Tính cần thiết của đề tài: - Trong tình hình hiện nay diện tích nuôi tôm ngày càng được mở rộng cũng như mật độ thả ngày càng cao, làm cho mức độ ô nhiểm môi trường nước tự nhiên ngày c
Trang 11 TÁC GIẢ: Ngô Hoàng Dẹn
Nguyễn Sơn Tùng Hoàng Nữ
Quỳnh Như
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cần thiết của đề tài:
- Trong tình hình hiện nay diện tích nuôi tôm ngày càng được mở rộng cũng như mật độ thả ngày càng cao, làm cho mức độ ô nhiểm môi trường nước tự nhiên ngày càng tăng lên, làm ảnh hưởng đến môi trường sống của tôm, tăng nguy cơ mắt bệnh của tôm và tăng rủi ro cho nghề nuôi tôm
- Gía cả thị trường ngày càng tăng cao, trong khi đó giá tôm sú lại bấp bênh lúc tăng lúc giảm
mà người nuôi tôm không thể kiểm soát được Do đó vấn đề giảm chi phí trong quá trĩnh nuôi tôm là vấn đề rất cần thiết để giảm rủi ro và tăng lợi nhuận cho người nuôi tôm sú
- Trái đất càng ngày càng nóng lên làm cho thời tiết thay đổi thất thường, làm cho nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm khá cao, cộng với sự vô ý thức của người nuôi tôm sú đã xả nước thải của ao tôm sú bị bệnh ra ngoài sông rạch làm cho nguồn nước bị ô nhiểm vì những vi khuẩn, nấm, virus và nhiều vi trùng độc hại tiềm ẩn trong nguồn nước
- Nuôi tôm công nghiệp là một nghề mang lại lợi nhuận rất cao nhưng chi phí đầu tư cũng rất lớn, mức độ rủi ro cũng rất cao, để giảm bớt rủi ro và chi phí thì chúng ta cần phải ngăn chặn sự tấn công của mầm bệnh cũng như tạo môi trường sống thuận lợi cho tôm sú phát triển tốt ngay từ đầu
- Đứng trước thực trạng như vậy để tôm sú phát triển tốt cũng như giảm chi phí cho quá trình nuôi tôm.Chúng ta càn phải xử lí nước đầu vào thật tốt tạo môi trường thuận lợi cho tôm phát triển để giảm nguy cơ mắt bệnh của tôm, làm giảm chi phí cho quá trình nuôi tôm
Trang 2và tăng hiệu quả kinh tế cho người nuôi tôm sú
1.3 Tổng quan tóm lược nghề nuôi tôm ở ĐBSCL và ở Sóc Trăng:
1.3.1 Tóm lược nghề nuôi tôm ở ĐBSCL:
- Với nhiều vùng sinh thái đa dạng mặn-ngọt-lợ đan xen cho nên đã hĩnh thành, phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện với nhiều loại cây con, nhất là nuôi trồng và khai thác thủy sản trở thành thế mạnh trong những năm gần đây ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
- Năm 2001 Cà Mau thực hiện chủ trương của Chính phủ, chỉ đạo chuyển đổi sản xuất từ độc canh cây lúa kém hiệu quả sang nuôi tôm trên diện rộng Đen nay, toàn tỉnh có gần 140 nghìn hộ nuôi tôm trên diện tích gần 260 nghìn ha Tuy nhiên, năng suất tôm nuôi hiện nay chỉ đạt bình quân hơn 300 kg/ha; chưa tương xứng với tiềm năng đất đai và diện tích tăng lên Trĩnh độ sản xuất, nuôi tôm vẫn manh mún, lạc hậu chưa thay đổi nhiều so với mười năm trước chưa chuyển dịch.Cà Mau phấn đấu nâng diện tích nuôi đa con lên từ 80 đến 100 nghìn ha trong thời gian tới
ở tất cả các vùng sinh thái đa dạng của tỉnh
- Những năm qua, nghề nuôi tôm sú ở vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã phát triển mạnh: Từ 191.103 ha (1999) tăng lên trên 456.000ha (2003) và việc mở rộng diện tích chưa hề có dấu hiệu dừng lại
- Kiên Giang dẫn đầu 6 tỉnh có biển của ĐBSCL về khả năng mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản ở cả 3 vùng nước ngọt, lợ, mặn; riêng tôm sú đang phát triển mạnh ở Tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau, huyện Châu Thành, Gò Quao, Phú Quốc Toàn tỉnh có trên 23.000 hộ nuôi thủy sản với diện tích 62.437 ha, trong đó nuôi tôm sú là 55.000 ha Năm 2003, Kiên Giang làm ra 10.135 tấn tôm thương phẩm, tăng gấp 4,07 lần về diện tích, 5,74 lần về sản lượng so với năm
2000 Kiên Giang có 2.133/ 7.357 trang trại nuôi thủy sản và trang trại nuôi tôm dẫn đầu về giá trị sản phẩm hàng hóa.ở huyện An Minh (Kiên Giang) 4 xã Đông Hòa, Đông Hưng, Vân Khánh Đông, Vân Khánh Tây tôm chết trên 80-90% diện tích Chỉ một "cơn dịch rẹm" 2003, Kiên Giang mất trắng 8.000 ha tôm nuôi 1 -2 tháng tuổi
Tại Ben Tre, Thạnh Phú là huyện đứng thứ 2 trong tỉnh về diện tích, sản lượng tôm sú Thạnh Phú bị nước mặn xâm nhập sâu 6 tháng/năm, chuyển sang nuôi tôm tỷ lệ hộ nghèo từ 28% (1997) giảm xuống dưới 8% (2003) nhưng Thạnh Phú cũng là huyện đứng đầu tỉnh về tỷ lệ tôm chết
Trang 33
- Đen cuối tháng 8-2008, diện tích nuôi tôm nước lợ của bảy tỉnh ven biển Nam Bộ là gần 540 nghìn ha, chiếm hơn 89% tổng diện tích nuôi tôm của cả nước; trong đó chủ yếu là nuôi tôm sú Diện tích nuôi tôm sú lớn nhất là Cà Mau 257 nghìn ha; Bạc Liêu 121,8 nghìn ha; Sóc Trăng 47,6 nghìn ha và Kiên Giang 77,2 nghìn ha
- Trong đó, diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh chỉ đạt 47, 6 nghìn ha; còn lại là nuôi quảng canh, tập trung nhiều nhất ở hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu.Sản lượng sau thu hoạch, chỉ tính riêng ở các tỉnh ĐBSCL là 160,5 nghìn tấn, chiếm hơn 76% tổng sản lượng của cả nước; nhiều nhất là Cà Mau 68,5 nghìn tấn; Bạc Liêu 36,2 nghìn tấn; Kiên Giang 13,6 nghìn tấn
- Năm 2009, tỉnh Trà Vinh đưa ra kế hoạch thả nuôi trên 2,5 tỉ con giống với diện tích 27.450ha Cuối tháng 5-2009, diện tích thả nuôi tại Trà Vinh là 18.300 ha, giảm 6.700ha so với cùng kỳ năm trước Qua khảo sát thực tế tại địa phương, phần lớn nông dân đang gặp khó khăn do không
có vốn để đầu tư thả nuôi trở lại do bị thua lỗ vụ tôm năm 2008 Đen nay, khoảng 30% diện tích
bị thiệt hại phải chuyển sang nuôi các loại thủy sản khác Hơn 500 tỷ đồng bị thiệt hại do diện tích nuôi tôm sú chính vụ 2009 giảm hơn 6.000 ha, dịch bệnh tôm nuôi chết trên diện rộng hơn 5.300 ha, Đó là kết quả đánh giá tình hình nuôi tôm sú năm 2009 ở 4 huyện ven biển: Duyên Hải, cầu Ngang, Trà Củ, Châu Thành (Trà Vinh).Theo Sở NN- PTNT Trà Vinh, trong 1,23 tỷ con giống thả nuôi năm 2009, có 334 triệu con chết do môi trường suy thoái, con giống kém chất lượng, người nuôi không tuân thủ lịch thời vụ
- Tính đến đầu tháng 6-2009, diện tích tôm sú thiệt hại của vùng ĐBSCL đã gần lO.OOOha, trong đó tại Sóc Trăng diện tích thiệt hại hơn 1.407ha, Bạc Liêu 3.000ha, Ben Tre trên 105ha Điều này làm nông dân thận trọng hơn trong mùa vụ mới Diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh có chiều hướng giảm so với trước như: tỉnh Trà Vinh, diện tích thả nuôi theo mô hĩnh này mới khoảng 500ha (kế hoạch 2.000ha); tỉnh Ben Tre trên 3.219ha (kế hoạch thực hiện năm 2009
là 5.685) Mặt khác, số hộ có điều kiện thi chuyển sang thả nuôi quảng canh kết hợp thả nuôi cua biển, do tình hình giá tôm nguyên liệu không ổn định, một số hộ thả nuôi không cần cho tôm ăn, còn bao nhiêu thu hoạch bấy nhiêu
- Theo Cục Nuôi trồng thủy sản Bộ NN&PTNT, năm 2009 diện tích nuôi tôm sú toàn vùng ĐBSCL có thể lên đến 566.000 ha Năm nay, ngành thủy sản đề ra chỉ tiêu giá trị xuất khẩu khoảng 4 tỉ USD (năm 2008 là 4,5 tỉ USD) Theo thông tin từ Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), 5 tháng đầu năm 2009, tổng giá trị xuất khẩu thủy sản cả nước đạt khoảng 1,3 tỉ USD VASEP dự báo trong quí n/2009, sức mua của nhiều nước trên thế giới tiếp
tục giảm, biến động tỷ giá ở các nước không có lợi cho xuất khẩu Trong khi đó, phần lớn sản
phẩm tôm sú của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản, nhưng cuối tháng 5-2009, giá tôm tại thị trường này đã giảm 10-20% so với thời điểm cùng kỳ năm
Trang 44
trước Các nhà nhập khẩu dự báo, tình trạng khó khăn trong xuất khẩu tôm sẽ còn kéo dài đến tháng 8-2009
1.3.2 Tóm lược nghề nuôi tôm ở Sóc Trăng:
- Sóc Trăng có khoảng 100.000 ha mặt nước có thể qui hoạch nuôi thủy sản nước ngọt, lợ, mặn, trong đó 20.000 ha nuôi chuyên canh, 80.000 ha nuôi kết hợp Là tỉnh đi đầu trong mô hình tôm-lủa, Sóc Trăng đã thành công trong việc đưa con tôm nước mặn vào ruộng lúa vùng nước lợ mùa khô Từ 5 ha nuôi thử nghiệm ở xã Thạnh Phủ, Hòa Tú 1 (Mỹ Xuyên) vào năm 1990 đã tăng lên
gần 30.000 ha (2003) Nhiều hộ nông dân ngoài thu nhập lvụ lúa đã có thêmioo triệu/ha từ 1 vụ
tôm
- Năm 2004 Tỉnh Sóc Trăng hiện có khoảng 51.000 ha nuôi thủy sản trong đó có 41.136 ha tôm
sú, Những vùng có thuận lợi, nông dân còn nuôi tăng vụ, lấp vụ, đưa tổng diện tích nuôi thả tôm lên 67.246 ha Mỗi năm thu khoảng 23.500 tấn tôm nguyên liệu, đạt hơn 300 triệu USD kim ngạch xuất khẩu Nghề nuôi tôm ở Sóc Trăng có nhiều phương thức: Nuôi tôm quảng canh cải tiến, năng suất 450kg/ha, nuôi bán thâm canh năng suất 3 tấn/ha và nuôi thâm canh (quy trình công nghiệp) năng suất bình quân 6 tấn/ha, có hộ từng đạt 10 tấn/ha
- Những con số trên đây chỉ mới nói phần nổi hiệu quả nghề nuôi tôm Phần đáng lo ngại và những mầm nguy hiểm ngầm dẫn đến thất bại đang đe dọa người nuôi tôm là tôm chết ở vùng tôm lúa năm sau cao hơn năm trước: 1.187/19.478 ha (2000); 2.521/23.163ha (2001); 16.700/28.779 ha (2002),năm 2003 dịch bệnh xảy ra làm thiệt hại 16.346 ha, mất 1.207 triệu con giống, 14.800 hộ mất trắng, nợ nần chồng chất Nguyên nhân rất dễ thấy: môi trường nước không đúng tiêu chuẩn, môi trường xấu làm phát sinh các loại dịch bệnh
- Hằng năm, Sóc Trăng thả nuôi gần 6 tỷ con tôm giống, nhưng chỉ kiểm dịch được khoảng 45%, số còn lại nhập ngoài tỉnh về phần lớn là kém chất lượng Mặt khác, trong quy trình sản xuất thủy sản chưa có sự gắn kết giữa các khâu nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; các nhà máy chế biến và người nuôi trồng thủy sản vẫn chưa gắn kết được với nhau
- Bước vào vụ nuôi tôm năm 2009 Tĩnh hình thời tiết, môi trường và giá tôm nguyên liệu đang gặp nhiều khó khăn, phần lớn người dân còn đắn đo trong việc có nên tiếp tục thả nuôi hay không Theo kết quả khảo sát của ngành nông nghiệp thì năm 2009 có khoảng 40% số hộ nông dân nuôi tôm thiếu vốn, không đủ sức sản xuất Nguyên nhân là giá bán tôm nguyên liệu thấp khiến 50%
số hộ nuôi tôm sú bị lồ, không thể trả nợ ngân hàng và không thể vay vốn nuôi mới Chính vì vậy, diện tích nuôi tôm năm 2009 có thể giảm và sản lượng tôm nguyên liệu dự báo giảm khoảng 20%
Trang 55
Chương 2: MỤC TIÊU - PHƯƠNG PHÁP
2.1 Mục tiêu công trình:
- Góp phần làm giảm chi phí trong quá trình nuôi tôm sú
- Tăng thêm thu nhập cho những người nuôi tôm sú
- Bước đầu tạo môi trường thuận lợi để tôm sú phát triển tốt và đạt đầu con
- Tìm ra phương pháp xử lí nước cải tạo ao tốt, làm hạn chế rủi ro cho nghề nuôi tôm sú , tăng thêm cơ hội làm giàu cho người nuôi tôm sú
2.2 Tính ưu việt công trình:
- Đây là một trong nhiều phương pháp xử lí nước cải tạo ao nuôi tôm sú tốt, nhưng phương pháp xử lí này sát với tinh hình xử lí thực tế của những hộ nuôi tôm sú hơn
- Chúng ta xử lí tốt được khâu cải tạo ao nuôi tôm sú thi chúng ta đã giảm bớt được một phần chi phí đáng kể trong quá trình nuôi, cũng như sự tấn công của các mầm bệnh gây hại cho tôm
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
- Điều tra những hộ nuôi tôm sú ở xã Hòa Đông - huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng về phương thức xử lí nước cải tạo ao nuôi của những hộ nuôi tôm sú Sau đó đưa ra một phương pháp xử lí nước cải tao ao nuôi tôm sú tốt
- Tìm hiểu điều kiện đất đai, chất lượng môi trường nước, điều kiện thủy văn tại nơi nghiên cứu
để có hướng xử lí tốt
- Chọn ra những sản phẩm thuốc xử lí nước cải tạo ao nuôi tôm sú tốt vừa đem lại hiệu quả cao
và giá thành hợp lí để giảm chi phí cho quá trình nuôi tôm sú
Trang 66
- Chứng minh qua thực tế bằng cách áp dụng vào ao nuôi tôm sú ở ấp Thạch Sao- xã Hòa Đông
- huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng với diện tích là 4000m2 Rồi cải tạo ao nuôi tôm sú theo phương pháp xử lí nước cải tạo ao đã nghiên cứu Thả tôm sú với mật độ là 25con/m2 với nguồn tôm sú giống lấy từ Công Ty Sản Xuất Tôm Sú Giống Đại Thịnh Sau một thời gian từ 30-75 ngày rồi kiểm tra ao nuôi xem tỉ lệ sống của tôm sú giống là bao nhiêu?, Tốc độ phát triển của tôm sú như thế nào?, tôm có bị mầm bệnh tấn công hay không ?
- So sánh giữa phương pháp xử lí nước cải tạo ao nuôi tôm sú vừa nghiên cứu với không theo phương pháp xem coi theo phương pháp và không theo phương pháp thì mặt nào tốt hơn mặt nào chưa tốt, rồi sửa chửa những cái chưa tốt để đưa ra một phương pháp xử lí nước cải tạo ao nuôi tôm sú trước khi thả tôm sú giống xuống ao nuôi vừa đạt hiệu quả cao lại vừa giảm chi phí nuôi tôm sú
Trang 77
Chương 3 : GIẢI QUYẾT VẮN ĐỀ
3.1 Đặc điểm sinh học và sinh thái của tôm sú
3.1.1 Phân loại và định danh tôm sú:
- Theo tổ chức nông lương thế giới (FAO), tôm sú được phân loại và định danh như sau:
Họ: Penaeidea (tôm He)
+ Chi: Penaeus + Loài:
p.momodon
+ Tên khoa học của tôm sú là: Penaeus monodon ( Fabricius, 1798)
- Loài này có 6 Synonyms là:
+Penaeus carinatus ( Dana, 1852)
+Penaeus tahỉtensis (Heller, 1862 )
+Penaeus semisulcatus exsutcatus ( Hilgendorf, 1879 )
+Penaeus coeruleus ( Stebbing, 1905 )
+Penaeus bubulus (Kubo, 1949)
+Penaeus monodon monodon ( Burkenroad, 1959)
3.1.2 Cấu tạo của tôm sú:
Nhìn từ bên ngoài, tôm gồm các bộ phận sau:
- Chủy: dạng như lưỡi kiếm, cứng, có răng cưa Với tôm sú, phía trên chủy có 7 - 8 răng và dưới chủy có 3 răng
- Mũi khứu giác và râu: cơ quan nhận biết và giữ thăng bằng cho tôm
- 3 cặp chân hàm dùng lấy thức ăn và bơi lội; 5 cặp chân ngực dùng lấy thức ăn và bò; cặp chân bụng dùng bơi; có 1 cặp chân đuôi để tôm có thể nhảy xa, điều chỉnh bơi lên cao hay xuống thấp; bộ phận sinh dục (nằm dưới bụng)
- Tôm sú thuộc loại dị hình phái tính, con cái có kích thước to hơn con đực Khi tôm trưởng thành phân biệt rõ đực cái, thông qua cơ quan sinh dục phụ bên ngoài
•Con đực: cơ quan sinh dục chính của con đực nằm ở phía trong phần đầu ngực, bên ngoài
có cơ quan giao phối phụ nằm ở nhánh ngoài đôi chân ngực thứ 2, lỗ sinh dục đực mở ra hốc háng đôi chân ngực thứ 5 Tinh trùng thuộc dạng chứa trong túi
Trang 88
•Con cái: Buồng trứng nằm dọc theo mặt lưng phía trên, hai ống dẫn trứng mở ra ở khớp háng đôi chân ngực thứ 3 Bộ phận chứa túi tinh gồm 2 tấm phồng lên ở đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 dưới bụng tôm
3.1.3 Phân bố:
Phạm vi phân bố của tôm sú khá rộng, từ ấn Độ Dương qua hướng Nhật Bản, Đài Loan, phía Đông Tahiti, phía Nam châu úc và phía Tây châu Phi (Racek - 1955, Holthuis và Rosa - 1965, Motoh - 1981, 1985) Nhìn chung, tôm sú phân bố từ kinh độ 3OE đến 155E từ vĩ độ 35N tới 35S xung quanh các nước vùng xích đạo, đặc biệt là Indonesia, Malaixia, Philippines và Việt Nam Tôm bột (PL.), tôm giống (Juvenile) và tôm gần trưởng thành có tập tính sống gần bờ biển và rừng ngập mặn ven bờ Khi tôm trưởng thành di chuyển xa bờ vì chúng thích sống vùng nước sâu hơn
3.1.4 Các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm sú :
- Nauplli có 6 giai đoạn phát triển từ 36-51 giờ, các Nauplli bơi từng đoạn ngắn rồi nghỉ, lột vỏ
4 lần, mỗi lần khoảng 7 giờ, tự sống bằng noãn hoàng, không cần cho ăn
+ Nauplli 1: dài khoảng 0.40mm, dày 0.20mm
+Nauplli 2: dài khoảng 0.45mm, dày 0.20mm
+Nauplli 3: dài khoảng 0.49mm, dày 0.20mm
+Nauplli 4: dài khoảng 0.55mm, dày 0.20mm
+Nauplli 5: dài khoảng 0.61mm, dày 0.20mm
+Nauplli 6: dài khoảng 0.70mm, dày 0.20mm
- Zoea có 3 giai đoạn phát triển từ 105-120 giờ, các Zoea bơi liên tục gần mặt nước, lột vỏ 2 lần, mỗi lần khoảng 36 giờ, ăn thực vất phiêu sinh
+ Zoea 1: dài khoảng lmm, dày 0.45mm, xuất hiện hai phần dầu và bụng rõ rệt + Zoea 2: dài khoảng 1.9mm, xuất hiện mặt và chủy
+ Zoea 3: dài khoảng 2.7mm, xuất hiện gai trên bụng
- Mysis có 3 giai đoạn trong 72 giờ, các Mysis bơi hướng xuống sâu, đuôi đi trước, đầu
đi sau
+ Mysic 1: dài khoảng 3.4mm, có hình dạng của tôm trưởng thành, xuất hiện các cặp chân bụng, đuôi và quạt đuôi, các gai bụng thu nhỏ lại
+ Mysic 2: dài khoảng 4.0mm
+ Mysic 3: dài khoảng 4.4mm, chân bụng dài hơn, phân thành đốt nhỏ, xuất hiện răng trên chủy
- Postlarvae: giai đoạn gần trưởng thành
- Juvenile: giai đoạn trưởng thành
- Tuổi thành thục: tuổi thành thục sinh dục của tôm đực và tôm cái từ tháng thứ 8 trở đi Xác định sự thành thục của tôm cái dễ hơn, chỉ cần quan sát có túi tinh ở cơ
Trang 9để gặm, thời gian tiêu hoá 4-5 giờ trong dạ dày
- Số lượng trứng đẻ của tôm cái: nhiều hay ít là phụ thuộc vào chất lượng buồng trứng và trọng lượng cá thể: trọng lượng lớn cho trứng nhiều hơn Khi con cái thành thục ngoài tự nhiên có trọng lượng từ 100-300g cho 300.000 -1.200.000 trứng Nếu cắt mắt nuôi vỗ trong bể xi măng, thành thục và đẻ, cho số lượng trứng từ 200.000- 600.000 trứng Tôm cái đẻ trứng vào ban đêm (thường
từ 22 giờ đến 2 giờ) trứng sau khi đẻ được 14-15 giờ, ở nhiệt độ 27-28C sẽ nở thành ấu trùng (Nauplii) Tôm sú đẻ quanh năm, nhưng tập trung vào hai thời kỳ chính: từ tháng 3 đến tháng 4
và từ tháng 7 đến tháng 10 Tuổi thọ tôm sú con đực khoảng 1,5 năm, con cái chừng 2 năm
3.1.5 Tập tính ăn của tôm sú:
Tôm sú là loại ăn tạp, thích các động vật sống, xác thối rữa hay mảnh vụn hữu cơ, đặc biệt
ưa ăn giáp xác, thực vật dưới nước, mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, loại 2 mảnh vỏ, côn trùng Tôm sống ngoài tự nhiên ăn 85% là giáp xác, cua nhỏ, động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ, còn lại 15% là cá, giun nhiều tơ, thuỷ sinh vật, mảnh vụn hữu cơ, cát bùn
3.1.6 quá trình lột xác của tôm:
Trong quá trình tăng trưởng, khi trọng lượng và kích thước tăng lên mức độ nhất định, tôm phải lột bỏ lớp vỏ cũ để lớn lên Sự lột xác thường xảy ra vào ban đêm Sự lột xác đi đôi với việc tăng thể trọng, cũng có trường hợp lột xác nhưng không tăng thể trọng Khi quan sát tôm nuôi trong bể, hiện tượng lột xác xảy ra như sau: Lớp biểu bì giữa khớp đầu ngực và phần bụng nứt
ra, các phần phụ của đầu ngực rút ra trước, theo sau là phần bụng và các phần phụ phía sau, rút
ra khỏi lớp vỏ cứng, với động tác uốn cong mình toàn cơ thể Lớp vỏ mới mềm sẽ cứng lại sau 1-2 giờ với tôm nhỏ, 1-2 ngày đối với tôm lớn Tôm sau khi mới lột xác, vỏ còn mềm nên rất nhạy cảm với môi trường sống thay đổi đột ngột Trong quá trình nuôi tôm, thông qua hiện tượng này, có thể điều chỉnh môi trường nuôi kịp thời Hormone hạn chế sự lột xác lột xác (MIH, molt
- inhibiting hormone) được tiết ra do các tế bào trong cơ quan của cuống mắt, truyền theo sợi trục tuyến xoang, chúng tích luỹ lại và chuyển vào trong máu, nhằm kiểm tra chặt chẽ sự lột xác
Trang 10Sóc Trăng nằm ở bờ nam Hậu Giang ,Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.223,3km2, chiếm 0,98% tổng diện tích tự nhiên của cả nước Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh như quốc lộ 1, có đường biển nối liền quốc tế, hệ thống sông ngòi tỉnh Sóc Trăng nhiều, chằng chịt tới các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và hai nước Campuchia, Lào, Có 72 km bờ biển chạy dọc theo biển Đông Tỉnh lỵ của Sóc Trăng nay là thành phố Sóc Trăng cách thành phố Hồ Chí
Minh 231 km và cách thành phố càn Thơ 60 km, Sóc Trăng có 9 huyện và 1 thành phố trực thuộc
tỉnh, gồm các huyện và thành phố là: thành phố Sóc Trăng, Châu Thành, Long Phủ, Cù Lao Dung,
Mỹ Tủ, Thạnh Trị, Ngã Năm, Ke Sách, Mỹ Xuyên Địa lí tỉnh được hình thành từ 3 vùng sinh thái tự nhiên là vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn kinh tế của tỉnh chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp chế biến hàng nông - thủy - hải sản
- Vĩnh Châu là một huyện thuộc tỉnh Sóc Trăng, diện tích 46.260 ha, dân số 146.854 người gồm các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa Huyện Vĩnh Châu có 1 thị trấn và 9 xã:Thị trấn Vĩnh Châu (huyện lỵ) và Các xã: Lai Hòa, Vĩnh Tân, Vĩnh Phước, Vĩnh Hiệp, Hòa Đông, Khánh Hòa, Vĩnh Châu, Lạc Hòa, Vĩnh Hải
3.2.2 Khí hậu:
Sóc Trăng, cũng giống như các tỉnh khác trong vùng châu thổ Cửu Long, điều chịu ảnh hưởng của đới khí hậu nhiệt đới gió mùa khí hậu hàng năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa ( từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm kế) Mưa bão tập trung từ tháng
7 đến tháng 9; tuần xuất lũ có thể xảy ra vào tháng 8, các hiện tượng gió lốc thường xẩy ra vào tháng 7
+ Nhiệt độ trung bình là 28,5°c và hầu như không có chênh lệch giữa các vùng của tỉnh
+ Lượng ánh sáng chiếu khá lớn, trung bình 6,6 giờ/ ngày
+ Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.489mm -90 % lượng mưa thuộc các tháng từ tháng 5 đến tháng 11
Trang 11và chính nó là nguyên nhân gây nên hiện tượng xâm thực của nước mặn vào đất liền lớn vào mùa này
- Nhờ tác động của lực Coroloic nên hầu như các cơn bảo xảy ra ở khu vực này là rất ít, tính từ đèo Cả trở vào thì chỉ có 8% tổng số cơn bảo xảy ra Tuy nhiên, Sóc Trăng vẩn bị tác động của các cơn bảo xa nên vẩn bị hiện tượng mưa lớn triền miên làm ngập úng, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, đến hạ tầng giao thông, các công trình dân dụng, dân sinh
3.2.3 Địa hình :
Địa hình tỉnh Sóc Trăng kể cả vùng ven biển thì tương đối bằng phẳng, trừ các vùng đất giồng
ở địa hình cao Độ cao trung bình so với mặt nước biển khoảng +2,5m, nơi cao nhất cũng chỉ khoảng 3m Địa hình có độ dốc tự nhiên nhỏ 1/1000
3.2.4 Địa chất:
Nhìn chung đất ở khu vực này là thấp và yếu các mẩu khoan ở độ sâu 3 Om cho kết quả như sau:
-Từ 0-2,3m là lớp cát vàng có pha ít bột sét ở trạng thái chặt
-Từ 2,3-9m là lớp cát mịn pha bột sét màu xám ở trạng thái chặt
-Từ 9-19,5m là lớp đất sét màu xám ở trạng thái dẻo mềm
-Từ 19,5-27,5mlà lớp sét màu vàng ở trạng thái cứng
-Từ 27,5-30mlà lớp cát pha màu vàng ở trạng thái chặt.( Lê Quang Trí & Võ Thị Gương ,2009)
Bảng 1: Bảng mô tả phẫu diện của đất
STT Độ sâu tầng đất Mô tả phẫu diện
1 0-5 cm Màu nến: vàng xám (2.5Y 6/2), sét, khô, không thuần thục, không
cấu trúc, không đốm rỉ
2 5-40 cm
Màu nền: nâu (7.5YR 4/3), ấm, thuần thục, chất hữu cơ ít, lẫn ít chất hữu cơ đen, có cấu trúc, đốm rỉ: nâu sậm (10YR 3/4) (3-5%) lẫn đốm rỉ sét xám, đốm chất hữu cơ đen cứng
5 180 - 200 cm Màu nền: đen đến đen nâu (2.5Y2.5/1), sét cát mịn,cát xếplớp, ẩm,
dẽo dính, bán thuần thục, chất hữu cơ ít,
Trang 1212
- 7 - 7 -
không câu trúc, không đôm rỉ
Bảng 2: Thành phần hóa học của loại đất Sali Eutric Gleysols (Gleus)
EC mS/
% sand 0.05- 2mm
% silt 0.002- 0.05 mm
% Clay< 0.002
A1 ex
cmol/kg
Acid tổng cmol/kg
Ca cmol/kg
Mg cmol/kg
K cmol/kg
Na cmol/kg
Trang 1313
3.3 Lựa chọn hình thức nuôi:
3.3.1 Các hình thức nuôi tôm sú hiện nay:
Quảng canh (QC): Hình thức này sử dụng diện tích lớn tận dụng con giống & nguồn thức
ăn hoàn toàn tự nhiên Tuy nhiên hiện nay người nuôi hầu hết chuyển sang hình thức thả bổ sung con giống ở mật độ thấp và sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn tự nhiên (phổ biến nhiều nhất là ở tỉnh Cà Mau)
- Quảng canh cải tiến (QCCT):Phổ biến nhiều nhất ở các tỉnh ĐBSCL và các tỉnh phía Bắc với một số hình thức sau:
+ Nuôi chuyên tôm
+ Nuôi tôm luân canh với trồng lúa: ở Cà Mau, Bạc Liêu, Ben Tre, Long An, Duyên Hải - TP.HỒ Chí Minh,
+ Nuôi tôm sú trong ruộng muối vào mùa mưa: ở Vĩnh Châu - Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh,
- Nuôi tôm Bán công nghiệp (BCN) và Công nghiệp (CN) cũng như nuôi tôm sú bán thâm canh
và thâm canh: Phổ biến nhiều nhất ở duyên hải miền trung, bắt đầu phát triển mạnh ở ĐBSCL và
ở các tỉnh phía Bắc
3.3.2 Chọn hình thức nuôi:
Trong việc chọn lựa để quyết định hình thức nuôi quý bà con nuôi tôm cần lưu ý và xem xét thật cẩn thận về điều kiện đất đai, mức độ đầu tư (nguồn vồn) và trình độ quản lý nhằm có những quyết định đúng đắn nhất, để tránh tình trạng 'Tiến thoái lưỡng nan" gây thiệt hại không thể lường hết được.còn đối với vùng đất huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng chúng tôi chọn hình thức nuôi bán thâm canh và thâm canh với mật độ thả nuôi từ 15-45 con/m2.Vì nơi đây có những điều kiện đất đai, nước và thủy văn phù hợp với mô hình nuôi
3.4 Lựa chọn địa điểm để thiết kế ao hồ:
3.4.1 VỊ trí - chất đất:
Những vùng có nguồn nước mặn từ 5 - 35°/00 và có PH đất trên 5 đều có thể nuôi tôm sú Tuỳ theo hình thức nuôi mà có mức độ đòi hỏi về chất đất và chất nước Hình thức nuôi thâm canh thì đòi hỏi chất nước và đất cao hơn hình thức nuôi bán thâm canh và quảng canh cải tiến Nói chung, đất nên có độ kết dính tốt, ít xác bã hữu cơ, giữ được nước là điều kiện lý tưởng Chúng tôi chọn
ấp Thạch Sao - xã Hòa Đông - huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng để thực hiện phương pháp xử
lí cải tạo ao nuôi tôm sú trước khi thả tôm sú giống xuống
3.4.2 Cff sở hạ tầng:
Đe phục vụ sản xuất tốt, có các vấn đề cần lưu ý:
Trang 1414
- Giao thông thuận tiện cho việc vận chuyển con giống và tôm thuơng phẩm không
quá lâu (trên 10 giờ)
- Có điều kiện thuận lợi về điện lưới quốc gia
- Hệ thống cấp thoát nước đảm bảo
- Có quy hoạch tổng thể và chi tiết cho vùng nuôi tôm
- Thuận tiện cho thông tin, liên lạc và an ninh nông thôn được tốt
3.5 Chuẩn bị - cải tạo ao nuôi:
3.5.1 Nạo vét bùn và mùn bã hữu Cff ra khỏi ao:
- Trong quá trình nuôi, chất thải tích tụ ở đáy ao, các chất thải này gây độc hại cho tôm Chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau và có sự khác biệt giữa các ao nuôi, bao gồm: Đất ao bị xói mòn do dòng chảy của nước, Đất từ bờ ao bị rửa trôi, Phân tôm, Thức ăn thừa, Xác chết của phiêu sinh vật, Các loại vôi, khoáng chất, Chất lơ lửng do nguồn nước cấp
- Trong các nguồn gốc sinh ra chất thải lắng tụ trong ao thì chất thải sinh ra từ sự xói lở ao nuôi
có thể góp phần đáng kể vào sự hình thành chất lắng tụ nhưng chúng thường không là nguồn gốc chính của sự hình thành chất hữu cơ Chất hữu cơ có nguồn gốc chủ yếu từ phân tôm, thức ăn thừa và xác chết của phiêu sinh vật
- Hệ thống ao nuôi có năng suất cao thì lượng chất thải hữu cơ tích tụ càng nhiều, cho nên hệ thống nuôi năng suất cao đòi hỏi phải có sự quản lí chặt chẽ sự tồn lưu chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm Do đó sau mỗi vụ nuôi phải nên vét sạch đáy bùn, nạo vét các chất bùn hữu cơ do xác tảo và thức ăn thừa tạo nên, nhằm tạo cho nền đáy ao sạch, cứng giúp quá trình sử dụng được lâu dài
- Qúa trình cải tạo ao có 2 phương pháp là cải tạo khô và cải tạo ướt Phương pháp cải tạo ao khô trước hết chúng ta cần xổ nước trong ao nuôi thật khô, phơi đáy ao cho đất trong đáy ao cứng lại và dùng máy ủi ủi một lớp mỏng khoảng 10- 15em để cho các chất thải trong đáy ao được làm sạch, cứng tạo điều kiện cho tôm sú phát triển về sau.Phương pháp cải tạo ao ướt nếu ao nuôi không thể xổ cạn nước được thi chúng ta có thể dùng máy hút bùn để hut bùn ra khỏi đáy ao và
đổ những nơi hợp lí tránh đổ trực tiếp ra ngoài sông, rạch sẽ gây ảnh hưởng và ô nhiểm môi trường nuôi tôm.Trường hợp không có thể nạo vét bùn trong ao ra ngoài được, nên cải thiện đáy
ao với men vi sinh như Power pack hoặc Aqua bac hoặc Super PS.Tốt nhất là nên cải tạo ao khô
để giúp cho đáy ao thông thoáng, tiêu diệt mầm bệnh và giải phóng khí độc là điều hết sức cần thiết
Trang 15bị nhiễm phèn phải giữ đáy ao luôn được ẩm)
3.5.3 Chọn nguồn nước cấp thích họp:
Nguồn nước cấp vào nuôi cũng là một trong những lí do làm tích tụ chất hữu cơ trong ao nuôi tôm Do vậy khi chọn nguồn nước cấp vào ao nuôi chúng ta cần phải chọn những nguồn nước ít chất lơ lửng, không có tảo và nên chọn nguồn nước có độ mặn thấp.Sau đó chúng ta lấy nước vào
ao trữ lắng, rồi cấp vào ao nuôi qua túi lọc nước bằng vải cho đến khi mực nước trong ao được l,5m và đặt dàn quạt nước một cách thích hợp để tạo nguồn oxy trong ao nuôi
3.5.4 Những lọi ích của ao trữ lắng và túi lọc nước:
❖ Những lựi ích của ao trữ lắng
- Lắng trong nước trước khi cấp vào ao nuôi
- Giảm tính độc hại các chất độc ở bên ngoài (thuốc BVTV), chất độc từ các nguồn nước thải, ) và các hoá chất diệt chuẩn được sử dụng (Chlorine, Neu- kuta, )
Một lượng sinh vật gây bệnh cho tôm, đặc biệt là các virus nguy hiểm (bệnh đốm trắng, đầu vàng, ) sẽ bị tiêu diệt trong thời gian lắng nước (trên 7 ngày) Do ít có cơ hội tìm được vật ký sinh thích hợp
- Chủ động được lịch cấp nước do không bị lệ thuộc vào con nước lớn
Ghi chú: để hạn chế dịch bệnh xảy ra trên tôm nuôi, ao trữ lắng được xem là một yêu cầu bắt buộc, diện tích ao trữ lắng bằng 30 -50% diện tích nuôi
❖ Những lọi ích của túi lọc nước (Screen net)
- Dùng túi lọc để ngăn các vật chủ trung gian như cá, cua, các loại tôm khác
Dùng túi lọc bang cotton 2 lớp, dài khoảng 4-5m, Làm một túi lọc dài và gắn với máy bom để trong suốt quá trình nuôi có thể lọc bớt tảo ra khỏi ao
3.5.5 Diệt giáp xác :
Sau khi cấp nước vào ao được l,5m và đặt quạt máy cung cấp oxy cho ao nuôi xong chúng ta tiến hành diệt giáp xác (tôm tạp, cua, tép ) với một số loại hóa chất có thể diệt giáp xác với liều lượng như sau: