn lực, hiện trạng sản xuất cá Tra vùng đồng bằng sồng Cửu Long, phân tích điểm mạnh điểm yếu; thời cơ, nguy cơ và thách thức Xây dựng các mục tiêu phát triển trên cơ

sở khoa học, phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển chung cho toàn vùng

Xây dựng được các phương án phát triển nuôi cá Tra dựa trên những phân tích, đánh giá các yếu tố chủ quan, khách quan tác động đến sự phát triển và các giải pháp có tính khả thi để thực hiện được các phương án quy hoạch phát triển ổn định và bền vững

Đề xuất hướng quy hoạch vùng nuôi cá Tra sinh thái nhằm phát triển bền vững, giảm ô nhiễm môi trường, một phần mang lại thêm lợi nhuận trong việc nuôi trồng thủy sản Phát triển vùng nuôi trồng thuỷ sản theo hướng mở, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi sang nuôi các loại thuỷ sản khác khi cần thiết Bên cạnh đó, chú trọng đến các vấn đề an sinh xã hội và bảo vệ môi trường trong các vùng quy hoạch

Xây dựng mô hình ao nuôi con Trai nước ngọt trong ao xử lý nước cho ao nuôi cá

Tra

1.3 TÍNH ƯU VIỆT CỦA ĐỀ TÀI

Mô hình ao xử lý dễ dàng ứng dụng hiệu quả kinh tế cao đem lại từ nhiều mặt Không đòi hỏi người dân phải có khoa học kỹ thuật cao Giải quyết gần như hầu hết những nhược điểm mà các

Trang 3

Sản phẩm của mô hình có thể cung cấp cho thị trường trong và ngòai nước:

* Cá Tra nuôi từ mô hình này hoàn toàn sạch, không bị nhiễm bệnh, dư lượng chất kháng sinh, không dùng các loại thuốc cấm, không chứa chất độc hại và sẽ dễ tìm thị trường tiêu thụ, quá trình nuôi không gây ô nhiễm môi trường Đây là yêu cầu cần thiết đối với các mặt hàng thủy sản xuất khẩu

* Con Trai sau khi nuôi ghép vừa có thể đưa vào làm Trai nguyên liệu để nuôi cấy ngọc Trai, vừa có thể dừng làm Trai thương phẩm cung cấp Trai thịt cho thị trường tiêu dùng

vì có chất dinh duỡng cao, vỏ Trai được dùng làm đồ mỳ nghệ

Mô hình đưa ra một hướng đi mới, một tầm nhìn mới về quy trình nuôi cá Tra sinh thái Phá

bỏ đi ý nghĩ của người dân về ao xử lý nước cho ao nuôi cá Tra không mang lại giá trị kinh tế mà chỉ làm tốn hao diện tích đất

Tăng thêm nguồn lợi khá lớn cho người dân nuôi cá Tra là động lực cho người dân chuyển dần hướng sản xuất từ tự phát theo hướng có quy hoạch và nuôi cá Tra thân thiện với môi trường

Giải quyết được bài toán nan giải bấy lâu nay là nguồn nước thải ô nhiễm từ các ao nuôi cá Tra, giờ đây đã là nguồn thức ăn cho Trai Biến cái khó xử lý thành một giá trị kinh tế không nhỏ

1.4 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI

Đe xuất hướng quy hoạch vùng nuôi cá Tra sinh thái nhằm phát triển bền vững

Giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước trong ao nuôi

Mang lại thêm lợi nhuận từ việc nuôi ghép với con Trai và cấy ngọc Trai nhân tạo

Qua đề tài này em muốn góp một phần nhỏ bé cho quê hương Có thể vừa giúp cải thiện môi trường ao nuôi Cá Tra, vừa mang lại thêm lợi nhuận kinh tế từ việc nuôi ghép con Trai trong ao Cá Tra Đồng thời, góp phần vào công việc bảo tồn sự đa dạng sinh học của con Trai nước ngọt (Sinohyriopsis cumingii Lea)

1.5 GIỚI HẠN

Do kinh phí hạn hẹp nên chúng tôi chỉ thực hiện phương pháp nuôi trai nguyên liệu trên một địa điểm và diện tích nuôi không lớn chỉ có 200m2 dùng làm ao xử lí nước đầu vào và đầu ra cho ao nuôi cá Tra Trong bước đầu thực hiện nên chúng tôi chỉ thực hiện mô hình với quy mô nhỏ và đưa

ra công thức tính toán, nhằm giúp cho việc xây dựng ao xử lý cho thích hợp với quy mô của từng ao nuôi cá Tra

Do hạn chế về việc đi lại nên chỉ nuôi được thí nghiệm được ở tỉnh Đồng tháp Nếu thành công sẽ tiếp tục thực hiện rộng khắp vùng ĐBSCL

Thời gian để mô hình phát huy hết tác dụng và thu được nguồn lợi là trên 3 năm, nhưng chúng tôi chỉ thực hiện 6 tháng Tuy không dài nhưng lượng thời gian đó cũng đủ nói lên tính chất

và lợi ích của đề tài

Trang 4

1.6 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.6.1 Tài liệu ngoài nước

Sách

1 Commoner, B., 1972 The environmental cost of economic development In Population resources

phí trong việc phát triển kinh tế môi trường Sự ảnh hưởng của dân số đến tài nguyên và môi trường tại washington

2 Environmental Protection Agency, Office of Research and Development, Center for

môi trường, Văn phòng Nghiên cứu phát triển, Trung tâm Nghiên cứu môi trường thông tin, Cincinnati, Ohio, Hoa Kỳ nghiên cứu về những ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế lên môi trường

3 Ehrlich, P.R., and J.P Holdren 1971 Impact of population growth Science 171: 1212- 1217.

Nội dung: Tác động của việc tăng dân số ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường

4 Kadlec, R.H and R.L Knight, 1996 Treatment Wetlands, Lewis Publishers, Boca Raton,

5 Kadlec, R.H., R.L Knight, J Vymazal, H Brix, p Cooper and R Haberl, 2000 Constructed

ngập nước để xử lý nguồn thải

6 Moshiri, G., 1993 Constructed Wetlands for Water Quality Improvement, CRC Press, Boca

7 Tuan, Le Anh, Guido C.L Wyseure,, Le H Viet, and P.J Haest., 2004 Water quality

management for irrigation in the Mekong River Delta, Vietnam AgEng Leuven 2004

của sông Mêkông

8 Tuan, L.A., G.C.L Wyseure,, L.H Viet, and P.J Haest., 2004 Water quality management for

irrigation in the Mekong River Delta, Vietnam AgEng Leuven 2004 conference’s book of

Mekong

9 Tuan, L.A.; N.K Uyen, and G Wyseure 2005 Effects of common reed (Phragmites spp.) in

constructed wetland for removing phosphorous and nitrogen from domestic wastewater

Nội dung: Xây dựng mô hình xử lý ứng dụng phương pháp sinh học để giải phóng phospho, nito

trong đầm lầy

Trang 5

10 US-EPA 1988 Design Manual: Constructed Wetlands and Aquatic Plant Systems for Municipal

ngập nước và cây trồng Thủy sản cho hệ thống xử lý nước thải thành phố

11 Vymazal, J., 2005 Horizontal sub-surface flow and hybrid constructed wetlands systems for

ngập nước để xử lý nước thải theo hướng sinh thái

Bài báo, tạp chí

1 Thành, Nguyễn Xuân, 2003 Cuộc chiến Catfish: Xuất khẩu cá tra và cá basa của Việt Nam sang

thị trường Mỹ Case study ỉn Fulbright Economics Teaching Program

2 Báo nhà nông Việt Nam, 20/03/2009 Nuôi trai để khử độc nguồn nước ô nhiễm: Các chuyên gia

ở ĐH Columbia, Mỹ đang thực hiện một nghiên cứu, nuôi trai để khử độc nguồn nước ô nhiễm, đây là loại động vật có khả năng hấp thụ các loại độc tố rất hiệu quả, nhất là nước cuối nguồn, trong các ao hồ, công viên nước đọng Dự án được thực hiện ngay sau khi các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu cơ chế hút độc của trai và đây cũng là phương án làm sạch nguồn nước rẻ tiền, mang lại hiệu quả cao, kể cả các chất độc như thuốc trừ sâu và PCB

1.6.2 Tài liệu trong nước

Đe tài nghiên cứu:

1 Công trình “Sản Xuất Dầu Diesel Sinh Học Từ Mỡ Cá Tra, Cá Basa”.Sản xuất dầu diesel sinh học (Biodiesel) từ mỡ cá tra cá basa, với những tính năng vượt trội so với dầu diesel sản xuất từ dầu mỏ, ít khí thải, không độc hại Các nhà máy sản xuất gạch ống ở Long Xuyên và huyện Châu Thành cho biết sử dụng dầu biodiesel ngoài giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ được sức khỏe, còn tiết kiệm gần 50.000 đồng/1.000 viên gạch so với sử dụng dầu thông thường

2 Đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật nuôi cả tra thương phẩm đạt tiêu chuẩn thịt trắng phục vụ xuất khẩu

( 2 001 - 2003)” Bằng cách áp dụng sụt khí đáy kết hợp thay nước có kiểm soát để quản lý tốt

môi trường nước ao nuôi có thể đạt tỉ lệ cá thịt trắng trên 70% với chi phí không cao hơn so với phương pháp nuôi cá thay nước thông thường

3 Đe tài “Sinh cảnh nhân tạo cá Tra”.Đạt được hơn 130 triệu bột chỉ trong 6 tháng đầu năm 2006

4 Đề tài “Tìm hiểu qui trình nuôi cả tra thương phẩm trong ao đất”.Thực hành thao tác quản lý, chăm sóc ao nuôi Tiềm hiểu phương pháp điều trị một số bệnh trên cá tra Nuôi cá tra thương phẩm trong ao đất cho thấy hiệu quả rất cao, chất lượng thịt không kém nuôi bể, công tác phòng

và trị bệnh tiện lợi và hiệu quả hơn

Trang 6

5 Đe tài “Nghiên cứu sử dụng con Trai (Sỉnohyriopsừ cumingii (Leaỉ952)) vào việc xử lý bùn trong

nước, vừa tận dụng nguồn thức ăn thừa trong ao cá, vừa xử lý được môi trường nước, vừa nâng cao giá trị kinh tế từ nguồn thu nhập con Trai Con Trai nuôi ghép có thể sống tốt trong ao nuôi

cá Tra, sử dụng được nguồn thức ăn thừa trong ao cá, lọc nước tốt

6 Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sử dụng con Trai ịSỉnohyrỉopsỉs cumingii (Lea,1852))

nuôi kết hợp trong ao nuôi cả Tra để làm Trai nguyên liệu, cấy ngọc Trai nhân tạo ở tỉnh Đồng

đồng thời góp phần nâng cao thu nhập cho người dân Đã thực hiện nuôi dưỡng, cấy ngọc Trai nhân tạo

7 Đề tài “'Xử lý nước thải các ao nuôi cả nước ngọt bằng đất ngập nước kiến tạo”.Thí nghiệm và giới thiệu một biện pháp khá hữu hiệu, tương đối rẻ tiền, quản lý đơn giản là xử lý nước thải ao nuôi cá nước ngọt (cá basa, cá tra) bằng kỹ thuật lọc nước thải qua khu đất ngập nước chảy ngầm kiến tạo về mặt kỹ thuật, khả năng sử dụng đất ngập nước kiến tạo cho kết quả khá tốt, vận hành đơn giản, nông dân dễ thực hiện và quản lý Đây là một triển vọng khả thi cho việc xử lý nước thải ở vùng ĐBSCL

8 Đe tài “Xây dựng mô hình nuôi thử nghiệm cả Tra đạt năng suất cao quy mô hộ gia đình ” Đề

tài đã tổ chức cho cán bộ kỹ thuật, các kỳ thuật viên cơ sở và tất cả các hộ nông dân tham gia đề tài, đi khảo sát, học tập mô hình nuôi cá Tra tại Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I, Trung tâm Giống Thủy sản Hà Nội Đã tổ chức 4 lớp tập huấn, hướng dẫn quy trình kỳ thuật cho các

kỳ thuật viên và hộ nông dân

Sách:

1 Năm 1996, Nguyễn Thị Ngọc Ẩn với quyển “Con Người và Môi Trường” đã nêu lên những nét

nổi bật về hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và các vấn đề ô nhiễm môi trường trên toàn cầu nói chung và ở Việt Nam nói riêng

2 Năm 2000, Nguyễn Thị Ngọc Ẩn với quyển “Quản Trị Môi Trường và Tài Nguyên Thiên Nhiên"

đã nghiên cứu những vấn đề về đất, nước, không khí, rừng, khó ang sản, rác thải, là một trong những vấn đề nguy hiểm nhất hiện nay và cần phải chú trọng

3 Tác giả Nguyễn Xuân Nguyên Nxb Nam Hà, với quyển “Afổ hình hóa quá trình xử lý nước thải

bằng phương pháp sinh học trong thiết bị lên men với lớp bùn lơ lửng kỵ khf\

4 Tuấn, Lê Anh, 2001 Giáo trình Quy hoạch Thuỷ lợi Đại học cần Thơ, cần Thơ

Trang 7

5 Tuấn, Lê Anh, 2007 Xử lý nước thải ao nuôi cả nước ngọt bằng đất ngập nước kiến tạo.Kỷ yếu của Hội thảo Quản lý và xử lý ao nuôi thủy sản Sở Tài nguyên và Môi trường An Giang, Long Xuyên Tháng 6/2007

6 Tu, N.T.C., 2006 Thiết kế nhà vệ sinh chỉ phí thấp cho nông thôn ĐBSCL.Luận văn Tốt nghiệp Đại học ngành Kỹ thuật Môi trường Khoa Công nghệ, Đại học cần Thơ

Bài báo

tuần hoàn tự nhiên"

bùn hoạt tính sinh học"

8 2006, tác giả Huỳnh Phước Lợi - báo SGGP bài “Phát triển ào ạt cá tra, ba sa ở ĐBSCL : Cá và

Đồng Tháp rất băn khoăn về tính bền vững của con cá tra, ba sa Nhiều khu đất bãi bồi đã xảy ra

sự xung đột giữa người nuôi với nhau Đặc biệt, nguồn nước là một bức thiết”

9 23/11/2006 -Nguồn tin: Báo cần Thơ—với bài “ Bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long’’

Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) với bài ” Chiến dịch

catfish chổng cá tra và basa Việt Nam’’

Trang 8

Chương 2: MỤC TIÊU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu

2.1 MỤC TIÊU

Mục tiêu tổng quát

Tăng nguồn thu nhập cho những người dân

Đảm bảo thu nhập ổn định

Hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ thua lỗ

Hạn chế thấp nhất nguy cơ ô nhiễm

Mục tiêu cụ thể

1 lìm hiểu nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước do nuôi Cá Tra tại vùng ĐBSCL

2 Đe xuất hướng quy hoạch vùng nuôi cá Tra sinh thái nhằm phát triển bền vững, giảm ô nhiễm môi trường

Lấy hệ thống nuôi cá Tra thâm canh theo hướng an toàn làm mục tiêu phát triển và thu hút nguồn lực đầu tư của nhiều thành phần kinh tế

Phát triển vùng nuôi trồng thuỷ sản theo hướng mở, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi sang nuôi các loại thuỷ sản khác khi cần thiết Bên cạnh đó, phải chú trọng đến các vấn đề an sinh xã hội và bảo vệ môi trường trong các vùng quy hoạch

3 Xây dựng mô hình ao xử lý nước đầu vào và đầu ra của ao nuôi cá Tra, khắc phục khuyết điểm của các mô hình trước đây Với mục tiêu làm giảm bớt độc tính của nước thải khi nuôi

cá Tra, nâng cao giá trị kinh tế cho người dân, giúp bảo tồn đa dạng sinh học

4 Nâng cao nhận thức của người dân, giúp cho người dân hiểu rõ hơn về tác hại do nuôi cá Tra gây ra ô nhiễm nguồn nước

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu.

Phương pháp kế thừa

Phương pháp thống kê: thu thập hồ sơ, tài liệu có liên quan

Phương pháp phân tích và tổng hợp toàn bộ tư liệu

Phương pháp điều tra, thực địa và mô tả bằng hình ảnh

Phương pháp nghiên cứu theo hướng phát triển bền vững

Phương pháp thu thập số liệu Các tài liệu thu thập mang tính pháp lý được nghiên cứu, xử

lý và tổng hợp theo hệ thống bảng biểu phục vụ cho việc đánh giá hiện trạng và rà soát, điều chỉnh quy hoạch

Phương pháp thực nghiệm xây dựng mô hình ao xử lý theo hướng sinh học Xem xét đánh giá kết quả tính kinh tế, tính khả thi, khả năng áp dụng thực tế

Dựa vào các cơ quan chức năng tù Trung ương đến cấp tỉnh để thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên bao gồm đặc điểm thời tiết khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn, tài nguyên nước mặt và nước ngầm, chất lượng môi trường nước, các lo ại bản đồ

Các số liệu liên quan đến hiện trạng kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng vùng dự án được thu thập thông qua các số liệu chính thức được xuất bản

Trang 9

Tham khảo các cuộc hội thảo cấp vùng nhằm thu thập các ý kiến đóng góp của các ngành liên quan ở cấp TW, địa phương về đánh giá điều kiện tự nhiên, hiện trạng quỳ đất và mặt nước, kinh tế xã hội, hiện trạng nghề nuôi cá tra, năng lực chế biến và tiêu thụ sản phẩm, định hướng và các phương án quy hoạch

2.3 KHẢO SÁT CHUNG NGHỀ NUÔI CÁ TRA, HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ

CÁ TRA Ở ĐBSCL GIAI ĐOẠN 1997 - 7/2008

23.1 Tình hình nuôi cá Tra trên thế gióỉ và trong nước

23.1.1 Tình hình nuôi cá Ttatrên thế giói

Cá Tra phân bố ở một số nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Indonexia và Việt Nam Đây là loài cá được nuôi ở hầu hết ở các nước Đông Nam Ả và là một trong các loài cá nuôi quan trọng của khu vực này (đặc biệt ở Việt Nam) Bốn nước trong khu vực hạ lưu sông Mê Kông đã

có nghề nuôi cá Tra truyền thống là Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam do có nguồn cá giống

tự nhiên khá phong phú Ở Campuchia, tỷ lệ cá Tra thả nuôi chiếm 98% trong 3 loài thuộc họ cá Tra, chỉ có 2% là cá basa và cá vồ đém, sản lượng cá Tra nuôi chiêm một nửa tổng sản lượng các loài cá nuôi của cả nước Tại Thái Lan, trong số 8 tỉnh nuôi cá nhiều nhất, có đến 50% số trại nuôi cá Tra Một số nước trong khu vực như Malaysia, Indonexia cũng đã nuôi cá Tra có hiệu quả từ những thập niên 70 - 80 của thế kỷ trước

23.1.2 Tình hình nuôi cá TVatrong nước

Nuôi cá Tra ở Việt Nam đã có từ những năm 50 của thế kỷ trước ở ĐBSCL, ban đầu chỉ nuôi

ở qui mô nhỏ, cung cấp thực phẩm phục vụ tiêu dùng tại chỗ; các hình thức nuôi chủ yếu là tận dụng

ao, mương vườn và nguồn thức ăn sẵn có Vào những năm cuối của thập niên 90 thế kỷ trước, tình hình nuôi cáTrađãcó những bước tiến triển mạnh; các doanh nghiệp chế biến đã tìm được thị trường xuất khẩu, các Viện nghiên cứu đã thành công trong việc đưa ra qui trình sản xuất con giống và qui trình nuôi thâm canh đạt năng suất cao, ngay sau đó đối tượng nuôi này được lan tỏa và đưa vào nuôi ở nhiều vùng miền trên cả nước

Trong giai đoạn phát triển này, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về cá Tra: Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản, tình hình dịch bệnh, khả năng thích ứng với các điêu kiện môi trường, các loại thức ăn và thành phần thức ăn liên quan đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng, Đây là những nghiên cứu rất có giá trị, là cơ sở để nghề nuôi cá tra phát triển mạnh, đạt được những kết quả như ngày nay

Việc chủ động sản xuất giống cá Tra nhân tạo, đáp ứng đủ nhu cầu nuôi đã mở ra khả năng sản xuất hàng hóa tập trung phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa

233 Tình hình phát triển nuôi cá Tra ỞĐBSCL

233.1 Diễn biến diện tích

Diện tích nuôi cá tra trong vùng liên tục được mở rộng và thực sự phát triển đại trà ở hầu hết tất cả các tỉnh thành của vùng ĐBSCL trong năm 2005 Vào năm 1997, cá Tra mới chỉ được nuôi ở tỉnh Tiền Giang và An Giang, với diện tích 1.290 ha; đến năm 2002 nuôi cá Tra đã phát triển ở 5 tỉnh với diện tích tăng lên 2.413,2 ha; tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích giai đoạn 1997-2002 là 13,34%/năm

Trang 10

Loại hình nuôi cá Tra

thâm canh trong ao, đăng

quầng (chủ yếu nuôi ao) phù

hợp với những un điểm về

đặc tính sinh học của cá Tra

và mang lại hiệu quả kinh tế

cho người nuôi.Với sự phát

triển nuôi tự phát, thiếu quy

hoạch nên diện tích liên tục

gia tăng Đen năm 2003,

diện tích nuôi là 2.792,4 ha,

tăng nhanh vào năm 2007 lên tới 5.429,7 ha; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2003 -

2007 là 18,1%/năm Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 11 năm (1997-2007) là 15,46%/năm, diện tích nuôi cá Tra năm 2007 tăng gấp 4,2 lần so với năm 1997 Đến tháng 7/2008 đã triển

khai nuôi cá Tra được 5.350,8 ha, gần bằng với diện tích nuôi năm 2007

2.32.2 Diễn biến sản lượng nuôi cá Tra

Sản lượng nuôi cá Tra ao, đăng quầng liên tục tăng trong giai đoạn 1997-2007, từ 23.250 tấn (năm 1997) lên 683.567tấn (năm 2007) và tăng gấp 29,4 lần Tốc độ tăng trưởng sản lượng trung bình giai đoạn 1997-2007 là 40,23%/năm, cao hơn rất nhiều so với tăng trưởng bình quân diện tích (15,46%/năm)

Hệ quả của việc phát triển nuôi cá Tra thiếu quy hoạch, kém bền vững trong năm 2007 và những tháng đầu năm 2008 dẫn đến sản lượng cá Tra trong vùng tiếp tục tăng nhanh vào 7 tháng đầu năm

2008 với sản lượng đạt được 833.564 tấn, tăng gấp 36 lần so với năm 1997

Theo ước tính thì sản lượng những tháng cuối năm 2008 sẽ còn tiếp tục tăng cao, tình trạng khủng hoảng thừa nguyên liệu cá Tra do mất cân đối cung cầu vẫn còn tiếp diễn Sản lượng cá Tra trong vùng thừa đến ngày 21/7/2008 ướcl 13.000 tấn

Theo số liệu thống kê được bổ sung từ các Sở NN & PTNT các tỉnh thành có nuôi cá Tra thâm canh đến tháng 7/2008 thì TP.Cần Thơ có sản lượng cao nhất là 260.000 tấn, chiếm 312% sản lượng toàn vùng, kế đến là tinh An Giang là 204.624 tấn, chiếm 24,5% và tinh Đồng Tháp là 150.994 tấn, chiếm 18,1% Nhìn chung, sản lượng 3 tinh này đóng góp đáng kể và chiếm 73,9% so tổng sản lượng; các tỉnh còn lại: Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang và Vĩnh Long chiếm tỷ trọng 26,1% so với toàn vùng Sản lượng nuôi lồng bè của các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang và TP cần Thơ năm 2003 đạt cao nhất là 63.479 tấn, chiếm 33% tổng sản lượng Đen 7/2008 chỉ có tỉnh An Giang và Vĩnh Long còn nuôi lồng bè, với sản lượng không đáng kể (2.608 tấn) chiếm 0,31 %

2.3.2.3 Diễn biến năng suất nuôi cá Tra

Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cộng với kinh nghiệm thực tiễn của người nuôi đã đưa năng suất nuôi cá Tra bình quân hàng năm trong vùng tăng liên tục trong giai đoạn 1997-2007 Năm 1997, năng suất nuôi cá ao, đăng quầng đạt 17,5tấn/ha tăng lên đến 125,5tấn/ha vào năm 2007 (tăng gấp 7,18 lần) Riêng 7 tháng đầu năm 2008, năng suất bình

i

6000 5000 4000 3000 2000 1000 0

Trang 11

quân cả vừng đạt 157 tấn/ha, đạt cao nhất so với các đối tượng nuôi nước ngọt đang nuôi hiện nay ở vùng ĐBSCL

Khu vực nuôi cá Tra có năng suất cao nhất hiện nay là ở các khu đất cồn, bãi đạt khoảng

300-400 tấn/ha Ngoài ra nuôi cá Tra ao, đăng quầng ven các sông lớn cũng có năng suất rất cao đạt từ 200-300tấn/ha Đối với loại hình nuôi ao sâu trong nội đồng thì có năng suất thấp hơn từ 30-80tấn/ha Các tỉnh có năng suất nuôi cá tra cao và ổn định trong vùng như: Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh năng suất nuôi dao động từ 190-300 tấn/ha

2.33 Các vùng thích họp phát triển nuôi cá tra ở ĐBSCL

Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên như: địa hình, địa chất, chế độ thủy văn, nguồn nước, các thông số môi trường nước phù hợp, vùng ĐBSCL dần đã khẳng định được thương hiệu sản phẩm cá Tra trên thế giới Dựa trên cơ sở đó sắp xếp các vùng nuôi cá Tra để làm tiêu chí cho việc đánh giá chất lượng thịt cá thông qua các yếu tố môi trường, nguồn nước và làm tiền đề cho việc bố trí phân cấp vừng quy hoạch theo các cấp độ vừng đất tối ưu để phát triển nuôi cá Tra

2.33.1 Nuôi cá Tra ao trên cồn, bãi (vùng nuôi thích họp cấp 1)

Vị trí các cù lao, cồn bãi thường nằm kẹp giữa các con sông lớn, nơi đây có cường độ trao đổi nước cao, có điều kiện môi trường tôt cho vào ao nuôi cá Tra Hiện tại những cồn bãi trong vùng rất hấp dẫn các nhà đầu tư Mô hình nuôi này mới được áp dụng vài năm gần đây ở các tỉnh An Giang, cần Thơ và Đồng Tháp Hiện nay các nhà đầu tư phát triển nuôi lan rộng đến các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và hầu hết các cồn bãi trong vùng

Diện tích các ao nuôi trên cồn thường rất lớn, dao động từ 3.000-10.000m2, tập trung trong khoảng từ 6.000-8.000m2 Các ao nuôi có độ sâu trung bình từ 3-5m, cá biệt có nơi ao được đào sâu đến 6-7m.Nuôi cá Tra cồn, bãi bồi sẽ tận dụng được nguồn nước lên xuống của thủy triều để thay nước cho ao nuôi mà không cần dừng máy bơm để cấp hay thoát nước Mỗi ao nuôi thường có 1 cống

hở có kích thước từ 2-4m để vừa cấp và thoát nước

Một năm sản xuất 2 vụ (mỗi vụ 6 tháng, vụ 1 bắt đầu từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau và vụ 2 bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 12) Mật độ cá thả từ 30-50 con/m2, tùy theo cỡ giống (nếu

cỡ l,2cm thì thả mật độ cao, nếu giống cỡ 2,5cm thì thả mật độ thấp) Nước thay hàng ngày theo thủy triều, đảm bảo nước trong ao không quá ô nhiễm để cá sinh trưởng và phát triển 100% các ao nuôi hiện nay không có ao lắng và ao xử lý nước cấp và nước thải, nước thay ra đổ trực tiếp ra sông Hiện nay người nuôi chỉ sử dụng thức ăn công nghiệp nên hạn chế được nhân công, giảm thiểu khối lượng chất thải rắn đổ ra môi trường; cân đối thành phần dinh dưỡng, nâng cao chất lượng thịt cá

Năng suất nuôi thường đạt rất cao dao động từ 200 - 400tấn/ha/vụ, sau 6 tháng nuôi cỡ cá thu hoạch đạt l,0-l,2kg/con Cá tra nuôi ở mô hình này thường cho sản phẩm thịt cá trang, đáp ứng yêu cầu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến xuất khẩu sang các thị trường khó tính

2.33.2 Nuôi cá Tra đăng quầng (vùng nuôi thích hợp cấp 2)

Nuôi đăng quầng thường ở những con sông nhánh tốc độ dòng chảy thấp, hoặc nằm khuất trong các khúc quanh của các con sông Hiện nay mô hình này còn phát triển nuôi giữa 2 cồn, bãi có dòng chảy vừa phải, chắn đăng lưới nối 2 cồn theo hướng chảy dòng sông Mô hình nuôi đăng quầng xuất hiện ở hầu hết các tình nằm dọc sông Tiền và sông Hậu

Vùng nuôi đăng quầng thường nằm ở đuôi các cồn, bãi, khoảng cách giữa các đăng

Trang 12

quầng thường 200m Nơi sâu nhất của đăng quầng (phía ngoài khoảng 4m khi nước lên và 3m khi nước xuống) Năm 2005, diện tích nuôi đăng quầng ở các tỉnh không lớn, khoảng 62 ha, trong đó An Giang 45ha và Đồng Tháp 17ha Trung bình mỗi đăng khoảng lO.OOOm2

Chi phí xây dựng đăng quầng thấp hơn so với đào ao, không phải đầu tư cống bọng, máy bơm nước,

Nuôi đăng quầng phải sử dụng các loại giống có kích cỡ lớn (2,5-3,0cm), do đó một năm có thể sản xuất được 2 vụ Mật độ thả giống dao động từ 25 -35 con/m2, tùy theo điều kiện cụ thể của các hộ nuôi

Giai đoạn đầu (1997- 2004) sử dụng chủ yếu là thức ăn tự chế biến (80%), bao gồm các loại

cá tươi, bột cá, bột ngô, , thức ăn công nghiệp được ít hộ sử dụng do giá thành sản xuất cao hơn thức

ẩn tự chế biến Đến thời điểm hiện nay hầu hết diện tích nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp Năng suất nuôi đăng quầng trung hình từ 100-250tấn/ha/vụ; cá thu hoạch có kích cỡ từ 1,0-1,2kg/con Cá được tiêu thụ cho các cơ sở chế biến để phục vụ chế biến xuất khẩu

2.33.3 Nuôi cá Tra ao ven các sông lớn (vùng nuôi thích nghỉ cấp 2) và ven các sông nhánh, kênh trục (vùng nuôi thích nghi cấp 3)

Đối với mô hình nuôi cá Tra ao ven các tuyến sông lớn (sông Tiền, sông Hậu), các ao nuôi thường được bố trí cặp các sông để thuận tiện cho việc cấp thoát nước, vận chuyển hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm Các ao nuôi có diện tích phổ biến dao động từ 2.000-7.OOOm2; độ sâu ao nuôi từ 3-5m, trung bình 4m Tùy thuộc vào điều kiện địa hình, cỡ giống thả, giá cả thị trường vùng nuôi này trung bình mỗi năm từ 1,5-2 vụ nuôi Tùy vị trí khác nhau mà ao được bố trí 1 cống thoát nước và 01 cống cấp nước, hoặc sử dụng máy bơm để cấp nước Thường nước cấp, thoát tự động theo sự lên xuống của thủy triều, có nhiều vùng nước cấp bằng máy bơm Công suất máy bơm lớn nhỏ tùy thuộc vào diện tích ao nuôi, trung bình 15cv/máy bơm Mật độ thả nuôi dao động trong khoảng 20-30 con/m2, tùy thuộc vào hình thức sản xuất và cỡ giống thả (nếu giống lớn thì thả mật độ thấp hơn và ngược lại) Giống thả thường có kích thước từ l,2cm (giống nhỏ) hoặc 2,5cm (giống lớn) Thời gian nuôi từ 5-7 tháng cũng tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc và cỡ giống thả nuôi Cỡ cá thu hoạch đạt 0,9-l,lkg/con; năng suất nuôi từ 80-200 tấn/ha/vụ

Đối với mô hình nuôi cá ao ven các sông nhánh, kênh trục thường nằm sâu trong nội đồng nên khả năng trao đổi nước hạn chế Các ao nuôi thường được đào gần các sông, kênh này; diện tích

ao dao động từ 1.000-5.000m2, độ sâu ao dao động từ 2-4m, trung bình 3m Mật độ và thời vụ thả nuôi giống như nuôi cá tra ở vùng 2 Năng suất nuôi từ 50-150 tấn/ha/vụ

Thức ăn công nghiệp được sử dụng trong suốt quá trình nuôi, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR

= 1,4 -1,6) Tỉ lệ thức ăn cho cá giảm dần so với trọng lượng cá trong ao

Chế độ thay nước thay đổi theo thời gian nuôi, do mật độ nuôi quá lớn nên môi trường nước trong ao rất nhanh bị nhiễm bẩn Tỷ lệ nước thay và tần suất thay nước trong ao cũng tăng dần theo thời gian nuôi Giai đoạn đầu (mới thả cá) 5-7 ngày thay nước một lần, thay 15% nước trong ao nuôi, đến cuối vụ tỉ lệ thay nước là 30% lượng nước trong ao và mỗi ngày thay nước một lần

Trang 13

2.4 Dự BÁO VỀ BIẾN ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÙNG

Vấn đề được quan tâm nhiều nhất chính là môi trường nước trên các sông rạch trong khu vực Các nguồn nước trong vùng bị chi phối bởi nước từ thượng nguồn đổ về, nước mưa và nước ngầm; chất lượng nước cũng bị chi phối bởi chất lượng nước thượng nguồn, xả thải của sinh hoạt và các hoạt động kinh tế khác trong vùng Có thể nói, chất lượng môi trường nước đang bị ảnh hưởng và tác động của toàn bộ các hoạt động sản xuất trong và ngoài vùng (vùng lân cận)

Với xu hướng phát triển nhanh, mạnh của các ngành kinh tế như hiện nay thì trong một tương lai không xa, nếu công tác giám sát xả thải và quản lý các tác động đến môi trường không được quan tâm đúng mức thì tình trạng ô nhiễm sẽ khó tránh khỏi và lúc đó tác động ngược lại của nó đến sản xuất và đời sống của người dân sẽ gây ra những thiệt hại mà chúng ta có thể sẽ không lường trước được

Như vậy có thể thấy, sẽ có 3 vấn đề rất lớn cần phải quan tâm để hướng sản xuất bền vững

2.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên ảnh hưỏmg đến phát triển nuôi cá tra vùng ĐBSCL

Điều kiện tự nhiên vùng ĐBSCL có những thuận lợi và khó khăn để phát triển nuôi cá Tra như sau:

Hơn 30% diện tích của ĐBSCL là đất phù sa, được xem là vùng đất thích nghi cao đối với việc nuôi cá Tra Loại đất này phân bố tập trung ở các vùng dọc sông Hậu, sông Tiền, thuộc địa phận các tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, cần Thơ, Bến Tre, Vĩnh Long

Nguồn nước cấp cho nuôi cá Tra vùng ĐBSCL được lấy chủ yếu từ sông Tiền, sông Hậu và

hệ thống kênh rạch nhánh của 2 con sông này Đối với việc phát triển nuôi cá Tra cần chú ý 2 đặc điểm quan trọng là chế độ triều và sự nhiễm mặn

Chế độ triều hay biên độ dao động của thủy triều tác động cả về mặt môi trường nước lẫn mặt kinh tế, đặc biệt trong nuôi cá tra thịt trắng Biên độ triều càng lớn, khả năng tải chất thải của sông-kênh-rạch càng cao, đồng thời giảm được đáng kể chi phí cho việc cấp và thoát nước cho ao nuôi cá Tra

Tuy nhiên, có một sự ngăn cản cho sự phát triển đối tượng này cho các vùng ven biển dọc theo các nhánh sông của hệ thống sông Cửu Long, đó là sự xâm nhập mặn Độ mặn lớn hơn 4%0 được xem là không thích hợp cho việc phát triển đối tượng này Các vùng dọc theo các nhánh hệ thống sông Cửu Long cách biển khoảng 20-35km sẽ có đường đẳng mặn 4%0 quanh năm, cá biệt có năm có thể lấn sâu đến 50-60km

Trang 14

Vùng có nguồn nước nhiễm mặn cao vượt quá ngưỡng thích nghi của cá Tra thì sẽ bất lợi cho việc phát triển nuôi đối tượng này Nhưng sự xâm nhập mặn này, đối với các vùng nhiễm mặn nhẹ (dưới ngưỡng tối ưu) hoặc vùng có độ mặn cao vào mùa kiệt nhưng lại ngọt trong mùa lũ, lại là vùng

có ưu thế hơn trong việc nuôi cá Tra, so với các vùng ngọt hoàn toàn phía thượng lưu sông Tiền, sông Hậu Ưu thế này được thể hiện qua việc ít bị dịch bệnh ở đối tượng cá Tra, do môi trường nước mặn một thời gian có khả năng gây kìm hãm nhiều tác nhân gây bệnh cho đối tượng cá nước ngọt

Ngoài các yếu tố điều kiện tự nhiên tác động chính lên việc phát triển nuôi cá Tra như trên, ĐBSCL còn đối mặt với một số khó khăn như: tình trạng xói lở đất dọc 2 con sông Hậu, sông Tiền

do sự thay đổi dòng chảy, gây thiệt hại cho các công trình thủy sản, nhà ở; chất lượng môi trường nước có chiều hướng giảm do sự phát triển ngành công nghiệp, cũng như sự phát triển quá mức của ngành thủy sản trong thời gian qua Các yếu tố khó khăn này, nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời, có nguy cơ trở thành các tác nhân chính gây kìm hãm sự phát triển nuôi đối tượng có giá trị kinh tế cao này

2.42 Tác động của Cá Tra đối với môi trường nước

Môi trường nuôi bị xấu dần: Nước sông rạch gần các ao nuôi cá có mật độ dày (trên 40 cá basa/m2) đều có độ đục cao, nồng độ oxy hòa tan thấp, sự hiện diện của tảo khá phổ biến, mùi nướccó hôi và vị nước tanh Có nhiều tháng trong năm, người dân ở đây không thể lấy nước cho ăn uống được

Dịch bệnh phát sinh liên tục: Bệnh cá xảy ra thường xuyên hơn và dịch bệnh dễ dàng nhanh chóng lan rộng trên diện rộng nhất là ở các thời điểm cuối mùa mưa và đầu tháng 1-2 hằng năm Đầu năm 2007, tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, cần Thơ, Tiền Giang tỉ lệ cá hao hụt cao hơn 30 - 40% so với cùng kỳ năm trước (Thiện Khiêm, 2006) Nguyên nhân một phần có thời tiết thay đổi và một phần lớn do ô nhiễm nguồn nước

Các nguy cơ ô nhiễm thể hiện rất rõ ở các biểu hiện:

Độ đục: Độ đục vượt quá giới hạn về chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản, 100 NTU

(Theo Boyd, 1998)

TSS: TSS cuối vụ nuôi vượt quá giới hạn mức B của TCVN 5942:1995 (100 mg/L) và

Mức F1 của TCVN 6984:2001 (90 mg/L)

Không được phép thải ra sông có Q<200m3/s

TAN: TAN cao hơn 1,5 mg/L, NH3 có thể vượt mức B của TCVN 5942:1995 và

TCVN 5945:1995 (1 mg/L) khi pH>9 vào giữa trưa

Không được phép thải ra khu vực nước dùng cho mục đích sinh hoạt

Nitrate: Nitrate cuối vụ nuôi vượt quá giới hạn chất lượng nước dùng cho nuôi

Trang 15

TP: TP từ giữa vụ đã vượt giới hạn chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản (0,5 mg/L)

TP cuối vụ nuôi vượt quá mức c của TCVN 5945:2005 và TCVN 6984:2001 (8 mg/L) Nước ao nuôi không được thải trực tiếp ra sông rạch

Bảng 1: Dinh dưỡng tích lũy trong bùn đáy

Yếu tố Ao nuôi Kênh cấp nước Kênh lớn Sông Cửu Long

Tỉ lệ tích lũy vật chất hữu cơ, TN và TP trong bùn đáy ao cá Tra thâm canh rất cao, gấp 5- 6

so với bùn đáy của sông Cửu Long

Bảng 2: Cân bằng dinh dưỡng trong nuôi cá Tra (Tính trên 1 ha)

Sản lượng cá Tra năm 2007 ước tính là 1,5 triệu tấn, vậy lượng chất thải tương ứng thải ra môi trường khoảng:

• 1 triệu tấn vật chất khô, trong đó chứa

• 900.000 tấn chất hữu cơ

• 29.000 tấn N

• 9.500 tấn p

Khoảng 10% lượng chất thải hòa tan vào trong nước và 90% lắng thụ trong bùn

Như vậy, ước tính trong năm 2007 nghề nuôi cá Tra đã thải ra môi trường khoảng:

• 250-300 triệu m3 nước thải

• 8-9 triệu tấn bùn thải

Ngày đăng: 08/03/2017, 19:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Cân bằng dinh dưỡng trong nuôi cá Tra (Tính trên 1 ha) - Xây dựng vùng nuôi cá tra sinh thái nhằm phát triển bền vững, giảm ô nhiễm môi trường, đề xuất hướng quy hoạch nâng cao giá trị kinh tế , chất lượng sản phẩm cho nông dân vùng ĐBSCL
Bảng 2 Cân bằng dinh dưỡng trong nuôi cá Tra (Tính trên 1 ha) (Trang 15)
Bảng 1: Dinh dưỡng tích lũy trong bùn đáy - Xây dựng vùng nuôi cá tra sinh thái nhằm phát triển bền vững, giảm ô nhiễm môi trường, đề xuất hướng quy hoạch nâng cao giá trị kinh tế , chất lượng sản phẩm cho nông dân vùng ĐBSCL
Bảng 1 Dinh dưỡng tích lũy trong bùn đáy (Trang 15)
Bảng 3: Các chỉ tiêu chính của các phương án QH đến năm 2010, 2015 và 2020 - Xây dựng vùng nuôi cá tra sinh thái nhằm phát triển bền vững, giảm ô nhiễm môi trường, đề xuất hướng quy hoạch nâng cao giá trị kinh tế , chất lượng sản phẩm cho nông dân vùng ĐBSCL
Bảng 3 Các chỉ tiêu chính của các phương án QH đến năm 2010, 2015 và 2020 (Trang 18)
An Giang, với 2.500ha, chiếm 19,23% diện tích nuôi của vùng, (xem phụ lục 5, bảng 5.1) - Xây dựng vùng nuôi cá tra sinh thái nhằm phát triển bền vững, giảm ô nhiễm môi trường, đề xuất hướng quy hoạch nâng cao giá trị kinh tế , chất lượng sản phẩm cho nông dân vùng ĐBSCL
n Giang, với 2.500ha, chiếm 19,23% diện tích nuôi của vùng, (xem phụ lục 5, bảng 5.1) (Trang 19)
Bảng 4: Bảng so sánh một số phương pháp xử lý nước trong ao cá Tra - Xây dựng vùng nuôi cá tra sinh thái nhằm phát triển bền vững, giảm ô nhiễm môi trường, đề xuất hướng quy hoạch nâng cao giá trị kinh tế , chất lượng sản phẩm cho nông dân vùng ĐBSCL
Bảng 4 Bảng so sánh một số phương pháp xử lý nước trong ao cá Tra (Trang 25)
Bảng 5: Ket quả phân tích mẫu nước. - Xây dựng vùng nuôi cá tra sinh thái nhằm phát triển bền vững, giảm ô nhiễm môi trường, đề xuất hướng quy hoạch nâng cao giá trị kinh tế , chất lượng sản phẩm cho nông dân vùng ĐBSCL
Bảng 5 Ket quả phân tích mẫu nước (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w