Để có thể tạo vị trí của mình trong xã hội, các cơ quan, trung tâm thôngtin- thư viện không ngừng xây dựng nguồn lực, hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin phổ biến chúng nhằ
Trang 1tìm hiểu công tác đào tạo ngời dùng tin
tại trung tâm thông tin - th viện
đại học quốc gia hà nội
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khúa luận, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thõn, tụi đóđược sự giỳp đỡ, hướng dẫn tận tỡnh của cỏc thầy, cỏc cụ, sự động viờn củagia đỡnh, bố bạn Qua đõy tụi xin bày tỏ lũng biết ơn chõn thành đến:
Thạc sỹ, thầy giỏo Trần Hữu Huỳnh - Phú Chủ nhiệm Khoa Thụng tin
- Thư viện, Trường Đại học Khoa học xó hội và Nhõn văn đó cú những địnhhướng, giỳp đỡ tụi trong suốt quỏ trỡnh thực hiện khúa luận
Cỏc thầy, cụ giỏo Khoa Thụng tin - Thư viện, Trường Đại học Khoahọc Xó hội và Nhõn văn Cỏc cỏn bộ tại Trung tõm Thụng tin -Thư việnĐHQGHN
Gia đỡnh và bạn bố tụi
Trong quỏ trỡnh thực hiện và hoàn thành chắc chắn khúa luận cũnnhiều thiếu sút Rất mong cỏc thầy, cụ giỏo và cỏc bạn đúng gúp ý kiến đểkhúa luận được hoàn thiện hơn
Tụi xin chõn thành cảm ơn!
Hà Nội, thỏng 5 năm 2009
Sinh viờn
Nguyễn Thị Tươi
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Tìm hiểu công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu được sử dụng trong đề tài đều là những kết quả điều tra xác thực.
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACRL : Hiệp hội Các thư viện chuyên ngành và các trường đại
học Hoa KỳCD-ROM : Compact Disc Readable Memory
CNTT : Công nghệ thông tin
CSDL : Cơ sở dữ liệu
ĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội
LAN : Mạng cục bộ (Local Area Networking)
OCLC : OCLC Online Computer Library Center
OPAC : Online Public Access Catalog
(Mục lục truy cập trực tuyến)TT-TV : Thông tin -thư viện
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp
quốc
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI DÙNG TIN 4
1.1 Kiến thức thông tin và công tác đào tạo người dùng tin 4
1.2 Khái niệm công tác đào tạo người dùng tin 6
1.2.1 Khái niệm 6
1.2.2 Đặc điểm của công tác người dùng tin 7
1.2.3 Vai trò của công tác đào tạo người dùng tin 8
1.2.4 Các kiến thức và kỹ năng cần đào tạo cho người dùng tin 12
1.2.5 Các hình thức đào tạo người dùng tin 12
1.2.6 Các nhân tố tác động tới công tác đào tạo người dùng tin của các cơ quan/trung tâm thông tin – thư viện 13
Chương 2 CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 23
2.1 Khái quát về Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội .23
2.1.1 Lịch sử hình thành, phát triển 23
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ 24
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 25
2.1.4 Quan hệ quốc tế 27
2.2 Các yếu tố tham gia vào quá trình thông tin và tác động tới công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm 27
2.2.1 Cơ sở vật chất 27
2.2.2 Đội ngũ cán bộ 28
2.2.3 Nguồn lực thông tin 29
2.2.4 Người dùng tin và nhu cầu tin 33
2.2.5 Hệ thống các sản phẩm & dịch vụ thông tin tại Trung tâm 36
2.3 Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm 37
2.3.1 Tổ chức các buổi tập huấn sử dụng nguồn lực thông tin tại Trung tâm 38
2.3.2 Tổ chức hội nghị bạn đọc 39
Trang 52.3.3.Tuyên truyền, giới thiệu qua cổng thông tin 40
2.3.5 Cán bộ thư viện trực tiếp trả lời những thắc mắc cụ thể của bạn đọc 43
2.4 Đánh giá, nhận xét 44
2.4.1 Đánh giá chung 44
2.4.2 Những vấn đề tồn tại 45
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGƯỜI DÙNG TIN TẠI TRUNG TÂM TRONG THỜI GIAN TỚI 49
3.1 Phát triển nguồn lực thông tin, đa dạng hoá hệ thống sản phẩm & dịch vụ 49
3.2 Đa dạng các hình thức trong công tác đào tạo người dùng tin 50
3.3 Phát triển hạ tầng cơ sở thông tin 51
3.4 Nâng cao trình độ cho người cán bộ thông tin – thư viện 51
3.5 Mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước 53
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động thông tin thư viện không còn là hiện tượng mới lạ trong xãhội chúng ta Có rất nhiều cách hiểu, khái niệm về thư viện Theo Tổ chứcGiáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) :“Thư viện khôngphụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấnphẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác kể cả đồ họa, nghe nhìn và nhân viênphục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng tài liệu đó nhằm mụcđích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí” Theo cách hiểuđơn giản, thư viện là cơ quan có nhiệm vụ tìm kiếm, thu thập, xử lý, bảo quản
và phổ biến thông tin đến người dùng Vì thế, hoạt động thư viện đóng vai tròquan trọng trong sự phát triển chung của xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, thư viện chiếm vai trò quan trọng, không thểthiếu Bước vào thời đại của thông tin, thông tin trở thành nguồn lực đối vớimỗi quốc gia, là quyền lực đối với từng cá nhân riêng lẻ Để phát triển các cánhân, tổ chức, quốc gia không còn lựa chọn nào tốt hơn là phải nắm bắt thôngtin, làm chủ thông tin
Trong môi trường đại học, thư viện chiếm vị trí thúc đẩy, hỗ trợ, trởthành một trong những tiêu chí quan trọng để chất giá chất lượng đào tạo vànghiên cứu khoa học của trường đại học Đặc biệt khi các trường đại học vàcao đẳng đang thực hiện quy chế đào tạo theo hệ thống tín chỉ trên phạm vitoàn quốc được ban hành theo Quyết định số 43/2007/GĐ-BGDDT ngày15/08/2007 của Bộ Giáo dục và đào tạo, yêu cầu đối với thư viện trong môitrường đại học vì thế càng trở nên cấp thiết
Để có thể tạo vị trí của mình trong xã hội, các cơ quan, trung tâm thôngtin- thư viện không ngừng xây dựng nguồn lực, hoàn thiện hệ thống sản phẩm
và dịch vụ thông tin phổ biến chúng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của từngnhóm người dùng tin
Trang 7Trong môi trường nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo bậc đại học, caođẳng Các trung tâm thư viện không ngừng hoàn thiện các sản phẩm & dịch
vụ của mình Sự hiện diện đa dạng của các sản phẩm & dịch vụ thông tin đicùng sự bức thiết về nhu cầu tin không đồng nghĩa với việc tất cả người dùngtin của thư viện đều hiểu biết đầy đủ về nguồn lực thông tin, cách thức khaithác nguồn tin Vấn đề đào tạo người dùng tin vì vậy cần được các trungtâm/thư viện quan tâm đúng mức khi triển khai bất kỳ sản phẩm hay dịch vụthông tin nào
Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội (gọi tắt làTrung tâm) là cơ quan thông tin- thư viện tương đối hiện đại trong hệ thốngcác thư viện trường đại học ở nước ta Công tác đào tạo người dùng tin luônđược chú trọng ngay từ những ngày Trung tâm được thành lập Cho đến nay,công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm đã phát triển thêm nhiều biệnpháp mới, đã thu được nhiều kết quả khả quan Bên cạnh những kết quả đángghi nhận đó, việc đào tạo người dùng tin còn bộc lộ một số tồn tại cần đượcđược khắc phục Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi
chọn đề tài “Tìm hiểu công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông
tin-Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” là đề tài khóa luận của mình.
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu của đề tài: Tìm hiểu công tác đào tạo người dùng tin tại Trung
tâm Thông tin-Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhiệm vụ của đề tài:
- Tìm hiểu sơ lược lịch sử phát triển, cơ cấu tổ chức - hoạt động thôngtin- thư viện của Trung tâm
- Tìm hiểu các yếu tố tham gia vào hoạt động thông tin và công tác đàotạo người dùng tin tại Trung tâm
- Khảo sát các cách thức, biện pháp mà Trung tâm đã thực hiện nhằmnâng cao kiến thức thông tin cho người dùng tin của mình (công tác đào tạo
Trang 83 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Các cách thức, biện pháp được Trung tâm áp dụng trong
hoạt động đào tạo người dùng tin của mình
Phạm vi nghiên cứu: Trong Trung tâm Thông tin-Thư viện ĐHQGHN,
đặc biệt trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn đầu của đào tạo theo tín chỉ
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận: Kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tài liệu, thống kê số liệu, quan
sát, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn…
5 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trung tâm TT-TV ĐHQGHN là đối tượng nghiên cứu của nhiều đề tài,
ở nhiều cấp độ khác nhau Tuy nhiên, công tác đào tạo người dùng tin tạiTrung tâm mới chỉ được nhắc đến ngắn gọn trong phần giải pháp kiến nghịcủa một số đề tài, chưa được nghiên cứu, đề cập một cách toàn diện
Với đề tài này, tôi hi vọng có được cài nhìn toàn diện, cụ thể về côngtác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm TT-TV ĐHQGHN Từ đó, đưa ramột số kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả đào tạo người dùng tin tạiTrung tâm
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Khóaluận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về công tác đào tạo người dùng tin
Chương 2: Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông Thư viện ĐHQGHN
tin-Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo ngườidùng tin tại Trung tâm trong thời gian tới
Trang 9Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
NGƯỜI DÙNG TIN
1.1 Kiến thức thông tin và công tác đào tạo người dùng tin
Theo Hiệp hội các thư viện đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL,1989), kiến thức thông tin là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng chophép các cá nhân có thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị,thẩm định và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả” [12]
Kiến thức thông tin là sự hiểu biết, tri thức, kỹ năng, thái độ, các hành
vi cụ thể của mỗi thành viên của cộng đồng, mỗi con người trong xã hội trongviệc khai thác, sử dụng các nguồn/hệ thống thông tin Hoạt động thông tincàng phát triển thì trình độ kiến thức thông tin của con người trong xã hộicàng được nâng cao Trình độ của kiến thức thông tin sẽ là một trong nhữngchỉ số quan trọng phản ánh mức độ thông tin được sử dụng trong mỗi xã hội,phản ánh sự bình đẳng của việc khai thác, sử dụng thông tin đối với mỗithành viên trong xã hội
Cần hiểu rõ rằng kiến thức thông tin không chỉ đơn thuần là những kỹnăng cần thiết để tìm kiếm thông tin (xác định nhu cầu thông tin, xây dựngcác biểu thức tìm tin, lựa chọn và xác minh nguồn tin), mà bao gồm cả nhữngkiến thức về các thể chế xã hội và các quyền lợi do pháp luật quy định giúpngười dùng tin có thể thẩm định thông tin, tổng hợp và sử dụng thông tin mộtcách hiệu quả
Kiến thức thông tin vẫn đang trong giai đoạn đầu nghiên cứu và pháttriển tại Việt Nam Mặc dù có không ít khó khăn và trở ngại trong việctriển khai, nhưng nhu cầu về kiến thức thông tin là cần thiết Chính nhữngsức ép từ sự phát triển kinh tế xã hội, từ những kế hoạch tổng thể phát triểnnguồn nhân lực và từ nhu cầu cải cách nền giáo dục đã khiến cho chúng ta
Trang 10các chương trình thông tin quốc gia, cũng như cho các quyết sách phát triểngiáo dục đào tạo.
Hoạt động thông tin - thư viện đang diễn ra những thay đổi sâu sắc từkhoảng những năm 1990 Tại Việt Nam, hoạt động thông tin - thư viện mớichỉ có những bước chuyển đáng kể từ những năm 2000 trở lại đây: Ngân sáchđầu tư cho ngành thông tin- thư viện ngày càng được gia tăng đáng kể Hầuhết các cơ quan thông tin thư viện, đặc biệt là các thư viện đại học, đang tronggiai đoạn hiện đại hóa và tự động hóa Các nhà quản lý và các tổ chức doanhnghiệp bắt đầu hiểu được tầm quan trọng của các cơ quan thông tin – thưviện Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Thuần (Vụ Thư viện Việt Nam), khoảng 80
tỷ đồng đã được đầu tư vào một dự án nâng cấp Thư viện Quốc gia Bên cạnh
đó, nhận thức của các nhà lãnh đạo về vai trò của ngành thông tin thư việncũng đang ngày một đúng đắn và toàn diện Theo đó, cho tới năm 2004, đã cóthêm 9 thư viện tỉnh mới được xây dựng với ngân sách khoảng 62,4 tỷ đồng(tương đương khoảng 3,7 triệu USD) Cho tới năm 2003, đã có khoảng 94 thưviện huyện được tái lập trên cả nước Rất nhiều dự án xây mới và nâng cấpthư viện đã và đang được triển khai ở các tỉnh như Hà Nội, Hải Dương, ThanhHóa, Kiên Giang …[7]
Để đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùng trong bối cảnh mới, hệthống thư viện công cộng cũng đã không ngừng đổi mới, trong đó chú trọngđến việc ứng dụng công nghệ thông tin Cho tới năm 2004, 32 dự án hiện đạihóa các thư viện tỉnh, tương ứng với số tiền là 43 tỷ đồng đã được thông qua
và triển khai Những dự án này hướng vào việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹthuật và công nghệ, ứng dụng các phần mềm quản trị thư viện mới để nângcao hiệu quả hoạt động của thư viện Các nguồn thông tin được bổ sung đangngày càng trở nên đa dạng với nhiều loại hình tài liệu khác nhau Bên cạnh
đó, các phương pháp phục vụ mới như kho mở, OPAC; các hoạt động tiếp thịsản phẩm và dịch vụ thông tin cũng đã bắt đầu được đưa vào triển khai, giúpđáp ứng tốt nhu cầu của người dùng
Trang 11Rõ ràng, đã có rất nhiều những thay đổi đáng kể trong hoạt động thôngtin – thư viện tại Việt Nam, đặc biệt là sự tăng cường ngân sách phát triển hệthống thư viện Do đó, các thư viện và cán bộ thư viện đang có một cơ hội lớn
để chứng tỏ vai trò của mình cũng như thu hút sự quan tâm của xã hội Tínhhiệu quả của sự đầu tư đó chỉ được đảm bảo nếu như việc đào tạo người dùngtin được quan tâm một cách đúng mức và triển khai hiệu quả
Đào tạo người dùng tin xét đến cùng là quá trình cung cấp những kiếnthức thông tin cần thiết cho người dùng tin Đóng vai trò quyết định tới hiệuquả hoạt động của từng cơ quan/trung tâm thông tin – thư viện.Trong từngthời kỳ khác nhau, đối với mỗi nhóm người dùng tin khác nhau, công tác đàotạo người dùng tin đòi hỏi có những thay đổi sao cho phù hợp trong từng điềukiện cụ thể Điều này có nghĩa các cơ quan/trung tâm cần nghiên cứu nghiêmtúc về công tác đào tạo người dùng tin, đánh giá lại hoạt động đào tạo ngườidùng tin mà cơ quan mình đã và đang thực hiện, từ đó xây dựng kế hoạch đàotạo người dùng tin tại cơ quan/trung tâm cho tương xứng
1.2 Khái niệm công tác đào tạo người dùng tin
Từ đó, ta có thể hiểu: công tác đào tạo người dùng tin là tổng hợp các
hành động của một/một nhóm các cơ quan/trung tâm thông tin – thư viện tác động tới người dùng tin của mình nhằm cung cấp, phổ biến những thông tin cần thiết để người dùng tin có khả năng khai thác, sử dụng nguồn lực thông tin tại cơ quan/trung tâm một cách nhanh chóng, thuận tiện, hiệu quả nhất.
Trang 121.2.2 Đặc điểm của công tác người dùng tin
* Tính đối tượng
Tính đối tượng là đặc trương cơ bản của hoạt động, bất cứ hành độngnào cũng nhằm tới một/ một nhóm các đối tượng xác định Tùy theo tính chất,quy mô mà đối tượng của hành động có sự đa dạng khác nhau Trong nhiềutrường hợp, đối tượng của một hành động không chỉ dừng lại ở các đối tượnghiện hữu mà có thể bao gồm cả các đối tượng đang trong quá trình xuất hiện
Đối với công tác đào tạo người dùng tin, đối tượng của hoạt động nàytrước hết là các đối tượng là người dùng tin chính thức tại cơ quan/trung tâm
đó Các đối tượng này cần nhận được hướng dẫn, đào tạo kiến thức thông tinthường xuyên, liên tục từ phía cơ quan/trung tâm thông tin thư viện Bên cạnh
đó đối tượng của hoạt động đào tạo người dùng tin còn bao gồm những ngườidùng tin không chính thức, những đối tượng là người dùng tin của các cơquan/trung tâm thư viện khác- nơi có quan hệ hợp tác liên thư viện với cơquan/trung tâm mình
Nhìn chung, đối tượng của công tác đào tạo người dùng tin không phải
là một nhóm đồng nhất Họ có thể có tuổi tác, trình độ, vị trí xã hội, thói quen
sử dụng thông tin… rất khác nhau Mỗi một đối tượng này có yêu cầu,phương thức đào tạo kiến thức thông tin khác nhau
* Tính chủ thể trong công tác đào tạo người dùng tin
Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành Chủ thể của hành động
có thể là một cá nhân, một nhóm các nhân hay một tập thể, một cộng đồng tùytheo quy mô, tính chất của hoạt động
Chủ thể của công tác đào tạo người dùng tin chính là các cán bộ thưviện/những chuyên gia thông tin – những người hiểu rõ hơn ai hết hệ thốngcác sản phẩm & dịch vụ thông tin cùng cách thức truy cập, khai thác, sử dụngcác sản phẩm & dịch vụ đó; những đặc điểm riêng biệt của từng nhóm đốitượng cụ thể trong tập hợp người dùng tin tại cơ quan/trung tâm thông tin –thư viện
Trang 13* Tính gián tiếp (phương tiện)
Để có thể tiến hành công tác đào tạo người dùng tin, các cơ quan/trungtâm sử dụng nhiều phương thức khác nhau: phương thức trực tiếp trình bàycủa cán bộ thông tin, thông qua các phương tiện gián tiếp như văn bản, hướngdẫn, địa chỉ Website… Mỗi phương thức này đòi hỏi những phương tiệnriêng: không gian, thiết bị hỗ trợ, hệ thống mạng, máy móc…
* Mục đích của công tác đào tạo người dùng tin
Hàm lượng chất xám trong các sản phẩm & dịch vụ thông tin ngàycàng cao đòi hỏi người dùng tin phải có tri thức và kỹ năng sử dụng, khai thácthông tin một cách triệt để Mục đích của công tác đào tạo người dùng tinchính là cung cấp thông tin để người dùng tin có thể truy cập tới các nguồn tin
và thỏa mãn nhu cầu tin của mình:
- Thông tin về khả năng của cơ quan thông tin-thư viện có thể thỏa mãnđược nhu cầu của mình như thế nào qua việc cung cấp các sản phẩm & dịch
vụ thông tin của họ
- Biết các sản phẩm & dịch vụ nào phù hợp với mình
- Có kiến thức, kỹ năng sử dụng và khai thác các sản phẩm & dịch vụphù hợp
Theo Hiệp hội Các thư viện chuyên ngành và các trường đại học Hoa
Kỳ (ACRL, 1989), người có kiến thức thông tin là người “đã học được cáchthức để học Họ biết cách học bởi họ nắm được phương thức tổ chức tri thức,tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin, do đó những người khác có thể họctập được từ họ Họ là những người được đã chuẩn bị cho khả năng học tậpsuốt đời, bởi lẽ họ luôn tìm được thông tin cần thiết cho bất kỳ nhiệm vụ hoặcquyết định nào một cách chủ động”.[12]
1.2.3 Vai trò của công tác đào tạo người dùng tin
Quá trình khai thác sử dụng thông tin trong xã hội thông qua các cơ
Trang 14thông tin và hệ thống các thành tố trung gian đó tương ứng là nhu cầu tin, hệthống các sản phẩm & dịch vụ và dịch vụ thông tin Các thành tố này có quan
hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau trong suốt quá trình khai thác, sửdụng thông tin của người dùng tin Vai trò của công tác đào tạo người dùngtin chính là tìm ra các vấn đề tồn tại giữa các thành tố trên, tìm ra giải pháp vàcung cấp những thông tin thích hợp để người dùng tin khắc phục những hạnchế, khó khăn xảy ra khi họ khai thác, sử dụng thông tin
Nhận diện các vấn đề xảy làm hạn chế ra trong quá trình khai thác, sửdụng thông tin, bao gồm:
- Vấn đề giữa người dùng tin và nhu cầu tin:
Luôn luôn tồn tại khoảng cách giữa người dùng tin - nhu cầu tin thực tếcủa họ với việc họ diễn đạt nhu cầu đó với phía các cơ quan/trung tâm thôngtin – thư viện Thực tế cho thấy ở đối tượng người dùng tin có trình độ cao, cóthói quen khai thác sử dụng thông tin thì khoảng cách này nhỏ, và ngược lại,(ở đối tượng người dùng tin có trình độ thấp, chưa có thói quen sử dụng thôngtin thì khoảng cách này khá lớn) Mặt khác, việc xây dựng và hiệu quả củacác sản phẩm & dịch vụ thông tin phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ mà cán bộthông tin hiểu về nhu cầu tin của người dùng tin Vấn đề xảy ra chính là làmsao để các chuyên gia thông tin hiểu đúng và đầy đủ nhất Để giải quyết vấn
đề này, biện pháp tối ưu là tập trung vào việc nâng cao kiến thức về khai thác,
sử dụng thông tin của người dùng tin Các cơ quan/trung tâm thông tin thưviện cần xem xét kỹ lưỡng làm sao để người dùng tin có thể sử dụng các công
cụ tra cứu chuyên ngành (bảng từ khóa, bảng chủ đề, bảng phân loại…), cácđiểm truy nhập có thể khi họ tra tìm tài liệu theo những yêu cầu tin cụ thể(nhan đề, tác giả, từ khóa, chỉ số phân loại…), cách thức kết hợp các yếu tốtìm tin để có thể mở rộng/thu hẹp kết quả tìm (sử dụng các toán tử, biểu thứctìm), và cả cách sử dụng các phương tiện mà cơ quan/trung tâm thư viện sửdụng khi triển khai hệ thống sản phẩm & dịch vụ của mình
Trang 15- Vấn đề giữa người dùng tin - các nguồn/hệ thống thông tin
Do các nguồn/hệ thống thông tin luôn có những biến động: phát triển
mở rộng, thêm mới, bị chia tách thành các nguồn tách biệt… Do đó, ngườidùng tin không thể hiểu biết được một cách đầy đủ về sự phân bố cụ thể củacác nguồn tin có trong thư viện Khi một yêu cầu tin mới nảy sinh, ngườidùng tin không thể nào định hình được tất cả và đầy đủ các nguồn tin trongthư viện mà họ có thể truy nhập để thỏa mãn nhu cầu tin đó Vấn đề chính làlàm thế nào để người dùng tin hiểu biết tối đa sự phân bố nguồn tin mà thưviện phục vụ họ Để có thể giảm nhẹ khoảng cách giữa người dùng tin và cácnguồn/hệ thống thông tin, các cơ quan/trung tâm nhất thiết phải có kế hoạchquảng bá cho người dùng tin đầy đủ nhất các nguồn/hệ thống thông tin màthư viện đã xây dựng, sắp xây dựng, mỗi khi có bất kỳ sự thay đổi dù là nhỏnhất cơ quan/trung tâm cũng cần giải thích, hướng dẫn cụ thể để người dùngtin hiểu, chấp nhận và sử dụng các nguồn tin sau đó
- Vấn đề giữa người dùng tin - hệ thống sản phẩm & dịch vụ thông tin
Cùng với sự phát triển không ngừng của các nguồn/hệ thống thông tin
mà hệ thống sản phẩm & dịch vụ thông tin cũng luôn thay đổi tương ứng.Hơn thế nữa, các sản phẩm & dịch vụ thông tin vẫn luôn hình thành và thayđổi cho phù hợp với điệu kiện cụ thể của từng thư viện, từng nhiệm vụ trongnhững thời điểm nhất định Điều này làm cho người dùng tin không thể biếtđầy đủ, chi tiết về các sản phẩm & dịch vụ thông tin mà họ có thể sử dụng tại
cơ quan/trung tâm Làm hạn chế kết quả tìm và sử dụng thông tin của ngườidùng tin, giảm hiệu quả sử dụng của bản thân các sản phẩm & dịch vụ thôngtin Câu hỏi đặt ra là làm sao để người dùng tin biết được tối đa hệ thống sảnphẩm & dịch vụ thông tin mà họ có thể khai thác Câu trả lời chỉ có thể là cầnphổ biến rộng rãi về khả năng, điều kiện, các tiện ích, ưu thế trong việc khaithác và sử dụng các sản phẩm & dịch vụ thông tin mà cơ quan/trung tâm thưviện cung cấp cho họ
Trang 16- Vấn đề giữa nhu cầu tin – các nguồn/hệ thống thông tin
Nhu cầu tin của người dùng tin luôn thay đổi nhất định biểu hiện quayêu cầu tin tương ứng Mỗi nguồn/hệ thống thông tin đều được xây dựng theonhững đặc điểm, nội dung riêng, nhằm phục vụ những đối tương người dùngtin mục tiêu Nhưng do sự phát triển bùng nổ, đan xen của khoa học, tri thứcnên tạo ra mối quan hệ liên đới giữa các nguồn/hệ thống thông tin Một yêucầu tin cụ thể có thể tồn tại ở nhiều các nguồn/hệ thống thông tin, một nguồntin cụ thể khó có thể thỏa mãn hoàn toàn một yêu cầu tin cụ thể Vậy làm thếnào để các nguồn/hệ thống thông tin có thể phù hợp tối đa nhu cầu tin củangười dùng tin Giải pháp là phải nghiên cứu thường xuyên nhu cầu tin và sựbiến động của nó, từ đó xây dựng chính sách hợp lý cho việc phát triển/liênkết các nguồn tin, chiến lược liên kết, chia sẻ nguồn lực thông tin với các cơquan bên ngoài
- Vấn đề giữa nhu cầu tin – hệ thống sản phẩm & dịch vụ thông tin
Chính do sự phát triển của thông tin, do mức độ ngày càng phức tạpcủa nhu cầu tin … đã hối thúc sự đa dạng của các sản phẩm & dịch vụ thôngtin So với thực tế hiện nay của nhu cầu tin, các sản phẩm & dịch vụ thông tinchắc chắn sẽ tiếp tục phát triển hơn nữa Giải quyết vấn đề này đồng nghĩavới đa dạng, kiện toàn và phát triển không ngừng các sản phẩm & dịch vụthông tin cho phù hợp với nhu cầu tin
- Vấn đề giữa hệ thống sản phẩm & dịch vụ thông tin – các nguồn/hệ thống thông tin
Sản phẩm & dịch vụ hình thành là sự phản ánh hoặc để khai thác, sửdụng hiệu quả nhất, đầy đủ nhất mọi nguồn/hệ thống thông tin Trên thực tế,
hệ thống các sản phẩm & dịch vụ không thể là sự phản ánh đầy đủ chi tiết củacác nguồn/hệ thống thông tin Vấn đề cần giải quyết chính là làm cho hệthống sản phẩm & dịch vụ phản ánh tốt nhất về các nguồn tin Giải quyết vấn
đề này đòi hỏi vừa đa dạng hóa sản phẩm, phát triển đồng bộ về công nghệ vàchính sách
Trang 17Các vấn đề trên luôn tồn tại tại bất cứ cơ quan/trung tâm thư viện nào.
Để có thể hạn chế tất cả các vấn đề trên, cần tăng cường nghiên cứu ngườidùng tin, nhu cầu tin của họ, phương thức thỏa mãn nhu cầu của từng đốitượng cụ thể… Giải pháp khả thi nhất chính là tăng cường công tác đào tạongười dùng tin
1.2.4 Các kiến thức và kỹ năng cần đào tạo cho người dùng tin
- Kiến thức về hệ thống thông tin, mạng lưới các cơ quan thông tin –thư viện: Mạng lưới các cơ quan thông tin - thư viện nơi người dùng tin cóthể khai thác, sử dụng nguồn lực thông tin ; Thông tin về phương thức phục
vụ tại từng phòng phục vụ; Điều kiện khi người dùng tin đến khai thác, sửdụng thông tin tại thư viện
- Kiến thức về các loại hình sản phẩm và dịch vụ tại cơ quan/trung tâmthư viện
- Kỹ năng khai thác và sử dụng các sản phẩm & dịch vụ thông tin cụthể: khai thác các sản phẩm & dịch vụ thông tin truyền thống, khai thác và sửdụng các sản phẩm & dịch vụ thông tin hiện đại
1.2.5 Các hình thức đào tạo người dùng tin
Trong quá trình hoạt động của mình, các cơ quan/trung tâm thư viện đãtriển khai nhiều hình thức khác nhau trong công tác đào tạo người dùng tincủa mình:
- Hướng dẫn trực tiếp cho người dùng tin
- Hướng dẫn thông qua các bảng biểu chỉ dẫn, các văn bản
Trang 18- Tuyên truyền, hướng dẫn người dùng tin thông qua các chương trìnhriêng trên đài phát thanh truyền hình.
- Thường xuyên đăng tải các thông tin hướng dẫn trên các phươngtiện khác
1.2.6 Các nhân tố tác động tới công tác đào tạo người dùng tin của các cơ quan/trung tâm thông tin – thư viện
1.2.6.1 Loại hình, chức năng nhiệm vụ của cơ quan/trung tâm thông tin - thư viện.
Loại hình, chức năng nhiệm vụ là một trong những đặc điểm cho phépphân loại các cơ quan thông tin – thư viện Đó cũng là nhân tố quyết định cácchính sách liên quan tới người dùng tin tại một cơ quan/trung tâm thông tin,trong đó có công tác đào tạo người dùng tin
Hiện nay, tại Việt Nam có một số loại hình cơ quan thông tin thư việnnhư: Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện chuyên ngành, đa ngành, thưviện công cộng, thư viện trường học Các loại hình này có chức năng cụ thểkhác biệt với nhau, có nhiệm vụ cụ thể xác định
Thư viện Quốc gia Việt Nam là thư viện đứng đầu hệ thống thư việncông cộng nước ta Với số vốn tài liệu lên tới hơn 130.000 triệu bản, với hệthống sản phẩm & dịch vụ đa dạng và tương đối hoàn chỉnh… Thư viện Quốcgia Việt Nam có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu tin của tất cả các đối tượng ngườidùng tin trong và ngoài nước Với số lượng bạn đọc đông đảo, đa dạng nhưvậy, công tác đào tạo người dùng tin tại Thư viện được triển khai một cáchđầy đủ tất cả các phương pháp Việc hướng dẫn người dùng tin chủ yếu tậptrung vào các phương pháp đào tạo qua chỉ dẫn bằng văn bản, hướng dẫn từ
xa trong môi trường mạng, trả lời những thác mắc cụ thể của từng đối tượng
cụ thể
Hệ thống thư viện chuyên ngành chủ yếu phục vụ nhu cầu tin của mộtnhóm đối tượng là cán bộ cao cấp của ngành, các cán bộ nghiên cứu của
Trang 19ngành và một số các đối tượng bên ngoài có nhu cầu tin liên quan Công tácđào tạo người dùng tin trong loại hình thư viện này chủ yếu tập trung vàonhóm đối tượng là cán bộ chuyên ngành tại cơ quan đó Do đặc điểm củanhóm đối tượng này, công tác đào tạo người dùng tin tại thư viện chuyênngành chỉ có phù hợp với những phương thức hướng dẫn từ xa.
Đối với nhóm thư viện trường học, lại cần chú ý những phương phápđào tạo trực tiếp Đối với các thư viện công cộng thuộc các tỉnh/thành phố,huyện, xã lại cần thúc đẩy công tác tuyên truyền giới thiệu qua các phươngtiện truyền thông…
1.2.6.2 Đặc điểm nguồn tin và hệ thống sản phẩm & dịch vụ
- Nguồn tin
Nguồn lực thông tin là một trong những yếu tố tiên quyết cấu thành hoạtđộng thông tin thư viện Nguồn lực thông tin có thể hiểu là tất cả những thôngtin/tài liệu mà cơ quan/trung tâm thư viện có thể cung cấp cho người dùng tin
Nó không phải chỉ là vốn tài liệu mà thư viện tổ chức lưu trữ trong kho củamình mà là tất cả các tài nguyên thông tin ở tất cả các dạng in, số hoá, dạngCD-ROM, và các dạng khác mà người dùng tin thông qua cơ quan/trung tâmthư viện có thể tiếp cận và khai thác Nguồn tin của các loại hình cơ quan/trungtâm thư viện khác nhau sẽ có những đặc điểm rất khác biệt
Nguồn lực thông tin có thể coi là sức mạnh của mỗi cơ quan thư viện
Số lượng nguồn tin càng nhiều, diện bao phủ càng rộng, độ phân tán cao,phương thức tồn tại càng đa dạng… thì các trung tâm thông tin-thư viện lạicàng cần quan tâm đặc biệt đến công tác đào tạo người dùng tin Bởi lẽ vớimột nguồn tin như vậy sẽ rất khó cho người dùng tin có một cái nhìn tổng thể
về những gì họ có thể tiếp cận, họ không thể khai thác sử dụng thông tin khi
họ không biết phương thức hoạt động ở các phòng phục vụ cụ thể, họ khôngthể sử dụng thông tin trong bộ sưu tập của cơ quan/trung tâm thư viện khi họđịnh hình được thông tin đó có thuộc lĩnh vực mà họ quan tâm hay không?
Trang 20Với những cơ quan/trung tâm thư viện mà nguồn lực thông tin của họbao gồm cả những nguồn tin được tổ chức, lưu trữ, phục vụ …trong quan hệhợp tác chia sẻ nguồn lực thì công tác giới thiệu, phổ biến tới người dùng tinlại càng cần quan tâm.
Đối với các cơ quan/trung tâm thư viện mà nguồn lực thông tin nhỏ,các dạng thức của thông tin về cơ bản ở dạng truyền thống thì người dùng tin
có thể dễ dàng sử dụng nguồn thông tin Chỉ cần họ là khách hàng thườngxuyên tại thư viện, họ có thể truy nhập đến các nguồn tin một cách chính xác
và nhanh chóng Điều đó không đồng nghĩa với việc xem nhẹ công tác đàotạo người dùng tin Trong trường hợp đó, các cơ quan/trung tâm cần quan tâmhoàn thiện hơn nữa bộ sưu tập của mình, đồng thời hướng dẫn người dùng tintìm tới các nguồn tin phù hợp với nhu cầu tin và đặc điểm cá nhân của họ khithư viện chưa có điều kiện bổ sung
- Hệ thống sản phẩm & dịch vụ thông tin
Các sản phẩm & dịch vụ mà thư viện xây dựng không chỉ phản ánh nộilực của thư viện đó Nó là phương tiện để thoả mãn nhu cầu tin của ngườidùng tin, các cơ quan/trung tâm thư viện phải xây dựng kế hoạch đào tạo kiếnthức thông tin cho người dùng tin
Đối với một cơ quan/trung tâm – nơi mà sản phẩm & dịch vụ thông tinđược xây dựng đa dạng bao gồm các sản phẩm & dịch vụ truyền thống và hiệnđại, không gian phục vụ người dùng tin rộng, phân tán Các cơ quan đó phảihoàn thiện công tác marketing cho các sản phẩm & dịch vụ thông tin của mình
Sản phẩm & dịch vụ thông tin muốn thực sự đem lại hiệu quả thì phảiđược xây dựng trên nhu cầu tin thực tế của người dùng tin Phải thoả mãnnhững yêu cầu riêng của nhóm người dùng tin mục tiêu về nội dung thông tin,phương thức cung cấp, yếu tố thời gian…Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyềnphổ biến sao cho người dùng tin biết đến sự tồn tại của sản phẩm & dịch vụ,thấy được sự phù hợp về nội dung thông tin, phương thức khai thác và sự tiệndụng của sản phẩm & dịch vụ
Trang 211.2.6.3 Đặc điểm người dùng tin
Người dùng tin là người sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu tin của mình. [10]
Người dùng tin trước hết phải là người có nhu cầu tin khi họ sử dụngthông tin (trực tiếp hoặc thông qua các sản phẩm & dịch vụ thông tin), hoặc
có điều kiện để sử dụng thông tin, thỏa mãn nhu cầu của mình
Trong hoạt động thông tin - thư viện, người dùng tin là khách hàng, làchủ thể của hoạt động thông tin, là đối tượng của công tác đào tạo người dùngtin Không có người dùng tin, hoạt động thông tin sẽ không thể tồn tại, điều
đó có nghĩa hoạt động thông tin muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm đếnnhu cầu của người dùng tin trong từng giai đoạn cụ thể, cần chú ý tới công tácđào tạo người dùng tin
Người dùng tin trong hoạt động thông tin – thư viện có thể chia thànhcác nhóm như: người dùng tin đại chúng, người dùng tin khoa học, ngườidùng tin là cán bộ quản lý…
Người dùng tin đại chúng: chiếm số lượng lớn trong hoạt động thông
tin, nhu cầu tin của họ nhìn chung rất rộng bắt nguồn từ nhu cầu hòa nhập,thích nghi Do kiến thức thông tin của nhóm người dùng tin đại chúng khôngcao, nhu cầu tin dễ bị ảnh hưởng bởi các tác động Từ đó, muốn đáp ứng tốtnhu cầu tin của đối tượng người dùng tin đại chúng các cơ quan/trung tâm thưviện phải nghiên cứu nắm bắt nhu cầu tin, xây dựng nguồn tin, hệ thống sảnphẩm & dịch vụ phù hợp theo yêu cầu đó Sau đó đẩy mạnh công tác tuyêntruyền giới thiệu theo hướng định hướng cho người dùng tin Biện pháp tuyêntruyền phản ánh được giá trị tài liệu một cách ngắn gọn, phân tích và nhấnmạnh các giá trị phù hợp với lợi ích và đặc điểm tâm lý của họ như: tuyêntruyền bằng miệng (đọc nghe chung, kể chuyện, giới thiệu chung, điểmsách… ); tuyên truyền trực quan (triển lãm sách, biểu ngữ); và một số biệnpháp khác: thi tìm hiểu, thảo luận sách, hội nghị bạn đọc
Trang 22Người dùng tin là cán bộ nghiên cứu khoa học: Cán bộ nghiên cứu
khoa học có vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển nói chung Họ muốntham gia nghiên cứu khoa học có hiệu quả phải được tiếp cận đầy đủ nhữngtri thức thuộc lĩnh vực đó do những người đi trước khám phá ra Bản thân họ
là những người có trình độ cao, được đào tạo có hệ thống về một lĩnh vựcnhất định Nhu cầu tin của họ có tính bền vững cao, nó biểu hiện qua nhữngyêu cầu tin sâu về một vấn đề cụ thể Do sự phát triển đan xen giữa các ngànhkhoa học, muốn xem xét một vấn đề trong mối quan hệ tương quan với cácvấn đề khác, vì thế nhu cầu tin của họ rất rộng, liên quan đến nhiều ngành,nhiều lĩnh vực Nhu cầu về hình thức thông tin đa dạng, bao gồm cả các loạitài liệu truyền thống và hiện đại, và có thể thuộc các ngôn ngữ khác nhau Để
có thể thoả mãn nhu cầu tin, trước hết cần một nguồn tin đủ mạnh: thông tin
có giá trị khoa học, phù hợp với nhu cầu tin Cần phát triển các sản phẩmthông tin có giá trị gia tăng cao, các dịch vụ thông tin hiện đại (tóm tắt, tổngquan, phổ biến thông tin chọn lọc, dịch vụ thông tin qua mạng…); khôngngừng nâng cao khả năng xử lý thông tin khoa học, tin học, ngoại ngữ vàtrình độ khoa học chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực phục vụ thông tin Các
cơ quan/trung tâm cần chú trọng công tác đào tạo, hướng dẫn người dùng tin
sử dụng các sản phẩm & dịch vụ thông tin là cách tốt nhất để tuyên truyền,quảng bá các sản phẩm & dịch vụ đó
Người dùng tin là cán bộ quản lý: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sửdụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mụctiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường
Cán bộ quản lý có vai trò định hướng, huy động có hiệu quả các nguồnlực để thực hiện mục tiêu của tổ chức Họ chiếm số lượng không đông nhưnglại có vai trò quyết định tới sự phát triển của xã hội
Trong quá trình quản lý, người quản lý phải làm việc với luồng thôngtin từ trên xuống, từ dưới lên và ngang cấp Không có thông tin, người quản
Trang 23lý không thể thực hiện nhiệm vụ đặt ra Nhu cầu tin của họ vừa sâu vừa rộngtuỳ thuộc tính chất công việc quản lý với tính chính xác cao và logic Do tínhchất của hoạt động quản lý, họ cần nhiều thông tin bổ sung cho nhau là nhữngthông tin đã được xử lý, đánh giá, bao gói đảm bảo tính chính xác Thông tinđiện tử, các loại ấn phẩm định kỳ là các dạng tài liệu được ưu tiên sử dụng.
Để có thể đáp ứng nhu cầu tin của người quản lý, cần phát triến các sản phẩm
& dịch vụ như: Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc, tổng quan, tổng thuật, phổ biếnthông tin chọn lọc, dịch vụ mạng Đồng thời đẩy mạnh hoạt động marketingcho các sản phẩm & dịch vụ mà cơ quan/trung tâm thực hiện
1.2.6.4 Đặc điểm nhu cầu tin
Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan đối với việc tiếp nhận và sử dụngthông tin nhằm duy trì các hoạt động nhận thức và thực tiễn Hoạt động càngphức tạp, càng rộng thì nhu cầu tin càng lớn, bao hàm cả thẩm mỹ, nhận thức
và giao tiếp Nhu cầu tin ở từng mức độ khác nhau, của các đối tượng khácnhau sẽ yêu cầu nội dung, phương thức đáp ứng khác nhau Cần có sự phânloại phù hợp các nhu cầu tin để xây dựng những sản phẩm & dịch vụ thíchhợp cũng như có những cách truyên truyền giới thiệu khác nhau
Đặc điểm nhu cầu tin có ảnh hưởng quan trọng tới công tác đào tạongười dùng tin Với những nhu cầu tin bất thường thì công tác đào tạo ngườidùng trở nên khó khăn và dường như chỉ có thể dừng lại ở hướng dẫn cụ thểđối với từng yêu cầu cụ thể Khi nhu cầu tin là thường xuyên ổn định thì côngtác đào tạo người dùng tin cần được tiến hành thường xuyên, liên tục theonhững chính sách cụ thể rõ ràng Nhu cầu tin càng rộng về diện bao quát,càng yêu cầu sâu về nội dung lại càng cần những thông tin hướng dẫn chi tiết
từ phía các cơ quan thông tin thư viện
Nhu cầu tin là một yếu tố phụ thuộc chặt chẽ vào người dùng tin Yếu
tố người dùng tin chịu ảnh hưởng bởi nhiều tác động Trong những tác động
đó, văn hoá đọc tác động tới hoạt động thông tin trong diện rộng
Trang 24Tại Việt Nam cũng như ở nhiều quốc gia có nền kinh tế đang trong quátrình phát triển văn hóa đọc còn chưa được quan tâm đúng mức và chịu tácđộng trực tiếp từ yếu tố kinh tế, văn hóa, bị cạnh tranh mạnh bởi văn hoá nghenhìn Do đó, nhu cầu đọc chưa thể trở thành một nhu cầu không thể thiếutrong đa số nhân dân, nhu cầu tin của phần đông nhân dân chủ yếu tập trungvào thông tin văn hoá, giải trí, trong khi các thông tin về khoa học kỹ thuật lạichỉ là nhu cầu của một số nhóm đối tượng (nhà khoa học, nhà quản lý lãnhđạo, người nghiên cứu, sinh viên… ).
Trong những năm gần đây, văn hoá đọc tại nước ta bắt đầu có nhữngdấu hiệu đáng mừng, người dân chú ý hơn đến vai trò của sách báo Khi mà
xã hội chứng kiến những thay đổi bất thường của kinh tế thế giới, người taquay lại đầu tư vào tri thức ở các cấp từ cấp khu vực, quốc gia đến từng giađình, nhu cầu thông tin phục vụ quá trình đào tạo vì thế đã và đang trở thànhvấn đề lớn trong giáo dục
- Đặc điểm nhu cầu tin trong giáo dục đại học
Chính phủ Việt Nam cũng đã xác định cần phải đổi mới hệ thống giáodục Mục đích là nhằm nâng cao hơn nữa khả năng học tập suốt đời cho mọicông dân; đào tạo ra lực lượng lao động có khả năng tiếp cận và giải quyếtcông việc một cách chủ động, sáng tạo và linh hoạt Điều này đã được cụ thểhóa thông qua chiến lược phát triển nhân lực tổng thể của Việt Nam như sau:
“Nâng cao chất lượng giáo dục; cơ cấu lại hệ thống giáo dục và mở rộngphạm vi giáo dục ở tất cả các cấp độ; gắn liền giáo dục đào tạo với nghiêncứu khoa học và công nghệ; phát triển giáo dục, nghiên cứu khoa học nhằmđáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội; nâng cao trình độ dân trí và trình độquản lý” Rõ ràng, để đạt được mục tiêu chiến lược đó, Việt Nam cần đặc biệtlưu tâm đến việc phát triển kiến thức thông tin
Điều 44 điều lệ trường đại học ban hành theo quyết định số153/2003/QĐ-TTg ngày 30/07/2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định
Trang 25“Trường đại học có trung tâm thông tin tư liệu phục vụ hoạt động đào tạo,khoa học và công nghệ Trung tâm thông tin tư liệu có trách nhiệm quản lý bổsung, và cung cấp thông tin, tư liệu khoa học và công nghệ trong và ngoàinước trong các lĩnh vực hoạt động của trường, thu thập và bảo quản các sách,tạp chí, băng, đĩa, các tài liệu lưu trữ, các luận án đã bảo vệ tại trường, các ấnphẩm của trường, hướng dẫn và quản lý công tác quyền sở hữu trí tuệ củatrường Trung tâm thông tin tư liệu hoạt động theo quy chế do hiệu trưởngban hành.”
Theo ấn định của Bộ GD-ĐT, từ năm 2009-2010 tất cả các trường đạihọc sẽ phải chuyển đổi sang hình thức đào tạo học chế tín chỉ
Học chế tín chỉ đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải đầu tư nhiều công sứchơn cho việc soạn bài giảng, chuẩn bị tài liệu, hướng dẫn thảo luận, tăngcường thời gian nghiên cứu khoa học của sinh viên Sinh viên phải học tậpvới thái độ tích cực, chủ động tìm kiếm và tham khảo các tài liệu thích hợpvới từng môn học, từng chuyên đề khác nhau để đạt yêu cầu của mỗi tín chỉ.Sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu là chính với sự tư vấn của cố vấn học tập
và sự hướng dẫn của từng giảng viên các môn học Trong môi trường đại học,thư viện vẫn luôn luôn là môi trường lý tưởng cho việc tự học, tự nghiên cứucủa sinh viên, phát huy tư duy sáng tạo của họ
Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, sự tương tác được diễn ra giữacác cặp: người dạy – người dạy, người dạy – người học, người học – ngườihọc Sự tương tác giữa các cặp này cần phải duy trì và tạo các điều kiện cầnthiết, việc cung cấp thông tin và các dịch vụ trao đổi thông tin dưới nhiềuhình thức, mức độ khác nhau có vai trò, ý nghĩa không thể thiếu (Điều lệtrường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/GĐ-BGDDT ngày15/08/2007 của Bộ Giáo dục và đào tạo) Để thực hiện tốt quy chế này đòi hỏiphải có sự chuyển biến toàn diện về cách vận hành chương trình đào tạo, môhình quản lý đào tạo cũng như cơ sở vật chất phục vụ học tập trong các
Trang 26trường đại học, cao đẳng Một trong những yếu tố cơ sở vật chất cần đề cập làhoạt động thông tin thư viện Các thư viện cần phải nắm bắt các yêu cầuphương pháp đào tạo mới đối với hoạt động thông tin - thư viện; hiểu và phânbiệt rõ ràng sự khác biệt của hoạt động thông tin thư viện trong phục vụ đàotạo theo tín chỉ.
Hiệu quả sử dụng của các nguồn lực thông tin tại cơ quan/trung tâm thưviện phụ thuộc vào khả năng nhận diện các nguồn tin có trong cơ quan/trungtâm đó Muốn thu hút đông đảo đối tượng người dùng tin đến với mình, tậndụng tối đa giá trị của các sản phẩm & dịch vụ thông tin, cơ quan/trung tâmTT-TV cần triển khai mạnh mẽ các hình thức tuyên truyền tới người dùng.Nói cách khác, trong môi trường đào tạo tín chỉ, các cơ quan thông tin thưviện cần xem trọng công tác đào tạo người dùng tin hơn nữa
1.2.6.5 Tác động của công nghệ mới
Công nghệ thông tin và các hoạt động thông tin đang đóng vai trò đặcbiệt quan trọng trong các mặt hoạt động của đời sống xã hội Hiểu rõ đượcđiều này, Việt Nam cũng đã xây dựng dự án quốc gia về phổ cập công nghệthông tin và thiết lập mạng lưới tri thức trẻ, do Đoàn TNCS Hồ Chí Minhđứng ra triển khai Mục tiêu của dự án này là nhằm phổ biến rộng rãi cácthành tựu khoa học công nghệ mới; giúp đỡ thanh niên tự mình tổ chức cácdịch vụ máy tính và Internet; hỗ trợ nhu cầu thông tin liên lạc, thu thập và sửdụng tri thức mới của người dân Dự án chú trọng hỗ trợ nhân dân ở các vùngnông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi tập trung khoảng 80% dân số Việt Nam,nơi mà người dân rất ít có cơ hội tiếp cận các nguồn thông tin và tri thức mới.Trong giai đoạn đầu, tiểu dự án “Xây dựng mô hình cung cấp thông tin khoahọc và công nghệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở các khu vựcvùng sâu vùng xa” đã được triển khai ở 4 tỉnh là: Bắc Kạn, Lai Châu, Yên Bái
và Thái Nguyên” Bên cạnh đó, một số tổ chức, doanh nghiệp hoạt động tronglĩnh vực công nghệ thông tin như: Tổng công ty VIEC, Vietkey Group, công
Trang 27ty VDC, Trung tâm đào tạo tin học PT, và Báo Tuổi trẻ cũng đã phối hợp tổchức các khóa đào tạo về công nghệ thông tin dành cho thanh niên nông thôn,vùng sâu vùng xa Bên cạnh đó, chương trình “Máy tính Thánh Gióng” cũng
đã được triển khai từ tháng 6/2004 Với sự tham gia của các hãng máy tínhlớn như Intel, Hewlett Packard, LG Electronics, Microsoft, Samsung,Seagate, VDC, CMC, và FPT, cũng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu củangười dân sống ở nông thôn Tất cả những hoạt động trên chính là sự chuẩn bịtích cực cho việc triển khai một dự án khác mang tên “Kỹ năng máy tính vànối mạng tri thức”
Sự đầu tư cho CNTT tạo ra những thuận lợi to lớn cho sự ra đời của cáchình thức sản phẩm & dịch vụ thông tin mới Sự phổ biến về công nghệ trong
xã hội đã tạo ra hạ tầng thông tin cho phép hoạt động thông tin chuyển từ hoạtđộng chủ yếu trong môi trường truyền thống sang môi trường mạng, sang môitrường ảo Công tác đào tạo người dùng tin từ đó có thêm các phương thứcđào tạo từ xa, đào tạo gián tiếp qua Website, Cổng thông tin… Đối với cáccách thức đào tạo người dùng tin đã có lâu năm, CNTT cũng góp phần thayđổi quy trình tiến hành thực hiện
Ứng dụng CNTT của các cơ quan/trung tâm thư viện có sự biến đổi từphương thức quản lý, hoạt động nghiệp vụ, phục vụ Sự thay đổi trong mỗi cơquan/trung tâm thư viện không phải là sự thay đổi đồng loạt, cùng lúc Đó làquá trình chuyển đổi theo từng giai đoạn Sau mỗi lần đổi mới, các cơquan/trung tâm thư viện cần thông báo, hướng dẫn cụ thể chi tiết cho ngườidùng tin Không riêng công tác đào tạo người dùng tin trong hoạt động thôngtin – thư viện mà ngay bản thân hoạt động thông tin – thư viện hay các hoạtđộng khác trong xã hội đều chịu tác động toàn diện của CNTT
Trang 28Sư phạm I Hà Nội, Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Tháng 09/1999, Đại học Sưphạm I Hà Nội tách ra khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội, thư viện của Đại học
Sư phạm I Hà Nội cũng tách khỏi Trung tâm Thông tin-Thư viện ĐHQGHN.Hiện nay, Trung tâm bao gồm các cơ sở sau: Trụ sở chính của Trung tâm đặttại 144 đường Xuân Thủy – Cầu Giấy – Hà Nội, Cơ sở Thượng Đình (336,Nguyễn Trãi, Thanh Xuân), Cơ sở tại Mễ Trì (186 Lương Thế Vinh), trườngđại học Ngoại ngữ
Trung tâm TT-TV ĐHQGHN là đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia HàNội, phục vụ đắc lực cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, Trung tâm
có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng là đơn vị dự toán cấp III.Hàng năm Trung tâm lập kế hoạch, dự trù ngân sách, bảo vệ và nhận kếhoạch trước ĐHQGHN Đối với các đơn vị trong ĐHQGHN, Trung tâm cótrách nhiệm hợp tác chặt chẽ trong việc bổ sung, xử lý, cung cấp tài liệu,thông tin cho người dùng tin trong toàn ĐHQGHN
Trải qua 12 năm hoạt động, Trung tâm đã trưởng thành, trở thành mộttrong những trung tâm thông tin-thư viện đại học lớn mạnh trong hệ thống các
Trang 29trung tâm thông tin-thư viện đại học trong cả nước Trung tâm đã tạo được vịtrí trong lòng độc giả là cán bộ, giảng viên, sinh viên tại Đại học Quốc gia HàNội, là điểm đến mơ ước của nhiều đối tượng người dùng tin ngoài Đại họcQuốc gia Hà Nội Hiện nay, Trung tâm đang nỗ lực hết mình để thực hiện tốtnhất nhiệm vụ thông tin trong môi trường đào tạo tín chỉ, để có thể thỏa mãntối đa nhu cầu tin của người dùng tin.
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ
Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội có một vaitrò quan trọng trong việc phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học.Phục vụ cho sinh viên, nghiên cứu sinh, giảng viên có khả năng cung cấp mộtlượng tài liệu lớn cho việc giảng dạy và học tập
Chức năng chính của trung tâm là nghiên cứu, thu thập, xử lý, thôngbáo và cung cấp thông tin tư liệu, về khoa học giáo dục, ngoại ngữ và côngnghệ phục vụ cán bộ sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội Ngoài ra còn cungcấp tin cho các tổ chức và cá nhân ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội theo kếhoạch, hợp đồng trong phạm vi cho phép
Nhiệm vụ của Trung tâm:
- Tham mưu cho lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội để quyết định vềphương hướng tổ chức và hoạt động của Trung tâm nhằm phục vụ nghiên cứukhoa học, giảng dạy, học tập…trong Đại học Quốc gia Hà Nội
- Xây dựng chiến lược và kế hoạch ngắn hạn để thu thập, bổ sung, traođổi, phân tích, xử lý tài liệu thông tin Tổ chức sắp xếp dự trữ bảo quản khotài liệu bao gồm các loại hình ấn phẩm và vật mang tin
- Xây dựng hệ thống tra cứu tìm tin thích hợp, thiết lập mạng lưới truynhập và tìm kiếm thông tin tự động hóa
- Thu thập lưu chiểu những xuất bản phẩm do Đại học Quốc gia HàNội xuất bản, các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ bảo vệ tại Đại học Quốc gia
Hà Nội hoặc người viết là cán bộ, sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, những
Trang 30báo cáo tổng kết các đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia Hà Nội và cấpnhà nước đã được nghiệm thu…
- Xây dựng các cơ sở dữ liệu đặc thù của Đại học Quốc gia Hà Nội nhưxuất bản phẩm, thông tin tóm tắt, thông tin chuyên đề phục vụ công tác quản
lý, nghiên cứu khoa học và đào tạo
- Nghiên cứu khoa học thông tin, tư liệu, thư viện, góp phần xây dựng
hệ thống lý luận chuyên ngànhTổ chức đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng caotrình độ tổ chức, xử lý, cung cấp tin cho đội ngũ cán bộ
- Phát triển quan hệ trao đổi, hợp tác với các Trung tâm Thông tin –Thư viện, các tổ chức khoa học, các trường đại học trong và ngoài nước
- Tham gia tổ chức và điều hành Liên hiệp các trường đại học và Hộithư viện Việt Nam Tham gia các Hiệp hội thư viện quốc tế, làm đầu mối nốimạng hệ thống thông tin-thư viện Đại Học Quốc gia Hà Nội và ngành đại họcvào mạng Quốc gia, khu vực, thế giới
- Tổ chức quản lý đội ngũ cán bộ kho tài liệu và các tài sản của trungtâm phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao theo quy định của Đại họcQuốc gia Hà Nội
2.1.3 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia
Hà Nội được xây dựng với mô hình tương đối hoàn chỉnh và khoa học Dựatrên nguyên tắc, tính hệ thống và tính linh hoạt Đó là hệ thống mở đảm bảothực hiện nhiệm vụ chính của Trung tâm là phục vụ thông tin khoa học ở mọicấp độ, từ cấp trường lớn đến các trường đại học thành viên, từ cấp trườngđến cấp khoa, đảm bảo được mối quan hệ chặt chẽ giữa “nguồn tin và ngườidùng tin” Hiện nay, Trung tâm đang hoạt động với một giám đốc - chịu tráchnhiệm chung, hai phó giám đốc và ba khối phòng chức năng: khối nghiệp vụ,khối phục vụ, khối phòng chức năng (xem sơ đồ sau)
Trang 31Sơ đồ tổ chức của Trung tâm TT-TV ĐHQGHN
P.PV ĐHKH XHNV
P.PV ĐHKH KHTN
P.PV Cầu giấy
Phòng tài
vụ
Phòng Hành chính- Tổng hợp
Phòng
Bổ sung- Trao đối
Phòng Phân loại- Biên mục
Phòng Thông tin Thư mục
Phòng tra cứu Online
Phòng đọc chủ đề
Phòng CSDL hồi cố
Phòng mượn
Phòng đọc truyền thống
Phòng đọc TL đặc biệt
Phòng đọc kho mở
Phòng bảo quản
Phòng đọc Multimedia Phòng truy cập internet,
Hội đồng khoa học
Trang 322.1.4 Quan hệ quốc tế
Trung tâm có quan hệ với hơn 50 trường đại học, viện nghiên cứu, tổchức quốc tế, các nhà xuất bản tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nga, Italy, Nhật Bản,Hàn quốc và nhiều nước khác, trong đó có: Viện Harvard Yenching, Đại họcCornell, Đại học Hawaii, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Đại học Paris, Đại họcSorbone, Đại học Bone, Đại học Lômônôxôp, Viện Hàn lâm Khoa học Nga;Đại học Tokyo, Đại học Kyodo; Đại học Quốc gia Kangwon, Đại học ThanhHoa, Đại học Liêu Ning, Thư viện Quốc gia Australia, Trung tâm Nghiên cứuPhát triển Quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Tổng hợp Cali, Thư viện Khảo sátĐịa chất Nhật Bản, Chương trình hỗ trợ của Trung tâm Quốc tế về Vật lý lýthuyết Abdus Salam
Ngoài ra, Trung tâm còn có quan hệ với nhiều tổ chức quốc tế tại HàNội như Phòng Văn hóa Thông tin Đại sứ quán Hoa Kỳ, Viện Gớt, Hội đồngAnh, Quỹ Châu Á, Phòng Thông tin Đại sứ quán Hàn Quốc, Ngân hàng Thếgiới, Hội đồng Pháp ngữ
Trung tâm là thành viên sáng lập và tham gia Ban Chấp hành Hội thưviện đại học trực tuyến các nước Đông Nam á (AUNILO) và Hội đồng thưviện Đại học Quốc gia các nước Đông Á (East Asian University LibraryCouncil)
2.2 Các yếu tố tham gia vào quá trình thông tin và tác động tới công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm
2.2.1 Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất đóng vai trò là diện mạo đầu tin, tạo ấn tượng đầu tiênkhi người dùng tin đến cơ quan thư viện Trong nhiều trường hợp, ấn tượngđầu tiên này ảnh quyết định đến việc thu hút người dùng tin của các cơ quanthư viện
Trang 33* Trụ sở Trung tâm bao gồm nhiều trụ sở tai các địa điểm khác nhau
tại Hà Nội Mỗi trụ sở đều được xây dựng khang trang, đáp ứng những yêucầu thiết kế của một cơ quan thông tin-thư viện
- Phòng Phục vụ bạn đọc chung (phục vụ cán bộ lãnh đạo và nghiêncứu của ĐHQGHN, cán bộ giảng dạy và sinh viên Trường Đại học Côngnghệ, Trường Đại học Kinh tế và các khoa trực thuộc: Luật, Sư phạm )
Địa chỉ: Nhà C1 - 144 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội
- Phòng Phục vụ bạn đọc khoa học xã hội - nhân văn và khoa học tự nhiên:+ Bộ phận Thượng Đình: Địa chỉ: 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội+ Bộ phận Mễ Trì: Địa chỉ: 182 Lương Thế Vinh, Thanh Xuân, Hà Nội
- Bộ phận Lê Thánh Tông: Địa chỉ: 19 Lê Thánh Tông, Hoàn Kiếm, Hà Nội
- Phòng Phục vụ bạn đọc ngoại ngữ: Địa chỉ: Đường Phạm Văn Đồng,Cầu Giấy, Hà Nội
* Trang thiết bị.
Tại các phòng nghiệp vụ, phòng chức năng và hệ thống các phòng đọcđều được trang bị những thiết bị cần thiết, hữu ích với công nghệ hiện đại.Hàng năm, Trung tâm đều trích ngân sách hoạt động cho việc mua mới, thaythế trang thiết bị: Hệ thống mạng thường xuyên được nâng cấp, số lượng máytính được bổ sung, thay thế Các phòng nghiệp vụ được trang bị những thiết
bị tốt theo nhiệm vụ từng phòng ban Tại các phòng phục vụ bạn đọc: khônggian rộng rãi thoáng mát giúp nâng cao hứng thú đọc, trang thiết bị hiện đạitạo ra phưong thức phục vụ mới, hiện đại, hiệu quả (với cổng từ, thiết bị đọc
mã vạch, camara quan sát)…
2.2.2 Đội ngũ cán bộ
Ngay từ đầu mới thành lập, trên cơ sở xây dựng mô hình cơ cấu quản
lý, Trung tâm đã từng bước ổn định về tổ chức Với tổng số cán bộ cókhoảng hơn 160 người Trong đó 57 cán bộ biên chế, 60 cán bộ hợp đồng,
Trang 34trong đó có 1 tiến sĩ và 6 thạc sĩ đã tốt nghiệp chuyên ngành thông tin – thưviện, hầu hết cán bộ của Trung tâm có trình độ đại học Bên cạnh các cán bộchuyên ngành thư viện, đội ngũ cán bộ còn bao gồm các cán bộ tốt nghiệpcác chuyên ngành khác.
Với đội ngũ cán bộ hiện nay, Trung tâm hoàn toàn có khả năng hoànthiện hơn nữa các sản phẩm thông tin đã có và phát triển các sản phẩm & dịch
vụ mới Đồng thời tuyên truyền giới thiệu, đào tạo người dùng tin để đạt hiệuquả cao nhất cho các sản phẩm & dịch vụ của mình
2.2.3 Nguồn lực thông tin
Tại Trung tâm nguồn lực thông tin đóng vai trò là tiềm lực, là sứcmạnh và niềm tự hào- được hình thành trên cơ sở hợp nhất thư viện của cáctrường thành viên, Trung tâm thừa hưởng toàn bộ nguồn tin đã có của thưviện các trường thành viên Trong hơn chục năm hoạt động, Trung tâm đã bổsung, xây dựng bộ sưu tập vốn tài liệu của mình trở thành một trong những bộsưu tập tài liệu đồ sộ, có giá trị nhất trong hệ thống các cơ quan/trung tâm thưviện trường đại học ở Việt Nam Nguồn lực thông tin của Trung tâm có khảnăng đáp ứng nhu cầu tin trong giảng dạy và học tập của hơn 88 ngành đàotạo trong Đại học Quốc gia Bao gồm cả tài liệu sách báo, tạp chí dạng in,dạng số hoá, CSDL CD-ROM, nguồn tin trực tuyến… với nhiều ngôn ngữ.Nguồn lực thông tin tại Trung tâm bao gồm cả nguồn tin nội sinh rất giá trị làcác luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, các công trình nghiên cứu khoa họcđược thực hiện, bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội Bộ sưu tập tại Trung tâm
có nhiều tài liệu quý hiếm được xuất bản từ thế kỷ XIX của thư viện đại họcĐông Dương, có nhiều bộ sách do các quốc gia, các quốc tế trao tặng (Bộ sưutập Hoa Kỳ, Bộ toàn tập Mahatma Gandis, Tuyển tập Tawaharlal Nehsu, Cáctài liệu tra cứu…)
Trong giai đoạn hiện nay, toàn Đại học Quốc gia Hà Nội đang thựchiện chuyển sang đào tạo theo quy chế tín chỉ, đào tạo đẳng cấp quốc tế và
Trang 35nghiên cứu khoa học trình độ cao của ĐHQGHN Trung tâm tăng cường bổsung nhiều cơ sở dữ liệu, tài liệu điện tử của nước ngoài.
Để giới thiệu cho bạn đọc khai thác, sử dụng tối đa nguồn lực thông tintrên, Trung tâm đã tiến hành giới thiệu, hướng dẫn truy cập trên cổng thôngtin và bản tin điện tử của Trung tâm
Tính đến hết tháng 03/2009, nguồn tin tại Trung tâm Đại học Quốc gia
Hà Nội như sau:
Kho tài liệu và dữ liệu do Trung tâm xây dựng.
● 128.000 tên sách (750.000 bản)
● 2.145 tên báo & tạp chí (cập nhật 415 tên)
● Giáo trình của 88 ngành đào tạo
● 4.000 luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ
● Bài giảng điện tử, sách điện tử, giáo trình điện tử
● Tài liệu nghe nhìn: cassette, video, đĩa CD-ROM, vi phim, vi phiếu
● 2.000 thác bản văn bia
● CSDL Bài trích tạp chí: 6.000 biểu ghi
● CSDL các công trình nghiên cứu khoa học của cán bộ ĐHQGHN(Kỷ niệm 100 năm ĐHQGHN, bao gồm 16.000 biểu ghi thư mục)
● CSDL môn học là danh mục các tài liệu phục vụ các môn học đượcthiết kế theo khung chương trình đào tạo cử nhân của ĐHQGHN
CSDL trên đĩa CD-ROM (nguồn tin offline): truy cập nguồn tin này tại
các phòng multimedia/internet của Trung tâm: (cập nhật đến hết năm 2002)
Wilson Applied Science & Technology Fulltext, Wilson HumanitiesAbstracts Fulltexts, Wilson Education Abstracts Fulltext, Derwent BiotechnologyAbstracts/Quarterly Updates, Econlit 1969 - Present/Monthly Update
CSDL trực tuyến (nguồn tin online).
- Tạp chí điện tử
Trang 36* ACM Digital Library on eBridge (Nhà xuất bản: The Association for
Computing Machinery) gồm 6 tạp chí chuyên ngành, 8 tạp chí phổ thông
(magazine), 160 kỉ yếu hội nghị từ 1960 đến nay về khoa học máy tính vàcông nghệ thông tin
* IEEE Computer Sciences (Nhà xuất bản: IEEE Computer Society
Digital Library) gồm 23 tạp chí toàn văn xuất bản từ năm 1988 đến nay)
* ProQuest (Nhà xuất bản: Proques) là một nguồn thông tin đồ sộ cho
phép truy cập tới hơn 6.700 tạp chí về tất cả các lĩnh vực khoa học, giáo dục,kinh tế, trong đó có 4.370 tạp chí toàn văn (Từ năm 1990 trở lại đây) và trên18.000 bản luận văn tiến sĩ
+ ABI/INFORM về kinh tế và luận văn tiến sĩ về Quản lý và kinh doanh+ ProQuest các tạp chí về nông nghiệp, nghệ thuật, thương mại Châu Á
và tài liệu tham khảo, sinh học, khoa học máy tính, giáo dục, khoa học xã hội
và nhân văn, viễn thông
* SDOL (Science Direct online) Backfile gồm các chủ đề (từ số 1 đến
năm 1994) (Nhà xuất bản: Elsevier)
+ Các khoa học về trái đất: 94 tạp chí toàn văn
+ Kinh doanh, Quản lý và kế toán: 74 tạp chí toàn văn
+ Hóa học: 93 tạp chí toàn văn
* SDOL Current File (từ 1995 tới nay) (Nhà xuất bản: Elsevier) gồm
các chủ đề:
+ Các khoa học về trái đất: 98 tạp chí toàn văn
+ Kinh doanh, Quản lý và kế toán: 74 tạp chí toàn văn
+ Hóa học: 117 tạp chí toàn văn
+ Toán học: 87 tạp chí toàn văn
* SpringerLink Journals (Nhà xuất bản: Springer) Các chuyên ngành: y
tế và sức khỏe cộng đồng, khoa học cuộc sống, hóa học, toán, vật lý, kinh tế
Trang 37và khoa học quản lý, khoa học máy tính, cơ khí, tâm lý học, khoa học thư
viện Nga gồm trên 1.330 tạp chí toàn văn
* Wilson OmniFile Complete on eBridge Platform (Nhà xuất bản:
H.W.Wilson): Cơ sở dữ liệu bao gồm hơn 3.000 tạp chí với 10 chủ đề: Công
nghệ và khoa học ứng dụng, nghệ thuật, sinh vật học và nông nghiệp, kinhdoanh, giáo dục, khoa học đại cương, nhân văn, thông tin thư viện,
* Tạp chí Việt Nam trực tuyến.
- Sách điện tử
* eBrary Academic Complete (Nhà xuất bản: eBrary) gồm 37.759 sách điện tử toàn văn: Chủ đề về giáo dục, luật học, nghệ thuật, lịch sử, ngôn ngữ,
khoa học công nghệ,
* International Engineering Consortium (IEC) (Nhà xuất bản: IG): Chủ
đề về khoa học ứng dụng và công nghệ thông tin, truyền thông, khoa họcquản lý, kinh tế học,
* SIAM eBooks (Nhà xuất bản:IEC)
Các chủ đề về toán học, khoa học máy tính, kỹ thuật, khoa học xã hội
và nhân văn,
* Springer eBooks 2005 copyright collection (Nhà xuất bản: Springer)
Chủ đề về các khoa học: Quản trị kinh doanh, kinh tế (187 cuốn); Ysinh và khoa học cuộc sống (230 cuốn), Khoa học hành vi (32 cuốn); Khoahọc vật liệu và hóa học (148 cuốn); Khoa học máy tính (752 cuốn); Khoa họcmôi trường và trái đất (136 cuốn); Cơ khí (295 cuốn); Khoa học xã hội, nhânvăn và luật (152 cuốn); Y học (225 cuốn); Vật lý và thiên văn học (232 cuốn);Kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật (13 cuốn)
* Springer eBook 2007 Copyright collection (Nhà xuất bản: Springer)Các chủ đề: Kiến trúc, hành vi, khoa học đời sống, kinh tế học và kinhdoanh, khoa học vật liệu và hóa học, khoa học môi trường và trái đất, cơ khí