1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp

69 588 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 374,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước diễn biến ngày càng phức tạp của tội phạm “vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ” hiện nay, Bộ Công An đãnghiên cứu, đề xuất với các cấp có thẩm quyền những

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Giao thông nói chung và giao thông đường bộ nói riêng đóng vai trò vôcùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thếgiới Khi giao thông phát triển và tình hình trật tự an toàn giao thông đượcđảm bảo thì nó sẽ có tác dụng mạnh mẽ, là đòn bẩy phục vụ cho sự nghiệpxây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Ngược lại, khi giao thông lạc hậu, nó

sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội

Ở Việt Nam cũng vậy, giao thông đường bộ góp phần không nhỏ vào sựphát triển của đất nước, có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong việc phục vụ quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước

Theo thống kê trong những năm gần đây, tình hình trật tự an toàn giaothông ở nước ta có diễn biến vô cùng phức tạp, số vụ tai nạn giao thông ngàycàng tăng nhanh cả về số vụ lẫn mức độ nghiêm trọng Mỗi năm cả nước xảy

ra hàng chục ngàn vụ tai nạn giao thông lớn nhỏ, làm chết và bị thương hàngngàn người, thiệt hại về tài sản hàng tỉ đồng Mỗi ngày có hơn 30 người bị tainạn giao thông cướp đi mạng sống cùng với hàng trăm người bị thương tậtsuốt đời Trong đó, số vụ tai nạn xảy ra trên lĩnh vực giao thông đường bộluôn chiếm trên 90% tổng số vụ tai nạn giao thông gây nên thiệt hại hết sứcnghiêm trọng về người và tài sản Điều đó đồng nghĩa mỗi ngày có hàng trămgia đình Việt Nam gánh chịu sự mất mát khủng khiếp Đây là điều không thểchấp nhận được với một đất nước đang sống trong hòa bình

Bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội luôn được coi

là nhiệm vụ chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, là yếu tố quyết định cho sựphát triển của đất nước Vì vậy, công tác phòng ngừa, phát hiện và đấu tranhchống tội phạm là hết sức quan trọng nhất là trong tình hình tội phạm nói

Trang 2

chung, tội phạm “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ” nói riêng có diễn biến ngày càng phức tạp

Trước diễn biến ngày càng phức tạp của tội phạm “vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ” hiện nay, Bộ Công An đãnghiên cứu, đề xuất với các cấp có thẩm quyền những giải pháp và biện pháp

xử lý nhằm hạn chế tai nạn và hậu quả do “tội vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ” gây ra Tuy nhiên, hiệu quả đạt được chưacao, tỉ lệ truy tố, xét xử tội phạm “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ” chỉ được khoảng 12% số vụ tai nạn giao thông

Xuất phát từ tình hình trên, việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn,tình hình diễn biến và các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm “viphạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là hết sứccấp thiết Với những lý do trên, nhóm nghiên cứu chúng em quyết định chọn

nghiên cứu đề tài: “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về nghiên cứu tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giaothông đường bộ” đã được nhiều đơn vị triển khai nghiên cứu theo nhiềuhướng khác nhau Tiêu biểu như các đề tài:

+) Đề tài: Lê Minh Hoàn, Nguyễn Huy Thuật, Hoạt động phòng

ngừa tội phạm vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường

bộ trên địa bàn tỉnh Hải Dương: Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành Tội phạm học và điều tra tội phạm.

+) Đề tài: Bùi Thanh Phúc, Hoàng Đình Ban, Phòng ngừa tội phạm vi

phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hòa Bình: Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành Tội phạm học và điều tra tội phạm.

Ở cả hai đề tài, người nghiên cứu đã cung cấp những tri thức cơ bảnnhất về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường

Trang 3

bộ” Hai đề tài đã thực hiện nghiên cứu, phân tích hoạt động điều tra, phòngngừa tội phạm này và chỉ ở một địa phương cụ thể, chưa đi sâu nghiên cứutrên phạm trù pháp luật.

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.

*) Mục tiêu nghiên cứu:

Giới thiệu được khái quát những tri thức cơ bản về tội “Vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

Làm rõ thực trạng và hạn chế của tội “Vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ” trong thực tiễn

Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả xử lý tội phạm

“Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

*) Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nghiên cứu, phân tích tài liệu, trình bày những tri thức cơ bản về tội “Viphạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

Trên cơ sở thực trạng vi phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ”, thu thập số liệu, thông tin, đánh giá tìnhhình, dự báo tình hình tội phạm này

4 Phạm vi nghiên cứu.

Chương XIX bộ luật hình sự năm 1999 quy định các tội xâm phạm antoàn công cộng, trật tự công cộng Cụ thể điều 202 BLHS năm 1999 sửa đổi

bổ sung năm 2009

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.

Về mặt phương pháp luận đề tài đã quán triệt phương pháp luận Macxit.Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp quan sát

Trang 4

6 Tính mới của đề tài.

Đề tài “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” thực hiện nghiên cứu chếđịnh pháp luật của tội phạm để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp khi tình hìnhTNGT ngày càng tăng cao và diễn biến phức tạp, khó lường mà quy định củatội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” chưakịp thời điều chỉnh Nhóm nghiên cứu chúng em thực hiện đề tài nghiên cứuxuất phát từ lý do đó Thông qua nội dung đề tài, nhóm nghiên cứu đã trìnhbày các giải pháp nhằm kiềm chế TNGT và góp phần hoàn thiện hệ thốngpháp luật để giảm thiểu vi phạm pháp luật an toàn giao thông đường bộ nóichung và vi phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giaothông đường bộ” nói riêng

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN

PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1.1 Lịch sử phát triển của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

1.1.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất – Bộ luật Hình sự năm 1985.

Tình trạng giao thông nước ta giai đoạn này còn thô sơ, thông thoáng, do

đó các tội xâm phạm ATGT nói chung và các tội xâm phạm an toàn giaothông đường bộ nói riêng chưa phải là một hiện tượng phổ biến, chưa có tínhnguy hiểm cao cho xã hội, vì vậy khi có các vụ tai nạn giao thông xảy ra dolỗi của con người thì cho phép áp dụng nguyên tắc tương tự để xem xét tráchnhiệm hình sự Cụ thể là:

Nếu vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra gây thiệt hại về tínhmạng thì được xem là tội vô ý làm chết người; gây thiệt hại nghiêm trọng vềsức khỏe thì bị truy tố theo tội vô ý gây thương tích nặng; gây thiệt hạinghiêm trọng về tài sản bị coi là phạm tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng tàisản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản riêng của công dân

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ cólịch sử ra đời muộn hơn so với các tội chống lại chình quyền dân chủ nhândân và các loại tội phạm khác Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng,Nhà nước ta đã ban hành Thông tư 442/TTg ngày 19/01/1955 và Thông tư 556/TTg ngày 29/06/1955 của Thủ tướng Chính phủ quy định về tội phạm này

1.1.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999.

Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta được Quốc hội thông qua ngày27/06/1986, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 đã dành Mục A Chương 8 quy định

Trang 6

Các tội phạm được quy định tại mục A Chương 8 Bộ luật hình sự 1985

có thể chia thành hai nhóm:

Nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thông

Nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng khác

Về nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thông gồm các tội sau đây:Điều 186: Tội vi phạm các quy định về an toàn GTVT

Điều 187: Tội cản trở GTVT gây hậu quả nghiêm trọng

Điều 188: Tội đưa vào sử dụng các phương tiện GTVT không đảm bảo

an toàn hoặc điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiệnGTVT gây hậu quả nghiêm trọng

Đây là lần đầu tiên pháp luật hình sự Việt Nam đưa ra quy định cụ thể vềcác tội xâm phạm trật tự ATGT đường bộ, đường thủy, đường sắt, đườngkhông; đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước về trật tự ATGT và đấutranh với các hành vi vi phạm trật tự ATGT

Trong 15 năm tồn tại và có hiệu lực, Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985

đã góp phần tích cực trong công tác phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả vớicác hành vi vi phạm quy định về trật tự ATGT gây hậu quả nghiêm trọngđồng thời nhắc nhở, giáo dục mọi người ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnhchấp hành luật GTVT trên toàn quốc

1.2 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999.

1.2.1 Khái niệm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

Điều 202: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ

1 Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạmquy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặcgây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt

Trang 7

tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến

ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ banăm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứugiúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiểnhoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

3 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy nămđến mười lăm năm

4 Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năngthực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịpthời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba thángđến hai năm

5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hànhnghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Từ sự phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm của tội vi phạm quy định

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định trong Bộ luậthình sự năm 1999 có thể khái quát như sau:

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ lànhững hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sựxâm phạm các quan hệ xã hội trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ dongười có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, cầnthiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự

Hoặc có thể khái niệm theo cách tiếp cận khác:

Trang 8

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ làhành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm hình

sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm những quy định của nhànước về trật tự an toàn giao thông gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe conngười, gây thiệt hại về tài sản nhà nước, các tổ chức và công dân; xâm phạmhoạt động bình thường trên lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ

1.3 Đặc điểm pháp lý.

Từ khái niệm của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giaođường bộ có thể xem xét các dấu hiệu pháp lý của tội phạm với nội dung sau:

1.3.1 Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm.

Chủ thể của tội phạm theo luật Hình sự Việt Nam hiện hành chỉ có thể làcon người cụ thể Nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tộiphạm khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Hình sự Để xác định mộtngười có phải là chủ thể của tội phạm hay không ta cần xem xét hai điều kiện,

là những dấu hiệu bắt buộc của chủ thể của tội phạm, đó là năng lực tráchnhiệm hình sự và độ tuổi

Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cấu thành để có thể xác địnhcon người có thể có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Chỉnhững người nào có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể là chủ thể củatội phạm

Luật Hình sự Việt Nam không trực tiếp quy định như thế nào là có nănglực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự( Điều 12 BLHS 1999) và quy định thế nào là trường hợp trong tình trạngkhông có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13 BLHS 1999) Do đó có thểhiểu rằng: Người có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật Hình sự Việt Nam

là người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ởtrong trạng thái không có năng lực trách nhiệm hình sự Theo đó thì ngườichưa đủ 14 tuổi và người ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệmhình sự không phải là chủ thể của tội phạm nói chung

Trang 9

Đối với tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ”, chủ thể của tội phạm là chủ thể thường Bất kỳ người nào từ đủ 16tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự, trực tiếp điều khiển phươngtiện giao thông đường bộ, trong đó bao gồm cả người trực tiếp điều khiển cácphương tiện thô sơ đường bộ.

1.3.2 Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm.

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo

vệ và bị các hành vi phạm tội xâm phạm đến Theo luật hình sự Việt Nam,những tội thuộc nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ được quyđịnh tại chương XIX của Bộ luật hình sự 1999 là những tội có khách thểchung: trật tự giao thông đường bộ, quan hệ tính mạng, sức khỏe và quan hệtài sản Điều này có nghĩa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ là những hành vi vi phạm quy định về an toàn giaothông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng về sứckhỏe, tài sản của người khác, hoặc hành vi vi phạm đó có khả năng thực tếdẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời

Sự gây thiệt hại này phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội củahành vi phạm tội

Việc giữ gìn an toàn giao thông đường bộ không chỉ để bảo vệ, đảm bảo

sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ mà qua

đó còn bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tham gia giao thông.Trong điều kiện đất nước phát triển nền kinh tế thị trường và mở rộng giaolưu hợp tác quốc tế, các phương tiện giao thông đường bộ ngày càng gia tăng

về cả số lượng, chủng loại và cả mật độ lưu thông Một trong những nhiệm vụcấp bách của Nhà nước và toàn xã hội hiện nay là đảm bảo an toàn giao thôngđường bộ, hạn chế các vụ tai nạ giao thông nhằm hạn chế những thiệt hại vềtính mạng, sức khỏe và tài sản do nó gây ra

Cũng như các tội xâm phạm an toàn giao thông khác, tội vi phạm quy

Trang 10

202 Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 trực tiếpxâm phạm đến hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường

bộ, xâm phạm đến quan hệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của Nhà nước, củacác tổ chức và cá nhân

Điều 202 là một quy phạm viện dẫn, nó không trực tiếp chỉ ra những quyđịnh cụ thể nào về an toàn giao thông đường bộ có thể bị vi phạm Do đó, đểtruy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm thì các cơ quan tố tụngcần phải xác định rõ những quy định cụ thể nào về an toàn giao thông đường

bộ đã bị xâm hại tại “ luật giao thông đường bộ năm 2008” được Quốc hộithông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008

Đối tượng tác động của tội “Vi phạm quy định về điều khiển phươngtiện giao thông đường bộ” là các loại phương tiện giao thông đường bộ nóichung, bao gồm: các loại xe có gắn động cơ (ô tô các loại, máy kéo, xechuyên dùng, xe gắn máy…), các loại xe thô sơ (xe đạp, xe cải tiến, xe tựchế…) do người điều khiển hoặc do súc vật kéo Tất cả các loại phương tiệnnày dù của Nhà nước, của tổ chức, của cá nhân trong nước hoặc nước ngoàihay của các tổ chức quốc tế, khi đã tham gia vào hoạt động giao thông trêncác tuyến đường bộ của Việt Nam thì đều phải tuân thủ những quy định hiệnhành của pháp luật Việt Nam về An toàn giao thông đường bộ

1.3.3 Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm.

Yếu tố tiếp theo trong cấu thành tội phạm là mặt khách quan của tộiphạm Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra bênngoài thế giới khách quan Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra đều có những biểuhiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp nhận biếtđược Đó là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệnhân quả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoài của việc thực hiệnhành vi phạm tội (công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địađiểm phạm tội…) Tổng hợp những biểu hiện trên tạo thành mặt khách quancủa tội phạm Như vậy, mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội

Trang 11

phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoàithế giới khách quan.

Nghiên cứu về mặt khách quan của tội “ Vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ” chúng ta phải xem xét một cách toàn diện

từ hành vi khách quan với hậu quả nguy hiểm cho xã hội trong mối quan hệnhân quả giữa hành vi khách quan với hậu quả mà nó gây ra Trong đó nghiêncứu hành vi khách quan có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giúp ta phân biệtđược tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đườngbộ” với những tội phạm khác trong nhóm tội xâm phạm an toàn giao thôngđường bộ

1.3.3.1 Hành vi khách quan của tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi vi phạm quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ Điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ là những hành vi trực tiếp thực hiện các chức năng điều khiển sựvận động của phương tiện giao thông đường bộ Do đó, vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi của người trực tiếptham gia giao thông vi phạm các quy định trực tiếp nhằm bảo đảm sự an toàntrong hoạt động của các phương tiện giao thông đường bộ

Hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường

bộ thường được biều hiện ở những vi phạm sau đây: Vi phạm về tốc độ (điquá tốc độ cho phép hoặc không đúng tốc độ quy định); chở quá trọng tải;vượt trái phép (vượt ẩu khi chưa đủ điều kiện an toàn); đi không đúng phầnđường quy định Bên cạnh những vi phạm về kỹ thuật an toàn giao thôngđường bộ như trên thì những hành vi vi phạm các quy định về an toàn giaothông vận tải đường bộ còn thể hiện ở những hành vi như: Điều khiển phươngtiện giao thông vận tải đường bộ mà không có giấy phép lái xe; điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ trong khi đang say rượu hoặc say do dùng

Trang 12

nhiệm vụ điều khiển, hướng dẫn giao thông Điều 202 Bộ luật hình sự 1999không nêu rõ những hành vi như thế nào là vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ Do đó, để truy cứu trách nhiệm hình sự vềtội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theođiều 202 Bộ luật hình sự 1999 thì cần phải xác định những quy định cụ thểnào bị vi phạm Như vậy, việc xác định hành vi vi phạm các quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ không chỉ căn cứ vào các quy địnhcủa Bộ luật Hình sự mà còn phải căn cứ vào các quy định của Luật giao thôngđường bộ và các văn bản hưỡng dẫn khác của cơ quan có thẩm quyền.

1.3.3.2 Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Tính nguy hiểm khách quan của tội phạm là ở chỗ tội phạm đã gây thiệthại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

Sự gây thiệt hại này là một trong những nội dung biểu hiện của yếu tố mặtkhách quan trong cấu thành tội phạm, đó là hậu quả nguy hiểm cho xã hội củahành vi khách quan

Trong cấu thành tội phạm của tội “Vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ”, thiệt hại nghiêm trọng xảy ra thì hậu quảcủa hành vi khách quan là một dấu hiệu bắt buộc Hành vi vi phạm chỉ bị truycứu trách nhiệm hình sự nếu đã gây thiệt hại về tính mạng, thiệt hại về sứckhỏe, tài sản của người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 của điềuluật (hành vi vi phạm có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêmtrọng nếu không được ngăn chặn kịp thời) Còn lại, nếu hành vi xâm phạmđến an toàn giao thông đường bộ nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng hoặckhông thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 202 Bộ luật hình sự thì bị

xử phạt hành chính

Hậu quả nghiêm trọng trong cấu thành tội phạm của tội “Vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đương bộ” được hướng dẫn cụ thểtrong Nghị quyết số 02/2003/NQ - HĐTPTANDTC ngày 17/04/2003 của

Trang 13

Hộng đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một sốquy định của Bộ luật Hình sự 1999 và Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy địnhtại chương XIX của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự an toàn giaothông như sau:

Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quyđịnh về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thìgây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tàisản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu tráchnhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:

d Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21%đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đếndưới năm mươi triệu đồng;

đ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật củamỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này

từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệuđồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dướinăm trăm triệu đồng

1.3.3.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với hậu quả tai nạn.

Nếu hành vi khách quan là nội dung biểu hiện thứ nhất, hậu quả là nội

Trang 14

quan của tội phạm là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quảnguy hiểm cho xã hội Trong một cấu thành tội phạm, nếu hậu quả đã đượcphản ánh là một dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan thì mối quan hệ giữahành vi khách quan và hậu quả cũng sẽ là dấu hiệu bắt buộc trong mặt kháchquan của cấu thành tội phạm Do đó, việc áp dụng cấu thành tội phạm đối vớitội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”không chỉ đòi hỏi phải xác định được hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà cònphải xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.

Tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

có cấu thành vật chất, hậu quả phải là dấu hiệu bắt buộc của mặt khách quan.Việc xác định được hậu quả có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tộidanh và quy định hình phạt Vì vậy khi định tội, khung hình phạt cần xác địnhmối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả thực tế xảy ra Khi

có một vụ tai nạn giao thông đường xảy ra thường do một loạt các nguyênnhân và điều kiện tác động gắn liền với nhau Chúng có thể là hành vi viphạm của người điều khiển phương tiện giao thông, có thể là lỗi của người bịhại hoặc do lỗi của cả hai bên, thậm chí do lỗi của người thứ ba Ngoài ra, cóthể do tình trạng đường xá, thời tiết, thiết bị an toàn của phương tiện, hệ thốngđèn, biển báo giao thông hay do tình trạng sức khỏe của nạn nhân và điềukiện cứu chữa… Như vậy, trong trường hợp cụ thể cần phải xác định đượcnhững nguyên nhân nào do ai gây ra; đâu là nguyên nhân trực tiếp; đâu lànguyên nhân gián tiếp dẫn đến hậu quả Một người chỉ phải chịu trách nhiệmhình sự về hậu quả nguy hiểm cho xã hội nếu hậu quả đó do chính hành vi viphạm của họ gây ra

1.3.3.4 Những biểu hiên khác của mặt khách quan trong cấu thành tội phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Ngoài các nội dung biểu hiện như hành vi khách quan, hậu quả nguyhiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả,mặt khách quan của tội phạm còn có những nội dung biểu hiện khác như:

Trang 15

phương tiện, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội… Tuy nhiên, những nộidung này không phải được phản ánh là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tộiphạm đối với tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ” Việc xác định thời gian, địa điểm, hoàn cảnh cụ thể xảy ra tộiphạm không ảnh hưởng đến việc định tội danh mà chỉ có ý nghĩa khi quyếtđịnh hình phạt đối với người phạm tội.

1.3.4 Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm.

Tội phạm là thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan Nếumặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm thì mặt chủquan của tội phạm lại là những hoạt động tâm lý bên trong của người phạmtội, thể hiện những nội dung khác nhau như lỗi khi thực hiện hành vi, động cơthúc đẩy hoặc mục đích mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm

1.3.4.1 Lỗi.

Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hộicủa mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hìnhthức lỗi cố ý hoặc vô ý

Đối với tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ”, nguời phạm tội thực hiện hành vi vi phạm do lỗi vô ý, có thể là vô

ý do quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả

Vô ý do quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước đượchành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng cho rằnghậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được Đối với tội “Vi phạmquy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, lỗi vô ý do quá tựtin thường thể hiện trong những trường hợp như phóng nhanh vượt ẩu, lạnglách, đánh võng… do tự tin vào trình độ lái xe của mình mà cho rằng tai nạnkhông thể xảy ra nhưng nhận định chủ quan đó của người phạm tội là không

có cơ sở, do đó, thực tế tai nạn giao thông đã xảy ra trái với nhận thức, tráivới ý muốn của họ

Trang 16

Vô ý do cẩu thả là trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vicủa mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mặc dù họ buộc phảithấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó nhưng do cẩu thả, không để ý nên

đã không thấy được Lỗi vô ý do cẩu thả trong tội “Vi phạm quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ” thường được thể hiện trong nhữngtrường hợp như người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chưa đượcđào tạo, học tập về quy tắc an toàn giao thông đường bộ hoặc trường hợpngười phạm tội do không quan sát biển báo giao thông đường bộ hoặc trườnghợp người phạm tội do không quan sát biển báo giao thông…

Tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”không có lỗi cố ý Nếu một người có ý sử dụng phương tiện giao thông đường

bộ để gây chết người hoặc gây thương tích cho người khác hoặc hủy hoại tàisản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng (giết người, cố

ý gây thương tích hoặc hủy hoại tài sản)

1.3.4.2 Động cơ và mục đích phạm tội.

Như phần lớn các tội phạm khác thuộc nhóm tội xâm phạm an toàn giaothông đường bộ; mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắtbuộc trong cấu thành của tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ”

Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thựchiện hành vi phạm tội cố ý Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủquan của người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội.Tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” đượcthực hiện với lỗi vô ý, người phạm tội hoàn toàn không mong muốn cho hậuquả xảy ra Khi xem xét động cơ, mục đích của người phạm tội đối với tội nàychúng ta chỉ có thể xem xét dưới khía cạnh động cơ xử sự và mục đích hành

vi bởi người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội hoàn toàn không mongmuốn thực hiện tội phạm, họ hoàn toàn không có mục đích và động cơ phạm

Trang 17

tội Người phạm tội hoặc không biết hành vi của mình sẽ trở thành tội phạm,hoặc biết nhưng không mong muốn nó trở thành tội phạm.

1.4 Chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Nhìn chung các quy định về hình phạt đối với nhóm các tội xâm phạm

an toàn giao thông đường bộ thể hiện đầy đủ chính sách xử lý kiên quyết củaNhà nước ta đối với hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng Bộ luật Hình

sự 1999 đã quy định các loại hình phạt chính áp dụng đối với các tội thuộcnhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ: Phạt tù có thời hạn và tùkhông thời hạn, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tiền Ngoài những hìnhphạt chính còn có những hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấmhành nghề hoặc làm công việc nhất định

Tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”theo quy định tại điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 quy định 4 khung hình phạt:Khung 1: Quy định hình phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệuđồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến nămnăm trong trường hợp người phạm tội gây thiệt hại về tính mạng, thiệt hạinghiêm trọng về sức khỏe và tài sản của người khác và không có tình tiết địnhkhung tăng nặng

Khung 2: Quy định hình phạt tù từ ba năm đến mười năm áp dụng đốivới người phạm tội trong trường hợp có một trong các tình tiết định khungtăng nặng theo quy định tại Khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999

1 Không có giấy phép lái xe hoặc bằng lái xe theo quy định:

Là trường hợp người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không

có giấy phép lái xe hoặc giấy phép lái xe do cơ quan có thẩm quyền cấp đốivới loại phương tiện đó hoặc tuy đã có nhưng bị cơ quan có thẩm quyền thuhồi hoặc trường hợp người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trongthời hạn bị cơ quan có thẩm quyền cấm điều khiển

Trang 18

2 Phạm tội trong khi say rượu hoặc say do dùng chất kích thích mạnhkhác:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư 09 BTP-VKSNDTC-TANDTC nêu rõ Người điều khiển phương tiện tham giagiao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc đang trong tìnhtrạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người

/2013/TTLT-BCA-BQP-sử dụng ma túy, rượu, bia; Người điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyêndùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn; Người điềukhiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở Đây là một quyđịnh mang tính định lượng cụ thể, cho phép xác định ranh giới giữa trườnghợp có tội hay không có tội, bị xử lý theo Khoản 1 hay Khoản 2 Điều 202 Bộluật Hình sự 1999 Do đó, việc xác định mức nồng độ các chất đó trong máungười vi phạm đòi hỏi phải có sự đánh giá chính xác thông qua các thiết bị đochuyên dụng

3 Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứugiúp người bị nạn:

Là trường hợp người phạm tội sau khi gây tai nạn nghiêm trọng đã cố ý

bỏ chạy khỏi hiện trường với mục đích che dấu tội phạm hoặc người phạm tội

cố ý bỏ mặc không cứu giúp người bị nạn mà nhẽ ra họ có trách nhiệm phải

áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế mức thấp nhất những thiệt hại do

họ gây ra về người và tài sản Thực trạng trên đang gây ra khó khăn rất lớncho công tác điều tra, phát hiện tội phạm Trên thực tế, trong nhiều trườnghợp nếu người phạm tội sau khi gây tai nạn mà có hành vi cứu giúp người bịtai nạn thì hậu quả sẽ không ở mức độ nghiêm trọng

4 Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiểnhoặc hướng dẫn giao thông:

Là trường hợp người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ cố ýkhông chấp hành hiệu lệnh của những người đang làm nhiệm vụ điều khiển

Trang 19

hướng dẫn giao thông, gây nên hậu quả nghiêm trọng Hoặc sau khi vi phạm,mặc dù đã có hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ nưng người vi phạmvẫn cố tình tiếp tục điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà khôngdừng lại.

5 Gây hậu quả rât nghiêm trọng:

Việc xác định hậu quả rất nghiêm trọng căn cứ vào Khoản 2 Điều 2Thông tư số 09 /2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC thông tưliên tịch hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của Bộ luậtHình sự về các tội phạm xâm phạm trật tự, an toàn giao thông bao gồm nhữngtrường hợp sau:

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21%đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đếndưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tậtcủa mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những ngườinày từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươitriệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới nămtrăm triệu đồng

Khung 3: Phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm nếu hành vi vi phạmquy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra hậu quả đặcbiệt nghiêm trọng

Trang 20

Việc xác định hậu quả đặc biệt nghiêm trọng căn cứ vào Khoản 3 Điều 2Thông tư số 09 /2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC thông tưliên tịch hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của Bộ luậtHình sự về các tội phạm xâm phạm trật tự, an toàn giao thông bao gồm nhữngtrường hợp sau:

g) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trởlên

Khung 4: Quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặcphạt tù từ ba tháng đến hai năm áp dụng đối với người phạm tội trong trườnghợp hành vi vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nếukhông được ngăn chặn kịp thời thì có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặcbiệt nghiêm trọng Đó là khả năng rõ ràng, tất yếu đối với hành vi vi phạm đó.Trong hoàn cảnh cụ thể ấy, nếu không được ngăn chặn, khắc phục kịp thời thìhậu quả nghiêm trọng tất yếu sẽ xảy ra

Hình phạt bổ sung: Ngoài những hình phạt chính được nêu ở trên, ngườiphạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề kinh doanh hoặc cấmlàm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Trang 21

Chương 2 TÌNH HÌNH TỘI PHẠM, NGUYÊN NHÂN VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ TỘI PHẠM VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU

KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

2.1 Tình hình vi phạm tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” trong cả nước giai đoạn 2011 - 2013

2.1.1 Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở nước ta trong giai đoạn

2011 – 2013.

Giao thông là huyết mạch của nền kinh tế quốc dân, là điều kiện để nângcao cuộc sống con người Giao thông mang chức năng giao lưu gắn liền hoạtđộng của con người từ địa phương này đến địa phương khác và trên phươngdiện toàn cầu Do đó, giao thông đường bộ có mối quan hệ gắn kết quan trọngđối với các hoạt động của đời sống, đồng thời góp phần phục vụ đắc lực chocuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bên cạnh những lợi ích to lớn về kinh tế như vậy thì một trong nhữngmặt trái của giao thông đó là “tai nạn giao thông” Trong những năm gần đây,trên phạm vi cả nước đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đường bộ, gâythiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe và tài sản của nhân dân

Thực hiện nghị quyết 88/NQ-CP ngày 24 tháng 08 năm 2011 về tăngcường thực hiện các giải pháp trọng tâm đảm bảo trật tự an toàn giao thông;Chỉ thị số 22- CT-CT/TW ngày 24 tháng 02 năm 2003 của ban bí thư Trungương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật

tự an toàn giao thông đường bộ, các cấp, các ngành, các địa phương đã tíchcực triển khai và thực hiện mục tiêu kiềm chế tai nạn giao thông Tuy nhiên,trong những năm gần đây, tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ đã cónhững diễn biến hết sức phức tạp, tai nạn giao thông đường bộ tăng so vớinhững năm trước

Trang 22

Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, được cấu thànhbởi tổng thể các tội phạm đã xảy ra trên một địa bàn, trên một lĩnh vực, trongmột khoảng thời gian nhất định.

Tình hình tội phạm “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giaothông đường bộ” là toàn bộ tình hình thực tế tội phạm “Vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ” đã xảy ra ở nước ta trongkhoảng thời gian nhất định, nó được thể hiện thông qua nhiều yếu tố như: tìnhhình tội phạm, cơ cấu tội phạm, diễn biến, thời gian phạm tội, địa điểm vàphương thức phạm tội…

Theo thống kê của Cục cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt:

Trong năm 2011 cả nước xảy ra 43.204 vụ TNGT, làm chết 10.800người, bị thương 47.351 người

Năm 2012 cả nước xảy ra 35.820 vụ, làm chết 9.540 người, bị thương38.170 người

Năm 2013, cả nước xảy ra 30.874 vụ TNGT, làm chết 9.627 người, bịthương 31.982 người

Theo đó tính riêng trong vòng 3 năm (2011 đến 2013) cả nước xảy ra110.290 vụ TNGT, làm chết 30.145 người, bị thương 117.774 người (phụlục, bảng 1)

Theo báo cáo tổng kết của Cục cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắtthì nguyên nhân TNGT đường bộ có cơ cấu như sau: Chạy quá tốc độ quy định(11,5%); Đi không đúng phần đường, làn đường (28,25%); Tránh vượt sai quyđịnh (11%); Chuyển hướng (8%); Không nhường đường (3,4%); sử dụng rượubia (3,74%); Không chấp hành biển báo hiệu đường bộ (0,4%); Sai quy trìnhthao tác lái xe (4,48%); Dừng đỗ sai quy định (0,41%); Không có giấy phép lái

xe (0,9%); Thiết bị không đảm bảo an toàn (1,45%); Đường giao thông khôngđảm bảo (0,4%); Do người đi bộ (3,6%); Nguyên nhân khác (22,4%) (Phântích 82010 vụ TNGT trong ba năm liên tiếp) ( Phụ lục, bảng 2)

Trang 23

Xét về đối tượng gây tai nạn, theo số liệu thống kê thì ô tô chiếm 29,42%

số vụ tai nạn, xe máy chiếm 61,16% số vụ tai nạn còn lại các phương tiệnkhác chiếm 9,42% (Phụ lục, bảng 3) Theo số liệu phân tích trên ta thấy số vụTNGT do xe máy gây ra chiếm số lượng lớn Qua khảo sát thực tế, có nhiềuchủ phương tiện biết rõ phương tiện xe máy đã quá cũ, sắp hết niên hạn sửdụng thì tìm cách bán cho người khác để người khác tiếp tục sử dụng, việc sửdụng những phương tiện này gây nguy hiểm rất lớn khi tham gia giao thông.Qua đó cho thấy rằng, số người điều khiển phương tiện xe máy gây ra TNGTchiếm tỷ lệ cao nhất Đây chính là đối tượng cần tập trung áp dụng các biệnpháp ngăn chặn, phòng ngừa và chế tài xử lý phải nghiêm minh để hạn chếtình trạng TNGT

Về thời gian xảy ra TNGT đường bộ qua thống kê trong ba năm liên tiếpcho thấy kết quả như sau: Trong thời gian từ 0h đến 6h chiếm khoảng 19,23%

số vụ; trong khoảng thời gian từ 6h đến 12h chiếm khoảng 23,84% số vụ;trong khoảng thời gian từ 12h đến 18h chiếm khoảng 27,30% số vụ; trongkhoảng thời gian từ 18h đến 24h chiếm khoảng 29,63% (Phụ lục, bảng 4)

Về độ tuổi người gây TNGT đường bộ qua thống kê cho thấy kết quảnhư sau: Dưới 18 tuổi chiếm khoảng 9,04% số vụ; từ 18 tuổi đến dưới 27 tuổichiếm khoảng 52,97% số vụ; từ 27 tuổi đến đưới 55 tuổi chiếm khoảng27,95% số vụ; độ tuổi trên 55 chiếm khoảng 10,04% số vụ (Phụ lục, bảng 5)Qua kết quả thống kê ta thấy độ tuổi gây TNGT nhiều nhất là từ đủ 18đến dưới 27 tuổi, đây là những người gây tai nạn giao thông và cũng là nhữngngười bị tai nạn giao thông đường bộ đông nhất vì đây là đối tượng tham giagiao thông nhiều nhất

Cơ chế kinh tế thị trường (tâm lý chạy theo lợi nhuận tối đa bằng mọicách) cũng có những tác động tiêu cực đến việc tận dụng phương tiện giaothông cũ nát không đảm bảo an toàn kỹ thuật phương tiện cũng như chấphành các quy định khác về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Hơn

Trang 24

loại, nguồn gôc xuất xứ, nhãn, mác khác nhau: Liên Xô, Đức, Trung Quốc,Nhật Mỹ… đang lưu hành, có nhiều xe đã cũ nát, nhiều xe là “xe bãi”, khôngđảm bảo an toàn kỹ thuật; nhiều phương tiện tự chế tại Việt Nam phát triển tựphát, không đảm bảo an toàn đang hoạt động, đặc biệt ở vùng nông thôn,vùng sâu, vùng xa khó kiểm soát Đây là nguy cơ rất lớn gây TNGT.

Tình hình TNGT diễn ra phức tạp và mức độ ngày càng nghiêm trọng,nhưng chế định pháp luật quy định về giao thông chưa thực sự bám sát tìnhhình giao thông Việt Nam Số vụ TNGT bị xử lý về hình sự về tội “Vi phạmquy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” còn thấp so với số

cơ cấu và những vấn đề liên quan sẽ giúp cho chúng ta thấy được thực trạngtình hình tội phạm, từ đó có căn cứ thực tiễn và cơ sở khoa học để tìm ranhững phương hướng, biện pháp giải quyết phòng ngừa, ngăn chặn, đấutranh, xử lý tội phạm đạt hiệu quả cao hơn

Theo số liệu đã thống kê ở mục 2.1.1 thì trong vòng ba năm cả nước xảy

ra 110.290 vụ TNGT làm chết 30.145 người và bị thương 117.774 người Tuynhiên theo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì trong ba năm từ

2011 đến năm 2013 thì cả nước chỉ truy tố được 14.121 vụ án về TNGT vàkhởi tố 14.352 bị can Về phía Tòa án nhân dân tối cao thì trong ba năm, xét

xử được 13.436 vụ TNGT theo điều 202 BLHS, với 14.261 bị cáo (Phụ lục,bảng 6)

Trang 25

Qua số liệu thống kê cho thấy, số lượng các vụ TNGT đường bộ có dấuhiệu tội phạm chiếm khoảng từ 20% - 25% tổng số các vụ TNGT được thống

kê Nhưng chỉ xử lý bằng hình sự được với khoảng 12,18% trong tổng số vụTNGT

Đặc điểm hình sự của tội phạm “Vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ” là tập hợp các thông tin phản ánh đặc điểm

về thực trạng, động thái, cơ cấu, tính chất, thiệt hại của tình hình tội phạm,nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội cóvai trò làm cơ sở để xây dựng phương pháp phòng ngừa và hỗ trợ cho côngtác điều tra, xử lý tội phạm “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ”

Khái quát thực tiễn giai đoạn 2011- 2013 cho thấy đặc điểm tội phạmhọc của tội phạm “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ” được phản ánh như sau:

Tội phạm “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ” là một tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội đang xảy ra phổbiến trong giai đoạn hiện nay, gây thiệt hại lớn, gây bất bình và tập trung chú

ý nhiều của mọi tầng lớp nhân dân Tỷ trọng tội phạm này chiếm từ 90% 92% trong nhóm tội phạm xâm phạm An toàn giao thông vận tải đường bộ.Hiện nay tội phạm “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giaothông đường bộ” diễn biến khá phức tạp, khi tăng, khi giảm nhưng nhìnchung có xu hướng tăng

-Tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”thì chủ thể rất đa dạng, thuộc mọi thành phần, mọi lứa tuổi; tất cả nhữngngười tham gia điều khiển các phương tiện giao thông đều có nguy cơ phạmtội ở những mức độ khác nhau

Xử lý hình sự theo điều 202 BLHS thì cũng có nhiều vấn đề cần đặt ra.Quy định của tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

Trang 26

nạn giao thông, và hình phạt chưa đủ nặng để có tính răn đe lớn cho ngườidân Các loại hình phạt không tước tự do hầu như ít được áp dụng; hình phạt

tù nhưng cho hưởng án treo quá lớn, đạt gần 80% tổng số các bị cáo đã đượcxét xử; hình phạt tù giam chủ yếu ở mức dưới 3 năm; hình phạt bổ sung nhưcấm lái xe hoặc hành nghề lái xe ít được áp dụng

2.1.3 Nguyên nhân của tội phạm “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

2.1.3.1 Những nguyên nhân thuộc về quy định pháp luật

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Trật tự an toàn giao thông cònchưa hoàn thiện; công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật và tuyên truyền vậnđộng nhân dân tham gia giữ gìn trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộcòn nhiều biểu hiện yếu kém, bất cập

Đây cũng được coi là một trong những nguyên nhân, điều kiện hết sứcquan trọng dẫn đến ùn tắc giao thông, TNGT đường bộ và tội “Vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” gia tăng và có diễn biếnphức tạp

Pháp luật hình sự về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ” còn một số điểm bất cập

Hiện nay, việc quy định về phương tiện giao thông đường bộ trong phápluật Việt Nam còn bất cập Theo Luật giao thông đường bộ của Quốc hộikhóa XII ban hành ngày 23 tháng 11 năm 2008 thì tại khoản 17 Điều 3 có quyđịnh: “Phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giớiđường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ”; tuy nhiên theo Thông tư

số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụngmột số quy định tại chương XIX của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm trật

tự, an toàn giao thông thì tại khoản 2 Điều 1 của thông tư ghi rõ “Phương tiệngiao thông đường bộ gồm: phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phươngtiện giao thông thô sơ đường bộ và xe máy chuyên dùng tham gia giao thôngđường bộ Vì vậy, tại điều 202 BLHS quy định phương tiện giao thông đường

Trang 27

bộ thì thực tiễn áp dụng như thế nào? Điều này gây vướng mắc khi điều tra,truy tố, xét xử liên quan đến người điều khiển phương tiện giao thông là xechuyên dùng gây thiệt hại cho tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏehoặc tài sản của người khác.

Tình tiết “không có giấy phép lái xe hoặc bằng lái xe theo quy đinh”(điểm a, Khoản 2 Điều 202) chưa có cách hiểu thống nhất dẫn đến khó khăntrong áp dụng Theo Thông tư số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIXcủa Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông thì đượchiểu như sau: Chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông không có giấyphép, bằng lái hoặc chứng chỉ chuyên môn do cơ quan có thẩm quyền cấp đốivới loại phương tiện đang chỉ huy, điều khiển mà theo quy định của pháp luật,khi chỉ huy, điều khiển loại phương tiện đó phải có giấy phép, bằng lái hoặcchứng chỉ chuyên môn phù hợp

Chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông trong thời hạn bị tước quyền

sử dụng giấy phép, bằng lái hoặc chứng chỉ chuyên môn do cơ quan có thẩmquyền cấp đối với loại phương tiện đang chỉ huy, điều khiển mà theo quy địnhcủa pháp luật, khi chỉ huy, điều khiển loại phương tiện đó phải có giấy phép,bằng lái hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp

Chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông trong thời hạn bị cơ quan cóthẩm quyền cấm chỉ huy, điều khiển phương tiện đó

Ở đây “không có giấy phép lái xe” được hiểu như Thông tư số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quyđịnh tại chương XIX của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàngiao thông, nhưng trường hợp có giấy phép lái xe nhưng bị mất chưa đi làmthủ tục cấp lại, hay là khi tham gia giao thông quên không mang giấy phép lái

xe, có được coi là “không có giấy phép lái xe” hay không?

Tình tiết “gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm” (điểm c,

Trang 28

chạy” để trốn tránh trách nhiệm, bởi trường hợp “bỏ chạy” vì lý do bị đe dọađến tính mạng mà đến cơ quan Công an gần nhất để khai báo thì cũng là “bỏchạy” nhưng không phải để trốn tránh trách nhiệm.

Tình tiết “không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ diềukhiển hoặc hướng dẫn giao thông” (điểm d Khoản 2 Điều 202) cũng gây khókhăn trong áp dụng Cụm từ này đã đánh đồng giữa hành vi “cố ý không chấphành” và “vô ý không chấp hành” Hai hành vi này có ý chí chủ quan hoàntoàn trái ngược nhau Vì vậy, trách nhiệm hình sự của hai hành vi này cũngphải khác nhau Nếu đánh đồng trách nhiệm hình sự của hai hành vi này cùngvào điểm d Khoản 2 Điều 202 là không phù hợp

Điều 202 Bộ luật hình sự quy định ba khung hình phạt và một cấu thànhtội phạm hỗ trợ Trong đó, khung hình phạt cao nhất là đến 15 năm tù Mứchình phạt như vậy đối với tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ” là chưa đủ sức răn đe đối với người phạm tội Sở dĩ tộiphạm này có cấu thành hình phạt cao nhất chỉ là 15 năm tù xuất phát từ yếu

tố lỗi của hành vi vi phạm tội Tội phạm này được thực hiện với lỗi vô ý nênhình phạt không thể cao hơn được, tương tự như các tội phạm khác được thựchiện với lỗi vô ý Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách khác quan, hành viphạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”nguy hiểm hơn nhiều so với các hành vi phạm tội khác được thực hiện với lỗi

vô ý Thứ nhất, hành vi của tội phạm “Vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ” nguy hiểm cao do tính phổ biến của nó.Thứ hai, tính nguy hiểm cao của hành vi vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ còn thể hiện ở khả năng nhìn thấy trước vềhành vi phạm tội của người phạm tội, nếu như hành vi phạm tội khác với lỗi

vô ý, người phạm tội hầu như không thấy trước được hành vi của mình có thểgây ra tội phạm thì trong trường hợp này, người phạm tội có nhiều khả năng

để thấy trước được điều đó

Trang 29

Tại Khoản 5 Điều 202 chỉ quy định ba hình phạt bổ sung: “cấm đảmnhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến nămnăm” Như vậy, còn thiếu nhiều hình phạt bổ sung khác như phạt tiền, tịch thugiấy phép lái xe, tạm đình chỉ cấp mới giấy phép lái xe, tịch thu phương tiện

vi phạm… Điều này đã hạn chế khả năng phòng ngừa TNGT và phòng ngừatội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

Chủ thể tội phạm là người đủ 16 tuổi và có đủ năng lực trách nhiệm hình

sự Tuy nhiên, thực trạng hiện nay người dưới điều khiển phương tiện giaothông đường bộ dưới 16 tuổi cũng khá nhiều Khi tham gia giao thông nhữngngười này vẫn vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường

bộ và gây hậu quả Nhưng, điều 202 BLHS chưa điều chỉnh được với chủ thểtội phạm dưới 16 tuổi Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tăng lên, do pháp luậtchưa điều chỉnh được

2.1.3.2 Công tác quản lý giao thông đường bộ chưa chặt chẽ dẫn đến kém hiệu quả.

Hiện nay, công tác quản lý về Trật tự an toàn giao thông đường bộ cònmột số vấn đề bất cập như:

Theo thống kê của Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, tínhriêng năm 2013, toàn quốc đăng ký mới 142.969 xe ô tô các loại, 2.760,226

xe mô tô nâng tổng số phương tiện giao thông đường bộ được đăng ký cấpbiển số đến hết tháng 11 năm 2013 là 2.144.277 ô tô; 39.654.767 mô tô; sovới cùng thời điểm năm 2012, số ô tô đăng ký mới tăng 7,1%, mô tô tăng7,5% Vấn đề tăng nhanh về số lượng của các phương tiện giao thông đường

bộ đòi hỏi công tác đăng kiểm, đăng ký quản lý phương tiện giao thôngđường bộ phải ngày càng khoa học, hiện đại để giải quyết tốt tình trạng giatăng phương tiện giao thông đường bộ như hiện nay

Mặc dù vậy, công tác đăng kiểm, đăng ký còn thiếu chặt chẽ, ví dụ lượng

Trang 30

Thông thường, người sở hữu xe đã qua sử dụng không có đăng ký mà sử dụng

hồ sơ của chủ cũ Đặc biệt nhiều trường hợp người điều khiển phương tiệngiao thông không có một giấy tờ gì chứng minh nguồn gốc của phương tiện.Việc công tác đăng kiểm, đăng ký quản lý phương tiện giao thông thiếu chặtchẽ sẽ làm cho công tác nắm bắt tình hình, xử lý các vụ TNGT khó khăn hơn.Công tác đào tạo - sát hạch lái xe hiện nay rất lỏng lẻo, dẫn đến tìnhtrạng chất lượng đào tạo thấp ở tất cả các khâu Vì vậy, người điều khiểnphương tiện tham gia giao thông dù chưa thành thạo các thao tác khi vận hànhcác phương tiện đặc biệt là ô tô vẫn có thể tham gia giao thông Đây là mộtđiểm rất nguy hiểm , ảnh hưởng rất lớn đến ATGT nói chung

Hoạt động tổ chức, điều hành giao thông vận tải còn thể hiện nhiều mặtyếu kém Tình trạng nhiều ngành, nhiều lực lượng tham gia quản lý nhà nước

về trật tự an toàn giao thông vận tải nhưng kém hiệu quả vì hoạt động thiếu sựphối hợp đồng bộ Hoạt động tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm của lực lượngCảnh sát giao thông, Cảnh sát trật tự còn những tồn tại, thiếu sót: chưa thườngxuyên, xử lý không triệt để Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến thái độ coithường các quy tắc về an toàn giao thông, thái độ không tôn trọng người điềukhiển giao thông Bên cạnh đó, hệ thống đèn, biển báo hiệu còn thiếu chưađáp ứng được nhu cầu tham gia giao thông của người dân và yêu cầu đảm bảotrật tự an toàn giao thông đề ra

2.1.3.3 Nguyên nhân về tâm lý xã hội.

Tâm lý vô tổ chức, vô kỷ luật, coi thường các quy tắc an toàn giao thông,

cố ý không chấp hành luật giao thông đường bộ là nguyên nhân chính, trựctiếp quyết định xu hướng phát triển của tội “Vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ” Theo khảo sát cứ 100 người thì có đếngần 24 người chưa chấp hành tốt quy định giao thông khi thường xuyên “vượtđèn đỏ” Các biểu hiện tiêu cực nói trên có nguồn gốc từ chính nền kinh tếyếu kém, chắp vá không đồng bộ của nước ta cũng như trong hoạt động quản

lý của các cơ quan nhà nước Các thói quen “xấu” này của người Việt Nam

Trang 31

gây ảnh hưởng không nhỏ tới tình trạng vi vi phạm quy định về an toàn giaothông nói chung và vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ nói riêng Thái độ coi thường của người điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ đối với các nguyên tắc, luật An toàn giao thông đường

bộ thường là do những phẩm chất cá nhân của người đó: tính ích kỷ, nghiệnrượu, thái độ xem thường người xung quanh và xem nhẹ nghĩa vụ của mìnhđối với xã hội Có nhiều người lái xe mặc du đã biết rõ các quy định về tránhvượt, về phân tuyến, làn đường đi lại, về tốc độ cho phép… nhưng vẫn xemthường các quy định, nguyên tắc ấy và chỉ làm theo sở thích, động cơ cá nhâncủa mình không phù hợp với các yêu cầu chuẩn mực của pháp luật, với lợi íchcủa cộng đồng và của toàn xã hội

2.1.3.4 Nguyên nhân liên quan đến kết cấu hạ tầng giao thông.

Những yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động giao thông đường

bộ như: đường, cầu, hầm đường bộ,…đều có những ảnh hưởng nhất định tớiviệc có xảy ra TNGT hay không nói chung và tội phạm “Vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nói riêng Cơ sở hạ tầng phục

vụ hoạt động giao thông còn nhiều khiếm khuyết, chưa đáp ứng được sự giatăng của phương tiện giao thông:

Chất lượng mặt đường xấu, nhiều đoạn đường không đảm bảo yêu cầu

kỹ thuật, mặt đường đa phần là hẹp, chưa được sử chữa bảo dưỡng Các đoạnđường có nhiều đặc điểm khác nhau, quanh co, cua gấp, ổ gà, ổ voi, đườnghẹp… nên rất nguy hiểm cho người tham gia giao thông

Để đánh giá mức độ nguy hiểm của các đoạn đường, người ta sử dụng hệ

Trang 32

Trị số K có giá trị càng nhỏ thì càng có khả năng xảy ra TNGT trên đoạnđường đó, tức là đoạn đường nguy hiểm dễ xảy ra TNGT chính là những đoạnđường mà người điều khiển phương tiện giao thông phải giảm tốc độ nhiềutrong thời gian ngắn.

Giá trị hệ số an

toàn (K) < 0,4 0,4 – 0,6 0,6 – 0,8 > 0,8Tình trạng của

đoạn đường

Rất nguyhiểm Nguy hiểm Ít nguy hiểm

Thực tế khôngnguy hiểm

(Bảng giá trị hệ số an toàn của các đoạn đường)

Với địa hình đồi núi chiếm 75%, dẫn đến các con đường ở Việt Namthường quanh co, “cua gấp” làm cho giá trị hệ số an toàn thấp, gây nguy hiểmcho người điều khiển phương tiện trong khi tham gia giao thông

Tình trạng đô thị hóa, mở rộng các khu dân cư với tộc độ nhanh vàkhông theo quy hoạch, đã gây ra sự quá tải trong hoạt động giao thông vận tảicủa các thành phố Sự không hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông đã tạođiều kiện góp phần vào việc xảy ra TNGT cũng như tội “Vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

2.1.3.5 Công tác điều tra, xử lý tội phạm “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” còn nhiều hạn chế.

Thực tế những năm qua cho thấy mặc dù tình hình vi phạm tội “Vi phạmquy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” diễn biến ngàycàng phức tạp, ngày càng gia tăng nhưng công tác điều tra, truy tố, xét xửnhững người vi phạm tội này còn rất hạn chế, chỉ khoảng 10-14% tổng số các

vụ TNGT Do đó tính giáo dục, răn đe còn kém hiệu quả, kỷ cương phépnước chưa được tôn trọng Sự phối hợp giữa các đơn vị nghiệp vụ trong lựclượng Cảnh sát nhân dân để điều tra, xử lý các vụ TNGT, các vụ án về “Vi phạmquy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là chưa chặt chẽ vàthiếu đồng bộ, chưa phát huy đầy đủ thế mạnh của từng đơn vị để giải quyết vụán

Trang 33

Việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về tội “Vi phạm quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ” còn bị ảnh hưởng bởi những nguyênnhân khách quan Đó là khi vụ TNGT xảy ra trên đường phải cấp cứu kịp thờingười bị nạn, phải giải tỏa mặt đường, sự tác động của môi trường thiên nhiên(mưa, bão…) cùng tác động của người tham gia giao thông trên đường…cũng gây khó khăn rất lớn đến việc bảo vệ hiện trường, thu lượm dấu vết, vậtchứng… phục vụ cho việc giải quyết vụ án hình sự về tội “Vi phạm quy định

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” Ngoài ra, phần lớn nhữngngười có lỗi trong vụ TNGT thường tìm cách đổ lỗi cho khách quan, chongười khác, thậm chí xóa bỏ dấu vết, thay đổi hiện trường… Nhiều vụ TNGTxảy ra ở xa khu dân cư, không có người biết việc; nhiều vụ TNGT một tronghai bên liên quan bị chết hoặc chấn thương sọ não nặng không còn khả năngkhai báo… tất cả những điều này gây khó khăn không nhỏ cho công tác điềutra, truy tố, xử lý các vụ TNGT có dấu hiệu tội phạm “Vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự xử lý tội phạm vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

2.2.1 Ưu điểm việc áp dụng pháp luật xử lý tội phạm vi phạm quy định

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

Kể từ khi ban hành BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 đã thể hiệnvai trò trong phòng chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ cácquan hệ xã hội và bồi dưỡng cho người dân ý thức tuân thủ pháp luật Xét vềthực trạng áp dụng pháp luật xử lý tội phạm vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ có những ưu điểm sau:

Thứ nhất, áp dụng pháp luật xử lý tội phạm vi phạm quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ đã thể hiện được vai trò phòng chốngtội phạm trên lĩnh vực an toàn giao thông vận tải đường bộ Thể hiện ở chỗ:bằng những chế tài đối với hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương

Trang 34

(Khoản 4 Điều 202) Trong ba năm từ 2011 đến 2013, cả nước xét xử được13.436 vụ án TNGT theo Điều 202 BLHS với 14.261 bị cáo Qua số liệu trên

ta thấy, mỗi năm trung bình xét xử trên 4000 vụ án vi phạm quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ Qua đó, đã thể hiện được tínhnghiêm minh của pháp luật

Thứ hai, áp dụng pháp luật xử lý hành vi vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ thông qua hoạt động này đã giúp cho việcgiáo dục pháp luật tới người dân hiệu quả hơn Bằng việc quy định tráchnhiệm hình sự đối với tội phạm theo Điều 202 BLHS thông qua các hoạt độngđiều tra, truy tố, xét xử buộc người phạm tội phải chấp hành các biện phápcưỡng chế hình sự, không những răn đe, giáo dục, cải tạo người phạm tội trởthành người lương thiện mà còn tác động lên ý thức chấp hành pháp luật tronglĩnh vực giao thông đường bộ của mọi người tham gia giao thông Tính răn đecủa việc áp dụng pháp luật xử lý hành vi vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ được nâng cao và có hiệu quả

Thứ ba, áp dụng pháp luật theo Điều 202 BLHS đã xử lý được nhiều đốitượng phạm tội Trong ba năm từ 2011 – 2013, tòa án đã xét xử 14.261 bị cáo,trung bình mỗi năm xét xử và truy cứu trách nhiệm hình sự gần 5000 bị cáo.Như vậy, việc áp dụng xử lý hành vi vi phạm quy định về điều khiển phươngtiện giao thông đường bộ theo Điều 202 BLHS đã góp phần giảm thiểuTNGT, xử lý đúng người đúng tội

2.2.2 Hạn chế khi áp dụng pháp luật hình sự xử lý tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

Về thực trạng xử lý hình sự đối với tội phạm “Vi phạm quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ”: theo số liệu đã thống kê ở mục 2.1.1thì trong vòng ba năm cả nước xảy ra 110.290 vụ TNGT làm chết 30.145người và bị thương 117.774 người Tuy nhiên, theo thống kê của Viện kiểmsát nhân dân tối cao thì trong ba năm từ 2011 đến năm 2013 cả nước chỉ truy

tố được 14.121 vụ án về TNGT và khởi tố 14.352 bị can Về phía Tòa án nhân

Ngày đăng: 08/03/2017, 05:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật hình nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Khác
2. Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003 Khác
3. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
4. PGS.TS Trần Minh Hưởng, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác
6. Giáo trình Tội phạm học – Học viện Cảnh sát nhân dân 2011 7. Báo cáo Tổng kết công tác năm 2011 – C67 – Bộ Công an 8. Báo cáo Tổng kết công tác năm 2012 – C67 – Bộ Công an 9. Báo cáo Tổng kết công tác năm 2013 – C67 – Bộ Công an 10. Báo cáo Tổng kết công tác năm 2003 – TANDTC Khác
12. Vũ Văn Khiết, Hoạt động phòng ngừa tội phạm xâm phạm an toàn giao thông vận tải đường bộ của lực lượng Cảnh sát nhân dân: Luận án tiến sĩ luật học Khác
13. Lê Minh Hoàn, Nguyễn Huy Thuật, Hoạt động phòng ngừa tội phạm vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hải Dương: Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành Tội phạm học và điều tra tội phạm Khác
14. Bùi Thanh Phúc, Hoàng Đình Ban, Phòng ngừa tội phạm vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hòa Bình: Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành Tội phạm học và điều tra tội phạm Khác
15. Hoàng Tuấn Anh, Đỗ Đình Hòa, Công tác phòng ngừa tội phạm vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông công an tỉnh Phú Thọ: Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành tội phạm học và điều tra tội phạm Khác
16. Vũ Thị Nguyên Hạnh, Nguyễn Văn Ngừng, Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ theo chức năng có lực lượng Cảnh sát giao thông: Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội Khác
17. Nguyễn Trọng Bằng, Bùi Văn Thịnh, Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về về trậy tự xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội: Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành Tội phạm học và điều tra tội phạm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG SỐ LIỆU SỐ VỤ VI PHẠM QUY ĐINH VỀ ĐIỀU KHIỂN  PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ ĐÃ BỊ TRUY TỐ VÀ - Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
BẢNG SỐ LIỆU SỐ VỤ VI PHẠM QUY ĐINH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ ĐÃ BỊ TRUY TỐ VÀ (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w