Qua đây, em xin cảm ơn Ban Chủ nhiệm đề tài “Trồng thử nghiệm và đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của cây Chùm Ngây trồng trên một số đảo Đông Bắc” đã cho phép em tham gia thực h
Trang 1ĐỊA PHƯƠNG TẠI MIỀN BẮC
Thời gian thực hiện từ tháng 2 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016
Người hướng dẫn khoa học
TS LÊ XUÂN ĐẮC
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn TS Lê Xuân Đắc, người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Đồng thời em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt thời gian học tập tại trường
Em xin cảm ơn Ban Lãnh đạo và toàn thể cán bộ khoa học Viện Sinh thái Nhiệt đới, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, Bộ Quốc phòng đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để em thực hiện khóa luận tốt nghiệp Qua đây, em xin cảm
ơn Ban Chủ nhiệm đề tài “Trồng thử nghiệm và đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của cây Chùm Ngây trồng trên một số đảo Đông Bắc” đã cho phép em tham gia thực hiện đề tài này
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến gia đình và bạn bè, những người đã luôn luôn ủng hộ, động viên em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Sinh viên
Bùi Thị Thủy
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự
hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS Lê Xuân Đắc Các nội dung nghiên cứu
và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng, biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả nghiên cứu
có ghi trong nhật kí thí nghiệm và bảng theo dõi thí nghiệm hàng ngày trong quá trình thực tập Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nghiên cứu, nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian dối nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Sinh viên
Bùi Thị Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
5 Điểm mới 4
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Giới thiệu chung về cây Chùm Ngây 5
1.1.1 Nguồn gốc 5
1.1.2 Đặc điểm sinh học cây Chùm Ngây 6
1.1.2.1 Đặc điểm hình thái 6
1.1.2.2 Đặc điểm giải phẫu thực vật 8
1.1.3 Điều kiện phân bố cây Chùm Ngây 10
1.2 Thành phần dinh dưỡng 11
1.3 Giá trị sử dụng cây Chùm Ngây 14
1.4 Năng suất và giá trị kinh tế cây Chùm Ngây 16
1.5 Trồng và thu hoạch cây Chùm Ngây 18
1.6 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 19
1.7 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp đánh giá các điều kiện sinh thái và lựa chọn địa điểm 23
Trang 52.3.2 Đánh giá sinh trưởng và phát triển cây Chùm Ngây giai đoạn cây con 23
2.3.3 Xây dựng mô hình trồng thử nghiệm trên đảo và đất liền 24
2.3.4 Đánh giá sự sinh trưởng phát triển cây Chùm Ngây 25
2.3.5 Theo dõi phát triển của sâu bệnh và biện pháp phòng trừ 26
2.3.6 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên huyện đảo Cô Tô 28
3.1.1 Một vài đặc điểm chung 28
3.1.2 Đặc điểm khí hậu 30
3.1.3 Đặc điểm thảm thực vật 31
3.2 Lựa chọn địa điểm, đặc điểm phẫu diện và tính chất đất khu vực đảo Cô Tô và đảo Trần 33
3.2.1 Lựa chọn địa điểm 33
3.2.2 Đặc điểm phẫu diện và tính chất đất trên đảo Cô Tô và đảo Trần 33
3.3 Đánh giá sự sinh trưởng phát triển cây Chùm Ngây 36
3.3.1 Đánh giá sinh trưởng và phát triển cây Chùm Ngây giai đoạn cây con 36 3.3.2 Tỷ lệ sống của cây con sau khi trồng 37
3.3.3 Đánh giá sinh trưởng phát triển cây Chùm Ngây sau 2 tháng tuổi 38
3.3.4 Đánh giá sinh trưởng phát triển cây Chùm Ngây sau 4 tháng tuổi 39
3.3.5 Năng suất lá Chùm Ngây 40
3.3.6 Theo dõi phát triển của sâu bệnh và biện pháp phòng trừ 42
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
4.1 Kết luận 44
4.2 Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Hoa đồ cây Chùm Ngây 6
Hình 2 Thân, lá, hoa, quả, hạt Chùm Ngây 7
Hình 3 Cấu tạo giải phẫu của thân cây Chùm Ngây 8
Hình 4 Cấu tạo giải phẫu lá Chùm Ngây 9
Hình 5 Cấu tạo giải phẫu rễ cây Chùm Ngây 10
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Thành phần dinh dưỡng trong 100 gam lá tươi 12
Bảng 2 Thành phần dinh dưỡng trong 100 gam hạt tươi 13
Bảng 3 So sánh chất dinh dưỡng trong lá cây Chùm Ngây với một số thực phẩm khác 14
Bảng 4 Đặc điểm phẫu diện đất khu vực trồng cây Chùm Ngây trên đảo Cô Tô và đảo Trần 34
Bảng 5 Một số chỉ tiêu tính chất đất 35
Bảng 6 Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống và khả năng sinh trưởng 36
cây Chùm Ngây giai đoạn cây con 36
Bảng 7 Tỷ lệ cây Chùm Ngây sống sau khi trồng (2 tháng tuổi) 38
Bảng 8 Đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển cây Chùm Ngây (2 tháng tuổi) 39
Bảng 9 Đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển cây Chùm Ngây (4 tháng tuổi) 40
Bảng 10 Khả năng phân cành và năng suất lá Chùm Ngây 6 tháng tuổi 41
Bảng 11 Tỷ lệ nước trong lá Chùm Ngây 42
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cây Chùm Ngây (Moringa oleifera L.), thuộc họ Chùm Ngây (Moringaceae),
xuất xứ từ vùng Nam Á nhưng cũng mọc hoang và được trồng, khai thác, sử dụng nhiều nơi trên thế giới do có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao Trên thế giới
còn có nhiều tên gọi khác như "cây thần diệu" (Miracle tree), "cây kỳ quan" (Wonder tree), "cây vạn năng" (Multipurpose tree)… Ở Việt Nam cây Chùm
Ngây được phát hiện mọc hoang từ lâu tại một số vùng như Thanh Hóa, Ninh Thuận, Bình Thuận, vùng Bảy Núi ở An Giang
Hầu hết các bộ phận như lá, hoa, quả, hạt, rễ, thân của cây Chùm Ngây đều sử dụng như là nguồn thực phẩm cung cấp dinh dưỡng có giá trị cao cho con người Lá, hoa và quả non của Chùm Ngây, với rất nhiều dinh dưỡng và nguyên tố vi lượng, được dùng làm thực phẩm cho con người, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, chống suy dinh dưỡng trẻ em tại các quốc gia đang phát triển Bằng cách canh tác Chùm Ngây, nhà nông có thể cải
thiện đất bạc màu nghèo dinh dưỡng [4], [7]
Cây Chùm Ngây được chú ý ở Việt Nam khoảng hơn 20 năm trước, được trồng ở một số địa phương thuộc các tỉnh miền Nam và Nam Trung Bộ, hiện nay được trồng nhiều ở một số tỉnh miền Bắc, được đánh giá là cây có giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế cao
Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học về giá trị dinh dưỡng, khả năng sinh trưởng và phát triển ở các vùng sinh thái khác nhau, cũng như qui trình
kỹ thuật trồng và chế biến cây Chùm Ngây ở Việt Nam là rất ít, các thông tin
về giá trị sử dụng và kỹ thuật canh tác của cây Chùm Ngây chủ yếu được tổng hợp từ các tài liệu nước ngoài và hoặc kinh nghiệm của một số người đã trồng Chùm Ngây được phổ biến trên Internet
Trang 10Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước cùng toàn thể nhân dân
ta đã quan tâm đặc biệt đến biển đảo, trong đó có vấn đề đảm bảo rau xanh và các loại thực phẩm khác cho bộ đội và người dân sống trên biển đảo Các đơn
vị bộ đội đã tích cực trồng rau xanh nhằm phục vụ hậu cần tại chỗ khá hiệu quả và thiết thực Tuy nhiên, do xa đất liền, điều kiện sinh thái khó khăn, giao thông không thuận tiện lượng rau xanh sản xuất tại chỗ cung cấp cho bộ đội
và người dân sống trên đảo là không đủ và không kịp thời, đặc biệt trong thời điểm giao mùa hoặc khi thời tiết bất thuận, nên hầu hết lượng rau xanh phải vận chuyển từ đất liền, hơn nữa trong những năm gần đây trên một số đảo có
sự phát triển của khách du lịch ngày tăng cao, nhu cầu sử dụng rau xanh trên các đảo lại càng lớn
Xuất phát từ cơ sở lý luận trên chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu
trồng thử nghiệm cây Chùm Ngây (Moringa oleifera L.) ở một số địa
phương tại miền Bắc”, nhằm góp phần đảm bảo hậu cần tại chỗ cho bộ đội
và người dân sống trên các đảo và bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn để phát triển thêm một loài rau xanh giàu dinh dưỡng cho các tỉnh miền Bắc
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được sự sinh trưởng và phát triển của cây Chùm Ngây trên một số đảo vùng Đông Bắc (Quảng Ninh) và tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Đánh giá các điều kiện sinh thái, lựa chọn địa điểm và xây dựng
phương án trồng thử nghiệm:
Cây Chùm Ngây tuy đã được trồng trên đất liền ở một số địa phương của miền Bắc, tuy nhiên đối với các đảo khu vực Đông Bắc chưa có những nghiên cứu đánh giá về khả năng sinh trưởng và phát triển cũng như các yếu
tố sinh thái, thổ nhưỡng khác Chính vì vậy nghiên cứu này đã tiến hành đánh
Trang 113
giá, điều tra tổng hợp, phân tích một số đặc điểm chung, yếu tố sinh thái, thổ nhưỡng… khu vực đảo Đông Bắc (đảo Trần và đảo Cô Tô) để có cơ sở khoa học cho việc trồng và chăm sóc cây Chùm Ngây
- Thu thập các thông tin về khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa tại các địa điểm thử nghiệm mô hình
- Xác định phẫu diện đất và phân tích thành phần thổ nhưỡng khu vực thử nghiệm mô hình để đề xuất biện pháp canh tác cho phù hợp
- Lựa chọn địa điểm để thử nghiệm mô hình đảm bảo cây sinh trưởng phát triển tốt, ít bị ảnh hưởng của gió bão, hơi nước biển
Nội dung 2: Đánh giá sinh trưởng và phát triển cây Chùm Ngây giai đoạn
cây con
- Đánh giá tỷ lệ nảy mầm của hạt giống
- Đánh giá sinh trưởng phát triển của cây con giai đoạn trồng trong bầu đất
Nội dung 3: Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của cây Chùm Ngây
trồng trên đảo và đất liền
- Đánh giá sự sinh trưởng phát triển của cây trong từng giai đoạn và trên mỗi địa điểm thử nghiệm
- Theo dõi phát triển của sâu bệnh trong điều kiện tự nhiên và biện pháp phòng trừ
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 124.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu này góp phần khẳng định có thể phát triển trồng cây Chùm Ngây trên đảo cho các đơn vị bộ đội và người dân trên các đảo khác hoặc các vùng có điều kiện khó khăn và sinh thái khắc nghiệt khác như miền Trung, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc, các trạm/đồn biên phòng… để phục vụ quân đội và nhu cầu dân sinh
5 Điểm mới
Nghiên cứu đầu tiên có hệ thống về sự sinh trưởng và phát triển cây
Chùm Ngây trên một số đảo Đông Bắc và huyện Cẩm Giàng, Hải Dương
Trang 135
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu chung về cây Chùm Ngây
Chùm Ngây có nguồn gốc ở chân núi Hymalaya, tây bắc Ấn Độ có lịch sử
hơn 4 ngàn năm Một số tài liệu cho biết đã tìm thấy các dạng hoang dại ở Trung Đông (Ả Rập) và châu Phi Ngày nay cây Chùm Ngây được trồng rộng rãi và phân bố tự nhiên ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, Srilanka, Ấn độ, Malayxia và quần đảo Philippine Ở Việt Nam, Chùm Ngây là loài duy nhất của Chi Chùm Ngây được phát hiện mọc hoang từ lâu đời tại nhiều nơi như Thanh Hóa, Ninh Thuận, Bình Thuận, vùng Bảy Núi ở An Giang, đảo Phú Quốc [4], [7], [17]
Chùm Ngây (danh pháp hai phần: Moringa oleifera L.) là loài thực vật thân gỗ phổ biến nhất trong Chi Chùm Ngây (danh pháp khoa học: Moringa) thuộc họ Chùm Ngây (Moringaceae)
Trang 141.1.2 Đặc điểm sinh học cây Chùm Ngây
1.1.2.1 Đặc điểm hình thái
Chùm Ngây là cây thân gỗ cao cỡ trung bình, sống lâu năm, ở độ tuổi trưởng thành cây có thể mọc cao đến 10 m, sau 1 năm trồng cây có thể cao tới
5 - 6 m và có đường kính 10 cm
Thân: xốp, mềm, óng chuốt, không có gai, mọc đứng, tán rộng nhiều
cành tiết diện tròn cao từ 8 - 12 m
Lá: mọc cách, kép lông chim 3 lần lẻ, dài 30 - 60 cm, có từ 5 đến 7 cặp
lá phụ bậc 1, 4 đến 6 cặp lá phụ bậc 2, 6 đến 9 cặp lá phụ bậc 3, màu xanh mốc; lá chét dài 12 - 20 mm hình trứng, mọc đối có 6 - 9 đôi Gân lá hình lông chim dài 1,5 đến 2,5 cm, rộng 1,0 đến 2,0 cm
Cụm hoa: xim hai lá mọc ở nách lá hay ngọn cành
Hoa: ra vào các tháng 1 - 2, màu trắng kem, có cuống, hình dạng giống
hoa đậu, mọc thành chùy ở nách lá, có lông tơ, nhiều mật Bộ nhị gồm 5 nhị thụ màu vàng xen với 5 nhị lép, nhị thụ nằm đối diện với cánh hoa, nhị lép nằm xen kẽ giữa cánh hoa, bao phấn 2 ô hướng ngoài Bộ nhụy gồm 3 lá noãn dính với nhau thành 1 ô, đính môi trắc mô, bầu noãn thượng
Quả: dạng nang treo, dài 25 - 40 cm, ngang 2 cm, có 3 cạnh, chỗ có hạt
hơi gồ lên, dọc theo quả có khía rãnh, chứa khoảng 20 - 40 hạt tròn Hạt màu nâu đen, tròn có 3 cạnh, lớn cỡ hạt đậu Hà Lan [7], [17]
Hoa thức: *♀ K5 C5 A5 G(3)
Hoa Đồ: Hoa đồ của hoa Chùm Ngây được thể hiện ở hình 1
Hình 1 Hoa đồ cây Chùm Ngây
Trang 161.1.2.2 Đặc điểm giải phẫu thực vật
* Thân:
Tiết diện tròn từ ngoài vào trong gồm có:
Lớp bần: Gồm 2 - 4 lớp tế bào hình chữ nhật vách hóa bần, sắp xếp thành dãy đồng tâm và xuyên tâm, rải rác có những đám tế bào bị rách bong
ra ngoài Nhu mô vỏ: gồm những tế bào có hình đa giác hay bầu dục, vách cellulose, bên trong có tinh thể calci oxalate hình cầu gai Sợi trụ bì: hóa mô cứng thành từng đám Libe I: gồm những tế bào vách cellulose có màu hồng đậm, sắp xếp lộn xộn thành từng đám trên 1 vòng tròn Libe II: phân bố đều trên 1 vòng, gồm những lớp tế bào hình chữ nhật vách cellulose, trong tế bào chứa những tinh thể calci oxalate hình cầu gai Gỗ II: phân bố đều trên 1 vòng, gồm các mạch gỗ to hình cầu hay bán nguyệt, sắp xếp liên tục thành 1 dãy từ trong ra ngoài, nhu mô gỗ sắp xếp thành những vòng liên tục, xen kẽ
có những tia gỗ thẳng hàng Gỗ I: sắp xếp thành từng cụm dưới gỗ II, gồm
2-3 mạch gỗ, xung quanh có những đám tế bào nhu mô gỗ vách cellulose Nhu
mô tủy: ở trong cùng [30]
Hình 3 Cấu tạo giải phẫu của thân cây Chùm Ngây
Trang 179
* Lá cây:
Phần gân giữa: Mặt trên phẳng, mặt dưới lồi Biểu bì trên tế bào to hơn biểu bì dưới, ở ngoài phủ một lớp cutin, có lông che chở đơn bào Nhu mô: gồm những tế bào hình đa giác, vách mỏng bằng cellulose, sắp xếp lộn xộn để
hở những khoảng gian bào nhỏ, trong tế bào có chứa tinh thể calci oxalate hình cầu gai Bó dẫn xếp thành hình cung, gỗ ở trên, libe ở dưới Mô dày góc
ở trên biểu bì dưới
Phiến lá: Tế bào biểu bì trên có kích thước to hơn tế bào biểu bì dưới và
có lông che chở; biểu bì dưới có lỗ khí, không có lông che chở Dưới biểu bì trên là nhu mô hình giậu chứa những hạt lục lạp Nhu mô khuyết: tế bào có hình bầu dục hay đa giác, vách cellulose, sắp xếp lộn xộn chừa những khuyết
to, trong tế bào có chứa calci oxalate canxi hình cầu gai; rải rác có những bó libe - gỗ của gân phụ [30]
Hình 4 Cấu tạo giải phẫu lá Chùm Ngây
Trang 18* Rễ cây
Mặt cắt rễ gần tròn, từ ngoài vào trong có:
Lớp bần: Gồm những tế bào nhỏ, dẹt, xếp thành dãy đồng tâm và xuyên tâm, phía ngoài có nhiều chỗ bị bong ra Nhu mô vỏ: cấu tạo từ những tế bào hình đa giác, vách mỏng, xếp lộn xộn, rải rác trong vùng này có những cụm
mô cứng Libe I: bị ép dẹp khó xác định Libe II: gồm những lớp tế bào hình chữ nhật vách bằng cellulose, sắp xếp thành dãy xuyên tâm rõ Gỗ II: chiếm tâm, mạch gỗ II ít, xếp rải rác, nhu mô gỗ vách cellulose, sắp xếp thành dãy xuyên tâm [30]
Hình 5 Cấu tạo giải phẫu rễ cây Chùm Ngây
1.1.3 Điều kiện phân bố cây Chùm Ngây
Cây Chùm Ngây có tính thích nghi rộng, có thể sống được trong điều kiện từ á nhiệt đới khô đến các vùng đất ẩm, qua cả nhiệt đới rất khô đến rừng nhiệt đới ẩm Cây Chùm Ngây là loại cây ưa sáng và nóng ấm, chịu hạn tốt
Để cây sinh trưởng phát triển bình thường yêu cầu nhiệt độ bình quân 18,7 -
Trang 1911
nhiệt đới, ra hoa và cho quả liên tục Nó cũng sinh trưởng tốt trên đất cát, chịu khô hạn Cây kém chịu úng và lạnh [16], [26]
1.2 Thành phần dinh dưỡng
Cây Chùm Ngây (Moringa Oleifera L.) hiện được 80 quốc gia trên thế
giới trồng và sử dụng, những quốc gia tiên tiến sử dụng rộng rãi và đa dạng trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát dinh dưỡng và thực phẩm chức năng Các quốc gia đang phát triển sử dụng Chùm Ngây như một loại thảo dược kỳ diệu kết hợp để chữa những bệnh hiểm nghèo, bệnh thông thường và làm thực phẩm Người ta phân tích và thấy rằng trong cây Chùm Ngây chứa rất nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể ngoài ra còn chứa
nhiều hợp chất quý có tác dụng chữa bệnh [17]
Đầu thập niên 1950, Vialard Goudou đã phân tích lá Chùm Ngây mà nhân dân Việt Nam bán ở các chợ để làm rau ăn, cho thấy lá cây Chùm Ngây rất giàu dinh dưỡng, nhất là chất đạm, chất sắt và vitamin C [25]
Trong 100 g lá Chùm Ngây tươi chứa 6,35 g chất đạm, 1,7 g chất béo, 8
g bột đường; 1,9 g chất xơ; 3,75 g chất khoáng; 50 mg phosphor; 25 mg natri;
216 mg kali; 122 mg calci; 123 mg magnesium; 0,1 mg đồng, 16,4 mg sắt, và
110 mg vitamin C
Theo tài liệu Nghiên cứu y học cổ truyền Đông Dương (Les Plantes Médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam) của Alfred Petelot, Saigon 1953, cho thấy tất cả bộ phận của cây đều chứa một chất glycosid có vị cay cay giống như hột Cải cay (mù tạc) [25]
Thân, cành và vỏ rễ Chùm Ngây chứa moringinin, athonin, spirochin, pterigospermin Chất gôm tiết từ thân cây Chùm Ngây chứa polyuronid gồm arabinoz, galactoz, rhamnoz, glycuronic acid Mùi Cải ngựa và rễ Chùm Ngây
là do chất benzyl - isothiocyanat [25]
Trang 20Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), thành phần chất dinh dưỡng trong cây Chùm Ngây như sau [25]:
Bảng 1 Thành phần dinh dưỡng trong 100 gam lá tươi
Thành phần dinh dưỡng trong 100 gam lá tươi
Trang 22Bảng 3 So sánh chất dinh dưỡng trong lá cây Chùm Ngây với một số thực
phẩm khác
Chất dinh
dưỡng Thực phẩm thông dụng
Lá cây Chùm Ngây
1.3 Giá trị sử dụng cây Chùm Ngây
Các công trình nghiên cứu đã công bố cho thấy Chùm Ngây là cây có giá trị kinh tế cao, cây phân bố tại nhiều vùng ở các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới Cây vừa là nguồn thực phẩm, vừa là nguồn dược liệu rất tốt Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng và là nguồn cung cấp chất đạm, vitamin, beta-carotene, acid amin và nhiều hợp chất phenolics [4], [14], [19]
Lá: Lá cây được dùng làm thực phẩm như là một loại rau xanh có giá
trị dinh dưỡng cao, lá làm rau ăn như xào, nấu canh, bột dinh dưỡng, ủ chua làm gia vị, làm trà giải khát, ngoài ra còn được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, tinh dầu chiết suất trong lá có thể sử dụng làm chất kích thích sinh trưởng Lá Chùm Ngây chứa nhiều vitamin và muối khoáng có ích, với hàm lượng rất cao: vitamin C cao gấp 7 lần trong Cam, provitamin A cao gấp 4 lần trong Cà - rốt, Canxi cao gấp 4 lần trong sữa, Kali cao gấp 3 lần trong chuối, Sắt cao gấp 3 lần trong rau diếp và ngay cả Protein cũng cao gấp 2 lần trong sữa Ngoài ra, nó còn chứa nhiều vitamin B, các acid amin có lưu huỳnh như
Trang 2315
methionin, cystein và nhiều acid amin cần thiết khác Do vậy, lá Chùm Ngây được xem là một trong những nguồn dinh dưỡng thực vật có giá trị cao Ở nhiều nước đang phát triển, lá Chùm Ngây được dùng để chống suy dinh dưỡng cho trẻ em
Hạt: Hạt Chùm Ngây chứa nhiều dầu, lượng dầu chiếm đến 30 - 40%
khối lượng hạt, nhiều nơi trồng Chùm Ngây ép lấy dầu Dầu hạt Chùm Ngây chứa 65,7% acid oleic, 9,3% acid palmitic, 7,4% acid stearic và 8,6% acid behenic Nhiều nước sử dụng hạt Chùm Ngây dùng để ăn như hạt lạc Dầu hạt Chùm Ngây có thể dùng làm dầu ăn hoặc dùng bôi trơn máy móc, dùng cho công nghệ mỹ phẩm, xà phòng Trong hạt Chùm Ngây có chứa 4-alpha-L-Rhamnosyloxy benzylisothiocyanate được xác định là có hoạt tính kháng sinh, có khả năng ức chế sự tăng trưởng của nhiều vi khuẩn và nấm gây bệnh Hạt Chùm Ngây có chứa một số hợp chất đa điện giải (polyelectrolytes) tự nhiên có thể dùng làm chất kết tủa để làm trong nước Dùng hạt Chùm Ngây làm chất tạo trầm lắng và kết tụ, được áp dụng khá
rộng rãi tại Ấn Độ [13], [17]
Các bộ phận khác của cây cũng được sử dụng khá phổ biến như hoa và quả non dùng để xào, nấu canh như một loại thực phẩm Rễ (dạng củ) cây Chùm Ngây cũng được sử dụng với nhiều hình thức: củ non dùng để hầm, nấu cháo dinh dưỡng, củ già phơi khô nấu nước uống hoặc ngâm rượu giúp tăng cường sức khỏe Người dân nhiều nước trên thế giới còn sử dụng thân Chùm Ngây cắt lát phơi khô nấu nước uống hàng ngày, được coi như một loại nước uống bổ dưỡng và rẻ tiền
Các công trình nghiên cứu đã cho thấy trong Chùm Ngây chứa hơn 90 chất dinh dưỡng tổng hợp bao gồm rất nhiều khoáng chất, 18 axit amin, nhiều chất chống oxy hóa, các chất kháng sinh chống viêm nhiễm, các chất có khả năng ngăn ngừa khối u, u xơ tiền liệt tuyến, đào thải độc tố, giúp ổn định huyết
Trang 24áp, tốt cho bệnh nhân tiểu đường và bảo vệ gan Người dân nhiều nước trên thế
giới coi Chùm Ngây như là một cây thuốc dân gian có giá trị [18], [26]
Theo Maroyi (2009), khi nghiên cứu về vai trò và giá trị cây Chùm Ngây
đã cho rằng đây là cây đa tác dụng, với một số vai trò chủ yếu như sau [13]
Xây dựng
` Lắng đọng nước (cột chống, ván, sợi) Thức ăn gia súc
Dược liệu Chùm Ngây Thực phẩm cho người
(lá, rễ, vỏ, hạt) (Moringa oleifera L.) (lá, rễ, hoa, quả non, hạt, dầu)
Tinh dầu, nhiên liệu sinh học Vật liệu trang trí
Củi đun, phân xanh
1.4 Năng suất và giá trị kinh tế cây Chùm Ngây
Qua các nghiên cứu trên thế giới cho thấy Chùm Ngây là cây đa tác
dụng, dễ trồng và có biên độ sinh thái rộng, chịu được điều kiện khô hạn, đất
cát ven biển, có khả năng giữ vai trò quan trọng trong việc xóa đói giảm
nghèo, góp phần thay đổi quan niệm và phương thức sản xuất nông lâm
nghiệp ở các nước đang phát triển
Cây Chùm Ngây có khả năng tăng trưởng rất nhanh, có thể được thu
hoạch lá trong khoảng thời gian 15 - 75 ngày, tùy thuộc vào điều kiện từng
địa phương, nhiều nước trồng Chùm Ngây để làm thức ăn cho gia súc có
Trang 25x 1 m có thể thu lợi nhuận trung bình 59.634USD/ha/năm [12], [16]
Ở Việt Nam, chỉ có 1 loài thuộc họ Chùm Ngây là cây Chùm Ngây
Ngây được trồng nhiều ở các tỉnh miền Trung và miền Nam từ nhiều năm trước, đặc biệt là ở tỉnh An Giang Tuy nhiên, do chưa biết cách thức sử dụng
và giá trị của nó, những năm gần đây nhờ sự phổ biến và công tác khuyến nông tốt nên cây Chùm Ngây mới được biết đến nhiều hơn, người dân cứ nghĩ đây là loài cây mới được du nhập vào Việt Nam hơn 20 năm trước Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chính thức đưa cây Chùm Ngây vào danh sách giống cây trồng nông nghiệp [4], [7], [24]
Ở miền Bắc cây Chùm Ngây đã được trồng thí điểm tại một số địa phương (Hà Nội, Bắc Giang, Ninh Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa…) Qua đánh giá mô hình trồng Chùm Ngây tại Vĩnh Phúc năm 2013 cho thấy, cây sinh trưởng phát triển tốt và năng suất khá cao, mặc dù không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhưng trên cây chưa phát hiện bất kỳ một loại sâu bệnh nào,
Trang 26theo tính toán thì cây Chùm Ngây sẽ cho sản lượng trung bình một năm từ 22
- 27 tấn/ha, giá trị ước đạt từ 1,5 - 1,9 tỷ đồng (với giá thị bán 60.000 - 80.000 đồng/kg) Tại Bắc Giang, mô hình trồng Chùm Ngây cũng đang được thử nghiệm với kết quả ban đầu rất khả quan, cây phát triển rất tốt, sau 6 tháng
trồng đã cho thu hoạch lần đầu tiên, năng suất đạt 2,5 tấn lá tươi/ha [20], [22]
Hiện nay nhu cầu rau Chùm Ngây tại thị trường Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh là tương đối lớn, một số siêu thị lớn ở Hà Nội đã bán các sản phẩm từ Chùm Ngây như rau, quả non, bột, trà túi lọc, bánh bích quy… Tuy nhiên mức độ phổ biến và những hiểu biết của người dân về giá trị cây Chùm Ngây chưa được rộng rãi, cho nên sự phát triển nguồn nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm chưa cao
1.5 Trồng và thu hoạch cây Chùm Ngây
Cây Chùm Ngây có thể trồng bằng hai phương pháp khác nhau là gieo hạt
và giâm cành Tùy thuộc vào nguồn cung cấp vật liệu ban đầu để lựa chọn cho thích hợp Gieo hạt Chùm Ngây vào sâu trong đất từ 1 - 2 cm sau khi đã làm đất
kỹ, có thể gieo hạt trong bầu đất hoặc gieo trực tiếp trên luống, hạt sẽ nảy mầm sau 1 - 2 tuần Nếu giâm cành, có thể cắt các đoạn cành bánh tẻ từ dài 45 - 100
cm và tiến hành giâm cành trong vườn ươm hoặc cắm vào nơi đất ẩm
Phương thức trồng Chùm Ngây rất đa dạng, có thể được trồng thuần loài hoặc trồng xen với các loại cây trồng khác như cây rau, cây ăn quả, cây công nghiệp … Khoảng cách trồng giữa các cây tùy thuộc vào mục đích trồng
và điều kiện cụ thể của từng địa điểm, trong các nhà vườn có thể trồng với khảng cách 20 x 20 cm để thu lá, khoảng cách 75 cm x 100 cm được trồng ở khu vực có diện tích lớn Nếu trồng với mục đích lấy vỏ, có thể trồng với khoảng cách 2,5 x 2,5 m Nhiều nơi trồng để thu hạt và lấy gỗ thì khoảng cách trồng có thể đến 5 x 7 m Khi bố trí trồng xen với các loại cây trồng khác thì tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể, nhưng lưu ý phải cách xa gốc các cây
Trang 2719
khác để không bị ảnh hưởng của tán lá và sự cạnh tranh dinh dưỡng và nước
Cây Chùm Ngây trồng sau 3 tháng có thể thu hoạch lá lần đầu tiên, năng suất lá tăng cao dần ở các lần thu hoạch tiếp theo nhưng phụ thuộc vào cách thức thu hoạch và khoảng cách giữa các lần thu lá, tuy nhiên theo khuyến cáo nếu trồng với mục đích lấy lá thì cần chăm sóc giai đoạn đầu cho cây sinh trưởng phát triển tốt, chỉ nên cắt tỉa những lá già, khi cây cao 0,8 - 1,0 m thì tiến hành bấm ngọn để kích thích tạo nhiều cành, tăng năng suất lá Nếu trồng với mục đích thu vỏ thân là chủ yếu thì sau 1 năm có thể thu hoạch được, có hai hình thức thu hoạch vỏ như chặt đốn thu toàn bộ cây hoặc bóc lấy một phần vỏ thân cây Nếu trồng với mục đích thu hoa quả và hạt thì không nên thu lá, chỉ nên bấm ngọn một lần khi cây cao 1 - 1,5 m, thường thì sau 2 năm cây sẽ ra hoa quả, hoa mới nở, nụ và quả non thu làm thực phẩm xào nấu hoặc chế biến đóng hộp, hạt già sử dụng làm thực phẩm như rang, chế biến bột dinh dưỡng, bột làm bánh kẹo hoặc ép hạt lấy dầu làm dầu ăn và dầu công nghiệp [5], [12], [17], [19]
1.6 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Cây Chùm Ngây được trồng ở một số địa phương thuộc các tỉnh miền Nam và Nam Trung Bộ Trong thời gian gần đây, cây Chùm Ngây được trồng
ở miền Bắc, một vài trang trại sản xuất rau Chùm Ngây đã bắt đầu thu hoạch sản phẩm và cung cấp rau xanh cho thị trường, với giá thành 60.000 - 80.000 đồng/kg rau tươi
Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học về giá trị dinh dưỡng cũng như qui trình kỹ thuật trồng và chế biến cây Chùm Ngây ở Việt Nam là rất ít, các thông tin về giá trị sử dụng và kỹ thuật canh tác của cây Chùm Ngây chủ yếu được tổng hợp từ các tài liệu nước ngoài hoặc kinh nghiệm của một số người
đã trồng Chùm Ngây được phổ biến trên Internet
Trang 28Tại Việt Nam, vào những năm cuối thế kỉ 20, Đại sứ Hoàng gia Anh đã tài trợ cho Viện lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long nghiên cứu trồng cây Chùm Ngây dùng làm rau xanh và thuốc nam tại một số tỉnh ở Nam Bộ [27] Năm
1995 Chùm Ngây được trồng và bảo quản tại Trạm Huấn luyện và Thực nghiệm nông nghiệp Văn Thánh [28] Theo điều tra khảo sát, tháng 2/2009 ngành kiểm lâm An Giang đã phát hiện cây Chùm Ngây ở các vườn, rừng đồi núi hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, một số vườn nhà vùng đồng bào Khmer
cư trú có trồng cây Chùm Ngây nhưng chỉ là để làm hàng rào chứ không biết được đặc tính quí hiếm của cây Từ đây đã mở ra một hướng mới cho đời sống của người dân hai huyện này Năm 2010, dự án trồng cây Chùm Ngây ở vùng Bảy Núi huyện Tri Tôn tỉnh An Giang do Bộ Khoa học - Công nghệ đầu
tư, trong vòng 3 năm chính thức triển khai với tổng diện tích 200 ha, trung bình 1 ha trồng 2,500 cây
Ở miền Bắc theo thông tin của sở KHCN tỉnh Bắc Giang, cây Chùm Ngây đã được trồng thử nghiệm ở huyện Tân Yên (Bắc Giang), kết quả cho thấy sau khi trồng bằng hạt 6 tháng cây đã cho thu hoạch, năng suất khoảng 2,5 tấn lá/ha/năm, có thể thu liên tục nhiều lần/năm và trong nhiều năm Gần đây nhóm tác giả Võ Hồng Thi và cs (2012) đã nghiên cứu sử dụng hạt Chùm Ngây để làm trong nước, khi sử dụng bột của hạt Chùm Ngây để thực hiện quá trình keo tụ với nước sông, hiệu quả giảm độ đục đạt được khoảng 50% đối với nước đục trung bình, nhưng lên tới 76% với nước đục nhiều, làm trong nước bằng hạt Chùm Ngây có thể coi là phương pháp khá phù hợp với quy mô hộ gia đình cho cộng đồng nông thôn Việt Nam Các tác giả Nguyễn Thị Thu Hương và cs (2014) đã nghiên cứu tác dụng của cao Chùm Ngây trên chuột, kết quả mới chỉ ra rằng cao Chùm Ngây có thể hiện tác dụng kiểu estrogen, có sự biến đổi và tăng sinh của tế bào trong nội mạc tử cung với sự xuất hiện ưu thế của tế bào biểu mô trụ so với tế bào biểu mô vảy [8], [9]
Trang 2921
1.7 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cây Chùm Ngây hiện đã có hơn 80 quốc gia trên thế giới trồng và sử dụng Trên thế giới, cây Chùm Ngây được sử dụng chủ yếu làm rau xanh, ngoài ra còn được sử dụng trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát dinh dưỡng và thực phẩm chức năng
Những nghiên cứu khoa học về cây Chùm Ngây khá đa dạng và phong phú Ở Ấn Độ, Pakistan, Philipine… cây Chùm Ngây dễ trồng và được trồng rất phổ biến, cây Chùm Ngây ưa ẩm nhưng không chịu được ngập úng lâu ngày, người dân sử dụng làm rau xanh hàng ngày như một nguồn cung cấp dinh dưỡng, được coi như một nguồn cung cấp dinh dưỡng và năng lượng tự nhiên có giá trị, người dân ở các nước này còn coi cây Chùm ngây là “tủ thuốc của thiên nhiên”, người dân địa phương sử dụng cây Chùm Ngây như là một loại cây thuốc bản địa để chữa các bệnh ung thư, hạ sốt, chống động kinh, chống viêm, chống loét, chống co thắt, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesterol, chống oxy hóa, đái tháo đường [17]
Tổ chức WHO và FAO xem lá cây Chùm Ngây như là giải pháp ưu việt cho các bà mẹ thiếu sữa và trẻ em suy dinh dưỡng, và là giải pháp lương thực cho thế giới thứ ba Trong lá tươi có chứa đến hơn 32 loại hợp chất có tác dụng tăng cường dinh dưỡng và chống ôxy hóa: Calcium, Vitamin C, VitaminA , Sắt , Đồng, Magnesium, Sulfur… đặc biệt là có chứa hàm lượng khá cao các axít amin không thay thế như Leucine, Methionine, Threonine, Tryptophan [14]
Rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng lá và các bộ phận khác (hạt,
rễ, thân ) của cây Chùm Ngây còn có rất nhiều tác dụng khác, lá và hạt có tác dụng kháng sinh rất cao (diệt nấm, ức chế sinh trưởng của vi khuẩn ), hạ cholesterol, phospholipid, triglyceride, chống co giật, giảm sự kết đọng tạo sạn trong thận [4], [14] Hạt Chùm Ngây còn chứa lượng dầu tương đối cao
Trang 30(khoảng 25%), dầu này có thể sử dụng làm Biodiezen khá lý tưởng Hiện nay, ngoài sử dụng lá làm rau xanh, các sản phẩm được chế biến từ cây Chùm Ngây cũng được phổ biến khá rộng rãi như: dầu, trà, nước uống dinh dưỡng,
mỹ phẩm, thực phẩm chức năng…