1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá

52 497 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 755,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đó, sản phẩm phân hữu cơ dạng lỏng được sản xuất và đem thử nghiệm ngoài đồng ruộng để kiểm tra hiệu quả của phân trên cây cải xanh.. Qua đó, các điều kiện ảnh hưởng tới papain đã đư

Trang 1

1

TÁC GIẢ: Trương Công Phát

TÓM TẮT Hiện nay, việc sử dụng phân hữu cơ ngày càng được chú trọng Nước ta có điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp hữu cơ như: nguồn enzyme thực vật phong phú và lượng phụ phẩm nông nghiệp dồi dào Trên cơ sở đó, đề tài “Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ thô (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá” được thực hiện

Chúng tôi tiến hành khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thủy phân như: tỉ lệ enzyme và cơ chất, lượng nước bổ sung, nhiệt độ và thời gian thủy phân Sau đó, sản phẩm phân hữu cơ dạng lỏng được sản xuất và đem thử nghiệm ngoài đồng ruộng để kiểm tra hiệu quả của phân trên cây cải xanh

Điều kiện tối ưu để sản xuất phân hữu cơ được xác định là tỉ lệ mủ đu đủ : cơ chất cá tra

là 0,18 g mủ : 30 g cơ chất (0,6 %), bổ sung 100 % nước, nhiệt độ thủy phân 55°c trong 20 giờ

cho sản phẩm phân tốt nhất

Sau khi xây dựng qui trình thủy phân, chúng tôi tiến hành sản xuất phân hữu cơ dạng lỏng Kết quả thử nghiệm trên cây cải xanh cho thấy nồng độ sử dụng phân thích hợp là 7 %, cây cải xanh phát triển tốt và hàm lượng nitrate an toàn cho người tiêu dùng

Ngoài ra, nhờ sử dụng nguồn nguyên liệu phụ phẩm nên giá thành của phân thấp hơn các sản phẩm cùng loại hơn thị trường

Như vậy, việc sử dụng papain từ mủ đu đủ thủy phân cá tra chết vừa giải quyết được vấn đề môi trường vừa mang lại lợi ích kinh tế cho người nuôi cá Bên cạnh đó, đề tài là cơ sở cho các nghiên cứu khác về sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm giàu cho đất nước

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Cùng với sự gia tăng dân số nhanh chóng, con người đang đứng trước thách thức to lớn

về vấn đề lương thực thực phẩm Sự tăng năng suất cũng đem đến cho con người nhiều vấn đề

về tài nguyên và môi trường Việc sử dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật vô tội vạ đang làm ảnh hưởng đến môi trường và gây lãng phí nguồn tài nguyên

Việc sử dụng phân hữu cơ đang dần tháo gỡ các khó khăn trên Hiện nay, thị trường phân hữu cơ đang phát triển rầm rộ và có khả năng thay thế dần nguồn phân vô cơ đang dần bị cạn kiệt trong tương lai Trong đó, phân hữu cơ sinh học có triển vọng rất lớn Lĩnh vực này đang được rất nhiều cơ quan và công ty trong và ngoài nước quan tâm và đầu tư nghiên cứu

Bên cạnh đó, nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới và có thế mạnh về nông nghiệp Nguồn enzyme thực vật phong phú và sẵn có là điều kiện thuận lợi cho chúng ta phát triển lĩnh vực phân hữu cơ sinh học Cây đu đủ là loại cây rất phổ biến, dễ trồng và cho năng suất cao Trung bình 1 kg mủ chứa khoảng 200 g papain, 1 cây đu đủ cho khoảng 0,45 kg mủ đu đủ (Nguyễn Tiến Thắng, 2004) Hoạt tính của papain lại cao (91,12 TU/mg - Nguyễn Thị Xuân Dung, 2005) nên đây là nguồn enzyme phong phú và rẻ tiền

Hiện nay, tại đồng bằng sông Cửu Long, sản lượng cá tra được nuôi trồng rất lớn Năm

2008, nước ta xuất khẩu 640.000 tấn cá tra cá basa đạt giá trị 1,45 tỉ USD Việt Nam đang nhắm đến sản xuất khoảng 1,5 triệu tấn cá tra, cá basa năm 2009 (Helga Josupeit, 2009)

Tuy nhiên, thành tựu trên đang đặt ra cho đồng bằng sông Cửu Long vấn nạn về môi trường Thử làm một phép tính, với 1 triệu tấn cá tra, tỷ lệ phi lê của cá chỉ chiếm 30%, như vậy

có khoảng 700.000 tấn phụ phẩm từ các nhà máy chế biến, đấy là chưa kể tỷ lệ nuôi sống đến lúc khai thác thường chỉ đạt 70% tương đương với 428.500 tấn cá chết Nếu biết tận dụng hợp

lý nó sẽ đem lại nguồn thu rất lớn từ lượng phế phụ phẩm này, ước đạt 4.000 tỷđồng/năm (Phương Uyên, 2007)

Hiện nay, công ty cổ phần Nông Nghiệp Mekong đã sản xuất thành công phân hữu cơ sinh học từ xác cá da trơn Các phế phụ phẩm trong các nhà máy chế biến thủy sản như vây, vảy, máu cá v.v và xác cá tra, cá basa nguyên con được xay nhuyễn và phân hủy bằng men chuyên dụng Các cơ chất trên được phối trộn theo tỉ lệ thích hợp để tạo nên các dòng sản phẩm chuyên dụng cho từng nhóm cây trồng như cây lúa, cây

Trang 3

3 rau màu, cây công nghiệp, cây ăn trái v.v Tuy nhiên, với quy trình yếm khí, thời gian thủy phân lâu nên năng suất chưa cao

Năm 2005, Nguyễn Thị Xuân Dung đã thực hiện đề tài “Sử dụng enzyme papain để thủy phân bánh dầu đậu nành và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng lên quá trình thủy phân” Qua đó, các điều kiện ảnh hưởng tới papain đã được xác định và đây là cơ sở để sử dụng papain thủy phân nguồn cơ chất sẵn có để sản xuất phân hữu cơ

Dựa trên điều kiện thực tế đó, chứng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sử dụng

mủ đu đủ thô (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá”

Để tối ưu hóa quá trình sản xuất phân hữu cơ, chúng tôi tiến hành khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thủy phân như: tỉ lệ enzyme và cơ chất, lượng nước bổ sung, nhiệt độ và thời gian thủy phân Sau đó, sản phẩm phân hữu cơ dạng lỏng được sản xuất và đem thử nghiệm ngoài đồng ruộng để kiểm tra hiệu quả của phân trên rau

Điều kiện tối ưu để sản xuất phân hữu cơ được xác định là tỉ lệ mủ đu đủ : cơ chất cá tra

là 0,18 g mủ : 30 g cơ chất (0,6 %), bổ sung 100 % nước, nhiệt độ thủy phân 55 °c trong 20 giờ

cho sản phẩm phân tốt nhất Với các điều kiện này, việc sản xuất phân hữu cơ không những cho

ra sản phẩm chất lượng cao mà còn tiết kiệm nguyên liệu, từ đó hạ giá thành sản xuất Sản phẩm

sẽ có tính cạnh tranh hơn trên thị trường

Sau khi xây dựng qui trình thủy phân, chứng tôi tiến hành sản xuất phân hữu cơ dạng

lỏng Kết quả thử nghiệm trên cây cải xanh cho thấy nồng độ sử dụng phân thích hợp là 7 %,

cây cải xanh phát triển tốt và hàm lượng nitrate an toàn cho người tiêu dùng 2 Mục tiêu - Phương pháp 2.1 Mục tiêu của đề tài

- Xây dựng quy trình tối ưu cho việc sản xuất chế phẩm phân hữu cơ sinh học sử dụng enzyme papain thô thủy phân cá tra chết

- Xác định hiệu lực của loại phân này thông qua thử nghiệm trên cây cải xanh

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Vật liệu sử dụng trong nghiên cứu

Cá tra chết thu tại chợ Linh Trung, Thủ Đức, cá để nguyên con xay nhỏ, cho vào các túi

ni lông nhỏ cho vào tủ lạnh trữ trong tủ -20°c, khi nào cần dùng đem ra rã đông một lượng vừa

đủ dùng

Trang 4

Enzyme papain thô từ mủ đu đủ được thu nhận bằng cách dùng dao vạch từ 5 - 7 rảnh, chiều sâu 1-2 mm lên bề mặt dọc trái đu đủ xanh, mủ sẽ chảy ra, thu mủ vào ống nhựa, trữ lạnh Sau đó sấy khô trong tủ sấy ở 55°c đến ẩm độ của nhựa khô đạt < 8 %, nghiền mịn, rồi trữ mẫu

ở - 20°c

Hạt giống cải xanh do Công ty Trang Nông cung cấp

Một số loại phân hữu cơ trên thị trường như:

- Phân bón lá Toponsu của Công ty TNHH sản xuất Hưng Quốc Bảo Thành phần dinh dưỡng: N: 15 %; P: 15 %, các nguyên tố trung và vi lượng 4 %

- Phân Jumb Start dạng lỏng 500 ml Thành phần dinh dưỡng: N: 0,1 %; P2O5: 0,025

%; K20: 0,1 %; Mg: 0,05 %; Zn: 0,05 %, Fe: 0,1 % Địa chỉ cung cấp: 67, Phạm Thành Hổ, Q.6,

TP Hồ Chí Minh

- Phân HPRC của Viện Sinh Học Nhiệt Đới - Xưởng sản xuất sinh học Phường Thảnh

Lộc, Q.12, TP Hồ Chí Minh Thành phần dinh dưỡng: N: 30 %; p205: 10 %; K20: 10 %

2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp:

- Xác định đạm, lân, kali tổng số, đạm formol, đạm amoniac để xác định thành phần của nguyên liệu và hiệu quả của quá trình thủy phân

- Xác định hoạt tính enzyme để đánh giá khả năng thủy phân của enzyme

- Xác định NO3" để đánh giá dư lượng NO3" còn trong cây

- Xác định NH4+ để xác định hàm lượng NH4+ trong sản phẩm phân hữu cơ để cây có thể sử dụng được

- Phương pháp lấy mẫu phân tích: giúp quá trình lấy mẫu cây trồng chính xác, hạn chế sai số trong quá trình phân tích mẫu

2.2.2.1 Định lượng nitơ tổng số bằng phương pháp Kjeldhal

Nguyên tắc Tiêu chuẩn này tiến hành dựa theo phương pháp Kjeldhal Chuyển toàn bộ

nitơ trong mẫu thành dạng amon sulfat, giải phóng NH3 bằng kiềm, hấp thu NH3 bằng axit boric

và xác định N bằng phương pháp trung hòa dung dịch chuẩn HC1 hoặc H2S04

Cách tiến hành

Cân 1 g (hoặc 1 ml dung dịch) mẫu cho vào ống đốt, thêm 2 g hỗn hợp muối và 25 ml

H2S04 đậm đặc 5 giọt parafin, cho vào máy phá mẫu, tiến hành phá mẫu cho đến khi dung dịch

có màu trong suốt, để nguội và thêm khoảng 50 ml nước

Trang 5

5 Tiến hành cất đạm: lấp ống đốt vào máy cất đạm khoảng 350 giây, NH= được hấp thu bằng 50 ml dung dịch axit boric 5 % đã cho thuốc thử bromocresol

Định lượng NH3 bằng cách chuẩn độ với HC1 0,25 N đến khi chuyển từ màu xanh sang màu tía nhạt

Cách tính % khối lượng N trong mẫu

( a-b) X N X 0,01401 X 100 N % =

- -

m Trong đó: a: thể tích dung dịch axit chuẩn sử dụng cho mẫu thử (ml)

b: thể tích dung dịch axit chuẩn sử dụng cho mẫu trắng (ml)

N:nồng độ đương lượng axit chuẩn, m: khối lượng mẫu (g)

0,01401 : mili đương lượng gam N (g)

2.2.2.2 Phương pháp xác định nitrogen formol theo phương pháp Sorensen

Nguyên tắc Trong phân tử amino axit, peptite, protein có một đầu chức là carboxylic

(-COOH) xem như là một axit, còn đầu kia là chức amin ( -NH2) xem như là một bazơ; các amin

tự do cũng như ammoniac khi hòa tan thường ở dạng ammonium (NH4+) kết hợp với một anión thường làclorua, sulfate, phosphate v.v

Như vậy khi cho tác dụng các phân tử “phi protein” này với formol, formol sẽ tác dụng lên nhỏm -NH2 để tạo thành phức chất metylen

Trung hòa formol l Á: lấy 500 ml formol V2, thêm vào đó vài giọt thuốc thử phenolphtalein,

cho NaOH 0,1 N từng giọt cho tới khi dung dịch chuyển màu hồng nhạt (pH = 9), ta được formol

V2 đã trung hòa

Hút 10 ml dung dịch nguyên liệu đã pha loãng 10 lần, thêm vào đó 10 ml dung dịch formol

Vi đã trung hòa và vài giọt phenolphtalein, lắc đều để phản ứng xảy ra hoàn toàn, sau đó định

phân bằng NaOH 0,1 N cho đến khi dung dịch chuyển sang màu hồng

Trang 6

Cách tính số gam N có trong 1 lít nguyên liệu là: Np = 1,4 X X X (Vt - Vo)

Trong đó: Vo: thể tích NaOH trung bình của 3 lần thử không

Vt: thể tíchNaOH trung bình của 3 lần thử thật, x: là

hệ số hiệu chinh của dung dịch NaOH 0,1 N

2.2.2.3 Phưong pháp xác định NH3 bằng hệ thống máy Kjeldhal

Nguyên tắc Nitrogen NH3 thường có tính kiềm yếu, vì vậy khi cho tác dụng với Magie oxit (MgO) thì những loại nitrogen này sẽ bị đuổi khỏi dung dịch, nên chứng sẽ bị lôi cuốn theo hơi nước qua một bình đựng lượng thừa axit Sau đó, đem định phân lượng axit dư cho phép ta xác định được loại đạm này (N-NH3)

2NH4+ + Mg(OH)2 - ► 2NH3+2H2 Ơ + Mg2+

2NH3 + H2S04 - *► (NH4)2S04

Cách tiến hành: Cân chính xác 1 g ( 1 ml) nguyên liệu cho vào ống thủy tinh rồi cho 20

ml nước cất và vài giọt phenolphtalein, thêm MgO đậy nắp lắc đều đến khi có màu hông nhạt, cho ống thủy tinh vào máy cất đạm, hơi nước được chưng cất sang một bình tam giác chứa lOml dung dịch H2S04 0,1N và vài giọt thuốc thử Tashiro (0,1 g methyl red + 0,2g methylen blue pha trong 100 ml ethanol 96%) Chưng cất trong khoảng 350 giây, dừng giấy quỳ thử xem còn NH3 không.Định phân lượng axit dư bằng NaOH đã được hiệu chỉnh X X 0,1 từ màu tím sang màu xanh ve chai

Cách tính: số gam ammoniac trong 1 lít nguyên liệu:

N-NH3 = 1,4 x AV x x/m (g/1) Trong đó: AV = (Vt - Vo) là lượng NaOH tương đương với lượng đạm phóng thích đã được hấp thu trong H2S04

Vo: là thể tíchNaOH trung bình của 3 lần thử không

Vt: là thể tích NaOH trung bình của 3 lần thử thật, m:

khối lượng nguyên liệu đem phân tích, x: hệ số hiệu chỉnh của dung dịch NaOH 0,1N

2.2.2.4 Xác định hoạt tính protease bằng phưong pháp Anson

Nguyên tắc Casein bị phân giải trong môi trường kiềm dưới tác dụng của

protease tạo sản phẩm là các đoạn peptide ngắn hòa tan trong tricloroacetic acid (TCA),

xác định lượng tyrosine và tryptophan hòa tan bởi thuốc thử Folin

Trang 7

Lăc mạnh, sau 10 phút đo OD ở bước sóng 660 nm

Ống số 6 là ống kiểm chứng (KC), các ống còn lại là ống thí nghiệm (TN) Vẽ đường chuẩn tyrosine tương quan tương quan giữa lượng tyrosine (pM) và ÀOD (AOD = ODTN - ODKC )

Bảng 2.2 Xác định lượng tyrosine trong dung dịch nghiên cứu

Đẻ yên 30 phút, lọc lấy dịch bên dưới

Lấy 2 ống nghiệm mới khác,cho vào ống thứ nhất 5ml dịch lọc của ống thử thật và cho vào ống thứ hai 5ml dịch lọc cùa ống thử không

Trang 8

Tiếp tục thêm và mỗi ống 10ml NaOH 0,5 N và 3 ml thuốc thử Folin, lắc mạnh, sau 10 phút đo OD ở bước sóng 660 nm ÀOD = ODTT - ODTK, sau đó dựa vào đồ thị chuẩn suy ra được pM tyrosine

Cách tính

Định nghĩa đơn vị Anson: một đơn vị Anson là lượng enzyme tối thiểu trong điều kiện thí

nghiệm ( 35,5°c, pH 7,6 v.v) thủy phân casein trong 1 phút tạo thành sản phẩm hòa tan trong

TCA, phản ứng với thuốc thử Folin cho ta độ hấp thu OD ở bước sóng 660 nm tương ứng với 1

pM tyrosine trong đường chuẩn

t : thời gian thủy phân (phút)

m : khối lượng mẫu enzyme đem đi xác định hoạt tính (g)

L: độ pha loãng enzyme

pM tyrosine: lượng pM tyrosine trong V (ml) suy ra từ đường chuẩn

2.2.2.5 Phương pháp xác định kali tổng số (10 TCN 360-99)

Nguyên tắc Hòa tan các dạng Kali hữu hiệu trong phân bằng dung dịch HC1 0,05 N Xác

định hàm lượng kali trong dung dịch bằng máy quang kế ngọn lửa

Cách tiến hành

Cân chính xác khối lượng mẫu đã chuẩn bị giống như phương pháp xác định lân tổng số cho vào bình tam giác có dung tích 200-250 ml

Cho thêm 50 ml dung dịch HC1 0,05 N, lắc 30 phút sau đó lọc

Rửa cặn trên phễu 5 lần, mỗi lần 10ml dung dịch HC1 0,05 N

Gom dung dịch lọc và dung dịch rửa vào bình định mức 200 ml và thêm dung dịch HC1 0,05 N đến vạch định mức

Làm tương tự với mẫu trắng

Lập thang tiêu chuẩn kali:

Sử dụng các bình định mức 200 ml, lần lượt cho vào các bình định mức số ml dung dịch tiêu chuẩn 1000 ppm K và số ml dung dịch HC1 IN theo bảng sau, rồi cho nước đến vạch định mức

Trang 9

Lập đồ thị đường chuẩn tương quan giữa nồng độ kali trong dung dịch tiêu chuẩn và số

đo trên máy, căn cứ vào đò thị chuẩn tính nồng độ kali trong mẫu

Trang 10

Đe nguội bình và cho thêm 10-20 ml hỗn hợp cường thủy, đun nhẹ một cách cẩn thận cho đến khi dung dịch không có màu hoặc gần như hết màu và trong bình xuất hiện khói trắng đậm đặc

Sau khi đốt xong, để hơi nguội thêm vào 50 ml nước cất và đun sôi ít phút

Chuyển toàn bộ dung dịch và cặn trong bình công phá sang bình định mức 200ml, thêm nước cất đến vạch 200 ml, lắc đều hoặc lọc để lắng trong

Chuẩn bị các dung dịch tiêu chuẩn có nồng độ 0,4 mg/ml - 1,0 mg P205/ml Chuẩn bị 7 bình tam giác 100 ml và lần lượt cho vào mỗi bình số ml dung dịch tiêu chuẩn 4 mg p205/ml như bảng 2.4

Bảng 2.4 Xây dựng đường chuẩn p205

Sau đó thêm nước đến vạch và lắc đều

Xây dựng thang tiêu chuẩn: chuẩn bị 7 bình định mức 100 ml Dừng pipet lần lượt lấy 5

ml dung dịch của 7 dung dịch tiêu chuẩn bị cho vào 7 bình định mức theo thứ tự Thêm vào mỗi bình 45 ml nước cất và trong vòng 5 phút thêm 20 ml dung dịch molypdovanadat và thêm nước cất đến vạch, lắc đều, để yên 10 phút

Đo màu trên quang phổ tại bước sóng 400-420 nm

Lập đồ thị chuẩn tương quan giữa số đo trên máy với lượng chứa P205 trong các bình tiêu chuẩn

Hút VI dung dịch mẫu có tiến hành tạo màu và đo trên máy sao cho lượng P205 trong đồ thị chuẩn

Trang 11

Trong đó: mt: Khối lượng p205 xác định được trong phần trích so màu (mg)

Thể tích dung dịch mẫu trích để so màu (ml) m:

Khối lượng mẫu cân phân tích (g)

V: Thể tích toàn bộ dung dịch mẫu (ml)

1000: đổi mg thành g 100: hệ sô tính %

2.2.2.7 Xác định hàm lượng NO3' bằng phương pháp Grandvan - Liaz

Nguyên tắc

NO3' tác dụng với acid disulphophenic thành nitrophenol, khi kiềm hóa dung dịch có màu

vàng và cường độ đo màu tại độ dài sóng Ằ = 410 nm phụ thuộc NO 3' có trong mẫu

Cho cốc vào lò vi ba và đun trong 7 phút ở mức năng lượng cao 100 %

Lấy ra để nguội, lọc bỏ bã và định mức dung dịch lọc bằng nước cất đến 200 ml: dung dich lọc

Trang 12

nến hành

Bảng 2.5 Xác định đường chuẩn N03' và N03'trong mẫu cây trồng

DD 100 ppm N03'(ml) 0 0,5 1 1,5 2 2,5 3 10 10 Đun cách thủy cho bay hơi đền cô cạn, không cháy, đế nguội *

* Có thể cô cạn bằng lò vi sóng ở mức năng lượng thấp 30 % thời gian mất khoảng 7 - 10 phút

** Đe pH nằm trong khoảng 10 - 11 Có thể trung hòa bằng cách nhỏ từng giọt NaOH 10 %.Dung dịch sẽ chuyển màu vàng, dư một ít cũng không ảnh hưởng gì đến màu cua dung dịch

*** H20 cho vào để thể tích cuối cùng là 50 ml

Tính kết quả: NO3' (ppm) mẫu tươi = A X V X 1000/Vi X m

Trong đó: A: Hàm lượng NO3" trong dung dịch trích (ml)

V: thể tích dung dịch trích

Vj: thể tích dung dịch đem phân tích, m: Khối lượng mẫu tươi đem phân tích (g)

2.2.2.8 Xác định NH 4 + bằng phương pháp Nessler

Nguyên tắc: Ammoniac trongmẫu được đẩy ra khi cho tác dụng với HC1 0,05 N và

hình thành NH4CI Chất này có tác dụng với thuốc thử Nessler sẽ tạo thảnh hợp chất có màu vàng cam

NH4+ + 4KOH + 2 K2Hg2IO - ► NH2Hg2IO + 7 KI + 3H20 + K+

Hợp chất NH2Hg2IO để lâu sẽ kết tủa nên người ta dùng máy quang phổ hấp thu để đo cường

độ hấp thụ của mẫu phân so sánh cường độ hấp thu của mẫu chuẩn đã

Trang 13

13 biết rõ nồng độ NH4+ trong vòng 1 giờ Các ion Ca2+ và Mg2+ trong dung dịch mẫu cũng phản ứng với thuốc thử Nessler tạo kết tủa nên cần phải cho muối Seignette vào để liên kết chúng dưới dạng phức chất tan

Trong đó: NH4+reading: kết quả do OD

a :Trọng lượng phân tươi đem phân tích (g) b :Thể tích dung dịch trích (ml)

K :Hệ số khô kiệt = 100/ (100 - %A)

% A: Ẩm độ

Trang 14

2.2.2.9 Cách lấy mẫu phân tích cây trồng

Phải đại diện và phù hợp với mục đích phân tích lấy ở một bộ phận nhất định trong thời

kỳ thích hợp tùy từng loại cây; còn mẫu xác định tổng lượng hút dinh dưỡng của cây ngắn ngày cần lấy toàn bộ cây với lượng lớn

Mẩu phân tích cây trồng phải phù hợp với đặc điểm sinh lý của cây Những quy định về thời kỳ lấy mẫu, bộ phận lấy mẫu của từng loại cây trồng được hướng dẫn trong các quy trình chuyên môn (xem trang cuối)

Mau phân tích cây trồng phải được lấy trong điều kiện môi trường đồng nhất (nhiệt độ,

ẩm độ), cùng một thời điểm (thường vào buổi sáng đã hết sương, không mưa, nhiệt độ không khí và cường độ ánh sáng ở mức trung bình)

Mẩu phân tích cây trồng phải chú ý các yếu tố canh tác như thời kỳ bón phân, thời kỳ tưới nước, để chọn thời điểm lấy mẫu thích hợp

Nhanh chóng sấy khô mẫu ở TO = 70 ± 5°c trong tủ sấy thông gió, không được sấy đến

80°c vì sẽ có sự phân hủy làm mất một số nguyên tố cần trải mỏng và đều mẫu trên ngăn tủ sấy

có lót giấy Có thể làm khô mẫu bằng cách phơi nắng

Những mẫu có yêu cầu phân tích các hợp chất để biến đổi như protein, acid hữu cơ, nitrate, nitrite, vitamine, cần bảo quản mẫu tươi ở 5°c trong suốt quá trình vận chuyển, lưu giữ, không được sấy mà phải phân tích ngay mẫu tươi Trong trường hợp không phân tích ngay cần cố định mấu bằng các thủ tục diệt enzyme trước khi chọn mẫu trung bình

Trước lúc sấy mẫu cần cân khối lượng mẫu tươi đế xác định hàm lượng chất khô trong cây

Mau sau khi sấy, được cắt nhỏ trộn đều và chọn mẫu trung bình theo nguyên tắc “đường chéo”, loại bỏ cho đến khi được mẫu trung bình đồng nhất có khối lượng từ 30-300 g

Trang 15

15

Giải quyêt vân đê

3.1 Nội dung nghiên cứu

- Đạm tổng số được xác định bằng phương pháp Kjeldhal

- Đạm amin được xác định bằng phương pháp formol

- Lân tổng số được xác định bằng phương pháp Meyer

- Kali tổng số được xác định bằng phương pháp quang kế ngọn lửa

3.1.2.2 Hoạt tính enzyme

Hoạt tính enzyme papain được xác định bằng phương pháp Anson

3.1.3 Khảo sát các yếu tổ ảnh hưởng đến quá trình thủy phân

Mục đích: nhằm tìm ra các điều kiện ảnh hưởng lên quá trình thủy phân một cách tối

ưu để xây dựng qui trình thu nhận phân hữu cơ sinh học dạng lỏng

3.1.3.1 Thí nghiệm 1 Xác định tỉ lệ tối ưu của Ctf chất và lượng enzyme bổ sung vào quá trình thủy phân

a Mục đích thí nghiệm chọn tỉ lệ enzyme sử dựng có hiệu quả cao nhất trong quá trình thủy

phân

b Bố trí thí nghiệm Đây là thí nghiệm 1 yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên

(CRD) và lặp lại 3 lần

Sử dụng cá tra chết với lượng cố định là 30 g và bổ sung enzyme papain với tỉ lệ tương

ứng là 0,2 % , 0,4 %, 0,6 %, 0,8 %, 1,0 % (tính theo khối lượng cơ chất)

Công thức 1 = 30 g cá chết : 0,06 g mủ đu đủ (tương ứng 0,2 %) Công thức 2 = 30 g cá chết : 0,12 g mủ đu đủ (tương ứng 0,4 %) Công thức 3 = 30 g cá chết : 0,18 g mủ đu đủ (tương ứng 0,6 %)

Công thức 4 = 30 g cá chết : 0,24 g mủ đu đủ t(ương ứng 0,8 %) Công thức 5 = 30 g cá chết : 0,30 g mủ đu đủ tư(ơng ứng 1,0 %)

c Cách tiến hành: Cân vào bình tam giác 30 g cá tra đã xay nhuyễn, cho thêm 30 ml nước

cất, cân mủ đu đủ enzyme papain vào 0,06; 0,12; 0,18; 0,24; 0,3 g tương ứng với tỉ lệ 0,2; 0,4;

0,6; 0,8; 1 % trên 30 g cơ chất Sau đó lắc đều, đậy kính bình tam giác

Trang 16

lại, cho vào máy lắc định ôn ở điều kiện 55°c trong 24 giờ Sau khi hết giờ, lấy bình tam giác

ra đun cách thủy 15 phút để bất hoạt enzyme, để nguội, tiến hành ly tâm lạnh ở 4.000

vòng/phút trong 10 phút ở 4°c, tách dịch thủy phân, lớp mỡ và bã riêng, đem bảo quản trong tủ mát 4°c Sau cùng là đem dịch thủy phân phân tíchN tổng số d Chỉ tiêu theo dõi N tổng số

theo phương pháp Kjeldahl

3.1.3.2 Thí nghiệm 2 Khảo sát ảnh hưởng của lượng nước lên quá trình thủy phân

a Mục đích Xác định lượng nước bổ sung cho hiệu quả thủy phân cao nhất

b Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm 1 yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên

(CRD) và lặp lại 3 lần

Lượng nước bổ sung theo trọng lượng cơ chất được bố trí theo các nghiệm thức: 25, 50,

75, 100, 125, 150, 175 và 200 %

c Cách tiến hành: Cân vào bình tam giác 30 g cá tra đã xay nhuyễn, cho thêm 7,5; 15;

22,5; 30; 37,5; 45; 52,5; 60 ml nước cất tương ứng với tỉ lệ ở cách bố trí thí nghiệm trên, cân

0,18 g mủ đu đủ (tương ứng tỉ lệ mủ 0,6 % ở thí nghiệm 1), lắc đều, đậy nắp lại, cho vào máy

lắc ổn định nhiệt ở nhiệt độ 55°c trong 24 giờ Kết thúc quá trình thủy phân đem bất hoạt enzyme bằng cách đun cách thủy trong 15 phút Sau đó để nguội và ly tâm ở 4°c, 4.000 vòng/phút trong

10 phút Cuối cùng thu phần dịch để phân tích N tổng số

d Chỉ tiêu theo dõi N tổng số theo phương pháp Kjeldahl

3.1.3.3 Thí nghiệm 3 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian đến hiệu quả thủy phân

a Mục đích Xác định thời gian thích họp cho quá trình thủy phân để đạt kết quả cao nhất

b Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm 1 yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên

(CRD) và lặp lại 3 lần

Thời gian thủy phân được bố trí theo các nghiệm thức: 8, 16, 20, 24, 30 giờ

c Cách tiến hành Cân vào bình tam giác 30 g cá tra đã xay nhuyễn, thêm 30 ml nước cất,

thêm vào 0,18 g mủ đu đủ khô Lắc đều, đậy nắp lại Cho các bình tam giác vào máy lắc ở nhiệt

độ 55°C Đứng thời gian bố trí thí nghiệm lấy bình tam giác ra bất hoạt ezyme trong 20 phút, để nguội và ly tâm ở 4°C, 4.000 vòng/phút Sau cùng lấy dịch ra phân tíchN tổng số

d Chỉ tiêu theo dõi: hàm lượng đạm tổng số (xác định theo phương pháp

Kjeldahl)

Trang 17

17

3.I.3.3 Thí nghiệm 4 Khảo sát nhiệt độ lên quá trình thuỷ phân

a Mục đích Xác định nhiệt độ thủy phân thích họp để đạt hiệu quả thủy phân cao nhất

b Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm 1 yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên

(CRD) và lặp lại 3 lần

Nhiệt độ thủy phân được bố trí theo các nghiệm thức: 52, 54, 55, 56 và 58°c

c Cách tiến hành: Cân vào bình tam giác 30 g cá tra đã xay nhuyễn, bổ sung 30 ml

nước, thêm vào 0,18 g mủ đu đủ khô, lắc đều, đậy nắp lại và cho vào máy lắc có ổn định nhiệt, đều chỉnh nhiệt độ theo bố trí thí nghiêm trên Sau 20 giờ (từ kết quả của thí nghiệm 3), đem

bất hoạt enzyme bằng cách đun cách thủy trong 15 phút, sau đó đem ly tâm ở 4°c, 4.000 vòng/phút trong 10 phút Sau cùng là thu dịch để xác định N tổng số

d Chỉ tiêu theo dõi: hàm lượng đạm tổng số (xác định theo phương pháp Kjeldahl) 3.1.4 Khảo nghiệm hiệu quả của chế phẩm ngoài đồng ruộng

3.1.4.1 Thí nghiệm 5 Khảo sát nồng độ sử dụng thích họp của chế phẩm phân

hữu CO’ sinh học

a Mục đích Chọn ra nồng độ sử dụng chế phẩm thích hợp để khuyến cáo sử dụng trong

sản xuất rau an toàn

b Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm 1 yếu tố được bố trí kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), 3 lần lặp lại

Chế phẩm từ cá tra chết được bố trí theo các nghiệm thức:

NT1: Nồng độ sử dụng 0 % (theo điều kiện chăm sóc của hộ trồng rau)

- Diện tích mỗi ô thí nghiệm là: 5 m2

- Tổng diện tích của thí nghiệm là: 75 m2

- Khoảng cách giữa các hàng là: 0,1 m; giữa các cây là: 0,1 m

- Thời gian phun: 3 lần phun ở các thời điểm 5 ngày, 10 ngày, 15 ngày sau trồng

Trang 18

- Phương pháp theo dõi: mỗi ô thí nghiệm theo dõi 10 cây

d Chỉ tiêu theo dõi Sau khi thu hoạch, tiến hành theo dõi các đặc điểm:

- Trọng lượng tươi của mỗi cây được chọn (g)

- Số lá trên cây của mỗi cây được chọn

- Chiều cao cây của mỗi cây được chọn (mm)

- Dư lượng N03' (mg/kg) trên mẫu được chọn;

- Năng suất lý thuyết (tấn/ha) = (trọng lượng trung bình của cây (g) X số cây/ha);

- Năng suất thực thu (tấn/ha) = (trọng lượng cây của ô thu hoạch X 10.000)/diện tích của mỗi ô

3.1.4.1 Thí nghiệm 6 Khảo sát hiệu quả của chế phẩm phân hữu cơ sinh học dạng lỏng với

các sản phẩm thương mại trên thị trường trên cây cải xanh

a Mục đích So sánh hiệu quả về mặt năng suất và tính an toàn của chế phẩm phân hữu

cơ sinh học với các sản phẩm trên thị trường

b Bổ trí thí nghiệm

Thí nghiệm 1 yếu tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), 3 lần lặp lại, với các nghiệm thức:

NT1: Đối chứng theo điều kiện chăm sóc của hộ trồng rau

NT2: Phun chế phẩm phân hữu pha loãng \ứi nồng độ khuyến cáo được chọn từ thí nghiệm 5 NT3: Phun phân Toponsu

NT4: Phun phân Jump Star

NT5: Phun phân HPCR

c Cách tiến hành Thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ 3.6 với các đặc điểm:

- Tổng các ô thí nghiệm: 5x3 = 15 ô;

- Diện tích mỗi ô thí nghiệm là: 5 m2;

- Tổng diện tích của thí nghiệm là: 75 m2;

- Khoảng cách giữa các hàng là: 0,1 m; giữa các cây là: 0,1 m;

- Thời gian phun: 3 lần phun ở các thời điểm 5 ngày, 10 ngày, 15 ngày sau trồng;

- Phương pháp theo dõi: mỗi ô thí nghiệm theo dối 10 cây

d Chỉ tiêu theo dõi Sau khi thu hoạch, tiến hành theo dõi các đặc điểm:

- Trọng lượng tươi của mỗi cây được chọn (g)

- Số lá trên cây của mỗi cây được chọn

- Chiều cao cây của mỗi cây được chọn (mm)

Trang 19

19

- Dư lượng N03’ (mg/kg) trên mẫu được chọn

- Năng suất lý thuyết (tấn/ha) = (trọng lượng trung bình của cây (g) X số cây/ha);

- Năng suất thực thu (tấn/ha) = (trọng lượng cây của ô thu hoạch X 10.000)/diện tích của mỗi ô

3.2 Kết quả nghiên cứu

3.2.1 Xác định thành phần nguyên liệu

3.2.1.1 Thành phần nguyên liệu

Việc xác định thành phần cơ chất luôn đóng một vai trò quan trọng, nó quyết định nguồn nguyên liệu này có thích hợp để sử dụng vào mục đích nghiên cứu hay không Cơ chất có nguồn gốc động vật thường có hàm lượng đạm cao Điều này thể hiện qua kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của cá tra chết và bột thịt xương ở bảng 3.1

Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng trong cá tra và bột thịt xương

Thành phần dinh dưỡng Cá tra chết

Các sô liệu tỉnh trên trọng lượng khô

Qua bảng 3.1, chúng tôi thấy rằng hàm lượng N (%) và P2O5 trong cá tra khá cao Cụ thể:

N (%) = 7,36 %, tức protein tổng là 7,36x6,25 = 46 % cho thấy protein động vật có hàm lượng

đạm cao, P2O5 = 6,33 % cho thấy hàm lượng xương trong nguyên liệu khá cao

Vào thời điểm làm đề tài giá cá chết khoảng 5000 đồng, nguồn cá tra chết từ các hộ nuôi

ở đồng bằng Sông Cửu Long nên đây là nguồn cơ chất dồi dào và giá tương đối rẻ thích hợp cho việc thủy phân để sản xuất phân hữu cơ cho cây trồng

3.3.1.2 Hoạt tính enzyme

Hoạt tính enzyme là yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn enzyme để thủy phân Kết quả xác định hoạt tính enzyme papain là 53,79 UI/g Điều này cho thấy hoạt tính của enzyme rất cao Như vậy, enzyme papain từ mủ đu đủ thô cho hoạt tính mạnh và đây là nguồn enzyme thích hợp để thủy phân nguồn đạm cao để sản xuất phân hữu cơ sinh học

Trang 20

3.2.2 Khảo sát các yếu tổ ảnh hưởng đến quá trình thủy phân

Quá trình thủy phân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: tỉ lệ enzyme và cơ chất, lượng nước bổ sung, thời gian và nhiệt độ thủy phân Do đó, việc xác định các điều kiện này rất quan trọng để tối ưu quy trình sản xuất phân hữu cơ sinh học

522.1 Xác định tỉ lệ tối ưu củacơ chất và lượng enzyme bổ sung vào quá trình thủy phân

Tỉ lệ enzyme và cơ chất là yếu tố rất quan trọng của một quá trình thủy phân Khi cố định lượng cơ chất, hiệu quả thủy phân tăng dần khi lượng enzyme tăng Nhưng khi tỉ lệ ezyme : cơ chất ở một mức độ nhất định, nếu ta tăng lượng enzyme thì hiệu quả thủy phân sẽ giảm Do đó, việc trước tiên là xác định tỉ lệ tối ưu enzyme: cơ chất để tiết kiệm enzyme lẫn cơ chất

Bảng 3.2 Đạm tổng số của dịch thủy phân khi bổ sung lượng mủ

Trong cùng một cột, các sô có cùng chữ cái giông nhau thì khác biệt

không có ý nghĩa về mặt thong kê ở mức p < 0,05

Bảng 3.2 cho thấy sự khác biệt giữa các nghiệm thức rất có ý nghĩa về mặt thống kê ở

p< 0,05 Với cùng một lượng cơ chất như nhau, khi tỉ lệ mủ đu đủ bổ sung tăng lên (từ 0,2 %

đến 0,6 %) hay lượng enzyme papain tăng lên, thì sản phẩm của quá trình thủy phân cũng tăng theo Điều này thể hiện qua lượng đạm tổng số của nghiệm thức 0,6 % đạt cao nhất

Khi lượng mủ bổ sung tăng lên cao hơn (từ 0,8 % đến 1%), lượng đạm tổng số không

tăng lên tương ứng mà lại giảm, điều này có thể giải thích là do trong quá trình thủy phân, sản phẩm sinh ra có thể ức chế hoạt động của enzyme (Whitaker John R et al., 2003)

Từ phân tích trên, chúng tôi chọn tỉ lệ mủ đu đủ bổ sung tối ưu là 0,6 % so với cơ chất cho thí nghiệm tiếp theo để tiết kiệm lượng enzyme và cơ chất Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Dung, 2005, Đại học cần Thơ với

Trang 21

21

tỉ lệ mủ đu đủ là 0,75 % so với cơ chất Sự khác nhau có thể là do địa điểm thu nhận mủ đu đủ

khác nhau dẫn đến hoạt tính của enzyme khác nhau, cơ chất khác nhau (bánh dầu đậu nành), điều kiện thí nghiệm khác nhau v.v

3.2.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của lượng nước bổ sung lên quá trình thủy phân

Quá trình thủy phân cần có sự tham gia của nước Nước giúp các chất trộn đều vào nhau

và tạo điều kiện cho các chất tiếp xúc để tạo phản ứng Nhưng lượng nước bổ sung phải hợp lý Nếu lượng nước ít thì nồng độ enzyme cũng như cơ chất quá cao có thể gây ức chế phản ứng thủy phân và ngược lại, nếu lượng nước quá cao thì nồng độ enzyme cũng như cơ chất quá thấp dẫn đến enzyme và cơ chất khó tiếp xúc với nhau dẫn đến hiệu quả thủy phân cũng không cao Hơn nữa, sản phẩm thủy phân phải đảm bảo hàm lượng dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu của cây

Bảng 3.3 Đạm tổng số của dịch thủy phân khi bổ sung lượng nước khác nhau

lượng N thì nghiệm thức 100 % cao hơn gấp hai lần nghiệm thức 25 %

Trang 22

Khi lượng dịch thủy phân thu được càng tăng thì đạm tổng số cũng giảm theo tương ứng, điều này phù hợp với nguyên lý khi thêm nước vào thì nó pha loãng các chất tan có trong dịch thủy phân trong đó có đạm tổng số, thể hiện ở hàm lượng N tổng số giảm dần từ nghiệm thức 125 % đến nghiệm thức 200 %

Như vậy, để đảm bảo hiệu quả thủy phân và kinh tế, chúng tôi chọn nghiệm thức bổ sung 100 % lượng nước cho thí nghiệm tiếp theo Kết quả này phù hợp với kết quả của Nguyễn Thị Xuân Dung, 2005: bổ sung 100 % nước khi sử dụng enzyme papain thủy phân bột đậu nành

3.2.2.3 Khảo sát ảnh hưởng của thM gian đến hiệu quá trình thủy phân

Mỗi quá trình thủy phân có một khoảng thời gian nhất định để đạt hiệu quả cao nhất Nếu ta chọn thời gian thủy phân thấp hơn thời gian này thì hiệu quả thủy phân không cao do sự phân cắt các mối nối peptid chưa triệt để, lượng axit amin sinh ra ít Ngược lại, thời gian thủy phân lâu thì các axit amin sinh ra sẽ bị phân hủy thành NH3, gây mùi thối Vì vậy, ta phải chọn thời gian thủy phân tối ưu để đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả thủy phân cao nhất

Bảng 3.4 Đạm tổng số của dịch thủy phân khi thủy phân ở

các thời gian khác nhau

Bảng 3.4 cho thấy hàm lượng N tổng số của các nghiệm thức có sự khác biệt rất có ý nghĩa

về mặt thống kê Thời gian thủy phân càng lâu ( từ nghiệm thức 8 giờ đến nghiệm thức 20 giờ) thì đạm tổng số trong dịch thủy càng tăng tương ứng Điều này cho thấy đây là khoảng thời gian phản ứng thủy phân diễn ra mạnh khi còn đủ lượng cơ chất cho enzyme hoạt động, vì vậy mà lượng N tổng số ở nghiệm thức 20 giờ tăng cao nhất Với các nghiệm thức tiếp theo (nghiệm thức 24 và 30 giờ), khoảng thời gian tương đương các nghiệm thức trước đó nhưng lượng N tổng số lại

Trang 23

23 tăng không đáng kể Điều này có thể giải thích do lượng cơ chất đã bị thủy phân gần như hoàn toàn

Như vậy, để tiết kiệm thời gian và tăng công suất thủy phân, chúng tôi quyết định chọn thời gian thủy phân tối ưu của mủ đu đủ trên cơ chất cá tra chết là 20 giờ Kết quả này rút ngắn thời gian hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Dung trên cơ chất bánh dầu đậu nành thủy phân trong 24 giờ

3.2.2.4 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ lên quá trình thuỷ phân

Mỗi enzyme có khoảng nhiệt độ hoạt động thích hợp riêng và trong đó có một nhiệt độ hoạt động tối ưu cho hiệu quả cao nhất Cho nên muốn đạt hiệu quả thủy phân cao nhất phải xác định nhiệt độ tối ưu này Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 3.5

Bảng 3.5 Đạm tổng số của dịch thủy phân sau khi thủy phân ở

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Dung (2005), khi tiến hành thủy phân

trên bánh dầu đậu nành thì papain hoạt động trong khoảng 45 - 65°c, nhiệt độ tối ưu là 55°c Cho nên nhiệt độ thí nghiệm này được bố trí xoay quanh 55°c

Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy hàm lượng N tổng số của các nghiệm thức có sự khác biệt

rất có ý nghĩa về mặt thống kê Khi nhiệt độ tăng thì hiệu quả thủy phân tăng theo thể hiện ở nghiệm thức 52, 54, 55°c và nghiệm thức 55°c cho lượng N tổng số cao nhất Khi tăng nhiệt độ

từ 56 đến 58°c thì lượng N tổng số thu được lại giảm điều này có thể thích do enzyme bị ức chế khi ở nhiệt độ cao Điều này phù hợp với nhận định “Protease chỉ thể hiện hoạt tính cao nhất ở

giới hạn nhiệt độ nhất định, nhiệt độ thích hợp tối đa của protease nằm trong khoảng 40 - 45°c

ở nhiệt độ lớn hơn 70°c đa số protease bị mất hoạt tính” (Phạm Thu Cúc, 2002)

Trang 24

Như vậy, để đạt hiệu quả thủy phân cao nhất, chúng tôi chọn nhiệt độ tối ưu là 55°c

Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Dung

Trong quá trình xây dựng quy trình thủy phân cá tra chết chứng tôi không khảo sát yếu

tố pH, tuy nhiên pH là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của enzyme vì mỗi loại enzyme thì có vùng pH hoạt động riêng, nhưng để đáp ứng yêu cầu sản xuất phân bón theo tiêu chuẩn GAP là không dừng hóa chất để điều chỉnh pH Mặc dù không chỉnh pH nhưng trong quá trình sản xuất phân chứng tôi nhận thấy môi trường pH thủy phân cũng nằm trong khoảng pH hoạt động tốt của enzyme papain (pH = 6,5 - 7,8)

Sau khi đã khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thủy phân cá tra chết sử dụng enzyme papain, chúng tôi xác định được các điều kiện tối ưu cho quy trình sản xuất chế phẩm phân hữu cơ sử dụng enzyme papain thủy phân cá tra chết

Cá tra Xay nhỏ, bổ sung nước với tỉ lệ 1:1

Bổ sung enzyme papain thô với tỉ lệ 0,6%

Lắc, ủ ở 55°c

Thủy phân

Trong 20 giờ

Ly tâm 4.000 vòng/phút, thời gian 10 phút

Chế phẩm phân hữu cơ sinh học dạng lỏng

Sơ đồ 3.1 Quy trình thủy phân cá tra chết bằng mủ đu đủ

Sau khi thủy phân theo quy trình trên, chúng tôi tiến hành xác định thành phần dinh dưỡng trong dịch lỏng thu được và bã rắn còn lại

Trang 25

Sô liệu của bã răn được tỉnh dựa trên trọng lượng khô

Qua bảng 3.6, chúng tôi thấy lượng N tổng số giảm sau khi thủy phân thấp hơn so với cơ chất Điều này cho thấy có sự thất thoát trong quá trình làm thí nghiệm Lượng N tổng số của dịch khi thủy phân trên số lượng lớn thấp hơn trong quá trình thí nghiệm, điều này có thể do khi thủy phân số lượng lớn, máy lắc không hoạt động đủ mạnh để trộn đều các chất trong dịch thủy phân Do đó, khi đưa vào thủy phân với khối lượng lớn, chúng ta phải trang trị máy lắc hoặc máy khuấy mạnh hơn để đảm bảo hiệu quả thủy phân

Lượng phốt pho trong dịch thủy phân thấp hơn so với cơ chất điều này chứng tỏ là protease chưa thủy phân hiệu quả đối với cơ chất có chứa xương và thực tế thí nghiệm cho thấy lượng bã thu được sau thủy phân chứa một lượng lớn xương chưa được thủy phân Cho nên cần

bổ sung thêm loại enzyme khác để thủy phân xương tốt hơn cung cấp phốt pho cho cây trồng

Chúng tôi nhận thấy kali trong dịch thủy phân lớn hơn kali trong bã rắn điều này rất phù hợp với việc dừng dịch lỏng làm phân bón Ngoài ra, sản phẩm sau thủy phân còn tạo ra lượng

NH4+ và đạm amin, đây là những yếu tố giúp cây sử dụng được ngay

Dịch sau thủy phân có pH = 7,45, đây là pH trung tính, phù hợp làm phân bón lá dù không điều chỉnh pH Ưu điểm của việc dùng enzyme thực vật là ít làm thay đổi pH của dịch thủy phân Như vậy, chế phẩm hữu cơ tạo ra có pH trung tính, không cần điều chỉnh pH vừa thuận lợi về mặt kinh tế vừa đáp ứng được tiêu chuẩn phân bón không dùng hóa chất để điều chinh pH

3.2.3 Khảo nghiệm hiệu quả của chế phẩm ngoài đồng ruộng

3.2.3.1 Khảo sát nồng độ sử dụng thích hợp của chế phẩm phân hữu Ctf sinh học

dạng lỏng trên cây cải xanh

Kết quả khảo sát nồng độ sử dụng sản phẩm được thể hiện ở bảng 3.7 và 3.8

Trang 26

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của các nồng độ chế phẩm lên chiều cao, số lá

của cây cải xanh

Trong cùng một cột, các sô có cùng chữ cái giông nhau thì khác biệt

không cỏ ỷ nghĩa về mặt thống kê ở mức p< 0,05

Bảng 3.7 cho thấy sự khác biệt về chiều cao và số lá cây có ý nghĩa về mặt thống kê Điều này cho thấy sự sinh trưởng của cây chịu ảnh hưởng bởi nồng độ phân hữu cơ đã sử dụng Điều này thể hiện ở chiều cao của cây ở nghiệm thức phun 7 % cho kết quả cao nhất và có sự

khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê so với nghiệm thức đối chứng, nghiệm thức 3 % và 5 %

về số lá, nghiệm thức 7 % cũng cho kết quả cao nhất và sự khác biệt với các nghiệm thức đối

chứng, nghiệm thức 1 % và 3 % có ý nghĩa về mặt thống kê

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của các nồng độ chế phẩm lên năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất

và dư lượng nitrate trên cây cải xanh

Nồng độ chế

phẩm (%)

TLTB của cây (g)

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các nồng độ chế phẩm khác nhau đến năng suất và

dư lượng nitrate trên cây cải xanh, được thể hiện ở kết quả bảng 3.8 cho thấy rằng phun chế phẩm ở nồng độ 7 % thì cho trọng lượng trung bình của cây cải xanh, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu đều cao hơn có ý nghĩa về mặt thống kê so với các nghiệm thức còn lại Việc phun chế phẩm với nồng độ quá cao qua lá làm hạn chế khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng của cây và cây có thể bị mất nước nhất là đối với

Ngày đăng: 08/03/2017, 19:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3 Xây dựng đường chuẩn Kali - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Bảng 2.3 Xây dựng đường chuẩn Kali (Trang 9)
Bảng 3.6 Hàm lượng dinh dưỡng của sản phẩm thu được khi thực hiện quy trình thủy phân - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Bảng 3.6 Hàm lượng dinh dưỡng của sản phẩm thu được khi thực hiện quy trình thủy phân (Trang 25)
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của chế phẩm và các loại phân hữu cơ sinh học lên - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của chế phẩm và các loại phân hữu cơ sinh học lên (Trang 27)
Bảng 1.6 Trắc nghiệm  phân hạng từ số  liệu của bảng 1.4 - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Bảng 1.6 Trắc nghiệm phân hạng từ số liệu của bảng 1.4 (Trang 32)
Bảng 1.17 Bảng ANOVA NSLT từ số liệu của bảng 1.16 - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Bảng 1.17 Bảng ANOVA NSLT từ số liệu của bảng 1.16 (Trang 36)
Bảng 1.31 Số liệu về lượng N0 3 ' của các sản phẩm - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Bảng 1.31 Số liệu về lượng N0 3 ' của các sản phẩm (Trang 41)
Bảng 1.36 Số liệu về NSTT của các sản phẩm - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Bảng 1.36 Số liệu về NSTT của các sản phẩm (Trang 42)
Bảng 1.39 Số liệu về chiều cao của cây khi dùng các sản phẩm  r - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Bảng 1.39 Số liệu về chiều cao của cây khi dùng các sản phẩm r (Trang 43)
Bảng 1.38 Trắc nghiệm phân hạng về NSTT của các sản phẩm từ số liệu bảng 1.36 - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Bảng 1.38 Trắc nghiệm phân hạng về NSTT của các sản phẩm từ số liệu bảng 1.36 (Trang 43)
Bảng 1.41 Trắc  nghiệm phân hạng về chiều cao của cây từ số liệu bảng 1.39 - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Bảng 1.41 Trắc nghiệm phân hạng về chiều cao của cây từ số liệu bảng 1.39 (Trang 44)
Hình 4.1 Một số thiết bị phòng thí nghiệm. A,B: hệ thốngKjeldhal; C:  ly tâm  ĩạnh; D: Máy lắc định ôn - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Hình 4.1 Một số thiết bị phòng thí nghiệm. A,B: hệ thốngKjeldhal; C: ly tâm ĩạnh; D: Máy lắc định ôn (Trang 51)
Hình 4.2 Các sản phẩm trong phòng thí nghiệm, A: sản phẩm phân hữu cơ dạng  lỏng; B: sản phẩm khi khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Hình 4.2 Các sản phẩm trong phòng thí nghiệm, A: sản phẩm phân hữu cơ dạng lỏng; B: sản phẩm khi khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ (Trang 51)
Hình 4.3 Các bước trồng cải xanh. Ả: xới đất sau thu hoạch; B: rải vôi tiêu độc khử trùng đất; C: - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Hình 4.3 Các bước trồng cải xanh. Ả: xới đất sau thu hoạch; B: rải vôi tiêu độc khử trùng đất; C: (Trang 52)
Hình 4.4 Thi nghiệm trên cải xanh. A: cây cải xanh; B: một lô thí nghiệm; C: bố trí thỉ nghiệm - Nghiên cứu sử dụng mủ đu đủ (enzyme papain) thủy phân cá tra chết để sản xuất phân hữu cơ sinh học và khảo sát hiệu lực trên rau ăn lá
Hình 4.4 Thi nghiệm trên cải xanh. A: cây cải xanh; B: một lô thí nghiệm; C: bố trí thỉ nghiệm (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm